NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ CÔN TRÙNG GÂY HẠI TRONG KHO THÓC DỰ TRỮ ĐỔ RỜI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ CÔN TRÙNG GÂY HẠI TRONG KHO THÓC DỰ TRỮ ĐỔ RỜI":

BÍ QUYẾT PHÒNG TRỪ PHI HÓA DỊCH HẠI TRONG VƯỜN

BÍ QUYẾT PHÒNG TRỪ PHI HÓA DỊCH HẠI TRONG VƯỜN

Các loại côn trùng và dịch hại thường hay hiện diện và gây hại trong vườn rau, hoa hoặc cây ăn trái, đe dọa đến sinh trưởng và phát triển của cây. Vì vậy, những người làm vườn cần nghiên cứu tập tính sinh hoạt, cách gây hại của chúng. Bài viết này nhằm cung cấp những biện pháp phòng trừ tổng hợp IPM, trong đó nhấn mạnh biện pháp phòng trừ sinh học và hữu cơ

7 Đọc thêm

Nghiên cứu nấm Bipolaris oryzae hại hạt giống lúa thu thập tại một số tỉnh phía Bắc và ven biển miền Trung Việt Nam

NGHIÊN CỨU NẤM BIPOLARIS ORYZAE HẠI HẠT GIỐNG LÚA THU THẬP TẠI MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC VÀ VEN BIỂN MIỀN TRUNG VIỆT NAM

PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Không dễ để nhận thấy nấm Bipolaris oryzae Breda de Haan Shoemaker (B. oryzae) gây hại trên hạt giống hay lây nhiễm làm giảm sản lượng của cây lúa trên đồng ruộng. Tuy nhiên, có thể nhận thấy B. oryzae đã phá hủy biểu mô của hạt, làm giảm sức sống của cây mầm (Neergaard, 1966). B. oryzae là nấm gây hại hạt giống lúa tiêu biểu có thể tồn tại bên trong hạt rất nhiều năm, nấm có thể gây chết hoặc tạo ra vết bệnh trên cây mầm (Ou, 1985). B. oryzae có thể tồn tại trên cây lúa trong tất cả các giai đoạn phát triển, nấm có thể gây hại trên lá mầm, phiến lá, bẹ lá, cổ bông, hạt và phôi. Trên cây mạ, nấm B. oryzae có thể gây ra các triệu chứng thối vòng quanh lá mầm hoặc làm biến dạng lá sơ cấp và thứ cấp. B. oryzae cũng có thể xâm nhập vào hạt lúa qua lớp vỏ, là nguyên nhân gây ra hiện tượng “pecky rice”- một thuật ngữ chỉ hạt bị đốm và biến màu (Webster and Gunnel, 1992). Nấm B. oryzae đã không được chú ý nhiều trong thời gian gần đây do không gây thiệt hại nặng về năng suất và kinh tế, B. oryzae cũng không gây thành dịch hại như một số loài nấm khác, tuy nhiên B. oryzae được coi là nấm gây bệnh trên lúa của nông dân nghèo ở những vùng đất bị khô hạn và đất nghèo dinh dưỡng (Zadoks, 2002). B. oryzae là nguyên nhân chính gây ra tỷ lệ nảy mầm thấp của các lô hạt giống lúa khi gieo trồng tại một số tỉnh phía Bắc và ven biển miền Trung Việt Nam. B. oryzae được tìm thấy trên tất cả các mẫu hạt giống lúa không đạt yêu cầu về tỷ lệ nảy mầm theo quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam từ năm 1998 đến 2008. B. oryzae đã gây ra hiện tượng hạt bị chết trước khi nảy mầm và cây mầm không bình thường do nhiễm B. oryzae sơ cấp hoặc thứ cấp (Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng Quốc gia, 1998- 2008). Các nghiên cứu về bệnh hạt giống thời điểm này của Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Nông Lâm Huế, Viện nghiên cứu Lúa đồng bằng sông Cửu Long cũng cho rằng B. oryzae có ảnh hưởng tới tỷ lệ nảy mầm của hạt giống lúa và giai đoạn mạ trên đồng ruộng tại các tỉnh phía Nam. Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nấm B. oryzae không gây ra thiệt hại nặng về năng suất nhưng đã gây thiệt hại về số lượng và chất lượng hạt giống lúa. Quá trình phát triển và gây hại của nấm B. oryzae tại Việt Nam có thể nói đã trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn 1 là trong những năm từ giữa đến cuối thế kỷ 20, với bộ giống lúa cũ và phương thức canh tác chưa được cải tiến, nấm B. oryzae gây hại trên đồng ruộng tương đối phổ biến. Các kết quả nghiên cứu khoa học trong thời gian này thường tập trung trên đồng ruộng với quá trình gây hại trên bộ lá của cây lúa. Các biện pháp phòng trừ cũng tập trung trên đồng ruộng, các nghiên cứu về tác hại của nấm trên hạt và quá trình truyền bệnh qua hạt chưa nhiều. Đây là giai đoạn đã đưa bệnh do nấm B. oryzae gây ra vào danh sách những bệnh được quan tâm trên cây lúa, bệnh tiêm lửa. Giai đoạn 2 là vào những năm đầu của thế kỷ 21. Quá trình chọn tạo giống ở Việt Nam ở giai đoạn này đã phát triển rất nhanh chóng. Nhiều giống lúa mới đã được công nhận và đưa vào sản xuất với các đặc tính nông sinh học đa dạng, phong phú. Bệnh do nấm B. oryzae gây ra được kiểm soát thông qua quá trình khảo nghiệm, là 1 trong 29 tính trạng của các giống lúa mới chọn tạo bắt buộc phải được đánh giá trong quá trình khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Bên cạnh đó phương thức sản xuất lúa được hiện đại hóa, các loại nấm bệnh gây hại trên đồng ruộng trong đó có B. oryzae đã được kiểm soát nên hạn chế được khả năng gây hại trong quá trình phát triển của cây lúa. Trong thời gian này, được chính phủ Đan Mạch trợ giúp, các nghiên cứu về bệnh hạt giống đã cho thấy nấm B. oryzae có ý nghĩa rất lớn trong việc gây hại trên hạt giống lúa. Trong những năm gần đây, trên một số giống lúa đang trồng phổ biến tại các tỉnh phía Bắc, B. oryzae đã gây hại trở lại trên đồng ruộng. Hiện tượng này đã tạo ra sự lo ngại cho các cơ quan quản lý, công ty sản xuất giống và nông dân. Khi sản xuất vụ mới, nhu cầu hạt giống lúa rất lớn, việc sử dụng hạt giống vụ trước trồng ở vụ sau rất khó khăn do áp lực về thời gian. Thời gian từ khi thu hoạch vụ này để chuyển sang gieo trồng vụ mới (thời gian chuyển vụ) quá ngắn làm cho việc chuẩn bị hạt giống để bán trên thị trường không kịp. Một số giống chưa hết thời gian ngủ nghỉ khi được bán tới tay người sử dụng cũng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng hạt giống và quá trình kinh doanh. Để khắc phục tình trạng này các công ty đã sử dụng ưu thế sẵn về chênh lệch thời vụ giữa các tỉnh miền Trung và miền Bắc để sản xuất hạt giống tại miền Trung để cung cấp cho các tỉnh phía Bắc. Tại miền Trung, nấm B. oryzae khá phổ biến trên đồng ruộng nên quá trình vận chuyển hạt giống được sản xuất tại đây đi các địa phương khác đã tạo điều kiện cho B. oryzae phát triển ở nơi hạt giống đến. Các công ty cung cấp hạt giống lúa cho rằng đây là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng nấm B. oryzae xuất hiện trở lại trên đồng ruộng tại các tỉnh phía Bắc. Ngoài ra việc tích lũy bệnh sau một vài vụ do sự tồn tại của nấm B. oryzae trên đồng ruộng có thể đã tạo điều kiện cho nấm xâm nhiễm vào hạt. Nấm B. oryzae lan truyền thông qua hạt giống không tạo ra quá trình lây lan mạnh trên đồng ruộng để tạo thành dịch như Pyricularia oryzae hay một số nấm khác nhưng B. oryzae tồn tại trên hạt cũng là một mắt xích trong quá trình duy trì sự có mặt và truyền bệnh từ vụ trước tới vụ sau. Quá trình trao đổi mua bán hạt giống diễn ra rất thường xuyên và dễ dàng trong khi việc quản lý bệnh trên hạt giống chưa được quan tâm. Đối với nấm B. oryzae lan truyền qua hạt giống hiện cũng chưa có tiêu chuẩn cụ thể về tỷ lệ hạt nhiễm nấm là bao nhiêu thì lô hạt giống đạt yêu cầu làm giống và được phép lưu thông trên thị trường. Chất lượng hạt giống lúa hiện nay rất được quan tâm và được quản lý theo quy chuẩn Quốc gia. Hạt giống lúa chất lượng tốt có thể được bán với giá cao hơn 20 lần giá lúa thương phẩm. Hạt giống lúa ngoài ưu điểm vượt trội về năng suất hay chất lượng thì phải đáp ứng các yêu cầu đặt ra về độ ẩm, độ sạch, hạt khác giống và tỷ lệ nảy mầm. Trong các chỉ tiêu trên tỷ lệ nảy mầm là quan trọng nhất, tỷ lệ nảy mầm của một lô hạt giống được yêu cầu tối thiểu phải đạt 80% và không bị giảm trong thời gian trước khi đem đi gieo trồng. Để đảm bảo tỷ lệ nảy mầm cao, lô hạt giống lúa phải được loại bỏ các yếu tố có khả năng gây bệnh hoặc bản thân hạt giống sạch bệnh không mang nguồn bệnh cả ở bên trong hay bám ngoài vỏ. Giảm năng suất, tăng công lao động là yếu tố phải được hạn chế. Tại Việt Nam, sản xuất lúa thường bằng hai hình thức: gieo mạ sau đó cấy chuyển ra ruộng và gieo sạ trực tiếp trên đồng ruộng. Cả hai phương pháp này đều có khả năng bị ảnh hưởng do hạt giống bị nhiễm B. oryzae gây ra. Đối với hình thức gieo mạ, tình trạng thiếu mạ xảy ra do hạt giống bị chết bởi B. oryzae. Đối với hình thức gieo sạ, B. oryzae có thể gây mất khoảng dẫn tới tăng công lao động cấy dặm hoặc bị giảm năng suất khi không bù được khoảng mất cây. Với diện tích trồng lúa khoảng 8 triệu ha của Việt Nam, nếu kiểm soát được khả năng gây hại của nấm B. oryzae thì sẽ tiết kiệm được một lượng rất lớn hạt giống lúa. Sử dụng hạt giống lúa có chất lượng tốt trong dự trữ Quốc gia phải được đạt lên hàng đầu. Hạt giống lúa với mục đích dự trữ Quốc gia hiện nay chưa được kiểm soát tỷ lệ hạt nhiễm nấm B. oryzae trước khi đem vào kho dự trữ. Các lô hạt giống lúa có thể bị giảm tỷ lệ nảy mầm và sức sống của cây mầm do nấm B. oryzae. Sử dụng các lô hạt giống này trong các trường hợp khẩn cấp sẽ gây ra hậu quả rất khó lường. Ví dụ sau thiên tai, gieo trồng các lô hạt giống có tỷ lệ nảy mầm thấp sẽ rất khó khắc phục do thời vụ đã muộn. Để có thông tin đầy đủ và toàn diện, các nghiên cứu về nấm B. oryzae gây hại trên hạt giống lúa là rất cần thiết. Các kết quả thu được trong quá trình thực hiện luận án sẽ là cơ sở dữ liệu để nghiên cứu, ứng dụng tạo ra một hệ thống sản xuất hạt giống lúa sạch bệnh tại Việt Nam. 1.2. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1.2.1. Mục đích - Nghiên cứu xác định khả năng xâm nhiễm, gây hại của nấm B. oryzae trên hạt giống lúa và các giải pháp phòng chống bệnh tại các tỉnh phía Bắc và ven biển miền Trung Việt Nam. 1.2.2. Yêu cầu - Có được thông tin về sự gây hại của B. oryzae trên đồng ruộng, có được thông tin về tỷ lệ hạt bị nhiễm nấm B. oryzae trên hạt giống lúa tại các tỉnh phía Bắc và ven biển miền Trung. - Xác định được quá trình xâm nhiễm của B. oryzae vào hạt giống và ảnh hưởng của nấm tới khả năng nảy mầm của hạt giống. - Xác định được một số đặc điểm sinh học, đặc điểm gây hại trên hạt và sự đa dạng di truyền của nấm B. oryzae. - Xác định được các biện pháp chế biến, bảo quản hạt giống lúa và các biện pháp xử lý hạt giống để phòng trừ nấm B. oryzae.
Xem thêm

