ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM":

Hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng và những vấn đề thực tiễn pháp lý

HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN PHÁP LÝ

Hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các Tổ chức tín dụng và những vấn đề thực tiễn pháp lý Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Ngân hàng Bài tập học kỳ Luật Ngân hàng có đáp án. MỞ ĐẦU Trong những năm qua, nên kinh tế nước ta đã phát triển với tốc độ khá cao, điều này phản ánh tiềm lực của hệ thống Ngân hàng rất mạnh mẽ và các Tổ chức tín dụng đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Đồng thời cũng phản ánh nhu cầu vốn cho nền kinh tế nước ta là hết sức lớn. Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng những năm qua đã nảy sinh một số biểu hiện không lành mạnh, báo hiệu nguy cơ rủi ro thất thoát vốn tín dụng từ các khoản nợ sau cho vay của các tổ chức tín dụng ngày càng chồng chất. Nếu muốn có một nền kinh tế ổn định, đòi hỏi quốc gia phải có hệ thống ngân hàng vững mạnh, Chính phủ phải thiết lập được hệ thống pháp luật chặt chẽ để đảm bảo được hành lang an toàn cho hệ thống các Tổ chức tín dụng. Chính vì vậy, để thấy được rõ hơn tầm quan trọng của hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng , em xin lựa chọn đề tài số 8: “Tìm hiểu hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng và những vấn đề thực tiễn pháp lý, đề xuất hướng giải quyết để xử lý đối với các khoản nợ sau cho vay của tổ chức tín dụng.” làm đề tài cho bài tập học kỳ của mình. B. NỘI DUNG I. KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Khái niệm hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện trong xã hội loài người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn. Trong pháp luật dân sự, hiểu theo nghĩa chung nhất, cho vay là việc một người thỏa thuận để cho người khác được sử dụng tài sản của mình trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình với người đó. Theo quy định Điều 17 Quyết định số: 16272001QĐNHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đống ngân hàng nhà nước, Về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng: “Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận”. Hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng là một hoạt động cho vay dựa trên hình thức pháp lí của quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng là hợp đồng tín dụng; tức là, một hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho khách hàng, trong đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận được ghi nhận trong hợp đồng tín dụng giữa hai bên chủ thể trong quan hệ cho vay, với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Tổ chức tín dụng có quyền cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn thông qua hợp đồng tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và đời sống. Khi cho vay, tổ chức tín dụng phải tuân thủ các nguyên tắc, quy chế pháp lý về cho vay. 2. Đặc điểm hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng luôn mang những yếu tố cấu thành cơ bản của quan hệ cho vay nói chung. Ngoài những dấu hiệu chung của quan hệ cho vay, hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng còn thể hiện ở những dấu hiệu có tính đặc thù sau: Một là, việc cho vay của tổ chức tín dụng là hoạt động nghề nghiệp kinh doanh mang tính chức năng. Mặc dù theo luật Việt Nam hiện hành, các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng cũng có thể thực hiện việc cho vay đối với khách hàng như một hoạt động kinh doanh nhưng hoạt động cho vay của tổ chức này hoàn toàn không phải là nghề nghiệp kinh mang tính chức năng như đối với các tổ chức tín dụng. Hai là, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng không chỉ là một nghề kinh doanh mà hơn nữa còn là một nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện, thể hiện ở chỗ hoạt động cho vay chuyên nghiệp của tổ chức tín dụng phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định như phải có vốn pháp định, phải được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động ngân hàng trước khi tiến hành việc đăng ký kinh doanh theo luật định. Ba là, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ngoài việc tuân thủ các quy định chung của pháp luật về hợp đồng, nó còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng còn chịu sự điều chỉnh, chi phối của các đạo luật về Ngân hàng, kể cả tập quán thương mại về ngân hàng. 3. Các nguyên tắc của hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng(HĐTD) của tổ chức tín dụng (TCTD) a) Nguyên tắc tránh rủi ro, bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng: Trong hoạt động ngân hàng thường có tính rủi ro rất cao và thường mang tính chất dây chuyền đối với nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội. Để tránh những rủi ro này, các tổ chức tín dụng ngày nay thường thực ­hiện việc thẩm định tín dụng với tám biện pháp thẩm định sau: tính cách người đi vay (character), tư cách của người đi vay (capacity), khả năng trả nợ (capability), dòng tiền (cashflow), vốn (capital), điều kiện hoạt động (conditions), tài sản chung (collectability) và tài sản thế chấp (collateral). b) Nguyên tắc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích: Nguyên tắc này đảm bảo cho các tổ chức tín dụng tránh được những rủi ro từ bên vay, đồng thời đảm bảo được tính thực hiện hợp đồng, nếu bên vay vi phạm nguyên tắc này thì bên cho vay có quyền huỷ bỏ hợp đồng và bên vay phải chịu sự điều chỉnh theo pháp luật. c) Nguyên tắc hoàn trả khoản tín dụng đúng hạn cả gốc và lãi theo thoả thuận: Bên vay phải đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc này. Trường hợp bên vay có thể trả chậm hơn thời han quy định nếu có sự gia hạn và được bên cho vay chấp thuận, nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc này, thanh toán cả gốc và lãi theo đúng thời gian đã gia hạn. 4. Phân loại cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng Với sự phát triển không ngừng và đa dạng hóa nhiều hoạt động ngân hàng hiện nay, việc phân loại cho vay của TCTD có ý nghĩa quan trong cả về lý luận và thực tiễn .Điều đó thể hiện ở chỗ ,dựa vào kết quả phân loại cho vay mà các nhà làm luật có thể xây dựng thành những quy chế cho vay phù hợp với hoạt động thực tiễn nghiệp vụ của các tổ chức tín dụng. Ở đây, em xin đưa ra một số hình thức cho vay căn cứ vào những tiêu chí sau đây: a) Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn: Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng với thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là đến một năm. Hình thức này chủ yếu đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động của khách hàng trong hoạt động kinh doanh hoặc thỏa mãn nhu cầu về tiêu dùng của khách hàng trong một thời hạn ngắn. Cho vay trung và dài hạn: hình thức này khác cho vay ngắn hạn là với thời gian thỏa thuận là từ trên một năm trở lên. Người đi vay sử dụng hình thức này để thỏa mãn nhu cầu mua sắm tài sản cố định trong kinh doanh, thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng như mua sắm nhà ở, phương tiện đi lại… b) Căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay: Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc của người thứ ba. Việc cho vay này phải được bảo đảm dưới hình thức ký kết cả hai loại hợp đồng, bao gồm hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay (hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh). Pháp luật cũng cho các bên có thể thỏa thuận lập một hợp đồng nên trong trường hợp này các thỏa thuận về bảo đảm tiền vay được xem là một bộ phận hợp thành của hợp đồng có bảo đảm bằng tài sản. Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản cụ thể, xác định của khách hàng vay hoặc của người thứ ba. Thông thường các bên chỉ giao kết một hợp đồng duy nhất là hợp đồng tín dụng. Trong trường hợp tổ chức tín dụng cho vay có bảo đảm bằng tín chấp thì vẫn phải xác lập một văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy tín của mình và gửi cho tổ chức tín dụng để khách hàng vay có thể được tổ chức tín dụng chấp nhận cho vay. c) Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: Cho vay kinh doanh: là hình thức cho vay trong đó các bên cam kết số tiền vay sử dụng vào mục đích thực hiện các công việc kinh doanh của mình. Nếu bên vay vi phạm sử dụng vào những mục đích khác thì bên cho vay có quyền áp dụng các chế tài thích hợp như đình chỉ việc sử dụng vốn vay hoặc thu hồi vốn vay trước thời hạn… Cho vay tiêu dùng: bên tham gia vay cam kết số tiền vay sẽ được sử dụng vào việc thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hay tiêu dùng như mua sắm đồ gia dụng, mua sắm nhà cửa hoặc phương tiện đi lại, hay sử dụng vào mục đích học tập… c) Căn cứ vào phương thức cho vay: Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và TCTD làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. TCTD áp dụng phương thức cho vay này khi khách hàng vay có nhu cầu vay vốn không thường xuyên. Mỗi lần có nhu cầu vay vốn, khách hàng lập hồ sơ vay vốn theo quy định. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng đối với khách hàng vay có nhu cầu vay vốn thường xuyên và có đặc điểm sản xuất – kinh doanh, luân chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từng lần Căn cứ vào phương án, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khách hàng, tài sản bảo đảm tiền vay, TCTD và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong khoảng thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh. Cho vay theo dự án đầu tư: TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Cho vay hợp vốn: Theo phương thức này, một nhóm TCTD cùng thực hiện cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp. Cho vay hợp vốn được thực hiện theo quy chế này và quy chế đồng tài trợ của các TCTD do Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành. Cho vay trả góp: Khi vay, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: TCTD chấp nhận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiềm mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của TCTD. Việc cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng theo quy định của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để đầu tư cho dự án. TCTD và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức trả phí hco hạn mức tín dụng dự phòng. Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. II.PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng Khái niệm: Hợp đồng tín dụng là là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng (bên vay, tổ chức, cá nhân) nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên theo quy định của pháp luật, theo đó tổ chức tín dụng (bên cho vay) chuyển giao một khoản vốn tiền tệ cho khách hàng (bên vay) sử dụng trong một thời hạn nhất định với điều kiện khách hàng sẽ hoàn trả khoản tiền đó (tiền gốc) và lãi vay sau một thời gian nhất định. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng phải được lập dưới hình thức bằng văn bản. Nội dung hợp đồng thể hiện sự đồng ý giữa bên cho vay chấp nhận cho bên vay sử dụng một số tiền của mình trong thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả dựa trên sự tín nhiệm. Về chủ thể: bên cho vay bắt buộc phải là tổ chức tín dụng, có đủ điều kiện luật định, còn bên vay có thể là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện vay vốn do pháp luật quy định. Đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tiền, bao gồm tiền mặt và bút tệ. Hợp đồng tín dụng chứa đựng rất nhiều rủi ro cho quyền lợi của bên cho vay. Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn. Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: nghĩa vụ chuyển giao tiền vay của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước để làm cơ sở và tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay. Chủ thể của hợp đồng tín dụng a. Bên cho vay: Theo quy định của pháp luật hiện hành, một tổ chức tín dụng muốn trở thành chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng phải thoả mãn các điều kiện sau: Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp. Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y. Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp. Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụng với khách hàng. Đối với tổ chức không phải là tổ chức tín dụng (TCTD), muốn trở thành chủ thể cho vay trong hoạt động tín dụng (HĐTD) thì chỉ cần thoả mãn các điều kiện như có giấy phép hoạt động ngân hàng, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và có người đại diện hợp pháp. Trong giấy phép hoạt động ngân hàng và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của loại tổ chức này phải ghi rõ hoạt động cho vay là hoạt động ngân hàng đươc phép thực hiện. b. Bên vay: Bên vay là tổ chức, cá nhân phải thoả mãn các điều kiện sau (về nguyên tắc, những điều kiện này có tính chất bắt buộc chung với mọi chủ thể đi vay trong mọi hợp đồng tín dụng): Bên vay phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Đối với tổ chức là pháp nhân hay không phải là pháp nhân thì phải có người đại diện hợp pháp có đủ năng lực và thẩm quyền đại diện cho tổ chức đó khi ký kết hợp đồng tín dụng. Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp. Ngoài ra bên vay còn có một số điều kiện chung sau (những điều kiện này chỉ có tính bắt buộc phải thỏa mãn đối với bên vay khi chúng được các bên thoả thuận rõ trong hợp đồng tín dụng): Bên vay có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Bên vay có phương án sử dụng vốn khả thi, hiệu quả. Bên vay có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba trên cơ sở hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh. Giao kết hợp đồng tín dụng Giao kết hợp đồng tín dụng là một quá trình mang tính chất kỹ thuật nghiệp vụ – pháp lý do các bên thực hiện theo một trình tự luật định. Việc giao kết hợp đồng tín dụng bao gồm các giai đoạn chủ yếu sau đây: Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do một bên thực hiện dưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia, với nội dung thể hiện ý chí mong muốn được giao kết hợp đồng tín dụng. Thông thường, bên đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn và văn bản đề nghị chính là đơn xin vay, được gửi kèm theo các giấy tờ, tài liệu chứng minh tư cách chủ thể và khả năng tài chính hay phương án sử dụng vốn vay. Các tài liệu này do bên vay gửi cho tổ chức tín dụng để xem xét, thẩm định và được coi như bằng chứng đề nghị giao kết hợp đòng tín dụng. Thực tiễn giao kết hợp đồng tín dụng ở Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy, có nhiều trường hợp bên chủ động giao kết hợp đồng tín dụng lại chính là tổ chức tín dụng chứ không phải là khách hàng, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tín dụng. Những tổ chức tín dụng đã từng đi tiên phong trong việc lựa chọn phương thức này chính là các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Trong trường hợp này, văn bản đề nghị là thư chào mời được tổ chức tín dụng gửi cho tổ chức, cá nhân có khả năng tài chính mạnh, có uy tín trên thương trường và có nhu cầu vay vốn thường xuyên (gọi là những khách hàng tiềm năng) mà tổ chức tín dụng lựa chọn là bên đối tác. Trong thư chào mời, bên đề nghị (tổ chức tín dụng) thường đưa ra những điều kiện có tính chất tổng quát nhất kèm theo những ước khoản cụ thể để cho bên kia xem xét chấp nhận. Tuy nhiên, do một thư chào mời có thể không nhất thiết phải là một văn bản dự thảo hợp đồng nên trong thực tế, nếu bên tiếp nhận thư chào mời có hành vi chấp nhận toàn bộ nội dung của thư chào mời đó thì không vì thế mà hợp đồng tín dụng được coi là đã hình thành. Thẩm định hồ sơ tín dụng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: Thẩm định hồ sơ tín dụng: là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ – pháp lý do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với bên vay, trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không. Do tính đặc biệt quan trọng của giai đoạn này trong cả quá trình từ cho vay đến thu nợ nên pháp luật đòi hỏi bên cho vay là tổ chức tín dụng phải triệt để tuân thủ nguyên tắc đảm bảo tính độc lập, phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm định và khâu quyết định cho vay. Sau khi đã thẩm định hồ sơ tín dụng của khách hàng, bên cho vay có toàn quyền quyết định việc chấp nhận hoặc từ chối cho vay. Trong trường hợp từ chối cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản và phải nêu rõ lí do từ chối cho vay. Việc từ chối cho vay không có căn cứ xác đáng có thể là lí do để khách hàng thực hiện hành vi đối kháng với tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do bên nhận đề nghị thực hiện dưới hình thức một văn bản chính thức gửi cho bên kia với nội dung thể hiện sự đồng ý giao kết hợp đồng tín dụng. Theo đó, hành vi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng chỉ có giá trị như một lời tuyên bố đồng ý ký kết hợp đồng chứ không thể thay thế cho việc giao kết hợp đồng giữa các bên. Có nghĩa là việc giao kết hợp đồng tín dụng chỉ được xem là hoàn thành sau khi các bên đã trải qua giai đoạn thương lượng, đàm phán trực tiếp các điều khoản của hợp đồng (bao gồm các điều khoản chủ yếu, điều khoản thường lệ, điều khoản tùy nghi) và người đại diện có thẩm quyền của các bên đã trực tiếp ký tên vào bản hợp đồng tín dụng. Đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng: Đây là giai đoạn cuối cùng, cũng là giai đoạn trọng tâm của quá trình giao kết hợp đồng tín dụng. Trong giai đoạn này, các bên gặp nhau để đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng. Giai đoạn này được coi là kết thúc khi đại diện của các bên đã chính thức ký tên vào văn bản hợp đồng tín dụng. Hình thức của hợp đồng tín dụng Theo quy định tại Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng, mọi hợp đồng tín dụng đều phải được ký kết bằng văn bản thì mới có giá trị pháp lý. Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là vì những ưu điểm sau đây: Hợp đồng tín dụng được ký kết bằng văn bản sẽ tạo ra một bằng chứng cụ thể cho việc thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản thực chất là một sự công bố công khai, chính thức về mối quan hệ pháp lý giữa những người lập ước để cho người thứ ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phương cách xử sự hợp lý, an toàn trong trường hợp cần thiết. Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản mới có thể khiến cho các cơ quan có trách nhiệm của chính quyền thi hành công vụ được tốt hơn. Theo quy định hiện hành, văn bản hợp đồng tín dụng được hiểu bao gồm văn bản viết và văn bản điện tử. Hợp đồng tín dụng được xác lập thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản. Các hợp đồng điện tử được coi là có giá trị pháp lý như văn bản hợp đồng viết và có giá trị chứng cứ trong quá trình giao dịch. Nội dung của hợp đồng tín dụng Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và phù hợp với pháp luật. Các điều khoản này vừa thể hiện ý chí của các bên, đồng thời cũng làm phát sinh những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của mỗi bên tham gia hợp đồng tín dụng. Theo quy định tại điều 51 Luật các tổ chức tín dụng, nội dung của hợp đồng tín dụng bao gồm các điều khoản cơ bản sau đây: Điều khoản về điều kiện vay vốn. Khi thỏa thuận điều khoản này, các bên cần ghi rõ trong hợp đồng tín dụng những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải thỏa mãn thì hợp đồng tín dụng mới có hiệu lực. Điều khoản về đối tượng hợp đồng. Trong điều khoản này, các bên phải thỏa thuận về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng tín dụng đáo hạn. Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay. Các bên phải ghi rõ trong hợp đồng tín dụng về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền sau bao lâu kể từ ngày ký hợp đồng. Nếu có thể gia hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu trước về khả năng này trong hợp đồng tín dụng, còn thời gian gia hạn sẽ tiến hành thỏa thuận sau trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng. Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay. Đây là một điều khoản rất quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay. Vì thế, các bên phải thỏa thuận rõ ràng số tiền vay sẽ được hoàn trả dần hàng tháng (trả góp) hay là trả toàn bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn. Nếu khoản vay được thỏa thuận thanh toán theo từng kỳ hạn thì các bên cũng có thể dự liệu trước về khả năng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ cho phù hợp với khả năng tài chính của bên vay khi trả nợ. Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay. Trong điều khoản này, các bên cần ghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì. Việc thỏa thuận điều khoản này trong hợp đồng tín dụng được xem như một giải pháp đảm bảo sự an toàn về vốn cho người đầu tư là các tổ chức tín dụng, nhằm tránh trường hợp bên vay sử dụng vốn một cách tùy tiện vào mục đích phiêu lưu, mạo hiểm. Mặt khác, để bảo đảm lợi ích của cả hai bên và đảm bảo cho đồng vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả, pháp luật cũng cho phép trong thời gian sử dụng vốn, các bên có quyền thỏa thuận lại về mục đích sử dụng vốn vay mỗi khi xét thấy thời cơ và điều kiện sử dụng vốn đã thay đổi. Điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng. Đây là điều khoản mang tính chất thường lệ, theo đó các bên có quyền thỏa thuận về biện pháp giải quyết tranh chấp bằng con ¬đường thương lượng, hòa giải hoặc lựa chọn cơ quan tài phán sẽ giải quyết tranh chấp cho mình. Nếu trong hợp đồng tín dụng không ghi điều khoản này, có nghĩa là các bên không thỏa thuận thì việc xác định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng đó sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, nếu hợp đồng tín dụng được giao kết có điều kiện bảo đảm bằng tài sản như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh thì các bên có thể thỏa thuận một điều khoản riêng rẽ nằm trong hợp đồng tín dụng (hợp đồng chính), hoặc lập thành một hợp đồng phụ đính kèm theo hợp đồng chính. 6. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng tín dụng a) Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay: Nghĩa vụ chuyển giao tiền vay đầy đủ, đúng hạn và địa điểm cho khách hàng vay sử dụng (nghĩa vụ giải ngân). Nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay và trả nợ của khách hàng. Quyền yêu cầu bên vay hoàn trả tiền vay đúng thỏa thuận, kể cả tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại (nếu có). b) Quyền và nghĩa vụ của bên vay: Quyền từ chối các yêu cầu không hợp lý của tổ chức tín dụng khi ký kết, thực hiện và thanh lý hợp đồng tín dụng. Quyền khiếu nại, khởi kiện việc từ chối cho vay không có căn cứ hoặc các vi phạm hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng. Quyền yêu cầu bên cho vay thực hiện nghĩa vụ giải ngân đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Nghĩa vụ sử dụng tiền vay hiệu quả và đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi, trả tiền phạt vi phạm hợp đồng tín dụng và tiền bồi thường thiệt hại cho bên cho vay (nếu có). 7. Vấn đề hiệu lực của hợp đồng tín dụng a) Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tín dụng Chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Mục đích và nội dung của HĐTD không trái pháp luật đạo đức và xã hội. Có sự đồng thuận ý chí giữa các bên cam kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và tự do ý chí. Hình thức của HĐTD phải phù hợp với quy định của pháp luật ngân hàng. b) Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD Thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là điểm mốc thời gian mà kể từ đó quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia HĐTD bắt đầu phát sinh. Trên thực tế, pháp luật của từng nước có những quy định rất khác nhau về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD. Còn ở Việt Nam, theo Đ405 BLDS 2005 ta có thể lý giải rằng thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD là thời điểm các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản của hợp đồng và bên sau cùng đã ký tên vào văn bản HĐTD. c) Sự vô hiệu của HĐTD và các nguyên tắc xử lí hậu quả vô hiệu Trên nguyên tắc, khi một HĐTD không thoả mãn một trong số các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định thì giao dịch đó bị coi là vô hiệu và sự vô hiệu này, về lí thuyết có thể được nhìn nhận là ở trạng thái tuyệt đối (đương nhiên vô hiệu) hoặc tương đối (có thể vô hiệu). Trong khoa học pháp lí, việc xác định trạng thái vô hiệu (tuyệt đối hoặc tương đối) của các giao dịch pháp lí nói chung và giao dịch thương mại của ngân hàng nói riêng thường dựa vào nguyên tắc cơ bản là: HĐTD bị coi là vô hiệu tuyệt đối khi mục đích, nội dung, hình thức của hợp đồng vi phạm các điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội và phương hại đến lợi ích chung. Hậu quả pháp lý xảy ra là: Hợp đồng không phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm kí kết; các bên phải phục hồi tình trạng ban đầu như trước khi kí kết hợp đồng. HĐTD bị coi là vô hiệu tương đối khi chủ thể tham gia HĐ ko có năng lực hành vi dân sự hoặc hợp đồng kí kết không có sự tự nguyện và đồng thuận giữa các bên kí kết. Hậu quả pháp lý xảy ra cũng giống như đối với HĐTD vô hiệu tuyệt đối. 8.Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTD a)Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTD Trước khi đề cập đến các loại trách nhiệm pháp lý phát sinh do việc vi phạm HĐTD ta tìm hiểu thế nào là vi phạm HĐTD và 1 hành vi phải thỏa mãn điều kiện gì thì được coi là vi phạm hợp đồng. Vi phạm HĐTD là hành vi của 1 bên hoặc cả 2 bên tham gia hợp đồng cố ý hoặc vô ý làm trái các điều khoản đã cam kết trong HĐTD và phải thỏa mãn các điều kiện: Người thực hiện hành vi phải là các bên tham gia HĐTD. Trái với các điều khoản đã cam kết trong HĐTD. Bên thực hiện hành vi có 1 lỗi xác định là cố ý hoặc vô ý. Hành vi đó xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của bên đối ước hoặc quyền và lợi ích chung của toàn xã hội hoặc của tổ chức, cá nhân khác. Tùy thuộc vào mức độ hậu quả thực tế xảy ra mà có 2 loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi có việc vi phạm HĐTD: Trách nhiệm nộp phạt vi phạm HĐTD: nhằm để nâng cao tính kỷ luật hợp đồng nên không cần phải chứng minh có thiệt hại vật chất xảy ra. Loại trách nhiệm này do các bên thỏa thuận hoặc áp dụng theo quy định pháp luật. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm HĐTD: được áp dụng khi có thiệt hại vật chất thực tế và xác định được chứng minh bởi bên bị vi phạm. Số tiền bồi thường thiệt hại do các bên thỏa thuận hoặc thông qua phán quyết của cơ quan tài phán có thẩm quyền. b) Tranh chấp phát sinh từ HĐTD và cơ chế giải quyết tranh chấp Tranh chấp phát sinh từ HĐTD là tình trạng pháp lý của quan hệ HĐTD, trong đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về những quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích phát sinh từ HĐTD. Giải quyết tranh chấp HĐTD bằng cơ chế thương lượng hoặc hòa giải qua trung gian. Giải quyết tranh chấp HĐTD bằng cơ chế tài phán. III.THỰC TIỄN PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Trong những năm qua, pháp luật về hoạt động cho vay theo HĐTD của các TCTD đã không ngừng được xây dựng và hoàn thiện. Tuy nhiên, thực tế hoạt động cho vay của ngân hàng cho thấy, đã phát sinh nhiều bất cập trong các chính sách của Nhà nước, thực tiễn pháp lý về hoạt động này vẫn còn tồn tại không ít những vấn đề bất cập. Thứ nhất, một số quy định cho vay chưa phù hợp với thực tiễn của hoạt động tín dụng ngân hàng. Điều 126 Luật TCTD 2010 hay Điều 19 của Quy chế cho vay của TCTD ban hành kèm theo Quyết định 16272011QĐ – NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 quy định về những trường hợp không được cho vay. Quy định này còn hơi cứng nhắc, nếu họ có tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng một cách hợp pháp và muốn sử dụng để cầm cố thế chấp tại ngân hàng họ đang quản lý hoặc làm việc thì việc cho vay đối với những đối tượng này không có gì mất an toàn, miễn là họ sử dụng vốn vay một cách đúng quy định. Ngân hàng cho khách hàng vay dựa trên những phương án khả thi, tài sản bảo đảm thì tại sao những người này đủ tiêu chuẩn lại không cho vay. Quy định này đã phần nào loại bỏ một bộ phân không nhỏ những khách hàng có tiềm năng của ngân hàng. Thứ hai, quy định về giới hạn cho vay đối với một khách hàng còn nhiều bất cập. Khoản 1 Điều 18 của Quy chế cho vay của TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 16272011QĐ – NHNN quy định “Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn vốn uỷ thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân”. Trên thực tế, khoảng thời gian cần thiết từ khi tổ chức tín dụng đề nghị qua Ngân hàng Nhà nước lên tới Chính phủ đến khi có quyết định được phép cho vay thường kéo dài vài tháng, làm lỡ nhiều cơ hội kinh doanh và không phù hợp với cải cách hành chính hiện nay. Thứ ba, một số quy định về cơ chế bảo đảm tiền vay và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay chưa thích hợp. Chẳng hạn, pháp luật hiện hành cho phép được sử dụng tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, do là tài sản trong tương lai