ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM GẠO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM":

Đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại doanh nghiệp tư nhân sản xuất cói xuất khẩu thanh hóa

Đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại doanh nghiệp tư nhân sản xuất cói xuất khẩu thanh hóa

1.2.1. Mục tiêu chung Đưa ra cách nhìn đầy đủ về năng lực cạnh tranh sản phẩm, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của DNTN sản xuất Cói xuất khẩu Thành Hóa. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh sản phẩm Tìm hiểu thực trạng về năng lực cạnh tranh sản phẩm những năm gần đây của DNTN sản xuất Cói xuất khẩu Thành Hóa. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và phân tích SWOT về năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp. Đề xuất phương hướng một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh đối với sản phẩm thủ công mỹ nghệ của DNTN sản xuất Cói xuất khẩu Thành Hoá.
Xem thêm

Đọc thêm

Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam vào thị trường EU

GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG EU

1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, trên thế giới khối cộng đồng chung Châu Âu ( EU) là một khối liên kết các nước mạnh nhất về kinh tế và trở thành một thị trường nhập khẩu rộng lớn đặc biệt là những mặt hàng tiêu dùng trong đó có sản phẩm dệt may. Việc khai thác hiệu quả thị trường này sẽ tạo ra được nhiều cơ hội và lợi ích cho Việt Nam như tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo được nhiều công ăn việc làm cho người lao động trong ngành dệt may…. Từ lẽ đó, EU đã trở thành một đối tác quan trọng, một thị trường tiềm năng của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam trong thời gian qua và những năm sắp tới. Bên cạnh đó, dệt may Việt Nam là một ngành truyền thống có từ lâu đời và rất phát triển, đóng góp một tỷ trọng lớn vào kim ngạch xuất khẩu của đất nước. Các sản phẩm dệt may đã có mặt ở rất nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên đối với một số thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản và đặc biệt là EU thì các mặt hàng dệt may của Việt Nam vẫn gặp những trở ngại lớn. Mặt khác, với một sân chơi lớn, một thị trường sôi động như EU, thì môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp càng trở nên gay gắt và khốc liệt. Nếu các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam không nhanh chóng có những giải pháp nâng cao sức cạnh tranh thì sẽ nhanh chóng bị đào thải ra khỏi cuộc chơi của toàn thế giới. Để giải quyết những vấn đề nan giải như hiện nay, đồng thời cung cấp, hỗ trợ cho các doanh nghiệp có thêm được nhiều giải pháp và thông tin xác thực.. nhằm tăng cường sức cạnh tranh vào thị trường EU. Em quyết định chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam vào thị trường EU”. Hi vọng rằng đề tài này sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam từng bước phát triển trong hoạt động xuất khẩu sang thị trường EU và luôn giữ vững được vị trí đó trước tất cả những sức ép cạnh tranh. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Thông qua việc phân tích thực trạng về sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt nam và tình hình xuất khẩu sang thị trường EU, chỉ ra những điểm mạnh điểm yếu của nhóm hàng này so với các đối thủ cạnh tranh khác. Để từ đó đưa ra được những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu vào thị trường EU. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đối tượng nghiên cứu là các mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu là sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trên thị trường EU xét trong giai đoạn từ 1997 – 2007. 4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài Vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,phương pháp so sánh các tư liệu, số liệu về xuất khẩu và sức cạnh tranh của nhóm hàng dệt may Việt Nam trên thị trường EU. Qua đó, rút ra các kết luận làm cơ sở để đưa ra các giải pháp cho việc nghiên cứu 5. Kết cấu của đề tài Chương 1: Cơ sở lý luận về sức cạnh tranh của hàng hóa và sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam vào thị trường EU Chương 2: Thực trạng sức cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường EU trong thời gian qua Chương 3: Mục tiêu và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam vào thị trường EU
Xem thêm

84 Đọc thêm

Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam trên thị trường Việt Nam

Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam trên thị trường Việt Nam

MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Chủ đề năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đã, đang và tiếp tục là vấn đề thời sự, thu hút được sự quan tâm lớn cả từ gốc độ nghiên cứu, xây dựng và điều hành chính sách, quản trị và điều hành kinh doanh ngân hàng, ... Kể từ khi triển khai thực hiện hai luật ngân hàng ban hành năm 2008, thực hiện hai luật mới ban hành năm 2010 có hiệu lực từ năm 2011, cùng với mở cửa thị trường dịch vụ tài chính gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, hoạt động ngân hàng nước ta ngày càng sôi động trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt của các tổ chức tín dụng (TCTD). Để tồn tại và phát triển được, các tổ chức tín dụng luôn phải thực hiện liên tục và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hoạt động, mở cửa thị trường dịch vụ tài chính, hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội và quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, hoạt động ngân hàng ngày càng có sự cạnh tranh sôi động với sự tham gia nhiều mô hình ngân hàng khác nhau trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Sự cạnh tranh thúc đẩy quá trình đổi mới, tiếp cận cơ cấu lại các NHTM đồng thời đáp ứng nhu cầu vốn và dịch vụ cho pháp triển kinh tế của đất nước, tuy nhiên cạnh tranh cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Vietcombank là một trong những NHTM đi tiên phong về mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế, quy mô tài sản không ngừng tăng lên, đa dạng về sản phẩm dịch vụ, mạng lưới chi nhánh ngày càng tăng...Và đến nay, Vietcombank đã nâng cao được khá nhiều về năng lực cạnh tranh của mình, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy tiến trình đổi mới và phát triển nền kinh tế. Song, đứng trước những yêu cầu đặt ra trong thực tiễn việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam nói chung và Vietcombank nói riêng luôn đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ. Xuất phát từ thực tiễn của ngành ngân hàng Việt Nam nói chung, Vietcombank nói riêng. Tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam trên thị trường Việt Nam” để nghiên cứu nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách đang đặt ra trong thực tiễn ở nước ta hiện nay. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU – Hệ thống hóa và góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. – Phân tích, đánh giá, làm rõ thực trạng năng lực cạnh tranh của Vietcombank trong giai đoạn 2009 – 2014 – Phân tích các nhân tố ảnh hưởng và mức độ tác động của các nhân tố đến năng lực cạnh tranh của Vietcombank. – Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank trên thị trường Việt Nam. – Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ nâng cao năng lực cạnh tranh của Vietcombank trong hệ thống NHTM Việt nam hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hội nhập quốc tế giai đoạn đến năm 2020. 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU – Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam. – Phạm vi không gian nghiên cứu: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam. – Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp: Thu thập trong giai đoạn 2009 – 2013 Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông tin đánh giá của nhân viên ngân hàng và khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng trong giai đoạn 2012 – 2014. - Phạm vi nội dung: Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Vietcombank, luận án tập trung vào năng lực cạnh tranh trên các gốc độ: Quy mô; Chất lượng dịch vụ; Nỗ lực xúc tiến bán hàng; Công nghệ; Phí dịch vụ.
Xem thêm

Đọc thêm

Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh

Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh

Từ thực trạng sản xuất kinh doanh sản phẩm của làng nghề chúng tôi tiến hành đánh giá khả năng cạnh tranh và tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh sản phẩm của làng nghề từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sản phẩm và khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa. Đánh giá thực trạng sản xuất và kinh doanh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh. Đánh giá khả năng cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ.
Xem thêm

Đọc thêm

Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu giầy Việt Nam vào thị trường các nước EU trong điều kiện hiện nay

Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu giầy Việt Nam vào thị trường các nước EU trong điều kiện hiện nay

