SOAN BAI NGHI LUAN VE MOT BAI THO DOAN THO LOP12

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "SOAN BAI NGHI LUAN VE MOT BAI THO DOAN THO LOP12":

Tổng hợp văn mẫu lớp 11, Văn mẫu THPT

TỔNG HỢP VĂN MẪU LỚP 11, VĂN MẪU THPT

Tổng hợp văn mẫu lớp 11, Văn mẫu THPT,nhung bai van hay lop 11 hoc ki 2,bai van mau lop 11 hoc ki 2,phan tich kho tho dau bai voi vang,cac bai van phan tich lop 11 ki2,van 11,nhung bai van hay lop 11 ve nghi luan van hoc,bài văn cảm nhận thiên nhiên và cái tôi trữ tình của xuân diệu trong 11 câu thơ đầu bài thơ vội vàng,nhan đề bài thơ tràng giang (18) phân tích nhan đề tràng giang (13) nhan đe trang giang (12) ý nghĩa nhan đề bài thơ trang giang (11) giải thích nhan đề tràng giang (10) phan tich loi de tu trong bai trang giang (8) nhung bai van hay lop 11 hk2 (3) phan tich kho tho dau tac pham vội vàng (3) đời thừa (47) đời thừa nam cao (35) phân tích đời thừa (17) doi thua cua nam cao (15) doi thua nam cao (12) Doi thừa (12) những bài văn hay 11 (11) phan tích khổ đầu bài thơ vội vàng (3)
Xem thêm

51 Đọc thêm

GIÁO ÁN CHỦ ĐỀ MÙA XUÂN

GIÁO ÁN CHỦ ĐỀ MÙA XUÂN

chủ đề mùa xuân:noi ve ngay tet . giup giao vien mam non nhan hon khi soan bai.gyweogywgywgdgeidgiebdiwhdeijhduewwihdewiudheiuyeuihdeudheiudnuehdeudhueuhdueidheiudhewuhdewhdudhewuohdeuihou;hdewiudhedeiudheuihdeudehhdeudhewudhueidhewiudhweuidhedueduwi

44 Đọc thêm

MỘT SỐ BÀI TẬP LÝ SINH 2015

MỘT SỐ BÀI TẬP LÝ SINH 2015

bai tap ly sinh nam 1 bao gom nhieu bai tap hay va sat voi de thi. Ben canh do cung co nhieu dang bai gan voi kien thuc pho thong. mot so bai tap ly thuyet nhom. mot so bai tap nang cao.mot so bai lien quan den de thi ly sinh cua truong qua cac nam

6 Đọc thêm

SOẠN BÀI: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VỀ VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ

SOẠN BÀI: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VỀ VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ

NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Thực hiện các yêu cầu sau đây để hiểu thế nào là một bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí. 1. Đọc văn bản sau và cho biết nó bàn về vấn đề gì. TRI THỨC LÀ SỨC MẠNH Nhà khoa học người Anh Phơ-răng-xít Bê-cơn (thế kỉ XVI – XVII) đã nói một câu nổi tiếng: “Tri thức là sức mạnh”. Sau này Lê-nin, một người thầy của cách mạng vô sản thế giới, lại nói cụ thể hơn: “Ai có tri thức thì người ấy có được sức mạnh”. Đó là một tư tưởng rất sâu sắc. Tuy vậy, không phải ai cũng hiểu được tư tưởng ấy. Tri thức đúng là sức mạnh. Người ta kể rằng, có một máy phát điện cỡ lớn của công ti Pho bị hỏng. Một hội đồng gồm nhiều kĩ sư họp 3 tháng liền tìm không ra nguyên nhân. Người ta phải mời đến chuyên gia Xten-mét-xơ. Ông xem xét và làm cho máy hoạt động trở lại. Công ti phải trả cho ông 10 000 đô la. Nhiều người cho Xten-mét-xơ là tham, bắt bí để lấy tiền. Nhưng trong giấy biên nhận, Xten-mét-xơ ghi: “Tiền vạch một đường thẳng là 1 đô la. Tiền tìm ra chỗ để vạch đúng đường ấy giá: 9 999 đô la.”. Rõ ràng người có tri thức thâm hậu có thể làm được những việc mà nhiều người khác không làm nổi. Thử hỏi, nếu không biết cách chữa thì cỗ máy kia có thể thoát khỏi số phận trở thành đống phế liệu được không!? Tri thức cũng là sức mạnh của cách mạng. Bác Hồ của chúng ta sau chuyến đi Pháp năm 1946 trở về đã thu hút được nhiều nhà tri thức Việt Nam danh tiếng đi theo kháng chiến như kĩ sư Trần Đại Nghĩa, tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên, các bác sĩ Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, nhà toán học Tạ Quang Bửu,… Các nhà trí thức ấy đã đem tri thức của mình mà xây dựng các ngành quân giới, giáo dục, y tế,… góp phần to lớn đưa cuộc kháng chiến đến thành công. Trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, các giáo sư Đàm Trung Đồn, Vũ Đình Cự đã huy động tri thức góp phần phá huỷ lôi nổ chậm của địch, khai thông bến cảng. Và ngày nay, các nhà khoa học nông nghiệp như Bùi Huy Đáp, Vũ Tuyên Hoàng,… đã lai tạo giống lúa mới, góp phần tăng sản lượng nông nghiệp, làm cho nước ta không chỉ có đủ lương thực mà còn trở thành một trong những nước đứng hàng đầu về xuất khẩu gạo thế giới. Tri thức có sức mạnh to lớn như thế nhưng đáng tiếc là còn không ít người chưa biết quý trọng tri thức. Họ coi mục đích của việc học chỉ là để có mảnh bằng mong sau này tìm việc kiếm ăn hoặc thăng quan tiến chức. Họ không biết rằng, muốn biến nước ta thành một quốc gia giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sánh vai cùng các nước trong khu vực và thế giới cần phải có biết bao nhiêu nhà trí thức tài năng trên mọi lĩnh vực! (Hương Tâm) Gợi ý: Bài văn bàn về vấn đề vai trò của tri thức và người trí thức trong đời sống xã hội. 2. Nêu bố cục của văn bản Tri thức là sức mạnh và chỉ ra nội dung chính của từng phần. Gợi ý: Có thể chia văn bản Tri thức là sức mạnh thành 3 phần: - Phần mở bài (đoạn mở đầu): đặt vấn đề “tri thức là sức mạnh”; - Phần thân bài (hai đoạn tiếp): Chứng minh tri thức đúng là sức mạnh trong công việc và khẳng định tri thức là sức mạnh cách mạng. - Phần kết bài (đoạn còn lại): Phê phán những người chưa biết quý trọng tri thức và sử dụng tri thức không đúng mục đích. 3. Tìm những câu mang luận điểm chính của bài văn Tri thức là sức mạnh và nhận xét về cách diễn đạt luận điểm của người viết. Gợi ý: - Các câu mang luận điểm: + Các câu trong đoạn mở bài; + “Tri thức đúng là sức mạnh.” ; “Rõ ràng người có tri thức thâm hậu có thể làm được những việc mà nhiều người khác không làm nổi.”; + “Tri thức cũng là sức mạnh của cách mạng.”; + “Tri thức có sức mạnh to lớn như thế nhưng đáng tiếc là còn không ít người chưa biết quý trọng tri thức.”; “Họ không biết rằng, muốn biến nước ta thành một quốc gia giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sánh vai cùng các nước trong khu vực và thế giới cần phải có biết bao nhiêu nhà trí thức tài năng trên mọi lĩnh vực!”. - Các luận điểm được trình bày rõ ràng, thuyết phục, thể hiện được luận điểm chung: Tri thức là sức mạnh. 4. Văn bản Tri thức là sức mạnh chủ yếu sử dụng phép lập luận nào? Nhận xét về sức thuyết phục của phép lập luận ấy trong văn bản. Gợi ý: Văn bản chủ yếu sử dụng phép lập luận chứng minh. Từ những dẫn chứng cụ thể, người viết khẳng định sự đúng đắn của tư tưởng “Tri thức là sức mạnh” và “Ai có tri thức thì người ấy có được sức mạnh”, qua đó phê phán những người không biết quý trọng tri thức, sử dụng tri thức sai mục đích và đề cao vai trò của tri thức đối với sự phát triển của đất nước. 5. So sánh đặc điểm của bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí với bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống. Từ đó rút ra nhận xét về điểm khác nhau giữa hai dạng bài nghị luận này. Gợi ý: - Bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng cuộc sống: Từ một sự việc, hiện tượng đời sống, người viết nêu ra vấn đề mang ý nghĩa tư tưởng, đạo lí. - Bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đao lí: Bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích… làm sáng tỏ, một vấn đề tư tưởng, đạo lí, chỉ ra chỗ đúng (hay chỗ sai) của nó; qua đó khẳng định tư tưởng của người viết. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Văn bản dưới đây thuộc loại nghị luận nào? THỜI GIAN LÀ VÀNG Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian không mua được. Thế mới biết vàng có giá trị mà thời gian là vô giá. Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời chạy chữa thì sống, để chậm là chết. Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu, biết nắm thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất thời cơ là thất bại. Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hoá đúng lúc là lãi, không đúng lúc là lỗ. Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì, thì học mấy cũng không giỏi được. Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội. Bỏ phí thời gian thì có hại và về sau hối tiếc cũng không kịp. (Phương Liên) Gợi ý: Văn bản Thời gian là vàng thuộc loại bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí. 2. Văn bản Thời gian là vàng nghị luận về vấn đề gì? Hãy chỉ ra hệ thống luận điểm chính của bài văn này. Gợi ý: Văn bản nghị luận về giá trị của thời gian. Giá trị của thời gian được làm rõ qua các luận điểm: - Thời gian là sự sống - Thời gian là thắng lợi - Thời gian là tiền - Thời gian là tri thức 3. Trong văn bản Thời gian là vàng, người viết chủ yếu sử dụng phép lập luận nào? Gợi ý: Người viết sử dụng phép lập luận phân tích và chứng minh. 4. Nhận xét về sức thuyết phục của cách lập luận trong bài văn Thời gian là vàng. Gợi ý: Người viết đã phân tích giá trị của thời gian thành các luận điểm (Thời gian là sự sống – Thời gian là thắng lợi – Thời gian là tiền – Thời gian là tri thức). Các luận điểm này lại được chứng minh bằng những dẫn chứng từ thực tiễn. Mạch triển khai lập luận của bài văn đơn giản nhưng cô đọng, sáng rõ và chặt chẽ.  Copyright ®  [ http://wWw.SoanBai.Com ]
Xem thêm

4 Đọc thêm

KI ẾN TH ỨC C ƠB ẢN VÀ NH ỮNG D ẠNG ĐỀ THIV ỀBÀI SÓNG XUÂN QU ỲNH

KI ẾN TH ỨC C ƠB ẢN VÀ NH ỮNG D ẠNG ĐỀ THIV ỀBÀI SÓNG XUÂN QU ỲNH

Con song trên mặt nướcÔi con sóng nhớ bờNgày đêm không ngủ đượcLòng em nhớ đến anhCả trong mơ còn thức”( Sóng – Xuân Quỳnh)Gợi ý:http://thutrang.edu.vn/sanh-hai-doan-tho-trong-bai-songxuan-quynh-va-dat-nuoc-nguyen-khoa-diemCòn nữa, cô đang soạn tiếp, các em vào link này để cập nhậtnhững bài viết mới nhất nhé :http://thutrang.edu.vn/tag/song-xuan-quynhPhần 2 : Kiến thức cần nhớ về bài thơSóng của Xuân QuỳnhKIẾN THỨC CƠ BẢN1. Vài nét về tác giả, tác phẩma. Tác giả+ Xuất thân: gia đình công chức, mồ côi mẹ từ nhỏ, ở với bà nội.+ Con người:– Thông minh, chân thành, nhân hậu.– Nghị lực vượt lên những bất hạnh của tuổi thơ, những trắc trởcủa duyên phận và cuộc sống để yêu thương.+ Phong cách nghệ thuật:– Nhà thơ của hạnh phúc đời thường: tiếng thơ khao khát tình yêu,hạnh phúc đời thường bình dị.– Cái tôi độc đáo: giàu vẻ đẹp nữ tính, thành thật, giàu đức hi sinhvà lòng vị tha, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt gắn với cảmthức lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ., cùng những dự cảm bất trắc.b. Tác phẩm
Xem thêm

