CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG TRIẾT HỌC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG TRIẾT HỌC":

Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận và xác định mối quan hệ giữa bản thân với gia đình, nhà trường, xã hội

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG TỪ ĐÓ RÚT RA Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ XÁC ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢN THÂN VỚI GIA ĐÌNH, NHÀ TRƯỜNG, XÃ HỘI

Mục lục
Lời mở đầu
Nội dung
• I. Các khái niệm
• II. Mối quan hệ biện chứng
• III. Ý nghĩa phương pháp luận
• IV. Liên hệ giữa bản thân với gia đình, nhà trường, xã hội
Kết luận.

Tài liệu tham khảo:
• Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin, Bộ giáo dục và Đào tạo, nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2014
• Wikipedia “Cái chung và cái riêng”





LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của tri thức, đòi hỏi mỗi con người phải được đào tạo trình độ học vấn, năng lực; tu dưỡng và rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức lao động, ý thức cộng đồng, bảo vệ tài nguyên, môi trường… để đáp ứng yêu cầu của sự biến đổi khoa hoc công nghệ cũng như sự biến đổi ngày càng nhanh của xã hội.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hiện nay, con người và nguồn nhân lực được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của đất nước. Chúng ta phải khẳng định rằng con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển kinh tế xã hội. Đồng thời những con người ấy phải có tri thức, có đạo đức.
Đặt mỗi cá nhân vào mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội ta lại càng thấy tầm quan trọng giữa mối liên hệ chung – riêng. Theo quan điểm triết học Mác – Lê nin: “Cái riêng xuất hiện chỉ tồn tại được trong một khoảng thời gian nhất định và khi nó mất đi sẽ không bao giờ xuất hiện lại, cái riêng là cái không lặp lại.Cái chung tồn tại trong nhiều cái riêng, khi một cái riêng nào đó mất đi thì những cái chung tồn tại ở cái riêng ấy sẽ không mất đi, mà nó vẫn còn tồn tại ở nhiều cái riêng khác.”
Để tìm hiểu một cách rõ ràng hơn về mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất cũng như áp dụng vào cuộc sống nhóm 7 chúng em chon đề tài “ Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng. Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận và xác định mối quan hệ giữa bản thân với gia đình, nhà trường, xã hội.”