LỜI MỞ ĐẦUViệc nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung và các khía cạnh khác nhau nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh giầy dép nói riêng đã được các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, các doanh nghiệp đề cập đến nhiều thông qua các cuốn sách, giáo trình chuyên ngành, các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, các luận văn, luận án tiến sỹ. Đây là những tài liệu vô cùng phong phú, bổ ích và có giá trị to lớn để tìm hiểu, chắt lọc và vận dụng cho đề tài nghiên cứu sinh của tác giả. Để thực hiện luận án với đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu giầy Việt Nam vào thị trường các nước EU trong điều kiện hiện nay”, nghiên cứu sinh sẽ tổng quan tình hình nghiên cứu, phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu có liên quan mật thiết đến đề tài luận án đã được công bố ở trong và ngoài nước.Thông qua việc nghiên cứu tổng quan, nghiên cứu sinh sẽ làm rõ hướng nghiên cứu chính, cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, kết quả đạt được, kết luận và chỉ ra các vấn đề còn tồn tại ở các công trình nghiên cứu có liên quan mà luận án sẽ tập trung giải quyết. Từ đó, nghiên cứu sinh sẽ xác định rõ mục tiêu đề tài luận án, nội dung và phương pháp nghiên cứu khoa học cho luận án. Tiểu luận tổng quan gồm các nội dung chính như sau:Phần 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứuPhần 2. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứuPhần 3. Tổng quan tình hình nghiên cứu.Phần 4. Các câu hỏi nghiên cứu của luận ánPhần 5. Phương pháp nghiên cứu dự kiến của luận ánPhần 6. Các kết quả nghiên cứu dự kiến đạt được của luận ánPHẦN 1TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀICông nghiệp da giầy là ngành sản xuất hàng tiêu dùng quan trọng gắn liền với nhu cầu không thể thiếu được của đời sống xã hội, là bộ phận quan trọng của nhu cầu mặc, thời trang. Đời sống kinh tế xã hội càng phát triển thì nhu cầu về sản phẩm da giầy càng cao.Ngành công nghiệp da giầy trong những năm qua luôn giữ vị trí quan trọng đối với nền kinh tế của nước ta, là ngành thu hút và giải quyết nhiều việc làm cho người lao động. Xét trên bình diện quốc gia, kim ngạch xuất khẩu của ngành da giầy luôn đứng ở vị trí thứ ba sau Dệt may xuất khẩu và Dầu khí trong nhiều năm qua. Công nghệ da giầy đơn giản, vốn đầu tư thấp, nhưng hiệu quả kinh tế xã hội cao nên rất phù hợp với điều kiện kinh tế nước ta đang trong giai đoạn đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Da giầy cũng là một trong những ngành nghề truyền thống ở nước ta từ lâu. Năm 1912 nhà máy thuộc da đầu tiên ở Đông Dương được chủ tư bản Pháp xây dựng tại số 151 phố Thuỵ Khê Hà Nội. Ngoài ra, nhiều làng nghề truyền thống sản xuất giầy, dép, bóng... các loại cũng xuất hiện từ lâu, nhưng sản xuất thủ công là chủ yếu.Trong những năm qua, với những lợi thế của mình, ngành da giầy Việt Nam đã tiếp nhận một cách có hiệu quả sự chuyển dịch của ngành da giầy thế giới và đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, ngành còn bộc lộ nhiều nhược điểm như: Phát triển một cách tự phát, thiếu quy hoạch, mất cân đối, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu từ nước ngoài, năng lực thiết kế kém… dẫn tới hiệu quả mang lại chưa tương xứng với tiềm năng của nó. Đặc biệt, khi chuyển sang cơ chế thị trường, hoà nhập với thế giới và khu vực, ngành da giầy của nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức lớn là làm thế nào để tồn tại và ngày càng phát triển trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Con đường đúng đắn duy nhất là phải thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá ngành da giầy, bảo đảm tiếp nhận có hiệu quả sự chuyển dịch của ngành da giầy thế giới vào nước ta, tranh thủ tiếp thu khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước công nghiệp phát triển và các nước công nghiệp mới.Theo Quyết định số 6209QĐBCT ngày 25 tháng 11 năm 2010, Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Da Giầy Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 thì: Mục tiêu chung đến năm 2020 là xây dựng ngành Da Giầy Việt Nam trở thành một ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn quan trọng của nền kinh tế quốc dân với kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành năm 2015 là 9,1 tỷ USD; năm 2020 là 14,5 tỷ USD và năm 2025 đạt 21 tỷ USD; Tiếp tục giữ vị trí trong nhóm các nước sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm Da Giầy hàng đầu thế giới và tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội trên cơ sở thu nhập của người lao động ngày càng được nâng cao, thực hiện trách nhiệm xã hội ngày càng tốt, số lượng lao động được qua đào tạo ngày càng tăng.Trong bối cảnh thời điểm thực hiện các cam kết của hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta đang tới gần, để tận dụng cơ hội thuận lợi và vượt qua những khó khăn thách thức thì các doanh nghiệp da giầy Việt Nam phải không ngừng tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thương trường. Từ trước tới nay đã có một số nghiên cứu về quy hoạch phát triển ngành da giầy Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2015. Tuy nhiên, cho đến hiện tại vẫn chưa có một nghiên cứu nào đầy đủ về việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp da giầy Việt Nam trước các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Với lý do đó, nghiên cứu sinh đã chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu giầy Việt Nam vào thị trường các nước EU trong điều kiện hiện nay” nhằm góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu của ngành, để ngành da giầy Việt Nam ngày càng phát triển tương xứng với vị trí và tiềm năng của nó.
Xem thêm

Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP ngoại thương việt nam

Luận văn thạc sỹ Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP ngoại thương việt nam

NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) là một trong những ngân hàng lớn nhất, có uy tín, thương hiệu hàng đầu trên thị trường. Hiện nay, VCB đang chiếm thị phần đáng kể đối với nhiều sản phẩm chủ chốt: tín dụng, huy động, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, thẻ…Tuy nhiên, ngân hàng cũng đang phải đương đầu với áp lực cạnh tranh rất lớn đến từ các đối thủ trong và ngoài nước. Mặc dù có rất nhiều lợi thế so với các NHTM tư nhân nhưng VCB cũng có nhiều hạn chế ở những khía cạnh hoạt động khác như công nghệ,chất lượng sản phẩm, dịch vụ, cách thức giao dịch...Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh là yêu cầu cấp bách đặt ra đối với VCB. Với mong muốn tìm hiểu một cách cụ thể và đánh giá đúng các thách thức mà VCB đang gặp phải; phân tích một cách toàn diện thực trạng năng lực cạnh tranh của VCB để tìm ra những mặt hạn chế cùng các nguyên nhân để từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của VCB trong thời gian tới, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt nam” làm đề tài nghiên cứu.
Xem thêm

Đọc thêm

BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP DƯỢC VIỆT NAM

BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP DƯỢC VIỆT NAM

Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam Bước đầu xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dược việt nam
Xem thêm

74 Đọc thêm

Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới

Nâng cao năng lực cạnh tranh của một mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO vào ngày 11 tháng 1 năm 2007. Sự kiện gia nhập WTO của Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trên con đường hướng nền kinh tế nước nhà tới tự do hóa thương mại và phát triển bền vững. Sau 10 năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều mảng màu sáng và những khoảng tối rất khác nhau trong bức tranh phát triển kinh tế dưới tác động của tiến trình toàn cầu hóa. Bài học hội nhập kinh tế là rất bổ ích với Việt Nam, vì hiện nay Việt Nam vẫn đang đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu, với những mặt hàng sử dụng nhiều lao động và tài nguyên thiên nhiên [8]. EU là một trong 3 trụ cột của nền kinh tế thế giới, là thị trường lớn với 28 quốc gia thành viên, có dân số trên 500 triệu người. Việt Nam – EU thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1990. Từ đó, Việt Nam – EU luôn nỗ lực để thúc đẩy quan hệ song phương lên những tầm cao mới như việc ký kết, Hiệp định khung về Hợp tác (FCA) năm 1995, Hiệp định Hợp tác Đối tác (PCA) năm 2012 và đã kết thúc đàm phán FTA Việt Nam – EU vào ngày 1/12/2015. Dự kiến FTA Việt Nam - EU sẽ có hiệu lực từ năm 2018. FTA Việt Nam - EU nhằm mục đích tạo ra một sân chơi bình đẳng cho cả hai bên, góp phần làm cho môi trường kinh doanh ổn định và dự đoán được, do đó thúc đẩy tăng trưởng và việc làm. Một FTA hiện đại có khả năng tăng cường thương mại hai chiều và đầu tư thông qua tự do hóa thương mại và tăng cường tiếp cận thị trường tốt hơn [29]. Trong nhiều năm qua, EU luôn là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Việt Nam và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Năm 2015, EU là một trong những thị trường ngoài nước quan trọng nhất của Việt Nam (EU xếp thứ hai sau Mỹ). Tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này chiếm 19% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam. Thương mại hai chiều tăng 12.5% chủ yếu là do tỷ lệ tăng trưởng ấn tượng của hàng xuất khẩu Việt Nam sang EU, điều này đã làm cho tỷ lệ tăng năm sau so với năm trước là 11.4% (31,1 tỷ USD). Đặc biệt, khoản thặng dư thương mại khoảng gần 21 tỷ USD mà Việt Nam có được trong giao thương với EU giúp cân bằng đáng kể thâm hụt thương mại khổng lồ của Việt Nam với Trung Quốc. Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU tập trung vào các sản phẩm sử dụng nhiều lao động bao gồm: hàng điện tử lắp ráp/điện thoại, giầy dép, hàng dệt may, cà phê, hải sản và đồ gỗ. Hàng xuất khẩu chính của EU vào Việt Nam là các sản phẩm công nghệ cao, bao gồm: nồi hơi, máy móc và sản phẩm cơ khí, máy móc và thiết bị điện, dược phẩm và các loại xe [83]. Riêng về mặt hàng thủy sản, theo Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO), Việt Nam được đánh giá là một trong 20 nước có sản lượng đánh bắt thủy sản lớn nhất thế giới, đứng thứ 4 về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Ngành thủy sản Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến 2020 xác định: kinh tế thủy sản đóng góp 30 - 35% GDP trong khối nông - lâm - ngư nghiệp, tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành thủy sản từ 8 - 10%/năm, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 8 - 9 tỷ USD, tổng sản lượng thủy sản đạt 6,5 - 7 triệu tấn, trong đó nuôi trồng chiếm 65 - 70% tổng sản lượng [10]. Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. Theo số liệu từ ITC, giai đoạn (2007 -2015), kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam không ngừng tăng nhanh, trung bình 11,5%/năm. EU là thị trường tiêu thụ thủy sản lớn của thế giới, thị trường này tiêu thụ khoảng 10% sản lượng cá của thế giới và là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, đây là một thị trường khó tính đòi hỏi chất lượng cao nên thời gian gần đây việc xuất khẩu hàng thủy sản vào thị trường này có nhiều biến động. Theo Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU năm 2014 đạt 1,4 tỷ USD, tăng 21,7% so với năm 2013. Năm 2015, đạt 1,16 tỷ USD (đứng thứ hai sau thị trường Mỹ với 1,31 tỷ USD), giảm 17,1%. Vì vậy, để duy trì thị phần và tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU cần phải nhận biết thật đầy đủ để hiểu EU là một thị trường có tính bảo hộ rất cao với hàng rào phi thuế quan (đặc biệt là các rào cản kỹ thuật) rất nghiêm ngặt với những qui định chặt chẽ (nhiều khi đến mức “không tưởng” đối với hàng xuất khẩu Việt Nam) về nguồn gốc xuất xứ, vệ sinh, an toàn thực phẩm, kiểm dịch động vật, tiêu chuẩn kỹ thuật đối với thực phẩm, tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường v..v… Vì vậy, ngành thủy sản Việt Nam phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh cho mặt hàng thủy sản của mình [33]. Để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức tại thị trường EU, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải nâng cao sức cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu sang EU, trong đó có mặt hàng thủy sản... Do vậy, việc nghiên cứu một cách tổng thể thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản trên thị trường EU là cấp thiết. Nghiên cứu nhằm tìm ra những nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến việc củng cố và nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản, từ đó làm cơ sở cho việc đề ra những định hướng và các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh của mặt hàng thủy sản trên thị trường EU. Nhận thức được vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới” làm chủ đề nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình.
Xem thêm

