HỆ VIỆT NAM NHẬT BẢN VÀ SỨC HẤP DẪN CỦA TIẾNG NHẬT TẠI VIỆT NAM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "HỆ VIỆT NAM NHẬT BẢN VÀ SỨC HẤP DẪN CỦA TIẾNG NHẬT TẠI VIỆT NAM":

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT DẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP DIỆN TỬ VIỆT NAM

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT DẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP DIỆN TỬ VIỆT NAM

1. Tính cấp thiết của đề tàiThế giới ngày nay đã chuyển dần từ thời đại công nghiệp sang thời đại công nghệ, trong đó thành công thuộc về các lực lượng nắm giữ công nghệ và thông tin, do đó quá trình sản xuất công nghiệp trong các thập kỷ vừa qua cũng đã có những biến đổi hết sức sâu sắc và rõ nét. Trình độ phân công lao động quốc tế và phân chia quá trình sản xuất đã đạt đến mức rất cao. Các sản phẩm công nghiệp hầu hết không còn được sản xuất trọn bộ tại một không gian hay một địa điểm, mà được phân chia thành nhiều công đoạn, ở các châu lục, các quốc gia, các địa phương khác nhau. Khái niệm công nghiệp điện tử ra đời như là một cách tiếp cận sản xuất công nghiệp mới với nội dung cơ bản là việc chuyên môn hoá sâu sắc các công đoạn của quá trình sản xuất.Ngành công nghiệp điện tử Việt Nam bắt đầu được xây dựng từ những năm 1960 nhưng chỉ sau khi thống nhất đất nước, đặc biệt là từ khi thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, ngành công nghiệp điện tử mới phát triển nhanh chóng, góp phần không nhỏ vào những thành tựu chung của cả nước. Nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, tranh thủ đầu tư nước ngoài, chỉ trong một thời gian tương đối ngắn, chúng ta đã sản xuất được nhiều sản phẩm điện tử tin học viễn thông phục vụ nhu cầu trong nước và bước đầu đã có xuất khẩu. Hiện nay, ngành công nghiệp Việt Nam được đánh giá là ngành có tiềm năng phát triển trong quá trình hội nhập quốc tế cùng cả nước.Xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại và xu thế chuyển giao công nghệ nhanh dưới sức ép của tốc độ phát triển khoa học công nghệ hiện nay đã tác động mạnh đến sự phát triển của thị trường hàng điện tử ở mỗi quốc gia và trên toàn thế giới. Điều này vừa tạo thuận lợi, vừa gây khó khăn cho sự phát triển của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam. Một mặt Việt Nam có thể xây dựng chiến lược “đi tắt đón đầu” trong công nghệ để nhanh chóng xây dựng hàng điện tử vững mạnh, có sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới. Nhưng mặt khác, thị trường hàng điện tử Việt Nam còn non trẻ, các sản phẩm chưa có sức cạnh tranh cao, có nguy cơ bị thao túng bởi thị trường hàng điện tử nước ngoài. Đánh giá đúng thực trạng của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam để từ đó có những giải pháp đầu tư phát triển ngành là một vấn đề hết sức cần thiết. Vì vậy nên em chọn đề tài: “GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ VIỆT NAM” để làm đề tài chuyên đề thực tập của mình.2. Mục đích nghiên cứu của đề tàiMục đích nghiên cứu của đề tài là từ những thực trạng trong đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam nói chung và đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào ngành công nghiệp điện tử Việt Nam nói riêng để từ đó có những phương hướng, chính sách hợp lý nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào ngành công nghiệp điện tử còn đang rất mới mẻ và có tiềm năng này của Việt Nam.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu : Là về đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào một ngành kinh tế.Phạm vi nghiên cứu : Là nghiên cứu thực trạng đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào ngành công nghiệp điện tử từ năm 2008 đến năm 2013, và đề xuất giải pháp kiến nghị cho đến năm 2020.4. Phương pháp nghiên cứuĐể đạt được mục đích nghiên cứu chuyên đề đã sử dụng cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể phổ biến trong kinh tế như phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, diễn giải, quy nạp qua các cơ quan ban ngành các tổ chức quốc tế. Từ đó giúp cho tác giả có thể luận giải được vấn đề một cách khách quan, khoa học nhất.5. Bố cục của chuyên đềChuyên đề kết cấu gồm 3 chươngChương 1: Ngành công nghiệp điện tử và một số vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp điện tửChương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp của nhật bản vào ngành công nghiệp điện tử việt nam giai đoạn 2008 2013Chương 3: Phương hướng và giải pháp thu hút fdi của nhật bản vào công nghiệp điện tử việt nam đến năm 2020
Xem thêm

66 Đọc thêm

Bảng tra hệ số SCT và các hệ số khác trong nền móng

Bảng tra hệ số SCT và các hệ số khác trong nền móng

Các loại bảng tra hệ số SCT trong xây dựng và tính toàn nền móng theo tiêu chuẩn việt nam hiện nay, và các hệ khác trong công thức tính sức chịu tải như công thức Nhật Bản, công thức theo tiêu chuẩn việt nam, xác định sức chịu tải theo đất nền, theo vật liệu làm cọc, theo thí nghiệm xuyên tĩnh, theo thí nghiệm hiện trường SPT, CPT