NỘI DUNG
I. Các khái niệm.
Thế giới vật chất xung quanh con người tồn tại bằng muôn vàn các sự vật, hiện tượng rất khác nhau về màu sắc, trạng thái, tính chất, hình dáng, kích thước,… nhưng đồng thời giữa chúng cũng có rất nhiều những đặc điểm, thuộc tính chung giống nhau.
+ Cái riêng là phạm trù triết học dung dể chỉ một sự vật, hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định trong thế giới khách quan.
Ví dụ: ngôi nhà, cái bàn, hiện tượng ô nhiễm môi trường, quá trình nghiên cứu thị trường của một công ti.
Sự tồn tại cá thể của cái riêng cho thấy nó chứa đựng trong các cấu trúc sự vật khác. Tính chất này được diễn đạt bằng khái niệm cái đơn nhất. Cái đơn nhất là một phạm trù triết học dung để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ tồn tại ở một kết cấu vật chất nhất định và không lặp lại ở kết cấu vật chất khác. Tính cách của một người, vân tay, nền văn hóa của một dân tộc,… là những cái đơn nhất. Như vậy, cái đơn nhất không phải là một sự vật, một hiện tượng đơn lẻ mà nó tồn tại trong cái riêng. Nó chỉ là đặc trưng của cái riêng.
+ Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
Ví dụ : Cái chung của người Việt Nam là có một lòng lồng nàn yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, sẵn sàng hi sinh tất cả để bảo vệ nền độc lập của nước nhà. Cái chung của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư của công nhân làm thuê.
+ Cái đơn nhất là một phạm trù triết học chỉ những mặt, những thuộc tính… chỉ có ở một sự vật mà không lặp lại ở sự vật khác.
Ví dụ: Đều là cây nhưng sao mỗi loại cây lại có những đặc điểm khác nhau. Chẳng hạn đều là hoa hồng nhưng tại sao hồng nhung lại có mùi hương quyến rũ, hoa hồng vàng lại nhẹ nhàng, hồng xanh kiêu sa. Đó chính là đặc điểm riêng – “cái đơn nhất” của nó.
) Phân biệt giữa cái chung bản chất và cái chung không bản chất:
+ Cái chung không bản chất là cái chung thường do sự ngẫu hợp mà có.
Chẳng hạn cái chung bản chất với phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật là vật chất luôn vận động. Như vậy, tính lặp lại là đặc trưng của của cái chung. Tính chất này cho thấy những mặt, những mối liên hệ cơ bản chi phối nhiều quá trình vật chất khác nhau. Nó cho ta một cách nhìn sự vật trong mối liên hệ qua lại, gắn liền với nhau.
Ví dụ : Cuộc cách mạng là cái chung, đó là sự thay đổi từ cái này sang cái khác tiến bộ hơn. Nhưng trong các cuộc cách mạng thì có nhiều loại (cách mạng tư sản, cách mạng dân tộc dân chủ),đó là những cái riêng.
+ Còn cái chung bản chất lại là cái chung giống nhau của rất nhiều sự vật hiện tượng mang tính cơ bản là đặc trưng để nhận dạng một sự vật hiện tượng nào đó.
Ví dụ: Cái chung của các loại cây là quá trình quang hợp, hô hấp, trao đổi chất với môi trường xung quanh. Nếu một cái cây nào mà không có những đặc điểm đấy sao con gọi là cây nữa. Hay như ở con người cái chung bản chất chính là tình cảm, mối quan hệ với gia đình, xã hội.
II. Quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng :
Những nhà nghiên cứu triết học MácLenin đề cập đến có hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung, đó là phái duy thực và phát duy danh. Triết học MácLenin cho rằng, cả quan niệm của phái duy thực và phái duy danh đều sai lầm ở chỗ họ đã tách rời cái riêng khỏi cái chung, tuyệt đối hóa cái riêng, phủ nhận cái chung, hoặc ngược lại. Họ không thấy sự tồn tại khách quan và mối liên hệ khăng khít giữa chúng.
Phái duy thực
Phái duy thực là trường phái triết học có ý kiến về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, theo phái này thì cái riêng chỉ tồn tại tạm thời, thoáng qua, không phải là cái tồn tại vĩnh viễn, chỉ có cái chung mới tồn tại vĩnh viễn, thật sự độc lập với ý thức của con người. Cái chung không phụ thuộc vào cái riêng, mà còn sinh ra cái riêng. Cái chung là những ý niệm tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những cái riêng chỉ có tính chất tạm thời, cái riêng do cái chung sinh ra.
Ví dụ: Con người là một khái niệm chung và chỉ có khái niệm con người mới tồn tại mãi mãi, còn những con người cụ thể là khái niệm tạm thời vì những con người cụ thể (cá nhân) này có thể mất đi (chết đi)
Phái duy danh
Phái duy danh cho rằng, chỉ có cái riêng tồn tại thực sự, còn cái chung là những tên gọi trống rỗng, do con người đặt ra, không phản ánh cái gì trong hiện thực. Quan điểm này không thừa nhận nội dung khách quan của các khái niệm. Những khái niệm cụ thể đôi khi không có ý nghĩa gì trong cuộc sống của con người, chỉ là những từ trống rỗng, không cần thiết phải bận tâm tìm hiểu. Ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bị xóa nhòa và con người không cần phải quan tâm đến cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học nữa.
Ví dụ: Không thể nhận thấy, nắm bắt một con người chung chung mà con người chỉ có thể được nhận thấy, nắm bắt qua những con người thực thể cụ thể, thông qua các cá nhân cụ thể.
Như vậy ranh giới giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bị xóa nhòa và con người không cần phải quan tâm đến cuộc đấu tranh giữa các quan điểm triết học.
Cả hai quan điểm của phái duy thực và phái duy danh đều sai lầm ở chỗ họ đã tách rời cái riêng khỏi cái chung, tuyệt đối hóa cái riêng, phủ nhận cái chung hoặc ngược lại. Họ không thấy được sự tồn tại khách quan và mối liên hệ khăng khít giữa chúng.
Phép biện chứng duy vật của Triết học MarxLenin cho rằng cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau; phạm trù cái riêng được dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định, còn phạm trù cái chung được dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