nên không thể chắc chắn rằng tài sản đó được hình thành để cho ngân hàng xử lý, bù lại mất mát nếu xảy ra tranh chấp. Mặt khác, sự thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán giữa các quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm tiền vay với các bộ phận pháp luật khác có liên quan như Bộ luật dân sự, pháp luật đất đai, pháp luật hợp đồng, pháp luật về giải quyết tranh chấp… là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm tiền vay. Các khó khăn này không chỉ xảy ra cho khách hàng khi thực hiện thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh tài sản để vay vốn tổ chức tín dụng mà còn gây khó khăn cho chính các tổ chức tín dụng ngay trong quá trình thẩm định và phê duyệt các khoản vay có bảo đảm. Điều này làm cho tỉ lệ nợ quá hạn của các tổ chức tín dụng ngày càng cao, nhất là trong giao đoạn hiện nay, khi mạng lưới tín dụng đang được mở rộng. Thứ tư, các quy định khống chế lãi suất trần không phù hợp. Tại Điều 476 Bộ Luật dân sự quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Theo phân tích của hiệp hội ngân hàng Việt Nam, quy định này không phù hợp bởi các lý do sau: Một là, việc khống chế trần lãi suất cho vay như thời gian qua là biện pháp can thiệp hành chính không phù hợp với nền kinh tế thị trường, làm hạn chế sự chủ động và linh hoạt của các tổ chức tín dụng trong vấn đề huy động vốn và cho vay, vì lãi suất hình thành dựa trên quan hệ cung cầu vốn của thị trường. Hai là, việc khống chế trần lãi suất cho vay tức là đánh đồng lãi suất của các loại hình tín dụng vì mỗi loại hình tín dụng có mức độ rủi ro khác nhau, chi phí khác nhau, vì vậy lãi suất cho vay khác nhau. Chính sách lãi suất trần cứng nhắc làm cho các ngân hàng rất khó đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, mặt khác, cũng làm hạn chế sự phát triển của các dịch vụ tài chính mới của các ngân hàng như tín dụng bán lẻ, tín dụng tiêu dùng, đây là những sản phẩm tất yếu của tổ chức tín dụng hiện đại. Ba là, để kiểm soát sự biến động bất thường của lãi suất trên thị trường tiền tệ, ngân hàng nhà nước đã có các công cụ để kiểm soát như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở và điều hành khối lượng tiền cung ứng mà không cần giải pháp hành chính cứng nhắc như Điều 476 Bộ luật dân sự quy định. Bốn là, Nghị quyết số 232008NQ – QH12 ngày 6112008 của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ tư, trong đó cho phép “ Các tổ chức tín dụng điều hành lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của pháp luật và được phép cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với một số dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao.” Để thực hiện Nghị quyết trên của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 302008NQ – CP ngày 11122008 về những biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, trong đó đã cho phép “ Tổ chức tín dụng thực hiện việc cho vay theo lãi suất thỏa thuận…” Vì vậy, để thực hiện thành công các giải pháp kích cầu của Chính phủ, đã đến lúc cần thiết phải cho phép các tổ chức tín dụng thực hiện cho vay theo lãi suất thỏa thuậnđể góp phần thúc đẩy phát triển phong phú các loại hình dịch vụ, tín dụng, kích thích sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước phát triển. Năm là, vấn đề nợ quá hạn và nợ xấu: + Nợ quá hạn: Trong nền kinh tế thị trường, các TCTD thu lợi chủ yếu từ các khoản cho vay với khách hàng, nhưng những khoản cho vay này lại rất dễ gặp những rủi ro dẫn đến những khoản nợ quá hạn ngày càng lớn. Hiện nay, nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại bị coi là vấn đề bức xúc và phức tạp chất trong hoạt động cho vay của các TCTD. Những khoản nợ quá hạn khổng lồ mà hiện tại ngành ngân hàng đang phải gánh chịu đã làm ảnh hưởng rất lớn tới khả năng thanh toán, giảm số tiên dự trữ và vốn của các TCTD. Chính “tảng băng” về nợ quá hạn đang lặng lẽ nhấn chìm các TCTD vào vòng xoáy nợ nần mà các TCTD vẫn “không hề hay biết”.Nợ quá hạn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các TCTD, tới các doanh nghiệp sử dụng vốn và kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy, việc tìm ra những giải pháp khắc phục tình trạng nợ quá hạn, đảm bảo việc thực hiện nợ tín dụng đã trở thành một đòi hỏi cấp thiết, cần giải quyết không chỉ cho ngành ngân hàng mà còn cho cả các cơ quan hữu quan. + Nợ xấu: Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu của các Tổ chức tín dụng có xu hướng tăng nhanh từ năm 2008 tới nay. Tính đến ngày 25102012, Ngân hàng Nhà nước cho biết, nợ xấu của toàn bộ nền kinh tế có địa chỉ tại hệ thống ngân hàng ước khoảng 8,6% (cao hơn khá nhiều so với các quy định của Basel là 2%) trên tổng dư nợ được cho từ 2,5 triệu tỷ đồng đến 2,8 triệu tỷ đồng. Trong đó, hơn 85% nợ có tài sản bảo đảm bằng bất động sản có giá trị (theo định giá ban đầu) vào khoảng 135% khoản nợ xấu. Hệ quả là nợ xấu của các TCTD không ngừng tăng lên, trở thành “điểm nghẽn” của nền kinh tế đất nước, cản trở sự lưu thông dòng vốn tín dụng. Song, thực tiễn cho thấy việc giải quyết vấn đề này đang gặp phải rất nhiều khó khăn, trong đó có rào cản từ chính khuôn khổ pháp lý về xử lý tài sản bảo đảm. IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM GIẢI QUYẾT NHỮNG HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH CHO VAY 1. Cần quy định hạn mức cho vay, các hạn chế đảm bảo an toàn phù hợp với thực tế thị trường Luật nên nới lỏng hạn mức, đồng thời, tăng cường biện pháp đảm bảo an toàn khác như chế độ cung cấp thông tin, biện pháp xử lý khi vốn ngân hàng, nên quy định giới hạn cấp tín dụng đối với ngân hàng và tổ chức phi ngân hàng là như nhau nhằm đảm bảo quyền lợi và nâng cao trách nhiệm, tính tự chủ cho các TCTD. 2. Phát triển hệ thống dịch vụ thông tin về khách hàng Trong quan hệ tín dụng, một bên thường không biết tất cả các thông tin về bên kia. Sự không cân bằng về thông tin đó gọi là thông tin không đối xứng. Để giải quyết được tình trạng này, có nhiều bịên pháp đặt ra.Về phía các TCTD, để thoả mãn các nhu cầu thông tin về khách hàng, thường dựa trên cơ sở giấy tờ, tài liệu mà khách hàng cung cấp hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hay sử dụng một số biện pháp khác để thu thập. Tuy nhiên, phạm vi hoạt động cấp tín dụng ngày càng mở rộng, các khách hàng của TCTD ngày càng đa dạng và phong phú, cùng với nó việc nắm bắt các thông tin về khách hàng ngày càng trở nên khó khăn hơn. Do nhu cầu thông tin lớn, trong khi bộ phận chuyên môn của TCTD không thể giải quyết được hết nhu cầu đó, nên hình thành các doanh nghiệp chuyên thu thập và cung cấp thông tin về khách hàng là giải pháp hữu ích và phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Điều đó góp phần giảm thiểu những rủi ro về thông tin của TCTD khi có một tổ chức chuyên nghiệp thực hiện. Việc xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động của loại doanh nghiệp này là rất cần thiết, sao cho doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về độ trung thực và tính chính xác của các thông tin mà mình cung cấp, bên cạnh đó cần phải giới hạn các thông tin mà doanh nghiệp này được phép cung cấp đảm bảo không vi phạm các quy định của pháp luật về chế độ thông tin. 3. Giải quyết xử lý quản lý đối với các khoản nợ sau cho vay của TCTD Với tình hình thực tế của Việt Nam hiện nay, thì nợ xấu và nợ quá hạn đang là những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động hiệu quả của các TCTD, kìm hãm nền phát triển kinh tế đất nước. Trong khuôn khổ bài viết, em xin được đề cập đến những hướng giải quyết xử lí đối với các khoản nợ quá hạn và nợ xấu của các TCTD. Đối với nợ quá hạn Thứ nhất, về giải pháp ngăn ngừa nợ quá hạn: đây là một trong những giải pháp cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, một cách có chủ ý bởi người điều hành, lãnh đạo TCTD và toàn bộ công nhân viên chức trong các TCTD, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ tín dụng. Để thành công trong việc nâng cao chất lượng thực hiện HĐTD cần thực hiện biện pháp ngăn ngừa nợ quá hạn ngay từ lúc phát sinh món vay cho đến khi thu hồi hết nợ gốc và lãi. TCTD cần thực hiện đầy đủ các quy định về bảo đảm tiền vay, tăng cường công tác tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của ngân hàng. Chấm dứt tình trạng cho vay đảo nợ để giảm nợ quá hạn một cách giả tạo. Trong quá trình thực hiện HĐTD cán bộ tín dụng cần đi sâu đi sát khách hàng, theo dõi chặt chẽ quá trình sử dụng vốn vay, nếu phát hiện dấu hiệu không lành mạnh từ phía người vay cần có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Bên cạnh đó, các TCTD cũng cần phải nghiên cứu kỹ càng hơn tính đúng đắn về ý nghĩa của việc chuyển nợ quá hạn theo Điều 13 Quyết định 1627, được sửa đổi, bổ sung bằng khoản 4 điều 1 quyết định 1272005QĐNHNN, từ đó đề ra kế hoạch hành động nhất quán, phù hợp với hoàn cảnh đổi mới và tiến trình hội nhập. Đặc biệt là nhanh chóng thay đổi tư duy và ứng dụng kịp thời các chuẩn mực hoạt động của ngân hàng thương mại quốc tế vào chuẩn mực hoạt động của ngân hàng mình, tránh tình trạng chạy đua với các thành tích mang tính bề nổi, chẳng hạn như tìm mọi cách để giảm tỷ lệ về nợ quá hạn càng thấp càng tốt mà bỏ qua những nguy cơ tiềm ẩn đang rình rập và đe doạ ngân hàng đằng sau các khoản nợ quá hạn đó. Thứ hai ,về biện pháp xử lý nợ quá hạn: việc TCTD phân tích nợ quá hạn theo định kỳ có ý nghĩa rất quan trọng, giúp TCTD nắm được thực trạng chung của đơn vị và của từng loại cho vay, từng nhóm khách hàng cụ thể, trên cơ sở đó có thể xử lý nợ một cách thích hợp và có hiệu quả cao. Thông qua phân tích nợ, TCTD cần đề ra hướng giải quyết hay biện pháp xử lý thích hợp với TCTD, với từng nhóm khách hàng, và từng món vay cụ thể. Xử lý quỹ dự phòng bù đắp rủi ro. Đây là một trong những biện pháp quan trọng để lành mạnh hoá tài chính của các TCTD. Để thực hiện đúng đối tượng và có hiệu quả biện pháp này, TCTD cần quan tâm: thực hiện nghiêm túc và chính xác việc phân loại tài sản “có”, trích lập qũy dự phòng theo đúng quy định; rà soát các khoản nợ khó đòi, có khả năng tổn thất để xác định đúng các khoản nợ thuộc đối tượng xử lý bù đắp rùi ro; áp dụng triệt để các biện pháp tận thu; lập hồ sơ xử lý tài sản bảo đảm đầy đủ, chính xác, hợp pháp, hợp lệ, đúng thời gian quy định; xử lý bù đắp rủi ro theo đúng quy định và thẩm quyền giải quyết của từng cấp. Khai thác các tài sản bảo đảm tiền vay được coi là biện pháp quan trọng trong việc xử lý nợ quá hạn của TCTD. Vì tài sản bảo đảm nợ vay là nguồn thu hồi nợ thứ hai của TCTD khi phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không thể thực hiện hoặc thực hiện kém hiệu quả không có khả năng trả nợ. Trong trường hợp đó, TCTD cần tiến hành rà soát lại toàn bộ hồ sơ, thủ tục bảo đảm tiền vay, thực hiện biện pháp xử lý tài sản phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Việc xử lý cần phải tiến hành khẩn trương nhanh chóng, tranh thủ sự giúp đỡ của cơ quan hữu quan. Đối với nợ xấu Về phía các TCTD: Thứ nhất, đối với các TCTD tính thanh khoán chưa đe dọa sự an toàn của cả hệ thống: Phải tự xử lý thông qua các biện pháp đã và đang làm như: bán nợ, đòi trực tiếp, thanh lý tài sản thế chấp, sử dụng quỹ dự phòng bù đắp các khoản nợ không thu hồi được, hoặc chuyển nợ thành vốn góp nếu thấy khánh nợ có tương lai phát triển. Thứ hai, đối với các TCTD yếu kém, có nguy cơ mất khả năng thanh khoản: biện pháp khả thi là sáp nhập, hoặc giải thể. Các tổ chức này đi tìm, hoặc bị sáp nhập một cách cưỡng bức bởi một TCTD đủ mạnh. Nếu không sáp nhập được thì các TCTD này sẽ đặt trong điều kiện kiểm soát đặc biệt của NHNN, nhằm từng bước xử lý các tồn đọng để đi tới giải thể. Do quy mô tín dụng ngày một lớn, bản thân các TCTD phải có giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động, giảm thiểu rủi ro hoạt động để ngăn ngừa nợ xấu xuất hiện trở lại, như ban hành đầy đủ quy trình cho vay, năng cao năng lực quản trị, điều hành, quản trị rủi ro. Về phía Ngân hàng Nhà nước: Phải có biện pháp quyết liệt để xác định số thực về quy mô và cơ cấu của nợ xấu hiện nay, từ số liệu này mới có thể áp dụng các giải pháp cụ thể cho từng TCTD. Xử lý nghiêm hành vi che dấu nợ xấu. Đồng thời sửa đổi, bổ sung về cách phân loại nợ, trích lập sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong các trường hợp cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập và sử dụng quỹ dự phòng sai chế độ. Đồng thời có cơ chế buộc các TCTD trong một thời gian phải đưa nợ xấu xuống một giới hạn nhất định. Đối với các TCTD có quy mô lớn, ảnh hưởng nhiều tới sự an toàn của cả hệ thống cũng như nền kinh tế và an sinh xã hội, có khả năng phát triển tiếp, sau khi tự giải quyết nợ xấu vẫn còn ở mức cao, sẽ được NHNN bơm vốn để hỗ trợ, dưới hình thức góp vốn nhưng lại được hưởng lãi cố định (như cổ phiếu ưu đãi) và ngân hàng có thể rút vốn về khi tổ chức này đã phục hồi. Về phía các doanh nghiệp (DN): Cần nâng cao hiệu quả kinh doanh, đảm bảo cơ cấu vốn hợp lý, bố trí vốn đúng nguyên tắc, sử dụng vốn có hiệu quả. ổn định lượng tiền mặt cần thiết cho cán cân thanh toán, cân đối hệ số vốn vay trên vốn chủ không vượt quá trung bình của ngành, thường xuyên đánh giá thực trạng tài chính DN thông qua các tỷ số tài chính đặc trưng để đưa ra các kiến nghị cảnh báo về tình hình tài chính là giải pháp trước mắt cũng như lâu dài xử lý và ngăn ngừa nợ xấu. Thực hiện tái cơ cấu DN Nhà nước (là nhóm khách hàng có số dư nợ lớn nhất của ngân hàng), mà trọng tâm là tái cơ cấu tài chính DN hiện nay đang tiến hành theo đề án mà Chính phủ đã phê duyệt, nhằm nâng cao năng lực của các DNNN được coi là giải pháp tích cực. Xử lý nợ xấu, tái cơ cấu các TCTD, các ngân hàng phải đi đôi với việc tiến hành tái cơ cấu DN. Không thể tồn tại một hệ thống ngân hàng mạnh trên cơ sở một nền kinh tế có các DN yếu kém. C.KẾT LUẬN Từ những phân tích, đánh giá trên. Nhìn chung, bên cạnh những mặt tích cực trong pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, thì vẫn còn tồn tại những hạn chế có thể gây ra những rủi ro cho các tổ chức tín dụng. Vấn đề đặt ra là cần phải hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật để đảm bảo an toàn cho hệ thống các tổ chức tín dụng, nói rộng ra là sự an toàn cho hệ thống tài chính nước nhà. Trước những biến động của nền tài chính thế giới ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến tài chính trong nước và sự điều chỉnh liên tục mức lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước sẽ ảnh hưởng mạnh đến chính sách cho vay của các tổ chức tín dụng thì pháp luật điều chỉnh hoạt động hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng cần thiết phải hoàn thiện.
Xem thêm