Đọc thêm

CÁCH XƯNG hô TRONG GIAO TIẾP THƯƠNG mại TIẾNG NHẬT CHỊU ẢNH HƯỞNG của QUAN hệ UCHI SOTO

CÁCH XƯNG HÔ TRONG GIAO TIẾP THƯƠNG MẠI TIẾNG NHẬT CHỊU ẢNH HƯỞNG CỦA QUAN HỆ UCHI SOTO

Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng có khả năng tiếp cận nhanh nhất với một nền văn hóa và qua đó tiếp thu được những tinh hoa của nền khoa học công nghệ của một quốc gia. Bởi lẽ, ngôn ngữ chính là tấm gương phản ánh sâu sắc và đầy đủ văn hóa của một đất nước. Tiếng Nhật là ngôn ngữ rất giàu tính văn hóa nên việc sử dụng chính xác ngôn ngữ chính là sự thể hiện am hiểu về văn hóa Nhật Bản. Với sinh viên học tiếng Nhật của trường Đại học Ngoại ngữ, những nhà Nhật Bản học, nhà phiên dịch, biên dịch trong tương lai thì việc sử dụng chính xác ngôn từ và am hiểu về văn hóa, đất nước, con người Nhật Bản là hết sức quan trọng. Trong xã hội Nhật Bản, quan hệ trên dưới, quan hệ trong – ngoài được coi trọng và được biểu hiện trong giao tiếp thường ngày. Đặc biệt, trong giới kinh doanh, mối quan hệ này lại càng được thể hiện rõ nét bởi sự khác biệt giữa các đối tượng tham gia giao tiếp: giữa những người cùng nhóm (người cùng công ty, cơ quan…) hay giữa những người khác nhóm (khách hàng, đối tác làm ăn…). Sự khác biệt này được thể hiện ngay trong cách xưng hô khi giao tiếp giữa các đối tượng khác nhau thuộc hai vùng uchi (những người có quan hệ gia đình, thân mật, đồng nghiệp) – soto (những người có quan hệ xã giao, khách hàng, đối tác làm ăn…). Với khuôn khổ của bài viết, chúng tôi khảo sát một số cách xưng hô được biểu hiện trong giao tiếp thương mại của người Nhật nhằm giúp người học tránh được những nhầm lẫn khi giao tiếp với người Nhật trong nơi làm việc hoặc khi phiên dịch các buổi trao đổi, thương lượng, đàm phán…
Xem thêm

