NĂM NGÂN SÁCH HAY CÒN GỌI LÀ NĂM TÀI CHÍNH TÀI KHOÁ LÀ GIAI ĐOẠN MÀ TRONG ĐÓ DỰ TOÁN THU CHI TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC ĐÃ ĐƯỢC PHÊ CHUẨN CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NĂM NGÂN SÁCH HAY CÒN GỌI LÀ NĂM TÀI CHÍNH TÀI KHOÁ LÀ GIAI ĐOẠN MÀ TRONG ĐÓ DỰ TOÁN THU CHI TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC ĐÃ ĐƯỢC PHÊ CHUẨN CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH":

Nội dung của nguyên tắc ngân sách toàn diện và sự thể hiện trong luật ngân sách nhà nước 2002

Nội dung của nguyên tắc ngân sách toàn diện và sự thể hiện trong luật ngân sách nhà nước 2002

Nội dung của nguyên tắc ngân sách toàn diện và sự thể hiện trong Luật Ngân sách nhà nước 2002 Bài tập cá nhân Luật Tài chính Chuyên mục Bài tập cá nhân, Luật Tài chính Nguyên tắc ngân sách toàn diện là một trong những quan niệm cổ điển về ngân sách, được xây dựng đầu tiên ở các nước có nền dân chủ sớm phát triển như Anh, Pháp, Đức… từ thế kỉ XVII, XVIII. Cho đến ngày nay, nguyên tắc này vẫn được giới khoa học đương thời thừa nhận như một quan điểm khoa học có tính lịch sử và đi xa hơn, họ còn luôn tìm cách củng cố, phát triển và đổi mới chúng để cho phù hợp với bối cảnh của nền tài chính công hiện đại. 1. Nội dung của nguyên tắc ngân sách toàn diện Theo từ điển mở Wikitonary, “toàn diện” có nghĩa là “đầy đủ các mặt, không thiếu mặt nào”. Cũng theo triết học Mác Lênin, nguyên tắc toàn diện là một trong những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng của phép biện chứng duy vật, đòi hỏi khi xem xét và nghiên cứu sự vật phải nghiên cứu tất cả các mặt, các yếu tố kể cả các mặt khâu trung gian, gián tiếp có liên quan đến sự vật. Dựa vào đó, “ngân sách toàn diện” có thể được hiểu khái quát là một bản ngân sách có đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật và không được phép thiếu một nội dung nào, đồng thời các nội dung phải được thể hiện rõ ràng, khúc triết trong cùng một bản dự toán ngân sách. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 1 Luật NSNN năm 2002 “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán” thì có thể thấy ngân sách nhà nước là một văn kiện tài chính quan trọng và bao giờ cũng được cấu trúc bởi hai phần, đó là phần thu và phần chi. Do đó, một ngân sách toàn diện trước hết và cơ bản phải luôn thể hiện được đầy đủ hai bộ phận nêu trên. Cụ thể, nguyên tắc này có thể được diễn tả bằng hai nội dung cơ bản sau đây: Thứ nhất: Mọi khoản thu và mọi khoản chi đều phải ghi và thể hiện rõ ràng trong bản dự toán ngân sách nhà nước hàng năm đã được Quốc hội quyết định. Có nghĩa là các khoản thu và chi trong ngân sách nhà nước phải được hợp thành một tài liệu duy nhất, phản ảnh đầy đủ mọi chương trình tài chính của Chính phủ, không được phép để ngoài dự toán ngân sách bất kỳ khoản thu, chi nào dù là nhỏ nhất. Nguyên tắc này bảo đảm tính nghiêm ngặt của ngân sách nhà nước, giúp nhà nước nắm và điều hành toàn bộ ngân sách nhà nước; chống tùy tiện, đảm bảo cho ngân sách được thiết lập rõ ràng, cụ thể, minh bạch, đầy đủ và dễ kiểm soát, tránh sự thất thoát, lãng phí, sự gian lận hay biển thủ công quỹ trong quá trình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước hàng năm. Thứ hai: Các khoản thu và chi không được phép bù trừ cho nhau mà phải thể hiện rõ ràng từng khoản thu và mỗi khoản chi trong mục lục ngân sách nhà nước được duyệt; không được phép dùng riêng một khoản thu cho một khoản chi cụ thể nào mà mọi khoản thu đều được dùng để tài trợ cho mọi khoản chi. Hay nói cách khác, các khoản thu và các khoản chi phải được ghi vào ngân sách bằng các đại lượng tiền tệ cụ thể, trong đó khoản thu được tập hợp thành một khối thống nhất không phân biệt để thực hiện các khoản chi. Mặc dù vậy, các khoản chi có thể được chuyên trách hóa (được chia ra làm nhiều quỹ nhỏ) cho những mục đích nhất định đã được xác định trước, và tất nhiên, khi áp dụng nguyên tắc này cần tính đến việc phải tuân hủ nguyên tắc “Các khoản đi vay để bù đắp bội chi ngân sách không được sử dụng để chi tiêu dùng mà chỉ được sử dụng để chi cho đầu tư phát triển”. 2. Sự thể hiện của nguyên tắc ngân sách toàn diện trong Luật NSNN năm 2002 Nguyên tắc ngân sách toàn diện được thể hiện khá cụ thể trong Luật ngân sách nhà nước năm 2002. Ngay tại Điều 1 các nhà làm luật đã quy định rõ ràng: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Quy định này đã chứng minh cho nội dung đầu tiên của nguyên tắc ngân sách toàn diện: mọi khoản thu và chi của ngân sách nhà nước đều phải tập trung đầy đủ, toàn bộ vào ngân sách nhà nước; các khoản thu, chi phải được hợp thành một tài liệu duy nhất là bản dự toán ngân sách nhà nước và do Quốc hội quyết định. Điều 3 Luật ngân sách nhà nước năm 2002 cũng chỉ rõ “Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm. Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước”. Quy định này cho thấy sự phân cấp trong quản lý ngân sách nhà nước, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Quốc hội trong công tác xây dựng, phê chuẩn và giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước để đảm bảo xây dựng một bản dự toán đầy đủ, toàn diện nhất. Bên cạnh đó, Điều 6 Luật ngân sách nhà nước năm 2002 quy định: “Các khoản thu, chi của ngân sách nhà nước đều phải được hạch toán, kế toán, quyết toán đầy đủ, kịp thời, đúng chế độ”. Khoản 2 Điều 12 cũng viết: “Kế toán và quyết toán ngân sách nhà nước được thực hiện thống nhất theo chế độ kế toán của Nhà nước và Mục lục ngân sách nhà nước”. Bằng cách quy định như vậy, các nhà làm luật muốn rằng mọi khoản thu và chi của ngân sách nhà nước, bất luận là ngân sách trung ương hay ngân sách địa phương, lớn hay nhỏ đều phải được ghi chép đầy đủ vào các tài liệu kế toán ngân sách theo chế độ kế toán hiện hành; phải bảo đảm tính công khai, minh bạch giúp cho các cơ quan hữu trách dễ kiểm soát chúng trong quá trình thực hiện; từng khoản thu và khoản chi phải được thể hiện rõ ràng trong mục lục ngân sách nhà nước. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 8 Luật ngân sách nhà nước năm 2002, các nhà lập pháp đã quy định cụ thể về vấn đề bội chi ngân sách – nội dung quan trọng của nguyên tắc ngân sách toàn diện : “Bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và ngoài nước. Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước phải bảo đảm nguyên tắc không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển và bảo đảm bố trí ngân sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn.” Quy định này cho thấy pháp luật không cho phép bất cứ khoản thu, chi nào được để ngoài ngân sách nhà nước, nếu có bội chi ngân sách thì cũng phải dùng khoản thu từ nguồn vay trong nước và ngoài nước để bù đắp. Hơn thế nữa, giữa các khoản thu, chi của bất kỳ đơn vị dự toán nào cũng không được bù trừ cho nhau, mà mọi khoản thu được thống nhất và dùng để thực hiện mọi khoản chi. Đồng thời, khi áp dụng nguyên tắc mọi khoản thu đều được dùng để tài trợ cho mọi khoản chi cũng phải tuân thủ nguyên tắc này. Ngoài những quy định trên, nguyên tắc ngân sách toàn diện còn được thể hiện trong nhiều nội dung khác của Luật NSNN năm 2002 như Điều 37, Điều 61,... Có thể nói, về lý thuyết, việc thực hiện nguyên tắc ngân sách toàn diện rất tốt cho việc quản trị tài chính công. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện nguyên tắc này có một vài điểm bất cập mà chính những bất cập đó đã sinh ra một vài ngoại lệ của việc thi hành nguyên tắc ngân sách toàn diện. Trong những trường hợp này, pháp luật cũng chấp nhận nhưng sau đó phải có báo cáo về việc tăng chi, trường hợp xảy ra bội chi thì phải có các giải pháp để khắc phục. KẾT LUẬN:Từ những phân tích về nội dung cũng như sự thể hiện trong Luật NSNN năm 2002 của nguyên tắc ngân sách toàn diện, chúng ta thấy được tầm quan trọng của nguyên tắc này trong công tác quản lí nền tài chính quốc gia nói chung và trong công tác quản lí, chỉ đạo ngân sách nhà nước nói riêng. Việc tuân thủ và thực hiện tốt nguyên tắc ngân sách toàn diện cũng là sự thể hiện công tác quản lí, chỉ đạo ngân sách nhà nước một cách khoa học, hiệu quả. Một khi xa rời nguyên tắc này, không những dẫn đến nguy cơ phá vở trật tự quản lí ngân sách nhà nước mà còn tạo điều kiện cho việc vi phạm pháp luật về ngân sách nhà nước gia tăng.
Xem thêm