26 Đọc thêm

TÌM HIỂU PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

TÌM HIỂU PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

MỤC LỤC I. Khái niệm về tổ chức tín dụng …………………………….. 2 II. Pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng ……………... 4 1. Đảm bảo an toàn cho hoạt động nhận tiền gửi …................ 5 2. Bảo đảm an toàn cho hoạt động phát hành giấy tờ có giá … 13 3. Bảo đảm an toàn cho hình thức huy động vốn bằng việc vay vốn của tổ chức tín dụng khác …………………………… 14 4. Bảo đảm an toàn cho hình thức huy động vốn bằng việc vay vốn của Ngân hàng nhà nước ……………………………. 15 III. Một số đề xuất pháp lý nhằm hoàn thiện các quy định về đảm bảo an toàn cho hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng............................................................................... 16
Xem thêm

21 Đọc thêm

Các vấn đề cần hoàn thiện pháp luật về cấp Giấy phép và tổ chức, hoạt động của tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay là gì?

CÁC VẤN ĐỀ CẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY PHÉP VÀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ GÌ?

Các vấn đề cần hoàn thiện pháp luật về cấp Giấy phép và tổ chức, hoạt động của tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay là gì? Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) và các quy định khác của pháp luật để cung ứng dịch vụ ngân hàng. Do hoạt động trong lĩnh vực có tính nhạy cảm cao nên pháp luật Việt Nam quy định khá chặt chẽ về điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt động đối với các tổ chức tín dụng.
Xem thêm

9 Đọc thêm

GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ MỞ RỘNG VIỆC SỬ DỤNG TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG ĐẢM BẢO NỢ VAY TẠI NHNOPTNT THĂNG LONG

GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ MỞ RỘNG VIỆC SỬ DỤNG TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG ĐẢM BẢO NỢ VAY TẠI NHNOPTNT THĂNG LONG

CHƯƠNG I NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3 I. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠIVÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 3 1.1. khái niệm ngân hàng thương mại 3 1.1.1. Khái niệm 3 1.1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế 4 1.2 Hoạt động của ngân hàng thương mại 7 1.2.1 Nghiệp vụ tài sản nợ 7 1.2.1.1. Các nghiệp vụ ký gửi 8 1.2.1.2. Các nghiệp vụ tiết kiệm 9 1.2.1.3. Các hình thức huy động tiền gửi khác 9 1.2.2. Các nghiệp vụ bên có 10 1.2.2.1. Nghiệp vụ tín dụng 10 1.2.2.2. nghiệp vụ đầu tư của ngân hàng thương mại 18 1.2.3. Nghiệp vụ trung gian 20 1.2.3.1. Các nghiệp vụ ngoại tệ tiền mặt và kim loại quý, đá quý 20 1.2.3.2. nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối 21 1.2.3.3. Nghiệp vụ thanh toán 21 1.2.3.4. Nghiệp vụ đại lý uỷ thác mua bán hộ chứng khoán 22 1.2.3.5. Nghiệp vụ đại lý phát hành chứng khoán 23 1.2.3.6. Các dịch vụ ngân hàng khác 24 II. VẤN ĐỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 24 2.1. Sự cần thiết của đảm bảo an toàn vốn 24 2.2. Khái niệm và mục đích đảm bảo an toàn vốn 25 2.3. Các hình thức đảm bảo 26 2.3.1. Trước hết bản thân các ngân hàng thương mại phải tự bảo vệ nguồn vốn kinh doanh của mình thông qua việc thực hiện đầy đủ về an toàn vốn do ngân hàng trung ương ban hành 26 2.3.2. Các hình thức đảm bảo tín dụng 26 2.3.2.1. Bảo đảm đối nhân với hình thái bảo lãnh 28 2.3.2.2. Đảm bảo đối vật 30 CHƯƠNG II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG ĐẢM BẢO TIỀN VAY TẠI NHNOPTNT THĂNG LONG 36 I. VÀI NÉT VỀ CHI NHÁNH NHNOPTNT THĂNG LONG………36 1.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển Chi nhánh NHNoPTNT Thăng Long 36 1.2. Mô hình tổ chức của Chi nhánh NHNoPTNT Thăng Long 36 1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Thăng Long năm 2004 38 1.3.1. Công tác huy động vốn 38 1.3.2. Công tác sử dụng vốn (cho vay) 40 1.3.3. Một số hoạt động khác 41 1.3.3.1. Kinh doanh ngoại tệ 41 1.3.3.2. Hoạt động kế toán, thanh toán 41 1.3.3.3. Hoạt động kiểm tra, kiểm toán 41 1.4.Các loại hình đảm bảo tín dụng đang được thực hiện 41 1.4.1. Thế chấp 41 1.4.2. Cầm cố 42 1.4.3. Bảo lãnh 42 II. TÌNH HÌNH VỀ VIỆC SỬ DỤNG TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG ĐẢM BẢO NỢ VAY TẠI NHNOPTNT THĂNG LONG 43 2.1. Chất lượng tín dụng ở NHNoPTNT Thăng Long, những vấn đề đặt ra cần quan tâm 43 2.1.1. Chất lượng tín dụng ở NHNoPTNT Thăng Long 43 2.1.2 Định hướng năm 2005 45 2.2. Tình hình sử dụng thế chấp vay vốn ngân hàng tại NHNoPTNT Thăng Long 45 2.2.1. Thế chấp nhà 46 2.2.1.1. Quyền sở hữu của tài sản thế chấp là nhà đất 47 2.2.1.2. Quyền thừa kế của tài sản thế chấp là nhà đất 48 2.2.1.3. Một số vấn đề liên quan 49 2.2.2. Thế chấp ô tô xe máy 50 2.2.3. Thế chấp vật tư hàng hóa 51 2.3. Một số tồn tại trong hình thức đảm bảo tín dụng bằng thế chấp 51 2.3.1. Những tồn tại thuộc về phương diện hành chính pháp luật 51 2.3.2. Những tồn tại thuộc về phương diện áp dụng của bản thân ngân hàng 53 CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ MỞ RỘNG VIỆC SỬ DỤNG TÀI SẢN THẾ CHẤP TRONG ĐẢM BẢO NỢ VAY TẠI NHNOPTNT THĂNG LONG 55 3.1. Các giải pháp thuộc về hành chính và pháp luật 55 3.2. Các giải pháp thuộc về hoàn thiện và mở rộng hình thức thế chấp tài sản 58 3.3. Các giải pháp khác 59 KẾT LUẬN 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Xem thêm

65 Đọc thêm

Bản chất pháp lý của hoạt động đấu giá hàng hóa

BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẤU GIÁ HÀNG HÓA

Bản chất pháp lý của hoạt động đấu giá hàng hóa Trên thị trường, quan hệ cung cầu về các loại hàng hóa, dịch vụ ít khi ở trạng thái cân bằng mà nó luôn diễn biến rất phức tạp. Khi cung vượt quá cầu thì thị trường dành cho người mua quyền lựa chọn (đấu thầu), còn khi cầu lớn hơn cung thì thị trường thuộc về người bán và người bán được quyền lựa chọn người mua (đấu giá). Khác với đấu thầu, đấu giá hàng hóa lại là hình thức công khai để chọn người mua. Cho nên, trong quá trình đấu giá người mua tham gia phải trả giá theo một thủ tục nhất định, người trả giá cao nhất (ít nhất phải bằng giá khởi điểm) là người được mua tài sản bán đấu giá. Đấu giá hàng hoá được quy định trong pháp luật Việt Nam tại điều 185 213 Luật Thương mại 2005, Bộ luật Dân sự 2005 và Nghị định của Chính phủ số 05NĐCP ngày 1812005 về bán đấu giá tài sản. Như vậy, đấu giá hàng hoá hay đấu giá tài sản trên phương diện khoa học pháp lý là toàn bộ các quy định pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các chủ thể kinh tế khác trong quá trình thực hiện các chức năng kinh tế của nhà nước. Mặt khác, đấu giá hàng hoá cũng là phương thức bán hàng đặc biệt, trong đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền tham gia thực hiện theo một trình tự thủ tục nhất định. Hoạt động đấu giá tài sản được thực hiện theo một trình tự, thủ tục đơn giản hơn nhiều so với hoạt động đấu thầu, bởi vì thủ tục bán đấu giá về cơ bản là nhằm tìm ra người mua trả giá cao nhất so với giá khởi điểm, nên cần tiến hành các bước chuẩn bị cần thiết, nhằm bảo đảm tính công khai của cuộc đấu giá. Đấu giá hàng hóa là một hành vi pháp lý, do sự khác nhau về chủ thể, mục đích mà đấu giá có thể là một hành vi dân sự thông thường hoặc một hoạt động thương mại độc lập của thương nhân. Đối tượng là hàng hóa thương mại được phép lưu thông. Quan hệ đấu giá được xác lập dưới những hình thức pháp lý nhất định. Bên cạnh đó, đấu giá hàng hóa có những nét đặc thù so với các hoạt động thương mại khác như: Một là, đấu giá hàng hóa là hoạt động bán hàng (có thể) thông qua trung gian. Quan hệ đặc trưng của đấu giá hàng hóa là: Người mua. người bán đấu giá Người bán tài sản Bên bán là chủ sở hữu hàng hóa hoặc người được chủ sở hữu ủy quyền hoặc là người có trách nhiệm lợi ích liên quan đến hàng hóa bán đấu giá như người cầm cố, thế chấp (Bộ luật dân sự)… Người làm dịch vụ bán đấu giá là những tổ chức được người bán hàng hóa ủy quyền tiến hành việc bán đấu giá. Bên mua là những tổ chức cá nhân có nhu cầu mua bán hàng hóa và đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật để tham gia trả giá. Hai là, đối tượng của bán đấu giá có thể là những hàng hóa thương mại thông thường. Tuy vậy, hầu hết chỉ những hàng hóa có đặc thù về giá trị cũng như giá trị sử dụng mới thường được cân nhắc để lựa chọn bán theo phương thức đấu giá. Vì rất khó xác định giá trị thực của những hàng hóa này nên người bán chỉ đưa ra mức giá khởi điểm cho người mua tham khảo, còn giá bán thực tế do những người tham dự cuộc bán đấu giá xác định trên cơ sở có sự cạnh tranh. Giá bán thực tế có thể cao hhơn hoặc thấp hơn giá mà người bán đưa ra ban đầu. Ba là, hình thức pháp lý của quan hệ bán đấu giá có thể được thiết lập dưới một dạng rất đặc biệt là hợp đồng ủy quyền bán đấu giá và văn bản bán đấu giá hàng hóa. Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá được xác lập giữa người bán hàng và người làm dịch vụ đấu giá, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ ủy quyền bán đấu giá hàng hóa. Văn bản bán đấu giá hàng hóa là hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập giữa các bên liên quan (người bán, người mua, tổ chức bán đấu giá), là cơ sở pháp lý để xác lập quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa đồng thời là căn cứ xác lập quyền sở hữu của người mua hàng đối với hàng hóa bán đấu giá. Bán đấu giá hàng hóa mang lại lợi ích cho cả người bán và người mua, tạo cơ hội bình đẳng cho những người mua cùng tham gia trả giá qua đó xác định được mức giá cạnh tranh có lợi nhất cho người bán hàng. Qua đó hàng hóa sẽ đến tay những người mua có tiềm năng và hiểu đúng giá trị của chúng nhất. Hiểu được chính xác, đầy đủ về quy chế đấu giá hàng hoá trong điều kiện hiện nay, sẽ tạo cho các nhà quản lý nói chung, các chủ thể tham gia quá trình đấu giá nói riêng những căn cứ, nền tảng trong quá trình quyết tâm thực hiện làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội trong lĩnh vực thương mại của Nhà nước, đồng thời thu hút và tạo ra nhiều nguồn vốn. Có một thị trường bán đấu giá chuyên nghiệp sẽ là động lực tốt thúc đẩy quan hệ trao đổi thương mại phát triển mạnh mẽ.
Xem thêm

3 Đọc thêm

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN Ở HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NƯỚC TA

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN Ở HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NƯỚC TA

quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, sản xuất phải trêncơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thoả mãn nhu cầu thị trường trên mọiphương diện, không những thoả mãn về phương diện giá cả, khối lượng,chất lượng, chủng loại hàng hoá mà còn đòi hỏi thoả mãn cả trên phươngdiện thời gian, địa điểm. Hoạt động của các nhà doanh nghiệp phải đạt hiệuquả kinh tế nhất định theo qui định chung của thị trường thì mới đảm bảođứng vững trong cạnh tranh. Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thịtrường, doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củngcố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán, mà cònphải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòisử dụng vật liệu mới, mở rộng qui mô sản xuất một cách thích hợp. Nhữnghoạt động này đòi hỏi một khối lượng lớn vốn đầu tư nhiều khi vượt quákhả năng vốn tự có của doanh nghiệp. Giải quyết khó khăn này, doanhnghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin vay vốn thoả mãn nhu cầu đầu tư củamình. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là chiếc cầu nối doanhnghiệp với thị trường, nguồn vốn tín dụng ngắn hạn cấp cho các doanhnghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt củaquá trình sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thịtrường, theo kịp với nhịp độ phát triển chung, từ đó tạo cho doanh nghiệpmột chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.1.4. Chất lượng tín dụng ngắn hạn1.4.1. Khái niệm về chất lượng tín dụng ngắn hạnTrong hoạt động ngân hàng thương mại, tín dụng là một nghiệp vụmang lại phần lớn doanh lợi nhưng cũng là nơi ẩn chứa nhiều rủi ro có khảPage 10năng xảy ra với tỷ lệ cao. Trên thực tế nhiều nhân viên ngân hàng quanniệm cho vay có tài sản cầm cố thế chấp, nhưng không quá tỉ lệ qui định làan toàn nhất. Thực ra quan niệm này hết sức sai lầm, bởi vì kết quả hoạt
Xem thêm