164 Đọc thêm

tác hại của con trùng và chuột hại nông sản

TÁC HẠI CỦA CON TRÙNG VÀ CHUỘT HẠI NÔNG SẢN

Sau khi thu hoạch, vấn đề bảo quản nông sản để dự trữ, làm giống cho mùa sau là một vấn đề rất quan trọng, bởi nếu bảo quản không tốt, nông sản sẽ hỏng và biến chất, gây tổn thất rất lớn. Bên cạnh yếu tố ảnh hưởng của môi trường, ảnh hưởng của sinh vật (mối, mọt, chuột...) với nông sản trong kho là rất lớn. Do đó, biện pháp phòng chống các sinh vật có hại trong bảo quản nông sản luôn là một vấn đề cấp thiết. Sau đây nhóm xin báo cáo " Côn trùng và chuột hại nông sản" sẽ giúp các bạn có thể hiểu rõ hơn về tác hại của các sinh vật đối với số lượng và chất lượng nông sản khi lưu giữ trong kho, các biện pháp phòng trừ; hạn chế tác hại của chúng để đảm bảo chất lượng nông sản tránh những tổn thất đáng tiếc, bảo quản tốt nhất những sản phảm nông nghiệp đã làm ra.
Xem thêm

74 Đọc thêm

QUY PHẠM KHẢO NGHIỆM HIỆU LỰC THUỐC XÔNG HƠI TRỪ CÔN TRÙNG GÂY HẠI TRONG KHO

QUY PHẠM KHẢO NGHIỆM HIỆU LỰC THUỐC XÔNG HƠI TRỪ CÔN TRÙNG GÂY HẠI TRONG KHO

Công thức khảo nghiệm:Liều lợng thuốc dùng trong khảo nghiệm theo hớng dẫn của cơ sởsản xuất và tình hình thực tế về tính kháng thuốc của côn trùnggây hại trong kho.Các loại thuốc so sánh phải là loại thuốc có cùng phơng thức tác độngtới côn trùng gây hại và đã đợc Bộ Nông nghiệp - Phát triển nôngthôn đa vào danh mục thuốc bảo vệ thực vật đợc phép sử dụng,hạn chế sử dụng ở Việt NamCông thức đối chứng không xử lý thuốc.Trong từng lần nhắc lại của khảo nghiệm, các công thức đợc bố trítheo kiểu khối ngẫu nhiên - RCD (Ramdom Complication BlockDesign) hoặc các phơng pháp khác hiện đang đợc sử dụng trongthống kê toán học.2.2.Quy mô khảo nghiệm và số lần nhắc lại:2.2.1. Khảo nghiệm diện hẹp:Thể tích khử trùng là 1m 3. Số lợng côn trùng đa vào khảo nghiệm ítnhất là 100 cá thể/1 loài/1 công thức/ 1 lần nhắc lại và đồng nhấtvề pha phát dục. Số lần nhắc lại của khảo nghiệm tối thiểu là 3 lần.2.2.2. Khảo nghiệm diện rộng:Thể tích không gian khảo nghiệm phải đạt tối thiểu là 300m 3/côngthức và không lặp lại. Mật độ quần thể côn trùng sống cần khảonghiệm phải đạt thấp nhất là 10 con/kg. Trờng hợp do mật độ quầnthể côn trùng có sẵn trên hàng hoá quá thấp, cho phép bố trí cácbao chứa hàng có sẵn côn trùng sống với mật độ nh trên vào tronglô hàng với số lợng là 20 bao/lô, trọng lợng một bao là 1 kg. Bố trí cácbao hàng có sẵn côn trùng vào lô hàng khảo nghiệm theo sơ đồ
Xem thêm

Đọc thêm

đề thi công nghệ 7 năm 2014 2015 và câu hỏi ôn tập từ câu 7 đến câu 13

ĐỀ THI CÔNG NGHỆ 7 NĂM 2014 2015 VÀ CÂU HỎI ÔN TẬP TỪ CÂU 7 ĐẾN CÂU 13

1.Trồng trọt có vai trò và nhiệm vụ: Vai trò: + Cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người. + Cung cấp thức ăn cho gia súc. + Cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp. + Cung cấp nông sản để xuất khẩu. _ Nhiệm vụ:1;2;4;6 (sgk6) đảm bảo lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. 2._ Đất trồng là lớp bề mặt tơi xốp của vỏ Trái Đất, trên đó thực vật có khả năng sinh sống và sản xuất ra sản phẩm. _Thành phần của đất trồng: có 3 thành phần: + Phần rắn: Cung cấp chất dinh dưỡng. + Phần khí: Cung cấp oxi cho cây quang hợp. + Phần lỏng: Cung cấp nước cho cây _ Tính chất chính của đất: + Thành phần cơ giới của đất. + Độ chua, độ kiềm. + Khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng của đất. + Độ phì nhiêu của đất. 3._Vai trò phân bón : +Phân bón làm tăng độ phì nhiêu của đất, làm tăng năng suất cây trồng và chất lượng nông sản. _Cách sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp: Tuỳ theo từng thời kì mà người ta có cách sử dụng phân bón khác nhau: Bón lót hay bón thúc. Bón lót là bón phân vào đất trước khi gieo trồng nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây con ngay khi nó mới mọc, mới bén rễ Bón thúc là bón phân trong thời gian sinh trưởng của cây nhắm đáp ứng kịp thời nhu cầu dinh dưỡng của cây theo từng thời kì tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển tốt. 4._Vai trò của giống : +Giống cây trồng tốt sẽ làm tăng năng suất, chất lượng nông sản, tăng vụ và thay đổi cơ cấu cây trồng. _ Phương pháp chọn tạo giống cây trồng: chọn lọc, lai, gây đột biến và nuôi cấy mô. 5._Khái niệm về sâu, bệnh hại: _ Côn trùng là động vật không xương sống thuộc ngành Chân khớp, cơ thể chia làm 3 phần: đầu, ngực, bụng. Ngực mang 3 đôi chân và thường có 2 đôi cánh, đầu có một đôi râu. _ Bệnh cây là trạng thái không bình thường về chức năng sinh lí, cấu tạo và hình thái của cây dưới tác dụng của các tác nhân gây bệnh và điều kiện sống không thuận lợi. _ Các biện pháp phòng trừ: + Biện pháp canh tác và sử dụng giống chống chịu sâu bệnh. + Biện pháp thủ công. + Biện pháp hoá học. + Biện pháp sinh học. + Biện pháp kiểm dịch thực vật. 6. Biện pháp canh tác và sử dụng giống chống sâu bệnh ít tốn công, dễ thực hiện, chi phí ít vì canh tác có thể tránh được những kỳ sâu bệnh phát triển; cây phù hợp với điều kiện sống, chống sâu, bệnh hại
Xem thêm