Trong tác phẩm Bút ký Triết học, Lênin đã viết rằng:
“Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng. Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung. Bất cứ cái riêng nào cũng là cái chung. Bất cứ cái chung nào cũng là một bộ phận, một khía cạnh, hay một bản chất của cái riêng. Bất cứ cái chung nào cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi vật riêng lẻ. Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái chung”
_Lênin_
Cụ thể là:
Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình. Nghĩa là không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng.
Chẳng hạn, không có sinh viên nói chung nào tồn tại bên cạnh sinh viên ngành kinh tế đầu tư, sinh viên ngành kinh tế phát triển… nào cũng phải đến trường học tập, nghiên cứu, thi cử theo nội quy nhà trường. Những đặc tính chung này lặp lại ở những sinh viên riêng lẻ và được phản ánh trong khái niệm “sinh viên”.
Hay như quy luật bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư bản là một cái chung, không thế thì không phải là nhà tư bản, nhưng quy luật đó được thể hiện ra ngoài dưới những biểu hiện của các nhà tư bản (cái riêng). Rõ ràng, cái chung tồn tại thực sự nhưng không tồn tại ngoài cái riêng mà phải thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của mình.
Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Nghĩa là không có cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với cái chung.
Ví dụ, mỗi con người là một cái riêng, nhưng mỗi người không thể tồn tại ngoài mối liên hệ với xã hội và tự nhiên. Không cá nhân nào không chịu sự tác động của các quy luật sinh học và các quy luật xã hội. Đó là những cái chung trong mỗi con người.
Một ví dụ khác, nền kinh tế của mỗi quốc gia, dân tộc với tất cả những đặc điểm phong phú của nó là một cái riêng. Nhưng nền kinh tế nào cũng bị chi phối bởi quy luật cung cầu, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đó là cái chung. Như vậy, sự vật hiện tượng nào cũng bao hàm cái chung.
Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc hơn cái riêng. Cái riêng phong phú hơn cái chung, vì ngoài những đặc điểm chung, cái riêng còn có đơn nhất. Cái chung sâu sắc hơn cái riêng, vì cái chung phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại nhiều cái riêng cùng loại.
Do vậy, cái chung là cái gắn liền với cái bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển cảu cái riêng. Cái riêng là sự kết hợp giữa cái chung và cái đơn nhất. Cái chung chỉ giữ phần bản chất, hình thành nên chiều sâu của sự vật, còn cái riêng là cái toàn bộ vì nó là tập thể sống động, trong mỗi cái riêng luôn tồn tại đồng thời cả cái chung và cái đơn nhất.
Nhờ thế, giữa những cái riêng luôn có sự tách biệt, vừa có thể tác động qua lại lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau, sự “va chạm” giữa những cái riêng vừa làm cho những sự vật xích lại gần nhau bởi cái chung, vừa làm cho sự vật tách xa bởi cái đơn nhất. Cũng nhờ sự tương tác này giữa những cái riêng mà cái chung có thể được phát hiện…
Ví dụ, người nông dân Việt Nam bên cạnh cái chung với nông dân của các nước trên thế giới là có tư hữu nhỏ, sản xuất nông nghiệp, sống ở nông thôn… Còn đặc điểm riêng là chịu ảnh hưởng của văn hóa làng xã, của các tập quán lâu đời của dân tộc, của điều kiện tự nhiên, của đất nước, nên rất cần cù lao động, có khả năng chịu đựng được những khó khăn trong cuộc sống.
Thứ tư, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật. Sở dĩ như vậy vì trong hiện thực cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay, mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất. Về sau theo quy luật, cái mới hoàn thiện dần và thay thế cái cũ trở thành cái chung, cái phổ biến.
Ngược lại, cái cũ lúc đầu là cái chung, cái phổ biến nhưng về sau do không phù hợp với điều kiện mới nên mất dần đi và trở thành cái đơn nhất. Như vậy sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện cái mới ra đời thay thế cái cũ. Đồng thời sự chuyển hóa từ cái chung thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định, bị thay thế bằng cái mới.
Ví dụ, sự thay đổi một đặc tính nào đấy của sinh vật trước sự thay đổi của môi trường diễn ra bằng cách ban đầu xuất hiện một đặc tính ở một cá thể riêng biệt. Do phù hợp với điều kiện mới, đặc tính đó được bảo tồn, duy trì ở nhiều thế hệ và trở thành phổ biến của nhiều cá thể. Những đặc tính không phù hợp với điều kiện mới sẽ mất dần đi và trở thành cái đơn nhất.
Sự phân biệt giữa cái chung và cái đơn nhất nhiều khi chỉ mang tính tương đối. Có những đặc điểm xét trong nhóm sự vật này là cái đơn nhất nhưng xét trong nhóm sự vật khác lại là cái chung.
Ví dụ: quy luật cung cầu là cái chung trong nền kinh tế thị trường nhưng trong toàn bộ các hình thức kinh tế trong lịch sử thì nó chỉ là cái đơn nhất, đặc trưng cho nền kinh tế thị trường, nhưng trong toàn bộ các hình thức kinh tế trong lịch sử, nó chỉ là cái đơn nhất, đặc trưng cho nền kinh tế thị trường mà không thể là đặc điểm chung cho mọi hình thức khác như kinh tế tự cung tự cấp.
Trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng trong những điều kiện nhất định, cái đơn nhất có thể biến thành cái chung và ngược lại, cái chung có thể biến thành cái đơn nhất, nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất có lợi cho con người trở thành cái chung và cái chung bất lợi trở thành cái đơn nhất.
Nói chung việc giải quyết mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng không hề đơn giản, Lênin đã cho rằng:
“Con người bị rối lên chính là ở trong phép biện chứng của cái riêng và cái chung”
_ Lênin _