62 Đọc thêm

Báo Cáo Thực Tập Tổng Hợp Dành Cho Sinh Viên

Báo Cáo Thực Tập Tổng Hợp Dành Cho Sinh Viên

LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô trong khoa kinh tế trường Đại học Tây Nguyên đã trang bị cho tôi kiến thức quí báu trong suốt thời gian học tập tại trường. Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy Võ Xuân Hội cùng cô Nguyễn Thị Phương Thảo, những người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành Báo cáo chuyên đề thực tập tổng hợp này. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo ngân hàng chính sách xã hội tại huyện Krông Pắc, cùng toàn thể các cô chú, anh chị trong Phòng giám đốc, Phòng tín dụng và phòng kế toán đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện Báo cáo thực tập tổng hợp này. Một lần nữa Tôi xin chân thành cảm ơn Đắk Lắk, tháng 10 năm 2015 Sinh viên thực hiện ……………………. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt Giải thích DSCV Doanh số cho vay DSTN Doanh số thu nợ HĐND Hội đồng nhân dân NHCSXH Ngân hàng Chính sách Xã hội PGD Phòng Giao dịch QTTD Quy trình tín dụng SXKD Sản xuất kinh doanh TCTD Tổ chức tín dụng UBND Uỷ ban nhân dân XĐGN Sản xuất kinh doanh XKLĐ Xuất khẩu lao động DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức Phòng giao dịch NHCS huyện krông pắc 17 Bảng 3.1: Cơ cấu lao động của Ngân hàng chính sách xã hội huyện Krông Pắc 18 Bảng 3.2:Tình hình nguồn vốn tại phòng giao dịch NHCSXH huyện Krông Pắc 20 Bảng 3.3: Lãi suất huy động theo tháng tại PGD NHCSXH Huyện Krông Pắc 22 Bảng 3.4: Vòng quay vốn tín dụng chương trình hộ nghèo qua các năm 24 Bảng 3.5: Cơ cấu vốn cho vay các chương trình tín dụng tại PGD NHCSXH Huyện Krông Pắc 26 Bảng 3.6: Tình hình cho vay tại PGD NHCSXH huyện Krông Pắc 28 Bảng 3.7: tình hình dư nợ tại PGD NHCSXH huyện Krông Pắc 29 Bảng 3.8 : Dư nợ phân theo từng xã 30 Bảng 3.9: Tình hình nợ quá hạn cho vay hộ nghèo qua các năm 2011 – 2013 31 Bảng 3.10. Tình hình hộ nghèo và số hộ thoát nghèo tại PGD NHCSXH huyện Krông Pắc qua 3 năm 2011 – 2013 32 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN i DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ iii MỤC LỤC iv PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU 1 1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1 1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2 1.3. Đối tượng nghiên cứu 2 1.4. Phạm vi nghiên cứu 2 1.4.1. Phạm vi nội dung 2 1.4.2. Phạm vi không gian 2 1.4.3. Phạm vi thời gian 2 PHẦN THỨ HAI: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3 2.1. Cơ sở lý luận 3 2.1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 3 2.1.2. Khái niệm tín dụng 3 2.1.3. Bản chất, vai trò và chức năng của tín dụng 3 2.1.3.1. Bản chất của tín dụng ngân hàng 3 2.1.3.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng 4 2.1.3.3. Chức năng của tín dụng ngân hàng 5 2.1.3.4. Các hình thức tín dụng 6 2.1.4 Quy trình tín dụng 8 2.1.4.1. Khái niệm 8 2.1.4.2. Các giai đoạn và ý nghĩa quy trình tín dụng 8 2.1.5. Tín dụng hộ nghèo 10 2.1.5.1. Đặc điểm của tín dụng hộ nghèo 10 2.1.5.2. Vai trò của tín dụng hộ nghèo 10 2.1.6. Quy trình tín dụng tại ngân hàng CSXH huyện Krông Pắc 11 2.2. Phương pháp nghiên cứu 14 2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu 14 2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu 14 2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu 14 2.2.4. Các chỉ tiêu nguyên cứu 14 PHẦN THỨ BA: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16 3.1. Tổng quan về phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Krông Pắc 16 3.1.1. Giới thiệu về Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã Hội huyện Krông Pắc 16 3.1.1.1. Quá trình hình thành và cơ cấu tổ chức 16 3.1.1.2. Thuận lợi và thách thức 18 3.1.1.3. Đặc điểm của những sản phẩm cho vay đối với hộ nghèo 19 3.2. Kết quả nghiên cứu 20 3.2.1.Thực trạng cho vay đối với hộ nghèo tại PGD NHCSH Krông Pắc 20 3.2.1.1. Tình hình nguồn vốn cho vay tại ngân hàng chính sách xã hội huyện Krông Pắc 20 3.2.1.2. Tình hình cho vay hộ nghèo ở NH CSXH huyện Krông Pắc 22 3.2.2. Phân tích tình hình cho vay tại chi nhánh 28 3.2.2.1. Phân tích doanh số cho vay 28 3.2.2.2. Phân tích dư nợ cho vay 29 3.2.2.3. Phân tích tình hình nợ quá hạn 31 3.2.3. Nhận xét trong hoạt động cho vay tại ngân hàng chính sách xã hội huyện Krông Pắc 33 3.2.3.1. Về tổ chức 33 3.2.3.2. Về chính sách huy động vốn 33 3.2.3.3. Về đối tượng vay vốn 33 3.2.4. Những tồn tại hạn chế và nguyên nhân 34 3.2.5. Giải pháp nâng cao tín dụng tại phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Krông Pắc 35 3.2.5.1. Tổ chức tuyên truyền về tính thiết thực, việc sử dụng vốn hiệu quả và nâng cao trình độ dân trí cho hộ nghèo 35 3.2.5.2. Tăng cường kiểm soát việc sử dụng vốn vay 36 PHẦN THỨ TƯ: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37 4.1. Kết luận 37 4.2. Kiến nghị 38 4.2.1. Kiến nghị đối với NHCSH Đắk Lắk 38 4.2.2. Kiến nghị đối với NHCSH Krông Pắc 38 4.2.3. Kiến nghị đối với nhà nước 38 4.2.4. Kiến nghị đối với UBND các cấp 38 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 40 PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới (WTO), và đang dần hoàn thiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Với 75% dân số là nông dân tập trung sinh sống ở nông thôn. Tỷ lệ người nghèo chiếm 13% (Năm 2008) tổng dân số của nước ta. Nhìn chung nền nông nghiệp nước ta còn nghèo nàn và còn chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai. Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta cũng đã quan tâm đến nhiệm vụ XĐGN là một trong những chương trình phát triển kinh tế, xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài và nhấn mạnh”phải thực hiện tốt chương trình XĐGN, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc. Trong lĩnh vực tín dụng cho người nghèo, năm 1996 Nhà nước đã thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo và đến năm 2003 được tách ra thành Ngân hàng chính sách xã hội, với mục tiêu chủ yếu là cho vay ưu đãi hộ nghèo. Sau hơn 5 năm hoạt động, NHCSXH đã cho vay hàng chục ngàn tỷ đồng, cho hàng chục triệu lượt hộ nghèo và đã góp phần to lớn trong cuộc XĐGN cho đất nước. Tuy nhiên nhiệm vụ XĐGN còn gặp nhiều khó khăn và cản trở khi nhu cầu vay vốn của nhân dân cao, và trên diện rộng trong khi quy mô của các Ngân hàng còn chưa lớn, hiệu quả còn chưa cao, hoạt động của NHCSXH còn chưa thực sự bền vững. những vấn đề trên là phức tạp nhưng chưa có mô hình thực tiễn và chưa được nghiên cứu đầy đủ. Để giải quyết được vấn đề nghèo đói ở Việt Nam nói chung và tín dụng cho hộ nghèo nói riêng, đòi hỏi phải được nghiên cứu kĩ lưỡng có hệ thống khách quan khoa học, phải có sự quan tâm sâu sắc đặc biệt của Nhà nước cũng như toàn xã hội. Krông Pắc là một huyện nghèo, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp (trồng cà phê, cao su, bắp, đậu, ngô, sắn, … ). Để người nghèo có điều kiện ổn định chỗ ở, tập trung sản xuất, phấn đấu thoát nghèo, công tác cho vay hộ nghèo trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn gặp nhiều hạn chế: chất lượng tín dụng chưa cao, thời hạn vay, mức cho vay chưa phù hợp với thực tế ở một số nơi. Do vậy, nâng cao chất lượng cho vay hộ nghèo là một công việc cấp thiết được đặt ra hiện nay. Nhận thức được điều đó tôi quyết định chọn đề tài HOẠT ĐỘNG CHO VAY VỐN ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI PHÒNG GIAO DỊCH NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG PẮC. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu Nhằm hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về đói nghèo, tín dụng đối với hộ nghèo. Tìm hiểu và đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã Hội huyện Krông Pắc. Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng đối với hộ nghèo nói riêng của PGD NHCSXH huyện Krông Pắc. 1.3. Đối tượng nghiên cứu Với tính chất phức tạp của vấn đề nghiên cứu nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề thực tiễn cụ thể trong hoạt động cho vay hộ nghèo tại phòng giao dich Ngân hàng CSXH huyện Krông Pắc trong 3 năm 2011,2012 và 2013. 1.4. Phạm vi nghiên cứu 1.4.1. Phạm vi nội dung Tìm hiểu thực trạng hoạt động tín dụng hộ nghèo và các đối tượng chính sách tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện Krông Pắc. 1.4.2. Phạm vi không gian Tiến hành nghiên cứu đề tài tại NHCSXH huyện Krông Pắc. 1.4.3. Phạm vi thời gian Số liệu nghiên cứu được lấy trong các năm 2011, 2012 và 2013. PHẦN THỨ HAI: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Cơ sở lý luận 2.1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác. 2.1.2. Khái niệm tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế, trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với thời hạn hoàn trả cùng với một khoản chi phí nhất định và thu hồi món vay. Về bản chất, tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau và hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận giữa người đi vay và người cho vay. 2.1.3. Bản chất, vai trò và chức năng của tín dụng 2.1.3.1. Bản chất của tín dụng ngân hàng Bản chất của tín dụng là hệ thống các quan hệ kinh tế hình thành thông qua quan hệ vay mượn giữa người cho vay với người đi vay nhằm điều tiết từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn và đáp ứng các nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Quá trình đó được thể hiện qua các giai đoạn sau: Phân phối tín dụng dưới dạng hình thức cho vay. Ở giai đoạn này, vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hóa được chuyển từ người cho vay sang người đi vay. Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất. Sau khi nhận được giá trị vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị đó để thỏa mãn một mục đích nhất định. Ở giai đoạn này vốn vay được sử dụng trực tiếp, nếu vay bằng hàng hoá, hoặc vốn vay được sử dụng để mua hàng hoá, nếu là vay bằng tiền để thỏa mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của người đi vay. Tuy nhiên, người đi vay không có quyền sở hữu về giá trị đó, mà chỉ được tạm thời trong một thời gian nhất định, nghĩa là xuất hiện trong thực tế sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng: Người cho vay có quyền sở hữu nhưng không có quyền sử dụng và người đi vay họ có quyền sử dụng nhưng lại không có quyền sở hữu. Sự hoàn trả của tín dụng: Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng. Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người vay. 2.1.3.