6 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Viết bản tin

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : VIẾT BẢN TIN

VIẾT BẢN TIN I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm Bản tin là đơn vị cơ sở của thông tin báo chí nhằm truyền đạt, phản ánh “về một sự kiện mới xảy ra được mọi người hoặc một số người quan tâm. Tin thường được thông báo nhanh và ngắn gọn trên báo chí, đặc biệt báo ngày, báo điện tử, đài phát thanh và truyền hình”. Trong thời đại ngày nay, do nhu cầu nắm bắt, trao đổi thông tin của xã hội là hết sức cấp thiết nên bản tin có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống hàng ngày. 2. Phân loại và yêu cầu đối với bản tin a) Phân loại - Bản tin có nhiều loại: tin ảnh (bao gồm ảnh tĩnh và ảnh động), tin chữ... Trong phạm vi chương trình, chủ yếu làm quen với tin chữ. - Tin chữ gồm: + Tin vắn: tin không có đầu đề, dài dưới 100 chữ. + Tin thường: độ dài từ 100 chữ đến 350 chữ, chiếm tỉ lệ cao nhất trong phần tin chữ.  + Tin tường thuật: tin phản ánh từ đầu đến cuối một sự kiện nào đó. + Tin tổng hợp: tin phản ánh nhiều sự kiên từ nhiều nguồn khác nhau thành một hiện tượng đáng qua tâm. b) Yêu cầu đối với bản tin - Mới mẻ, giàu tính thời sự. - Các sự kiện được nêu chân thực, chính xác. - Ngắn gọn, cô đọng, gây chú ý. 3. Cấu trúc của bản tin  Ở dạng đầy đủ nhất, bản tin thường có cấu trúc hai phần  - Đầu đề (tít bài, tiêu đề, tên tin): Ngắn gọn, gây tò mò, hấp dẫn, hé lộ lượng thông tin quan trọng nhất.  - Nội dung: Chính xác về thời gian, địa điểm, diễn biến, kết quả của các sự kiện, hiện tượng đã xảy ra. Các sự kiện quan trọng hơn được nêu trước. II. RÈN KĨ NĂNG Câu hỏi 1. Theo anh (chị), các bản tin sau đây thuộc loại bản tin nào? Phân tích đăch điểm, cấu trúc của bản tin để khẳng định ý kiến của mình: a. Theo Bisiness Review Weekly với tổng trị giá khoảng 200 triệu USD, nữ diễn viên tóc vàng Ni-câu Kít-man đã trở thành người giàu thứ tư Au-xtra-li-a và là phụ nữ giàu nhất nước này năm 2006. (Báo Người đại biểu nhân dân, 20 – 9 – 2006) b. THÊM MỘT BẢN DỊCH TRUYỆN KIỀU SANG TIẾNG NHẬT Ngày 17 – 3 – 2005 vừa qua tại thành phố Ô-ka-y-a-ma, Nhật Bản, ông Sây-ghi Sa-tô và nữ thi sĩ Y-ô-si-cô Ku-rô-da, đồng dịch giả, đã tổ chức giới thiệu quyển Truyện Kiều của Việt Nam đã được ông, bà dịch sang tiếng Nhật. Gần một trăm vị khách, gồm các quan chức, đại diện các cơ quan văn hoá, văn nghệ sĩ, nhà báo, bạn đọc Nhật Bản và thực tập sinh, lưu học sinh Việt Nam đã đến dự. Đại diện của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản đã giới thiệu với độc giả về thân thế, sự nghiệp văn học của thi hào Nguyễn Du và chúc mừng thành công của hai dịch giả người Nhật. Đây là lần thứ tư Truyện Kiều được các dịch giả Nhật Bản dịch sang tiếng Nhật từ các bản tiến Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh. Bản dịch lần này của ông Sây- ghi Sa-tô và bà Y-ô-si-cô Ku-rô-da dịch từ cuốn Truyện Kiều song ngữ Việt – Anh do nhà xuất bản Văn học ấn hành.                                                      (Báo Văn nghệ, ngày 15 – 5 – 2005) Gợi ý trả lời - a là tin vắn: có ít hơn 100 chữ, không có phần tiêu đề (và kết luận), chỉ có phần nội dung. - b là tin thường: có nhiều hơn 100 chữ nhưng ít hơn 350 chữ, có phần tiêu đề, có phần nội dung. 2. Hãy sắp xếp lại cấu trúc và đặt đầu dề cho bản tin sau đây sao cho hợp lí. a. Dự kiến sau khi hoàn thành, chiếc đèn kéo quân này sẽ được đưa đến Cung Văn hoá Thiếu nhi Hà Nội vào đúng tối rằm Trung thu để chung vui với thiếu nhi Hà Nội trong chương trình Cầu truyền hình trực tiếp Hà Nội – Huế – Thành phố Hồ Chí Minh. b. Chiếc đèn cao 6m, đường kính 2,5m, và mặt đáy rộng 9m2, có cấu tạo gồm ba phần rời nhau là hai thân đèn và đế đèn nên có thể tháo lắp dễ dàng khi di chuyển. c. Ngày 18 – 9, chiếc đèn kéo quân lớn nhất từ trước tới nay đã được nghệ nhân Vũ Văn Sinh ở xã Cao Viên, Thanh Oai, Hà Tây cùng với một số nghệ nhân khởi dựng. Gợi ý trả lời - Sắp xếp theo cấu trúc c – b – a: Nguồn gốc chiếc đèn đặc biệt - Đặc điểm chiếc đèn – Dự kiến mục đích sử dụng. - Đặt tiêu đề: “Chiếc đèn Trung thu khổng lồ”.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản

GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN

Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới và hiện đang là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam (sau Hoa Kỳ). Hàng năm Nhật Bản nhập khẩu khối lượng hàng hoá trị giá 330 - 440 tỷ USD (năm 2003 trị giá nhập khẩu đạt 381,2 tỷ USD), trong đó nhập từ Việt Nam khoảng từ 2,4 - 3 tỷ USD, chiếm khoảng 13 -16% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam. Hơn nữa giữa Nhật Bản và Việt Nam lại gần gũi về mặt địa lý và có những nét tương đồng về văn hóa, điều này càng tạo nhiều thuận lợi cho Việt Nam có thể tăng cường xuất khẩu sang Nhật Bản, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ mạnh cho nhập khẩu công nghệ nguồn và thu hút đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản vào nước ta. Thị trường Nhật Bản trong thời gian trung hạn vẫn là một trong ba thị trường lớn nhất thế giới , đặc biệt là đối với nông sản và là thị trường trọng điểm của Việt Nam.
Trong khi đó, nông sản lại là những mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam. Những mặt hàng này hiện đang giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam. Trong những năm qua, xuất khẩu hàng nông sản chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của đất nước, năm 2004 tỷ trọng giảm xuống còn 22,4% nhưng vẫn tăng về mặt trị giá.
Hiện nay, Nhật Bản là thị trường nhập khẩu lớn thứ 4 đối với các mặt hàng nông sản của Việt Nam với cơ cấu các mặt hàng ngành càng mở rộng như Cà phê, Ca su, Hạt tiêu, chè, rau củ quả các loại…..
Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng trong điều kiện toàn cầu hóa và quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới ngày càng sâu sắc hiện nay, cạnh tranh xuất khẩu nói chung và xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản nói riêng ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt. Những sản phẩm mà ta có lợi thế xuất khẩu sang Nhật Bản cũng chính là những sản phẩm mà nhiều nước và khu vực khác trên thế giới, nhất là các nước trong ASEAN và Trung Quốc có điều kiện thuận lợi để xuất khẩu sang thị trường này. Đó là chúng ta còn chưa nói tới những khó khăn xuất phát từ đặc điểm của thị trường Nhật Bản, một thị trường đòi hỏi rất khắt khe đối với hàng nhập khẩu và có các rào cản thương mại phức tạp vào bậc nhất trên thế giới. Trước bối cảnh cạnh tranh xuất khẩu ngày càng gay gắt và những yêu cầu khắt khe về nhập khẩu như vậy, hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản thời gian qua tuy đã có nhiều thành tựu, nhưng cũng bộc lộ rõ những yếu kém và hạn chế trong cạnh tranh, chưa đáp ứng đẩy đủ những yêu cầu của thị trường Nhật Bản, chưa phát huy hết được tiềm năng và lợi thế của đất nước để duy trì và mở rộng thị phần trên thị trường nhập khẩu lớn nhất hàng nông sản trên thế giới. Vì vậy, em cho rằng việc nghiên cứu và tìm ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản là hết sức cần thiết, không những đối với việc mở rộng xuất khẩu trong thời gian trước mắt, mà còn về lâu dài góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu và nhiệm vụ đề ra trong chiến lược xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001-2010.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ các đặc điểm và xu hướng nhập khẩu hàng nông sản của Nhật Bản trên các phương diện: Nhu cầu, thị hiếu của thị trường; các khía cạnh của cạnh tranh trên thị trường và các rào cản thương mại của Nhật Bản.
- Đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang Nhật Bản thời gian từ 1995 đến nay.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển xuất khẩu nông sản sang Nhật Bản cho tới năm 2010.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng: Nghiên cứu xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Nhật Bản, các yếu tố tác động, các phương hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu nông sản sang Nhật Bản từ nay đến năm 2010.
Phạm vi: Giới hạn về mặt nội dung nghiên cứu là xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản. Cụ thể, đề tài chọn 3 mặt hàng chính là: Cà phê, Ca su, rau quả là những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn và có tiềm năng xuất khẩu sang Nhật Bản.
Về mặt thời gian: Việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn xuất khẩu nông sản sang thị trường Nhật Bản lấy mốc từ năm 1995 đến nay. Việc dự báo và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu các sản phẩm này sang Nhật Bản áp dụng cho thời gian từ nay đến 2010.
Về mặt đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu: đề tài đề xuất các phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển xuất khẩu hàng nông sản sang Nhật Bản cả ở tầm vĩ mô và tầm vi mô.
Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu của luận văn, ngoài các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử là những phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu khoa học nói chung, phương pháp trìu tượng hóa thường được sử dụng trong nghiên cứu khoa học xã hội và khoa học kinh tế nói riêng, luận văn còn sử dụng các phương pháp:
- Nghiên cứu lý thuyết và tổng kết thực tiễn
- Phương pháp diễn dịch, quy nạp
- Khảo sát từ thực tế
- Phương pháp chuyên gia.
- Các phương pháp thống kê thu thập số liệu, so sánh, tổng hợp, phân tích thống kê số liệu tình hình.
Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung nghiên cứu của đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về xuất khẩu hàng nông sản và những yêu cầu của thị trường Nhật Bản đối với hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong thời gian qua.
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang Nhật Bản trong những năm tới.
Xem thêm

196 Đọc thêm

Đầu tư trực tiếp nước ngoài của nhật bản vào việt nam thực trạng và giải pháp hướng tới chiến lược trung quốc

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HƯỚNG TỚI CHIẾN LƯỢC TRUNG QUỐC

Trong xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá hiện nay, sù giao lưu, luân chuyển các dòng vốn diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với đầu tư và phát triển đất nước. Kế hoạch phát triển kinh tếxã hội của Việt Nam thời kì 20062010 đã xác định mục tiêu tổng quát là đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao tính hiệu quả và bền vững của sự phát triển, sớm đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức nhằm sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt 7,58%năm. Để đạt được mục tiêu đó, chính phủ dự kiến phải huy động khoảng 140150 tỉ USD cho đầu tư phát triển, trong đó, nguồn vốn huy động từ bên ngoài chiếm trên 35%. Có thể nói, hiện nay, Việt Nam đang rất chú trọng tới thu hót ngoại lực, trong mối liên kết với phát huy nội lực để phát triển kinh tế đất nước.
Mặt khác, kinh nghiệm cho thấy, là mét trong những quốc gia phát triển nhất trên thế giới với tiền lực tài chính hùng hậu, công nghệ hiện đại, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của các công ty Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển. Hơn nữa, với nền tảng vững chắc là quan hệ hữu nghị hợp tác suốt hơn 30 năm trên tinh thần “đối tác tin cậy, ổn định lâu dài”, trong nhiều năm qua, Nhật Bản là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản luôn nằm trong nhóm 5 nước đứng đầu, các dự án đầu tư của Nhật Bản được đánh giá là thành công nhất về phương diện vốn đầu tư thực hiện và hiệu quả triển khai. Do đó, việc thu hót nguồn vốn này có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam nhằm hướng tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đặc biệt, có lẽ chưa có thời điểm nào nh­ hiện nay, Việt Nam đang được các công ty Nhật Bản hết sức quan tâm chú ý, được đánh giá cao có thể trở thành điểm đến trong chiến lược dài hạn “Trung Quốc+1” của họ. Trong bối cảnh này, nếu Việt Nam không tích cực căn cứ vào những biến động của dòng vốn này trong quá khứ, kết hợp với những điều kiện hiện tại, nghiên cứu giải pháp chủ động đón làn sóng đầu tư từ Nhật Bản thì tương lai gần, một mặt, có thể làn sóng này sẽ chuyển hướng khác, mặt khác, khi các nhà đầu tư Nhật Bản ồ ạt kéo sang Việt Nam mà môi trường đầu tư vẫn chưa có khả năng đáp ứng sẽ rất dễ gây hỗn loạn, làm giảm hiệu quả đầu tư. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về: “Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam: thực trạng và giải pháp hướng tới chiến lược “Trung Quốc+1”” trở nên cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao.
Xem thêm