2 Đọc thêm

IPM TRONG SẢN XUẤT LÚA

IPM TRONG SẢN XUẤT LÚA

Vào những năm 40 của thế kỷ XX, khi các thuốc trừ sâu như DDT và 666 đã được nhận biết một cách đầy đủ thì công tác phòng trừ sâu bệnh của nông dân đã chuyển sang giai đoạn mới. Sự kiện này đã khai sinh ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên thuốc trừ dịch hại tổng hợp hữu cơ theo lối sản xuất công nghiệp ra đời. Tác hại của vịệc sử dụng thuốc BVTV trên đồng ruộng Tạo điều kiện cho sâu bệnh hình thành tính kháng thuốc, có thể tạo ra các chủng sâu kháng lại tất cả các loại thuốc trừ sâu. Làm xuất hiện những loại sâu hại mới mà trước đây chúng là loại sâu hại không quan trọng bị các loài khác lấn át. Gây mất cân bằng sinh thái, đó là chuỗi mắt xích giữa cây trồng sâu hại thiên địch. Thuốc sâu tiêu diệt thiên địch, là yếu tố kìm hãm mật độ sâu hại, nên sâu phát triển tự do và bộc phát thành dịch. Ngoài ra thuốc trừ sâu còn gây ngộ độc cho con người và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống, đến động vật thuỷ sinh. Nguy hiểm hơn là nó tích luỹ trong nông sản để rồi gây hại cho những người tiêu dùng các nông sản đó. Bằng việc phát hiện ra vấn đề sử dụng hoá chất BVTV  đã làm mất cân bằng hệ sinh thái, làm huỷ diệt mối quan hệ bền vững giữa cây trồng sâu hại thiên địch. Các nhà khoa học đã định hướng ra một chiến lược phòng trừ  sâu bệnh  mới đó là bằng cách nào đó giữ cho được mối quan hệ cân bằng tự nhiên trong hệ sinh thái, cách duy nhất là không tác động các hoá chất BVTV. Ý tưởng đó đã được kiểm chứng tại Viện Đấu tranh sinh học quốc tế (Malaysia) và Viện nghiên cứu lúa quốc tế (Philippiness) bằng cách trồng lúa trong điều kiện không phun thuốc trừ sâu  có đối chứng với việc phun thuốc. Kết quả cho thấy ở ruộng không phun thuốc trừ sâu hệ sinh thái  được cân bằng, thiên địch phát triển đủ sức khống chế sâu hại; ở ruộng có phun thuốc trừ sâu  thì ngược lại, sâu hại phát triển mạnh gây ảnh hưởng đến năng suất.
Xem thêm

79 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NĂNG CAO NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG HOA LILY TẠI LẠNG SƠN

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NĂNG CAO NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG HOA LILY TẠI LẠNG SƠN

cho hoa bằng phân vi sinh và không phun thuốc trừ sâu mà phòng trừ sâu bệnhcho hoa bằng phơng pháp tổng hợp IPM, hoa sạch, không bị ô nhiễm môitrờng trong phòng để hoa.Hoa của Việt Nam cũng đã đợc xuất khẩu, riêng lợng hoa của côngty xuất khẩu hoa Hasfarm 100% vốn nớc ngoài ở Đà Lạt đã đem lại doanhthu trên 4 triệu USD/năm. Theo phân tích của các chuyên gia, nhu cầu tiêu thụhoa sẽ ngày càng tăng cả ở thị trờng trong nớc và quốc tế. Nhằm đáp ứngnhu cầu của thị trờng, Việt Nam có kế hoạch phát triển diện tích trồng hoalên khoảng 10.000 ha, với sản lợng 3,5 tỷ cành và đạt kim ngạch xuất khẩukhoảng 60 triệu USD vào khoảng 2010. Theo đó, một số vùng sản xuất chínhđã đợc quy hoạch, gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, SaPa ( Lào Cai),Đà Lạt, Đức Trọng (Lâm Đồng), Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Thái BìnhHiện nay, vấn đề quan tâm không chỉ là đảm bảo mục tiêu về diện tíchtrồng hoa mà còn là chất lợng và hiệu quả bền vững, cần phải đa dạng hoácác loại hoa phục vụ nhu cầu trong nớc, mặt khác chú trọng các loại hoa chấtlợng cao phục vụ xuất khẩu. ở Việt Nam, một số công ty nớc ngoài thuêđất, lập doanh nghiệp hoặc liên doanh hợp tác sản xuất hoa. Chỉ tính riêng tỉnhLâm Đồng đã có 4 công ty: Nhật Bản, Thái Lan ở Bảo Lộc, Đài Loan ở DiLinh, Tránh Đài Lâm ở Đức Trọng và Hasfarm ở Đà Lạt. Họ rất chú trọng đếnsản xuất các loại hoa chất lợng cao. Đây là tín hiệu đáng mừng cho sự pháttriển ngành sản xuất hoa Việt Nam nói chung, song cũng đáng lo cho nhữngdoanh nghiệp, ngời sản xuất hoa nội địa, nếu không cố gắng vơn lên sẽkhông thể cạnh tranh đợc với các doanh nghiệp này (Đặng Văn Đông) [10].19Hiện nay trong cơ cấu hoa hồng vẫn chiếm 35-40%, hoa cúc chiếm 25-30 %,còn lại là lay ơn, cẩm chớng, thợc dợc, hoa huệ, hoa đồng tiền, lan Giátrị thu nhập từ trồng hoa dao động từ 60-120 triệu đồng/ha/vụ. Con số này tuykhông lớn nhng cao gấp từ 10-12 lần so với trồng lúa (Nguyễn Xuân Linh và
Xem thêm

109 Đọc thêm

Tuyển chọn giống lúa kháng rầy lưng trắng và xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp ở Thừa Thiên Huế

Tuyển chọn giống lúa kháng rầy lưng trắng và xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp ở Thừa Thiên Huế