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng Với tư cách là công cụ tập trung vốn và tích lũy, tín dụng góp phần giảm số tiền nhàn rỗi, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng vòng quay nguồn vốn, tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông, và góp phần hạn chế lạm phát phát triển kinh tế. a. Góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính nông thôn Thị trường tài chính ở nông thôn là nơi giải quyết quan hệ cung cầu về vốn, nhằm thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế nông thôn. Thị trường tài chính nông thôn bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ. b.Tín dụng đã góp phần tận dụng khai thác mọi tiềm năng về đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên Tiềm năng cho phát triển ở nước ta là rất lớn, nếu được Nhà nước quan tâm đúng mức với những chính sách vĩ mô thích hợp, đặc biệt là nếu có chính sách đầu tư tín dụng hợp lý, thì chắc chắn những khả năng tiềm tàng mà lâu nay chưa được sử dụng sẽ được động viên khai thác triệt để và phát huy hiệu quả. Sức lao động được giải phóng kết hợp với đất đai được giao quyền sử dụng lâu dài cho từng hộ gia đình sẽ đóng góp ngày càng nhiều hơn, phong phú hơn hàng hoá nông sản thực phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu của đất nước. 2.1.3.3. Chức năng của tín dụng ngân hàng a. Tập trung và phân phối lại vốn cho nền kinh tế Tập trung và phân phối lại vốn tín dụng là hai quá trình thống nhất trong sự vận động của hệ thống tín dụng. Thông qua hoạt động tín dụng thì nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội được tập hợp lại thành nguồn vốn lớn có thể đáp ứng các nhu cầu vốn lớn cho nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng thì nguồn vốn được phân bố đến những nơi cần vốn của các tổ chức kinh tế, xã hội, cá nhân. Phân phối trực tiếp là sự chuyển giao vốn của chủ thể tạm thời nhàn rỗi vốn sang chủ thể thiếu vốn tạm thời mà không thông qua bất kỳ trung gian tài chính nào. Phân phối gián tiếp: là sự chuyển giao vốn giữa các chủ thể thừa vốn tạm thời sang chủ thể thiếu vốn tạm thời mà phải thông qua tổ chức tài chính trung gian Như vậy thông qua chức năng tập trung và phân phối lại vốn trong nền kinh tế tín dụng được xem như là sợi dây kết nối cung cầu vốn tiền tệ, tạo dễ dàng cho chủ thể thừa tiền, chủ thể thiếu tiền trong nền kinh tế gặp gỡ nhau, đạt được mục đích của mỗi bên, nhờ đó mà tín dụng trực tiếp tham gia điều tiết vốn giúp cho tiền tệ lưu thông đạt hiệu quả kinh tế cao, tránh tình trạng thiếu hụt cũng như thừa tiền trong nền kinh tế. b. Tiết kiệm tiền mặt trong nền kinh tế và chi phí lưu thông tiền tệ Thông qua hoạt động tín dụng các công cụ lưu thông tín dụng công cụ thanh toán hiện đại cho phép huy động vốn thông qua phát hành chứng từ có giá, có thể chuyển nhượng qua lai, như vậy thì tín dụng có thể giảm lượng tiền lưu thông thực tế một lượng đáng kể. Khi hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán qua hệ thống ngân hàng ngày càng nhiều và lớn thì lượng tiền lưu thông sẽ giảm nhỏ lại, mặt khác khi công tác không dùng tiền mặt phát triển thì việc tập trung tiền vào tài khoản sẽ giảm chi phí cất trữ và bảo quản tiền. Nếu các công cụ thanh toán của ngân hàng phát triển thì việc thanh toán sẽ nhánh chóng, điều này sẽ thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa diễn ra nhanh chóng, kịp thời. c. Phản ánh và kiểm soát các hoạt của nền kinh tế Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, tín dụng cảng mở rộng cho tất cả các thành phần kinh tế, tham gia vào sản xuất hàng hóa góp phần hoàn thiện thị trường tài chính. Thông qua quá trình tập trung và phân phối lại vốn, tín dụng phản ánh được nguồn vốn huy động, khối lượng huy động, đồng thời biết được khả năng các Tổ chức tín dụng cung ứng vốn cho nền kinh tế cũng như nhu cầu vốn của nền kinh tế. Ngoài ra thông qua đó thấy được như đầu tư, tích luỹ tiêu dùng… trong nền kinh tế và cũng từ đó Nhà Nước sẽ có các chính sách hợp lý. Trong hoạt động cho vay, các TCTD phải luôn theo dõi kiểm tra phân tích đánh giá hoạt động kinh doanh của khách hàng mình để từ đó có những đối sách thích hợp về cho vay cũng như thu hồi vốn cho vay. Do vạy tín dụng cũng phán ánh được tình hình quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp Khi mà hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, được sử dụng rộng rãi thì Ngân hàng sẽ kiểm soát bằng tài khoản vì mọi hoạt động cũng như quá trình hình thành và sử dụng vốn liên quan đến tài khoản tiền gửi. Với chức năng này thì Ngân hàng sẽ trở thành một người giữ tiền của nền kinh tế, giao dịch với hầu hết các thành phần kinh tế. Vốn của TDNH tham gia vào mọi ngành nghề, nên ngân hàng có thể nắm bắt phản ánh mọi hoạt động trong nền kinh tế một cách tương đối chính xác. Cũng với chức năng tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông, chức năng phản ánh trong quá trình hoạt động của nền kinh tế thì tín dụng có phản ánh quá trình phân phối sản phẩm cho nền kinh tế. 2.1.3.4. Các hình thức tín dụng a. Căn cứ vào thời hạn tín dụng Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thông thường vay dùng nguồn vốn tín dụng này để bổ sung vào vốn lưu động tạm thời thiếu hụt, các loại sản xuất mang tính thời vụ, hoặc tiêu dùng. Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên một năm và nhỏ hơn hay bằng 5 năm thường thì người vay loại tín dụng này nhằm đáp ứng các nhu cầu cải tiến trang thiết bị, mua sắm tài sản cố định, đổi mới công nghệ, xây dựng các công trình với quy mô tương đối nhỏ,thời gian hoàn vốn nhanh. Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, thường thì người vay sử dụng vốn tín dụng này nhằm mục đích thực hiện các dự án lớn thời gian hoàn vốn lâu b. Căn cứ vào đối tượng cho vay Tín dụng vốn lưu động: Là loại vốn tín dụng được sử dụng đáp ứng các nhu cầu cung cấp vốn lưu động cho các doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu luân chuyển vốn dự trữ nguyên liệu, vật tư sản xuất và lưu thông hàng hóa, đa số khoản tín dụng này mang tính ngắn hạn. Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng sử dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn cố định tạo ra tài sản cố định cho doanh nghiệp, các khoản tín dụng này chủ yếu tài trợ cho các dự án đầu tư cơ bản và có thời hạn thu hồi vốn lâu. c. Căn cứ vào tài sản đảm bảo Tín dụng có tài sản đảm bảo: Là loại tín dụng thực hiện phải có tài sản đảm bảo như thế chấp, cầm cố, bão lãnh của bên thứ ba nhằm bảo toàn nguồn vốn cho người vay. Như vậy người vay phải dùng tài sản của mình hay yêu cầu bên bão lãnh dùng tài sản của họ để thế chấp hay cầm cố để có thể vay một số vốn nhất định trong một khoảng thời gian nhất định. Tín dụng không có tài sản đảm bảo: Là loại tín dụng mà người đi vay không cần dùng tài sản thế chấp của mình để đảm bảo nợ vay, mà chỉ bằng uy tín của mình đối với bên cho vay, uy tín của Hội đoàn thể chính trị Xã hội, thông thường thì loại tín dụng này chủ yếu được áp dụng với khách hàng có uy tín, các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động có hiệu quả, tình hình tài chính lành mạnh đảm bảo khả năng thanh toán. d. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh: Là loại tín dụng được sử dụng đáp ứng các nhu cầu sản xuất kinh doanh các ngành nghề. Tín dụng phục vụ tiêu dùng: Là loại tín dụng nhằm phục vụ cho mục đích mua sắm hàng hóa, sửa chữa nhà đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt hằng ngày của dân cư. e. Căn cứ vào đối tượng hoàn trả Tín dụng trực tiếp: Là loại tín dụng mà người đi vay trực tiếp vay vốn cộng lãi cho người đi vay. Tín dụng gián tiếp: Là loại tín dụng mà người đi vay và người trả nợ là hai người khác nhau. f. Căn cứ vào chủ thể tín dụng Tín dụng thương mại: Là loại quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp với nhau, được biểu hiện thông qua quan hệ mua bán chịu hàng hóa. Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, cá nhân trong đó Ngân hàng là người cho vay. Tín dụng Nhà nước: Là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tổ chức và dân cư. Trong đó Nhà nước đóng vai trò là người đi vay, được thực hiện dưới hình thức phát hành Trái phiếu, Công trái hay chứng từ có giá khác. 2.1.4 Quy trình tín dụng 2.1.4.1. Khái niệm QTTD là bảng tổng hợp mô tả các bước đi cụ thể từ khi tiếp nhận nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra qđịnh cho vay, giải ngân và thanh lý hợp đồng tín dụng.Hầu hết các NHTM đều tự thiết kế cho mình một QTTD cụ thể, bao gồm nhiều bước đi khác nhau với kết quả cụ thể của từng bước đi. 2.1.4.2. Các giai đoạn và ý nghĩa quy trình tín dụng Các giai đoạn của qui trình Nguồn và nơi cung cấp thông tin Nhiệm vụ của ngân hàng ở mỗi giai đoạn Kết quả của mỗi giai đoạn (1) (2) (3) (4) Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng Khách hàng đi vay cung cấp thông tin. Tiếp xúc, phổ biến và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn. Hoàn thành bộ hồ sơ để chuyển sang giai đoạn sau. Phân tích tín dụng Hồ sơ đề nghị vay từ giai đoạn trước chuyển sang. Các thông tin bổ sung từ phỏng vấn, hồ sơ lưu trữ,... Tổ chức thẩm định về các mặt tài chính và phi tài chính do các cá nhân hoặc bộ phận thẩm định thực hiện. Báo cáo kết quả thẩm định để chuyển sang bộ phận có thẩm quyền để quyết định cho vay. Quyết định tín dụng Các tài liệu và thông tin tử giai đoạn trướcchuyển sang và báo cáo kết quả thẩm định. Các thông tin bổ sung. Quyết định cho vay hoặc tử chối cho vay dựa vào kết quả phân tích. Quyết định cho vay hoặc từ chối tùy theo kết quả thẩm định. Tiến hành các thủ tục pháp lý như ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng công chứng, và các loại hợp đồng khác. Giải ngân Quyết định cho vay và các hợp đồng liên quan. Các chứng từ làm cơ sở giải ngân. Thẩm định các chứng từ theo điều kiện của hợp đồng tín dụng trước khi phát tiền vay. Chuyển tiền vào các tài khoản tiền gửi của khách hàng hoặc chuyển trả cho nhà cung cấp theo yêu cầu của khách hàng. Giám sát và thanh lý tín dụng Các thông tin từ nội bộ ngân hàng. Các báo cáo tài chính theo định kỳ của khách hàng. Các thông tin khác. Phân tích hoạt động tài khoản, báo cáo tài chinh, kiểm tra mục đính sử dụng vốn vay. Tái xét và xếp hạng tín dụng. Thanh lý hợp đồng tín dụng. Báo cáo kết quả giám sát và đưa ra các giải pháp xử lý. Lập các thủ tục để thanh lý tín dụng. • Ý nghĩa của quy trình tín dụng : Về mặt hiệu quả, một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng. Về mặt quản lý, quy trình tín dụng có tác dụng: Làm cơ sở cho việc phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động tín dụng. Làm cơ sở để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn. 2.1.5. Tín dụng hộ nghèo 2.1.5.1. Đặc điểm của tín dụng hộ nghèo a. Khái niệm tín dụng hộ nghèo Tín dụng đối với người nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho những người nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi; tuỳ theo từng nguồn có thể hưởng theo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hoà nhập cùng cộng đồng. b. Chỉ tiêu đánh giá hộ đói nghèo ở Việt Nam Chỉ tiêu chính: Thu nhập bình quân một người một tháng (hoặc năm) được đo bằng chỉ tiêu giá trị hay hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực (gạo) tương ứng một giá trị nhất định về giá cả. Khái niệm thu nhập ở đây được hiểu là thu nhập thuần túy (tổng thu trừ tổng chi). Chỉ tiêu phụ: là dinh dưỡng bữa ăn, mặc, nhà ở và các điều kiện y tế,… 2.1.5.2. Vai trò của tín dụng hộ nghèo Thứ nhất: làm giảm chi phí trao đổi giao dịch mở rộng thị trường hàng hóa và dịch vụ và phạm vi phân công lao động. Tín dụng tạo ra cơ hội cho việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp và tạo thu nhập cho người nghèo. Thứ hai: tín dụng cung cấp nguồn vốn để mua các vật tư cần thiết đầu tư cho sản xuất nông nghiệp như máy cày, máy móc thiết bị tưới tiêu, nhà xưởng… và các khoản đầu tư khác như phân bón, hạt giống, nhiên liệu … Thứ ba: Tín dụng giúp đẩy mạnh quá trình thương mại hóa sản xuất nông nghiệp cũng như thay đổi cơ cấu nông nghiệp. Hiện đại hóa nông nghiệp là áp dụng kỹ thuật mới, phân bón, thuốc trừ sâu và các phương pháp thâm canh tốt hơn. Không có tín dụng quá trình này sẽ bị chậm lại. Tín dụng sẽ làm mất đi những hạn chế tự cung tự cấp trước kia và sẽ đóng góp đáng kể vào phát triển nông nghiệp. Thứ tư: cung cấp tín dụng được coi là công cụ chủ chốt làm phá vở vòng luẩn quẩn “Thu nhập thấp tiết kiệm ít sản lượng thấp thu nhập thấp” đặc biệt là vùng nông thôn mà phần lớn dân số là những người nông dân có thu nhập thấp. Cung cấp tín dụng thường được thực hiện qua các chương trình đặc biệt với mục đich tạo việc làm và tăng mức thu nhập của người nghèo. 2.1.6. Quy trình tín dụng tại ngân hàng CSXH huyện Krông Pắc • Quy trình cho vay Cho vay Người vay vốn viết giấy đề nghị vay vốn (mẫu số 01TD), gửi tổ T
Xem thêm