110 Đọc thêm

Nhật Bản và mối quan hệ kinh tế với Việt Nam Thương Mại Quốc Tế

Nhật Bản và mối quan hệ kinh tế với Việt Nam Thương Mại Quốc Tế

NHẬT BẢN VÀ MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VỚI VIỆT NAMI. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI NHẬT BẢN1.Tổng quan về Nhật BảnThủ đô: Tokyo Diện tích: 377 915 km2 Dân số: 127,132 triệu người (tính đến tháng 92015) Ngôn ngữ : Tiếng Nhật Văn hóa kinh doanh: Người Nhật luôn đề cao tính kỷ luật và hiệu quả cao trong công việc, những yếu tố dưới đây làm nên sự thành công của họ. Con người: Có tinh thần cầu tiến và nhạy cảm với những thay đổi trên thế giới.Du lịch:2. Tình hình kinh tế chính trịxã hội2.1 Kinh tế2.2 Chính trị2.3 Văn hóa xã hội2.4 Đường lối đối ngoạiII. QUAN HỆ KINH TẾ VỚI VIỆT NAM1.HỢP TÁC THƯƠNG MẠICÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHÍNH CỦA VIỆT NAM SANG NHẬT BẢN VÀ THẾ GIỚI( NĂM 20122014) (bảng thống kê)CÁC MẶT HÀNG VIỆT NAM NHẬP KHẨU CHÍNH TỪ NHẬT BẢN VÀ THẾ GIỚI (Năm 20122014) (bảng thống kê)KIM NGẠCH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM NHẬT BẢN GIAI ĐOẠN 20072014 (bảng thống kê và biểu đồ)2. HỢP TÁC ĐẦU TƯCƠ CẤU VỐN ODA VÀ VỐN VAY ƯU ĐÃI KÝ KẾT THEO NHÀ TÀI TRỢ THỜI KỲ 20112015 (biểu đồ)Viện trợ chính thức (ODA) của Nhật Bản cho Việt Nam (bảng thống kê)III. HỢP TÁC TÀI CHÍNH VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ1. HỢP TÁC TÀI CHÍNH2. CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ GIỮA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢNIV. CÁC HIỆP ĐỊNH1. HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ VIỆT NAMNHẬT BẢN (VJEPA)BẢNG PHÂN TÁN SỐ DÒNG THUẾ ĐƯỢC XOÁ BỎ THUẾ QUAN THEO NGÀNH CỦA VIỆT NAM2. HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ TOÀN DIỆN ASEANNHẬT BẢN (AJCEP)3. HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (GỌI TẮT LÀ TPP)4. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ TOÀN DIỆN VỚI NHẬT BẢNa) Tích cựcNhững ưu đãi khác ngoài thuế quan mà phía Việt Nam được hưởng trong Hiệp định VJEPA và AJCEP: b) Tiêu cực
Xem thêm

Đọc thêm

Một số nét trong quản lý hoạt động khoa học và công nghệ địa phương của Trung Quốc

MỘT SỐ NÉT TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỊA PHƯƠNG CỦA TRUNG QUỐC

oạt động truyền thông Khoa học và Công nghệ (KHCN) là lĩnh vực khá mới mẻ ở Việt Nam, vì vậy việc học tập kinh nghiệm truyền thông KHCN của các nước trên thế giới, đặc biệt là Nhật Bản, Úc… – một trong những nước triển khai thành công hoạt động truyền thông KHCN là hết sức quan trọng.
Kinh nghiệm của các nước này sẽ góp phần cung cấp cho Việt Nam những ý tưởng mới có thể vận dụng linh hoạt, hiệu quả và phù hợp với hoàn cảnh thực tế của mình nhằm tạo ra những bước đột phá cho hoạt động truyền thông KHCN.
Xem thêm

55 Đọc thêm

Nhật Bản khác ta những gì?

NHẬT BẢN KHÁC TA NHỮNG GÌ?

