XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG VỀ VĂN HOÁ VÀ CHUYÊN MÔN TRONG CT

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG VỀ VĂN HOÁ VÀ CHUYÊN MÔN TRONG CT":

Nghiên cứu giá trị của lactat máu trong xác định mức độ nặng và theo dõi diễn biến của sốc nhiễm khuẩn

NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA LACTAT MÁU TRONG XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ NẶNG VÀ THEO DÕI DIỄN BIẾN CỦA SỐC NHIỄM KHUẨN

đặt vấn đề

sốc nhiễm khuẩn (SNK) là hội chứng lâm sàng nặng và thường gặp, là
hậu quả của đáp ứng viêm hệ thống đối với nhiễm khuẩn, nguyên nhân chính
gây TV ở BN điều trị tại khoa HSCC [
44].
Ngày nay, mặc dù có nhiều tiến bộ trong hiểu biết sinh bệnh học cũng
như áp dụng các phương pháp điều trị mới, toàn diện, chuyên sâu hơn nhưng
SNK vẫn có tiên lượng nặng, tỉ lệ TV cao (30 - 80%). Chẩn đoán và điều trị
SNK ở giai đoạn sớm giúp nâng cao hiệu quả điều trị, giảm tỉ lệ TV [
13], [51].
Hậu quả của SNK dẫn đến suy tuần hoàn và suy hô hấp, giảm cung cấp
máu và oxy cho tổ chức, mất cân bằng giữa nhu cầu và khả năng cung cấp oxy
cho các mô dẫn tới tăng chuyển hoá yếm khí và toan hoá do tăng nồng độ
lactat máu. Thiếu oxy ở các mô kéo dài sẽ dẫn đến suy đa tạng và TV [
32],
[
33], [51], [53], [62], [63].
Trên thế giới đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về giá trị của lactat ở BN
SNK. Với nhận thức được đổi mới, lactat máu được coi như một chỉ dẫn của
tình trạng suy tuần hoàn, ngày càng có nhiều quan tâm về việc sử dụng đo
lactat để xác định tình trạng giảm oxy mô do suy tuần hoàn gây nên. Tăng
lactat máu được các tác giả coi như một trong các tiêu chuẩn để chẩn đoán xác
định, đánh giá mức độ nặng của SNK, nhiễm toan lactic. Tình trạng nhiễm
toan lactic có thể tác động xấu đối với BN như giảm tưới máu gan và thận dẫn
đến tình trạng nhiễm toan càng nặng, giảm đáp ứng với các phương pháp điều
trị. Mặt khác, nồng độ lactat trong máu được dùng để theo dõi diễn biến và
hiệu quả điều trị SNK [
2], [30], [31], [47], [53], [69].
Việc định lượng lactat máu cần được làm một cách hệ thống, nhiều lần,
đặc biệt trong 24 giờ đầu tiên của SNK để đánh giá, tiên lượng kết quả điều trị
[
16], [17], [19], [28], [35], [36], [42], [49], [64]. ở Việt Nam đã có một số ít nghiên cứu về giá trị của lactat trong SNK,
nhưng với mong muốn đóng góp thêm những bằng chứng khoa học về giá trị
của xét nghiệm lactat máu trong việc đánh giá mức độ nặng và theo dõi diễn
biến của BN SNK, do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu giá trị của lactat máu trong xác định mức độ nặng và theo
dõi diễn biến của sốc nhiễm khuẩn” nhằm hai mục tiêu sau:
1. Nghiên cứu giá trị của lactat máu trong xác định mức độ nặng
của sốc nhiễm khuẩn.
2. Nghiên cứu giá trị của lactat máu trong theo dõi diễn biến của sốc
nhiễm khuẩn.
Xem thêm

89 Đọc thêm

BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ, GIÁ TRỊ THIỆT HẠI VỀ TÀI SẢN

BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ, GIÁ TRỊ THIỆT HẠI VỀ TÀI SẢN

CÁ NHÂN HOẶC ĐẠI DIỆN TỔ CHỨC CÓ TÀI SẢN BỊ THIỆT HẠI Ký tên, đóng dấu ghi rõ họ tên và chức vụ ĐẠI DIỆN CHÍNH QUYỀN Ký tên, đóng dấu ghi rõ họ tên và chức vụ NGƯỜI CHỨNG KIẾN Ký tên, đó[r]

2 Đọc thêm

Nghiên Cứu Mức Độ Hài Lòng Của Du Khách Về Các Dịch Vụ Của Khu Du Lịch Văn Hoá Suối Tiên

NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA DU KHÁCH VỀ CÁC DỊCH VỤ CỦA KHU DU LỊCH VĂN HOÁ SUỐI TIÊN

Đề tài nghiên cứu mức độ hài lòng của du khách khi tìm đến du lịch và sử dụng các dịch vụ của KDL văn hoá Suối Tiên nhằm tìm ra những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách và những nhu cầu của họ mà KDL chưa đáp ứng được. Dựa vào bảng khảo sát về chất lượng dịch vụ với 31 biến quan sát, 3 biến thang đo mức độ hài lòng chung, tác giả đã phỏng vấn trực tiếp 160 du khách tại KDL văn hoá Suối Tiên. Sau đó, tác giả kiểm tra độ tin cậy của thang đo, kết quả đều có độ tin cậy và giá trị chấp nhận được. Kết quả nghiên cứu bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho thấy có 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách về chất lượng dịch vụ của KDL, đa phần du khách cảm thấy hài lòng. Cuối cùng, tác giả đề xuất giải pháp cho KDL nhằm nâng cao hơn nữa mức độ hài lòng cho du khách trong tương lai.
Xem thêm

77 Đọc thêm

phát triển đội ngũ giáo viên trường trung cấp nghề tỉnh bắc kạn theo chuẩn giáo viên dạy nghề

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ TỈNH BẮC KẠN THEO CHUẨN GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ

MỞ ĐẦU
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, ý chí tự lập tự cường, tự tôn dân tộc, phát huy nội lực và khai thác, sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người có vai trò quyết định nhất. Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề, có phẩm chất tốt, được đào tạo, bồi dưỡng bởi một nền giáo dục tiên tiến. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến phát triển giáo dục, coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”.
Trong quá trình phát triển giáo dục và đào tạo, đội ngũ giáo viên có vị trí vô cùng quan trọng, đây là lực lượng quyết định sự phát triển của sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Nghị quyết TW 2 khóa VIII khẳng định “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh. Khâu then chốt để thực hiện chiến lược giáo dục là đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng như cán bộ quản lý giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và năng lực chuyên môn nghiệp vụ”.
Để xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, Chỉ thị số: 40-CT/TW ngày