Đọc thêm

Chuyên đề sức cạnh tranh và các giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của công ty may xuất khẩu trong thị trường quốc tế

Chuyên đề sức cạnh tranh và các giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của công ty may xuất khẩu trong thị trường quốc tế

MỤC LỤC Lời nói đầu 4 Chương I : Những vấn đề chung về cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh 5 I . Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh 5 1.Cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh 5 1.1 Khái niệm cạnh tranh và khả năng cạnh tranh 5 1.2 Vai trò của cạnh tranh 5 2. Các loại hình cạnh tranh. 7 2.1 Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường. 7 2.2 – Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế. 2.3 Căn cứ vào mức độ cạnh tranh. 2.4 – Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh. II . Các nhân tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu đánh giá đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá: 1. Mô hình Micheal Porter về 5 lực lượng cạnh tranh 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp. 2.1 Các nhân tố khách quan. 2.1.1 Môi trường Kinh tế quốc dân. 2.1.2 – Môi trường ngành. 2.2 Các nhân tố chủ quan. 2.2.1 Hàng hoá và cơ cấu hàng hoá trong kinh doanh. 2.2.2 – Yếu tố giá cả. 2.2.3 Chất lượng hàng hoá. 2.3.4 Tổ chức hoạt động xúc tiến. 2.3.5 – Dịch vụ sau bán hàng. 2.3.6 – Phương thức thanh toán. 2.3.7 – Yếu tố thời gian. 3. Một số chỉ tiêu tổng hợp đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. III . Những yêu cầu cơ bản của cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong điều kiện hiện nay. Một là: Hàng hoá phải được thích nghi hoá theo các đặc trưng vật lý của nó. Hai là: Hàng hoá phải tích nghi hoá theo các đặc trưng dịch vụ của nó. Ba là: Thích nghi hoá theo các đặc trưng có tính biểu tượng của hàng hoá. IV . Những biện pháp chủ yếu trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu. 1Các biện pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh. Xác định các chiến lược cạnh tranh. Chương II : Thực trạng về khả năng cạnh tranh của Công ty May Xuất Khẩu trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc Thời trang giai đoạn 1999 – 2003 I . Khái quát về sản xuất kinh doanh của Công ty 1. Những thuận lợi , khó khăn. 1.1 Thuận lợi . 1.2 – Khó khăn. 2 Kết quả kinh doanh trong các năm qua. Đánh giá. II . Thực trạng cạnh tranh của mặt hàng. 1. Đối thủ cạnh tranh. 2.Phân tích cạnh tranh theo một số yếu tố chủ yếu 2.1 Chất lượng 2.2 Giá cả 2.3 Tính đa dạng kiểu dáng 2.4 –Dịch vụ , phương pháp phục vụ khách hàng 2.5Các vấn đề khác III.Đánh giá chung thực trạng và khách quan cạnh tranh 1.Những mặt mạnh 2.Những mặt yếu 3.Vấn đề đặt ra với công ty Chương III : Phương hướng và biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty may xuất khẩu trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc thời trang I. Mục tiêu và phương hướng nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty trong thời gian tới 1.Định hướng phát triển của nghành may mặc tới năm 2010 2.Mục tiêu và phương hướng hoạt động của Công ty may xuất khẩu giai đoạn 2005 – 2010 2.1 Về hoạt động xuất khẩu 2.2 Về phát triển thị trường 2.3 Về tổ chức , đào tạo 3.Phương hướng nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty trong hoạt động xuất khẩu nghành may mặc thời trang II.Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty may xuất khẩu 1.Về phía công ty 1.1 Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động Marketing mở rộng thị trường xuất khẩu 1.1.1 Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường nhằm xác định nhu cầu, thị hiếu khách hàng 1.1.2 Nghiên cứu , phân tích đối thủ cạnh tranh 1.1.3 Đẩy mạnh hoạt động khuyếch trương quảng cáo 1.2 Sử dụng chính sách giá cả có hiệu quả 1.3 Thực hiện đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu 1.4 Nâng cao chất lượng hàng hoá và cải tiến công tác quản lý chất lượng 1.5 Tổ chức công tác nghiên cứu mẫu mốt 1.6 Nâng cao trình độ người lao động 1.7 Mở rộng các mối liên kết kinh tế 1.8 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn , chi phí lợi nhuận 2.Về phía nhà nước 2.1 Hoàn thiện chính sách đối với xuất khẩu hàng may mặc 2.2 Cải tiến chính sách thuế 2.3 Hoàn chính sách tỷ giá 2.4 Hoàn thiện chính sách tín dụng
Xem thêm

Đọc thêm

PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN GỖ VÙNG ĐÔNG NAM BỘ

PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN GỖ VÙNG ĐÔNG NAM BỘ

13Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đưa ra những giải pháp cụ thể để phát triển ngành chếbiến gỗ Malaysia mà chỉ mang tính kết luận chung chung.Công trình nghiên cứu của Norchahaya Binti Hashim (2011): “Sustainabilityof Resources For Wood - Based Industry” – Cân bằng nguồn tài nguyên cho ngànhcông nghiệp chế biến. Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp mô tả về sản lượng gỗxuất khẩu hàng năm của Maylaysia về số lượng từng loại gỗ tròn xuất khẩu và tỷtrọng nhập khẩu gỗ từ Maylaysia của các thị trường chính như Mỹ, Nhật, TrungQuốc, Siangapore, Đài Loan,… nghi n cứu nêu rõ sản lượng gỗ được cung cấp từcác vùng, lãnh thổ của Malaysia và dự báo sản lượng gỗ của Malaysia giai đoạn2010 – 2020. Nghiên cứu đã nêu những vấn đề li n quan đến nguồn nguyên liệu gỗmà ngành lâm nghiệp cần chú ý như chú trọng việc khai thác hợp lý sản lượng gỗkết hợp với việc trồng mới cây rừng, tăng diện tích rừng trồng đạt tiêu chuẩn kiểmđịnh chất lượng của các nước trên thế giới, cần phải đảm bảo nguồn nguyên liệu gỗphục vụ cho sản xuất trong nước, hạn chế nhập khẩu làm chi phí tăng. Nghi n cứuđã n u các biện pháp trực tiếp để cung cấp và giữ vững sản lượng gỗ phục vụ chongành công nghiệp chế biến gỗ của Malaysia và xuất khẩu. Tuy nhiên, nghiên cứuchưa đi sâu nghi n cứu cung – cầu nguyên liệu gỗ hay các nhân tố khác như giábán, nhu cầu thị trường, sở thích, văn hóa ti u dùng,… để làm cơ sở cân bằng nguồnnguyên liệu gỗ.Công trình nghiên cứu của ITS Global (2011): “The Economic Contribution ofIndonesia’s Forest-Based Industries” - Nghiên cứu đã n u sơ lược về thực trạngkinh tế, xã hội của Indonesia, thực trạng ngành chế biến gỗ Indonesia. Nghiên cứuđã đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của việc kết hợp giữa trồng rừng vàngành chế biến gỗ thông qua các chỉ ti u đánhg giá về đóng góp của ngành chế biếngỗ đối với GDP quốc gia, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, đóng gópgiá trị xuất khẩu và ổn định đời sống xã hội bằng việc sử dụng nguồn số liệu thứcấp phân tích từ năm 1990 – 2009. Nghiên cứu cũng đưa ra một số biện pháp để cânbằng giữa nguồn nguyên liệu và sản phẩm gỗ chế biến như bảo vệ khu vực trồngrừng, quy hoạch đất cho trồng rừng, nâng cao năng lực các doanh nghiệp chế biến
Xem thêm

249 Đọc thêm

THỤC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CÀ PHÊ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU 2015

THỤC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CÀ PHÊ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU 2015

Từ khi mở cửa nền kinh tế năm 1986 đến nay, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp, các sản phẩm nông lâm thuỷ sản hiện là các mặt hàng xuất khẩu chủ lực và hàng năm đóng góp khoảng 18,78% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu là gạo, cà phê, cao su. Khác với gạo và cao su, cà phê chỉ mới nhận được sự quan tâm đầu tư mạnh mẽ của chính phủ và người dân từ đầu thập niên 1990, nhưng đã nhanh chóng trở thành mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, nắm giữ tỷ trọng giá trị xuất khẩu nông sản lớn thứ 2 với khoảng 8,76% (số liệu năm 2015 – Tổng cục Thống kê Việt Nam), chỉ sau gạo với 9,2%. Hoạt động trồng trọt, sản xuất, kinh doanh cà phê ở các tỉnh đóng góp khoảng 30% thu nhập cho dân địa phương sở tại. Việt Nam hiện là nước sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Brazil. Các thị trường nhập khẩu chính là EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản. Trong đó EU là thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam, chiếm gần 40% trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu cà phê hàng năm. EU cũng là thị trường tiêu thụ cà phê nhiều nhất thế giới. Mỗi năm thị trường EU tiêu thụ khoảng 2,5 triệu tấn cà phê, tương đương 725 triệu cốc mỗi ngày. Trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu năm 2008 với mức tăng trưởng âm, đến giai đoạn 20112015 các nước EU đã phục hồi trở lại với mức tăng trưởng khiêm tốn 23% và nhu cầu tiêu thụ cà phê có xu hướng tăng đều khoảng 15% mỗi năm. Tuy nhiên, cũng trong giai đoạn 20112015, sản lượng xuất khẩu cà phê Việt Nam hàng năm sang thị trường EU có xu hướng giảm ở mức 10,3%. Mặc dù trong giai đoạn này, Thủ tướng chính phủ Việt Nam cùng các ban ngành liên quan đã ban hành, phê duyệt nhiều nghị định, quyết định nhằm tạo ra động lực và hỗ trợ cho việc sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu cà phê, ví dụ như: Quyết định số 3417QĐBNNTT năm 2014 về việc phê duyệt đề án “Phát triển Ngành cà phê bền vững đến năm 2020”; Quyết định số 1987QĐBNNTT năm 2012 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành cà phê Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Quyết định số 1729QĐBNNTCCB năm 2013 về việc thành lập ban điều phối ngành hàng cà phê Việt Nam.Những nhận định và phân tích trên khẳng định rằng việc xuất khẩu cà phê sang thị trường EU mặc dù có đóng góp lớn vào đảm bảo tốc độ tăng trưởng cho ngành nông nghiệp, nhưng trong giai đoạn 20112015 dấu hiệu tăng trưởng lại không thực sự tích cực. Như vậy việc đánh giá thực trạng xuất khẩu ngành cà phê sang thị trường EU giai đoạn 20112015 là rất quan trọng và cần thiết. Trên cơ sở đánh giá đó, bài nghiên cứu đưa ra một số giải pháp giúp đảm bảo sự tăng trưởng bền vững và thúc đẩy xuất khẩu.
Xem thêm