III. Ý nghĩa phương pháp luận.

Từ việc phát hiện mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, Triết học MácLênin nêu ra một số ý nghĩa phương pháp luận cho mối quan hệ này để ứng dụng vào thực tiễn và tư duy, cụ thể là:
• Chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của mình.
• Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất chi phối cái riêng, nên nhận thức phải nhằm tìm ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng. Trong hoạt động thực tiễn nếu không hiểu biết những nguyên lý chung (không hiểu biết lý luận), sẽ không tránh khỏi rơi vào tình trạng hoạt động một cách mò mẫm, mù quáng.
• Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định cái đơn nhất có thể biến thành cái chung và ngược lại cái chung có thể biến thành cái đơn nhất, nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất có lợi cho con người trở thành cái chung và cái chung bất lợi trở thành cái đơn nhất.
Trong Bút ký Triết học, Lênin viết:
“Người nào bắt tay vào những vấn đề riêng trước khi giải quyết vấn đề chung, thì kẻ đó, trên mỗi bước đi, sẽ không sao tránh khỏi những vấp váp những vấn đề chung một cách không tự giác. Mà mù quáng vấp phải những vấn đề đó trong từng trường hợp riêng có nghĩa là đưa ra những chính sách của mình đến chỗ có những sự giao động tồi tệ nhất và mất đi hẵn tính nguyên tắc.”