1 MỞ ĐẦU 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng nhất nuôi sống con người, khoảng 3/4 dân số thế giới và 3 tỷ người ở Châu Á sống chủ yếu dựa vào lúa gạo. Trung bình mỗi năm lượng khách hàng tiêu thụ lúa gạo trên thế giới tăng thêm 50 triệu người, theo dự báo năm 2025 nhu cầu lúa gạo sẽ tăng 40% so với năm 2005 (Khush, 2006). Những năm gần đây, biến đổi khí hậu toàn cầu đã tác động trực tiếp đến sản xuất lúa gạo và ảnh hưởng đến vấn đề an ninh lương thực toàn cầu. Cùng với những hiện tượng xâm nhập mặn, hạn hán, lũ lụt thì dịch hại cũng là trở ngại lớn cho quá trình sản xuất lúa trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Trong các loài dịch hại trên lúa, rầy được xem là đối tượng dịch hại nghiêm trọng hàng đầu ở các quốc gia trồng lúa châu Á (Sun và cs, 2005; Brar và cs, 2009; Catindig và cs, 2009). Rầy không chỉ gây hại trực tiếp mà còn là môi giới truyền nhiều loại bệnh do virus gây ra trên cây lúa. Sự gây hại của rầy trên đồng ruộng có thể làm tổn thất đến 60% năng suất lúa (Lang và cs, 2003). Nhiều thập kỷ qua, để diệt rầy hại lúa biện pháp hóa học được xem là một biện pháp hữu hiệu vì nó mang lại hiệu quả nhanh nên phù hợp với tâm lý của người dân. Tuy nhiên, sử dụng thuốc hóa học liên tục trên đồng ruộng đã hình thành nên các chủng rầy kháng thuốc, dẫn đến hiện tượng tái phát dịch hại (Kenmore, FAO, 2011), tiêu diệt nhiều kẻ thù tự nhiên và hủy hoại sinh thái ruộng lúa (Sogawa, 2004). Ngoài ra, dư lượng thuốc hóa học còn tác động đến sức khỏe con người và các loài sinh vật khác. Vì vậy, không thể xem biện pháp hóa học là tối ưu mà cần có sự kết hợp hài hòa các biện pháp trong quản lý rầy hại lúa. Quản lý tổng hợp rầy hại lúa là biện pháp tin cậy, hiệu quả và phù hợp với xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững (Sun và cs, 2005; Gurr, 2009). Trong đó, sử dụng giống lúa kháng rầy được xem là biện pháp chủ động và thân thiện với môi trường (Padmarathi và cs, 2007). Vì vậy, nghiên cứu giống lúa kháng rầy nhiệm vụ cấp thiết được đặt lên hàng đầu với những nhà chọn giống không chỉ ở Việt Nam mà của nhiều quốc gia trồng lúa trên Thế giới. Thêm vào đó, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác lúa theo hướng quản lý cây trồng tổng hợp cũng là việc làm cần quan tâm để sản xuất các giống kháng rầy bền vững trên đồng ruộng. Rầy lưng trắng (Sogatella furcifera Horvath) là sâu hại lúa quan trọng ở các vùng trồng lúa trên cả nước. Ngoài gây hại trực tiếp là chích hút dịch làm cho cây lúa sinh 2 trưởng phát triển kém, làm chậm quá trình đẻ nhánh, gây vàng lá, cây lúa còi cọc, RLT còn là môi giới truyền bệnh virus lùn sọc đen (Hà Viết Cường và cs, 2010; Đào Nguyên, 2010; Trịnh Thạch Lam, 2011). Năm 2009, sự bùng phát RLT trên đồng ruộng kéo theo sự xuất hiện của bệnh lùn sọc đen phương Nam hại lúa ở các tỉnh từ Bình Định đến Đồng bằng sông Hồng đã làm cho đối tượng này trở nên nguy hiểm hơn. Trước thực trạng đó, thông tư số 58/2010/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về quy định phòng, trừ bệnh lùn sọc đen trên lúa đã ban hành và xác định để phòng trừ bệnh lúa lùn sọc đen thì chủ yếu dựa vào việc quản lý môi giới truyền bệnh là RLT hại lúa. Từ năm 2007 đến 2010, RLT đã trở thành dịch hại chiếm ưu thế trên đồng ruộng và dần dần thay thế rầy nâu (Hà Viết Cường và cs, 2010). Tại Thừa Thiên Huế, từ năm 2010 - 2013, diện tích lúa nhiễm rầy có xu hướng tăng dần và RLT ngày càng chiếm ưu thế trên đồng ruộng. Năm 2010, toàn tỉnh có 2.014 ha lúa nhiễm rầy (RLT chiếm 37,5%); đến năm 2013, diện tích lúa nhiễm rầy là 14.699,8 ha, chiếm 53,7% diện tích trồng lúa của tỉnh và RLT chiếm đến 46%, đặc biệt có đến 3.051 ha nhiễm nặng và 14 ha lúa bị mất trắng. Trong khi đó, các giống lúa gieo trồng phổ biến hiện nay tại địa phương như Khang dân, Xi21, Xi23, IR38, HT1, TH5, BT7, HC4, HT6 đều bị nhiễm rầy ở mức nhẹ đến trung bình, với mật độ rầy gây hại phổ biến từ 750 - 1.500 con/m 2 , cục bộ gây hại với mật độ >10.000 con/m (Cái Văn Thám, 2014). Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu về giống lúa kháng RLT và các biện pháp kỹ thuật canh tác giống lúa kháng rầy ở Thừa Thiên Huế còn rất hạn chế. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Tuyển chọn giống lúa kháng rầy lưng trắng và xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp ở Thừa Thiên Huế. 1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1.2.1. Mục tiêu chung Tuyển chọn giống lúa kháng RLT phù hợp với điều kiện sinh thái ở Thừa Thiên Huế nhằm hạn chế phun thuốc trừ rầy trên đồng ruộng, đảm bảo sản xuất lúa gạo an toàn, phù hợp với xu hướng phát triển bền vững tại địa phương. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể - Tuyển chọn được 1 - 2 giống lúa có khả năng kháng RLT có thời gian sinh trưởng ngắn, ít nhiễm sâu bệnh hại khác, năng suất và chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sản xuất ở Thừa Thiên Huế. 2
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu lý thuyết tổ chức quản trị dự trữ hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại liên hệ thực tiễn tại công ty CPTM – DV bến thành

NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT TỔ CHỨC QUẢN TRỊ DỰ TRỮ HÀNG HÓA TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI CÔNG TY CPTM – DV BẾN THÀNH

Đề tài: Nghiên cứu lý thuyết tổ chức quản trị dự trữ hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại. Liên hệ thực tiễn tại Công ty CPTM – DV Bến Thành. Chương 1: Lý thuyết tổ chức quản trị dự trữ hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại Khái niệm và chức năng của dự trữ Dự trữ hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại được hình thành do chính yêu cầu của lưu thông hàng hóa, trao đổi hàng hóa để đáp ứng yêu cầu của sản xuất và tiêu dùng xã hội. Dự trữ trong thương mại thực hiện 3 vai trò cơ bản: Cân đối cung – cầu: Đảm bảo cho sự phù hợp giữa nhu cầu và nguồn cung ứng về số lượng, không gian và thời gian. Điều hòa những biến động: Dự trữ để đề phòng những biến động ngắn hạn do sự biến động của nhu cầu và chu kỳ nhập hàng. Giảm chi phí: Dự trữ nhằm giảm những chi phí trong quá trình sản xuất và phân phối. 1.2 Tổ chức dự trữ hàng hóa của doanh nghiệp thương mại 1.2.1 Tổ chức hệ thống kho bãi dự trữ 1.2.1.1 Xác định nhu cầu kho bãi dự trữ Kho bãi được hiểu đơn giản là những điều kiện cơ sở vật chất để dự trữ hàng hóa phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tổ chức hệ thống kho bãi bao gồm tổ chức hệ thống nhà kho, sân bãi, các trang thiết bị để chứa đựng và bảo quản sản phẩm. Tổ chức quản lý kho bãi bao gồm các công việc chính sau như xác định nhu cầu kho bãi, quy hoạch mạng lưới kho bãi, đầu tư cơ sở hạ tầng và mua sắm trang thiết bị kho bãi. Với doanh nghiệp thương mại, hệ thông kho bãi có thể bao gồm các loại chính sau: Kho bãi phục vụ thu mua, tiếp nhận hàng hóa. Kho bãi trung chuyển. Kho bãi dự trữ. Để xác định nhu cầu kho bãi, doanh nghiệp cần căn cứ vào định mức dự trữ hàng hóa của mình. Diện tích cần có thường bao gồm: Diện tích nghiệp vụ chính của kho. Diện tích khác. Để xác định nhu cầu kho bãi, doanh nghiệp có thể sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau: Phương pháp kinh nghiệm: Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất. Phương pháp này thường áp dụng tính toán các diện tích hành chính, diện tích vận hành kho bãi,… Phương pháp tính theo tải trọng: Phương pháp này thường áp dụng cho các hàng hóa chất xếp trên giá, kệ, chất đống… S = Ds Trong đó: S là diện tích kho bãi cần có, D là định mức dự trữ theo ngày, s là tải trọng trên m2. Thông thường, doanh nghiệp có thể tính toán cân đối ba định mức diện tích: S tối thiểu: Theo định mức dự trữ tối thiểu. S tối đa: Theo định mức dự trữ tối đa. S bình quân: Theo định mức dự trữ bình quân. Phương pháp tính theo thể tích: Phương pháp này áp dụng cho những hàng hóa chứa đựng và bảo quản theo đơn vị m3. V = Dv Trong đó: V là thể tích cần có và v là hệ số thể tích chứa đựng cần có cho một đơn vị sản phẩm. Tương tự S, V có thể được tính theo V tối đa, V tối thiểu, V bình quân. 1.2.1.2 Thiết lập hệ thống kho bãi dự trữ Quyết định địa điểm đặt kho bãi: Một địa điểm tốt đáp ứng các yêu cầu sau: + Đáp ứng được nhu cầu về kho bãi của doanh nghiệp. + Chi phí về kho bãi thấp nhất. + Thời gian vận chuyển nhanh nhất, đảm bảo không ảnh hưởng đến nhịp độ bán ra. + Đảm bảo an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường. Quyết định đầu tư hay đi thuê kho bãi: Thực tế doanh nghiệp không nhất thiết phải đầu tư kho bãi vì có những doanh nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ hậu cần kinh doanh kho bãi. Do đó nếu đi thuê có thể làm chi phí cố định giảm đi và bài toán chi phí tổng thể sẽ thấp hơn tự đầu tư. Doanh nghiệp sẽ cân nhắc phương án có lợi để triển khai đáp ứng nhu cầu kho bãi của mình. Lên danh mục và triển khai đầu tư trang thiết bị kho bãi: Hệ thống trang thiết bị tài sản dự trữ bao gồm các tài sản thuộc về các nhóm chủ yếu sau: + Các bục, kệ, giá, tủ… dùng để chứa, đựng hàng hóa dự trữ. + Trang thiết bị bảo quản chuyên dụng. + Hệ thống chiếu sáng. + Hệ thống điều hòa, hút ẩm. + Trang thiết bị nâng hạ, bao gói. + … 1.2.2 Theo dõi và quản lý hàng hóa dự trữ về mặt hiện vật 1.2.2.1 Tổ chức giao nhận hàng hóa vào kho Tổ chức giao nhận hàng hóa vào kho phải đảm bảo các yêu cầu sau: Nhận đúng số lượng, chất lượng hàng hóa theo hợp đồng, phiếu giao hàng, hóa đơn hoặc vận đơn. Chuyển nhanh hàng hóa từ nơi nhận về nơi bảo quản hoặc chế biến. Cần có kế hoạch phối hợp hoạt động giữa các khâu nhận hàng, bốc xếp vận chuyển, bảo quản và chế biến của kho. Mỗi loại hàng hóa có những đặc điểm, tính chất riêng, mỗi nguồn hàng khi giao nhận có những yêu cầu và quy định khác nhau. Cụ thể: Tất cả hàng hóa nhập kho phải có chứng từ hợp lệ. Tất cả hàng hóa khi nhập kho phải được kiểm nhận hoặc được kiểm nghiệm. Có một số loại hàng hóa cần phải được hóa nghiệm. Khi kiểm nhận, kiểm nghiệm nếu thấy hàng hóa bị hư hỏng, thiếu hụt hoặc không bình thường về bao bì, đóng gói thì phải tiến hành làm thủ tục theo đúng quy định của việc giao nhận với sự chứng kiến của các bên hữu quan để quy trách nhiệm cụ thể. Khi nhận hàng xong, phải chú ý ghi rõ số hàng thực phẩm về số lượng, chất lượng của chúng và cùng với người giao hàng xác nhận vào chứng từ. 1.2.2.2 Tổ chức theo dõi và bảo quản hàng hóa Tổ chức theo dõi và bảo quản hàng hóa thực chất là xây dựng, tổ chức các hoạt động của con người nhằm đảm bảo nguyên vẹn giá trị sử dụng của hàng hóa. Các hoạt động này bao gồm: Lựa chọn bố trí vị trí và sơ đồ sắp xếp hàng hóa. Kê lót hàng hóa trong kho. Chất xếp hàng hóa trong kho. Điều hòa nhiệt độ và độ ẩm trong kho. Kiểm tra, chăm sóc hàng hóa và vệ sinh kho hàng. Chống côn trùng và vật gặm nhấm. 1.2.2.3 Tổ chức giao xuất hàng hóa Giao hàng là một công việc quan trọng, quyết định việc hoàn thành kế hoạch hoạt động kinh doanh của kho. Để đảm bảo phục vụ kịp thời cho các yêu cầu của khách hàng và thực hiện nhiệm vụ giao hàng đúng số lượng, chất lượng, giao hàng nhanh gọn, an toàn, khi giao hàng cần thực hiện tốt các quy định sau đây: Tất cả hàng hóa khi xuất kho phải có phiếu xuất kho hợp lệ và chỉ được xuất theo đúng số lượng, phẩm chất và quy cách ghi trong phiếu xuất kho. Người nhận hàng phải có đầy đủ giấy tờ hợp lệ và có đủ thẩm quyền khi giao nhận hàng hóa. Trước khi giao hàng, cán bộ giao nhận, thủ kho phải làm tốt công tác chuẩn bị. Chuẩn bị hàng hóa theo đúng với số lượng, chất lượng, chủng loại ghi trong phiếu xuất kho. Căn cứ vào phiếu xuất kho cán bộ giao nhận, thủ kho cùng với người nhận hàng kiểm tra số lượng, chất lượng hàng hóa giao nhận và giải quyết các trường hợp phát sinh phù hợp với các quy định chung. Hàng nhập trước xuất trước, hàng nhập sau xuất sau. Hàng xuất trong nội bộ phải có chữ ký của thủ trưởng trong phiếu lệnh xuất kho. Khi giao nhận hàng hóa với khách hàng có thể xảy ra những trường hợp không bình thường, không đúng với kế hoạch, tiến độ… thì cần có sự bàn bạc giữa hai bên để cùng nhau giải quyết thỏa đáng trên cơ sở của các nguyên tắc, chế độ đã quy định. Tất cả các hình thức giao hàng đều quy định trong một thời gian nhất định. Tất cả những trường hợp hư hỏng, thừa, thiếu, kém, mất phẩm chất, không đồng bộ… thuộc lô hàng giao, nếu vẫn tiến hành giao hàng cho khách, hai bên phải lập biên bản kiểm nghiệm tại chỗ, quy định rõ trách nhiệm, làm cơ sở pháp lý cho việc xử lý sau này. Trường hợp giao hàng thiếu hàng hoặc hàng không đúng yêu cầu của người mua hàng nếu khách hàng phát hiện, kiểm tra lại thấy đúng thì thủ kho phải giao đủ, giao đúng cho họ, không được dây dưa kéo dài hoặc từ chối. 1.2.2.4 Tổ chức kiểm kê hàng hóa Kiểm kê hàng hóa là quá trình kiểm đếm và ghi chép toàn bộ dữ liệu hàng hóa vào danh mục kiểm kê. Kiểm kê hàng hóa giúp nhận thấy: Hàng hóa, nguyên liệu dự trữ có đúng loại hay không? Có đủ số lượng hay không? Có đảm bảo chất lượng hay không? Giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong quản lý dữ liệu của dự trữ. Có một số loại kiểm kê chính sau: Kiểm kê thường xuyên. Kiểm kê đột xuất. Kiểm kê định kỳ.
Xem thêm