9 Đọc thêm

GIAO AN MI THUAT LOP 1 NAM HOC 20162017

GIAO AN MI THUAT LOP 1 NAM HOC 20162017

Van dung theo phuong phap moi cua du an ho tro GD Mi thuat tieu hoc do Vuong quoc Dan Mach tai tro. minh co da soan mot so bai theo chu de moi moi cac ban tham khao giao an lop 1 minh moi soan nhe. GA tu tuan 1 den tuan 10. thanks

22 Đọc thêm

NGHI LUAN VE MOT TAC PHAM TRUYEN

NGHI LUAN VE MOT TAC PHAM TRUYEN

Kiểm tra bài cũ Thế nào là nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí? Trình bày dàn ý chung về kiểu bài này? Thứ , ngày , tháng , năm 2016 Tuần 26 Tiết 118 – Tập làm văn NGHÒ LUAÄN VEÀ TAÙC PHAÅM TRUYEÄN (HOAËC ÑOAÏN TRÍCH)

13 Đọc thêm

Cảm nghĩ về đoạn thơ trong bài Ánh Trăng

CẢM NGHĨ VỀ ĐOẠN THƠ TRONG BÀI ÁNH TRĂNG

Đề bài: Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn thơ sau:          " ….Từ hồi về Thành Phố             quen ánh điện , cửa quang                vầng trăng đi qua ngõ               như người dưng qua đường                 Thình lình đèn điện tắt              phòng buyn- đinhtối om             vội bật tung cửa sổ           đột ngột vầng trăng tròn            Ngửa mặt lên nhìn mặt   Có cái gì rưng rưng Như là đồng là bể    Như là sông là rừng                                                                (Nguyễn Duy  – Ánh Trăng) Mở bài : Nguyễn Duy viết về trăng bằng cảm nhận rất riêng của một người lính trong thời bình. Bài « Ánh Trắng »được ông sáng tác vào năm 1978,tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ làm theo thể 5 chữ, kết hợp tự sự với trữ tình , nhịp thơ linh hoạt , giọng diệu tâm tình , hình ảnh biểu cảm. Như một lời tự nhắc nhở về quá khứ của cuộc đời  người lính đã từng gắm bó với vầng trăng thiên nhiên , với đất nước bình dị hiền hậu và thái độ sống ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ. Ba khổ thơ giữa sẽ giúp chúng ta cảm nhận sâu sắc ý nghĩa ánh trăng. Thân bài :        Thời hiện tại con người bội bạc vầng trăng : Trong những năm tháng chiến tranh, người lính ở trong rừng làm bạn với trăng.Chiến thắng ,người lính về Thành Phố. Cuộc sống đổi thay. Người lính được sống trong nhà cao cửa rộng « ánh trăng » « tri kỉ » năm nào giờ bổng trở thành « người dưng » « Từ hồi về Thành Phố    quen ánh điện , cửa quan vầng trăng đi qua ngõ  như người dưng qua đường”                                 Biểu hiện của lối  sống bội bạc đáng phê phán        Tình huống bất ngờ gặp lại vầng trăng : Nơi Thành phó hiện đại lắm ánh điện , người ta ít khi chú ý đến ánh trăng . Thật bất ngờ, điện mất, từ ngôi nhà nhà thơ đã nhìn thấy vầng trăng tròn xuất hiện, tự nhiên nhớ bai kĩ niệm nghĩa tình để thức tĩnh lương tri con người.                                                                    « Thình lình đèn điện tắt                                                                    phòng buyn- đinhtối om                                                                    vội bật tung cửa sổ                                                                     đột ngột vầng trăng tròn”        Cảm xúc và suy ngẫm  về vầng trăng một thờ bị lãng quên : Trong phút chốc, sự xuất hiện đột ngột của vầng trăng làm ùa dậy trong tâm trí nhà thơ bao kỉ niệm năm tháng gian lao , bai hình ảnh của thiên nhiên . Nhà thơ thấy «  rưng rưng » :       « Ngửa mặt lên nhìn mặt      có cái gì rưng rưng     như là đồng là bể  Như là sông là rừng »                 Từ rưng rưng  diễn tả nỗi xúc động đang dâng trào trong lòng  tác giả làm cho nước mắt cứ chực trào ra. Một thoáng quên đi vầng trăng tình nghĩa để rồi lại nhớ hơn những kĩ niệm đã qua. C) kết bài : – Ba khổ thơ trước hết là một  lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao , gắ bó với thiên nhiên , với đất nước bình dị, hiền hậu. – Ba khổ thơ còn thể hiện tâm trạng của tác giả trước ánh trăng nơi Thành Phố.                 – Giọng điệu thơ thể hiện bằng thể thơ năm chữ, nhịp điệu khi thì trôi chảy khi tự nhiên, nhịp nhàng theo lời kể , khi thì ngân nga thiết tha cảm xúc. Lúc lại trầm lắng biểu hiện sự suy tư.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Soạn bài : Cách làm bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