IV. Mối quan hệ giữa bản thân với gia đình, nhà trường và xã hội
) Quan hệ giữa bản thân và gia đình.
Trong bất kỳ một mối quan hệ nào cũng đều chứa đựng những nét chung và nét riêng biệt vậy nên trước tiên em đi xét về mối quan hệ giữa bản thân và gia đình:
Gia đình là tổ ấm là nơi chở che là bến bờ vững chắc cho mỗi cá nhân, mỗi con người. Ngoài ra, nơi đây còn là một tổ hợp của các chỉnh thể có các mối liên hệ với nhau như vợchồng, cha mẹcon, cháu –ông,bà... họ sống hạnh phúc, đầm ấm và chan hòa.Ở đó tình thương được tồn tại, được vun đắp và gieo trồng trong mỗi con người. Còn bản thân là một cái riêng mang những đặc tính riêng biệt về tính cách, học vấn, nhận thức, cách giao tiếp,.... cái riêng này tạo nên sự khác biệt cho mỗi thành viên trong gia đình.
Cụ thể hóa một chút ta thấy mỗi con người sinh ra đểu có họ tên, ngày tháng năm sinh, có các đặc điểm nhận dạng dấu vân tay,vân tai... đặc điểm di truyền như ADN, tính cách: nhu mì, hiền lành... tất cả những đăc điểm đó tạo nên sự khác biệt giữa các thành viên với nhau cũng như giữa những con ngưới với con người trong một xã hội. Còn đối với gia đình, khi ta nhắc đến 2 từ đó thôi thì ta cũng có thể hình dung ra được những đặc điểm chung nhất để tạo nên một gia đình đó là mỗi thành viên trong gia đình đó có mối liên hệ với nhau về mặt huyết thống hay có mối liên hệ vể mặt luật pháp: ông, bà, cha,me, con ,anh chị em... Tất cả họ cùng sống trong một mái nhà cùng lao động, cùng sinh hoạt, cùng xây đắp nên một gia đình hoàn chỉnh hơn. Và gia đình là nơi dưỡng dục về thể chất, tinh thần, hình thành nhân cách cho mỗi con người trong xã hội.
Từ trường học đầu tiên này, mỗi cá nhân được những người thầy thân yêu là cha mẹ, ông bà giáo dục kiến thức, kỹ năng sống để có thể thích ứng, hòa nhập vào đời sống cộng đồng như cách ứng xử giữa các thành viên gia đình (cha mẹ thương yêu chân thành, tôn trọng, giúp đỡ nhau; cha mẹ, ông bà vừa yêu quý, vừa nghiêm khắc và bao dung với con cháu), giữa gia đình với họ hàng, với láng giềng, với cộng đồng (trọng nhân nghĩa, làm điều thiện, sống chan hòa, ghét thói gian tham, điều giả dối), qua đó giúp con cháu tiếp thu một cách tự nhiên, nhẹ nhàng những bài học cuộc đời nhưng lại tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách.
Trong gia đình, người già được chăm sóc khỏe mạnh, vui vẻ lạc quan, truyền lại cho con cháu vốn sống, cách ứng xử đẹp. Nơi đó, con cái biết yêu kính, vâng lời cha mẹ, vợ chồng quan tâm chia sẻ vui buồn cực nhọc với nhau…Ở đó, mỗi người cảm nhận được sự gần gũi, thân thương: từ khoảng sân, mái nhà, chiếc giường, … đến những quan hệ họ hàng thân thiết.
Xem thêm

10 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI RIÊNG VÀ CÁI CHUNG VÀ VẬN DỤNG NÓ TRONG XÂY DỰNG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI RIÊNG VÀ CÁI CHUNG VÀ VẬN DỤNG NÓ TRONG XÂY DỰNG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

Đường lối phát triển đó đã được Đảng ta chỉ rõ: Xây dựng kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN; luôn giữ vững định hướng XHCN trong quả trình đổi mới, kết hợ[r]

21 Đọc thêm

QUAN HỆ GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

QUAN HỆ GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Từ thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời gian qua và căn cứ vào yêu cầu phát triển trong thời gian tới, có thể xác định những phương hướng, nhiệm[r]

31 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁI RIÊNG VÀ CÁI CHUNG VẬN DỤNG VÀO XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁI RIÊNG VÀ CÁI CHUNG VẬN DỤNG VÀO XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA

Để thực hiện mục tiêu đó, phải tìm kiếm nhiều giải pháp, không giản đơn chỉ xem xét quan hệ sở hữu mà là giải quyết đồng bộ từ vấn đề sở hữu, quản lý, phân phối; tìm động lực cho sự phát[r]

15 Đọc thêm

QUAN HỆ GIỮA CÁI CHUNG CÁI RIÊNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

QUAN HỆ GIỮA CÁI CHUNG CÁI RIÊNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRANG 19 thu hút một lượng vốn không nhỏ,góp phần giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động.nhà nước đã ban hành và bổ sung nhiều văn bản pháp lý và các chính sách cụ thể liên q[r]

45 Đọc thêm

BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung của tồn tại và nhận thức, là thái độ con người đối với thế giới, là khoa học về những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

29 Đọc thêm

Triết học và vai trò của nó trong đời sống xã hội

TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

a. Khái niệm “Triết học”, nguồn gốc của triết học

Triết học ra đời gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN) tại một số trung tâm văn minh cổ đại như Trung Hoa, Ấn Độ, Hy Lạp.