Trong khi nhiều cường quốc lao vào công cuộc chạy đua vũ trang thì nước Nhật tập trung vào phát triển kinh tế. Độ độc lập ngoại thương (căn cứ vào tỷ lệ giữa tổng lượng mậu dịch (xuất nhập khẩu) trên tổng thu nhập quốc gia. Chỉ số này năm 1955 đã đạt tới 10%, nhưng từ năm 1955 đã tăng lên đến 20% và từ năm 1958 đến nay luôn giữ được ở mức 22-23%. Không có nước thứ hai nào trên thế giới đạt đến mức tăng trưởng như vậy. Năm 1960 GNP của Nhật chiếm 2,8% tổng sản lượng của thế giới, nhưng đến năm 1980 tỷ lệ này đã tăng lên đến 10,1% .GDP (tính theo PPP) của Nhật năm 2005 là 3 914 nghìn tỷ USD, trong khi GDP (tính theo PPP) của nước ta năm 2005 là 253,2 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu của Nhật (f.o.b.)năm 2005 là 550,5 tỷ USD, trong khi của Việt Nam (f.o.b.)năm 2005 là 32,23 tỷ USD (www.cia.gov) . Con đường công nghiệp hóa của Nhật phản ảnh rõ nét trong việc thu hẹp lại tỷ lệ nông dân. Nếu như năm 1960 còn có 26,8% dân số thuộc khu vực sản xuất nông nghiệp thì đến năm 1992 tỷ lệ này chỉ còn 5,5%. Diện tích canh tác thu hẹp lại rất nhiều nhưng nhờ có cải tiến kỹ thuật mà năng suất nông nghiệp lại tăng rất nhanh. Dù sao thì nước Nhật đã chọn con đường không cần tự túc lương thực , thực phẩm mà đầu tư vào các ngành công nghiệp, trong đó có Công nghệ sinh học. Tôi không chỉ được đến làm việc tại những trung tâm CNSH cấp quốc gia hết sức hiện đại như NITE, RIKEN...mà còn vô cùng ngạc nhiên khi tiếp cận với các trung tâm CNSH dược phẩm của tư nhân với quy mô đầu tư và hiệu quả lớn hơn rất nhiều. Sản phẩm nông nghiệp dùng làm nguyên liệu để lên men các chủng vi sinh vật mang gen tái tổ hợp nhằm chế tạo ra dược phẩm thì giá trị tăng lên không hiểu là hàng nghìn hay hàng vạn lần? Chắc là còn cao hơn nữa rất nhiều (!)
Xem thêm

22 Đọc thêm

QUYỀN TỰ DO THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

QUYỀN TỰ DO THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trong bất kỳ nền kinh tế hàng hóa nào cũng tồn tại nhu cầu tự do kinh doanh.Tuy nhiên, trong các xã hội khác nhau và ở trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể thì mứcđộ đảm bảo việc thực hiện nhu cầu tự do kinh doanh cũng khác nhau. Xã hội càngphát triển thì quyền tự do kinh doanh càng được coi trọng bởi nó là động lực tạođiều kiện cho nền kinh tế phát triển theo xu hướng kinh doanh bình đẳng, cạnh tranhlành mạnh. Tại Việt Nam, quyền tự do kinh doanh là một trong các quyền cơ bảnnhất của công dân và được Hiến pháp quy định. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiệnnay, yêu cầu phải phát triển đa dạng các loại hình kinh doanh, nhằm khơi dậy nguồnhứng khởi cho các nhà kinh doanh, thu hút được các nguồn đầu tư cho sự phát triểnkinh tế, đòi hỏi các nhà lập pháp Việt Nam phải không ngừng hoàn thiện khuôn khổpháp luật. Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp sửa đổi được ban hành năm 2014, cóthể nói là những cải cách quan trọng nhất trong việc thể chế hóa các quy định vềquyền tự do kinh doanh được quy định tại Hiến pháp năm 2013.Trong các quyền gắn liền với chủ thể kinh doanh (quyền tự do kinh doanh) thìmột trong các nội dung cơ bản và quan trọng là quyền tự do thành lập doanh nghiệp.Nó là tiền đề để thực hiện các quyền khác thuộc nội dung quyền tự do kinh doanhbởi để tiến hành hoạt động kinh doanh, nhà đầu tư trước hết phải xác định tư cáchpháp lý của mình. Với quyền tự do thành lập doanh nghiệp, các nhà đầu tư có khảnăng quyết định lựa chọn mô hình kinh doanh và lĩnh vực, ngành nghề kinh doanhthích hợp để tiến hành hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao. Nhà nước luôn đảmbảo quyền được thành lập doanh nghiệp cho nhiều đối tượng có khả năng đầu tư choxã hội; đồng thời không ngừng hoàn thiện pháp luật về đầu tư, kinh doanh. Từ cácvăn bản pháp lý đầu tiên là Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân1990, Việt Nam đã cho phép thành lập các tổ chức kinh tế thuộc tư hữu, bao gồm1các loại hình: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần (thành lập theo LuậtCông ty) và doanh nghiệp tư nhân (thành lập theo Luật Doanh nghiệp tư nhân). Đến
Xem thêm