SOẠN BÀI : CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ

CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đề bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ a) Đọc các đề bài sau và nhận xét về cấu tạo của chúng. Đề 1. Phân tích các tầng nghĩa trong đoạn thơ sau: Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan? Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới? Đâu những bình minh cây xanh nắng gội, Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt, Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật? - Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu? (Thế Lữ, Nhớ rừng) Đề2. Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn kết trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. Đề 3. Cảm nhận của em về tâm trạng của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng cuội. Đề 4. Hình tượng người chiến sĩ lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Đề 5. Bài thơ ánh trăng của Nguyễn Duy gợi cho em những suy nghĩ gì? Đề 6. Phân tích khổ thơ đầu trong bài Sang thu của Hữu Thỉnh. Đề 7. Những đặc sắc trong bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương. Đề 8. Cảm nhận và suy nghĩ của em về tình cảm cha con trong bài Nói với con của Y Phương. Gợi ý: - Phần quan trọng mà đề bài nào cũng có, đó là đưa ra vấn đề nghị luận. Vấn đề nghị luận có thể là đoạn thơ, bài thơ hoặc vấn đề gắn với đoạn thơ, bài thơ. Đề bài có thể chép ra đoạn thơ cũng có thể chỉ nhắc tới, yêu cầu các em phải tự nhớ lại. - Thông thường thì đề bài đưa ra định hướng từ những yêu cầu, mệnh lệnh cụ thể (phân tích, cảm nhận, suy nghĩ, cảm nhận và suy nghĩ…) nhưng cũng có khi đề bài không đưa ra yêu cầu, mệnh lệnh cụ thể (Đề 4, 7). b) Giữa các yêu cầu phân tích, cảm nhận và suy nghĩ (hoặc có khi đề bài không có lệnh) có gì khác nhau? Gợi ý: Khi đề bài yêu cầu phân tích là muốn định hướng cụ thể về thao tác, khi đó phải phân tách, xem xét đối tượng dưới nhiều góc độ, đối chiếu, so sánh… để từ đó đi đến nhận định về đối tượng. Khi đề bài yêu cầu nêu cảm nhận và suy nghĩ là muốn nhấn mạnh đến việc đưa ra cảm thụ, ấn tượng riêng (cảm nhận) và nhận định, đánh giá (suy nghĩ) về đối tượng; đối với loại yêu cầu này, để thuyết phục, chứng minh được ý kiến của mình, người làm cũng phải tiến hành giảng giải bằng các thao tác như phân tích, giải thích… Với đề bài không có lệnh cụ thể, người làm tự lựa chọn những thao tác cần thiết để làm rõ, chứng minh cho ý kiến của mình về đối tượng được nêu ra trong đề bài. 2. Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ a) Cần nắm vững các bước làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Chẳng hạn, với đề bài “Phân tích tình yêu quê hương trong bài thơ Quê hương của Tế Hanh”, ta có trình tự các bước như sau: Bước 1. Tìm hiểu đề và tìm ý - Tìm hiểu đề: + Đề bài đưa ra vấn đề nghị luận nào? (tình yêu quê hương trong bài thơ Quê hương của Tế Hanh). + Đề bài có đưa ra yêu cầu (mệnh lệnh) cụ thể không, nếu có thì yêu cầu ấy là gì? (Phân tích) - Tìm ý: + Đọc kĩ lại bài thơ (nếu là đoạn thơ thì cũng phải đọc kĩ cả bài, đặt đoạn thơ đó vào bài thơ để tìm hiểu). + Tìm hiểu khái quát về tác giả, hoàn cảnh sáng tác bài thơ (nếu có): Tế Hanh sinh ra tại một làng chài ven biển tỉnh Quảng Ngãi. Ông xuất hiện ở chặng cuối của phong trào Thơ mới với những bài thơ mang nặng nỗi buồn và tình yêu quê hương thắm thiết. + Sắc thái cảm xúc xuyên suốt bài thơ là gì (?): tha thiết, ngọt ngào. + Tìm hiểu những nét đặc sắc nổi bật nhất về nội dung và nghệ thuật của bài thơ: Bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân chài và sinh hoạt lao động làng chài được thể hiện bằng những vần thơ bình dị, giàu sức gợi cảm. Sau khi đã nắm được những nét chung nhất về bài thơ, em hãy xác định những luận điểm chính gắn với vấn đề nghị luận mà đề bài đưa ra: · Trong cách xa, nhà thơ nhớ về quê hương như thế nào? Hình ảnh làng quê hiện lên trong nỗi nhớ của nhà thơ có những đặc điểm và vẻ đẹp gì? · Bài thơ có những hình ảnh, câu thơ nào gây ấn tượng sâu sắc đối với em? Ngôn từ, giọng điệu của bài thơ có gì đặc sắc? Bước 2. Lập dàn bài Trình bày các luận điểm theo bố cục 3 phần: * Mở bài: Giới thiệu bài thơ, nêu khái quát nhận định của mình về vấn đề nghị luận: Giới thiệu sơ lược về bài thơ Quê hương của Tế Hanh, nêu nhận định của em về tình yêu quê hương trong bài thơ. * Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: Phân tích những biểu hiện cụ thể của tình yêu quê hương trong bài thơ. - Nêu nhận xét chung về bài thơ: Bài thơ Quê hương thể hiện một tình yêu quê hương tha thiết, trong sáng, đậm chất lí tưởng, lãng mạn. - Tình yêu quê hương biểu hiện cụ thể ở vẻ đẹp của cảnh ra khơi và cảnh trở về: + Cảnh dân chài bơi thuyền ra khơi: khoẻ khoắn, đầy sức sống + Cảnh đón thuyền cá về bến về: tấp nập, bình yên, no đủ - Tình yêu quê hương thể hiện ở nỗi nhớ: những hình ảnh của quê hương in đậm trong kí ức của nhà thơ. * Kết bài: Chốt lại vấn đề nghị luận, mở rộng liên tưởng: Khẳng định vẻ đẹp, tình yêu quê hương được gửi gắm trong bài thơ. Nêu lên ấn tượng mà vẻ đẹp của bài thơ đã để lại trong tâm trí em. Bước 3. Viết bài Từ dàn bài, hãy viết thành bài văn hoàn chỉnh. Chú ý: đảm bảo sự chặt chẽ, liên kết của bố cục (liên kết nội dung và hình thức giữa các đoạn Mở bài, Thân bài, Kết bài). Mỗi luận điểm, nên viết thành một đoạn văn; chú ý liên kết giữa các câu trong đoạn. Thao tác chủ yếu là phân tích, nhưng cần chú ý kết hợp với cảm thụ để khai thác được đặc sắc của trạng thái cảm xúc, vẻ đẹp của hình ảnh thơ. Chú ý diễn đạt tự nhiên, trôi chảy, lời văn gợi cảm. Bước 4. Đọc lại bài viết và sửa chữa Đọc lại toàn bộ bài viết, kiểm tra lại cách diễn đạt, soát lỗi về dùng từ, chính tả… b) Cách tổ chức, triển khai luận điểm - Đọc và chỉ ra bố cục của văn bản dưới đây: QUÊ HƯƠNG TRONG TÌNH THƯƠNG, NỖI NHỚ Quê hương trong xa cách là cả một dòng cảm xúc dạt dào, lấp lánh suốt đời thơ Tế Hanh. Cái làng chài nghèo ở một vùng cù lao trên sông Trà Bồng nước bao vây cách biển nửa ngày sông đã nuôi dưỡng tâm hồn Tế Hanh, đã trở thành nỗi nhớ da diết để ông viết nên những vần thơ thiết tha, lai láng. Trong dòng cảm xúc ấy, Quê hương là thành công khởi đầu rực rỡ. Nhà thơ đã viết về Quê hương bằng tất cả tình yêu tha thiết, trong sáng, đầy thơ mộng của mình. Nổi bật lên trong bài thơ là cảnh ra khơi đánh cá của trai làng một sớm mai đẹp như mơ : Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng                                     Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Tâm hồn nhà thơ náo nức những hình ảnh đầy sức mạnh : Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã                                     Phăng máu chèo, mạnh mẽ vượt trường giang                                     Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng                                     Rướn thân trắng bao la thâu góp gió... Giữa trời nước bao la nổi bật hình ảnh con thuyền hiêng ngang, hăng hái, đầy sinh lực dưới bàn tay điều khiển thành thạo của dân trai tráng đang nhẹ lướt trên sóng qua hình ảnh so sánh như con tuấn mã. Bằng các từ ngữ sinh động, nhà thơ đã khắc hoạ tư thế kiêu hãnh chinh phục sông dài, biển rộng của người làng chài. Lời thơ như băng băng về phía trước, như rướn lên cao bao la cùng với con thuyền, với cánh buồm ! Tế Hanh đã cảm nhận cuộc sống lao động của làng quê bằng cả tâm hồn thiết tha gắn bó nên mới liên tưởng : Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng. Bao nhiêu trìu mến thiêng liêng, bao nhiêu hi vọng mưu sinh của người lao động được gửi gắm ở đấy. Cảnh đón thuyền đánh cá trở về ồn ào, tấp nập cũng được miêu tả với một tình yêu tha thiết : Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về. “Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe”, Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. ở đoạn trước, khi tả cảnh ra đi mạnh mẽ vượt trường giang của đoàn thuyền hơi thơ băng băng, phơi phới. Đến đoạn này, âm điệu thơ thư thái và dần lắng lại theo niềm vui no ấm, bình yên của dân làng. Chính từ đây, xuất hiện những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của Quê hương : Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,                                                           Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;                                     Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm                                     Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Chỉ ai là người con của một vạn chài mới viết được những câu thơ như thế. Tế Hanh như khắc tạc bức tượng đài người dân chài giữa đất trời lộng gió với hình khối, màu sắc và cả hương vị không thể lẫn : bức tượng đài nồng thở vị xa xăm - vị muối mặn mòi của biển khơi, của những chân trời tít tắp mà họ thường chinh phục. Chất muốn mặn mòi ấy thấm vào thân hình người dân chài quê hương, thấm dần trong thớ vỏ chiếc thuyền hay đã thấm sâu vào làn da thớ thịt, vào tâm hồn Tế Hanh để thành niềm cảm xúc bâng khuâng, kỳ diệu ? Một tâm hồn như thế khi nhớ nhung tất chẳng thể nhàn nhạt, bình thường. Nỗi nhớ quê hương trong đoạn kết đã đọng thành những kỷ niệm ám ảnh, vẫy gọi. Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá - Câu thơ cuối cùng cho ta rõ thêm tâm hồn thiết tha, thành thực của Tế Hanh. Quê hương của Tế Hanh đã cất lên một tiếng ca trong trẻo, nồng nàn, thơ mộng về cái làng vạn chài từng ôm ấp, ru vỗ tuổi thơ mình. Bài thơ đã góp phần bồi đắp cho mỗi người đọc chúng ta tình yêu quê hương thắm thiết. (Bài làm của học sinh) Gợi ý: + Mở bài  (từ đầu cho đến “là thành công khởi đầu rực rỡ.”): Giới thiệu khái quát về tác giả Tế Hanh và bài thơ Quê Hương. + Thân bài (từ “Nhà thơ đã viết về…” cho đến “…thành thực của Tế Hanh.”): Trình bày những cảm nhận, phân tích về tình yêu quê hương tha thiết, trong sáng, thơ mộng của nhà thơ qua bức tranh dân chài ra khơi và cảnh trở về bến cùng những hình ảnh đặc sắc thể hiện nỗi nhớ, tình thương của tác giả. + Kết bài (đoạn còn lại): Khẳng định vẻ đẹp của bài thơ Quê hương và tác dụng bồi đắp tình yêu quê hương cho mỗi người đọc của bài thơ. - Nhận xét về cách trình bày luận điểm, tổ chức liên kết giữa các phần trong văn bản trên. Gợi ý: + Các luận điểm chính của phần Thân bài: · Nhận định khái quát: Nhà thơ đã viết về Quê hương bằng tất cả tình yêu tha thiết, trong sáng, đầy thơ mộng của mình. · Cảnh ra khơi đánh cá của trai làng một sớm mai đẹp như mơ. · Cảnh đón thuyền đánh cá trở về ồn ào, tấp nập, no ấm, yên bình. · Hình ảnh người dân chài được khắc hoạ nổi bật giữa đất trời lộng gió với hình khối, màu sắc và cả hương vị không thể lẫn. · Những kỉ niệm ám ảnh, vẫy gọi. + Giữa Mở bài, Thân bài và Kết bài có mối liên kết chặt chẽ cả về nội dung lẫn hình thức. - Nhận xét về sức thuyết phục, hấp dẫn của văn bản Quê hương trong tình thương nỗi nhớ. Gợi ý: + Bố cục mạch lạc, sáng rõ. + Luận điểm được triển khai rõ ràng, từng luận điểm được chứng minh bằng những biểu hiện cụ thể trong bài thơ. + Bài văn ngắn gọn, lời lẽ súc tích, thể hiện được rung động, đồng cảm của người viết trước vẻ đẹp và cảm xúc của bài thơ. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Lập dàn bài cho bài văn với đề bài: Phân tích khổ thơ đầu bài Sang thu của Hữu Thỉnh. Gợi ý: Thực hiện theo trình tự các bước: - Tìm hiểu đề và tìm ý: + Tìm hiểu đề: Vấn đề nghị luận là gì? (khổ thơ đầu bài Sang thu của Hữu Thỉnh). Yêu cầu (mệnh lệnh) làm gì? (phân tích). + Tìm ý: Nội dung cảm xúc của bài thơ Sang Thu của Hữu Thỉnh là gì? Nội dung cảm xúc của khổ thơ đầu bài thơ này là gì? Cảm xúc của nhà thơ được gợi lên từ hương vị, đặc điểm gì của thiên nhiên? Khổ thơ có gì đặc sắc về hình ảnh thơ, ngôn từ? - Lập dàn bài theo bố cục 3 phần: Chú ý xây dựng các luận điểm chính và chứng minh bằng những biểu hiện cụ thể trong khổ thơ. ở phần Thân bài, có thể triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: + Cảm xúc bâng khuâng, vấn vương trước đất trời trong trẻo đang biến chuyển nhẹ nhàng. + Cảm nhận tinh tế về hương vị: hương ổi phả vào trong gió se. + Hình ảnh sương đầu thu, nhẹ nhàng giăng mắc. + Hình ảnh thơ độc đáo được tạo nên bởi những từ ngữ giàu sức gợi cảm: bỗng, phả vào, gió se, chùng chình, hình như. 2. Chủ đề của văn bản sau đây là gì? Hãy nhận xét về bố cục và chỉ ra những luận điểm chính của nó. ở mỗi người Việt Nam chúng ta, niềm kính yêu, lòng biết ơn Bác Hồ luôn luôn là tình cảm thiêng liêng, sâu sắc. Viếng lăng Bác của Viễn Phương là bài thơ nói lên một cách thiết tha, cảm động tình cảm ấy. Từ mảnh đất miền Nam mấy chục năm trời chiến đấu gian khổ, anh làm một cuộc hành hương về đất Bắc. Bồi hồi xúc động, anh tìm đến viếng Bác ở Ba Đình – Hà Nội. Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam… Đoạn thơ mở đầu thiêng liêng, thành kính nhưng vẫn gợi một không khí ấm áp, gần gũi, không chỉ ở cách xưng hô mà còn nhờ tác giả đã chọn một hình ảnh rất thân thuộc: cây tre. Nói đến cây tre là ta nghĩ tới đất nước, tới con người Việt Nam với bao đức tính cao quý nhất, trong sáng nhất. Song hình ảnh cây tre mới như một khúc dạo đầu để mở ra một loạt những suy tưởng khác, sâu lắng hơn, mênh mông hơn. Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi… Vầng trăng… trời xanh… các hình ảnh kì vĩ nối tiếp nhau xuất hiện khiến ta phải suy ngẫm. Ngẫm về cái bất diệt, cái vô cùng của vũ trụ đến cái bất diệt, cái vô cùng cao cả ở một con người. Bài thơ được viết theo mạch cảm xúc thời gian. Còn đứng trên đất Bắc, tác giả đã phải bịn rịn nghĩ tới lúc chia tay, phải xa nơi Bác nghỉ. Và đây cũng là dòng cảm xúc được đẩy tới mức cao nhất, tuôn trào mạnh mẽ nhất: Mai về miền Nam thương trào nước mắt Câu thơ như lời nói thường, không cần dùng đến kĩ thuật. Giọng thơ không ồn ào. Thế mà đọc lên thấy xúc động. Trước hết bởi cách nói, cách bộc lộ có một cái gì rất Nam Bộ. Chân thành, bộc trực mà không thô. Tác giả thay mặt cho đồng bào miền Nam – những người con ở xa – bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn. Người đọc đồng cảm với anh, bởi nỗi thương nhớ, xót xa, ân hận khi đến trước Bác, nào phải của riêng ai! Cả cái ước nguyện chân thành ở cuối bài thơ cũng không của riêng người nào: Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. Hình ảnh cây tre lại đến, thật tự nhiên, nhuần nhị để khép bài thơ lại, song không còn là hàng tre – khách thể ở trên mà đã tan hoà vào chủ thể. Nhà thơ nói cho mình, cũng là nói hộ ý nguyện của mỗi chúng ta: muốn được hoá thân làm cây tre trung hiếu, mãi mãi đứng bên Bác. Viếng lăng Bác giàu chất suy tưởng, chất trữ tình đằm thắm với cách sử dụng nhiều luyến láy trong ngôn ngữ, phong phú âm điệu, khiến bài thơ mau chóng được đông đảo bạn đọc tiếp nhận. Cũng chính vì vậy nó đã sớm được phổ nhạc để trở thành một bài hát giàu sức truyền cảm, quen thuộc với mỗi người chúng ta. (Theo Đức Thảo, báo Văn nghệ, số 1186, ngày 26 – 7 – 1985) Gợi ý: Xác định được chủ đề của văn bản nghĩa là em đã nắm được vấn đề nghị luận. Văn bản này có chủ đề là: Niềm xúc động thiêng liêng, tấm lòng tha thiết, thành kính của tác giả từ miền Nam ra viếng Bác Hồ trong bài thơ Viếng lăng Bác. Chủ đề nghị luận được triển khai thành các luận điểm: - Đoạn thơ mở đầu thiêng liêng, thành kính nhưng vẫn gợi một không khí ấm áp, gần gũi, không chỉ ở cách xưng hô mà còn nhờ tác giả đã chọn một hình ảnh rất thân thuộc: cây tre. - Từ cái bất diệt, cái vô cùng của vũ trụ đến cái bất diệt, cái vô cùng cao cả ở một con người. - Bài thơ được viết theo mạch cảm xúc thời gian. - Cách nói, cách bộc lộ có một cái gì rất Nam Bộ chân thành, bộc trực mà không thô. - Nhà thơ nói cho mình, cũng là nói hộ ý nguyện của mỗi chúng ta. - Giàu chất suy tưởng, chất trữ tình đằm thắm với cách sử dụng nhiều luyến láy trong ngôn ngữ, phong phú âm điệu. Các luận điểm được chứng minh bằng những cảm nhận sâu sắc từ những hình ảnh cụ thể trong bài thơ. wWw.SoanBai.Com
Xem thêm