Theo ng¬ười Ấn Độ, triết học đọc là darshana, có nghĩa là sự chiêm ngưỡng, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con ng¬ời đến với lẽ phải. Còn ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết. Đó không phải là sự miêu tả, mà là quá trình tranh luận để tìm bản chất của đối tượng.

Ở ph¬ương Tây, thuật ngữ Triết học có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp Philôsôphia”, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Triết học đ¬ợc xem là hình thái cao nhất của tri thức, có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật.

Khái quát lại, triết học là một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con ng¬ời về thế giới; về vị trí, vai trò của con ng¬ời trong thế giới ấy.

Với quan niệm đó, triết học cổ đại không có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà đ¬ợc xem là khoa học của mọi khoa học.

Từ thế kỷ XV XVI đến thế kỷ XVIII, các bộ môn khoa học chuyên ngành, nhất là khoa học thực nghiệm phát triển mạnh mẽ, dần dần tách ra khỏi triết học, từng bước làm phá sản tham vọng muốn đóng vai trò khoa học của mọi khoa học của một số học thuyết triết học lúc bấy giờ, đặc biệt là triết học Hêghen.

Đầu thế kỷ XIX, triết học Mác ra đời đã đoạn tuyệt hoàn toàn với quan niệm trên và xác định đối t¬ợng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trư¬ờng duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Quan niệm macxit cho rằng:Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái độ con ng¬ời đối với thế giới; là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và t¬ư duy.

Khác với các khoa học cụ thể chỉ đi vào nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt của thế giới, triết học xem xét thế giới nh¬ một chỉnh thể và đem lại một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận. Mặc dù có sự khác nhau giữa các hệ thống triết học, nh¬ưng điểm chung của chúng là đều nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ của con ng¬ời nói chung, của tư duy nói riêng với thế giới.

Như¬ vậy, với tư¬ cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, khái quát nhất, triết học không thể ra đời cùng với sự xuất hiện của xã hội loài nư¬ời. Triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau:
Xem thêm

69 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung của tồn tại và nhận thức, là thái độ con người đối với thế giới, là khoa học về những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

28 Đọc thêm

Chủ nghĩa duy thực tây âu trung cổ tiểu luận cao học

CHỦ NGHĨA DUY THỰC TÂY ÂU TRUNG CỔ TIỂU LUẬN CAO HỌC

Triết học trong thời kì Trung cổ ở Tây Âu hình thành trong khoảng từ thế kỉ V XV, trong đó tôn giáo và thần học là hệ tư tưởng thống trị trong đời sống tinh thần xã hội. Tôn giáo đã bắt các hình thái ý thức xã hội phải phụ thuộc vào nó. Pháp luật, khoa học tự nhiên, triết học tất cả nội dung của các khoa học đó đều được trình bày sao cho phù hợp với học thuyết của nhà thờ. Điều này cùng với đặc điểm kinh tế xã hội Tây Âu lúc bấy giờ đã tạo cơ sở, nền tảng cho sự ra đời và chi phối đặc điểm của tư tưởng triết học trung cổ Tây Âu.
Một trong những đặc trưng nổi bật của tư tưởng triết học Trung cổ Tây Âu cuộc đấu tranh giữa hai phái Duy thực và Duy danh. Xét đến cùng, cuộc đấu tranh này phản ánh ít nhiều hai xu hướng triết học đối lập nhau: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Phái Duy thực khẳng định: những khái niệm phổ biến tồn tại thực sự và có trước sự tồn tại của các sự vật riêng lẻ; còn phái Duy danh thì ngược lại: có các sự vật riêng lẻ tồn tại thực tế thì mới có những khái niệm về chúng, các khái niệm về các sự vật chẳng qua chỉ là những từ, những thuật ngữ diễn đạt các sự vật đó, những tên gọi các sự vật đó, chỉ là sự đặt tên cho các sự vật đó. Phái Duy thực tìm cách xây dựng một hệ thống tư tưởng theo lý tính để củng cố tôn giáo.
Trung cổ là thời đại chiếm ưu thế của hình thức tư duy tôn giáo, mà đối với Tây Âu là Kytô giáo. Triết học trở thành công cụ của thần học, chịu sự chi phối toàn diện của thần học Kytô giáo ở khía cạnh bản thể luận, nhận thức luận và đạo đức, nhân sinh – xã hội. Chức năng của triết học không phải là tìm kiếm và khám phá chân lý, mà chứng minh cho chân lý đã sẵn có. Mặc dù chúng ta không thể phủ nhận tính chất duy tâm thần bí của triết học thời kỳ này nói chung, của những quan điểm chủ nghĩa duy thực nói riêng, song khi xem xét một cách toàn diện, có thể thấy rằng triết học thời kỳ này không hoàn toàn là một màu xám, không hoàn toàn đứt gãy với nền triết học trước hay sau đó. Hơn nữa, thông qua cuộc đấu tranh rất quyết liệt giữa chủ nghĩa duy thực và chủ nghĩa duy danh, giữa tư tưởng thần học triết học, giữa niềm tin tôn giáo lý trí… các nhà triết học thể hiện mong muốn tạo ra được những dấu ấn riêng, góp phần tìm tòi, nghiên cứu, tạo ra màu sắc riêng trong tư tưởng triết học nhân loại. Chính bởi những lí do đó, em lựa chọn đề tài: “ Chủ nghĩa duy thực Tây Âu trung cổ” nhằm tìm hiểu một cách khách quan, rõ ràng về các quan điểm triết học của chủ nghĩa duy thực thời kì này, góp phần hiểu sâu sắc hơn về nền triết học Tây Âu thời Trung cổ.
Xem thêm