Đọc thêm

Bài tập nhóm luật Dân sự: Tình huống về tuyên bố mất tích

BÀI TẬP NHÓM LUẬT DÂN SỰ: TÌNH HUỐNG VỀ TUYÊN BỐ MẤT TÍCH

Tình huống về tuyên bố mất tích Bài tập nhóm Luật Dân sự 1 MỞ ĐẦU – TÌNH HUỐNG Cá nhân là chủ thể thường xuyên, quan trọng, chủ yếu và phổ biến nhất của quan hệ pháp luật dân sự. Có thể nói, cá nhân tham gia vào tất cả các quan hệ pháp luật dân sự, dù có là các quan hệ pháp luật dân sự của pháp nhân, tổ hợp tác hay hộ gia đình cũng phải thông qua hành vi của cá nhân. Trong quan hệ pháp luật dân sự, mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các cá nhân gắn bó chặt chẽ với nhau. Việc một người vắng mặt ở nơi cư trú trong một thời gian dài mà không có tin tức chứng minh rằng người đó còn sống hay đã chết không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng, trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp họ mà còn ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan khác. Chính vì vậy, để bảo vệ những quyền này, pháp luật đã quy định những điều kiện, trình tự để tạm dừng hoặc chấm tư cách chủ thể của cá nhân dưới nhiều hình thức, một trong số đó là “ Tuyến bố mất tích”. Thông qua tình huống về một quyết định tuyên bố mất tích thực tiễn và trả lời những câu hỏi liên quan sau đây, chúng ta có thể rõ hơn phần nào những quy định của Luật dân sự Việt Nam về vấn để này: “Ông Nguyễn D.T và anh Nguyễn D.K là anh em ruột, có xác nhận của chính quyền địa phương. Từ khi sinh ra cho tới nay, ông T và ông K chỉ sinh sống và làm ăn ở xã Y, huyện X thành phố Hà Nội. Từ đầu năm 1989, anh K (chưa có vợ và con) bỏ nhà đi biệt tích không bàn bạc, thông báo gì cho ông T và gia đình. Bản thân ông T và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì về anh K. Ngày 2542013, ông T ( là anh của anh K) có đơn yêu cầu của Tòa án tuyên bố anh K mất tích. Tòa án nhân dân huyện T đã đăng tin nhắn tìm anh K trên đài tiếng nói Việt Nam (phát sóng vào lúc 17 giờ 50 phút ngày 14, 15, 16 tháng 5 năm 2013) và đăng tin trên báo Nhân dân số 21058 ngày 1252013, số 21059 ngày 1352013, số 21060 ngày 1452013) đến ngày 30 tháng 9 năm 2013 mà không có tin tức gì của anh K. Xét thấy, lời khai của ông Nguyễn D.T phù hợp với xác nhận của chính quyền địa phương xã Y về việc anh Nguyễn D.K bỏ nhà đi biệt tích từ đầu năm 1989 đến nay không có tin tức gì. Từ thời điểm Tòa án nhân dân huyện X đăng tin nhắn tìm anh K lần đầu tiên cho tới ngày 30 tháng 9 năm 2013, đã hết thời hạn 4 tháng nhưng anh K vẫn không có bất kỳ liên lạc nào với Tòa án hoặc có tin tức về cho gia đình. Tại phiên họp, ông T vẫn giữ yêu cầu tuyên bố anh K mất tích. Đối chiếu quy định tại Điều 78 Bộ luật Dân sự về điều kiện tuyên bố mất tích, Tòa án nhận yêu cầu của ông T về việc tuyên bố anh Nguyễn D.K mất tích như quan điểm đề nghị của Viện Kiểm sát. Ông T không có yêu cầu đề nghị nào khác nên Tòa không xét. Quyết định: Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 311, 316, 317, 331, 332 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 78 Bộ luật dân sự; Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Nguyễn D.T. Tuyên bố anh Nguyễn D.K (sinh năm 1970, nơi cư trú cuối cùng: xã Y, huyện X, Hà Nội) mất tích.” Câu hỏi: 1. Các điều kiện để tuyên bố cá nhân mất tích trong trường hợp trên? Nhận xét về các điều kiện được áp dụng trong trường hợp trên. 2. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của cá nhân bị tuyên bố mất tích? Những ai bị ảnh hưởng đến lợi ích và bị ảnh hưởng như thế nào khi cá nhân bị tuyên bố mất tích trong trường hợp trên? 3. Giả sử cá nhân bị tuyên bố mất tích là bên thế chấp đồng thời là người vay tiền của Ngân hàng thì Ngân hàng có đòi nợ khi đến hạn được không? Chỉ rõ các căn cứ pháp lý làm cơ sở cho lập luận của mình. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Các điều kiện để tuyên bố cá nhân mất tích? Nhận xét về các điều kiện được áp dụng. Tại Khoản 1 Điều 78 Bộ Luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện hành quy định: “Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.” Điều 330 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2004 (được sửa đổi. bổ sung năm 2011) quy định: “Khi làm đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đương sự phải gửi kèm đơn là chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm.” Vậy, để Tòa án nhân dân có thể ra quyết định tuyên bố một người mất tích, đồng thời tạm dừng mọi năng lực pháp luật dân sự của một cá nhân khi thỏa mãn ban điều kiện: nhận được đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan, có chứng cứ chứng minh thời gian biệt tích là hai năm trở lên và đã đăng thông báo tìm kiếm trên các phương tiện, thông tin đại chúng. Trước hết, về chủ thể có quyền yêu cầu tuyên bố mất tích, đó là người có quyền và lợi ích liên quan, là những người có mối liên hệ nào đó mà quyền lợi và nghĩa vụ của họ bị ảnh hưởng do sự vắng mặt của người mất tích. Trong trường hợp này là ông T – anh ruột của K đã viết đơn nộp cho Tòa án theo quy định của pháp luật và có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố em trai mình mất tích. Xét về không gian, Khoản 1 Điều 52 Bộ Luật dân sự Việt Nam hiện hành quy định: “Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống”. Từ khi sinh ra đến khi bỏ nhà đi, anh K chỉ sống ở xã Y, huyện X thành phố Hà Nội. Vậy, nơi cư trú cuối cùng của anh K là xã Y, huyện X thành phố Hà Nội, ông T có thể làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân huyện X để Tòa án xem xét các điều kiện theo đúng quy định của pháp luật và đưa ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Về việc xét đơn yêu cầu, Điều 331 Bộ luật Tố tụng dân sự có quy định các điều kiện về Chuẩn bị xét đơn yêu cầu: “Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Toà án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Nội dung thông báo và công bố thông báo được thực hiện theo quy định tại Điều 327 và Điều 328 của Bộ luật này. Thời hạn thông báo là bốn tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên. Trong thời hạn công bố thông báo, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trở về và yêu cầu Toà án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thì Toà án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích.” Xét về mặt thời gian, Điều 74 Bộ luật Dân sự quy định: “Khi một người biệt tích sáu tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự...” Sau khi anh K bỏ nhà đi năm 1989, gia đình cũng đã báo cáo chính quyền địa phương và cũng được xác nhận sự việc. Từ đầu năm 1989 đến ngày 2542013 là ngày ông T đệ đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích là hơn 24 năm mà ông T và gia đình không nhận được bất kì tin tức xác thực nào về việc H còn sống hay đã chết nên theo Điều 74 Bộ Luật dân sự, ông T có quyền “yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt”. Tới ngày 1252013, Tòa án đã bắt đầu đăng tin tìm anh K trên phương tiện thông tin đại chúng. Điều đó có nghĩa là Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm trong thời hạn 20 ngày theo đúng luật định (Khoản 1 Điều 331 bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành). Bên cạnh đó, ông T cũng đã tìm kiếm anh K ở nhiều nơi trong suốt thời gian K biệt tích nhưng không có kết quả. Nhưng đến ngày 30 tháng 9 năm 2013 nghĩa là hơn 24 năm, ông T và gia đình vẫn không có tin tức xác thực về việc anh K còn sống hay đã chết nên theo yêu cầu của ông T, Toà án nhân dân huyện T sẽ xem xét và có thể ra quyết định tuyên bố K mất tích (Điều 78 Bộ Luật dân sự). Trong suốt thời gian từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu đến ngày Tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích, ông T không rút lại đơn yêu cầu và anh K không trở về nên Tòa án chấp nhận tuyên bố yêu cầu mất tích của ông T. Vậy, trong trường hợp đang xét, tất cả các điều kiện để tuyên bố một người mất tích đều đầy đủ nên việc Tòa án ra quyết định tuyên bố anh K mất tích là hợp lý. II. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của cá nhân bị tuyên bố mất tích? Những ai bị ảnh hưởng đến lợi ích và bị ảnh hưởng như thế nào khi cá nhân bị tuyên bố mất tích trong trường hợp trên? Việc tuyên bố một người là mất tích kéo theo những hậu quả pháp lí về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Thứ nhất, về quan hệ nhân thân. Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về một giá trị nhân thân của các nhân hay tổ chức. Việc xác định một giá trị nhân thân là quyền nhân thân phải được pháp luật thừa nhận. Quyền nhân thân là quyền không đo lường được, không thể chuyển giao được người khác, hoặc uỷ quyền cho người giam hộ. Có hai loại quan hệ nhân thân là quan hệ nhân thân không gắn với tài sản và quan hệ nhân thân gắn liền tài sản. Trường hợp đang xét là quan hệ nhân thân gắn liền với tài sản, là những giá trị nhân thân được xác lập làm phát sinh các quyền tài sản. Anh K bỏ nhà đi từ đầu năm 1989 được hơn 20 năm, mặc dù gia đình đã tìm kiếm cộng với sự giúp sức của tòa án, nhưng vẫn không tìm ra, đến ngày 30 tháng 9 năm 2013 Tòa án tuyên bố mất tích. Vậy, K tạm thời bị đình chỉ tư cách chủ thể. Tuy nhiên quyết định này không làm chấm dứt hoàn toàn tư cách chủ thể của K mà chỉ tạm thời bị đình chỉ cho tới khi tuyên bố mất tích chấm dứt, nghĩa là tới khi có thông tin chi tiết về việc anh K còn sống hay đã chết. Quan hệ nhân thân giữa ông T với anh K không thay đổi (quan hệ gia đình). Việc tuyên bố anh K mất tích đồng thời với việc toàn bộ tài sản của K được giao cho cá nhân có mặt khác quản lý theo quy định của pháp luật. Thứ hai, về quan hệ tài sản. Bộ luật Dân sự năm 2005, tại Điều 163 có định nghĩa: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Tài sản của người bị tuyên bố mất tích được quản lí theo quy định của Tòa án được quy định tại các điều 75, 76, 77, 79 Bộ luật Dân sự 2005 về quản lí tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú. Điều 79 có ghi: “Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại khoản 1 Điều 75 của Bộ luật này tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Toà án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 76 và Điều 77 của Bộ luật này.” Điều 75 quy định: “1. Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho những người sau đây quản lý: a) Đối với tài sản đã được người vắng mặt uỷ quyền quản lý thì người được uỷ quyền tiếp tục quản lý; b) Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý; c) Tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý. 2. Trong trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Điều này thì Toà án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.” Áp dụng vào tình huống đang xét thì khi Tòa án tuyên bố anh K mất tích thì quan hệ tài sản của K được xử lý như sau: Tài sản của K tại nơi cư trú do người được K ủy quyền trước khi mất tích quản lí. Trong tình huống anh K không ủy quyền cho ai quản lí tài sản, nếu là tài sản thuộc sở hữu chung thì sẽ do chủ sở hữu chung còn lại quản lí. Vì anh K chưa kết hôn, không bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự nên tài sản riêng của K do Tòa án chỉ định một trong những người thân thích của K quản lí, có nghĩa là cha, mẹ ông T hoặc ông T hay anh, chị khác của K (nếu có hay còn sống) quản lý, theo phán quyết của Tòa án. Vậy, trong trường hợp này, ông T là anh ruột của K nên là người có lợi ích ảnh hưởng trực tiếp tới việc K bị tuyên bố mất tích. Toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của K sẽ do cha, mẹ của K và ông T hoặc ông T quản lý. Cha, mẹ hoặc ông T, người quản lý tài sản của K phải có trách nhiệm đối với tài sản đó theo Điều 76, 77 Bộ luật Dân sự hiện hành. Cụ thể: “Người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có các nghĩa vụ sau đây: 1. Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình; 2. Bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng; 3. Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Toà án; 4. Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo cho Toà án biết; nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.” (Điều 76). Và “Người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có các quyền sau đây: 1. Quản lý tài sản của người vắng mặt; 2. Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt; 3. Được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản.”(Điều 77). III. Giả sử cá nhân bị tuyên bố mất tích là bên thế chấp đồng thời là người vay tiền của Ngân hàng thì Ngân hàng có đòi nợ khi đến hạn được không? Chỉ rõ các căn cứ pháp lý làm cơ sở cho lập luận của mình. Trên thực tế, anh K đã được Tòa án nhân dân huyện X tuyên bố mất tích. Giả sử, anh K là bên thế chấp đồng thời là người vay tiền Ngân hàng thì Ngân hàng có căn cứ pháp lý để có thể đòi được nợ khi đến hạn. Khẳng định trên đây là hoàn toàn có căn cứ pháp lý: Về vấn đề thế chấp: Khoản 1 Điều 342 Bộ luật Dân sự có quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp. Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai…” Theo tình huống được giả sử, trước khi mất tích, anh K là bên thế chấp đồng thời là người vay tiền của Ngân hàng. Theo Khoản 1 Điều 342, anh K đã thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (Ngân hàng). Tuy nhiên, khi chưa thực hiện nghĩa vụ dân sự một cách đầy đủ đối với Ngân hàng thì anh K đã bỏ nhà đi biệt tích từ đầu năm 1989 đến năm 2013, và đã được Tòa án nhân dân huyện X tuyên bố mất tích. Như vậy, lúc này Ngân hàng (là bên nhận thế chấp tài sản) có quyền “Yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định tại Điều 355 hoặc khoản 3 Điều 324 của Bộ luật này và được ưu tiên thanh toán” (Quy định tại Khoản 7, Điều 351 Bộ luật Dân sự). Điều 355 về xử lý tài sản thế chấp: “Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện theo quy định tại Điều 336 và Điều 338 của bộ luật này”. Điều 336 Bộ luật Dân sự về xử lý tài sản cầm cố: “Trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng thoả thuận thì tài sản cầm cố được xử lý theo phương thức do các bên đã thoả thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ. Bên nhận cầm cố được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản cầm cố”. Điều 338 Bộ luật dân sự về thanh toán tiền bán tài sản cầm cố: “Tiền bán tài sản cầm cố được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ cho bên nhận cầm cố sau khi trừ chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản cầm cố; trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm là khoản vay thì thanh toán cho bên nhận cầm cố theo thứ tự nợ gốc, lãi, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại nếu có; nếu tiền bán còn thừa thì phải trả lại cho bên cầm cố; nếu tiền bán còn thiếu thì bên cầm cố phải trả tiếp phần còn thiếu đó” . Như vậy, nếu chỉ căn cứ vào những điều trên thì Ngân hàng hoàn toàn có thể đòi được nợ của anh K khi đến hạn cho dù anh K đã mất tích. Tuy nhiên, còn một vấn đề chúng ta cần chú ý nữa. Đó là vấn đề về thừa kế, theo khoản 2 Điều 75 Bộ luật dân sự: “Trong trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Ðiều này thì Toà án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản”. Trong trường hợp nếu đã thanh toán khoản nợ Ngân hàng bằng khoản tiền bán tài sản cầm cố mà chưa đủ thì người quản lý tài sản có nghĩa vụ phải trả tiếp khoản nợ còn thiếu đó trong khuôn khổ tài sản của người mất tích (trong trường hợp này là anh K). Điều này được quy định trong khoản 3 Điều 76 Bộ luật Dân sự: “Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Tòa án” Dựa vào tất cả những căn cứ pháp lý như trên, trong trường hợp anh K là bên thế chấp đồng thời là người vay tiền của Ngân hàng thì Ngân hàng hoàn toàn có thể đòi được nợ khi đến kỳ hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự của bên thế chấp đồng thời là bên vay tiền. KẾT LUẬN Việc tuyên bố một cá nhân mất tích có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó góp phần đảm bảo lợi ích và nghĩa vụ của chủ thể có liên quan, giải quyết những hậu quả pháp lý liên quan tới việc giải quyết tài sản, quan hệ nhân thân của người đó… Việc xác định đúng điều kiện và hậu quả pháp lí của các tuyên bố này là cơ sở để đảm bảo công bằng quyền lợi cho các chủ thể, đồng thời góp phần thực hiện có hiệu quả những quy định của pháp luật. Pháp luật nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định rất cụ thể về các điều kiện cũng như trình tự, thủ tục giải quyết và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố mất tích, cụ thể là trong Bộ luật dân sự và Luật tố tụng dân sự. Vậy, ta có thể đưa ra kết luận rằng Luật dân sự Việt Nam hiện hành đã góp phần giải quyết những vấn đề dân sự phát sinh đời sống hằng ngày, đảm bảo xã hội phát triển ổn định, đời sống nhân dân cải thiện, ngày càng ấm no, hạnh phúc hơn.
Xem thêm

11 Đọc thêm

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp, đặt cọc)

CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ DÂN SỰ (KÝ CƯỢC, KÝ QUỸ, BẢO LÃNH, TÍN CHẤP, ĐẶT CỌC)