16 Đọc thêm

hiện trạng suy giảm số lượng chất lượng rừng tại VIỆT NAM

HIỆN TRẠNG SUY GIẢM SỐ LƯỢNG CHẤT LƯỢNG RỪNG TẠI VIỆT NAM

Năm 1930, Moov : rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển. Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý. Năm 1952, M.E.Tcachenco : Rừng là một bộ phận của cảnh quan đại lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cậy bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài Theo quy định khoản 1 Điều 3 Luật BV&PTR năm 1991 (sửa đổi bổ sung năm 2004): Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng II. Vai trò của tài nguyên rừng III. Hiện trạng ở Việt Nam i/ Mất rừng xảy ra phổ biến ở nhiều nơi. Mặc dù tổng diện tích rừng toàn quốc tăng trong những năm qua, nhưng diện tích rừng bị mất còn ở mức cao. Thống kê từ năm 1991 đến tháng 10/2008, tổng diện tích rừng bị mất là 399.118ha, bình quân 57.019ha/năm Diện tích mất chủ yếu do được phép chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thác theo kế hoạch chiếm 76%; diện tích rừng bị thiệt hại do các hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng tuy có giảm, nhưng vẫn ở mức cao làm mất 94.055ha rừng, chiếm 23,5% trong tổng diện tích rừng mất trong 7 năm qua, bình quân thiệt hại 13.436ha/năm Trong thời gian 1990_1995, chất lượng rừng giảm đi đáng kể : Theo bộ lâm nghiệp ( nay là bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn), tổn thất hàng năm về diện tích rừng khoảng 1110000 ha, trong khi diện tích rừng trồng được khoảng 130.000 – 150.000 ha/năm. Tuy nhiên, chất lượng các rừng trồng không cao chủ yếu là cây nhập nội như bạch đàn và keo, chiếm khoảng 50 %. Các loài cây bản địa chủ yếu là các loại thông, bồ đề, mỡ, trâu và một số loài cây họ dầu. Hiện nay các loài cây bản địa được trồng nhiều trong dự án trồng rừng phòng hộ các vùng đệm rừng đặc dụng và các vườn quốc gia Trong 10 năm qua, đất nông nghiệp tại Tây Nguyên tăng lên rất nhanh, từ 8,0% năm 1991 lên đến 22,6% năm 2000 (454.300ha so với 1.233.600ha, gấp 2,7 lần), trong lúc đó đất lâm nghiệp giảm từ 59,2% xuống còn 54,9% đất tự nhiên (3,329 triệu ha so với 2,993 triệu ha). So sánh trong cả nước thì trong vòng 10 năm qua, Tây Nguyên là vùng mà rừng bị giảm sút với mức độ đáng lo ngại nhất, đặc biệt là ở Đắk Lắk. iii. Tình hình cháy rừng gia tăngiiii, Tình hình phòng trừ sinh vật hại rừng. Ở một số địa phương như: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng trị, Thừa Thiên Huế có xảy ra hiện tượng dịch sâu róm hại rừng trồng loài cây thông, có năm diện tích rừng thông bị nhiễm bệnh lên đến hàng chục ngàn hécta, đã ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng xuất nhựa. Ngành lâm nghiệp đã sử dụng nhiều biện pháp kỹ thuật phòng, trừ, như phun thuốc sâu, biện pháp sinh học... Tuy nhiên, công tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, kỹ thuật về phòng trừ sinh vật hại rừng còn rất hạn chế, chủ yếu mới thực hiện các giải pháp ứng phó khi dịch xảy ra, các biện pháp phòng sinh vật hại rừng chưa được quan tâm đúng mức Hiện nay hệ thống các cơ quan bảo vệ thực vật mới chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ cây trồng nông nghiệp, chưa có đầy đủ năng lực để thực hiện các biện pháp phòng trừ sinh vật hại rừng. Các ngành chức năng phải làm tốt công tác truyền thông, cung cấp cho người dân những hiểu biết, thông tin thiết thực phục vụ quá trình sản xuất, hướng dẫn để người dân áp dụng có hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Giải pháp về chính sáchV. BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC SỰ GIẢM SÚT DIỆN TÍCH VÀ CHẤT LƯỢNG RỪNG TẠI VIỆT NAM
Xem thêm

29 Đọc thêm

Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất biện pháp phòng trừ sâu Ong ăn lá Mỡ (Shizocera sp.) tại rừng trồng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)

Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất biện pháp phòng trừ sâu Ong ăn lá Mỡ (Shizocera sp.) tại rừng trồng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)

Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất biện pháp phòng trừ sâu Ong ăn lá Mỡ (Shizocera sp.) tại rừng trồng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất biện pháp phòng trừ sâu Ong ăn lá Mỡ (Shizocera sp.) tại rừng trồng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất biện pháp phòng trừ sâu Ong ăn lá Mỡ (Shizocera sp.) tại rừng trồng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất biện pháp phòng trừ sâu Ong ăn lá Mỡ (Shizocera sp.) tại rừng trồng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất biện pháp phòng trừ sâu Ong ăn lá Mỡ (Shizocera sp.) tại rừng trồng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất biện pháp phòng trừ sâu Ong ăn lá Mỡ (Shizocera sp.) tại rừng trồng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất biện pháp phòng trừ sâu Ong ăn lá Mỡ (Shizocera sp.) tại rừng trồng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất biện pháp phòng trừ sâu Ong ăn lá Mỡ (Shizocera sp.) tại rừng trồng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất biện pháp phòng trừ sâu Ong ăn lá Mỡ (Shizocera sp.) tại rừng trồng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất biện pháp phòng trừ sâu Ong ăn lá Mỡ (Shizocera sp.) tại rừng trồng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất biện pháp phòng trừ sâu Ong ăn lá Mỡ (Shizocera sp.) tại rừng trồng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (LV thạc sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT ĐẾN HỆ VI SINH VẬT ĐẤT

TIỂU LUẬN ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT ĐẾN HỆ VI SINH VẬT ĐẤT

Hàng năm trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta và các nước trên thế giới, sâu, bệnh, cỏ dại (gọi chung là sâu hại) là mối đe dọa lớn và nếu không được tổ chức phòng trừ tốt, chúng có thể gây tổn thất nghiêm trọng về năng suất cây trồng và chất lượng nông sản. Bởi vì, thiệt hại do các loại sinh vật hại gây nên đối với cây trồng trên đồng ruộng có thể làm giảm 2025% năng suất, có khi lại đến 50%. Để phòng trừ các loại sinh vật hại nói trên, trong những năm qua chúng ta đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau. Trong đó, biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là biện pháp phổ biến và thông dụng nhất trong nền nông nghiệp hiện nay. Theo thống kê năm 2009 của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện nay tại Việt Nam có khoảng 926 tên thương phẩm thuốc trừ sâu và khoảng 400 tên thương phẩm thuốc trừ cỏ, hàng trăm thương phẩm thuốc trừ bệnh nữa... và con số đó sẽ không dừng lại ở đây, cách đây 30 năm, số hóa chất bảo vệ thực vật được sử dụng chỉ có 20 loại. Về chủng loại hóa chất bảo vệ thực vật khá đa dạng, còn về số lượng cũng gia tăng không ngừng. Năm 1980 lượng hóa chất bảo vệ thực vật sử dụng ở việt nam khoảng 10.000 tấn năm, đầu thập niên 90 thế kỉ XX con số này tăng lên gấp đôi và hiện nay còn khoảng 30.000 tấnnăm. Hầu hết các hóa chất bảo vệ thực vật đều là chất hữu cơ tổng hợp,có tính độc nguy hiểm đối với sinh vật và con người. Chúng ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch,cơ quan nội tiết, cơ quan sinh sản ở những mức độ khác nhau và bằng nhiều con đường khác nhau.chúng có thể phân thành các loại rất độc,độc,trung bình và ít độc. Hóa chất bảo vệ thực vật là các hydrocacbua thơm thường rất độc và khá bền về sinh học. Hầu hết các hóa chất bảo vệ thực vật sử dụng đi trực tiếp vào đất. một số đất có khả năng hấp thụ hóa chất bảo vệ thực vật rất cao. Mới đầu ,trường hợp này có hiệu quả bảo vệ nước ngầm và chuỗi thức ăn,nhưng khi đất hấp thụ mạnh quá và biến đổi sẽ làm gia tăng tính nguy hiểm của hóa chất bảo vệ thực vật đối với sinh vật. sự tồn lưu chất hóa chất bảo vệ thực vật được đo bằng thời gian cần có để chất đó mất hoạt tính hay phân hủy đến 95%.loại bền thời gian phân hủy trên 2 năm, trung bình:118 tháng và không bền từ 12 tuần. thời gian để phân hủy hết 1 nửa gọi là thời gian bán phân hủy. Nhóm hóa chất bảo vệ thực vật là hợp chất hữu cơ bền trong môi trường tự nhiên , có thời gian phân hủy dài. Lượng thuốc bảo vệ thực vật khi ngấm vào đất sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hệ vi sinh vật trong đất. Khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho cây trồng thì có khoảng 50% lượng thuốc tác dụng đến sinh vật gây hại còn khoảng 50% rơi xuống đất. Thuốc BVTV gây tác động rất khác nhau đến quần thể vi sinh vật sống trong đất. Nói chung các hợp chất thuốc bảo vệ thực vật đều thuộc vào loại chất có độc tính, nếu sử dụng tùy tiện sẽ gây ô nhiễm trong môi trường đất. Các hợp chất thường được sử dụng là clo hữu cơ, lân hữu cơ, thuốc trừ sâu sinh học... hầu hết các chất này đều có độc tính cao đối với con người và sinh vật. Các chất bảo vệ thực vật có thể hòa tan trong nước hoặc không hòa tan và được tạo thành dịch nhữ tương phun vào đất. Phần dư thừa trông chờ vào hoạt động của vi sinh vật trong đất phân hủy và làm sạch dần, song nhiều chất trơ rất bền ít bị phân hủy như DDT và 666. Muốn phân hủy 99% một lượng nhỏ DDT trong đất phải mất 30 năm. Do vậy chất này tồn tại rất lâu trong môi trường và khuếch tán rộng trong môi trường, đặc biệt môi trường đất. Các chất bảo vệ thực vật không bị phân hủy sẽ tích lũy ở trong đất và gây độc đối với cây trồng, có tác dụng xấu(có khi diệt) đến hệ vi sinh vật đất. Điều này xảy ra thì thật nguy hiểm vì hệ sinh thái đất có thể bị hủy diệt và rất lâu mới có thể phục hồi được hệ sinh thái này và dù có thể phục hồi lại được cũng không bao giờ được như cũ.
Xem thêm

18 Đọc thêm

BẢO QUẢN CHẾ BIẾN RAU QUẢ

BẢO QUẢN CHẾ BIẾN RAU QUẢ

Chương 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC BẢO QUẢN CHẾ BIẾN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ NÔNG SẢN 1.1. Tầm quan trọng của công tác bảo quản và chế biến 1.1.1 Những thiệt hại trong quá trình bảo quản: Trong quá trình bảo quản, sự hao hụt của nông sản được biểu hiện ở 2 dạng: hao hụt trọng lượng và chất lượng. Hao hụt về trọng lượng: Sự giảm trọng lượng của nông sản có thể xảy ra do hậu quả của các hiện tượng vật lý và sinh học. Ví dụ về sự hao hụt lý học như hiện tượng thoát hơi nước từ nông sản ra ngoài. Tuy nhiên các sản phẩm khác nhau thì quá trình thoát hơi nước cũng khác nhau. Loại hao hụt về lý học khác là sự xáo trộn khi vận chuyển, sắp xếp, bảo quản bị vỡ nát cơ giới tạo ra những hạt bụi cám. Càng xáo trộn mạnh, sự tổn thất này càng lớn. Sự hao hụt về khối lượng còn do các quá trình sinh học như quá trình hô hấp làm cho lượng chất khô trong nông sản bị hao hụt rất lớn. Khi bảo quản trong điều kiện tối ưu thì hao hụt này là không đáng kể. Đối với các loại hạt nếu bảo quản tốt thì hao hụt này không vượt quá giới hạn sai số của phép cân. Ngoài ra hao hụt trọng lượng còn do sự phát sinh, phát triển và gây hại của côn trùng hại nông sản. Hao hụt về chất lượng: Khi tổ chức bảo quản tốt có thể hạn chế sự giảm về chất lượng. Sự giảm chất lượng xảy ra khi bảo quản lâu hơn giới hạn gọi là độ bảo quản của sản phẩm (độ bảo quản của sản phẩm là giai đoạn mà trong đó hạt vẫn giữ được những tính chất kỹ thuật hoặc tính chất thực phẩm của nó). Sự giảm chất lượng nông sản xảy ra không chỉ do bảo quản quá thời hạn mà chủ yêu do các quá trình bất lợi: sự nảy mầm sớm, hiện tượng hô hấp hoặc những biến đổi hóa sinh, tác động của vi sinh vật và côn trùng gây hại. 1.1.2. Vai trò của công tác bảo quản trong sản xuất nông nghiệp. Bảo quản giống để đảm bảo cho tái sản xuất mở rộng. Đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Bảo quản bán thành phẩm sơ chế. Sơ chế, bảo quản tại chỗ trong từng điều kiện thực tế vùng sản xuất. Vì vậy công tác bảo quản phải giải quyết được 3 yêu cầu chính sau: Đảm bảo hao hụt trọng lượng là thấp nhất Hạn chế sự thay đổi về chất lượng. Chi phí, giá thành thấp trên một đơn vị sản phẩm bảo quản. Vai trò của công tác bảo quản và chế biến có thể được thể hiện ở hai góc độ: Dưới góc độ sản xuất giống: Sau quá trình sản xuất, lượng hạt được giữ lại làm giống trở lại vị trí ban đầu, tính từ lúc thu hoạch, nhập kho, bảo quản và xuất kho chiếm khoảng thời gian trong năm, từ đó đặt ra vấn đề cần giải quyết đó là: Thực hiện quá trình bảo quản ngoài đồng ruộng (gieo trồng trở lại sau khi thu hoạch) đối với nông sản khó bảo quản để rút ngắn thời gian bảo quản, tăng chất lượng sản phẩm. Trong quá trình bảo quản trong kho phải xác định các thông số kỹ thuật hợp lý để tối ưu hóa quá trình bảo quản, thời gian bảo quản càng lâu càng tốt.
Xem thêm