98 Đọc thêm

THỊ TRƯỜNG XNK CỦA CÔNG TY MIMEXCO

THỊ TRƯỜNG XNK CỦA CÔNG TY MIMEXCO

đạt 85% đến năm 2002 còn 4,6% tức là giảm gần gấp đôi. Điều này do nước taLuanvan.onlinePage 9www.Luanvan.onlinengày càng sản xuất được các hàng tiêu dùng trong nước thay thế cho nhập khẩu.Hàng máy móc, thiết bị, phụ tùng thì khá ổn định chỉ giao động ở mức 29 –30% . Sự thay đổi về cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam cho thấy nước ta đã điđúng hướng trong việc đẩy mạnh nhập khẩu công nghệ và kỹ thuật và khả năngđáp ứng hàng tiêu dùng đã tăng lên do tự sản xuất được3.1.2 Về thị trường XNK.Phát triển thị trường XNK theo quan điểm Marketing hiện đại có nghĩa làkhông những mở rộng thêm những thị phần mới mà còn phải tăng thị phần củasản phẩm đó trong các thị phần đã có sẵn. Gần một thập kỷ qua thị trường XNKcủa Việt Nam đã có sự thay đổi sâu sắc. Nừu như trước đây chủ yếu buon bánvới Liên Xô và Đông Âu, chiếm khoảng 80% kinh ngạch XNK thì hiện nayhàng hoávà dịch vụ của Việt Nam đã có mặt trên 140 quốc gia và vùng lãnh thổtrên thế giới. Việc chuyển hướng kịp thời đã tạo điều kiện để mở rộng qui môXNK lựa chọn bạn hàng phù hợp và gíup cho nền kinh tế tăng trưởng một cáchliên tục mặc dù có những biến động lớn ở Liên Xô và Đông Âu.+ Cá nước Châu Á: Là thị trường buôn bán chủ yếu của Việt Nam, chiếm63,65% tổng kim ngạch xuất khâu và 74- 75% tổng kim ngạch nhập khẩu của cảnước thập kỷ qua, trong đó các nước lân cận chiếm 45%, đặc biệt là Nhật Bản,ASEAN, và Trung Quốc là những bạn hàng lớn của Việt Nam. Thei Bộ ngoạigiao thì các nước APEC tiêu thụ từ Việt Nam toàn bộdầu thô xuất khẩu, gần70% gạo, 90% hạt điều, 90- 94% cao su, 80% hạt tiêu, 85% lạc nhân, 65% thuỷsản, 60- 70% cà phê, 60% dệt may, 55- 60% dầy dép, 95- 96% thiếc thỏi, gần70% than đá. Về nhập khẩu, đại bộ phận hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam từ
Xem thêm

106 Đọc thêm

THỊ TRƯỜNG OTC CỦA MỘT SỐ NƯỚC MỸ, NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, VIỆT NAM

THỊ TRƯỜNG OTC CỦA MỘT SỐ NƯỚC MỸ, NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, VIỆT NAM

Thị trường OTC của một số nước Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam.
Thị trường OTC của một số nước Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam.
Thị trường OTC của một số nước Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam.
Thị trường OTC của một số nước Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam.

10 Đọc thêm

Phân tích lợi thế cạnh tranh của việc xuất khẩu sản phẩm giày dép việt nam sang thị trường nhật bản

PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA VIỆC XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GIÀY DÉP VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN

Phân tích lợi thế cạnh tranh của việc xuất khẩu sản phẩm giày dép việt nam sang thị trường nhật bản bao gồm: tình hình xuất khẩu giày dép việt nam sang nhật bản; tình hình nhập khaair giày dép từ các nước vào Nhật bản; phân tích lợi thế cạnh tranh giày dép Việt Nam vào nhật bản so với trung quốc; những điểm mạnh và yếu của việc xuất khẩu giày dép vào nhật bản so với trung quốc

77 Đọc thêm

từ vựng , ngữ pháp , lý thuyết tiếng Nhật , từ cơ bản đến nâng cao

từ vựng , ngữ pháp , lý thuyết tiếng Nhật , từ cơ bản đến nâng cao

sau tiếng anh là tiếng nhật, nhật ngữ ngày càng thịnh ở việt nam, khi mà số lượng tuyển dụng phiên dịch tiếng nhật thiếu trầm trọng, nên học tiếng nhật cần thiết hơn bao giờ hết,và bộ sách là tổng hợp như cách dùng trợ từ trong tiếng nhật, cách viết chữ nhật.. hy vọng giúp bạn học tốt.

Đọc thêm

THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THU HÚT FDI CỦA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ TỪ 1996 ĐẾN NAY

THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THU HÚT FDI CỦA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ TỪ 1996 ĐẾN NAY

NHỮNG THÀNH CÔNG Từ khi ban hành luật đầu tư nước ngoài tới nay thì các công ty lớn có tên tuổi ở Nhật đã đầu tư vào Việt Nam và cho đến nay vẫn làm ăn rất có hiệu quả như: Honda, Sanyo,[r]

31 Đọc thêm

Học Kanji Tiếng Nhật qua bài tập

HỌC KANJI TIẾNG NHẬT QUA BÀI TẬP

Chữ Hán, trong tiếng Nhật được gọi là 漢字 (Rōmaji; Kanji, Hiragana: かんじ, âm Hán Việt: Hán tự), là một trong ba loại văn tự được sử dụng ở Nhật Bản để ghi chép tiếng Nhật hiện đại (hai loại còn lại là hiragana và katakana đều bắt nguồn từ chữ Hán). Từ Kanji trong tiếng Nhật có ý nghĩa hoàn toàn tương đương với từ chữ Hán trong tiếng Việt, chữ Hán được sử dụng ở bất kỳ đâu, Nhật Bản hay Trung Quốc hay Việt Nam đều được gọi là Kanji. Trong bối cảnh sử dụng ở Việt Nam từ Kanji có nghĩa hẹp hơn so với nghĩa gốc của nó trong tiếng Nhật, Kanji được dùng để chỉ những chữ Hán được dùng trong tiếng Nhật.
Xem thêm