15 tháng 6 năm 2004 của Ban bí thư Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “ Mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề nhà giáo. Thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đồng thời Chỉ thị cũng chỉ rõ: “Tuy nhiên trước những yêu cầu mới của sự phát triển
giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa, đội ngũ nhà giáo có
những hạn chế, bất cập. Số lượng giáo viên còn thiếu nhiều Cơ cấu giáo viên đang mất cân đối giữa các môn học bậc học Chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo một cách toàn diện”.
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã chỉ ra những yếu kém của đội ngũ giáo viên hiện nay là “Thiếu về số lượng và nhìn chung thấp về chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu vừa phải tăng nhanh quy mô, vừa phải đảm bảo và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục” [28, tr.14] . Đồng thời chiến lược đã đề ra bảy giải pháp lớn, trong đó giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo được xác định là một biện pháp hết sức quan trọng.
Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề (GVDN) theo chuẩn giáo viên dạy nghề cũng không nằm ngoài mục tiêu phát triển đội ngũ nhà giáo khi đào tạo nghề đảm nhận tới 70% nhân lực qua đào tạo trong cơ cấu lao động của đất nước, góp phần lớn tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tổ chức văn hóa giáo dục Liên hợp Quốc UNESCO đã khuyến cáo: “Bước sang thề kỷ XXI, học suốt đời là hành trình với nhiều hướng đi, trong đó đào tạo nghề nghiệp là hướng đi chủ yếu trong cuộc hành trình này”. Chính vì vậy việc phát triển đội ngũ GVDN theo chuẩn giáo viên dạy nghề là việc làm cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Trong hệ thống mạng lưới dạy nghề, trường Trung cấp nghề Bắc Kạn (TCNBK) có vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương (Hiện nay cả Tỉnh chỉ có duy nhất một trường Trung cấp nghề). Nhà trường tiếp tục phát triển theo hướng đa dạng hoá các ngành, nghề đào tạo, đào tạo trọng tâm
những nghề phục vụ trực tiếp cho phát triển sản xuất và dịch vụ của Tỉnh, đào
tạo nghề cho xuất khẩu lao động, liên kết với các trường cao đẳng để đào tạo
Xem thêm

121 Đọc thêm

Quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Công đoàn

QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN

1. Lý do chọn đề tài
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã khẳng định “Không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Nghị quyết TW 2 khoá VIII cũng xác định “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh”[14,38]. Điều này khẳng định người giáo viên có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp giáo dục bởi họ là những người trực tiếp biến các chính sách, mục tiêu giáo dục thành hiện thực. Đội ngũ giáo viên ngày nay được đánh giá cao với một cách nhìn nhận mới, đồng thời cũng đòi hỏi ngành giáo dục và đội ngũ giáo viên phải có trách nhiệm nâng cao, hoàn thiện hơn nữa trình độ chuyên môn - nghiệp vụ, thường xuyên cập nhật hoá kiến thức, kỹ năng, từ đó có thể tiến hành đào tạo một cách bài bản, hiệu quả lực lượng lao động tương lai của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, việc tăng cường và phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu đào tạo hiện nay cũng là vấn đề hết sức được quan tâm, chú trọng, góp phần khẳng định quy mô và thương hiệu trong các nhà trường.
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến việc phát triển đội ngũ giảng viên trong trường đại học. Giảng viên và nhà quản lý là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo, do đó không thể không quan tâm đến việc phát triển đội ngũ này đủ về số lượng, chất lượng đáp ứng yêu cầu đặt ra, và đã phát triển đội ngũ thì nhất thiết phải quản lý một cách bài bản, chặt chẽ mới có thể đạt được mục tiêu giáo dục qua các thời kỳ khác nhau. Điều này được khẳng định trong Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư: “có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục” [12,2].
Với vai trò là một cán bộ làm việc tại Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, theo dõi về công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ công đoàn, tôi thấy nhất thiết phải quan tâm, nghiên cứu về lĩnh vực quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Công đoàn, cái nôi đào tạo ra các thế hệ cán bộ công đoàn tâm huyết, nhiệt tình trong cả nước. Để có thể đạt được mục tiêu phát triển đội ngũ giảng viên trường ĐH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, phải tiến hành công tác quản lý một cách thường xuyên, liên tục, bởi yêu cầu của nó luôn gắn với sự phát triển. Vì thế, phát triển đội ngũ giảng viên đại học là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình đi lên của các trường đại học, đồng thời cũng thể hiện khả năng cạnh tranh của nhà trường trong nước ta, trong khu vực và trên thế giới.
Chính vì những lý do đã nêu trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Công đoàn” với hi vọng đề xuất một số biện pháp quản lý hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong trường đại học nói riêng cũng như nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đại học nói chung.
Xem thêm

106 Đọc thêm

Một số biện pháp chỉ đạo công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ở trường Tiểu học Nghi Thuận

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC NGHI THUẬN

PHẦN I: MỞ ĐẦU

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong những năm gần đây, sự nghiệp giáo dục đào tạo ở Việt nam là vấn đề được xã hội rất quan tâm. Khi bàn đến vai trò của những người thầy trong sự nghiệp giáo dục, Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết “Thầy giáo là một nhân vật trọng tâm trong nhà trường, là người quyết định đào tạo nên những con người mới xã hội chủ nghĩa. Vậy thầy giáo phải không ngừng vươn lên, rèn luyện tu dưỡng về mọi mặt để thực sự xứng đáng là người thầy giáo xã hội chủ nghĩa”.
Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên có tầm quan trọng chiến lược, có tính chất quyết định chất lượng giáo dục và dạy học trong nhà trường, bởi lẽ lao động sư phạm là lao động sáng tạo, đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức sâu và toàn diện, luôn bổ sung cái mới nhằm hoàn thiện nghệ thuật sư phạm. Tính đa dạng, phức tạp của hoạt động giảng dạy giáo dục đòi hỏi người lãnh đạo nhà trường phải thường xuyên chú ý đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận và nghiệp vụ của giáo viên.
Qua thực trạng về đội ngũ giáo viên chưa đồng đều về trình độ chuyên môn, chưa đáp ứng kịp thời với yêu cầu đổi mới giáo dục. Nhận thức của giáo viên tiểu học về công tác bồi dưỡng chuyên môn còn hạn chế, chưa đúng, chưa đủ về vị trí, vai trò của công tác này trong nhà trường; hoặc việc tổ chức triển khai công tác này thiếu sự tuân thủ những nguyên tắc nhất định; nội dung của công tác bồi dưỡng chuyên môn nhiều khi thực hiện chưa đầy đủ, thiếu kế hoạch; biện pháp chỉ đạo triển khai công tác này chưa khoa học, không thường xuyên… Đó là nguyên nhân thực tiễn dẫn đến kết quả công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong các trường tiểu học còn hạn chế.
Trong thời gian qua, các trường tiểu học nói chung và trường trường Tiểu học Nghi Thuận nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc dạy học. Tuy nhiên so với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đạo hoá đất nước ngang tầm với các nước phát triển trong khu vực thì chất lượng đội ngũ giáo viên của trường chưa đáp ứng được.
Là cán bộ quản lý của nhà trường, tôi rất băn khoăn với công tác quản lý. Chúng tôi xác định rằng: công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên sẽ là mắt xích chủ yếu và quan trọng nhất trong hệ thống công tác quản lý. Công tác này được cải tiến và đẩy mạnh sẽ có tác dụng quyết định tạo nên sự chuyển biến cao về chất lượng dạy học và giáo dục của nhà trường.Vì vậy tôi chọn đề tài Một số biện pháp chỉ đạo công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ở trường Tiểu học Nghi Thuận.
Xem thêm