111 Đọc thêm

luận văn nghiên cứu đặc điểm bọ rùa 28 chấm

luận văn nghiên cứu đặc điểm bọ rùa 28 chấm

Bọ rùa 28 chấm (Epilachna vigintioctopunctata) là loại côn trùng đã và đang gây hại nghiêm trọng cho nền nông nghiệp nói chung và ngành sản xuất rau nói riêng của nước ta. Mặc dù không phải là đối tượng gây hại quan trọng nhất nhưng chúng cũng đã làm giảm sút năng suất của bà con nông dân. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà trình độ thâm canh của nông dân nước ta đã lên cao, việc sử dụng nhiều phân đạm và thuốc hóa học đã làm mất cân bằng sinh thái tiêu diệt cả thiên địch tự nhiên của bọ rùa. Bọ rùa 28 chấm gây hại nghiêm trọng cho rất nhiều loại cây trồng quan trọng trong nông nghiệp ở châu Á bao gồm các loại cây họ cà (Solanaceae) như cà chua (Lycopersicon esculentum Mill), khoai tây (Solanum tuberosum), cà tím (Solanum melongena) và các loại cây họ bầu bí như bầu (Lagenaria siceraria), dưa chuột (Cucumis sativus), dưa hấu (Citrullus vulgaris), gấc (Momordica cochinchinensis) Trên thế giới bọ rùa được coi là một dịch hại quan trọng, tại Úc nó đã được coi là một dịch hại quan trọng trong thế kỉ XIX (Richards và Filewood 1988), khi mật độ cao có thể gây rụng lá toàn cây và gây mất mùa (Krishnamurti, 1932) Ở nước ta mặc dù chưa có báo cáo về mức độ gây hại của loại bọ rùa này nhưng trên thực tế đã có rất nhiều ghi nhận về những thiệt hại do nó gây ra. Với đặc điểm gây hại trên lá làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng quang hợp vì vậy làm giảm năng suất một cách đáng kể.
Xem thêm

Đọc thêm

9 công dụng gia đình hữu ích của bạc hà

9 CÔNG DỤNG GIA ĐÌNH HỮU ÍCH CỦA BẠC HÀ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Được đánh giá là một kỳ quan của thực vật, cây bạc hà rất dễ chăm sóc và sở hữu mùi hương quyến rũ, dễ dàng mê hoặc bất kỳ ai. Điều tuyệt vời nhất về loại thảo mộc quen thuộc này không gì khác chính là tính hữu ích của nó, chẳng hạn như làm gia vị trong các món ăn thơm ngon, một loại trà tốt cho sức khỏe, xua đuổi côn trùng... Ngoài ra, nhờ vào đặc tính êm dịu và khả năng gây tê, bạc hà còn là thành phần không thể thiếu trong rất nhiều sản phẩm chăm sóc cơ thể. Để trồng bạc hà, lấy một nhánh cây cắt rời hoặc cây con. Bạc hà không thể phát triển được bằng phương pháp gieo hạt. Ngay bây giờ, Nhà đẹp xin bật mí với các bạn 9 công dụng gia đình cực kỳ có ích của bạc hà sau đây:   1. Thu hút côn trùng có lợi: Trồng bạc hà sẽ thu hút và giữ chân nhiều loại côn trùng có lợi xung quanh sân vườn nhà bạn như ong,... Bạc hà giàu mật hoa và phấn hoa, những cụm hoa nhỏ luôn là nguồn thức ăn tuyệt vời cho chúng. 2. Xua đuổi côn trùng có hại: Trong khi thu hút côn trùng có lợi, bạc hà cũng xua đuổi côn trùng có hại. Đẩy lùi kiến và ruồi bằng cách trồng bạc hà ngay bên ngoài cửa nhà, hoặc phun tinh dầu bạc hà pha loãng với nước theo tỷ lệ 1/10 đều khắp cửa ra vào và cửa sổ. 3. Diệt sạch bọ chét trên động vật: Bạn có thể giải cứu thú cưng khỏi cảm giác khó chịu do bị bọ chét bám trên người với công thức thuốc tự chế tại nhà như sau: Cho 2 bó bạc hà tươi, 1 bó ngải cứu tươi và 1 bó cỏ xạ hương tươi vào cối, giã dập. Sau đó, nhét chúng vào một chiếc túi vải hoặc gói trong một chiếc khăn, để gần chỗ ngủ của vật nuôi là được. 4. Khử mùi hôi trong nhà: Giữ cho ngôi nhà của bạn luôn có mùi thơm tươi mát, dễ chịu bằng cách nhỏ một vài giọt tinh dầu bạc hà vào chất tẩy rửa không mùi yêu thích của bạn. Hãy thử giải pháp làm sạch sàn nhà đơn giản này, tốt cho sàn gỗ, sàn bê-tông hoặc sàn lát gạch men: Pha loãng một cốc giấm ăn với 1 lít nước, thêm 3 - 5 giọt tinh dầu bạc hà.   5. Khử mùi hôi miệng: Bạn không cần phải phụ thuộc vào kẹo cao su hoặc kẹo bạc hà để khử mùi hôi miệng thêm nữa. Một vài nhánh bạc hà tươi sẽ giúp bạn thoải khỏi hơi thở có mùi nhanh chóng. Chỉ cần nhai trực tiếp chúng trong miệng sau khi ăn hoặc cảm thấy hơi thở bắt đầu có mùi.   6. Giảm đau dạ dày: Trà bạc hà là một cách hoàn hảo để giảm bớt cơn đau dạ dày. Bạc hà giúp làm dịu đường tiêu hóa và giảm bớt chứng khó tiêu, đầy khí đường ruột và đau bụng. 7. Chữa nấc: Thử pha chế loại đồ uống này để làm dịu những kích thích cơ hoành dẫn đến chứng nấc khó chịu: Đổ nước ấm đầy cốc, thêm 1 thìa nước cốt chanh tươi, một chút muối hạt và vài lá bạc hà.   8. Làm sạch đường hô hấp: Xông hơi hương bạc hà có thể giúp làm sạch xoang mũi bị tắc và chống nhiễm trùng. Đun sôi một nồi nước, tắt bếp, nhỏ một vài giọt tinh dầu bạc hà và hít hà hơi nước bốc lên một cách trực tiếp. 9. Giảm cảm giác buồn nôn: Tinh dầu bạc hà có thể điều chỉnh tâm trạng của bạn và làm giảm cảm giác buồn nôn. Nhỏ 3 - 4 giọt tinh dầu vào khăn tay và hít vào. Xem thêm Mẹo gia đình hữu ích:
Xem thêm

2 Đọc thêm

HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT TỒN LƯU THUỘC NHÓM CHẤT HỮU CƠ KHÓ PHÂN HỦY TẠI VIỆT NAM

HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT TỒN LƯU THUỘC NHÓM CHẤT HỮU CƠ KHÓ PHÂN HỦY TẠI VIỆT NAM

quan trọng trong phát triển nông nghiệp đối với nước ta, hóa chất BVTV đượcsử dụng trong việc phòng trừ dịch hại bảo vệ cây trồng, phòng chống sốt rét vàquân đội... Trong những năm của thập kỷ 60 - 90 do sự hiểu biết về hóa chấtBVTV còn hạn chế, chỉ coi trọng về mặt tích cực của nó là phòng và diệt dịchhại và xem nhẹ công tác môi trường, công tác quản lý còn lỏng lẻo nên để lạinhiều kho, nền kho, địa điểm lưu giữ hóa chất BVTV. Do lâu ngày không đượcchú ý đề phòng các bao bì đựng hoá chất BVTV bị vỡ hóa chất BVTV ngấmvào nền kho, ngấm vào đất hoặc do điều kiện mưa, lụt đã làm phát tán ra môitrường các loại hóa chất BVTV gây ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, khi mộtsố loại hóa chất BVTV bị cấm sử dụng vào đầu những năm 90, một số nơi đãchôn các loại hóa chất này xuống đất gây ô nhiễm đất, ảnh hưởng đến nguồnnước và môi trường xung quanh. Trong những năm gần đây đã có nhiều đơnthư của người dân và các địa phương về vấn đề ô nhiễm môi trường tại các khuvực này.Các loại hóa chất tồn lưu này chủ yếu là các loại hoá chất độc hại thuộcnhóm chất hữu cơ khó phân huỷ trong môi trường, hay còn gọi là các chất POPtheo Công ước Stockholm về các chất hữu cơ khó phân hủy như: DDT, Lindan,Endrin, Dieldrin… Các kho chứa hóa chất BVTV tồn lưu dạng POP này hầu hếtđược xây dựng từ những năm 1980 trở về trước, khi xây dựng chưa quan tâmđến việc xử lý kết cấu, nền móng để ngăn ngừa khả năng gây ô nhiễm. Hơn nữa,từ trước đến nay các kho không được quan tâm tu sửa, gia cố hàng năm, nênđều đã và đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Hệ thống thoát nướchầu như không có nên khi mưa lớn tạo thành dòng nước mặt rửa trôi hóa chấtBVTV tồn đọng gây ô nhiễm nước ngầm, nước mặt và ô nhiễm đất diện rộng,gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và cuộc sống người dân, thậm chí nhữngtác động này còn ảnh hướng đến hệ thần kinh và giống nòi của những người dânbị nhiễm độc do hóa chất BVTV tồn lưu gây ra.Theo kết quả điều tra, thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường và báocáo của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về cácđiểm tồn lưu do hóa chất BVTV tính đến tháng 6 năm 2015 trên địa bàn toàn
Xem thêm