7 Đọc thêm

GIẢI PHÁP THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM

GIẢI PHÁP THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM

Để kiếm được lao động tốt và tương đối rẻ, họ đã buộc phải phân bố lại các cơ sở sản xuất của mình sang những nơi có lợi thế về mặt này Vào cuối những năm 1980, tình hình kinh tế và tài [r]

45 Đọc thêm

Quá trình thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt nam

QUÁ TRÌNH THU HÚT FDI CỦA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM

Vì vậy VN cần chú trọng đẩy mạnh quảng bá nhất là bằng tiếng Nhật III – Các biện pháp nhằm thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam Trong chiến lược phát triển kinh tế của VN giai đoạn 2001[r]

34 Đọc thêm

Hiệp định về chương trình thực tập kỹ năng tại nhật bản

HIỆP ĐỊNH VỀ CHƯƠNG TRÌNH THỰC TẬP KỸ NĂNG TẠI NHẬT BẢN

Hiệp định về chương trình thực tập kỹ năng dành cho người nước ngoài ở Nhật bản Tiếng Nhật + Tiếng Việt 28 trang.
...Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam (dưới đây gọi là Cơ quan phái cử) và nước Nhật bản (dưới đây gọi là Đoàn thể quản lý) dựa trên các điều luật của hai nước cùng tiến hành ký hiệp định sau đây về Chương trình thực tập kỹ năng dành cho người nước ngoài (dưới đây gọi là Chương trình thực tập kỹ năng) do ĐOàn thể quản lý giám sát và các Doanh nghiệp tiếp nhận THực tập sinh kỹ năng (dưới đây gọi là Cơ quan tổ chức thực tập) thực hiện đối với Thực tập sinh kỹ năng được Cơ quan phái cử gửi đi.
Xem thêm

29 Đọc thêm

Tiểu luận phân tích cơ hội kinh doanh bia sài gòn

TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH CƠ HỘI KINH DOANH BIA SÀI GÒN

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀIViệt Nam là một quốc gia đang phát triển thuộc khu vực Đông Nam Châu Á, trong kế hoạch nhằm hướng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của mình, Việt Nam đã tích cực thực hiện những biện pháp, chính sách thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành đối tác xuất khẩu của nhiều quốc gia thuộc hầu hết các châu lục trên thế giới, trong đó dẫn đầu là Châu Á. Tuy nhiên, đối với 2 nước láng giềng Lào và Campuchia, chúng ta vẫn chưa quan hệ kinh tế nhiều lắm. Đây là 2 anh em ruột thịt của Việt Nam từ thời còn chiến tranh, quan hệ rất thân thiết, gắn bó, cùng trong khu vực Bán đảo Đông Dương. Dân tộc ta và dân tộc Lào, Campuchia có nhiều nét tương đồng về văn hóa, phong tục tập quán. Chính phủ ta và 2 nước anh em cũng dành cho nhau nhiều điều kiện, chính sách ưu đãi trong nhiều lĩnh vực: chính trị, văn hóa, du lịch, giáo dục… và đặc biệt là kinh tế. Hợp tác kinh tế với Lào và Campuchia ta có thể thấy ngay thuận lợi trước mắt về vị trí địa lý, về khí hậu, về ưu đãi từ mối quan hệ bền vững, về văn hóa có nhiều tương đồng và nhiều thuận lợi khác.Việt Nam đã và đang ngày càng chứng tỏ vị thế trong các hoạt động thương mại quốc tế cũng như sức hấp dẫn của mình trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Góp phần tạo nên thành công đó, có công không nhỏ của những doanh nghiệp lớn trong các lĩnh vực. Và tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (SABECO) là 1 ví dụ trong thị trường đồ uống ở Việt Nam. Là doanh nghiệp “dẫn đạo” trong thị trường này, đặc biệt là thị trường bia, Sabeco đã không ngừng phát triển, mở rộng hoạt động kinh doanh của mình ra khắp Việt Nam và xuất khẩu ra 24 thị trường trên thế giới, trong đó có nhiều thị trường khó tính như Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Nhật Bản…Nhận ra sự hấp dẫn của thị trường 2 nước láng giềng Lào và Campuchia cho Bia Sài Gòn, nhìn thấy cơ hội tiếp tục mở rộng thị trường bia của mình ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, chúng tôi nhóm nghiên cứu hoạt động ngoại thương của Sabeco đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Bia Sài Gòn với cơ hội kinh doanh tại thị trường Lào và Campuchia” nhằm mục đích tìm ra câu trả lời cho câu hỏi: “Có nên hay chưa nên thực hiện hoạt động kinh doanh mặt hàng Bia Sài Gòn tại 2 thị trường này?”. Sau đây là nội dung nghiên cứu của chúng tôi 
Xem thêm

20 Đọc thêm

Cùng chủ đề