9 Đọc thêm

Nghị luận xã hội van de nghi luan vao lop 10 thpt

Nghị luận xã hội van de nghi luan vao lop 10 thpt

cac ban oi ki thi tuyen sinh vao lop 10 sp den minh hi vong rang tai lieu nghi luan xa hoi se giup cc ban gianh duoc 3 diem trong ki thi sap toi.van nghi luan xa hoi la mot de khong the thieu trong de thi tuyen sinh vao lop 10.cac ban hay co gang hoc tap va trau doi kinh nghiem nghi luan de vung vang buoc vao ki thi sap toi nhe,chuc cac ban thanh cong

Đọc thêm

CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ

CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN. 1. Đề bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ a) Đọc các đề bài sau và nhận xét về cấu tạo của chúng. Đề 1. Phân tích các tầng nghĩa trong đoạn thơ sau: Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan? Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới? Đâu những bình minh cây xanh nắng gội, Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt, Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật? - Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu? (Thế Lữ, Nhớ rừng) Đề2. Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn kết trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. Đề 3. Cảm nhận của em về tâm trạng của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng cuội. Đề 4. Hình tượng người chiến sĩ lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Đề 5. Bài thơ ánh trăng của Nguyễn Duy gợi cho em những suy nghĩ gì? Đề 6. Phân tích khổ thơ đầu trong bài Sang thu của Hữu Thỉnh. Đề 7. Những đặc sắc trong bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương. Đề 8. Cảm nhận và suy nghĩ của em về tình cảm cha con trong bài Nói với con của Y Phương. Gợi ý: - Phần quan trọng mà đề bài nào cũng có, đó là đưa ra vấn đề nghị luận. Vấn đề nghị luận có thể là đoạn thơ, bài thơ hoặc vấn đề gắn với đoạn thơ, bài thơ. Đề bài có thể chép ra đoạn thơ cũng có thể chỉ nhắc tới, yêu cầu các em phải tự nhớ lại. - Thông thường thì đề bài đưa ra định hướng từ những yêu cầu, mệnh lệnh cụ thể (phân tích, cảm nhận, suy nghĩ, cảm nhận và suy nghĩ…) nhưng cũng có khi đề bài không đưa ra yêu cầu, mệnh lệnh cụ thể (Đề 4, 7). b) Giữa các yêu cầu phân tích, cảm nhận và suy nghĩ (hoặc có khi đề bài không có lệnh) có gì khác nhau? Gợi ý: Khi đề bài yêu cầu phân tích là muốn định hướng cụ thể về thao tác, khi đó phải phân tách, xem xét đối tượng dưới nhiều góc độ, đối chiếu, so sánh… để từ đó đi đến nhận định về đối tượng. Khi đề bài yêu cầu nêu cảm nhận và suy nghĩ là muốn nhấn mạnh đến việc đưa ra cảm thụ, ấn tượng riêng (cảm nhận) và nhận định, đánh giá (suy nghĩ) về đối tượng; đối với loại yêu cầu này, để thuyết phục, chứng minh được ý kiến của mình, người làm cũng phải tiến hành giảng giải bằng các thao tác như phân tích, giải thích… Với đề bài không có lệnh cụ thể, người làm tự lựa chọn những thao tác cần thiết để làm rõ, chứng minh cho ý kiến của mình về đối tượng được nêu ra trong đề bài. 2. Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ a) Cần nắm vững các bước làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ Chẳng hạn, với đề bài “Phân tích tình yêu quê hương trong bài thơ Quê hương của Tế Hanh”, ta có trình tự các bước như sau: Bước 1. Tìm hiểu đề và tìm ý - Tìm hiểu đề: + Đề bài đưa ra vấn đề nghị luận nào? (tình yêu quê hương trong bài thơ Quê hương của Tế Hanh). + Đề bài có đưa ra yêu cầu (mệnh lệnh) cụ thể không, nếu có thì yêu cầu ấy là gì? (Phân tích) - Tìm ý: + Đọc kĩ lại bài thơ (nếu là đoạn thơ thì cũng phải đọc kĩ cả bài, đặt đoạn thơ đó vào bài thơ để tìm hiểu). + Tìm hiểu khái quát về tác giả, hoàn cảnh sáng tác bài thơ (nếu có): Tế Hanh sinh ra tại một làng chài ven biển tỉnh Quảng Ngãi. Ông xuất hiện ở chặng cuối của phong trào Thơ mới với những bài thơ mang nặng nỗi buồn và tình yêu quê hương thắm thiết. + Sắc thái cảm xúc xuyên suốt bài thơ là gì (?): tha thiết, ngọt ngào. + Tìm hiểu những nét đặc sắc nổi bật nhất về nội dung và nghệ thuật của bài thơ: Bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân chài và sinh hoạt lao động làng chài được thể hiện bằng những vần thơ bình dị, giàu sức gợi cảm. Sau khi đã nắm được những nét chung nhất về bài thơ, em hãy xác định những luận điểm chính gắn với vấn đề nghị luận mà đề bài đưa ra: · Trong cách xa, nhà thơ nhớ về quê hương như thế nào? Hình ảnh làng quê hiện lên trong nỗi nhớ của nhà thơ có những đặc điểm và vẻ đẹp gì? · Bài thơ có những hình ảnh, câu thơ nào gây ấn tượng sâu sắc đối với em? Ngôn từ, giọng điệu của bài thơ có gì đặc sắc? Bước 2. Lập dàn bài Trình bày các luận điểm theo bố cục 3 phần: * Mở bài: Giới thiệu bài thơ, nêu khái quát nhận định của mình về vấn đề nghị luận: Giới thiệu sơ lược về bài thơ Quê hương của Tế Hanh, nêu nhận định của em về tình yêu quê hương trong bài thơ. * Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận: Phân tích những biểu hiện cụ thể của tình yêu quê hương trong bài thơ. - Nêu nhận xét chung về bài thơ: Bài thơ Quê hương thể hiện một tình yêu quê hương tha thiết, trong sáng, đậm chất lí tưởng, lãng mạn. - Tình yêu quê hương biểu hiện cụ thể ở vẻ đẹp của cảnh ra khơi và cảnh trở về: + Cảnh dân chài bơi thuyền ra khơi: khoẻ khoắn, đầy sức sống + Cảnh đón thuyền cá về bến về: tấp nập, bình yên, no đủ - Tình yêu quê hương thể hiện ở nỗi nhớ: những hình ảnh của quê hương in đậm trong kí ức của nhà thơ. * Kết bài: Chốt lại vấn đề nghị luận, mở rộng liên tưởng: Khẳng định vẻ đẹp, tình yêu quê hương được gửi gắm trong bài thơ. Nêu lên ấn tượng mà vẻ đẹp của bài thơ đã để lại trong tâm trí em. Bước 3. Viết bài Từ dàn bài, hãy viết thành bài văn hoàn chỉnh. Chú ý: đảm bảo sự chặt chẽ, liên kết của bố cục (liên kết nội dung và hình thức giữa các đoạn Mở bài, Thân bài, Kết bài). Mỗi luận điểm, nên viết thành một đoạn văn; chú ý liên kết giữa các câu trong đoạn. Thao tác chủ yếu là phân tích, nhưng cần chú ý kết hợp với cảm thụ để khai thác được đặc sắc của trạng thái cảm xúc, vẻ đẹp của hình ảnh thơ. Chú ý diễn đạt tự nhiên, trôi chảy, lời văn gợi cảm. Bước 4. Đọc lại bài viết và sửa chữa Đọc lại toàn bộ bài viết, kiểm tra lại cách diễn đạt, soát lỗi về dùng từ, chính tả… b) Cách tổ chức, triển khai luận điểm - Đọc và chỉ ra bố cục của văn bản dưới đây: QUÊ HƯƠNG TRONG TÌNH THƯƠNG, NỖI NHỚ Quê hương trong xa cách là cả một dòng cảm xúc dạt dào, lấp lánh suốt đời thơ Tế Hanh. Cái làng chài nghèo ở một vùng cù lao trên sông Trà Bồng nước bao vây cách biển nửa ngày sông đã nuôi dưỡng tâm hồn Tế Hanh, đã trở thành nỗi nhớ da diết để ông viết nên những vần thơ thiết tha, lai láng. Trong dòng cảm xúc ấy, Quê hương là thành công khởi đầu rực rỡ. Nhà thơ đã viết về Quê hương bằng tất cả tình yêu tha thiết, trong sáng, đầy thơ mộng của mình. Nổi bật lên trong bài thơ là cảnh ra khơi đánh cá của trai làng một sớm mai đẹp như mơ : Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng                                     Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Tâm hồn nhà thơ náo nức những hình ảnh đầy sức mạnh : Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã                                     Phăng máu chèo, mạnh mẽ vượt trường giang                                     Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng                                     Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Giữa trời nước bao la nổi bật hình ảnh con thuyền hiêng ngang, hăng hái, đầy sinh lực dưới bàn tay điều khiển thành thạo của dân trai tráng đang nhẹ lướt trên sóng qua hình ảnh so sánh như con tuấn mã. Bằng các từ ngữ sinh động, nhà thơ đã khắc hoạ tư thế kiêu hãnh chinh phục sông dài, biển rộng của người làng chài. Lời thơ như băng băng về phía trước, như rướn lên cao bao la cùng với con thuyền, với cánh buồm ! Tế Hanh đã cảm nhận cuộc sống lao động của làng quê bằng cả tâm hồn thiết tha gắn bó nên mới liên tưởng : Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng. Bao nhiêu trìu mến thiêng liêng, bao nhiêu hi vọng mưu sinh của người lao động được gửi gắm ở đấy. Cảnh đón thuyền đánh cá trở về ồn ào, tấp nập cũng được miêu tả với một tình yêu tha thiết : Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về. “Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe”, Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. ở đoạn trước, khi tả cảnh ra đi mạnh mẽ vượt trường giang của đoàn thuyền hơi thơ băng băng, phơi phới. Đến đoạn này, âm điệu thơ thư thái và dần lắng lại theo niềm vui no ấm, bình yên của dân làng. Chính từ đây, xuất hiện những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của Quê hương : Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,                                                           Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;                                     Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm                                     Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Chỉ ai là người con của một vạn chài mới viết được những câu thơ như thế. Tế Hanh như khắc tạc bức tượng đài người dân chài giữa đất trời lộng gió với hình khối, màu sắc và cả hương vị không thể lẫn : bức tượng đài nồng thở vị xa xăm – vị muối mặn mòi của biển khơi, của những chân trời tít tắp mà họ thường chinh phục. Chất muốn mặn mòi ấy thấm vào thân hình người dân chài quê hương, thấm dần trong thớ vỏ chiếc thuyền hay đã thấm sâu vào làn da thớ thịt, vào tâm hồn Tế Hanh để thành niềm cảm xúc bâng khuâng, kỳ diệu ? Một tâm hồn như thế khi nhớ nhung tất chẳng thể nhàn nhạt, bình thường. Nỗi nhớ quê hương trong đoạn kết đã đọng thành những kỷ niệm ám ảnh, vẫy gọi. Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá – Câu thơ cuối cùng cho ta rõ thêm tâm hồn thiết tha, thành thực của Tế Hanh. Quê hương của Tế Hanh đã cất lên một tiếng ca trong trẻo, nồng nàn, thơ mộng về cái làng vạn chài từng ôm ấp, ru vỗ tuổi thơ mình. Bài thơ đã góp phần bồi đắp cho mỗi người đọc chúng ta tình yêu quê hương thắm thiết. (Bài làm của học sinh) Gợi ý: + Mở bài  (từ đầu cho đến “là thành công khởi đầu rực rỡ.”): Giới thiệu khái quát về tác giả Tế Hanh và bài thơ Quê Hương. + Thân bài (từ “Nhà thơ đã viết về…” cho đến “…thành thực của Tế Hanh.”): Trình bày những cảm nhận, phân tích về tình yêu quê hương tha thiết, trong sáng, thơ mộng của nhà thơ qua bức tranh dân chài ra khơi và cảnh trở về bến cùng những hình ảnh đặc sắc thể hiện nỗi nhớ, tình thương của tác giả. + Kết bài (đoạn còn lại): Khẳng định vẻ đẹp của bài thơ Quê hương và tác dụng bồi đắp tình yêu quê hương cho mỗi người đọc của bài thơ. - Nhận xét về cách trình bày luận điểm, tổ chức liên kết giữa các phần trong văn bản trên. Gợi ý: + Các luận điểm chính của phần Thân bài: · Nhận định khái quát: Nhà thơ đã viết về Quê hương bằng tất cả tình yêu tha thiết, trong sáng, đầy thơ mộng của mình. · Cảnh ra khơi đánh cá của trai làng một sớm mai đẹp như mơ. · Cảnh đón thuyền đánh cá trở về ồn ào, tấp nập, no ấm, yên bình. · Hình ảnh người dân chài được khắc hoạ nổi bật giữa đất trời lộng gió với hình khối, màu sắc và cả hương vị không thể lẫn. · Những kỉ niệm ám ảnh, vẫy gọi. + Giữa Mở bài, Thân bài và Kết bài có mối liên kết chặt chẽ cả về nội dung lẫn hình thức. - Nhận xét về sức thuyết phục, hấp dẫn của văn bản Quê hương trong tình thương nỗi nhớ. Gợi ý: + Bố cục mạch lạc, sáng rõ. + Luận điểm được triển khai rõ ràng, từng luận điểm được chứng minh bằng những biểu hiện cụ thể trong bài thơ. + Bài văn ngắn gọn, lời lẽ súc tích, thể hiện được rung động, đồng cảm của người viết trước vẻ đẹp và cảm xúc của bài thơ. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Lập dàn bài cho bài văn với đề bài: Phân tích khổ thơ đầu bài Sang thu của Hữu Thỉnh. Gợi ý: Thực hiện theo trình tự các bước: - Tìm hiểu đề và tìm ý: + Tìm hiểu đề: Vấn đề nghị luận là gì? (khổ thơ đầu bài Sang thu của Hữu Thỉnh). Yêu cầu (mệnh lệnh) làm gì? (phân tích). + Tìm ý: Nội dung cảm xúc của bài thơ Sang Thu của Hữu Thỉnh là gì? Nội dung cảm xúc của khổ thơ đầu bài thơ này là gì? Cảm xúc của nhà thơ được gợi lên từ hương vị, đặc điểm gì của thiên nhiên? Khổ thơ có gì đặc sắc về hình ảnh thơ, ngôn từ? - Lập dàn bài theo bố cục 3 phần: Chú ý xây dựng các luận điểm chính và chứng minh bằng những biểu hiện cụ thể trong khổ thơ. ở phần Thân bài, có thể triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: + Cảm xúc bâng khuâng, vấn vương trước đất trời trong trẻo đang biến chuyển nhẹ nhàng. + Cảm nhận tinh tế về hương vị: hương ổi phả vào trong gió se. + Hình ảnh sương đầu thu, nhẹ nhàng giăng mắc. + Hình ảnh thơ độc đáo được tạo nên bởi những từ ngữ giàu sức gợi cảm: bỗng, phả vào, gió se, chùng chình, hình như. 2. Chủ đề của văn bản sau đây là gì? Hãy nhận xét về bố cục và chỉ ra những luận điểm chính của nó. ở mỗi người Việt Nam chúng ta, niềm kính yêu, lòng biết ơn Bác Hồ luôn luôn là tình cảm thiêng liêng, sâu sắc. Viếng lăng Bác của Viễn Phương là bài thơ nói lên một cách thiết tha, cảm động tình cảm ấy. Từ mảnh đất miền Nam mấy chục năm trời chiến đấu gian khổ, anh làm một cuộc hành hương về đất Bắc. Bồi hồi xúc động, anh tìm đến viếng Bác ở Ba Đình – Hà Nội. Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam… Đoạn thơ mở đầu thiêng liêng, thành kính nhưng vẫn gợi một không khí ấm áp, gần gũi, không chỉ ở cách xưng hô mà còn nhờ tác giả đã chọn một hình ảnh rất thân thuộc: cây tre. Nói đến cây tre là ta nghĩ tới đất nước, tới con người Việt Nam với bao đức tính cao quý nhất, trong sáng nhất. Song hình ảnh cây tre mới như một khúc dạo đầu để mở ra một loạt những suy tưởng khác, sâu lắng hơn, mênh mông hơn. Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi… Vầng trăng… trời xanh… các hình ảnh kì vĩ nối tiếp nhau xuất hiện khiến ta phải suy ngẫm. Ngẫm về cái bất diệt, cái vô cùng của vũ trụ đến cái bất diệt, cái vô cùng cao cả ở một con người. Bài thơ được viết theo mạch cảm xúc thời gian. Còn đứng trên đất Bắc, tác giả đã phải bịn rịn nghĩ tới lúc chia tay, phải xa nơi Bác nghỉ. Và đây cũng là dòng cảm xúc được đẩy tới mức cao nhất, tuôn trào mạnh mẽ nhất: Mai về miền Nam thương trào nước mắt Câu thơ như lời nói thường, không cần dùng đến kĩ thuật. Giọng thơ không ồn ào. Thế mà đọc lên thấy xúc động. Trước hết bởi cách nói, cách bộc lộ có một cái gì rất Nam Bộ. Chân thành, bộc trực mà không thô. Tác giả thay mặt cho đồng bào miền Nam – những người con ở xa – bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn. Người đọc đồng cảm với anh, bởi nỗi thương nhớ, xót xa, ân hận khi đến trước Bác, nào phải của riêng ai! Cả cái ước nguyện chân thành ở cuối bài thơ cũng không của riêng người nào: Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. Hình ảnh cây tre lại đến, thật tự nhiên, nhuần nhị để khép bài thơ lại, song không còn là hàng tre – khách thể ở trên mà đã tan hoà vào chủ thể. Nhà thơ nói cho mình, cũng là nói hộ ý nguyện của mỗi chúng ta: muốn được hoá thân làm cây tre trung hiếu, mãi mãi đứng bên Bác. Viếng lăng Bác giàu chất suy tưởng, chất trữ tình đằm thắm với cách sử dụng nhiều luyến láy trong ngôn ngữ, phong phú âm điệu, khiến bài thơ mau chóng được đông đảo bạn đọc tiếp nhận. Cũng chính vì vậy nó đã sớm được phổ nhạc để trở thành một bài hát giàu sức truyền cảm, quen thuộc với mỗi người chúng ta. (Theo Đức Thảo, báo Văn nghệ, số 1186, ngày 26 – 7 – 1985) Gợi ý: Xác định được chủ đề của văn bản nghĩa là em đã nắm được vấn đề nghị luận. Văn bản này có chủ đề là: Niềm xúc động thiêng liêng, tấm lòng tha thiết, thành kính của tác giả từ miền Nam ra viếng Bác Hồ trong bài thơ Viếng lăng Bác. Chủ đề nghị luận được triển khai thành các luận điểm: - Đoạn thơ mở đầu thiêng liêng, thành kính nhưng vẫn gợi một không khí ấm áp, gần gũi, không chỉ ở cách xưng hô mà còn nhờ tác giả đã chọn một hình ảnh rất thân thuộc: cây tre. - Từ cái bất diệt, cái vô cùng của vũ trụ đến cái bất diệt, cái vô cùng cao cả ở một con người. - Bài thơ được viết theo mạch cảm xúc thời gian. - Cách nói, cách bộc lộ có một cái gì rất Nam Bộ chân thành, bộc trực mà không thô. - Nhà thơ nói cho mình, cũng là nói hộ ý nguyện của mỗi chúng ta. - Giàu chất suy tưởng, chất trữ tình đằm thắm với cách sử dụng nhiều luyến láy trong ngôn ngữ, phong phú âm điệu. Các luận điểm được chứng minh bằng những cảm nhận sâu sắc từ những hình ảnh cụ thể trong bài thơ loigiaihay.com
Xem thêm