Đọc thêm

Tai lieu on tap chuyen vien khoi nha nuoc

Tai lieu on tap chuyen vien khoi nha nuoc

I. LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NĂM 2008 Tập trung các vấn đề: 1. Các nguyên tắc trong thi hành công vụ + Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. + Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. + Công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát. + Bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả. + Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ. 2. Khái niệm cán bộ, công chức + Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. + Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. 3. Nghĩa vụ và quyền của cán bộ, công chức Nội dung này được quy định tại chương II của Luật CB,CC năm 2008 (từ Điều 08 đến Điều 20) Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân(Điều8 ) 1. Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia. 2. Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân. 3. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân. 4. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ (Điều 9) 1. Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. 2. Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước. 3. Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. 4. Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao. 5. Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. 6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. .......
Xem thêm

Đọc thêm

Báo cáo thực tập tổng hợp tại uỷ ban nhân dân huyện con cuông tỉnh nghệ an

BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP TẠI UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN

MỤC LỤC Lời mở đầu 1 Chương I : Lịch sử hình thành, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức quản lý của UBND huyện 4 I. Lịch sử hình thành của UBND huyện Con Cuông Tỉnh Nghệ An. 4 II Lịch sử hình thành của Phòng Tài chính Kế hoạch 4 1. Giai đoạn từ 1955 đến 1975 4 2. Giai đoạn 1976 1990 5 3. Giai đoạn từ 1991 đến nay : 6 III. Nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của UBND Huyện Con Cuông. 8 1. Chức năng của HĐND UBND huyện. 8 2. Nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân huyện 8 IV. Nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của phòng Tài Chính Kế Hoạch. 11 1 Nhiệm vô : 11 2. Cơ cấu tổ chức của phòng Tài Chính Kế hoạch. 12 3. Trình độ năng lực cán bộ công chức : 13 4. Qui chế hoạt động hành chính của phòng Tài Chính Kế hoạch. 14 5. Tài sản công : 14 Chương II : Đánh giá về thực trạng hoạt động quản lý nhà nước Của phòng tài chính kế hoạch huyện con cuông 15 I Những kết quả đạt được trong chỉ đạo, điều hành của UBND huyện trong năm 2005 15 1 Chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế. 15 1.1 Công tác qui hoạch, kế hoạch : 15 1.2. Về thực hiện các cơ chế chính sách phát triển : 15 1.3. Phát triển nông nghiệp nông thôn : 16 1.4. Quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường: 17 1.5 Công nghiệp TTCNXD, dịch vụ tiếp tục phát triển : 17 1.6. Chỉ đạo, quản lý xây dựng cơ sở hạ tầng. 17 1.7. Tài chính ngân sách : 18 II. những kết quả đạt được của phòng Tài chính – kế hoạch trong năn 2005 19 1. Kết quả đạt được trong năm 2005 19 1.1. Về công tác Quy Hoạch 19 1.2. Về công tác giao kế hoạch và dự toán Ngân sách. 21 2. Phương hướng hoạt động kế hoạch 2006 2010 có tính đến 2020 23 Chương III : Những vấn đề bức xúc cần giải quyết trong thời gian tới, và Định hướng đề tài nghiên cứu 26 I. Những vấn đề bức xúc cần giải quyết trong thời gian tới : 26 1 Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ thực hiện cải cách hành chính 26 2. Đổi mới phương thức điều hành và lề lối làm việc của UBND huyện. 26 3 . Mét số tồn tại trong công tác chỉ đạo, điều hành 27 II. Định hướng đề tài nghiên cứu 28 Kết luận 30
Xem thêm

40 Đọc thêm

Hoàn thiện công tác quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Tiền Giang

Hoàn thiện công tác quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Tiền Giang

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) ra đời nhằm phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá và dịch vụ, khuyến khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách Nhà nước, Luật thuế GTGT được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11(từ ngày 02 tháng 4 năm 1997 đến ngày 10 tháng 5 năm 1997), có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 1 năm 1999. Sau gần 15 năm thực hiện, Luật thuế GTGT đã đi vào cuộc sống, phát huy tác dụng tích cực trên các mặt của đời sống kinh tế xã hội như: khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh; khuyến khích xuất khẩu và đầu tư; thúc đẩy hạch toán kinh doanh của các Doanh nghiệp; tạo nguồn thu lớn và ổn định cho NSNN; tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế; góp phần tăng cường quản lý hoạt động SXKD của Doanh nghiệp nói chung và quản lý thuế nói riêng.Trong suốt quá trình thực hiện, Luật thuế GTGT đã được UBTVQH, Chính phủ, Bộ tài chính sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm khắc phục những tồn tại, đảm bảo Luật thuế GTGT phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, tuy nhiên vẫn còn những vướng mắc cần điều chỉnh. Chính vì vậy, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XI (từ ngày 03 tháng 5 năm 2003 đến ngày 18 tháng 6 năm 2003) đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 1 năm 2004. Gần đây nhất, ngày 19 tháng 6 năm 2013, Quốc Hội đã thông qua Luật số 312013 QH13 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT. Luật thuế GTGT sửa đổi, bổ sung lần này có một số nội dung sửa đổi, bổ sung đáng chú ý. Luật này có hiệu lực thi hành từ 01012014.Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, Luật thuế GTGT cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập như hệ thống thuế chưa đồng bộ và thường xuyên được chỉnh sửa đã tạo nhiều kẽ hở cho các đối tượng chịu thuế có cơ hội luồn lách, trốn lậu thuế, nảy sinh nghi ngờ cho đối tượng chịu thuế về chính sách của Nhà nước, là nguyên nhân gây thất thoát một phần lớn NSNN. Những kẻ hở, bất cấp của thuế GTGT cần phải có những biện pháp khắc phục để thuế GTGT phát huy hết vai trò của nó trong việc tạo lập nguồn thu cho NSNN và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển cũng như trên các mặt của đời sống kinh tế xã hội.Trong các loại hình Doanh nghiệp theo luật Doanh nghiệp 2005 thì vấn đề quản lý thu thuế GTGT đối với các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang luôn là vấn đề nan giải nhất, còn nhiều vấn đề bất cập cần phải khắc phục. Xuất phát từ thực trạng nêu trên đã thôi thúc tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Tiền Giang” làm luận văn Thạc sỹ kinh tế của mình.
Xem thêm