Đọc thêm

FTA Việt Nam Hàn Quốc.Tác động và giải pháp

FTA Việt Nam Hàn Quốc.Tác động và giải pháp

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM HÀN QUỐC1.1.Diễn biến•682012: Hai bên khởi động đàm phán.•82012 – 122014: Hai bên đã tiến hành 8 vòng đàm phán chính thức và 8 phiên họp giữa kỳ, họp cấp Trưởng đoàn đàm phán.•10122014: Hai bên ký kết Biên bản thỏa thuận về kết thúc đàm phán VKFTA.•2932015: Hai bên ký tắt VKFTA, hướng tới ký kết chính thức Hiệp định trong vòng 6 tháng đầu năm 2015.•552015: Hai bên ký chính thức VKFTA.•20122015: Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc chính thức có hiệu lực. 1.2.Quan hệ thương mại Việt Nam Hàn QuốcHàn Quốc là đối tác đã có FTA với Việt Nam trong khuôn khổ FTA ASEAN – Hàn Quốc. Đây là hiệp định thương mại tự do đầu tiên mà Việt Nam chính thức ký kết trong năm 2015, đánh dấu bước hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầuQuan hệ thương mại Việt Nam Hàn Quốc:Về Xuất Nhập khẩu: Từ năm 1992 đến 2014, kim ngạch thương mại hai chiều tăng từ 500 triệu USD lên hơn 26 tỷ USD. Trong nhiều năm qua, Hàn Quốc luôn là đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Năm 2014, Hàn Quốc đứng thứ 3 trong số 10 đối tác lớn nhất của Việt Nam, là thị trường xuất khẩu lớn thứ 5 và thị trường nhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam.Về Đầu tư: Trong nhiều năm qua, Hàn Quốc luôn là nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam. Trong năm 2014, đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam tiếp tục dẫn đầu với 505 dự án cấp mới, 179 dự án tăng vốn, với tổng số vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng vốn là 7,32 tỷ USD chiếm 36,2% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam 1.3.Tóm lược nội dungNội dung Hiệp định VKFTA bao trùm nhiều lĩnh vực như quy tắc xuất xứ, thuận lợi hóa hải quan, phòng vệ thương mại, các biện pháp vệ sinh và an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật, hàng rào kỹ thuật thương mại, thương mại, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, minh bạch hợp tác kinh tế và nhiều vấn đề pháp lý khác. Hiệp định gồm 17 Chương (208 Điều), 15 Phụ lục và 01 Thỏa thuận thực thi quy định. Các Chương chính là: Thương mại hàng hóa; Quy tắc xuất xứ; Thuận lợi hóa hải quan; Phòng vệ thương mại; Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS); Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT); Thương mại dịch vụ; Đầu tư; Sở hữu trí tuệ; Thương mại Điện tử; Cạnh tranh; Minh bạch; Hợp tác kinh tế; Thể chế và các vấn đề pháp lý.1.3.1.Thương mại hàng hóaVề cơ bản, các cam kết thuế quan trong VKFTA được xây dựng trên nền các cam kết thuế quan trong FTA ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), nhưng với mức độ tự do hóa cao hơn. Nói cách khác, VKFTA sẽ cắt giảm thêm một số dòng thuế mà trong AKFTA chưa được cắt giảm hoặc mức độ cắt giảm còn hạn chế.Cụ thể, so với AKFTA, trong VKFTA:Hàn Quốc sẽ xóa bỏ thêm cho Việt Nam 506 dòng thuế (chiếm 4,14% biểu thuế và tương đương với 5,5% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam vào Hàn Quốc năm 2012).Việt Nam sẽ xóa bỏ thêm cho Hàn Quốc 265 dòng thuế (chiếm 2,2% biểu thuế và tương đương với 5,91% tổng kim ngạch nhập khẩu vào từ Hàn Quốc vào Việt Nam năm 2012)Vì vậy, tổng hợp cả các cam kết trong VKFTA và AKFTA thì:Hàn Quốc sẽ xóa bỏ cho Việt Nam 11.679 dòng thuế (chiếm 95,44% biểu thuế và tương đương với 97,22% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam vào Hàn Quốc năm 2012).Việt Nam sẽ xóa bỏ cho Hàn Quốc 8.521 dòng thuế (chiếm 89,15% biểu thuế và tương đương 92,72% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc vào Việt Nam năm 2012)1.3.2.Thương mại dịch vụChương về Dịch vụ trong VKFTA được chia làm 02 phần:Cam kết về nguyên tắc: bao gồm các định nghĩa, các quy định chung về nghĩa vụ: Đối xử quốc gia, Đối xử tối huệ quốc…, và 03 Phụ lục về Tài chính, Viễn thông, Di chuyển thể nhân.Cam kết về mở cửa thị trường: 01 Phụ lục riêng bao gồm 02 Danh mục mở cửa của Việt Nam và Hàn Quốc về từng lĩnh vực dịch vụ.1.3.3.Đầu tưChương về Đầu tư trong VKFTA được chia làm 02 phần:Phần A– Đầu tư, bao gồm:Các cam kết về nguyên tắc chung (bao gồm các định nghĩa, các quy định chung về nghĩa vụ Đối xử quốc gia, Đối xử tối huệ quốc…).Các cam kết về mở cửa của từng Bên (Mỗi bên sẽ có một Danh mục bảo lưu các biện pháplĩnh vực không phải áp dụng một số nguyên tắc đầu tư – Danh mục các biện pháp không tương thích)Hiện tại, Phụ lục về Danh mục các biện pháplĩnh vực bảo lưu vẫn chưa được hình thành. Hai bên cam kết sẽ tiến hành đàm phán về Danh mục này ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực và sẽ kết thúc đàm phán trong vòng 1 năm.Phần B – Giải quyết tranh chấp đầu tư, bao gồm phạm vi, nguyên tắc và quy trình thủ tục giải quyết tranh chấp khi có mâu thuẫn phát sinh giữa Nhà nước của một Bên của Hiệp định và nhà đầu tư của Bên kia.Về cơ bản, các cam kết trong Chương đầu tư phù hợp với Hiến pháp và các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam như Luật Đầu tư năm 2005. Việc thực hiện Chương này không đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam. Nội dung của Chương cũng phù hợp với các nguyên tắc quy định tại Điều 3 của Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế và tương thích với các cam kết quốc tế khác về đầu tư. 2.CHƯƠNG 2: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM2.1.Cơ hội2.1.1.Xuất khẩuSo với AKFTA, trong VKFTA Hàn Quốc mở cửa nhiều hơn cho các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam do đó các doanh nghiệp sẽ có thêm cơ hội tiếp cận thị trường này.Hiệp định FTA Việt Nam – Hàn Quốc được ký kết giúp nâng khả năng cạnh tranh của Việt Nam với Trung Quốc, Thái lan và Ecuador (đang phải chịu thuế 20%). Hàn Quốc cam kết cấp hạn ngạch thuế quan 10.000 tấn tôm cho Việt Nam trong năm đầu tiên và đạt 15.000 tấn sau 5 năm với thuế suất NK 0%. Hạn ngạch này có hiệu lực vào đầu năm 2016. Trong khi, cả ASEAN cũng chỉ có chung hạn ngạch 5.000 tấnnăm dành cho 10 nước ASEAN. Cùng với 68 dòng sản phẩm thủy sản (chủ yếu là sản phẩm nguyên liệu chương 03), riêng mặt hàng tôm được cắt giảm thuế 7 dòng bao gồm cả tôm nguyên liệu chương 03 và tôm chế biến chương 16. Mặt hàng cá ngừ và thủy sản khác quy trình cắt giảm theo lộ trình 310 năm. Mặt hàng cá tra và mực bạch tuộc hầu như về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực. Đây được cho là động lực lớn để thúc đẩy xuất khẩu tôm sang Hàn Quốc.Sự tăng trưởng chung của thị trường Hàn Quốc sau khi kinh tế dần hồi phục cũng là điểm để xuất khẩu thủy sản có thể nhìn vào và gia tăng xuất khẩu. Mặt khác, sau một thời gian tăng trưởng thường xuyên, Hàn Quốc đánh giá cao khả năng cung cấp hàng hóa của Việt Nam nên: “Hàn Quốc là thị trường có nhiều cơ hội để làm”.Trong các nước ASEAN, Việt Nam là nước thứ hai có FTA song phương với Hàn Quốc sau Singapore (Hàn Quốc hiện cũng đang đàm phán FTA với Indonesia). Vì vậy trong ngắn hạn thì Việt Nam sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn hơn so với các đối thủ ASEAN còn lại.Thị trường Hàn Quốc tuy là một thị trường phát triển với các yêu cầu và đòi hỏi tương đối cao nhưng nhìn chung vẫn dễ tính hơncác thị trường như EU, Mỹ hay Nhật Bản. 2.1.2.Nhập khẩuHiện tại Việt Nam đang nhập siêu từ Hàn Quốc, nếu thuế nhập khẩu từ Hàn Quốc được tiếp tục giảm so với với AKFTA thì người tiêu dùng, các doanh nghiệp nhập khẩu cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ Hàn Quốc sẽ được hưởng thêm nhiều lợi ích từ FTA này.Ngoài ra, dự kiến Quy tắc xuất xứ trong FTA giữa Việt Nam với EU (EVFTA) sẽ cho phép cộng gộp xuất xứ nguyên liệu nhập khẩu từ Hàn Quốc để được hưởng ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu sang EU. Nếu như vậy việc giảm thuế cho các nguyên liệu nhập khẩu từ Hàn Quốc theo VKFTA sẽ giúp các doanh nghiệp hưởng lợi ở cả EVFTA2.1.3.Đầu tư:Trong nhiều năm qua, Hàn Quốc là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Các cam kết mở cửa thị trường rộng hơn cho dịch vụ và đầu tư của Hàn Quốc, cũng như các cam kết bảo hộ đầu tư, đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư từ nước này theo VKFTA sẽ là động lực để tăng cường thu hút đầu tư từ Hàn Quốc vào Việt Nam. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính lũy kế đến ngày 20 tháng 10 năm 2015, có 105 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, trong đó Hàn Quốc đã vượt Nhật Bản dẫn đầu với 4.777 dự án, tổng vốn đầu tư đạt 43,6 tỷ USD. Trong 10 tháng năm 2015, hoạt động đầu tư trực tiếp của các nhà đầu tư Hàn Quốc tại Việt Nam diễn ra ở 17 phân ngành, trong đó tập trung nhiều nhất ở các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; kinh doanh bất động sản; bán buôn, bán lẻ và xây dựng. Số vốn đầu tư trong bốn ngành này chiếm trên 5 tỷ USD tương đương 96% tổng số vốn đầu tư FDI đăng ký cấp mới và tăng thêm. Gần 3.000 Công ty Hàn Quốc đang hoạt động tại Việt Nam, sử dụng trên 400.000 lao động với các cơ sở sản xuất quy mô lớn như thiết bị điện tử.2.2.Thách thức2.2.1.Thách thức trong việc tiếp cận thị trường Hàn QuốcSo với thị trường các nước ASEAN (hơn 600 triệu dân) hay Trung Quốc (gần1.400 triệu dân) thì thị trường Hàn Quốc được coi là tương đối nhỏ (chỉ khoảng 50 triệu dân) trong khi đó yêu cầu về chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm hay tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng hóa nhập khẩu cao hơn nhiều so với thị trường các nước ASEAN hay Trung Quốc.Với hệ thống bán lẻ đã được hình thành bài bản và các siêu thị có chuỗi phân phối tương đối ổn định rồi, việc thâm nhập vào các kênh bán hàng của Hàn Quốc là tương đối khó khăn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Nếu không có chiến lược tìm hiểu thị trường, quảng bá sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩmdịch vụ bản hàng, đảm bảo số lượngthời hạn giao hàng…thì các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể thâm nhập sâu hơn vào thị trường này.2.2.2.Thách thức tại thị trường nội địaVề hàng hóa: Thực hiện AKFTA, các doanh nghiệp nội địa của Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn khi phải cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu từ Hàn Quốc với giá cả phải chăng và chất lượngmẫu mã tốt hơn, nay VKFTA tiếp tục mở cửa thêm thị trường trong nước cho hàng nhập khẩu từ Hàn Quốc sẽ lại càng tạo thêm áp lực cho các doanh nghiệp trong nước.Về dịch vụ và đầu tư: Nếu như trong AKFTA Việt Nam hầu như không có cam kết gì về dịch vụ và đầu tư cao hơn so với mức cam kết của Việt Nam trong WTO thì trong VKFTA Việt Nam có nhiều cam kết mở cửa hơn cho các nhà cung cấp dịch vụ và đầu tư từ Hàn Quốc, đồng thời cũng cam kết mạnh hơn về cơ chế giải quyết tranh chấp Nhà nước – nhà đầu tư nước ngoài. Điều này một mặt gây ra áp lực cạnh tranh cho các nhà cung cấp dịch vụ và đầu tư trong nước vốn có năng lực cạnh tranh tương đối hạn chế. Mặt khác, việc tăng cường các dự án đầu tư từ Hàn Quốc sẽ tạo ra áp lực cho các cơ quan quản lý của nhà nước trong việc quản lý đầu tư cũng như các rủi ro khi xảy ra các tranh chấp về đầu tư. 3.CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN VÀ GIẢI PHÁP CHO DOANH NGHIỆP THỦY SẢN VIỆT NAM 3.1.Thực trạng xuất khẩu của doanh nghiệp thủy sảnHiện nay, Hàn Quốc là thị trường tiêu thụ lớn thứ 5 của tôm Việt Nam sau Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc, là thị trường thứ tư trong nhóm các nước nhập khẩu thủy sản của Việt Nam, được đánh giá là thị trường rất tiềm năng đối với thủy sản Việt Nam tại thời điểm này. Khi Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam – Hàn Quốc được ký kết đã tạo thêm cú hích cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường này.Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực sang thị trường này là nhuyễn thể chân đầu, nhuyễn thể hai mảnh vỏ, tôm, mực, bạch tuộc… Bên cạnh các sản phẩm trên, cá ngừ đang là mặt hàng được người tiêu dùng Hàn Quốc ưa chuộng hơn cả.3.1.1. Xuất khẩu tômXuất khẩu tôm sang thị trường này năm 2014 tăng 41,3% so với năm 2013 đạt 317,8 triệu USD. Tuy nhiên, xuất khẩu thủy sản sang Hàn Quốc năm 2015 ước đạt 600 triệu USD, giảm 13% so với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu tôm (mặt hàng chiếm hơn 40% tổng kim ngạch XK thủy sản của Việt Nam sang Hàn Quốc) chỉ đạt 250 triệu USD, giảm tới 24%.Theo Trung tâm Thương mại Thế giới (ITC), 10 tháng đầu năm 2015,nhập khẩu tôm của Hàn Quốc đạt gần 413 triệu USD, giảm 10,3% so với cùng kỳ năm 2014. Việt Nam vẫn dẫn đầu về cung cấp tôm cho Hàn Quốc, chiếm gần 49% tổng nhập khẩu tôm của thị trường này. Trung Quốc đứng thứ 2 với 14%, Thái Lan đứng thứ 3 với tỷ trọng 12%.Nguyên nhân của việc sụt giảm này là do mức độ tiêu thụ của thị trường Hàn Quốc có xu hướng giảm. Đặc biệt, giá mặt hàng chiếm kim ngạch lớn là tôm đã giảm mạnh trong năm 2015, có thời điểm giảm tới 30% đã ảnh hưởng lớn tới kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Hàn Quốc.Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản (VASEP), Hàn Quốc hiện là thị trường tiêu thụ tôm lớn thứ 5 của Việt Nam sau Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc. Trong 5 năm (20102014), xuất khẩu tôm Việt Nam sang Hàn Quốc duy trì sức tăng trưởng khả quan. Năm 2014, Việt Nam đã vượt qua Trung Quốc trở thành nước cung cấp tôm lớn nhất cho thị trường này. Trong khi xuất khẩu tôm sang các thị trường lớn gặp khó khăn do giá xuất khẩu tôm giảm, nhu cầu yếu trong khi nguồn cung thế giới tăng, Hàn Quốc được coi là thị trường thay thế tiềm năng của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam.3.1.2.Các mặt hàng khácKhông chỉ mặt hàng tôm, xuất khẩu mực, bạch tuộc sang Hàn Quốc khá tốt và nước này trở thành 1 trong 3 điểm đến quan trọng nhất trong xuất khẩu mặt hàng này năm 2014 với mức tăng trưởng khá cao 26,5%. Chỉ duy nhất trong tháng 12014, xuất khẩu mặt hàng này giảm nhẹ 1,3% so với cùng kỳ năm 2013, còn 11 tháng còn lại, giá trị xuất khẩu tăng 358%. Riêng quý 22014, giá trị xuất khẩu tăng mạnh 4558% so với cùng kỳ.Đến năm 2015, Hàn Quốc hiện là thị trường NK mực, bạch tuộc hàng đầu của Việt Nam, chiếm 37,7% tỷ trọng. Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, từ 112015 đến 1592015 XK mực, bạch tuộc sang Hàn Quốc đạt giá trị 110,27 triệu USD, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm 2014.Cũng theo số liệu của Trung tâm thương mại quốc tế (ITC), Việt Nam cũng là nước có giá xuất khẩu bạch tuộc chế biến đạt cao nhất trong 3 nước đứng đầu về xuất khẩu sản phẩm này vào thị trường Hàn Quốc. Về mực chế biến, mặc dù đứng thứ 5 về xuất khẩu sang Hàn Quốc, nhưng giá trung bình xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam chỉ thấp hơn Thái Lan và cao hơn 3 nước còn lại là Trung Quốc, Chi lê, Peru. Mặt khác, theo một báo cáo đánh giá về khả năng tiêu thụ thủy sản tại Hàn Quốc thông qua kênh bán lẻ cho thấy khả năng tăng trưởng khả quan trong 3 năm tới.3.2.Một số giải pháp cho doanh nghiệp thủy sản của Việt NamThứ nhất, Ngành thủy sản sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức khi hội nhập. Quy định của thị trường sẽ ngày càng cao và nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm, truy nguyên nguồn gốc, trách nhiệm môi trường và bảo vệ nguồn lợi (IUU), thuế chống bán phá giá... Chẳng hạn, những quy định về quy tắc xuất xứ sẽ gây khó khăn cho một số mặt hàng xuất khẩu thủy hải sản chủ lực của Việt Nam. Do đó, một trong những vấn đề căn bản để tận dụng được sự ưu đãi về thuế quan sau khi kí hiệp định đó là ta phải có nguồn nguyên liệu ổn định, chất lượng tốt.Thứ hai, Ngành thủy sản cần nhanh chóng khắc phục bài toán giảm giá thành để tăng sức cạnh tranh và giải quyết nạn ô nhiễm môi trường, giảm dịch bệnh, có như vậy mới phát triển bền vững được. Bởi hiện nay, giá thành sản phẩm thủy sản Việt Nam cao hơn so với các nước đối thủ, trong khi đó chi phí sản xuất tiếp tục tăng do đầu vào phụ thuộc vào các nguồn cung cấp nước ngoài (con giống, thức ăn, thuốc thú y).Thứ ba, Hỗ trợ tối đa để doanh nghiệp hoàn thành mục tiêu xuất khẩu thủy sản 2016. Phối hợp với ngành chức năng tổ chức quy hoạch lại những vùng nuôi trồng thủy sản tập trung. Song song đó, ngành sẽ đề xuất các giải pháp để đầu tư hệ thống thủy lợi phục vụ cho nuôi trồng thủy sản, thực hiện tổng điều tra và sắp xếp lại các doanh nghiệp chế biến theo hướng tập trung ở các cụm công nghiệp gắn liền với vùng nguyên liệu tập trung để giảm chi phí sản xuất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và dễ quản lý
Xem thêm