22 Đọc thêm

Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI TÍNH TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI NGHỆ TĨNH

Mở ĐầU
1. Lí DO CHọN Đề TàI
1.1. Hát ví phường vải (HPV) là một thể loại đặc sắc trong kho tàng thơ ca dân gian xứ Nghệ vốn vô cùng phong phú, đa dạng. Gắn với môi trường diễn xướng, có nguồn gốc từ hát đối đáp của nam nữ thanh niên trong lao động sản xuất, dần trở thành đối đáp giao duyên nam nữ, HPV là một trong những hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần một thời của người xứ Nghệ, phản ánh sâu sắc văn hoá đặc trưng xứ Nghệ. Xuất phát từ hoàn cảnh giao tiếp này, các vai giao tiếp trong HPV có thể quy về hai giới: vai nam và vai nữ. Theo đó, đặc trưng ngôn ngữ giới tính cũng thường chi phối trực tiếp tới nội dung và hình thức biểu hiện lời ca của các vai giao tiếp. Mặt khác, ở một mức độ nhất định, ngôn ngữ giới tính trong HPV cũng chịu ảnh hưởng của đặc trưng văn hoá xứ Nghệ.
1.2. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về ca dao dân ca (CDDC) nói chung, HPV nói riêng, các nhà nghiên cứu thường tập trung quan tâm khai thác ở góc độ văn học. Hướng nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học là một hướng nghiên cứu ít được chú ý tới.
Thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu đ• vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học x• hội và lí thuyết dụng học vào việc khai thác giá trị của thơ ca dân gian. Nhờ đó, các giá trị ngôn ngữ của thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh, của HPV Nghệ Tĩnh đ• được soi xét trên một số bình diện từ nhiều góc độ khác nhau. Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu đ• có vẫn chưa đặt ra vấn đề tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ giới tính trong các loại hình văn học nghệ thuật nói chung cũng như trong HPV nói riêng; mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính vẫn là một lĩnh vực mới mẻ và số công trình nghiên cứu còn khiêm tốn. Chưa có công trình nào bàn chuyên về đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong HPV Nghệ Tĩnh. Vì vậy, đây vẫn còn là một hướng đi khá mới mẻ, hấp dẫn.
1.3. Với những kết quả đ• đạt được, lí thuyết ngôn ngữ học x• hội và lí thuyết dụng học đang ngày càng khẳng định mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính, giữa ngôn ngữ giới tính và văn hoá. Như vậy, việc nghiên cứu, xác định yếu tố giới tính trong ngôn ngữ đối đáp nam nữ của HPV cũng sẽ góp phần tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ, văn hoá và con người xứ Nghệ. Và công việc này càng có ý nghĩa hơn khi đây vẫn là một mảng đề tài chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu.
Chính ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu yếu tố giới tính trong HPV và tính mới mẻ, hấp dẫn của vấn đề này là cơ sở để chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh.
2. LịCH Sử VấN Đề
2.1. Về vấn đề quan hệ giữa giới tính và ngôn ngữ
Quan hệ giữa giới tính và ngôn ngữ đ• và đang là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực chuyên môn trong x• hội. Nó không còn là lĩnh vực riêng của các nhà ngôn ngữ học và những nhà chuyên môn về ngôn ngữ mà còn được nhìn rộng ra theo cách tiếp cận ngôn ngữ x• hội liên quan đến hàng loạt vấn đề khác như sinh học, địa vị, vai trò trong gia đình cũng như trong x• hội của mỗi giới. Tính x• hội của vấn đề còn thể hiện ở sự đông đảo, đa dạng của giới chuyên môn đ• và đang quan tâm nghiên cứu yếu tố giới tính trong ngôn ngữ như: các nhà ngôn ngữ học, các phóng viên, công chức, biên tập viên, các nhà quản lí, các nhà giáo dục học, tâm lí học, sử học, x• hội học, luật sư... Theo đó, phương pháp nghiên cứu và trọng tâm phân tích cũng khác nhau. Những người nghiên cứu không chuyên về ngôn ngữ có thiên hướng tập trung vào một số hiện tượng như sự định kiến về giống, sự thiếu cân đối trong việc sử dụng từng cặp, lối diễn tả nam giới và nữ giới, tính vô hình của nữ giới trong ngôn ngữ, hoặc tập trung vào kết cấu của những diễn ngôn mang tính kì thị giới. Ngược lại, các nhà ngôn ngữ học lại sử dụng các phương pháp tiếp cận chuyên ngành (phương pháp ngôn ngữ học so sánh, phương pháp ngôn ngữ học lịch sử, phương pháp phân tích diễn ngôn...) để khảo sát, nghiên cứu những biểu hiện giới tính trong ngôn ngữ thể hiện trên một số phương diện: âm vị, từ vựng, ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ... 55, tr. 27, 28. Để có căn cứ lí luận cho việc triển khai các nội dung của đề tài, ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới một số kết quả nghiên cứu về vấn đề quan hệ gữa giới tính và ngôn ngữ trong lĩnh vực ngôn ngữ học.
Những phát hiện về sự khác biệt trong ngôn ngữ giữa nam và nữ đ• có từ lâu, nhưng phải đến đầu thế kỉ XX, ấn tượng về sự khác biệt này mới thực sự hình thành rõ nét nhờ môt số công trình nghiên cứu chuyên sâu. Đó là sự khác nhau xét về mặt âm vị, cách dùng từ, phát âm mới được phát hiện qua kết quả quan sát, khảo cứu của E.d.Sapir đối với hiện tượng sử dụng luân phiên một số âm vị khác nhau giữa nam và nữ trong tiếng Yana Inndian; của O.Jesperson về sự khác biệt trong từ vựng và phong cách của
Xem thêm