Đọc thêm

Chất lượng đội ngũ kiểm toán viên của Kiểm toán nhà nước

Chất lượng đội ngũ kiểm toán viên của Kiểm toán nhà nước

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Con người là yếu tố quyết định trong mọi hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội. Chính vì vậy, từ trước tới nay việc phát triển nguồn nhân lực luôn luôn được các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn hết sức quan tâm tìm tòi, nghiên cứu, đưa ra những kiến nghị liên quan tới việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và làm sao để sử dụng tiết kiệm nhất, đồng thời đem lại hiệu quả cao nhất. Về mặt nghiên cứu hàn lâm, các nhà khoa học hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu về lao động và các nhà khoa học làm công tác giảng dạy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào những vấn đề cơ bản liên quan tới con người và làm thế nào để phát huy được năng lực của họ. Các công trình đó đã cho thấy rõ các vấn đề như: Thế nào là sức lao động; thế nào là lao động sống, lao động quá khứ; thế nào là nguồn nhân lực; làm thế nào để quản lý tốt nguồn nhân lực,…Tóm lại về lý thuyết, những vấn đề chung nhất như vậy ngày nay đã có rất nhiều tài liệu để ai có quan tâm thì cũng tìm được một cách không mấy khó khăn. Nhưng trong thực tiễn, việc quản lý con người, quản lý nguồn nhân lực của một lĩnh vực, một tổ chức cụ thể luôn là vấn đề thời sự. Hoạt động của mỗi lĩnh vực, mỗi một đơn vị cụ thể đều có những đặc điểm nghề nghiệp riêng, đòi hỏi về phẩm chất mỗi con người lao động và công tác quản trị nguồn nhân lực cũng có những đặc thù riêng. Thậm chí cùng trong một lĩnh vực, nhưng môi trường (bao gồm môi trường chính trị, xã hội, vị trí địa lý, thể chế quản lý nhà nước,…) hoạt động khác nhau, thì những vấn đề liên quan tới con người và quản lý con người cũng có điểm khác nhau. Nghề kiểm toán, khác với nghề tài chính - kế toán - thanh tra; ngay trong nghề kiểm toán cũng có sự khác nhau giữa kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ và kiểm toán nhà nước. Trong hoạt động kiểm toán nhà nước thì hoạt động kiểm toán nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam khác với hoạt động kiểm toán nhà nước của Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên bang Úc, khác với nhiều nước khác nữa. Kiểm toán nhà nước Việt Nam ngày nay cũng khác với giai đoạn trước khi chưa có Luật Kiểm toán nhà nước và càng khác khi hiện nay địa vị pháp lý của cơ quan Kiểm toán nhà nước đã được Hiến định. Điều đó dẫn đến sự khác nhau về yêu cầu đối với nguồn nhân lực hoạt động kiểm toán trong các điều kiện môi trường khác nhau. Bên cạnh đó, hiện nay và trong thời gian tới để đáp ứng với yêu cầu của Đảng và Nhà nước về nhiệm vụ thực hiện hàng năm đối với tất cả các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước với chất lượng kiểm toán cao cùng với việc đưa ra các kiến nghị, đề xuất để từ đó giúp cho Quốc hội, Chính phủ xem xét, thẩm tra dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách Trung ương đồng thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản pháp luật, góp phần bảo đảm quản lý nền tài chính lành mạnh và đảm bảo tính đầy đủ, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật thì vẫn chưa đáp ứng được. Nguyên nhân là do đội ngũ công chức trực tiếp làm công tác kiểm toán của cơ quan Kiểm toán nhà nước (còn gọi là kiểm toán viên nhà nước) đang thiếu cả về số lượng và chất lượng. Nhất là cơ cấu ngành nghề đào tạo, các ngạch, bậc kiểm toán viên nhà nước chưa phù hợp; việc trang bị đầy đủ kiến thức và nhận thức về đạo đức nghề nghiệp, ứng xử trong công tác cho đội ngũ công chức này còn là vấn đề cần được tiếp tục quan tâm. Nhận thức được điều đó, cơ quan Kiểm toán nhà nước Việt Nam nhiều năm qua cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới việc xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới - giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những công trình đó đã làm rõ được nhiều vấn đề cơ bản liên quan tới con người hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán nhà nước. Nhưng tiêu chí nào để đánh giá đúng chất lượng đội ngũ kiểm toán viên nhà nước và những nhân tố nào đảm bảo những tiêu chí đó trên thực tế vẫn còn là vấn đề bỏ ngỏ. Chính vì lẽ đó mà tác giả đã chọn
Xem thêm

Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ - Tăng cường huy động trái phiếu chính phủ tại Kho bạc nhà nước Việt Nam

Luận văn thạc sỹ - Tăng cường huy động trái phiếu chính phủ tại Kho bạc nhà nước Việt Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài Trái phiếu chính phủ là một loại chứng khoán nợ, hàng năm thông qua việc sử dụng công cụ này Chính phủ đã huy động được một khối lượng vốn nhàn rỗi từ trong xã hội đáp ứng nhu cầu điều hành chính sách tài khoá và tài trợ vốn cho các dự án, chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Ngoài ra, trái phiếu chính phủ còn là loại hàng hoá có chất lượng cao và là công cụ nợ chuẩn trên thị trường chứng khoán để các công cụ khác tham chiếu. Việc ra đời và đi vào hoạt động của hệ thống Kho bạc nhà nước, tiếp theo đó là Ngân hàng phát triển Việt Nam, Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội là những mốc phát triển quan trọng trong hoạt động huy động trái phiếu chính phủ ở Việt Nam. Trải qua hàng chục năm hình thành và phát triển, hoạt động huy động trái phiếu chính phủ đã đạt được nhiều kết quả khả quan, giữ vị trí quan trọng trong việc huy động vốn cho Ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển, ổn định nền tài chính quốc gia, kiểm soát lạm phát, góp phần khắc phục những khiếm khuyết của thị trường tài chính, tạo cơ hội cho việc luân chuyển vốn đầu tư, đáp ứng yêu cầu về vốn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hoạt động huy động trái phiếu chính phủ đã đạt được những kết quả khả quan. Khối lượng trái phiếu chính phủ phát hành và giao dịch ngày càng tăng, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển của thị trường trái phiếu chính phủ nói riêng và thị trường tài chính nói chung. Tuy nhiên, hoạt động huy động trái phiếu chính phủ trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng của nền kinh tế. Để khai thác có hiệu quả các nguồn vốn thông qua thị trường trái phiếu chính phủ, đáp ứng nhu cầu vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển của thị trường trái phiếu chính phủ và thị trường tài chính đòi hỏi hoạt động huy động trái phiếu chính phủ phải ngày càng được củng cố, phát triển và hoàn thiện hơn. Từ những l‎ý do trên , học viên đã lựa chọn đề tài: “ Tăng cường huy động trái phiếu chính phủ tại Kho bạc nhà nước Việt Nam” để nghiên cứu và làm luận văn Thạc sỹ của mình. 2. Mục đích nghiên cứu Luận văn nghiên cứu và phân tích có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác huy động trái phiếu chính phủ qua Kho bạc nhà nước Việt Nam nhằm các mục tiêu: sự cần thiết khách quan của công tác huy động trái phiếu chính phủ đối với sự phát triển của nền kinh tế; thị trường giao dịch trái phiếu chính phủ; kinh nghiệm huy động trái phiếu chính phủ một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Phân tích, đánh giá thực trạng việc huy động trái phiếu chính phủ tại Kho bạc nhà nước Việt Nam thời gian qua, nêu lên những mặt được, những mặt còn tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó. Trên cơ sở l‎ý luận chung và thực trạng huy động trái phiếu chính phủ tại Kho bạc nhà nước Việt Nam, luận văn đã đề xuất quan điểm và các giải pháp tăng cường huy động trái phiếu chính phủ tại Kho bạc nhà nước Việt Nam trong thời gian tới. 3. Đối tượng và phạm vi nghiêm cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào hoạt động huy động trái phiếu chính phủ tại Kho bạc nhà nước Việt Nam. Đề tài dựa vào thực trạng huy động trái phiếu chính phủ tại Kho bạc nhà nước trong giai đoạn 2000 - 2007 để phân tích, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phù hợp nhằm tăng cường khả năng huy động trái phiếu chính phủ trong thời gian tới. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: thu thập thông tin, tổng hợp, thống kê, so sánh và phân tích để nghiên cứu. 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia thành 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về huy động trái phiếu chính phủ tại Kho bạc nhà nước. Chương 2: Thực trạng huy động trái phiếu chính phủ tại Kho bạc nhà nước Việt Nam. Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động trái phiếu chính phủ tại Kho bạc nhà nước Việt Nam hiện nay.
Xem thêm

Đọc thêm

Quản lý chi NSNN cấp huyện tại huyện hậu lộc (hưng)

Quản lý chi NSNN cấp huyện tại huyện hậu lộc (hưng)