7 Đọc thêm

Soạn bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

SOẠN BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ

Soạn bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí I. Rèn luyện kĩ năng Đề văn: Hãy viết bài nghị luận để được trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu: Ôi, sống đẹp là thế nào, hỡi bạn? (Một khúc ca) 1. Phân tích đề và tìm ý 1.1. Đặt vấn đề Lẽ sống và lối sống đẹp của con người. Sống đẹp là sống có văn hóa, biết cống hiến; là sống giàu tình thương và lòng nhân ái; không ích kỉ, hẹp hòi; biết giúp đỡ lẫn nhau; biết phấn đấu vì một xã hội tốt đẹp hơn… 1.2. Các luận điểm - Khái niệm sống đẹp - Nội dung sống đẹp - Những quan niệm khác nhau về sống đẹp - Thái độ của chúng ta đối với vấn đề trên. 1.3. Các thao tác lập luận cần sử dung - Bình luận (đây là thao tác chính), giải thích, chứng minh và phân tích. - Tư liệu làm nguồn dẫn chứng: các vấn đề trong đời sống hằng ngày, trong lao động sản xuất và chiến đấu. 1.4. Nhận xét - Vấn đề trọng tậm: bàn về lẽ sống - Thao tác lập luận chính: bình luận. 2. Lập dàn ý - Các yêu cầu về lập dàn ý đã được SGK hướng dẫn cụ thể, chi tiết bằng một hệ thống câu hỏi. Theo trình tự các câu hỏi, các em có thể lập một dàn ý dựa tren những ý trong phần tìm hiểu đề. Lưu ý có một số điểm sau đây trong bài văn: - Bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo đức nhằm trình bày quan điểm, suy nghĩ của mình để thuyết phục người khác, đồng thời tự mình nâng cao nhận thực, rèn luyện phẩm chất theo vấn đề mình đang nghị luận. - Bài nghị luận kiểu này thường có một số nội dung:  + Giới thiệu, trình bày, giải thích rõ vấn đề tư tưởng, đạo đức cần nghị luận. + Phân tích các mặt đúng sai, lợi hại của vấn đề đang xem xét đối với cuộc sống. + Nêu ý nghĩa, rút ra bài học trọng tư tưởng, đạo đức và hành động. - Khi làm bài, cần chú ý sự trao đổi mang tính chất hai chiều: đúng – sai, phải – trái, công nhận – bác bỏ. Tỏ thái độ dứt khoát, rõ ràng. Văn nghệ luận không chỉ thuyết phục, hấp dẫn bằng lí lẽ mà còn có ở sự truyền cảm của một trái tim yêu, ghét rõ ràng, phân minh. II. Luyện tập 1. Đọc văn bản của Gi. Nê-ru và thực hiện các yêu cầu Vấn đề mà Gi. Nê-ru bàn luận là “văn hóa của con người”. Do vậy, có thể đặt tên cho văn bản là Bàn về văn hóa của con người. Tác giả sử dụng các thao tác lập luận như phân tích, so sánh, bình luận. Cách diễn đạt trong sáng, dứt khoát, cuốn hút sự chú ý của người đọc (xem đoạn đầu văn bản). 2. Thực hiện đề văn nghị luận về câu nói của nhà văn Nga Lép Tôn-xtôi. Có thể tiến hành theo 3 gợi ý trong SGK, hoặc bàn luậ theo các ý trong câu nói của Lép Tôn-xtôi. - Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường - Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định - Không có phương hướng thì không có cuộc sống.
Xem thêm