199 Đọc thêm

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ NGA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ NGA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội theo1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứuhọc chế tín chỉ.1.1.1. Những quan điểm về tự học:Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữTrong lịch sử phát triển giáo dục, tự học là vấn đề được quan tâmvà Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đápnghiên cứu từ lâu cả về lý luận và thực tiễn, nhằm phát huy vai trò của ngườiứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ.học và nâng cao chất lượng của hoạt động tự học. Song từng giai đoạn lịch sửnhất định, ở mỗi quốc gia tự học được nghiên cứu đề cập dưới nhiều khíacạnh khác nhau.Khổng Tử (551-479 trước công nguyên), nhà tư tưởng nổi tiếng và nhàsư phạm vĩ đại của Trung Quốc, về phương pháp giáo dục ông đã đề cao việctự học, tự luyện, tu nhân, trú trọng phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng lựcnội sinh. Đề cập đến việc học tập, Khổng Tử xác định “Học nhi thời tập chí”,việc học tập theo ông phải gắn liền với thực hành để thông suốt những điều đãhọc. Ông đề cập và nhấn mạnh mối quan hệ tác động giữa việc học tập và tưduy trong học tập, ông cho đó là hai yếu tố ràng buộc không thể thiếu của mộtvấn đề: “Học nhi bất tư vong, tư nhi bất học tất đãi”. Ông cho rằng học màkhông nghĩ thì mờ tối, nghĩ mà không học thì khó nhọc, mất công. Do vậy,
Xem thêm

54 Đọc thêm

ĐỀ ÁN SẮP XẾP, KIỆN TOÀN CÁC BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH

ĐỀ ÁN SẮP XẾP, KIỆN TOÀN CÁC BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH

Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sửdụng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trìnhxây dựng.1.1.3. Những nguyên tắc cơ bản của quản lý dự án đầu tư xây dựngcông trình.Dự án đầu tư xây dựng được quản lý thực hiện theo kế hoạch, chủ trươngđầu tư, đáp ứng các yêu cầu theo quy định tại Điều 51 của Luật Xây dựng năm2014 và phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.Quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, củangười quyết định đầu tư, chủ đầu tư và các tổ chức, cá nhân có liên quan đếnthực hiện các hoạt động đầu tư xây dựng của dự án.Quản lý thực hiện dự án phù hợp với loại nguồn vốn sử dụng để đầu tưxây dựng: Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước được quản lýchặt chẽ, toàn diện, theo đúng trình tự để bảo đảm mục tiêu đầu tư, chất lượng,tiến độ thực hiện, tiết kiệm chi phí và đạt được hiệu quả dự án; Dự án đầu tư theohình thức đối tác công tư PPP (Public - Private Partner) có cấu phần xây dựngđược quản lý như đối với dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách theo quyđịnh của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; Dự ánđầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách được Nhà nước quản lývề chủ trương đầu tư, mục tiêu, quy mô đầu tư, chi phí thực hiện, các tác độngcủa dự án đến cảnh quan, môi trường, an toàn cộng đồng, quốc phòng, an ninhvà hiệu quả của dự án. Chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm quản lý thực hiện dự ántheo quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liênquan; Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn khác được Nhà nước quản lý về mụctiêu, quy mô đầu tư và các tác động của dự án đến cảnh quan, môi trường, antoàn cộng đồng và quốc phòng, an ninh.Bảo đảm đầu tư xây dựng công trình theo quy hoạch, thiết kế, bảo vệ cảnhquan, môi trường; phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội, đặc điểm văn hoá củatừng địa phương; bảo đảm ổn định cuộc sống của nhân dân; kết hợp phát triểnkinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Xem thêm

44 Đọc thêm

Luận văn "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"

LUẬN VĂN "MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT"

Các nhân tố chính thuộc về môi trường quản lý là:
Triết lý của nhà quản lý về quản trị rủi ro: triết lý về quản trị rủi ro là
quan điểm, nhận thức và thái độ của nhà quản lý, điều này tạo nên cách thức mà đơn vị tiếp cận với rủi ro trong tất cả các hoạt động, từ phát triển chiến lược đến các hoạt động hàng ngày. Triết lý quản lý phản ánh những giá trị mà đơn vị theo đuổi,tác động đến văn hoá và cách thức đơn vị hoạt động, và ảnh hưởng đến việc áp dụng các yếu tố khác của ERM11 bao gồm cách thức nhận dạng rủi ro, các loại rủi ro được chấp nhận và cách thức quản lý chúng.
Rủi ro có thể chấp nhận: là mức độ rủi ro mà xét trên bình diện tổng thể,
đơn vị sẵn lòng chấp nhận để theo đuổi giá trị. Nó phản ánh triết lý về quản trị rủi ro của nhà quản lý cấp cao, và ảnh hưởng đến văn hoá, cách thức hoạt động của đơn vị. Rủi ro có thể chấp nhận được xem xét khi đơn vị xác định các chiến lược, ở đó lợi ích kỳ vọng của một chiến lược phải phù hợp với mức rủi ro có thể chấp nhận đã đề ra. Các chiến lược khác nhau sẽ dẫn đến những mức độ rủi ro khác nhau đối với đơn vị, một khi mức rủi ro có thể chấp nhận được xác lập sẽ giúp ích cho nhà quản lý lựa chọn chiến lược nằm trong giới hạn chịu đựng đối với các loại rủi ro.Hội đồng quản trị : đây là một bộ phận quan trọng và ảnh hưởng đến những yếu tố khác. Vai trò của Hội đồng quản trị được thể hiện ở việc giám sát ban quản lý trong việc lựa chọn chiến lược, lên kế hoạch và việc thực hiện nó. Các nhân tố được xem xét để đánh giá sự hữu hiệu của Hội đồng quản trị gồm mức độ độc lập, kinh nghiệm và uy tín của các thành viên, và mối quan hệ giữa họ với bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập. Cho dù trong lịch sử đơn vị chưa phải gánh chịu những tổn thất, cho dù chưa có bằng chứng hay dấu hiệu nào cho thấy đơn vị phải đối mặt với những rủi ro quan trọng, thì Hội đồng quản trị cũng không nên suy nghĩ rằng rủi ro sẽ không xảy đến. Phải luôn ý thức rằng, cho dù có một chiến lược hay, đội ngũ nhân sự lành nghề, chu trình được thiết kế khoa học và kỹ thuật áp dụng là đáng tin cậy thì đơn vị vẫn phải đối mặt với tổn hại từ các loại rủi ro và việc quản trị rủi ro vẫn rất cần thiết.
Xem thêm

194 Đọc thêm

BÁO CÁO NỘI DUNG TỰ HỌC TỰ BỒI DƯỠNG PHẦN KIẾN THỨC TỰ CHỌN. ( MODULE TIỂU HỌC 41) MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC.