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH LÊ DUY HƯNG qu¶n lý chi ng©n s¸ch nhµ n­íc TR£N §ÞA BµN huyÖn hËu léc, tØnh thanh hãa Chuyên ngành : Quản lý kinh tế Mã số : LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Kim Văn Chính Hµ Néi 2013 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Lê Duy Hưng MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 6 1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 6 1.2. Nội dung và nhân tố ảnh hưởng của quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 15 1.3. Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước ở một số thị xã, huyện trực thuộc tỉnh và bài học rút ra cho huyện Hậu Lộc 30 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA 35 2.1. Thực trạng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa 35 2.2. Quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Hậu Lộc Thực trạng và những vấn đề đặt ra. 44 2.3. Đánh giá công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Hậu Lộc 54 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HẬU LỘC 67 3.1. Phương hướng hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Hậu Lộc 67 3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Hậu Lộc 72 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN CTXH : Chính trị xã hội CSHT : Cơ sở hạ tầng GPMB : Giải phóng mặt bằng HCSN : Hành chính sự nghiệp HĐND : Hội đồng nhân dân KBNN : Kho bạc nhà nước KTXH : Kinh tế xã hội NS : Ngân sách NSĐP : Ngân sách địa phương NSNN : Ngân sách nhà nước QLHC : Quản lý hành chính SN : Sự nghiệp TCKH : Tài chính Kế hoạch UBND : Ủy ban nhân dân XDCB : Xây dựng cơ bản DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 2.1: Tổng hợp chi NSNN huyện Hậu Lộc (20072012) 39 Bảng 2.2: Tổng hợp chi đầu tư XDCB của huyện Hậu Lộc (2007 2012) 40 Bảng 2.3: Tổng hợp chi thường xuyên của huyện Hậu Lộc (20072012) 40 Bảng 2.4: Dự toán chi đầu tư XDCB của huyện Hậu Lộc (20072012) 45 Bảng 2.5: Thực hiện chi đầu tư XDCB của huyện Hậu Lộc (20072012) 46 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quản lý chi Ngân sách Nhà nước ở cấp huyện là nội dung quan trọng để đảm bảo cho mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý Ngân sách Nhà nước ở cấp huyện, làm tốt và từng bước hoàn thiện quản lý chi ngân sách Nhà nước từ khâu xây dựng dự toán, chấp hành và quyết toán Ngân sách Nhà nước chính là điều kiện để cấp huyện thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Một trong những công cụ hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết nền kinh tế chính là NSNN. Hoạt động quản lý NS đã có những bước cải cách, hoàn thiện và đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận: tăng cường tiềm lực tài chính đất nước; quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia; xây dựng NSNN lành mạnh; thúc đẩy sử dụng vốn và tài sản nhà nước tiết kiệm, hiệu quả; tăng tích lũy để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần vào đảm bảo các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Ngân sách huyện chính là một bộ phận cấu thành của NSNN và là công cụ để chính quyền cấp huyện, huyện thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong quá trình quản lý KTXH, an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, quá trình quản lý Ngân sách các cấp, trong đó có cấp huyện, huyện vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu mà Luật Ngân sách Nhà nước đặt ra. Trong bối cảnh chung đó, thực tế tại huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa công tác quản lý chi Ngân sách tuy đã có những bước phát triển nhưng vẫn còn tồn tại những vấn đề bất cập: Chi Ngân sách mặc dù đã đáp ứng cơ bản các yêu cầu của mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KTXH trên địa bàn song hiệu quả ở một số lĩnh vực cụ thể chưa cao, vẫn còn tình trạng chi vượt dự toán… Để góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ KTXH trong giai đoạn 20102015 mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXV đã đề ra, một trong những yếu tố quan trọng là tăng cường quản lý chi NSNN; góp phần tạo ra nguồn lực tài chính mạnh mẽ cho huyện. Xuất phát từ những thực tiễn trên, việc nghiên cứu về quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện Hậu Lộc là rất cấp bách, đó là lý do tôi lựa chọn đề tài: Quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa làm đề tài luận văn thạc sĩ. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Trong những năm qua, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý chi NSNN trong và ngoài nước, ở cấp Trung ương cũng như địa phương: Luận văn Thạc sỹ kinh doanh và quản lý “ Hoàn thiện kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước Thanh Hoá” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2008. Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách của các cấp chính quyền địa phương” của tác giả Phạm Đức Hồng, Trường Đại học Tài chính Kế toán Hà Nội, năm 2002. Luận án đã đưa ra những phân tích, đánh giá về cơ chế phân cấp Ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, từ cấp tỉnh cho tới cấp huyện và cấp xã. Đồng thời cũng đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế phân cấp Ngân sách thực sự hiệu quả và đạt được các mục tiêu quản lý đã đề ra. Luận Văn Thạc sỹ Kinh tế “ Nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí Ngân sách địa phương tại các cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh của” tác giả Vũ Hoài Nam, Đại Học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2007. Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý thu, chi ngân sách nhà nước của huyện Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” của tác giả Nguyễn Anh Tuấn, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2007. Luận văn đã trình bày những lý luận chung về quản lý thu, chi NSNN và đưa ra được một số vấn đề lý luận cụ thể về quản lý thu, chi NSNN trên địa bàn huyện trực thuộc tỉnh như: nội dung, đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng. Đồng thời luận văn cũng đi sâu đánh giá thực trạng, phân tích những nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu, chi NSNN ở huyện Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa” của tác giả Nguyễn Thị Mai Phương, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2008. Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý NSNN nói chung và quản lý NSNN cấp huyện nói riêng. Luận văn đã phân tích thực trạng, nguyên nhân và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu, chi NSNN trên ba khía cạnh: phân cấp quản lý NSNN, quản lý thu NSNN và quản lý chi NSNN trên địa bàn thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Bài viết “ Nâng cao vai trò Kho bạc Nhà nước cơ sở trong quản lý kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước” của tác giả Phan Đình Tý, tạp chí quản lý ngân quỹ quốc gia, số Xuân kỷ Sửu năm 2009. Bài viết “Đổi mới chính sách pháp luật về phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước” của tác giả Thạc sỹ: Nguyễn Thị Hoàng Yến, đăng trên tạp chí tài chính, số 09 (587) 2013. Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập tới nhiều khía cạnh trong quản lý NSNN nói chung, cũng như quản lý NSNN cấp huyện, huyện trực thuộc tỉnh nói riêng, đã đưa ra được thực trạng và những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý thu, chi NS trong thời gian tới. Hai luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Thị Mai Phương cũng nghiên cứu về quản lý NSNN cấp huyện trên từng địa bàn riêng biệt, tuy nhiên chưa đưa ra được một số vấn đề lý luận cụ thể về quản lý chi NSNN cấp huyện trực thuộc tỉnh như: vai trò, nguyên tắc, mục tiêu và mô hình tổ chức bộ máy quản lý. Mặt khác, mỗi một địa phương có một đặc thù khác nhau và trong từng giai đoạn phát triển KTXH thì nhiệm vụ quản lý chi NSNN cũng khác nhau. Xét riêng trên địa bàn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về lĩnh vực quản lý chi NS. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này là một vấn đề mới, thực sự cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN của địa phương. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện trực thuộc tỉnh; đánh giá thực trạng công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện Hậu Lộc; từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị để góp phần hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện Hậu Lộc trong thời gian tới. 3.2. Nhiệm vụ + Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện trực thuộc tỉnh. + Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện Hậu Lộc cả về những kết quả đạt được, rút ra những tồn tại và nguyên nhân. + Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện Hậu Lộc trong thời gian tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Phạm vi nghiên cứu: + Không gian: địa bàn huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. + Thời gian: dựa trên những tài liệu thu thập được từ năm 2007 đến 2012. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn Cơ sở lý luận Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong quản lý nhà nước về lĩnh vực ngân sách, mà cụ thể là quản lý chi NSNN. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh… 6. Dự kiến những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn Hệ thống hóa có chọn lọc các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện trực thuộc tỉnh. Phân tích, đánh giá rõ thực trạng công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn huyện Hậu Lộc. Đưa ra những đề xuất, giải pháp và kiến nghị đối với các cấp, các ngành để hoàn thiện tốt hơn công tác quản lý chi NSNN của huyện Hậu Lộc trong thời gian tới, góp phần thúc đẩy phát triển KTXH trên địa bàn.
Xem thêm