108 Đọc thêm

CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH CÀ PHÊ

CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH CÀ PHÊ

NỘI DUNG 1. Giới thiệu chung về cà phê 1.1. Nguồn gốc cà phê 1.2. Cây cà phê 2. Tính chất khối hạt 2.1. Tính chất vật lý 2.1.1. Mật độ và độ rỗng của khối hạt 2.1.2. Độ rời 2.1.3. Tính hấp thu của khối hạt 2.2. Tính chất hóa sinh của khối hạt 2.2.1. Quá trình hô hấp 2.2.2. Quá trình chín sau thu hoạch 2.2.3. Quá trình tự bốc nóng khối hạt 3. Những biến đổi trong quá trình bảo quản 4. Sinh vật trong khối hạt 4.1. Các loại vi sinh vật nhiễm vào khối hạt 4.2. Các loại côn trùng và sâu hại 5. Thu hoạch, vận chuyển và bảo quản cà phê 5.1. Thu hoạch và vận chuyển 5.2. Các phương pháp chế biến trước khi bảo quản 5.2.1. Bảo quản quả tươi 5.2.2. Phương pháp khô 5.2.3. Phương pháp ướt 5.2.4. Chế biến cà phê nhân 5.3. Bảo quản 5.3.1. Bảo quản cà phê thóc 5.3.2. Bảo quản cà phê nhân
Xem thêm

40 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ dư LƯỢNG hóa CHẤT bảo vệ THỰC vật TRONG đất tại KHO THUỐC bảo vệ THỰC vật GHỀNH GIỀNG, xã AN TƯỜNG, THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG và ðề XUẤT một số GIẢI PHÁP xử lý ô NHIỄM

ĐÁNH GIÁ DƯ LƯỢNG HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG ĐẤT TẠI KHO THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT GHỀNH GIỀNG, XÃ AN TƯỜNG, THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG VÀ ÐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP XỬ LÝ Ô NHIỄM

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1 MỞ ðẦU Ở Việt Nam, các loại hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) ñã ñược sử dụng từ những năm 50 – 60 của thế kỷ trước vào các mục ñích phòng trừ sâu bệnh, phòng trừ muỗi hay dùng chống mối mọt, bảo quản vũ khí quân trang ở các ñơn vị bộ ñội. Theo Trung tâm Công nghệ xử lý môi trường Bộ Tư lệnh Hoá học (2003), từ năm 1957 ñến 1980, hóa chất BVTV ñược sử dụng khoảng 100 tấnnăm ñến những năm gần ñây việc sử dụng hóa chất BVTV ñã tăng ñáng kể cả về khối lượng lẫn chủng loại. Hiện nay, hóa chất BVTV ñộc hại bị cấm sử dụng, quá hạn sử dụng, nhập lậu bị thu giữ... ñang tồn lưu tại nhiều ñịa phương trong cả nước, gây ô nhiễm môi trường không khí, ñất, nước. Theo thống kê của Tổng cục Môi trường, toàn quốc có trên 1.153 ñiểm ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu, bao gồm 289 kho lưu giữ và 864 khu vực ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu ở 39 tỉnh, tập trung chủ yếu ở Nghệ An, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Các kho hóa chất BVTV tồn lưu chủ yếu là các kho tạm và hầu hết ñược xây dựng từ những năm 1980 trở về trước, khi xây dựng chưa quan tâm ñến việc xử lý, kết cấu, nền móng nên việc ô nhiễm ñất tại các kho thuốc này là ñiều không thể tránh khỏi. Hơn nữa, từ trước ñến nay các kho chứa này không ñược quan tâm tu sửa, gia cố hàng năm nên ñều ñã và ñang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, nền và tường kho phần lớn bị rạn nứt, mái lợp ñã bị hỏng, dột nát, hệ thống thoát nước tại các kho chứa hầu như không có nên khi mưa lớn tạo thành dòng mặt rửa trôi hóa chất BVTV tồn ñọng gây ô nhiễm nước ngầm, nước mặt và ô nhiễm ñất diện rộng, gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và cuộc sống người dân. ðiểm tồn lưu hóa chất BVTV Ghềnh Giềng nằm trên ñịa bàn xã An Tường, TP. Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang thuộc “ Danh mục ñiểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và ñặc biệt nghiêm trọng” theo quyết ñịnh số 1946QðTTg ngày 21102010 của Thủ tướng chính phủ. Kho thuốc BVTV này ñược xây dựng cách ñây khoảng 50 năm ñể lưu trữ, luân chuyển và phân phối các loại thuốc BVTV phục vụ sản xuất nông nghiệp. Trong ñó có nhiều loại thuốc trừ sâu có ñộc tính cao, khó phân hủy trong môi trường và hiện nay không
Xem thêm

69 Đọc thêm

NGHIÊN cứu sản XUẤT CHẾ PHẨM NPV TRÊN tế bào SỐNG để PHÒNG TRỪ sâu KHOANG

NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT CHẾ PHẨM NPV TRÊN TẾ BÀO SỐNG ĐỂ PHÒNG TRỪ SÂU KHOANG

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1 MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Các nhà khoa học đã xác định vi rút lây nhiễm trên sâu khoang là loài vi rút nhân đa diện (Nucleo Polyhedrosis Virus NPV) thuộc họ Baculoviridae và thuộc nhóm vi rút sinh thể vùi, mỗi thể vùi có chứa tới 200 thể vi rút (virion) hình que có vỏ ngoài là protein bao bọc phân tử ADN (nhân) dạng vòng xoắn kép. Thể vùi của NPV côn trùng có hình khối đa diện với kich thước từ 0,15 15µm. NPVSpl rất chuyên tính và có hiệu quả gây chết cao đối với sâu khoang, không lây nhiễm trên các loài không phải là ký chủ của nó. (Grzywacz, et al. (1996) 23. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (2001) 13, vi rút NPV có vai trò quan trọng góp phần điều tiết số lượng quần thể sâu khoang cũng như các loài côn trùng bộ Cánh phấn khác trên đồng ruộng. Kết quả theo dõi đã xác định khi sâu khoang phát sinh ở mật độ cao, thì tỷ lệ sâu bị chết do nhiễm NPV từ 0,2 1,5% trên rau bắp cải, từ 0,9 1,6% trên đậu tương và từ 0,3 1,9% trên lạc. Các chế phẩm sinh học sử dụng tác nhân vi rút NPV đều rất chuyên tính và có hiệu quả cao trong phòng trừ sâu hại cây trồng nông, lâm nghiệp. Tuy nhiên, các loại vi rút chỉ có thể tồn tại, phát triển được trong các tế bào sống và trong điều kiện môi trường thích hợp. Vì vậy, việc sản xuất chế phẩm vi rút đòi hỏi phải được thực hiện trên cơ thể sâu hoặc trên các mô, tế bào sâu còn sống. Nhưng lâu nay, việc sản xuất NPV vẫn tiến hành theo phương pháp thủ công với quy mô nhỏ hẹp. Bằng cách nuôi sâu sống số lượng lớn, sau đó nhiễm vi rút NPV của loài sâu tương ứng, rồi nghiền lọc và đem ra sử dụng. Theo cách này, sản xuất chế phẩm NPV để trừ sâu hại khó có thể thực hiện với quy mô công nghiệp, vì để nuôi được số lượng lớn một loài sâu hại
Xem thêm

118 Đọc thêm

Nghiên cứu thành phần loài sâu hại rau họ hoa thập tự và hình thái, sinh học của loài sâu khoang (spodoptera litura fabricius) hại rau tại xuân hòa phúc yên vĩnh phúc

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI SÂU HẠI RAU HỌ HOA THẬP TỰ VÀ HÌNH THÁI, SINH HỌC CỦA LOÀI SÂU KHOANG (SPODOPTERA LITURA FABRICIUS) HẠI RAU TẠI XUÂN HÒA PHÚC YÊN VĨNH PHÚC

... dung nghiên cứu - Nghiên cứu thành phần sâu hại loài hại chính, mức độ hại loài phổ biến rau họ hoa thập tự Xuân Hòa- PhúcYên -Vĩnh Phúc - Nghiên cứu hình thái học số đặc điểm sinh học loài sâu khoang. .. hành nghiên cứu đề tài: Thành phần ỉoàỉ sâu hại rau họ hoa thập tự hình thái, sinh học loài sâu khoang (Spodoptera lỉtura Fabricius) hại rau Xuân Hòa- Phúc Yên - Vĩnh Phúc 20142015.” Mục đích nghiên. .. nghiên cứu Nghiên cứu thành phần loài sâu hại họ hoa thập tự đặc diểm hình thái, sinh học loài sâu hại phố biến sâu khoang, nhằm tìm biện pháp phòng trừ tốt số loài sâu hại phổ biến rau họ hoa thập
Xem thêm

49 Đọc thêm

Cùng chủ đề