BÁO CÁO NỘI DUNG TỰ HỌC TỰ BỒI DƯỠNG PHẦN KIẾN THỨC TỰ CHỌN. ( MODULE TIỂU HỌC 41) MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC.

LỜI NÓI ĐẦU Giáo viên là một trong những nhân tổ quan trọng quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Do vậy, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan lâm đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên. Một trong những nội dung được chú trong trong công tác này là bồi dưỡng thường xuyên (BDTX) chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên. BDTX chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên là một trong những mô hình nhằm phát triển nghề nghiệp lìên tục cho giáo viên và được xem là mô hình có ưu thế giúp số đông giáo viên được tiếp cận với các chương trình phát triển nghề nghiệp. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng chương trinh BDTX giáo viên và quy chế BDTX giáo viên theo tinh thần đổi mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác BDTX giáo viên trong thời gian tới. Theo đó, các nội dung BDTX chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên đã đựợc xác định, cụ thể là:+ Bồi dương đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ năm học theo cấp học (nội dung bồi dưỡng 1);+ Bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục địa phương theo năm học (nội dung bồi dưỡng 2);+ Bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên (nội dung bồi dưỡng 3). Theo đó, hằng năm mỗi giáo viên phải xây dung kế hoạch và thực hiện ba nội dung BDTX trên với thời lượng 120 tiết, trong đó: nội dung bồi dưỡng 1 và 2 do các cơ quan quân lí giáo dục các cẩp chỉ đạo thực hiện và nội dung bồi dưỡng 3 do giáo viên lựa chọn để tự bồi dưỡng nhằm phát triển nghề nghiệp. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trinh BDTX giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thưững xuyên với cẩu trúc gồm ba nội dung bồi dưỡng trên. Trong đó, nội dung bồi dương 3 đã đuợc xác định và thể hiện duỏi hình thúc các module bồi dưỡng làm cơ sở cho giáo viên tự lựa chọn nội dung bồi dưỡng phù hợp để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng hằng năm của mình. Trân trọng giới thiệu cùng quý vị thầy cô giáo, các bậc phụ huynh và các bạn đọc cùng tham khảo tài liệu: BÁO CÁO NỘI DUNG TỰ HỌC TỰ BỒI DƯỠNGPHẦN KIẾN THỨC TỰ CHỌN.( MODULE TIỂU HỌC 41)MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNGQUA CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC. Chân trọng cảm ơn
Xem thêm

17 Đọc thêm

CẤU TRÚC ĐÔ THỊ TỈNH LỴ TÂY NGUYÊN

CẤU TRÚC ĐÔ THỊ TỈNH LỴ TÂY NGUYÊN

b. Xu hướng CTĐT Đa tâm cho những ĐT lớn.c. Xu hướng Tái CTĐT.2.2.2. Các bài học kinh nghiệm:2.2.2.1. Thành phố thích ứng (Adaptive Cities).2.2.2.2. Thành phố có lõi vững chắc (Strong – core Cities).2.2.2.3. Thành phố vùng cao nguyên:a. Phát triển ĐT Kigali, Rwanda, Châu Phi.b. Phát triển Harmony (City of Highland), California, Mỹ.2.2.3. Cơ sở pháp lý để nghiên cứu phát triển ĐT ở TN: Gồm cácvăn bản nhà nước về phát triển ĐT và phát triển TN; Các hồ sơ, tàiliệu khác liên quan đến QH, XD, phát triển ĐT ở Tây Nguyên.2.2.4. Cơ sở thực tiễn:2.2.4.1. Hiện trạng ĐT Kon Tum – Tỉnh lỵ tỉnh Kon Tum:Cơ sở hạ tầng được đầu tư XD mới, nâng cấp và cải tạo; CácCTCC và nhà ở chưa đáp ứng đủ; Chính sách của Đảng và Nhà nướcrất quan tâm đến vùng TN; Tốc độ phát triển ĐT chậm hơn dự báo.Ô nhiễm môi trường. Các giá trị VH dân tộc dần bị mai một.2.2.4.2. Hiện trạng ĐT Pleiku – Tỉnh lỵ tỉnh Gia Lai:Có vị trí chiến lược. Mạng lưới đường bộ khá phát triển, cóGT đường hàng không; Các CTCC, công trình tiện ích XH chưa đápứng nhu cầu; Chủ trương nâng cấp ĐT lên loại I với vai trò TT vùngphía Bắc TN; Lưu ý các vấn đề bảo vệ an ninh quốc phòng; bảo vệmôi trường và cảnh quan; bảo tồn buôn làng và VH truyền thống.102.2.4.3. Hiện trạng ĐT Buôn Ma Thuột – Tỉnh lỵ của tỉnh :Cảnh quan ĐT và cảnh quan thiên nhiên phong phú, độc đáo.Hệ thống GT khá hoàn chỉnh có đường hàng không và dự kiến cótuyến đường sắt; Địa hình phức tạp. Các CT công ích XH chưa đáp
Xem thêm

23 Đọc thêm

BAN THU HOACH DANG VIEN

BAN THU HOACH DANG VIEN

phải nhận thức sâu sắc về t cách và bổn phận của mình. Đồng thời, Ngời yêu cầu mỗicán bộ, đảng viên cần phải có tính đảng.+ Về chính trị, t tởng: phải nắm vững đờng lối cách mạng của Đảng; tu dỡng vềchính trị là phải chống khuynh hớng tả và khuynh hớng hữu, ngả nghiêng daođộng; phải nghiêm túc nghiên cứu, học tập lý luận Mác Lênin.+ Về đạo đức, phải rèn luyện, tu dỡng đạo đức trớc hết là trung với nớc hiếuvới dân; + Về văn hoá, học vấn, chuyên môn nghiệp vụ: cán bộ, đảng viên phải chịu khó,học tập thờng xuyên, mọi nơi, mọi lúc+ Về phơng pháp công tác, cách lãnh đạo: Cách làm việc phải thể hiện đợcnguyện vọng, tâm t của quần chúng; làm lãnh đạo phải nhận thức đúng đắn rằngquyền lực đó là của dân và nhân dân giao phó quyền lực đó cho mình.3* Chúng ta phải học tập và làm theo tấm gơng đạo đức Hồ Chí Minh vềnâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhândân trong giai đoạn hiện nay nh sau:Thứ nhất, quán triệt t tởng đạo đức Hồ Chí Minh trung với nớc, hiếu vớidân, nâng cao nhận thức về ý thức trách nhiệm, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhândân trong cán bộ, đảng viên, công chức.Thứ hai, cụ thể hoá ý thức trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dântrong từng cơ quan, đơn vị, địa phơng.Thứ ba, kết hợp chặt chẽ giữa tổ chức, hớng dẫn với động viên, kiểm tra,giám sát việc làm theo tấm gơng đạo đức Hồ Chí Minh.Thứ t, phát huy vai trò nêu gơng trong học tập và làm theo tấm gơng đạođức Hồ Chí Minh.2. Tự liên hệ bản thâna) u điểm:- Có tinh thần trách nhiệm trớc các công việc đợc giao.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty cổ Phần dịch vụ thương mại Hương Giang