Đọc thêm

tổng hợp đề cương môn xây dựng Văn bản pháp luật có đáp án

tổng hợp đề cương môn xây dựng Văn bản pháp luật có đáp án

Tài liệu ôn thi môn VĂN BẢN PHÁP LUẬTBài soạn bao gồm đầy đủ nội dung cấu trúc đề thi: Nhận định đúng sai; Câu hỏi tự luận phân tích 1 vấn đề; viết một văn bản hoàn chỉnh theo yêu cầu của đề. Mình vừa mới thi xong cũng trúng vài câu trong này. Chúc các bạn có mùa thi đạt kết quả tốtNhận định đúng sai1.Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền ban hành văn bản QPPL > Sai. Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh không có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhưng có quyền ban hành văn bản áp dụng phạm pháp luật.2.2.Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thuế có quyền ban hành văn bản QPPL. Đúng > Ví dụ: Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thuế Ban hành quyết định quy trình hoàn thuế.3.Văn bản bị đình chỉ thi hành thì hết hiệu lực.>Sai. VBPL bị đình chỉ thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu cấp có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản pháp luật hết hiệu lực còn không bị hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản pháp luật tiếp tục có hiệu lực.4.Tất cả các văn bản nhà nước đều ghi số, ký hiệu kèm theo năm ban hành.> SAI. Đối với VBADPL sốtên văn bản tên cơ quan ban hành hoặc tên chức danh ban hành hoặc tên loại việc giải quyết chứ không ghi năm. Ví dụ: Số: 01QĐKT, Số:02QĐUBND5.Mọi chủ thể đều có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật. (sai, vì chỉ có những các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền mới có quyền ban hành văn bản pháp luật.) 6. Mọi văn bản pháp luật có thể đánh số theo loại văn bản, theo loại việc hoặc đánh số tổng hợp. (sai, vì k2 đ7 luật BHVBQPPL 2008)7.Ký thay được áp dụng khi cấp trên uỷ quyền cho cấp dưới ký khi vắng mặt. (sai, vì theo điều 10 nghị định 1102004NĐCP về Công tác văn thư quy định: “ở cơ quan, tổ chức làm việc theo chế độ thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan, tổchức có thẩm quyền ký tất cả các văn bản của cơ quan tổ chức. Người đứng đầucơ quan, tổ chức có thể giao cho cấp phó của mình ký thay (KT.) các văn bản thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách.) 8.Văn bản quy phạm pháp luật luôn có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành. (sai, vì đoạn 2 k1 đ78 luật BHVBQPPL 2008)9.Mọi Văn bản quy phạm pháp luật bắt buộc phải đăng công báo.Sai. vì căn cứ vào điều 78 Luật BHVBQPPL năm 2008 các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước hoặc văn bản có định biện pháp trong tình trạng khẩn cấp có thể không đăng công báo vẫn phát sinh hiệu lực thi hành)10.Thời hạn đăng công báo văn bản quy phạm pháp luật là trong vòng 15 ngày kể từ ngày công bố hoặc ngày ký ban hành văn bản. Sai, vì Đ13 NĐ số:1002010NĐCP quy định về công báo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản, Văn phòng chính phủ có trách nhiệm đăng VB đó trên công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản, Văn phòng UBND cấp tỉnh có trách nhiệm đăng VB đó trên công báo cấp tỉnh.)11.Trong mọi trường hợp đều có thể áp dụng hiệu lực hồi tố. (sai, đ79 luật 2008)Vì theo Điều 79. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật,quy định1. Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước.2. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:a) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn12.Văn bản quy phạm pháp luật luôn được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm văn bản đó đang có hiệu lực. (sai, vì căn cứ vào điều 83 Luật BHVBQPPL năm 2008 trong trường hợp văn bản có quy định hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó mà không phải chỉ áp dụng đối với các hành vi xảy tại văn bản đó đang có hiệu lực.) 13.Mọi văn bản quy phạm pháp luật phải qua thủ tục ra lệnh công bố trước khi ban hành. (sai, Vì căn cứ vào điều 57 Luật BHVBQPPL năm 2008 thủ tục công bố văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, UBTV Quốc hội.14.Thẩm tra là thủ tục bắt buộc đối với mọi dự thảo của văn bản quy phạm pháp luật. (sai, Căn cứ vào điều 41 Luật BHVBQPPL năm 2008 Thủ tục thẩm tra áp dụng đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, UBTV Quốc hội; Căn cứ vào điều 27, điều 31 Luật BHVBQPPL của HĐND và UBND năm 2004 thủ tục thẩm tra áp dụng cho dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện.Còn các văn bản quy phạm pháp luật khác không áp dụng thủ tục thẩm tra.15. Văn bản áp dụng pháp luật luôn có hiệu lực thi hành ngay.Sai, vì đoạn 1 k1 d83 luật 2008 luật BHVBQPPL năm 2008 về VBQPPL được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.16.Văn bản áp dụng pháp luật mới được ban hành thì không làm mất hiệu lực của những văn bản áp dụng pháp luật khác. Sai, vì Căn cứ vào điều 83 luật Ban Hành VBQPPL năm 2008 quy định do tính chất cá biệt nên khi có hiệu lực văn bản áp dụng pháp luật không làm mất hiệu lực của những văn bản áp dụng pháp luật khác tuy nhiên có một số ngoại lệ như văn bản mới thay thế văn bản cũ do cách giải quyết cùng một sự việc có khác nhau.)17.Mọi chủ thể đều có thẩm quyền ban hành văn bản hành chính.Sai, vì Thẩm quyền BHVB hành chính không được PL quy định cụ thể tuy nhiên căn cứ vào hoạt động thực tiễn thẩm quyền BHVB hành chính được xác định trong quá trình điều hành đv cơ quan đơn vị thuộc cùng một hệ thống chủ thể quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền Ban hành một số VB hành chính.)18. Mọi chủ thể đều có thẩm quyền kiểm tra văn bản pháp luật.Sai, Vì Căn cứ thẩm quyền này được quy định trong nhiều VB khác nhau như hiếm pháp , điều 87 Luật BHVBQPPL năm 2008 tính quyền lực trong hoạt động này thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền của nhà nước.19.Kiểm tra văn bản pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.Đúng, vì Căn cứ vào Điều 87 luật Ban Hành VBQPPL năm 2008 hoạt động kiểm tra phải do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành để xem xét về tính hợp hiến, hợp pháp,… của văn bản pháp luật và kịp thời xử lý các vi phạm bằng các văn bản pháp luật khác, như: Quyết định bãi bỏ, hủy bỏ văn bản..) 20. VB qui định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án luật, pháp lệnh, trước khi ban hành. (sai, khoản 2 điều 8 luật 2008, văn bản quy định chi tiết được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản, không nhất thiết phải được soạn thảo cùng lúc với dự án luật)21. Giám đốc Sở Tư pháp được quyền ban hành quyết định bổ nhiệm Trưởng phòng Công chứng. Sai, vì theo khoản 2 điều 19 luật công chứng 2014 thì trưởng phòng công chứng phải là công chứng viên, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm)22. Cách đánh số tổng hợp luôn được các cơ quan Nhà nước ban hành văn bản có số lượng ít áp dụng. Đúng, vì Căn cứ theo điều 7 luật BHVBQPPL năm 2008 việc đánh số văn bản QPPPLphải tùy theo từng loại VB và năm ban hành.) 23. Tất cả các nghị quyết của Quốc hội đều là văn bản quy phạm pháp luật. Sai, vì khoản 3 d11luật 2008) quy định cụ thể NQ của Quốc hội được ban hành để QĐ nhiệm vụ phát triển KTXH , dự toán ngân sách nhà nước phân bổ ngân sách TW…24. Nghị định của Chính phủ chỉ là loại văn bản dùng để cụ thể hoá thi hành Luật,Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, UBTVQH. Sai.Vì căn cứ vào điều 15 Luật BHVBQPPL năm 2008 Nghị định của Chính phủ còn dung để quy định các vấn đề khác, như: quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ…25. Văn bản pháp luật là văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật. (đúng, d1 luật 2008)Đúng.Vì Căn cứ vào luật BHVBQPPL của HĐNDvà UBND năm 2004, điều 1 luật BHVBQPPL năm 2008 quy định VBQPPL là VB do cơ quan nhà nước Ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong luật này.26. Chính phủ được quyền ban hành Nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật. Đúng. Vì căn cứ vào điều 2 Luật BHVBQPPL năm 2008 Chính phủ được quyền ban hành Nghị quyết là văn bản quy phạm pháp luật khi ban phối hợp ban hành cùng với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị xã hội đó là nghị quyết liên tịch27.Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật. Đúng, vì VBADPL Do nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội chứa đựng quy tắc cụ thể áp dụng một lần cho 1 chủ thể nhất định ban hành trên cơ sở VBQPPL) 28. Chủ tịch UBND có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Sai, vì căn cứ vào điều 2 Luật BHVBQPPL năm 2008 chỉ có các chủ thể được quy định tại điều 2 mới có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật là thẩm quyền chung của UBND không phải là thẩm quyền của Chủ tịch UBND)29. Tất cả các cơ quan Nhà nước đều có quyền ban hành thông tư liên tịch. Sai, Vì Căn cứ vào điều 2 luật BHVBQPPL năm 2008 quy định cơ quan ban hành thông tư liên tịch là của VTVKSND, CATANDTC, bộ trưởng và các thủ trưởng cơ quan ngang bộ)
Xem thêm

Đọc thêm

Đánh giá thực trạng thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong thời gian qua (Giai đoạn 2010 2014)

Đánh giá thực trạng thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong thời gian qua (Giai đoạn 2010 2014)

Ngân sách Nhà nước đóng một vai trò quan trọng không chỉ đối với sự phát triển kinh tế nước ta mà còn đối với bất kì quốc gia nào trên thế giới. Bởi như chúng ta đã biết, ngay từ khi mới ra đời để duy trì và phát triển, Nhà nước cần tới một nguồn lực tài chính, đó là Ngân sách Nhà nước (NSNN). Sự tồn tại và phát triển của Nhà nước luôn gắn liền song song với sự tồn tại và phát triển của NSNN. Không những NSNN đảm bảo chức năng của mình đối với sự tồn tại quốc gia cùng nền kinh tế chính trị và xã hội mà còn là công cụ đắc lực linh hoạt để Nhà nước tác động vào toàn bộ hoạt động của quốc gia từ đó phát triển đất nước. Do đó để đảm bảo bộ máy Nhà nước hoạt động hiệu quả hay đất nước phát triển vững chắc thì NSNN phải có những chính sách hiệu quả để đảm bảo nguồn lực tài chính của mình. Việc gia nhập WTO đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trên chặng đường hội nhập với nền kinh tế thế giới. Để tạo những bước đi vững chắc đó thì chính sách thích hợp NSNN đóng một vai trò quan trọng. Và muốn tạo được những điều đó thì có một nguồn thu ổn định vững chắc là vấn đề không thể bỏ qua đối với các nhà hoạch định chính sách. Chính vì vậy nhóm 1 sẽ nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong thời gian qua( Giai đoạn 20102014).”
Xem thêm