2 Đọc thêm

NGHỊ LUẬN VỀ BÀI THƠ "CẢNH KHUYA" CỦA HỒ CHÍ MINH

NGHỊ LUẬN VỀ BÀI THƠ "CẢNH KHUYA" CỦA HỒ CHÍ MINH

Hồ Chí Minh không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc, nhà cách mạng tài ba, nhà văn hóa uyên thâm... Người còn là một nhà thơ kiệt xuất! "Cảnh khuya" là một trong số nhiều bài thơ ngẫu hứng của Người. Bài này Người ứng tác khi đang còn làm việc lúc đêm đã khuya. "Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng ***g cổ thụ, bóng ***g hoa. Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà." Ở một nơi nào đó trên miền rừng núi, đêm đã khuya rồi. Mọi thứ thanh âm hỗn tạp của ban ngày đã lắng lại. Nhưng không phải vì thế mà đêm yên lặng hoàn toàn. Có một thứ âm thanh rù rì từ xa vẳng lại nghe sâu lắng lạ thường, nó trong trẻo như một tiếng hát ru: tiếng suối! Cái tiếng róc rách của nước chảy nghe được vào ban đêm nó mới kỳ diệu làm sao: Tiếng suối trong như tiếng hát xa... Cái trầm lắng của ban đêm đã khiến các giác quan của con người có dịp "đua nhau" hoạt động. Nên từ "nghe xa", ta đã được "nhìn gần" để thấy được sự huyền ảo của ánh trăng. Thứ ánh sáng dát vàng lung linh lọt qua tán cổ thụ tạo nên những khoảng sáng tối đan xen làm nền cho một bức tranh sống động. Dưới tán cổ thụ, không phải chỉ có sự tương phản sáng tối, nơi ấy còn có những khóm hoa. Màu sắc của hoa ban đêm tuy không rực rỡ lắm, nhưng chúng đã nhuộm màu cho ánh trăng thêm kỳ diệu: Trăng ***g cổ thụ, bóng ***g hoa... Trăng, cổ thụ và hoa, tuy chỉ là những cái bóng, nhưng chúng không độc lập với nhau mà hòa quyện nhau hư hư thực thực làm ngây ngất con mắt thi nhân. Bức tranh thiên nhiên tuyệt vời ấy sẽ chưa thể hoàn hảo nếu thiếu một chi tiết đặc biệt: con người. Có một người đang ngồi ngắm bức tranh, nhưng người ấy không ở ngoài bức tranh. Người ấy chính là một phần của bức tranh! Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ... Rất may, có một người chưa ngủ đã "nhìn" thấy bức tranh tuyệt tác ấy. Nhưng "người chưa ngủ" không phải vì để ngắm bức tranh, mà vì người ấy còn đang suy tư nỗi nước nhà. Bức tranh thiên nhiên tươi đẹp ấy là phần thu nhỏ của đất nước mến yêu. Non sông thanh bình hoa lệ thế nhưng còn chưa độc lập. Dân tộc còn đang lao khổ bởi ngoại xâm. Chiến tranh còn đang đe dọa cuộc sống của đồng bào... Thế là từ một cảnh đẹp giản dị, tác giả đã dẫn người đọc đến với tình cảm yêu thương quê hương đất nước dường bao. Bài thơ tứ tuyệt gọn gàng, thi tứ chân phương với ngữ điệu nhẹ nhàng nhưng mang sắc thái của một thi nhân xuất chúng. Nếu không phải là tầm nhìn của một lãnh tụ, không phải là tình cảm của một vĩ nhân, dễ gì có được cảm quan bao quát và thi hứng tinh tế đến nhường ấy.
Xem thêm

1 Đọc thêm

SOẠN BÀI LỚP 12 NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ

SOẠN BÀI LỚP 12 NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ

VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phíSOẠN BÀI LỚP 12: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍI. Tìm hiểu chung1. Khái niệm- Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là quá trình kết hợp những thao tác lập luận để làm rõnhững vấn đề tư tưởng, đạo lí trong cuộc đời- Tư tưởng đạo lí trong cuộc đời bao gồm:+ Lí tưởng (lẽ sống).+ Cách sống.+ Hoạt động sống.+ Mối quan hệ giữa con người với con người (cha mẹ, vợ chồng, anh em,và những ngườithân thuộc khác) ở ngoài xã hội có các quan hệ trên dưới, đơn vị, tình làng nghĩa xóm,thầy trò, bạn bè.…2. Yêu cầu làm bài văn về về tư tưởng đạo lía. Hiểu đựoc vấn đề cần nghị luận, ta phải qua bước phân tích, giải đề, xác định được vấnđề, với đề trên đây ta thực hiện.- Hiểu được vấn đề nghị luận là gì?+ Ví dụ: "Sống đẹp là thế nào hỡi bạn”+ Muốn tìm thấy các vấn đề cần nghị luận, ta phải qua các bước phân tích, giải đề xácđịnh được vấn đề, với đề trên đây ta thực hiện.- Thế nào là sống đẹp?+ Sống có lí tưởng đúng đắn, cao cả, phù hợp với thời đại, xác định vai trò trách nhiệm.+ Có đời sống tình cảm đúng mực, phong phú và hài hoà.+ Có hành động đúng đắn.Suy ra: Sống đẹp là sống có lí tưởng đúng đắn, cao cả, cá nhân xác định được vai trò tráchnhiệm với cuộc sống, có đời sống tình cảm hài hoà phong phú, có hành động đúng đắn.Câu thơ nêu lên lí tưởng và hành động và hướng con người tới hành động để nâng cao giátrị, phẩm chất của con người.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Soạn bài: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

SOẠN BÀI: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Em hãy thực hiện các yêu cầu sau đây để hiểu thế nào là một bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống. 1. Bài văn sau đây bàn đến sự việc, hiện tượng gì của đời sống? Vấn đề được bàn bạc có ý nghĩa đối với đời sống xã hội không? BỆNH LỀ MỀ Trong đời sống hiện nay có một hiện tượng khá phổ biến, mọi người đều thấy, nhưng thường bỏ qua. Đó là bệnh lề mề mà coi thường giờ giấc là một biểu hiện. Cuộc họp ấn định vào lúc 8 giờ sáng mà 9 giờ mới có người đến. Giấy mời hội thảo ghi 14 giờ mà mãi đến 15 giờ mọi người mới có mặt. Hiện tượng này xuất hiện trong nhiều cơ quan, đoàn thể, trở thành một bệnh khó chữa. Những người lề mề ấy, khi ra sân bay, lên tàu hoả, đi nhà hát chắc không dám đến muộn, bởi đến muộn là có hại ngay đến quyền lợi thiết thân của họ. Nhưng đi họp, hội thảo là việc chung, có đến muộn cũng không thiệt gì. Thế là hết chậm lần này đến chậm lần khác, và bệnh lề mề không sửa được. Bệnh lề mề suy cho cùng là do một số người thiếu tự trọng và chưa biết tôn trọng người khác tạo ra. Họ chỉ quý thời gian của mình mà không tôn trọng thời gian của người khác. Họ không coi mình là người có trách nhiệm đối với công việc chung của mọi người. Bệnh lề mề gây hại cho tập thể. Đi họp muộn, nhiều vấn đề không được bàn bạc thấu đáo, hoặc khi cần lại phải kéo dài thời gian. Bệnh lề mề gây hại cho những người biết tôn trọng giờ giấc. Ai đến đúng giờ lại cứ phải đợi người đến muộn. Bệnh lề mề còn tạo ra tập quán không tốt: Muốn người dự đến đúng giờ như mong muốn, giấy mời thường phải ghi giờ khai mạc sớm hơn 30 phút hay 1 giờ! Cuộc sống văn minh hiện đại đòi hỏi mọi người phải tôn trọng lẫn nhau và hợp tác với nhau. Những cuộc họp không thật cần thiết thì không nên tổ chức. Nhưng những cuộc họp cần thiết thì mọi người cần tự giác tham dự đúng giờ. Làm việc đúng giờ là tác phong của người có văn hoá. (Phương Thảo) Gợi ý: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội là bàn bạc về một sự việc, hiện tượng có có ý nghĩa đối với xã hội. Sự việc, hiện tượng đó có thể là đáng khen, đáng chê hay có vấn đề cần suy nghĩ. Bệnh lề mề là một hiện tượng thường thấy của xã hội, nhất là ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển. Bệnh lề mề rất có hại cho đời sống xã hội, bàn đến, chỉ ra những biểu hiện cũng như cái hại của nó nhằm phê phán là một việc làm rất có ý nghĩa, giúp xã hội tiến bộ hơn. 2. Tác giả đã làm thế nào để người đọc nhận ra bệnh lề mề? Hiện tượng này có những biểu hiện như thế nào? Tác giả có nêu rõ được vấn đề đáng quan tâm của hiện đó không? Gợi ý: Để người đọc nhận ra bệnh lề mề, người viết đã chỉ ra những biểu hiện của hiện tượng này (coi thường giờ giấc, đến muộn so với giờ hẹn,…). Bài viết đã nêu được biểu hiện phổ biến, đáng quan tâm của một hiện tượng tiêu cực của xã hội. 3. Bài văn có chỉ ra được nguyên nhân của bệnh lề mề không? Đó là những nguyên nhân nào? Gợi ý: Các nguyên nhân của bệnh lề mề được chỉ ra trong bài văn: thiếu trách nhiệm, không coi trọng việc chung; thiếu tự trọng, không tôn trọng người khác. 4. Người viết đã phân tích những tác hại của bệnh lề mề như thế nào? Gợi ý: Người viết đã chỉ ra những tác hại của bệnh lề mề: gây hại cho tập thể, lãng phí thời gian, làm mất thời gian của người khác, làm cho công việc trì trệ, gây ra tập quán không tốt… 5. Người viết đã bộc lộ thái độ đánh giá của mình trước hiện tượng được bàn đến như thế nào? Gợi ý: Người viết tỏ rõ thái độ phê phán đối với hiện tượng lề mề coi thường giờ giấc, xem đây như một thứ bệnh gây tác hại đối với sự tiến bộ của xã hội. 6. Bài viết được bố cục như thế nào? Bố cục như thế có mạch lạc và chặt chẽ không? Vì sao? Gợi ý: Bố cục của bài viết mạch lạc và chặt chẽ (có thể chia thành 3 phần tương ứng với Mở bài, Thân bài, Kết bài). Mở đầu, tác giả chỉ ra hiện tượng cần bàn bạc. Tiếp đến, tác giả phân tích những tác hại của hiện tượng. Cuối cùng, tác giả đưa ra giải pháp khắc phục. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Hãy nêu ra các sự việc, hiện tượng tốt, đáng biểu dương mà em thấy ở trường của mình hoặc ở ngoài xã hội. Gợi ý: Chú ý quan sát, hoặc nhớ lại những sự việc, hiện tượng tốt đáng biểu dương của các bạn cùng lớp, cùng trường hay ngoài xã hội, trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày (có thể là việc làm tốt, gương học tập đáng noi theo, ý thức vươn lên, ý thức giữ nền nếp tốt…). 2. Theo em, trong số các sự việc, hiện tượng tốt, đáng biểu dương vừa nêu, sự việc, hiện tượng nào đáng để viết một bài nghị luận xã hội và sự việc, hiện tượng nào không cần viết? Vì sao? Gợi ý: Sự việc, hiện tượng được đem ra nghị luận phải là những sự việc nổi bật, có ý nghĩa đối với mọi người hoặc là những sự việc, hiện tượng có nhiều điều cần phải suy nghĩ. 3. Có một hiện tượng như sau: Theo một cuộc điều tra 2 000 thanh niên nam ở Hà Nội năm 1981 cho thấy: từ 11 đến 15 tuổi, 25% các em đã hút thuốc lá; từ 16 đến 20: 52%; trên 20 tuổi: 80%. Tỉ lệ này ngang với các nước châu Âu. Trong số các em hút thuốc lá, có đến 80% lâu lâu có triệu chứng như ho hen, khạc đờm, đau ngực, còn trong số những em không hút chỉ có không đến 1% có các triệu chứng ấy. (Theo Nguyễn Khắc Viện) Hãy cho biết hiện tượng này có thể trở thành đối tượng để viết một bài văn nghị luận xã hội không? Vì sao? Gợi ý: Muốn biết hiện tượng này có thể trở thành đối tượng để viết một bài văn nghị luận xã hội không, hãy trả lời các câu hỏi sau: - Đây có phải là hiện tượng có thực của đời sống xã hội không? - Hiện tượng này có phổ biến, bức xúc không? - Hiện tượng này có tác hại nhiều hay ít? - Bàn đến hiện tượng này thì có tác dụng gì?  Copyright ®  [ http://wWw.SoanBai.Com ]
Xem thêm