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI HƯƠNG GIANG

Trong đó thì bộ máy kế toán nói chúng và kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh nói riêng có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Chính vì giữ vai trò sống còn của các doanh nghiệp nên hệ thống kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh ở các doanh nghiệp ngày càng được hoàn thiện và phát triển tốt hơn nhằm đáp ứng những yêu cầu của doanh nghiệp.
Nhưng để có một bộ máy kế toán đắc lực đòi hỏi các cán bộ quản lý kinh tế phải có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm, có óc sáng tạo. Ý thức được điều này mọi sinh viên ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã cố gắng rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ. Ngoài những kiến thức có được trên ghế nhà trường chúng ta phải tìm hiểu thực tế để bổ xung và trau dồi vốn kiến thức thực tế của mình.
Xem thêm

114 Đọc thêm

ĐỀ THI CHỦ THỂ PHÁP LUẬT KINH DOANH TỔNG HỢP

ĐỀ THI CHỦ THỂ PHÁP LUẬT KINH DOANH TỔNG HỢP

ĐỀ THI PHÁP LUẬT CHỦ THỂ KINH DOANH.

1. CTCP X đang có dự định bán một tài sản của CT cho ông A là cổ đông sang lập của CTY và muốn bạn tư vấn những vấn đề pháp lý liên quan theo quy định của LDN 2014.

Những thông tin bạn được cung cấp như sau:

1 CT có 100.000 cổ phần, trong đó ông A sở hữu 12% cổ phần.
2 CT ko có cổ phần ưu đãi.
3 Điều lệ cty ko quy định khác LDS 2014 .

Đáp án:

Căn cứ vào điểm A khoản 1 điều 162 LDN 2014 thì giao dịch giữa cty với ông A ( cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cỏ phần phổ thông) phải dc đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị chấp thuận. Tùy thuộc vào giá trị tài sản mà CTCP X dự định bán cho A mà thẩm quyền quyết định giao dịch thuộc về Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông.

Nếu tài sản định bán có giá trị nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chánh gần nhất: Thẩm quyền thuộc về hội đồng quản trị ( khoản 2 điều 162)

Nếu tài sản định bán có giá trị lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chánh gần nhất: Thẩm quyền thuộc về Đại hội đồng cổ đông ( khoản 3 điều 162)

2. Nhận định
1 Trường hợp doanh nghiệp chỉ có 1 người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú tại VIệt Nam.
Đáp án:
Nhận định đúng.
Khoản 3 điều 13 LDN có quy định :”(…) Trường hợp doanh nghiệp chỉ có 1 người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú tại Việt Nam”
Cơ sở pháp lý: Khoản 3 điều 13 LDN.
2 Chủ tịch HDQT của CTCP phải là cổ đông của công ty đó
Đáp án:
Nhận định sai.
Chủ tịch HDQT của CTCP không nhất thiết phải là cổ đông của công ty đó
Khoản 1 điều 152 LDN 2014 quy định :” Hội đồng quản trị bầu 1 thành viên của hội đồng quản trị làm chủ tịch”. Như vậy, chủ HDQT phải là thành viên của HDQT, ta xem xét lại thành viên của HDQT có bắt buộc làm cổ đông của cty hay không?

Theo điểm B khoản 1 điều 152 LDN 2014 thì thành viên của HDQT phải có tiêu chuẩn và điều kiện sau:” Có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm trong quản lý cty và ko nhất thiết phải là cổ đông”

Luật không bắt buộc thành viên HDQT phải là cổ đông của công ty đó do đó chủ tịch HDQT được bầu trong số những thành viên này  Chủ tịch HDQT có thể là hoặc không là cổ đông của công ty đó.
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 điều 152 LDN 2014.
3 CTCP A sở hữu 55% cổ phần CT TNHH B thì CT TNHH B ko dc mua cổ phần CTCP A.
Đáp án:
Nhận định đúng.
“Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc trong một số trường hợp sau đây”:
• Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó.
CT CP A sở hữu trên 50% vốn điều lệ của CT TNHH B (55%), như vậy có thể kết luận rằng CT A là CT mẹ của B. Khoản 2 điều 189 LDN 2014 quy định :” CT con không được góp vốn, mua cổ phần từ công ty mẹ.”
 CT B là CT con  Không được mua cổ phần từ công ty mẹ.
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 điều 189 LDN 2014.
4 Thành viên CT hợp danh phải là cá nhân
Nhận định sai.
Trong công ty hợp danh có 2 loại thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Điểm B khoản 1 điều 172 LDN 2014 chỉ bắt buộc thành viên hợp danh phải là cá nhân.” Luật không hề đề cập thành viên góp vốn phải là cá nhân hoặc tổ chức ko thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 điều 18.
Cơ sở pháp lý: Điểm B khoản 1 điều 172 LDN 2014
3. CT TNHH Hải Phong đầu tư 1 tỷ đồng thành lập CT Hải Minh và cử 3 người ông Nam, ông Thành, và bà Hương làm đại diện quản lý vôn ở CT Hải Minh.

Vào tháng 102014, ông Nam bán cho CT Hải Minh 1 chiếc ô tô giá 200 triệu đồng. CT Hải Minh đã vay 200 triệu đồng CT Hải Phong 200 triệu đồng từ CT Hải Phong để trả cho ông Nam. Mặc dù thời hạn trả nợ theo hợp đồng vay là 1 năm kể từ ngày 1102014 tuy nhiên đến tháng 32015 CT Hải Minh đã trả hết số nợ cho CT Hải Phong.