Đọc thêm

Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản

Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản

Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới và hiện đang là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam (sau Hoa Kỳ). Hàng năm Nhật Bản nhập khẩu khối lượng hàng hoá trị giá 330 - 440 tỷ USD (năm 2003 trị giá nhập khẩu đạt 381,2 tỷ USD), trong đó nhập từ Việt Nam khoảng từ 2,4 - 3 tỷ USD, chiếm khoảng 13 -16% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam. Hơn nữa giữa Nhật Bản và Việt Nam lại gần gũi về mặt địa lý và có những nét tương đồng về văn hóa, điều này càng tạo nhiều thuận lợi cho Việt Nam có thể tăng cường xuất khẩu sang Nhật Bản, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ mạnh cho nhập khẩu công nghệ nguồn và thu hút đầu tư trực tiếp từ Nhật Bản vào nước ta. Thị trường Nhật Bản trong thời gian trung hạn vẫn là một trong ba thị trường lớn nhất thế giới , đặc biệt là đối với nông sản và là thị trường trọng điểm của Việt Nam. Trong khi đó, nông sản lại là những mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam. Những mặt hàng này hiện đang giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam. Trong những năm qua, xuất khẩu hàng nông sản chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của đất nước, năm 2004 tỷ trọng giảm xuống còn 22,4% nhưng vẫn tăng về mặt trị giá. Hiện nay, Nhật Bản là thị trường nhập khẩu lớn thứ 4 đối với các mặt hàng nông sản của Việt Nam với cơ cấu các mặt hàng ngành càng mở rộng như Cà phê, Ca su, Hạt tiêu, chè, rau củ quả các loại….. Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng trong điều kiện toàn cầu hóa và quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới ngày càng sâu sắc hiện nay, cạnh tranh xuất khẩu nói chung và xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản nói riêng ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt. Những sản phẩm mà ta có lợi thế xuất khẩu sang Nhật Bản cũng chính là những sản phẩm mà nhiều nước và khu vực khác trên thế giới, nhất là các nước trong ASEAN và Trung Quốc có điều kiện thuận lợi để xuất khẩu sang thị trường này. Đó là chúng ta còn chưa nói tới những khó khăn xuất phát từ đặc điểm của thị trường Nhật Bản, một thị trường đòi hỏi rất khắt khe đối với hàng nhập khẩu và có các rào cản thương mại phức tạp vào bậc nhất trên thế giới. Trước bối cảnh cạnh tranh xuất khẩu ngày càng gay gắt và những yêu cầu khắt khe về nhập khẩu như vậy, hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản thời gian qua tuy đã có nhiều thành tựu, nhưng cũng bộc lộ rõ những yếu kém và hạn chế trong cạnh tranh, chưa đáp ứng đẩy đủ những yêu cầu của thị trường Nhật Bản, chưa phát huy hết được tiềm năng và lợi thế của đất nước để duy trì và mở rộng thị phần trên thị trường nhập khẩu lớn nhất hàng nông sản trên thế giới. Vì vậy, em cho rằng việc nghiên cứu và tìm ra các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản là hết sức cần thiết, không những đối với việc mở rộng xuất khẩu trong thời gian trước mắt, mà còn về lâu dài góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu và nhiệm vụ đề ra trong chiến lược xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001-2010. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Làm rõ các đặc điểm và xu hướng nhập khẩu hàng nông sản của Nhật Bản trên các phương diện: Nhu cầu, thị hiếu của thị trường; các khía cạnh của cạnh tranh trên thị trường và các rào cản thương mại của Nhật Bản. - Đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang Nhật Bản thời gian từ 1995 đến nay. - Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển xuất khẩu nông sản sang Nhật Bản cho tới năm 2010. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng: Nghiên cứu xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Nhật Bản, các yếu tố tác động, các phương hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu nông sản sang Nhật Bản từ nay đến năm 2010. Phạm vi: Giới hạn về mặt nội dung nghiên cứu là xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản. Cụ thể, đề tài chọn 3 mặt hàng chính là: Cà phê, Ca su, rau quả là những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn và có tiềm năng xuất khẩu sang Nhật Bản. Về mặt thời gian: Việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn xuất khẩu nông sản sang thị trường Nhật Bản lấy mốc từ năm 1995 đến nay. Việc dự báo và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu các sản phẩm này sang Nhật Bản áp dụng cho thời gian từ nay đến 2010. Về mặt đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu: đề tài đề xuất các phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển xuất khẩu hàng nông sản sang Nhật Bản cả ở tầm vĩ mô và tầm vi mô. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu của luận văn, ngoài các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử là những phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu khoa học nói chung, phương pháp trìu tượng hóa thường được sử dụng trong nghiên cứu khoa học xã hội và khoa học kinh tế nói riêng, luận văn còn sử dụng các phương pháp: - Nghiên cứu lý thuyết và tổng kết thực tiễn - Phương pháp diễn dịch, quy nạp - Khảo sát từ thực tế - Phương pháp chuyên gia. - Các phương pháp thống kê thu thập số liệu, so sánh, tổng hợp, phân tích thống kê số liệu tình hình. Nội dung nghiên cứu Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung nghiên cứu của đề tài gồm ba chương: Chương 1: Tổng quan về xuất khẩu hàng nông sản và những yêu cầu của thị trường Nhật Bản đối với hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong thời gian qua. Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang Nhật Bản trong những năm tới.
Xem thêm

Đọc thêm

Giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn Quốc tế Bảo Sơn, Hà Nội

Giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn Quốc tế Bảo Sơn, Hà Nội

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN i MỤC LỤC ii DANH MỤC BẢNG BIỂU iv DANH MỤC SƠ ĐỒ v DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi LỜI MỞ ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của đề tài 1 2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2 4. Phạm vi nghiên cứu 3 5. Phương pháp nghiên cứu đề tài 3 6. Kết cấu khóa luận 4 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀHOẠT ĐỘNG MARKETING NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA KHÁCH SẠN 5 1.1. Khái luận về hoạt động marketing nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn 5 1.1.1. Khái niệm khách sạn, kinh doanh trong khách sạn 5 1.1.2. Khái niệm marketing khách sạn, sức cạnh tranh marketing 6 1.2. Nội dung của hoạt động marketing nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh khách sạn 8 1.2.1. Mô hình xác định sức cạnh tranh sản phẩm du lịch và sức ép cạnh tranh 8 1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động marketing nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn 13 1.3.1. Môi trường vĩ mô 13 1.3.2. Môi trường ngành 13 1.3.3. Môi trường vi mô 14 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC GIẢI PHÁP MARKETING NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA KHÁCH SẠN QUỐC TẾ BẢO SƠN, HÀ NỘI 15 2.1. Tổng quan tình hình và ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến hoạt động marketing nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn Quốc tế Bảo Sơn, Hà Nội 15 2.1.1. Giới thiệu chung về khách sạn Quốc tế Bảo Sơn, Hà Nội 15 2.1.2. Ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến hoạt động marketing nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn Quốc tế Bảo Sơn, Hà Nội 18 2.2. Thực trạng hoạt động marketing nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn Quốc tế Bảo Sơn, Hà Nội 20 2.2.1. Về lựa chọn thị trường mục tiêu 20 2.2.2. Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh 22 2.2.3. Các chính sách marketing mix được sử dụng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn 24 2.3. Đánh giá chung 27 2.3.1. Những thành công và nguyên nhân 27 2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân 28 CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA KHÁCH SẠN QUỐC TẾ BẢO SƠN 29 3.1. Dự báo triển vọng và quan điểm giải pháp marketing nâng cao năng lực canh tranh marketing của khách sạn Quốc tế Bảo Sơn 29 3.1.1. Dự báo triển vọng hoạt động marketing nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn Quốc tế Bảo Sơn 29 3.1.2. Định hướng phát triển kinh doanh của khách sạn Quốc tế Bảo Sơn trong thời gian tới 30 3.2. Đề xuất một số giải pháp marketing nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn Quốc tế Bảo Sơn 31 3.2.1. Giải pháp về sản phẩm 31 3.2.2. Giải pháp về giá 33 3.2.3. Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực 35 3.2.4. Đẩy mạnh hiệu suất quảng cáo khuyếch trương của khách sạn 36 3.2.5. Đẩy mạnh liên kết mạng marketing phân phối, logistic và bán hàng 37 3.2.6. Một số giải pháp khác 39 3.3 Một số kiến nghị 40 3.3.1. Đối với nhà nước 40 3.3.2. Đối với Tổng cục Du lịch 41 KẾT LUẬN 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO i PHỤ LỤC
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ ÁN TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP VÀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM NÔNG, LÂM SẢN VÀ THỦY SẢN ĐẾN NĂM 2015