1 Đọc thêm

SOẠN BÀI: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ

SOẠN BÀI: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ

NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đọc và cho biết vấn đề nghị luận của văn bản sau đây là gì? KHÁT VỌNG HOÀ NHẬP, DÂNG HIẾN CHO ĐỜI Mùa xuân là mùa của thiên nhiên thắm tươi, của vạn vật sinh sôi nảy nở. Văn học Việt Nam từng có không ít vần thơ thể hiện cảm xúc rạo rực, trẻ trung trước mùa xuân. Ngay từ khi ra đời, Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải đã chiếm được cảm tình của đông đảo bạn đọc. Bài thơ toát lên một không khí vừa rạo tực vừa trong sáng, êm dịu đến dễ thương, thể hiện tình yêu tha thiết đối với thiên nhiên, đất nước và một nguyện ước cống hiến thật đáng trân trọng. Hình ảnh mùa xuân trong bài thơ của Thanh Hải mang nhiều tầng ý nghĩa. Từ hình ảnh mùa xuân của thiên nhiên, đất nước trong lao động và chiến đấu, nhà thơ đi đến nguyện ước làm Một mùa xuân nho nhỏ - Lặng lẽ dâng cho đời, cất lên khúc hát xao xuyến, tươi vui hoà trong bản tình ca, anh hùng ca của cách mạng. Trong đó, mùa xuân nào cũng thật gợi cảm, cũng thật đáng yêu. Bức tranh xuân của thiên nhiên, đất nước được tạo nên từ chi tiết rất tiêu biểu, được vẽ bằng cả màu sắc lẫn âm thanh. Đó là dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, là lộc giắt đầy quanh lưng người ra trận và trải dài trên những cánh đồng (tượng trưng cho sự nảy nở, sinh sôi, cho sự dồi dào, thành đạt). Đó là tiếng chim chiền chiện lảnh lót vang trời. Hình ảnh mùa xuân hiện lên trong cảm xúc thiết tha, trìu mến của nhà thơ, trong lời kêu, giọng hỏi: ơi..., hót chi mà,… Đặc biệt, tình cảm nâng niu vẻ đẹp của mùa xuân, khát vọng thu nhận và giữ gìn vẻ đẹp ấy được thể hiện qua tư thế độc đáo: Tôi đưa tay tôi hứng từng giọt âm thanh từ trời xanh rơi xuống. Tiếng chim chiền chiện thả vào không gian trong suốt của mùa xuân được cảm nhận thành từng giọt mang màu sắc long lanh. Cảm giác ấy, động tác ấy chỉ có được ở một tâm hồn thi sĩ, ở một tấm lòng tha thiết yêu mến cuộc sống này. Từ hình ảnh mùa xuân gần gũi, nhà thơ liên tưởng khái quát đến truyền thống bốn nghìn năm, đến sức xuân cứ đi lên phía trước của đất nước. Khi đúc kết, khái quát như thế, lời thơ dễ khô khan. Nhưng khổ thơ thứ ba cứ tự nhiên được cuốn đi trong dòng cảm xúc dịu dàng, đằm thắm, do đó vẫn nằm trong mạch tâm tình. Từ rung cảm thiết tha trước mùa xuân đẹp của quê hương, đất nước, Thanh Hải bộc lộ một nguyện ước chân thành :                                                 Ta làm con chim hót                                                 Ta làm một nhành hoa                                                 Ta nhập vào hoà ca                                                 Một nốt trầm xao xuyến. Đó chính là hình ảnh Một mùa xuân nho nhỏ - Lặng lẽ dâng cho đời thể hiện khát vọng đựơc hoà nhập, được dâng hiến. Đến đây, ta bỗng thấm thía ý nghĩa của nhan đề bài thơ. Trước Thanh Hải quả chưa từng có hình ảnh thơ vừa lạ, vừa hồn nhiên, thân thương này. Hình ảnh mùa xuân nho nhỏ chứa đựng sự khiêm nhường mà cũng tự tin, tự hào biết mấy của con người ý thức sâu sắc về giá trị cuộc đời, về hạnh phúc của hiến dâng và đón nhận. Nốt trầm xao xuyến của mùa xuân nho nhỏ này cứ tự nhiên hoà vào mùa xuân lớn của thiên nhiên đất nước nhờ sự chiếu ứng giữa hai phần của bài thơ. Khổ đầu đã xuất hiện hình ảnh bông hoa tím, con chim chiền chiện giữa trời xanh với tiếng chim hót từng giọt long lanh. Giờ đây, đến khổ thứ tư, nguyện ước của nhân vật trữ tình, của mùa xuân nho nhỏ chính là sự láy lại các hình ảnh ấy của mùa xuân. Như vậy, giữa các khổ, các phần của Mùa xuân nho nhỏ có sự gắn kết tự nhiên, chặt chẽ, vừa luyến láy vừa được nâng cao. Bài thơ này lay động tâm hồn chúng ta bởi chất hoạ gợi cảm, chất nhạc vấn vương, quyến luyến, bởi nguyện ước tha thiết, chân thành. Cái nguyện ước lặng lẽ dâng cho đời một mùa xuân nho nhỏ kia đâu còn của riêng Thanh Hải mà có lẽ đã trở thành tiếng lòng của nhiều bạn đọc.                                                                                                      (Hà Vinh) Gợi ý: Vấn đề nghị luận của bài văn là hình ảnh mùa xuân trong cảm xúc thiết tha, chân thành của nhà thơ Thanh Hải ở bài "Mùa xuân nho nhỏ" 2. Chủ đề hình ảnh mùa xuân trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được thể hiện bằng những luận điểm nào? Gợi ý: Các luận điểm: - Hình ảnh mùa xuân trong bài thơ của Thanh Hải mang nhiều tầng ý nghĩa, tất cả đều gợi cảm, đáng yêu. - Bức tranh mùa xuân, với cả màu sắc lẫn âm thanh, hiện lên trong cảm xúc thiết tha, trìu mến, đằm thắm, dịu dàng. - Từ mùa xuân tươi đẹp của quê hương, đất nước, đến mùa xuân của nguyện ước hoà nhập, dâng hiến chân thành. 3. Các luận điểm của bài viết đã được làm sáng tỏ bởi những luận cứ nào? Gợi ý: Người viết thuyết phục các luận điểm bằng sự phân tích, bình giảng những câu thơ, hình ảnh thơ đặc sắc, với nhận định về cảm hứng, giọng điệu, kết cấu… 4. Bài viết được bố cục như thế nào? Gợi ý: Bài viết có bố cục 3 phần cân đối, chặt chẽ: - Mở bài: từ đầu cho đến “…thật đáng trân trọng.”. - Thân bài: từ “Hình ảnh mùa xuân…” cho đến “…các hình ảnh ấy của mùa xuân.”. - Kết bài: đoạn còn lại. 5. Nhận xét về cách diễn đạt luận điểm trong từng đoạn văn bản. Gợi ý: Mỗi luận điểm được triển khai trong một đoạn văn. Tuy nhiên, đối tượng nghị luận ở đây là văn bản thơ cho nên việc triển khai, chứng minh luận điểm đã được trình bày một cách tự nhiên, truyền tải được cái thiết tha, trìu mến của tình điệu cảm xúc ở bài thơ. Cái cốt yếu của bài thơ (hay đoạn thơ) là tình cảm, cảm xúc, nên việc nghị luận còn đòi hỏi sự cảm thụ, đồng cảm giữa người viết và chủ thể trữ tình trong tác phẩm. Bài viết cũng đã đảm bảo được điều này. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Theo em, các luận điểm của bài văn Khát vọng hoà nhập, dâng hiến cho đời đã nêu được hết những nét đặc sắc của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ chưa? Gợi ý: Những đặc sắc của một tác phẩm thơ ca thường được bộc lộ ở những phương diện: màu sắc cảm xúc, hình ảnh thơ, kết cấu, giọng điệu trữ tình, nhạc điệu,… Bài văn trên chủ yếu tập trung sự cảm nhận vào ý nghĩa, hình ảnh thơ, mạch cảm xúc. 2. Em hãy suy nghĩ và đưa thêm những luận điểm thể hiện suy nghĩ của mình về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải. Gợi ý: Có thể lưu ý thêm một số luận điểm: - Bài thơ có nhạc điệu trong sáng, thiết tha, gần gũi với dân ca. - Mạch cảm xúc tự nhiên của bài thơ được thể hiện trong một kết cấu chặt chẽ, giàu sức gợi mở.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Hãy phát biểu cảm nghĩ của anh (chị) về một bài thơ hoặc một nhà thơ mà anh chị yêu thích