Đọc thêm

NỘI DUNG và PHƯƠNG PHÁP lập báo cáo tài CHÍNH báo cáo CHI TIẾT KINH PHÍ HOẠT ĐỘNG tại TRƯỜNG TIỂU học TRẦN PHÚ

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH BÁO CÁO CHI TIẾT KINH PHÍ HOẠT ĐỘNG TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN PHÚ

PHẦN I: QUY ĐỊNH CHUNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH1.Khái niệm, tác dụng của báo cáo tài chính1.1.Khái niệm báo cáo tài chính:Báo cáo tài chính là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn tại một thời điểm, tình hình sử dụng vốn và kết quả hoạt động của một đơn vị trong một thời kỳ nhất định vào một hệ thống biểu mẫu báo cáo đã quy định.1.2.Tác dụng của báo cáo tài chínhBáo cáo tài chính dùng để tổng hợp tình hình về tài sản, tiếp nhận và sử dụng kinh phí ngân sách của nhà nước, tình hình thu chi, kết quả hoạt động của đơn vị hành chính sự nghiệp trong kỳ kế toán, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và thực trạng của đơn vị, là căn cứ quan trọng giúp cơ quan nhà nước, lãnh đạo đơn vị kiểm tra, giám sát điều hành hoạt động của đơn vị.
Xem thêm

11 Đọc thêm

quản lý nợ đọng xây dựng cơ bản tại tỉnh a

quản lý nợ đọng xây dựng cơ bản tại tỉnh a

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ Gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng, có nhiều bài viết phản ảnh về vấn đề nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB), từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước (NSNN). Đó cũng là chủ đề được dư luận xã hội hết sức quan tâm, trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang chỉ đạo thực hiện dân chủ hóa, công khai hóa, minh bạch trong quản lý tài chính công nói riêng và quản lý Nhà nước nói chung. Chính vì vậy khi nhiều địa phương để xẩy ra tình trạng nợ đọng vốn XDCB là vấn đề gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân, tác động không tốt tới khả năng tới cân đối vĩ mô về nguồn lực tài chính, đồng thời đặt ra yêu cầu Chính phủ phải có các giải pháp đủ mạnh để ngăn chặn, giải quyết tình trạng trên trong năm 2005 và những năm tiếp theo. Theo thống kê chưa đầy đủ của các Bộ, ngành và các địa phương thì số nợ đọng vốn đầu tư XDCB từ năm 2003 trở về trước khoảng 11.500 tỷ đồng, bằng khoảng 25% tổng số vốn đầu tư nguồn ngân sách Nhà nước năm 2003. Trong đó các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương có số nợ khoảng 7.500 tỷ đồng. Nợ đọng vốn đầy tư XDCB có tác động xấu về mặt tài chính tiền tệ, xã hội …. Phần nào kìm hãm sự phát triển bền vững của nền kinh tế và đặc biệt đối với nền kinh tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ đọng vốn đầu tư XDCB, song trên cơ sở liên quan tới tiểu luận cuối khóa chỉ xin nêu 2 nhóm nguyên nhân chủ yếu. Trước hết là nhóm nguyên nhân khách quan. Khả năng cân đối với đầu tư XDCB từ NSNN hàng năm cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội còn rất hạn hẹp, chỉ đáp ứng được từ 40 50% nhu cầu. Trong khi đó số lượng các dự án đầu tư cho các đơn vị trình duyệt ngày càng tăng (năm 2003 cả nước có khoảng 10.600 công trình được đầu tư, tăng 2.500 công trình so với n ăm 2002), trên thực tế số lượng dự án được duyệt đã không phù hợp với khả năng cân đối ngân sách hàng năm của Nhà nước, từ đó các chủ đầu tư đã vay mượn vốn và chiếm dụng vốn của nhà thầu để thi công, dẫn đến khối lượng nợ đầu tư XDCB ngày càng tăng. Về nhóm nguyên nhân chủ quan, công tác quy hoạch chưa triển khai đầy đủ từ quy hoạch tổng thể đến quy hoạch chi tiết. Ở một số địa phương có xu hướng buông lỏng quản lý đầu tư xây dựng, không đảm bảo kỷ cương trong XDCB đã được chỉ rõ trong nhiều văn bản chỉ đạo của Chính phủ, nghị định của Chính phủ đã ban hành. Nhiều dự án đầu tư chưa có phương án nguồn vốn để thực hiện dự án vẫn tiến hành thực hiện với giải pháp “Vừa thi công vừa tìm nguồn vốn”.
Xem thêm

Đọc thêm

Thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa hai quốc gia

Thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa hai quốc gia

Thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa hai quốc gia có phải điều ước quốc tế Đề bài: Năm 1970, quốc gia A gửi cho quốc gia B văn bản đề nghị xác định biên giới trên biển giữa quốc gia B và vùng lãnh thổ thuộc địa C mà quốc gia A đang khai thác và đại diện trong quan hệ quốc tế. Trong thư đó, quốc gia A có nêu rõ nguyên tắc, cách thức phân định và có bản đồ phân định đính kèm. Trong thư trả lời, quốc gia B bày tỏ quan điểm đồng ý với đề nghị của quốc gia A. Tuy nhiên, tranh chấp đến biên giới trên biển lại nảy sinh khi C trở thành quốc gia độc lập, có chủ quyền. Quốc gia C cho rằng: thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và quốc gia B không phải là điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên. Hơn nữa, với tư cách quốc gia mới ra đời sau cách mạng giải phóng, quốc gia C không phải kế thừa tất cả các điều ước quốc tế mà A đã đại diện ký kết. Hãy cho biết: Thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B có phải điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên hay không? Tại sao? Quốc gia C có nghĩa vụ phải kế thừa tất cả các thỏa thuận quốc tế mà quốc gia A đã đại diện ký kết, trong đó có thỏa thuận xác định biên giới trên biển hay không? Tại sao? 1. Thoả thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B có phải điều ước quốc tế có giá trị ràng buộc giữa các bên hay không? Tại sao. Thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B về vấn đề xác định biên giới trên biển giữa quốc gia B và vùng lãnh thổ thuộc địa C mà A đang khai thác và đại diện trong quan hệ quốc tế có thể xem là điều ước quốc tế và có giá trị ràng buộc ở thời điểm C vẫn là vùng lãnh thổ thuộc địa của A. Theo điểm a khoản 1 Luật công ước Viên năm 1969, Điều ước quốc tế dùng để chỉ“một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì”. Thoả thuận quốc tế sẽ trở thành điều ước quốc tế và có giá trị ràng buộc khi nó đảm bảo các trình tự tạo nên một điều ước quốc tế, cụ thể như phải đảm bảo các giai đoạn: Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành các văn bản điều ước: Trong giai đoạn này, các bên sẽ thực hiện các hành vi như: đàm phán, soạn thảo và thông qua văn bản điều ước. Thực hiện xong các hành vi này, điều ước quốc tế vẫn chưa phát sinh hiệu lực, tuy nhiên nếu thiếu các hành vi này thì một điều ước quốc tế không thể được hình thành. Giai đoạn 2: giai đoạn thực hiện các hành vi nhằm thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế và có giá trị tạo ra hiệu lực thi hành của điều ước đó. Giai đoạn này có 4 hành vi được thực hiện đó là: hành vi ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế. Theo “Luật Quốc tế” Ts. Ngô Hữu Phước Các thoả thuận giữa các quốc gia chưa thể trở thành một điều ước quốc tế khi thiếu các trình tự trên. Tuy nhiên, các quy định tại công ước Viên năm 1969 chỉ bắt đầu có hiệu lực từ năm 1980. Trước khi công ước Viên năm 1969 có hiệu lực, trong quan hệ quốc tế, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các quốc gia – có thể bằng hình thức văn bản hoặc là sự thỏa thuận bằng miệng – thỏa thuận này được gọi là “điều ước quân tử” Thứ hai, xét đến yếu tố chủ thể tham gia trong thỏa thuận này là quốc gia A và quốc gia B – đều là chủ thể của luật quốc tế. Thỏa thuận này được hình thành dựa trên sự đồng ý của 2 quốc gia (Quốc gia A gửi đề nghị và quốc gia B ngỏ ý đồng ý). Như vậy, căn cứ theo phân tích trên, thỏa thuận qua hình thức trao đổi văn bản giữa quốc gia A và B có thể xem là điều ước quốc tế và có giá trị ràng buộc giữa A và B. 2. Quốc gia C có nghĩa vụ kế thừa tất cả các thoả thuận quốc tế mà quốc gia A đã đại diện ký kết, trong đó có thỏa thuận xác định biên giới trên biển hay không? Tại sao? Với thỏa thuận quốc tế, quốc gia C không có nghĩa vụ kế thừa tất cả các thỏa thuận quốc tế mà quốc gia A đã đại diện ký kết (nghĩa là quốc gia A có thể tiếp tục thực hiện các ngĩa vụ đó hoặc không) những với thỏa thuận xác định biên giới trên biển, C vẫn phải tiếp tục tôn trong và thực hiện thỏa thuận quốc tế này. Vì các lý do như sau: Thứ nhất: Theo luật quốc tế hiện hành, các quốc gia mới thành lập không có nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện các điều ước quốc tế do quốc gia để lại thừa kế ký kết. Căn cứ vào cơ sở pháp lý tại điều 16 và điều 28 công ước Viên năm 1978: “Điều 16: Đối với những điều ước của các quốc gia tiền nhiệm, Quốc gia mới độc lập không bị ràng buộc việc duy trì hiệu lực hoặc phải trở thành thành viên của bất ký điều ước nào với lý do điều ước vẫn còn hiệu lực đối với lãnh thổ được ký kết vào thời điểm kế thừa”. “Điều 28: Điều ước song phương: Điều ước song phương vẫn đang còn hiệu ước hoặc tạm thời áp dụng đối với lãnh thổ được thừa kế vào thời điểm thừa kế sẽ vẫn còn hiệu lực giữa hai bên quốc gia độc lập mới hình thành hoặc quốc gia kia khi: + Hai bên khẳng định rõ ràng sự chấp thuận + Hai bên bằng hành vi thể hiện sự chấp thuận Như vậy, đối với các điều ước quốc tế các quốc gia để lại kế thừa, có hai trường hợp: Trường hợp 1: Quốc gia mới giành được độc lập không phải tiếp tục thực hiện các điều ước quốc tế trước đây vẫn thi hành tại lãnh thổ quốc gia mới đó. Trường hợp 2: Đối với các điều ước mà trước đây quốc gia A đã kí kết, quốc gia C có thể thỏa thuận các điều kiện áp dụng điều ước với quốc gia A. Hoặc C sẽ kí kết với A các điều ước đặc biệt, trong những điều ước lại này có ghi nhận việc C sẽ kế thừa tất cả các điều ước còn hiều lực thi hành do A đã kí kết với B về lãnh thổ vốn là thuộc địa của A trước đây. Thứ hai, trong trường hợp này C vẫn phải kế thừa điều ước quốc tế xác định biên giới trên biển giữa A và B bởi: những điều ước biên giới về lãnh thổ thường có giá trị rất bền vững và mang tính ổn định dù hai bên có mất tư cách chủ thể thì quốc gia mới vẫn buộc phải thừa kế. Căn cứ theo quy định tại điều 11, 15 và 30 của Công ước Viên năm 1969: Điều 11: Sự kế thừa quốc gia không ảnh hương đến tới: a. Một đường biên giới đã được xác định bởi một hiệp định, hay b. Các quyền và nghĩa vụ đã được xác định bởi một hiệp định liên quan đến thể chế biên giới. Điều 15: Khi một phần lãnh thổ nhà nước hoặc khi bất cứ phần lãnh thổ nào mà không còn là lãnh thổ của quốc gia đó hoặc trở thành một phần lãnh thổ của quốc gia khác thì: a, Điều ước của quốc gia để lại sẽ ngừng có hiệu lực với phần lãnh thổ mà quốc gia thừa kế có liên quan, kể từ ngày quốc gia thừa kế ra đời. Như vậy, với các điều ước quốc tế khác, Quốc gia C không có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện các điều ước này và có thể hiện nó hay không nhưng với thỏa thuận quốc tế về biên giới, quốc A buộc phải tôn trọng thực hiện.
Xem thêm