Tháng 102015, CT TNHH Hải Minh bị tòa án có thẩm quyền mở thủ tục phá sản theo yêu cầu của 1 chủ nợ.
Anh chị hãy cho biết:

1 Nếu áp dụng theo LDN 2014 thì hợp đồng mua ô tô giữa CT Hải Phong và ông Nam có phải là hợp đồng giữa CT với người liên quan không? Vì sao?
Đáp án:
CT TNHH Hải Minh có vốn 100% vốn điều lệ do CT TNHH Hải Phong đầu tư. Vì vậy CT TNHH Hải Minh là CT TNHH 1 thành viên do CT TNHH Hải Phong làm chủ sở hữu.
Phải
2 Việc cty Hải Minh trả nợ cho cty Hải Phong có bị vô hiệu không? Vì sao
Đáp án:
Theo điểm a khoản 1 điều 189 LDN 2014, CT Hải Phong cũng là CT mẹ của CT Hải Minh vì sở hữu 100% vốn điều lệ của CT Hải Minh.
Khoản 2 điều 59 LPS 2014 có quy định :” Giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán quy định tại khoản 1 điều này được thực hiện với những người liên quan trong thời gian 18 tháng trước ngày tòa án Nhân nhân ra quyết định mở thủ tục phá sản thì bị coi là vô hiệu.”
Khoản b điều 59 LPS 2014 quy định về những người liên quan là CT con với CT mẹ.”
Thời hạn trả hết số nợ cho CT Hải Phong, tức là trả nợ chưa tới hạn. Đối chiếu với khoản 1 điều 59 thì đây là trường hợp được quy định tại điểm C :” Thanh toán hoặc bù trừ có lợi cho chủ nợ đối với khoản nợ chưa đến hạn hoặc với số tiền lớn hơn khoản nợ đến hạn.”
Vì vậy đã có đủ căn cứ áp dụng khoản 2 điều 59 LPS 2014 để giải quyết tình huống nêu trên.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Đặc sắc trong tư tưởng triết học HCM về văn hóa và phát triển văn hóa

ĐẶC SẮC TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HCM VỀ VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA

NÉT ĐẶC SẮC TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH VỀ
VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA SỰ NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG IX KHÓA XI
Trước yêu cầu của thực tiễn, Đảng Công sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Nghị quyết là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo những quan điểm về văn hóa và phát triển văn hóa của lý luận mác xít, mà trực tiếp là tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa. Có thể khẳng định, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá vẫn luôn là một điểm tựa tinh thần vững chắc. Đồng thời, với sức sống mãnh liệt, tự nó, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá đã và đang trở thành một bộ phận của nền văn hoá Việt Nam.
Xem thêm

25 Đọc thêm

BÀI TIỂU LUẬN Đánh giá hệ thống Ngân hàng Việt Nam

BÀI TIỂU LUẬN ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÁC QUY ĐỊNH
VỀ KỶ LUẬT THỊ TRƯỜNG, MINH BẠCH THÔNG
TIN (TRỤ CỘT 3) TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN
HÀNG TẠI VIỆT NAM

MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG TIÊU CHUẨN VỐN BASEL II VÀ CÁC QUY ĐỊNH
ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM 4
1.1 Giới thiệu chung về hệ thống tiêu chuẩn vốn basel ....................................... 4
1.2 Hệ thống tiêu chuẩn vốn basel II .................................................................... 6
1.3 Các quy định áp dụng basel trụ cột 3 tại Việt Nam ....................................... 8
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ KỶ LUẬT
THỊ TRƯỜNG, MINH BẠCH THÔNG TIN (TRỤ CỘT 3) TRONG HOẠT
ĐỘNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM .................................................................. 11
2.1 Thực trạng về mức độ đáp ứng các quy định về kỷ luật thị trường, minh bạch
thông tin (trụ cột 3) trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam ............................ 11
2.2 Đánh giá thực trạng áp dụng lý thuyết trụ cột thứ ba của Basel của các NH
tại Việt Nam ......................................................................................................... 22
2.2.1 Những thành quả đạt được .................................................................... 22
2.2.2 Những mặt còn tồn tại ........................................................................... 27
2.2.3 Nhận xét chung ..................................................................................... 29
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÁC
QUY ĐỊNH VỀ KỶ LUẬT THỊ TRƯỜNG, MINH BẠCH THÔNG TIN (TRỤ
CỘT 3) TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM ........................ 30
3.1 Khuyến khích tính chủ động, giám sát và minh bạch thông tin của hệ thống
ngân hàng ............................................................................................................ 30
Đánh giá hệ thống NHTM Việt Nam 2013
3
3.2 Thực hiện bổ sung báo cáo vốn chủ sở hữu .................................................
Xem thêm

36 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN

năng phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp. Đồng thời, các trường đại học, trung tâmđào tạo, các doanh nghiệp cũng có thể sử dụng kết quả của nghiên cứu này trong thiếtkế chương trình đào tạo, huấn luyện, xây dựng các hoạt động ngoại khóa, thực tập.Hay như trong bài viết của tác giả Dương Thị Liễu “Nâng cao kỹ năng mềm chosinh viên: Nghiên cứu tình huống tại Đại học Kinh tế quốc dân” (Tạp chí Giáo dục &Đào tạo). Với kết quả khảo sát từ 574 phiếu trong phạm vi các lớp thuộc hệ chính quyđại học Kinh tế quốc dân thì thấy rằng: nhận thức của sinh viên chưa thật sâu sắc,chưa thấy rõ được tầm quan trọng của việc nâng cao kỹ năng mềm đối với hoạt động“Xin được việc làm”. Đặc biệt, khi xét về mức độ tích lũy kỹ năng thì rõ ràng có mốitương quan giữa mức độ nhận thức và sự tích lũy thực tế. Khi nhận thức sinh viênchưa cao, đồng nghĩa với sự tích lũy kỹ năng của sinh viên là rất thấp. Cụ thể, trongsố 15 tiêu chí kỹ năng được khảo sát thì chỉ có duy nhất 01 kỹ năng lắng nghe là đạtmức trên 50%, còn lại 14 kỹ năng khác đều dưới trung bình, cá biệt có tới 04 kỹ năngđạt tỷ lệ hơn 10%. Điều này lý giải phần nào câu hỏi “Tại sao doanh nghiệp vẫnkhông tuyển được sinh viên trong khi số lượng sinh viên ra trường thất nghiệp ngàycàng đông”. Ngoài ra, bổ sung cho kết luận về sự yếu kỹ năng của sinh viên thì còn cómột số đề tài nghiên cứu khoa học do sinh viên trường đại học Kinh tế quốc dân triểnkhai thực hiện như: đề tài “Giải pháp nâng cao kỹ năng sinh viên dựa trên mức độhoàn thiện kỹ năng, năng lực đào tạo nhà trường và nhu cầu doanh nghiệp”của nhómsinh viên của lớp Kinh tế phát triển K54 hay đề tài “Đánh giá mức độ quan trọng củakỹ năng mềm đối với học tập và công việc sau tốt nghiệp của sinh viên Đại học Kinh tếquốc dân” của nhóm sinh viên lớp Quản trị kinh doanh tổng hợp 54A …6Bên cạnh đó, còn có rất nhiều các báo cáo, bài báo bằng tiếng anh nghiên cứunhững vấn đề có liên quan đến đánh giá kỹ năng của người lao động Việt Nam nhưbáo cáo “Skilling up Viet Nam : Preparing the workforce for a modern marketeconomy” do nhóm nghiên cứu của WB đứng đầu là Christian Bodewig và các cộng sựthực hiện (2012). Báo cáo này đã chỉ ra rằng Việt Nam cần nâng cao một lực lượng lao
Xem thêm