HÃY PHÁT BIỂU CẢM NGHĨ CỦA ANH (CHỊ) VỀ MỘT BÀI THƠ HOẶC MỘT NHÀ THƠ MÀ ANH CHỊ YÊU THÍCH

Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải là một bài thơ trong trẻo, thiết tha. Nó là phần tinh tuý nhất của một con người luôn khát khao cống hiến, khát khao sống có ý nghĩa. Nó là tiếng lòng của nhà thơ và cũng là của tất cả những ai ham mê cái cuộc sống trần gian rất đẹp đẽ này. Mùa xuân nho nhỏ ra đời khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh. Chắc hẳn, vào những ngày cuối cùng ấy, sau những chiêm nghiệm về cuộc sống với tất cả tình yêu, Thanh Hải muốn tiếp tục cất lên tiếng hót của “con chim chiền chiện” để góp nên một “mùa xuân nho nhỏ” cho cuộc đời, cho con người và cho đất nước yêu thương.Với thể thơ 5 chữ, với cách ngắt nhịp nhanh, gọn mà vẫn có độ dư ba, bài thơ đã dâng lên trong lòng tôi cảm giác rộn ràng, náo nức. Những gam màu trong trẻo, những hình ảnh đẹp, tươi sáng và đầy sức sống trong mỗi câu thơ cứ thấm dần vào trái tim tuổi trẻ của tôi.Mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước được nhà thơ cảm nhận trong sự căng đầy của nhựa sống, trong nhịp sống đang hối hả và trong sự tươi non mơn mởn của những hi vọng vào tương lai. Giữa màu xanh yên bình của dòng sông xuân, sắc tím biếc cuả bông hoa không hề lạc lõng, chông chênh. Nó bám chắc vào lòng sông như một sợi dây vô hình làm nên sức sống. Trên cái nền màu dịu êm của “sông xanh” và “hoa tím biếc”, tiếng hót trong vắt của con chim chiền chiện vút cao, ngân vang đến bất tận đến trời xanh. Từng tiếng, từng tiếng chim trong veo hay tiếng nhịp thở của khí xuân hoà vào trời đất, vang vọng vào trong lòng người như những “giọt tâm hồn” sáng long lanh. Tiếng hót ấy khiến ta không thể dửng dưng mà khiến ta phải thốt lên tiếng gọi rủ về cái khát khao muốn nắm bắt, muốn “đưa tay hứng”.Không tách mình khỏi khí xuân của thiên nhiên, đất nước trong công cuộc chuyển mình đi lên cũng rộn ràng, hối hả. Sức sống của đất nước không chung chung, trừu tượng mà nó biểu hiện ra ở “sức xuân” của mỗi con người. Mùa xuân trên lưng lính, lộc xuân trong tay người nông dân. Mỗi bước đi của người gieo thêm một chồi biếc, một mầm non. Và cứ thế, sức xuân của đất nước lại dâng lên như những lớp sóng xôn xao. Đất nước phấn chấn, hứng khởi trong một nhịp thở mới, hối hả khẩn trương. Niềm tin mới của dân tộc được chắp cánh từ truyền thống bốn nghìn năm dựng nước. Thế nên, dẫu biết có những vất vả và gian lao nhưng cả nước “vẫn đi lên phía trước” với một quyết tâm không mệt mỏi.Những câu thơ của Thanh Hải đầy ắp hình ảnh, màu sắc và âm thanh. Nó tạo nên một không khí sôi nổi, háo hức, phơi phới vui tươi. Nó là một bức tranh tươi sáng sắc màu, là một bản nhạc rộn ràng tiết tấu trong trẻo, ngân nga và gợi cảm. Điều đặc biệt là: bức tranh thiên nhiên, bức tranh đất nước đầy sức sống ấy đã được nhà thơ cảm nhận khi ông đang ở vào cái giây khắc sắp lìa đời. Trên giường bệnh, nhà thơ vẫn mở rộng hồn mình, lắng nghe và đón nhận tất cả những thanh âm xao động của cuộc sống ngoài kia. Ông vẫn lắng nghe từng bước đi rất khẽ của đời. Bốn bức tường của phòng bệnh không thể ngăn cách cuộc đời với nhà thơ, những cơn đau của bệnh tật không làm giảm ý chí, bầu nhiệt huyết và niềm tha thiết yêu đời trong trái tim của người nghệ sĩ. Cái nghị lực phi thường ấy đáng để ta phải nâng niu và trân trọng xiết bao.Bài thơ khép lại trọn vẹn trong tâm hồn và sự say sưa của người đọc bằng một ước nguyện thật chân thành và mãnh liệt biết bao. Nó thực là một khát khao đang bùng cháy: muốn được làm một nhành hoa như bông hoa tím biếc kia, muốn làm con chim hót vang trời những giọt long lanh như con chim chiền chiện. Cái khát khao không hề gợi một chút gì về hình ảnh khổ đau của một con người đang chết. Nó giống cái mãnh liệt và rạo rực của một sức thanh xuân đang tràn trề nhựa sống và khát khao cống hiến cho đời.Nhiều người đã từng đồng ý với tôi rằng: những người trẻ tuổi đọc Mùa xuân nho nhỏ có thể tìm ra lý tưởng sống cho mình, còn với những người đã dâng cả tuổi thanh xuân cho đất nước thì vẫn thấy mình còn có thể làm được nhiều hơn. Mùa xuân nho nhỏ quả đã không chỉ là niềm say mê của riêng tôi. Nó xứng đáng là một bài thơ hay trong tủ sách quý của muôn người. loigiaihay.com   Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học
Xem thêm

2 Đọc thêm

Soạn bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

SOẠN BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ

Soạn bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ I. Kiến thức cơ bản Đề bài 1: Phân tích bài thơ Hà Nội vắng em của nhà thơ Tê Hanh. Thế là Hà Nội vắng em Anh theo các phố đi tìm ngày qua Phố này bên cạnh vườn hoa Nhớ khi đón gió, quen mà chưa thân Phố này đêm ấy có trăng Cùng đi một đoạn nói bằng lặng im Phố này lại tưởng anh tìm bóng cây Ai đi các phố đó đây Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em. 1. Tìm hiểu đề 1.1. Tác giả Tế Hanh - Sinh năm 1921 tại Đông Yên (Quảng Ngãi). Học Sơ học ở quê, sau đó ra Huế học ở trường Khải Định. - Là người tinh tế, sâu sắc. - Thơ Tế Hanh đưa người đọc vào một thế giới gần gũi, những kỉ niệm trong thơ ông dễ làm run động lòng người. - Tác phẩm tiêu biểu: Quê hương, Nhớ con sông quê hương, Lời con đường quê, Ao ước, Hà Nội vắng em… 1.2. Việc trình bày bài thơ thành từng cặp lục bát có  ý nghĩa: Bài thơ được trình bày thành từng cặp lục bát một vừa thể hiện sự xa cách của anh và em, vừa thể hiện tâm trạng khắc khoải,  bồn chồn, không yên của chàng trai. 1.3. Từ được dùng nhiều trong bài thơ, ý nghĩa Từ được dùng nhiều nhất là từ phố. Mỗi khổ thơ có một từ phố như ghi lại dấu chân anh đi qua để tìm em, tìm về với kỉ niệm và hình bóng người yêu. Đó còn là cách đếm trong tâm trạng chia lìa và sự ngẩn ngơ, nuối tiếc khi trở lại với những cái quen thuộc ngày xưa. 1.4. Nội dung cảm xúc của các cặp lục bát 2, 3. 4. - Cặp thơ thứ 2: Kỉ niệm khi anh với em trong khung cảnh thiên nhiên đầy hương sắc. - Cặp thơ thứ 3: trở lại với con phố khi tình yêu đã đến nhưng không nói nên lời dù trong khung cảnh thơ mộng. - Cặp thơ thứ 4: Con phố trong hiện tại, khi anh đã xa em, Hà Nội vắng bóng em. 1.5. Đặc điểm nghệ thuật và sức hấp dẫn của bài tơ Bài thơ không có từ cổ Hán – Việt, từ mới, cũng như những hình ảnh mới lạ, nhưng bài thơ vẫn có sức hấp dẫn người đọc. Đó là tình cảm chân thành của nhân vật trữ tình, cùng thể thơ lục bát điêu luyện của tác giả. 2. Dàn ý - Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về nhà thơ Tế Hanh và bài thơ Hà Nội vắng em. - Thân bài: Sắp xếp các ý đã trình bày trong phần tìm hiểu để thành những luận điểm khái quát theo một trình tự hợp lí. - Kết luận: Đánh giá và nói lên suy nghĩ của em về bài thơ. Đề bài 2: Phân tích bốn câu trong bài Hoa cúc của nhà thơ Xuân Quỳnh 1. Tìm hiểu đề 1.1. Nhà thơ Xuân Quỳnh - Sinh ra ở Hà Đông (Hà Tây), lớn lên ở Hà Nội. - Trước khi làm nhà thơ, Xuân Quỳnh là một diễn viên múa tài năng, đã từng đi diễn ở nhiều nước trên thế giới. - Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn tha thiết gắn bó với đời, với người, luôn khao khát tình yêu và hạnh phúc. - Tác phẩm tiêu biểu: Tơ tằm – Chồi biếc, Hoa dọc chiến hào, Gió Lào cát trắng, Lời ru trên mặt đất… - Bốn câu trong bài thơ Hoa cúc: Thời gian đi màu hoa cũ về đâu? Nay trở lại vẫn như còn mới mẻ Bao mùa thi hoa vẫn vàng như thế Chỉ em là đã khác với em xưa. 1.2. Nội dung cơ bản của bốn câu thơ: - Hai câu đầu: Sự băn khoăn, thắc mắc về cái đã qua trong quá khứ, đồng thời khẳng định cái tươi mới, không thay đổi của tự nhiên, vạn vật. - Hai câu sau: Thể hiện quy luật của tự nhiên là sự tuần hoàn, trong khi tuổi trẻ của con người đã qua thì không bao giờ trở lại. - Xuân Quỳnh thể hiện một cách nhìn chân thành, tình cảm và sự cảm nhận của mình về sự trôi chảy của thời gian và sự đổi thay của cuộc đời. Cách thể hiện dù không mới song đã thể hiện được nét riêng của hồn thơ Xuân Quỳnh. 2. Dàn ý - Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về nhà thơ Xuân Quỳnh và bài thơ Hoa cúc. Bài thơ là ý thức của Xuân Quỳnh về mối quan hệ giữa sự hữu hạn của đời người với cái vô hạn của thời gian. - Thân bài: + Suy nghĩ, nhận thức và tâm trạng của Xuân Quỳnh trong bốn câu thơ. + Cách thể hiện mối quan hệ giữa cái vô hạn, tuần hoàn với cái hữu hạn không tuần hoàn trong bốn câu thơ. + Liên hệ với ý thơ tương tự của nhà thơ Xuân Diệu. - Kết luận: Cách cảm nhận và thể hiện về thời gian của Xuân Quỳnh thể hiện đặc sắc hồn thơ chị. II. Rèn luyện kĩ năng Đề bài: Bình luận hai câu thơ sau của Nguyễn Đình Chiểu:  Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm  Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà. (Dương Từ - Hà Mậu) Gợi ý làm bài 1. Mở bài - Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí vốn là một quan niệm truyền thống trong văn học cổ. - Nguyễn Đình Chiểu đã kế thừa và phát huy cao độ quan điểm đó. 2. Thân bài - Giải thích khái niệm đạo: đạo đức, đạo lí nói chung của con người. - Đạo trong quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu không phải là cái gì mới lạ, xa vời mà trái lại rất gần gũi trong cuộc sống. Giữa lúc nước mất nhà tan, thì cái đạo quý nhất là cứu nước, cứu dân. Đạo lí ấy được chở bởi con thuyền văn chương, và con thuyền ấy không bao giờ đắm cho dù chở bao nhiêu đạo lí đi nữa. - Cũng như con thuyền chở đạo, ngòi bút chống giặc của các nhà thơ, nhà văn không bao giờ biết lùi bước trước sức mạnh của quân thù. - Dùng văn chương làm vũ khí chiến đấu là quan niệm khá mới của Nguyễn Đình Chiểu. Đó chính là điểm sáng trong quan niệm của nhà thơ. 3. Kết luận - Hai câu thơ thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc và ý chí chiến đấu của Nguyễn Đình Chiểu. - Nhà thơ đã nói lên sứ mệnh cao cả của văn chương và người cầm bút trong cuộc đấu tranh chống các thế lực gian tà.
Xem thêm

3 Đọc thêm