Đọc thêm

BỘ CÂU HỎI ÔN THI CÔNG CHỨC CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH THI VIẾT

BỘ CÂU HỎI ÔN THI CÔNG CHỨC CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH THI VIẾT

Câu 29: Trình bày quy định về công tác xử lý ngân sách cuối năm đối với sốdư dự toán ngân sách của các đơn vị sử dụng ngân sách theo hướng dẫn của Thông tưsố 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính.Câu 30: Trình bày quy định về công tác xử lý số dư tạm ứng sau thời gianchỉnh lý quyết toán trong công tác xử lý ngân sách cuối năm theo hướng dẫn củaThông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính.Câu 31: Trình bày quy định về ghi thu, ghi chi vào ngân sách nhà nướctrong công tác xử lý ngân sách cuối năm của các cơ quan, đơn vị theo hướng dẫn củaThông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính.Câu 32: Trình bày quy định về chi chuyển nguồn, quyết toán chi theo niênđộ và xử lý kết dư ngân sách trong công tác xử ngân sách cuối năm theo hướng dẫncủa Thông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính.Câu 33: Trình bày một số nội dung trong công tác quyết toán và báo cáoquyết toán ngân sách hàng năm theo hướng dẫn của Thông tư số 108/2008/TT-BTCngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính: Đối chiếu số thu, chi ngân sách; trách nhiệm lập,báo cáo quyết toán ngân sách của đơn vị dự toán; báo cáo thuyết minh quyết toánngân sách.3Câu 34: Trình bày nội dung, thẩm quyền, hình thức và thời gian công khaisố liệu ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh)và ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại Thông tư số03/2005/TT-BTC ngày 06/01/2005 của Bộ Tài chính.Câu 35: Trình bày chế độ báo cáo tình hình thực hiện công khai tài chínhđối với các cấp ngân sách nhà nước, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức đượcngân sách nhà nước hỗ trợ, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngânsách nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, các quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nướcvà các quỹ có nguồn từ các khoản đóng góp của nhân dân quy định tại Thông tư số03/2005/TT-BTC ngày 06/01/2005 của Bộ Tài chính.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Vấn đề áp dụng ngân sách kiểm soát chi của chính quyền địa phương Hoa Kỳ

Vấn đề áp dụng ngân sách kiểm soát chi của chính quyền địa phương Hoa Kỳ

Ngân sách kiểm soát chi là phương thức kiểm soát tài chính của chính quyền địa phương Hoa Kỳ dựa trên hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương. Trên cơ sở trình bày, phân tích khái niệm “ngân sách kiểm soát chi” của chính quyền địa phương Hoa Kỳ, trong bối cảnh Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 của Việt Nam đã có hiệu lực, tác giả đưa ra một số kiến nghị về vấn đề ngân sách kiểm soát chi của chính quyền địa phương tại Việt Nam.

Đọc thêm

Một số bài tập tình huống kế toán xã

MỘT SỐ BÀI TẬP TÌNH HUỐNG KẾ TOÁN XÃ

Việc UBND xã dự kiến số kết dư năm trước để đưa vào dự toán năm sau không trái với quy định hiện hành (theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước số kết dư là khoản thu ngân sách do vậy có thể lập dự toán ngay từ đầu năm), tuy nhiên cần phải đưa khoản dự kiến kết dư năm 2005 vào phần thu ngân sách xã . Như vậy thu ngân sách xã sẽ là 520 triệu đồng(trong đó 20 triệu đồng thu từ nguồn kết dư năm trước) và như vậy thu ngân sách xã sẽ đảm bảo được tính cân đối (thu=chi).
Xem thêm

13 Đọc thêm

Đảm bảo bền vững tài khóa ở Việt Nam: Hướng đến một chiến lược tổng thể và toàn diện

Đảm bảo bền vững tài khóa ở Việt Nam: Hướng đến một chiến lược tổng thể và toàn diện

Trong gần 2 thập niên qua, thể chế tài chính – ngân sách nhà nước của Việt Nam liên tục được đổi mới và hoàn thiện, nhờ đó, tiềm lực tài chính quốc gia được tăng cường và mở rộng, an ninh, an toàn nền tài chính công được đảm bảo. Tuy nhiên, những năm gần đây, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều rủi ro, nhất là khi nhìn nhận từ giác độ bền vững tài khóa. Yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam trong thời gian tới là phải có một kế hoạch tổng thể để từng bước giảm dần mức bội chi ngân sách nhà nước, qua đó hạn chế sự gia tăng của nợ công, góp phần vào chiến lược phát triển trung và dài hạn của đất nước.
Xem thêm

Đọc thêm

Tiểu luận Lớp Bồi dưỡng ngạch chuyên viên khóa 50 năm 2015

Tiểu luận Lớp Bồi dưỡng ngạch chuyên viên khóa 50 năm 2015

Sở Tài chính tỉnh Long An là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Long An có chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính; ngân sách nhà nước; thuế, phí, lệ phí và thu khác của ngân sách nhà nước; tài sản nhà nước; các quỹ tài chính nhà nước; đầu tư tài chính; tài chính doanh nghiệp; kế toán; kiểm toán độc lập; giá và các hoạt động dịch vụ tài chính (sau đây gọi chung là lĩnh vực tài chính) tại địa phương theo quy định của pháp luật.
Xem thêm

Đọc thêm

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HUYỆN BẮC SƠN – TỈNH LẠNG SƠN

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HUYỆN BẮC SƠN – TỈNH LẠNG SƠN