17 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO & TRIẾT HỌC VÊĐANTA Ở ẤN ĐỘ THỜI CỔ ĐẠI

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO & TRIẾT HỌC VÊĐANTA Ở ẤN ĐỘ THỜI CỔ ĐẠI

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO & TRIẾT HỌC VÊĐANTA Ở ẤN ĐỘ THỜI CỔ ĐẠI

- Giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về triết học Ấn Độ cổ đại nói chung
cùng hai trường phái triết học Phật giáo và triết học Vêđanta nói riêng.
- Làm rõ những nét tương đồng và khác biệt giữa hai trường phái này.

15 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI

TIỂU LUẬN CAO HỌC SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI

1. Lí do lựa chọn đề tài
Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử văn hóa nhân loại nói chung và tư tưởng triết học nói riêng, triết học phương Đông và triết học phương Tây có nhiều nội dung phong phú,đa dạng. Những giá trị của nó đã để lại dấu ấn đậm nét và có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử loài người. Triết học phương Đông và triết học phương Tây không thể thoát ly những vấn đề chung của lịch sử triết học. Mặc dù vậy giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây vẫn có những đặc điểm đặc thù của nó. Nghiên cứu về triết học phương Đông và triết học phương Tây, đặc biệt là so sánh sự khác nhau của nó là một vấn đề phức tạp nhưng cũng rất bổ ích, vì qua đó ta có thể hiểu biết sâu sắc thêm những giá trị về tư tưởng văn hóa của nhân loại. Mặt khác bản sắc văn hóa Việt Nam ảnh hưởng khá sâu sắc bởi nền triết học phương Đông, do đó nghiên cứu những đặc điểm của triết học phương Đông trong mối quan hệ với triết học phương Tây, đặc biệt là những tư tưởng nhân văn cao đẹp sẽ giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc văn hóa Việt Nam. Vì vậy, tôi lựa chọn vấn đề “Sự giống nhau và khác nhau giữa triết học phương Đông cổ đại và triết học phương Tây cổ đại” làm đề tài nghiên cứu trong tiểu luận của mình.
II. Mục đích nghiên cứu
Phân tích đặc điểm của lịch sử triết học phương Đông và phương Tây qua đó rút ra những đặc điểm giống và khác nhau giữa chúng để hiểu sâu sắc hơn lịch sử hai nền triết này.
III. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm của lịch sử triết học phương Đông và phương Tây cổ đại.
IV. Kết cấu đề tài
Tiểu luận gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận. Trong đó nội dung gồm có hai chương.
Xem thêm

17 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC LIÊN HỆ VỚI MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC LIÊN HỆ VỚI MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN

LỜI MỞ ĐẦU

Triết học từ xa xưa đã được coi là khoa học về trí tuệ. Nó được xem là một bộ môn tổng hợp bao gồm mọi sự hiểu biết của con người về thế giới. Có những hiểu biết có tính chất chung khái quát. Có những hiểu biết có tính chất cụ thể về những lĩnh vực riêng mà ngày nay ta gọi là toán, lý, hóa, lịch sử… cũng vẫn được xem đó là triết học.
Triết học Mác là một hệ thống triết học khoa học và cách mạng, chính vì vậy nó đã trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại mới. Triết học Mác đã kế thừa những tinh hoa, từ đó đưa ra những nguyên lý khoa học giúp con người nhân thức đúng và cải tạo thế giới.
Sự ra đời triết học Mác tạo nên sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử phát triển triết học của nhân loại. C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa một cách có phê phán những thành tựu tư duy nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triết học triệt để, không điều hoà với chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình. Có thể nói triết học Mác – Lênin là phương pháp luận chứng duy nhất đúng đắn đối với khoa học tự nhiên và xã hội. Lênin viết: “Triết học của Mác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị, nó cung cấp cho loài người và nhất là cho giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại”.
Một trong những nội dung quan trọng cần tìm hiểu của Triết học Mác –Lênin đó là về các cặp phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật. Phạm trù là loại khái niệm chung nhất phản ánh những mối liên hệ bản chất của sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan và tư duy. Đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng thì phạm trù được nghiên cứu với tính cách là những liên hệ đối lập biện chứng để tạo ra những cặp phạm trù. Ở bài tiểu luận này, em xin chọn chủ đề nghiên cứu về:
“ Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực. Liên hệ với một số vấn đề thực tiễn”.
Bài tiểu luận của em trong quá trình làm còn nhiều sai sót, mong nhận được sự góp ý của thầy cô để bài làm được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Đức Luận đã chỉ bảo, hướng dẫn giúp em hoàn thành bài tiểu luận này.
Xem thêm

14 Đọc thêm

Mối quan hệ giữa Chủ nghĩa Duy vật biện chứng Khoa học Tự nhiên

MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG KHOA HỌC TỰ NHIÊN

ĐƯỢC ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ KHOA HỌC
Lịch sử hình thành và phát triển hơn hai nghìn năm của triết học và khoa học
tự nhiên đã cho thấy hai lĩnh vực tri thức ấy luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau mà còn chứng minh rằng, triết học duy vật biện chứng tìm thấy ở khoa học tự nhiên những cơ sở khoa học vững chắc để khái quát nên những nguyên lý, quy luật chung nhất của mình, còn khoa học tự nhiên lại tìm thấy trong triết học duy vật biện chứng thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn, sắc bén để đi sâu nghiên cứu giới tự nhiên. Việc nghiên cứu và nắm vững mối quan hệ này có vị trí và vai trò rất quan trọng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, đặc biệt trong công tác giảng dạy và nghiên cứu các môn lý luận chính trị nói chung, triết học nói riêng.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Tiểu luận triết học Đề tài: Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI: SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA NHO GIA VÀ ĐẠO GIA

Tiểu luận triết học Đề tài: Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo gia
Triết học ra đời trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở cả phương Đông và phương Tây vào khoảng thế kỷ VIII - thế kỷ VI trước Công Nguyên. Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.
Xem thêm

35 Đọc thêm

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ĐẠO GIA VÀ PHÁP GIA TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ĐẠO GIA VÀ PHÁP GIA TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC ĐẠO GIA VÀ PHÁP GIA TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI

Triết học là một hệ thống tri thức lí luận chung nhất của con người về thế giới về bản than con người và về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó. Triết học cổ đại Trung Quốc nói chung và tư tưởng triết học Đạo gia và Pháp gia nói riêng cũng vậy. Hai tư tưởng triết học xuất hiện từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc tuy đối lập nhau về quan điểm chính trị xã hội, cai trị quốc gia thời bấy giờ, nhưng nhìn chung lại, cả hai tư tưởng đều hướng đến sự yên bình cho xã hội chiến tranh lúc bấy giờ.
Xem thêm

17 Đọc thêm