ĐỀ ÁN TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP VÀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM NÔNG, LÂM SẢN VÀ THỦY SẢN ĐẾN NĂM 2015

Đặt vấn đề: Trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp tăng mạnh cung cấp nguồn hàng phong phú và thường xuyên cho thị trường trong nước, giúp cho người tiêu dùng trong nước có thể tiếp cận thực phẩm đa dạng, nhiều và rẻ. Thành công vượt bậc trong ngành nông nghiệp không chỉ giúp Việt Nam tăng GDP trên 8% mà còn giúp giảm đói nghèo. Việc gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã tạo cơ hội cho Việt Nam phát triển thị trường các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh như cà phê, hạt điều, rau, chè, trái cây nhiệt đới… Bên cạnh các thành tựu đã đạt được, các yếu kém trong thực hành sản xuất kinh doanh (kỹ thuật sản xuất vẫn còn tập trung chủ yếu vào số lượng hơn là chất lượng sản phẩm; việc áp dụng các qui phạm thực hành nông nghiệp tốt (GAP, GAHP), thực hành sản xuất tốt (GMP), hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) trong quá trình sản xuất kinh doanh từ trang trại tới bàn ăn còn rất hạn chế…); các hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra trong quá trình sản xuất kinh doanh do các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương chưa được duy trì thường xuyên, bài bản đã dẫn đến tỷ lệ các sản phẩm nông sản, thủy sản chưa đảm bảo an toàn thực phẩm còn cao, gây ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng, bức xúc trong xã hội và cản trở xuất khẩu và giảm năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng nêu trên là năng lực quản lý của hệ thống các cơ quan trong Ngành Nông nghiệp tham gia thực thi quản lý nhà nước chuyên ngành về chất lượng giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y… (gọi chung là vật tư nông nghiệp) và an toàn thực phẩm nông lâm sản và thủy sản còn nhiều tồn tại, bất cập. Chính vì vậy Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) giao Cục Quản l‎ý chất lượng nông lâm sản và thủy sản (Quản lý chất lượng NLTS) chủ trì phối hợp với các Cục, Vụ liên quan xây dựng và tổ chức triển khai đề án “Tăng cường năng lực quản l‎ý chất lượng vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm nông lâm sản và thủy sản”.
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu sử dụng có hiệu quả thóc và gạo lật làm thức ăn cho lợn

Nghiên cứu sử dụng có hiệu quả thóc và gạo lật làm thức ăn cho lợn

1.1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước nông nghiệp, với diện tích trên 7,8 triệu ha lúa đạt sản lượng 45,2 triệu tấn thóc trong năm 2015 (Niên giám thống kê, 2015). Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt nam (VFA), mùa vụ 2011/2012, lượng gạo xuất khẩu của nước ta đạt mức kỷ lục 7,1 triệu tấn, với tổng kim ngạch xuất khẩu lên đến trên 3,5 tỷ USD (Cục xúc tiến thương mại, 2012). Tuy nhiên, theo Tổ chức Nông Lương Quốc tế (FAO), viễn cảnh xuất khẩu gạo của thế giới (trong đó có Việt Nam) trong những năm qua rất ảm đạm. Tình hình đó dẫn tới một nghịch lý là trong khi sản lượng lúa sản xuất trong nước đang dư thừa, xuất khẩu gặp nhiều khó khăn, nhưng hàng năm chúng ta vẫn phải nhập gần 9 triệu tấn nguyên liệu, chủ yếu là các nguyên liệu thức ăn giầu năng lượng (3,9 triệu tấn) và thức ăn giầu protein (4,8 triệu tấn) để làm thức ăn chăn nuôi (Cục Chăn nuôi, 2012). Hiện nay, Việt Nam đang đứng thứ 17 trong 20 quốc gia sản xuất thức ăn chăn nuôi lớn nhất thế giới (VIRAC JSC, 2016). Năm 2015, sản lượng sản xuất thức ăn chăn nuôi (TĂCN) của nước ta đạt 15,8 triệu tấn, tăng hơn so với năm 2014, trong đó sản lượng TĂCN do doanh nghiệp có vốn nước ngoài (FDI) sản xuất chiếm tới 60%, doanh nghiệp nội địa chỉ chiếm 40%. Về cơ cấu thức ăn theo vật nuôi, thức ăn cho gia súc chiếm tới 60% sản lượng, đứng thứ 2 là thức ăn cho thủy sản, thức ăn cho vật nuôi làm cảnh chiếm tỷ trọng không đáng kể (chưa đến 1%). Ở nước ta, chăn nuôi lợn là ngành quan trọng nhất, sản xuất trên 75% tổng lượng thịt của cả nước. Trong tổng số hơn 15,8 triệu tấn thức ăn công nghiệp sản xuất/năm, có đến 60% là thức ăn hỗn hợp và đậm đặc cho lợn (VIRAC JSC, 2016). Vì vậy, nghiên cứu về thức ăn cho lợn nói chung cũng như nguyên liệu để sản xuất thức ăn cho lợn nói riêng là vô cùng quan trọng và cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Theo Bộ Công Thương, so với các nước trong khu vực, giá thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam luôn cao hơn khoảng 15 đến 20%, dẫn đến các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam khó cạnh tranh. Các nguyên nhân dẫn đến giá thức ăn chăn nuôi trong nước luôn cao là do ngành thức ăn chăn nuôi nội địa phụ thuộc phần lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu dẫn đến rủi ro lớn về biến động giá và tỷ giá, đẩy giá thức ăn chăn nuôi tăng cao (VIRAC JSC, 2016). Trong khi đó, sản lượng thóc sẵn có chưa được quan tâm đúng mức như nguồn nguyên liệu dùng để sản xuất thức ăn chăn nuôi, ngoại trừ cám và một phần tấm. Lượng thóc được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi ở nước ta vẫn rất khiêm tốn. Lý do là gì? Những vướng mắc thuộc về kỹ thuật (thành phần dinh dưỡng, tỷ lệ tiêu hoá, tỷ lệ sử dụng trong các khẩu phần thức ăn cho vật nuôi) hay hiệu quả kinh tế (mức độ sẵn có về lượng, ưu thế về giá so với các nguyên liệu thức ăn giàu năng lượng khác…vv). Đề tài này được tiến hành nhằm góp phần khắc phục những tồn tại, những nghịch lý về nguyên liệu thức ăn chăn nuôi ở nước ta, hướng tới việc sử dụng tốt và có hiệu quả nguồn thức ăn sẵn có cho chăn nuôi lợn. 1.2. Mục tiêu đề tài Xác định được tỷ lệ sử dụng thóc và gạo lật tối ưu trong thức ăn hỗn hợp cho các đối tượng lợn. Đánh giá được hiệu quả kinh tế của việc sử dụng thóc và gạo lật làm thức ăn chăn nuôi lợn. 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu Thóc và gạo lật được sử dụng ở các tỷ lệ khác nhau. Lợn nái, lợn con sau cai sữa và lợn thịt. 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá thành phần và giá trị dinh dưỡng của 2 loại nguyên liệu: thóc và gạo lật thuộc giống lúa IR5004 và xác định tỷ lệ sử dụng thích hợp của chúng trong khẩu phần cho các đối tượng lợn
Xem thêm

Đọc thêm

PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM TỪ KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VỀ CÁC THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG

PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM TỪ KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VỀ CÁC THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG

PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM TỪ KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VỀ CÁC THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG. I.Thực trạng nông sản Việt Nam hiện nay: 1. Khái quát tình hình nông sản Việt Nam Việt Nam cất cánh từ nền kinh tế nông nghiệp, nông sản chiếm 30% xuất khẩu, chiếm 26% GDP cả nước với 65% dân số sống ở nông thôn Một số mặt hàng nông sản chủ lực đem về nguồn kinh tế lớn cho cả nước như: gạo, cà phê, hồ tiêu, các loại hoa quả,… Kim ngạch xuất khẩu nông sản 11 tháng đầu năm 2018 đạt 36,3 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2017. Điểm nổi bật của xuất khẩu nông sản năm 2018 là thị phần xuất khẩu đều duy trì, củng cố và mở rộng, 5 thị trường XK các mặt hàng nông lâm thủy sản chính của Việt Nam là Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, ASEAN và Hàn Quốc chiếm thị phần lần lượt là 22,9% (giá trị tăng 3,6% so với năm 2017), 17,9% (tăng 9,4%), 19,1% (tăng 7,1%); 10,64% (tăng 11,0%) và 6,9% (tăng 29,4%). Các thị trường mới nổi, thị trường ngách (Trung Đông, châu Phi, Đông Âu) đều được lực chọn phát triển bài bản, có tính bổ trợ cho các thị trường trọng điểm. Bên cạnh đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng chủ lực đều tăng. Trong số các mặt hàng nông sản chủ lực xuất khẩu của Việt Nam, có một số mặt hàng phải chịu áp lực giảm giá mạnh trong năm 2018, tuy nhiên cũng có những mặt hàng có sự tăng giá trên thị trường thế giới, điển hình là gạo, rau quả, cá tra, đồ gỗ và lâm sản. Cụ thể: đối với mặt hàng gạo, khối lượng gạo XK 11 tháng đầu năm 2018 ước đạt 5,7 triệu tấn và 2,9 tỷ USD, tăng 5,6% về khối lượng và tăng 17,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Tiếp đó là rau quả với giá trị XK 11 tháng năm 2018 ước đạt 3,5 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2017, cá tra đạt trên 2 tỷ USD tăng 27,4%. 2. Vấn đề xuất thô nông sản: Các mặt hàng nông sản chủ yếu được sản xuất thô: Hàng nông sản của VN chỉ tham gia ở khâu ít giá trị gia tăng, rủi ro cao và nhiều lệ thuộc. Cao su, tiêu, cà phê hay điều VN tuy chiếm giữ thị phần xuất khẩu không nhỏ trên thế giới nhưng chủ yếu ở khâu trồng cấy và thu gom sản phẩm thô. Những sản phẩm này được xuất cho các công ty nước ngoài. Họ chế biến, chắt lọc, phân đoạn làm nhiều tầng, thu nhiều khoản lời và đóng nhãn mác của họ bán cho người tiêu dùng. Vì chiếm giữ những phần ít rủi ro, lại nắm được thông tin đầu nguồn nên họ chủ động tránh được thiệt hại. Phần bất lợi đẩy về phía những khu vực sản xuất như nông dân Trong xã hội tự cung tự cấp, những biến động thị trường, thậm chí những biến động của toàn nền kinh tế, cũng khó đe dọa được sự sống còn của nông dân. Bởi vì chỉ cần canh tác tốt, nông dân không cần mua bán giao thương cũng có thể sống được nhờ vào sản vật nuôi trồng của mình. Nhưng hiện nay nông sản là sản phẩm hàng hóa và chịu sự chi phối của thị trường chung thì nông dân cũng là thành viên của xã hội thị trường. Nếu như các lực lượng khác có thể tự bảo vệ được mình bởi những sức mạnh mà họ thu được từ thị trường, thì nông dân lại không thu được nguồn lợi đủ để bảo vệ mình khi rủi ro mà thị trường đem lại. Nói cách khác, nông dân và người làm công ăn lương khi tham gia xã hội thị trường đã trở thành một lực lượng nghèo tiềm tàng vì cơ hội và rủi ro của họ không tỉ lệ thuận. Hệ thống thị trường nông sản của chúng ta gần như bị tách rời quyền lợi, trách nhiệm giữa nhà sản xuất, tức là nông dân và nhà kinh doanh các DN thu mua, xuất khẩu. Các DN này thực chất chỉ chọn công đoạn đơn giản nhất trong chu trình phân phối sản phẩm tức là thu mua. Họ có thể sơ chế đơn giản rồi bán sang tay cho các nhà chế biến nước ngoài. Người nông dân gánh chịu các biến động rủi ro của toàn bộ hệ thống vật tư, nguyên liệu đầu vào như giống, phân bón, đất đai, thời tiết... cho ra đời sản phẩm thô với mức lợi nhuận khá thấp. DN thương mại cơ bản chủ động được giá mua, khối lượng, thời điểm và cả đầu ra. Vì vậy họ có điều kiện và luôn cố thủ một tỉ lệ lợi nhuận. Khi giá đầu ra cao, họ điều chỉnh giá thu mua cao hơn một chút. Nhưng khi giá đầu ra xuống thấp, hàng thừa thì DN thu mua vẫn giữ tỉ lệ lợi nhuận cố định đó, đẩy thiệt thòi về phía nông dân. Xuất thô ngông sản của Đồng Nai: Năm 2018, 4 loại nông sản xuất khẩu chính của Đồng Nai gồm: điều, cà phê, tiêu, cao su đều tăng sản lượng từ 5,569% so với năm trước đó, nhưng giảm mạnh về giá. Tuy những nông sản trên đang đứng đầu về sản lượng xuất khẩu nhưng không chi phối được thị trường vì chủ yếu vẫn xuất hàng thô, chưa xây dựng được thương hiệu. Nông dân bị ảnh hưởng lớn nhất vì khó về đầu ra khiến nhiều loại nông sản buộc phải bán dưới giá thành sản xuất. Tăng giá nhưng giảm lời Năm 2018, Đồng Nai xuất khẩu 37 ngàn tấn nhân hạt điều với kim ngạch 329 triệu USD, tăng 5,5% về lượng so với năm trước nhưng giá chỉ bằng 98% so với cùng kỳ năm ngoái. Tương tự, cà phê xuất khẩu trên 221 ngàn tấn được 388,7 triệu USD, tăng 24% về lượng nhưng giá chỉ đạt 90,5%. Hạt tiêu xuất khẩu tăng 69% về lượng nhưng giá chỉ đạt trên 99%. Cao su xuất khẩu tăng 14% về lượng nhưng giá giảm gần 200 USDtấn. Lệ thuộc lớn vì xuất thô Hiện nông sản của Việt Nam hầu hết là xuất thô, nhiều loại chưa xuất được trực tiếp nên giá trị gia tăng chưa cao. Điểm yếu này càng bộc lộ rõ khi thị trường nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chính của Việt Nam đang rơi vào cảnh cung vượt cầu. .
Xem thêm

Đọc thêm

Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê Việt Nam

Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê Việt Nam

Việt Nam là một nước nông nghiệp có nhiều lợi thế và tiềm năng về đất đai, lao động và điều kiện sinh thái... cho phép phát triển sản xuất nhiều loại nông sản hàng hoá xuất khẩu có giá trị kinh tế lớn. Sau hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, kinh tế nông nghiệp và nông thôn đã có những bước phát triển đáng kể. Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng cao và khá ổn định (bình quân tăng 4-4,5%/năm). Trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu mang lại giá trị kinh tế cao đó, chúng ta không thể không nhắc tới cà phê - một mặt hàng nông sản của Việt Nam đang được nhiều thị trường trên thế giới ưa chuộng. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập chung của thế giới đang diễn ra "sôi nổi", ngành cà phê xuất khẩu của ta lại đang đứng trước rất nhiều khó khăn về mọi mặt như : sự cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, thị trường tiêu thụ... . Vậy để khắc phục được những khó khăn này nhằm đẩy mạnh xuất khẩu cà phê của Việt Nam thì Nhà nước cũng như các doanh nghiệp Việt Nam cần phải có những định hướng để phát triển như thế nào là phù hợp ?
Xem thêm

Đọc thêm

hệ thông Marketing cà phê

hệ thông Marketing cà phê

Cà phê là một sản phẩm xuất hiện từ lâu đời và rất được ưa chuộng trên toàn cầu. Đây là loại hàng hóa giao dịch mạnh trên thị trường thế giới đã và đang mang lại cho hàng triệu nông dân ở các nước xuất khẩu cà phê nguồn thu nhập chính. Việt Nam là một nước có diện tích trồng cà phê lớn và là quốc gia có sản lượng xuất khẩu cà phê đứng thứ hai trên thế giới và đứng đầu về sản xuất, xuất khẩu cà phê vối. Có được một vị trí quan trọng như vậy là do chúng ta sớm có chủ trương phát triển cây cà phê trở thành ngành kinh tế và nguồn hàng xuất khẩu mũi nhọn. Nhìn lại sự phát triển của cà phê Việt Nam thời gian qua mặc dù đạt số lượng xuất khẩu khá tốt nhưng về chất lượng, giá cả vẫn còn thất thế so với các nước xuất khẩu cà phê trên thế giới. Việt Nam hòa nhập vào thị trường thế giới trong bối cảnh bị mất thị trường truyền thống (Liên Xô và các nước XHCN trước đây) trong khi đó thị trường cà phê thế giới được hình thành từ lâu đời và được phân chia rõ rệt, hầu như cà phê Việt Nam không còn chỗ đứng. Chúng ta chủ yếu bán cà phê cho các nước trung gian, do vậy giá cả luôn thấp hơn mặt bằng giá chung của thế giới. Nhằm ổn định, nâng cao chất lượng, giá cả, khẳng định vị trí của cà phê Việt Nam, chúng ta cần có những giải pháp khả thi và triển khai một cách đồng bộ. Để cà phê Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, ngành cà phê cần chú ý thay đổi cơ cấu sản phẩm ngay từ khâu sản xuất đến khi thu được sản phẩm hoàn thiện. Nhận thức được điều đó, để hiểu rõ hơn về hệ thống marketing ngành cà phê, nhóm chúng tôi thực hiện nghiên cứu với đề tài “Tìm hiểu hệ thống Marketing ngành hàng Cà phê”.
Xem thêm

Đọc thêm

PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY DỆT MAY TNHH ĐẠI HỒNG THÁI

PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY DỆT MAY TNHH ĐẠI HỒNG THÁI

May mặc là nhu cầu thiết yếu cùa con người, xã hội càng văn minh càng tiền bộ thì may mặc càng phát triển mạnh. Ngảnh dệt may Việt Nam hiện nay phát triển rất mạnh đặc biệt là dệt may xuất khẩu, ngày càng tạo được uy tín trên thương trường thế giới. Việc gia nhập WTO là một tác động lớn đến ngành dệt may của Việt Nam, giúp ngành dệt may Việt Nam phát triền hơn đem về những ngoại tệ mạnh cho đất nước, gián tiếp làm phát triển nền kinh tế nước ta.Ngành dệt may càng phát triển thì sẽ có nhiều cạnh tranh, nhiều công ty dệt may được thành lập. Tuy sức cạnh tranh ngày càng cao nhưng lợi nhuận công ty Đại Hồng Thái vẫn tăng, vẫn đảm bào việc làm thường xuyên cho công nhân. Do công ty đã tạo được uy tín cao đối với khách hàng bằng những sản phẩm chất lượng, giá cả sản phẩm hợp lý. Sau nhưng năm hoạt động công ty đã gặt hái được khá nhiều thành công. Tuy nhiên, để củng cố và phát huy hơn nữa những gì đã có và có thể đứng vững trước một nền kinh tế thế giới và trong nước nhiều biến động thì công ty cần nhanh chóng tìm cho mình một hướng phát triển vững chắc lâu dài. Hướng đi đó chính là không ngừng nâng cao năng lực sản xuất, tiếp tục duy trì và phát triển lợi thế về những sản phẩm có chất lượng, phát triển thị trường mới, duy trì tăng cường mối quan hệ làm ăn tốt đẹp với cá đối tác, khách hàng. Thực hiện đoàn kết trong nội bộ công ty, thực hiện phát huy nhưng chính sách hỗ trợ thiết thực của Nhà nước.
Xem thêm

77 Đọc thêm

Cùng chủ đề