107 Đọc thêm

văn hóa doanh nghiệp và những biện pháp giúp nhân viên mới hòa nhập vào văn hóa doanh nghiệp

VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP GIÚP NHÂN VIÊN MỚI HÒA NHẬP VÀO VĂN HÓA DOANH NGHIỆP

I.Lời mở đầu:
Sự thắng thế của bất cứ một doanh nghiệp nào không phải ở chỗ là có bao nhiêu vốn và sử dụng công nghệ gì mà nó được quyết định bởi việc tổ chức những con người như thế nào. Con người ta có thể đi lên từ tay không về vốn nhưng không bao giờ từ tay không về văn hoá. Văn hoá chỉ có nền tảng chứ không có điểm mốc đầu cuối.
Trong bối cảnh trạnh tranh toàn cầu, văn hóa đã thực sự trở thành một sức mạnh quan trọng của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Doanh nghiệp là một pháp nhân hay một tổ chức chủ yếu tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời. Một tổ chức kinh doanh bao giờ cũng được hình thành và điều hành bởi một nhóm các cá nhân. Khi hợp tác với nhau, các cá nhân này thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo luật. Nhưng các cá nhân này cũng có những trình độ văn hóa khác nhau và vì thế đã nảy sinh mâu thuẫn hay còn gọi là xung đột về văn hóa.Và trong một Doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp quy mô lớn, là một tập hợp những con người khác nhau về trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa, mức độ nhận thức, quan hệ xã hội, vùng miền địa lý, tư tưởng văn hóa,... chính sự khác nhau này tạo ra một môi trường làm việc đa dạng và phức tạp thậm chí có những điều trái ngược nhau. Bên cạnh đó, với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, buộc các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển phải liên tục tìm tòi những cái mới, sáng tạo và thay đổi cho phù hợp với thực tế. Làm thế nào để Doanh nghiệp trở thành nơi tập hợp, phát huy mọi nguồn lực con người, là nơi làm gạch nối, nơi có thể tạo ra lực điều tiết, tác động (tích cực hay tiêu cực) đối với tất cả các yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau, làm gia tăng nhiều lần giá trị của từng nguồn lực con người đơn lẻ, nhằm góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng và duy trì một nề nếp văn hóa đặc thù phát huy được năng lực và thúc đẩy sự đóng góp của toàn thể nhân viên vào việc đạt được các mục tiêu chung của tổ chức. Vì vậy để hiểu rõ thêm vai rò của Văn hóa doanh nghiệp trong sự thành công của doanh nghiệp thì chúng tôi xin trình bày đề tài “ Tính cách văn hóa doanh nghiệp và những biện pháp giúp nhân viên mới hòa nhập vào văn hóa doanh nghiệp”.
II.Văn hóa doanh nghiệp:
1.Khái niệm và đặc điểm:
1.1.Hiểu thế nào gọi là văn hóa doanh nghiệp:
“ Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá. Theo E.Heriôt thì “Cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi cái đó là văn hoá”. Còn UNESCO lại có một định nghĩa khác về văn hoá: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và của mỗi cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao nhiêu thế kỷ nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”.

Vậy văn hoá doanh nghiệp là gì? Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích.

Cũng như văn hoá nói chung, văn hoá doanh nghiệp có những đặc trưng cụ thể riêng biệt. Trước hết, văn hoá doanh nghiệp là sản phẩm của những người cùng làm trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu giá trị bền vững. Nó xác lập một hệ thống các giá trị được mọi người làm trong doanh nghiệp chia sẻ, chấp nhận, đề cao và ứng xử theo các giá trị đó. Văn hoá doanh nghiệp còn góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống của riêng mỗi doanh nghiệp.”
1.2.Theo giáo trình Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty của PGS.TS Nguyễn Mạnh Quân:
“ Trong mỗi tổ chức, đều tồn tại những hệ thống hay mẫu mực về giá trị đặc trưng, hình tượng, phong cách được tổ chức tôn trọng và truyền từ người này sang người khác, thế hệ này sang thế hệ khác. Chúng có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi của các thành viên. Khi phải đối đầu với các vấn đề nan giải, những hệ thống hay mẫu mực giá trị này có tác dụng chỉ dẫn các thành viên tổ chức cách thức ra quyết định hợp với phương châm hành động của tổ chức. Khái niệm được sử dụng để phản ánh những hệ thống này được gọi với nhiều tên khác nhau như văn hóa công ty hay văn hóa doanh nghiệp ( corpprate culture), văn hóa tổ chức ( organizational culture), văn hóa kinh doanh ( business culture). Đây là lĩnh vực mới phát triển, lý luận chưa hoàn chỉnh, nên tên gọi, phạm vi nghiên cứu cũng như cách tiếp cận còn chưa thống nhất như đã trình bày trong chương I.
Như đã được định nghĩa, văn hóa công ty là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên. Các giá trị và triết lý chủ đạo mà công ty chắt lọc từ những giá trị, t
Xem thêm

47 Đọc thêm

Nghiên cứu mức độ hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh TPHCM

NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH TPHCM

Khách hàng là nhân tố quyết định sự tồn tại của ngân hàng.Chiến lược kinh doanh hướng đến khách hàng đang trở thành một chiến lược kinh doanh có tầm quan trọng bậc nhất.Tạo dựng khách hàng trung thành vốn rất cần thiết để duy trì hoạt động thường xuyên của ngân hàng.Đáp ứng kịp thời với những thay đổi trong nhu cầu của khách hàng để phục vụ khách hàng tốt hơn.Xác định các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng.Đo lường mức độ hài lòng của khách hàng.Kiến nghị một số giải pháp nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng.
Xem thêm

121 Đọc thêm