Sau hai mươi bảy năm thực hiện cơ chế chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta, kể từ đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986. Mọi mặt đời sống kinh tế xã hội đã được cải thiện vượt bậc, tạo cho Việt Nam một bộ mặt với những thay đổi to lớn về diện mạo kinh tế mới trong mắt bạn bè quốc tế. Cùng với sự thay đổi về cơ chế chính sách như vậy, nền kinh tế nước nhà đã liên tục tăng trưởng qua các năm một cách ổn định và bền vững, tạo nguồn lực tài chính để thúc đẩy sự phát triển lâu dài. Từ những thành tựu đã đạt được Nhà nước ta đã không ngừng cải cách, đổi mới hệ thống Ngân sách Nhà nước cho phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã đề ra, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ vững an ninh tài chính quốc gia, thúc đẩy hội nhập kinh tế, quốc tế. Song song với tiến trình phát triển kinh tế xã hội. Ngân sách Nhà nước là một trong những công cụ quan trọng với tính chất là nội lực cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Sự tồn tại và phát triển của một Nhà nước luôn luôn cần thiết phải có nguồn lực tài chính đảm bảo cho hoạt động chi tiêu thường xuyên của những tổ chức, cơ quan đơn vị thuộc bộ máy quản lý Nhà nước. Để đáp ứng nguồn kinh phí để đảm bảo cho các hoạt động như; Các cơ quan quản lý Nhà nước, quân đội, cảnh sát, sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, đầu tư phát triển kinh tế đất nước thì Nhà nước phải tạo ra các nguồn thu để bảo đảm, đó là nguồn thu từ các loại thuế và các nguồn khác. Tất cả quá trình thu nộp và sử dụng nguồn kinh phí đó của Nhà nước đều phải được phản ánh qua Ngân sách Nhà nước. Ngân sách huyện với tư cách là một bộ phận hữu cơ của Ngân sách Nhà nước cùng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại phát triển của hệ thống ngân sách Nhà nước. Nó có chức năng trung gian giữa cấp ngân sách Trung ương, ngân sách cấp Tỉnh, thành phố và ngân sách cấp xã phường, thị trấn. Quản lý và phân phối lại nguồn tài chính của địa phương nhận từ ngân sách cấp trên hoặc từ nguồn thu được điều tiết theo quy định phát sinh trên địa bàn cho hoạt động của bộ máy quản lý cấp huyện và bổ sung cân đối cho hoạt động của cấp xã, phường, thị trấn. Sau một thời gian nghiên cứu thực tập, thu thập các thông tin, kiến thức thực tế để bổ sung cho kiến thức đã học tại nhà trường, em đã nhận thấy rằng trước những đòi hỏi bức xúc về quản lý điều hành ngân sách Nhà nước nói chung và quản lý điều hành ngân sách cấp quận, huyện nói riêng, em xin mạnh dạn nghiên cứu chuyên đề thực tập với nội dung “ Giải pháp tăng cường công tác quản lý Ngân sách Nhà nước huyện Bắc Sơn – tỉnh Lạng Sơn”. Qua thực tiễn tại đơn vị phòng Tài chính Kế hoạch huyện Bắc Sơn, em đã nhận thấy rõ được kiến thức về công tác quản lý điều hành Ngân sách Nhà nước nói chung và ngân sách cấp huyện nói riêng. Em mong rằng một số ý kiến đề xuất của cá nhân em sẽ đóng góp phần nào nhỏ bé vào công tác quản lý điều hành ngân sách tại địa phương và luật Ngân sách Nhà nước. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của Cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Bất cùng tập thể các đồng chí trong phòng Tài chính Kế hoạch huyện Bắc Sơn đã giúp em hoàn thành chuyên đề thực tập này. Em xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

82 Đọc thêm

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

Lời mở đầu Phân cấp ngân sách nhà nước (NSNN) là một trong những vấn đề được quan tâm trong vấn đề cải cách hành chính nhà nước ở nhiều nước. Việt Nam cũng xác định vấn đề quan trọng này đối với công cuộc cải cách hành chính Nhà nước. Thông qua việc quản lý và sử dụng ngân sách, nhà nước thực hiện việc khai thác, phân bổ, sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển ổn định, công bằng và bền vững. Với mục tiêu “quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, xây dựng NSNN lành mạnh, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tiền của của Nhà nước, tăng tích lũy để thực hiện CNHHĐH đất nước theo định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh đối ngoại ”, luật NSNNmột đạo luật quan trọng trong hệ thống tài chính đã được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 2031996, sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi luật số 061998QH10 ngày 2051998, đánh đấu mốc lịch sử quan trọng trong công tác quản lý điều hành NSNN ở nước ta. Sau nhiều năm thực hiện luật NSNN, thực tiễn đã khẳng định vai trò của luật trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Hoạt động NSNN dần được quan tâm không chỉ từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước mà còn từ phía người dân và các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cũng dựa trên cơ sở phản hồi từ phía người dân và doanh nghiệp, luật đã bộc lộ nhiều bất cập không chỉ giữa văn bản và thực tế áp dụng mà cả những bất cập trong công tác chỉ đạo điều hành. Một trong những nguyên nhân dẫn đến những bất cập trên là việc quyết định phân chia nguồn thu, nhiệm vụ chi tiêu cho các cấp ngân sách và phân giao nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan trong bộ máy quản lý Nhà nước vẫn còn tồn tại nhiều nhược điểm cần xem xét lại.
Xem thêm

Đọc thêm

Quản lý Ngân sách Huyện vĩnh tường, Tỉnh Vĩnh Phúc trong điều kiện hiện nay

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

Đất nước ta đang bước vào năm thứ mười sáu của quá trình đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986. Trong những năm qua, mọi mặt đời sống kinh tế xã hội được cải thiện đáng kể, tạo cho đất nước ta một diện mạo mới trong mắt bè bạn quốc tế. Trong những năm tới đây, phát triển kinh tế vẫn là quan điểm chủ đạo của Đảng dựa trên nội lực là chính. Chúng ta đang đẩy mạnh cải cách, phát triển tài chính nhằm tạo dựng nền tài chính quốc gia vững mạnh, cơ chế tài chính phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững; giữ vững an ninh tài chính quốc gia trong phát triển và hội nhập. Mặt khác, Đảng cũng chủ trương phát triển toàn diện giữa nông thôn và thành thị, đồng bằng và miền núi, thu hẹp tối đa khoảng cách giầu nghèo. Ngân sách nhà nước với tính cách là nội lực tài chính để phát triển, trong những năm qua đã khẳng định vai trò của mình đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế hàng năm lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Trên tinh thần phát triển kinh tế của Đại Hội Đảng IX, Ngân sách nhà nước hơn lúc nào hết hiểu rõ trách nhiệm, vai trò của mình trong tình hình mới là động lực của sự phát triển. Với chủ trương phát triển toàn diện của Đảng, cấp ngân sách Huyện đang ngày càng thể hiện rõ chức năng, vai trò, nhiệm vụ của mình trên địa bàn quận, huyện. Ngân sách Huyện là một cấp ngân sách trung gian, ở giữa ngân sách cấp Tỉnh và ngân sách cấp Xã Chính vì vậy mà Ngân sách Huyện chưa thể hiện được vai trò của mình đối với kinh tế địa phương. Hiện nay, trên cả nước có rất nhiều đơn vị cấp ngân sách Huyện. Vừa qua đã có nhiều quan điểm, kiến nghị về việc tổ chức, đổi mới lại hệ thống hành chính nhằm làm rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp chính qủyền. Mỗi phương án đều có những ưu điểm, hạn chế riêng. Tuy nhiên theo em, dù có thay đổi theo phương án nào, Ngân sách nhà nước phải đảm bảo hai nguyên tắc: Tập trung thống nhất và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền. Sau hai tháng thực tập tại Phòng Tài ChínhTM Huyện Vĩnh tường, em đã tiếp thu được rất nhiều kiến thức thực tế để củng cố thêm lý luận đã học của mình. Trước những đòi hỏi bức xúc về Ngân sách Huyện như đã nêu, em đã mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài: “Quản lý Ngân sách Huyện vĩnh tường, Tỉnh Vĩnh Phúc trong điều kiện hiện nay Qua việc nghiên cứu đề tài, em đã lĩnh hội được rất nhiêu kiến thức mới về quản lý ngân sách nói chung và ngân sách huyện nói riêng, cả về lý luận và thực tiễn. Em hy vọng rằng, những ý kiến đề xuất nhỏ bé của mình nêu trong đề tài này phần nào giúp cho các cơ quan chức năng trong quá trình kiện toàn Ngân sách Nhà nước, Ngân sách Huyện. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của Tiến sĩ Phan Văn Liên; sự giúp đỡ của các cô, chú Phòng KH Tài ChínhTM Huyện Vĩnh tường; sự nhiệt tình góp ý của các bạn đọc trước những sai sót trong chuyên đề này. Em xin chân thành cảm ơn Vĩnh phúc, tháng 4năm 2003
Xem thêm

47 Đọc thêm

Cùng chủ đề