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp, đặt cọc) Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Dân sự 2 Bài tập học kỳ Luật Dân sự 2. Khái quát chung về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Việc xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong giao dịch dân sự trước hết trên cơ sở sự tự giác của các bên. Nhưng trên thực tế không phải bất cứ ai tham gia giao dịch dân sự đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình.Để tạo được thế chủ động cho người có quyền trong các quan hệ nghĩa vụ được hưởng quyền dân sự, pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng,cũng như việc thực hiện nghĩa vụ. Thông qua các biện pháp này người có quyền có thể chủ động tiến hành các hành vi của mình tác động trực tiếp đến tài sản của phía bên kia nhằm làm thỏa mãn quyền lợi của mình, khi đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đó. Về nguyên tắc thì vật bảo đảm nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng, quản lý và xác định được giá trị, số lượng tài sản của bên bảo đảm . Chuyển giao, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp và các giao dịch khác. Tài sản không có tranh chấp, tức là tài sản không có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, quản lý của bên bảo đảm. Không bị kê biên để bảo đảm thi hành án. Tài sản mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm thì bên bảo đảm phải mua bảo hiểm tài sản trong thời hạn bảo đảm tiền vay. • Không phải mọi sự thỏa thuận nào cũng là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự • Sự bảo đảm phải được pháp luật quy định • Đối tượng của biện pháp bào đảm : Lợi ích vật chất Tài sản bảo đảm không có tranh chấp Tài sản bảo đảm phải hợp pháp được phép giao dịch => Tài sản : vật , tiền , giấy tờ có giá , quyền tài sản. • Các biện pháp bảo đảm mang tính chất dự phòng , chỉ được áp dụng khi quan hệ nghĩa vụ chính không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng. Bảo lãnh. Khái niệm : Theo quy định tại điều 361 BLDS 2005 : “ bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh ) cam kết với bên có quyền ( sau đây được gọi là bên nhận bảo lãnh ) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ ( sau đây được gọi là bên được bảo lãnh ), nếu khi hết thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình ” . 2. Đặc điểm : Đây là biện pháp có tính chất đối nhân ( quan hệ trái quyền ) : Người bảo lãnh cam kết thực hiện nghĩa vụ thay khi người được bảo lãnh thực hiện không đúng hoặc không thực hiện nghĩa vụ. 3. Căn cứ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Căn cứ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định, bao gồm các trường hợp sau đây: Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh; Bên được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ đó, nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; Bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ; Các căn cứ khác, nếu pháp luật có quy định. Ký cược Cũng giống như cầm cố tài sản,thế chấp tài sản,đặt cọc, ký cược cũng là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Khái niệm Khoản 1 Điều 359 bộ luật Dân sự năm 2005 quy định : “ Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quí,đá quí hoặc vật có giá trị khác ( sau đây gọi là tài sản ký cược ) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản cho thuê ” Ví dụ: A thuê xe máy của B trong 5 ngày . A giao cho B khoản tiền 10 triệu đồng ( tài sản ký cược ) để đảm bảo việc A trả lại xe máy cho thuê và tiền thuê xe máy cho B. Tính chất của ký cược. Ký cược là hợp đồng phụ cho hợp đồng chính là hợp đồng thuê tài sản có đối tượng là động sản để bảo đảm thực hiện hợp đồng thuê đối với bên cho thuê .Xét về tính chất thì ký cược vừa mang tính chất của cầm cố,vừa mang tính chất của đặt cọc. Tính chất của ký cược so với cầm cố. Tính chất của cầm cố thể hiện ở việc giao tài sản bảo đảm cho bên cho thuê, để bảo đảm nghĩa vụ và là khoản tiền mà nếu bên thuê không thực hiện nghĩa vụ ,thì người đưa tiền sẽ mất số tiền đó.Nhưng cầm cố thường theo hướng ngược lại : Người đưa vật để nhận tiền , còn ký cược là đưa tiền để nhận vật. Ví dụ: A cầm cố một chiếc laptop cho B để lấy 5 triệu đồng H giao N khoản tiền 10 triệu đồng để thuê xe máy của N trong 5 ngày Tuy nhiên tài sản bên ký cược đưa cho bên nhận ký cược phải tương đương với giá trị tài sản cho thuê, do đó ký cược thông thường được áp dụng đối với hợp đồng có giá trị nhỏ. Tính chất của ký cược so với đặt cọc. Tính chất đặt cọc cũng xác định tương tự do ký cược cũng đưa tài sản để bảo đảm thực hiện hợp đồng,tuy nhiên khoản tiền đặt cọc không lớn so với giá trị hợp đồng.Trong khi khoản ký cược tương đương với giá trị tài sản cho thuê Chủ thể trong quan hệ ký cược. Chủ thể của ký cược là những người tham gia vào quan hệ ký cược, gồm bên ký cược và bên nhận ký cược – đây cũng chính là chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ dân sự mà biện pháp ký cược được áp dụng để bảo đảm. Bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ chính là bên ký cược, bên có quyền là bên nhận ký cược. Chủ thể của quan hệ ký cược có thể là cá nhân,pháp nhân,hộ gia đình,tổ hợp tác,dù là chủ thể nào cũng phải thỏa mãn nhưng quy định liên quan đến yếu tố chủ thể ( có đầy đủ năng lực hành vi ). Đối tượng của ký cược. BLDS năm 2005 quy định đối tượng của ký cược là động sản được phép giao dịch.Bởi theo các nhà làm luật thì chỉ có tài sản là động sản ( di dời được) mới có thể giao nhận giữa bên nhận ký cược và bên ký cược Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ ký cược. Khoản 2 điều 359 LDS năm 2005 quy định : “ Trong trường hợp tài sản cho thuê được trả lại,thì bên thuê nhận được tài sản ký cược sau khi trừ tiền thuê ; nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản thuê,nếu tài sản thuê không còn để trả lại thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê ”. Ví dụ : A thuê xe máy của B trong 5 ngày . A giao cho B khoản tiền 10 triệu đồng ( tài sản ký cược ) để đảm bảo việc A trả lại xe máy đã thuê và tiền thuê xe máy cho B : +Trường hợp 1 : Sau 5 ngày A trả lại xe máy thuê của B. A sẽ nhận được lại được 10 triệu đồng (tiền ký cược ) sau khi trừ tiền thuê +Trường hợp 2 : Nếu sau 5 ngày A không trả lại xe máy đã thuê . B có quyền đòi lại chiếc xe máy đã A đã thuê.Nếu chiếc xe máy đó mất hoặc A không trả lại thì 10 triệu đồng ( tiền ký cược ) sẽ thuộc về B. Quyền và nghĩa vụ của bên ký cược 5.1.1. Nghĩa vụ của bên ký cược. Thanh toán cho bên nhận bên nhận ký cược chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản ký cược, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản ký cược cho bên nhận ký cược đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu trong trường hợp tài sản đó được chuyển quyền sở hữu cho bên nhận ký cược theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả thuận. 5.1.2. Quyền của bên ký cược. Bên ký cược có quyền yêu cầu bên nhận ký cược ngừng việc sử dụng tài sản ký cược, nếu do sử dụng mà tài sản có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận ký cược Nghĩa vụ của bên nhận ký cược. Bảo quản, giữ gìn tài sản ký cược; không được khai thác, sử dụng tài sản đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Không được xác lập giao dịch đối với tài sản ký cược, trừ trường hợp bên ký cược đồng ý. Quyền của bên nhận ký cược. Bên nhận ký cược có quyền sở hữu tài sản ký cược trong trường hợp tài sản thuê không còn để trả lại cho bên nhận ký cược, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Tín chấp. 1. Khái niệm Theo Điều 372 BLDS năm 2005 “tín chấp là việc tổ chức chính trị xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình bảo đảm cho cá nhân , hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ theo quy định của Chính phủ”. 2. Đặc điểm. Cá nhân, hộ gia đình nghèo được bảo đảm bằng tín chấp phải là thành viên của một trong các tổ chức chính trị xã hội theo quy định tại điều 50 nghị định của Chính phủ số 1632006NĐCP ngày 19 tháng 12 năm 2006 về giao dịch đảm bảo đó là: + Hội nông dân Việt Nam + Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam + Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh + Hội Cựu chiến binh Việt Nam + Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hợp đồng cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản, trong đó phải ghi rõ số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền và nghĩa vụ trách nhiệm của người vay cũng như của bên cho vay và người bảo đảm. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia. 3.1 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức chính trị xã hội Quyền của tổ chức chính trị xã hội: tổ chức chính trị xã hội có quyền từ chối bảo đảm bằng tín chấp, nếu xét thấy cá nhân, hộ gia đình nghèo không có khả năng sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và trả nợ cho tổ chức tín dụng. Nghĩa vụ của tổ chức chính trị xã hội: + Xác nhận theo yêu cầu của tổ chức tín dụng về điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân, hộ gia đình nghèo khi vay vốn tại tổ chức tín dụng đó. + Chủ động hoặc phối hợp chặt chẽ với tổ chức tín dụng giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn; giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả; đôn đốc trả nợ đầy đủ, đúng hạn cho tổ chức tín dụng. 3.2. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng Quyền của tổ chức tín dụng: tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu tổ chức chính trị xã hội bảo đảm bằng tín chấp phối hợp trong việc kiểm tra sử dụng vốn vay và đôn đốc trả nợ Nghĩa vụ của tổ chức tín dụng: tổ chức tín dụng có nghĩa vụ phối hợp với tổ chức chính trị xã hội bảo đảm bằng tín chấp trong việc cho vay và thu hồi nợ. 3.3. Nghĩa vụ của bên vay vốn Bên vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng và tổ chức chính trị xã hội kiểm tra việc sử dụng vốn vay. trả nợ đầy đủ gốc và lãi vay đúng hạn cho tổ chức tín dụng. Ký quỹ Khái niệm Theo qui định tại Điều 360 Bộ luật dân sự 2005: Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền,kim khí,đá quý hoặc giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong tỏa của một ngân hàng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự ”. Đặc điểm Như vậy , từ qui định tại Điều 360 Bộ luật dân sự 2005 ta có thể rút ra một số nhận xét sau: Mục đích. Ký quỹ cũng như một số hình thức khác: cầm cố tài sản,bảo lãnh,ký cược,tín chấp,đặt cọc đều nhằm mục đích bảo đảm thực hiên nghĩa vụ dân sự khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đối với người có quyền. Tính chất. Nghĩa vụ phát sinh từ biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự theo hình thức ký quỹ là nghĩa vụ phụ (phụ thuộc vào nghĩa vụ chính). Không phát sinh khi nghĩa vụ chính được thực hiện. =>Nó là một quan hệ pháp luật dân sự. Đối tượng Theo khoản 1 Điều 360 đó là: Tiền, kim khí, đá quý, giấy tờ khác nghĩa là đây là những lợi ích vật chất. Khoản tiền, kim khí, đá quý hoặc giấy tờ co giá được gửi vào ngân hàng có thể giá trị của nó sẽ lớn hơn rất nhiều lần phạm vi nghĩa vụ phải thực hiện nhưng khi mà bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ hay thực hiện không đúng thì cũng chỉ sử dụng giá trị các tài sản này để giải quyết trong phạm vi nghĩa vụ phát sinh còn số giá trị tài sản còn lại khi đã thực hiện xong nghĩa vụ thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người có nghĩa vụ. Biện pháp bảo đảm bằng hình thức ký quỹ phát sinh khi có sự thỏa thuận giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ. Sự thỏa thuận này không chỉ được thể hiện ở chỗ giữa người có quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận biện pháp bảo đảm là ký quỹ mà còn được thể hiện ở chỗ: Đối tượng ký quỹ là tài sản gì ( tiền, vàng, giấy tờ có giá, hay các vật có giá trị khác) hai bên có thể thỏa thuận để đi tới thống nhất dùng loại tài sản nào để ký quỹ ký quỹ ở ngân hàng nào và ký quỹ bao nhiêu. Đặc trưng của biện pháp bảo đảm bằng ký quỹ : Biện pháp ký quỹ có mặt của một chủ thể trung gian trong quan hệ pháp luật dân sự này. Đó là sự có mặt của ngân hàng. Mục đích : Nhằm đảm bảo độ an toàn cao cho các bên. Nghĩa là đảm bảo quyền lợi của các bên được thực hiện. Chính vì vậy, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng thì khi đó vai trò của ngân hàng là đứng ra dùng tài sản đã được ký cược trước đó để thanh toán cho bên có quyền. Khi đó ngân hàng cũng có quyền thu một khoản chi phí dịch vụ ngân hàng từ tài khoản đã được ký cược. Ví dụ: Ngày 152011,anh A có mua của B một bộ bình cổ có giá trị 20 triệu đồng nhưng do lúc đó anh A chưa có tiền mặt, đã thỏa thuận với anh B đến 182011 sẽ giao cho anh B toàn bộ số tiền trên và để tạo sự tin tưởng cho B,A đã dùng 5 chỉ vàng đến ngân hàng C mở tài khoản để đưa số vang này vào tài khoản tại ngân hàng. Phân tích: Trong tình huống trên mục đích của việc ký quỹ tại ngân hàng của anh A nhằm đảm bảo việc hoàn trả lại số tiền cho anh B đúng ngày 182011. Đối tượng của ký quỹ là : Vàng số lượng:5 chỉ ký quỹ ở ngân hàng C =>việc thỏa thuận giữa A và B Nếu đến ngày 182011,anh A đã trả cho anh B số tiền 20 triệu đồng thì biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bằng ký quỹ không phát sinh. Nếu đến ngày 182011,anh A không thực hiện việc giao trả cho anh B 20 triệu đồng,khi đó ngân hàng C có nhiệm vụ dùng 5 chỉ vàng này để đảm bảo quyền lợi cho B,cùng với đó ngân hàng C sẽ thu một khoản chi phí từ giá trị của 5 chỉ vàng của anh A,nếu sau khi đã thanh toán cho anh B và ngân hàng cũng thu chi phí dịch vụ thì số tiền còn dư sẽ trả lại cho anh A. Đặt cọc 1. Khái niệm Theo khoản 1 Điều 358 BLDS năm 2005 “ Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự”. 2. Nội dung Đối tượng của đặt cọc là những vật mà một bên giao trực tiếp cho bên kia. Đối tượng của đặt cọc vừa mang chức năng bảo đảm, vừa mang chức năng thanh toán. Do vậy việc đặt cọc phải được lập thành văn bản, trong đó xác định rõ số tiền đặt cọc hay số tài sản đặt cọc, … Khi hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiên thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền. + Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc. + Nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong trường hợp một bên trong hợp đồng giao cho bên kia một khoản tiền mà các bên không xác định rõ là tiền đặt cọc hoặc tiền trả trước thì số tiền này được coi là tiền trả trước. => Bản chất: Đặt cọc chính là việc giao vật trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Bài tập cá nhân Luật hành chính - tổ chức xã hội

BÀI TẬP CÁ NHÂN LUẬT HÀNH CHÍNH - TỔ CHỨC XÃ HỘI

Bài tập cá nhân Luật Hành chính - Tổ chức xã hội Với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, kết hợp cùng xu thế hội nhập quốc tế mà các quyền tự do, dân chủ của công dân ngày càng được chú trọng, mở rộng trên nhiều lĩnh vực, được pháp luật thừa nhận, bảo vệ. Việc ghi nhận “ công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật “ [1] tại Điều 69 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã trở thành cơ sở pháp lí vững chắc cho sự hình thành, tồn tại và phát triển của các tổ chức xã hội ở Việt Nam. “Tổ chức xã hội là hình thức tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam có chung mục đích tập hợp, hoạt động theo pháp luật và theo điều lệ không vì lợi nhuận nhằm đáp ứng những lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.” [2] Như vậy, tổ chức xã hội đã đại diện cho nhiều tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam thực hiện quyền lực chính trị đồng thời giúp cá nhân phát huy tính năng động, tự chủ, tích cực chính trị, tham gia vào hoạt động quản lý Nhà nước và xã hội. Ví dụ như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, đoàn luật sư, tổ dân phố, ... Mỗi tổ chức xã hội là tập hợp những thành viên có cùng chung dấu hiệu đặc điểm như cùng chung nghề nghiệp ví dụ Hội Kiến trúc sư, Hội nhà báo,... hoặc cùng chung mục đích, lý tưởng như Đảng Cộng sản Việt Nam,... Xét dưới góc độ chính trị, tổ chức xã hội là chỗ dựa của chính quyền nhân dân, là nơi hội tụ sức mạnh đoàn kết dân tộc, tăng cường sự thống nhất, ổn định về tư tưởng chính trị, tạo điểu kiện để Nhà nước thực hiện quản lý xã hội. Ví dụ: Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động với mục đích chính trị là không ngừng mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân, với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng; nhằm đạt được mục tiêu giữ vững độc lập, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xét dưới góc độ kinh tế, xã hội, tổ chức xã hội là bộ phận góp phần tăng cường khả năng hoạt động kinh tế của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển đất nước. Đồng thời, các tổ chức xã hội còn nâng cao tinh thần, ý thức pháp luật, xây dựng lối sống văn minh cho nhân dân bằng cách thức tuyên truyền, giáo dục,...giúp Nhà nước duy trì hoạt động quản lý. Ngoài ra, thông qua các tổ chức xã hội, công dân có điều kiện hơn trong việc thực hiện và bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, điều đó cũng thể hiện sự tăng cường khả năng hoạt động kinh tế - xã hội của công dân. Mỗi tổ chức xã hội có những hoạt động đặc thù phản ánh vị trí, vai trò trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên, về cơ bản, các tổ chức xã hội có những đặc điểm chung nhất định để phân biệt với các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế. Các đặc điểm cơ bản của tổ chức xã hội bao gồm: Thứ nhất, các tổ chức xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự nguyện của những thành viên. Nguyên tắc tự nguyện được thể hiện rõ nét trong tổ chức và hoạt động của tổ chức xã hội. Về mặt tổ chức, tính tự nguyện biểu hiện qua việc thành lập, gia nhập hay giải thể, ra khỏi tổ chức hoàn toàn dựa trên ý chí của công dân. Nhân dân có quyền tự do lựa chọn, quyết định tham gia hay không vào một tổ chức xã hội khi thỏa mãn các điều kiện nhất định của tổ chức xã hội đó. Ví dụ: “ Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Ðảng.” [3] Việc thành lập cơ quan lãnh đạo cũng như cử người lãnh đạo cụ thể của tổ chức xã hội đều do các thành viên của tổ chức tự quyết định. Về hoạt động, các tổ chức xã hội tự quản lý công việc nội bộ của tổ chức; hoàn toàn tự chủ trong việc quyết định điều lệ, phương hướng hoạt động nhưng không được trái với các quy định của pháp luật. Nghĩa là bên cạnh tính độc lập tương đối trong quan hệ với Nhà nước, tổ chức xã hội cũng chịu sự lãnh đạo của Nhà nước trong phạm vi nhất định. Điều này đảm bảo sự thống nhất về tư tưởng, đường lối phát triển đất nước, đồng thời duy trì ổn định trật tự xã hội. Thứ hai, xuất phát từ việc tổ chức xã hội không nằm trong cơ cấu của bộ máy nhà nước nên các tổ chức xã hội nhân danh chính tổ chức mình để tham gia hoạt động quản lý nhà nước, chỉ trong trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định tổ chức xã hội mới hoạt động nhân danh Nhà nước. Nhà nước thừa nhận và đảm bảo sự tồn tại của các tổ chức xã hội bằng việc cho phép tổ chức xã hội được thành lập đồng thời quy định về quyền và nghĩa vụ pháp lý cho tổ chức. Tuy nhiên, khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó, tổ chức xã hội nhân danh tổ chức mình chứ không nhân dân cá nhân thành viên hay Nhà nước. Các quyết định của tổ chức có tính bắt buộc trong phạm vi tổ chức mình. Trong trường hợp nhất định, Nhà nước trao quyền cho tổ chức xã hội, cho phép tổ chức xã hội được nhân danh Nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước, lúc này, quyết định của tổ chức xã hội có thể có hiệu lực đối với cả các thành viên bên ngoài tổ chức; ví dụ tổ chức Công đoàn được Nhà nước trao quyền phối hợp cùng cơ quan Nhà nước ban hành quyết định hành chính liên tịch, ban thanh tra nhân dân khi cần thiết được chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn giao xác minh những vụ việc nhất định. Thứ ba, các tổ chức xã hội hoạt động tự quản theo quy định của pháp luật và theo điều lệ do các thành viên trong tổ chức xây dựng. Trong quá trình hoạt động, các tổ chức xã hội tự xử lý và giải quyết các công việc nội bộ nhưng không được trái các quy định của pháp luật. Dù tổ chức xã hội hoạt động theo điều lệ hay quy định của Nhà nước thì tổ chức vẫn hoạt động mang tính tự quản. Nhà nước không sử dụng quyền lực nhà nước để chi phối tổ chức xã hội mà tôn trọng và không can thiệp vào nội bộ tổ chức. Mặt khác, tổ chức xã hội còn tự quản về tài chính, nghĩa là, tài sản duy trì các hoạt động của tổ chức do thành viên đóng góp, do nguồn tài trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước khác chứ không phải được trích từ ngân sách quốc gia. Một số tổ chức đặc biệt được Nhà nước tài trợ một phần kinh phí hoạt động ví dụ: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam,.... Điều lệ của các tổ chức xã hội không phải là văn bản pháp luật, các quy định trong điều lệ không mang tính pháp lý, mà chỉ điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong nội bộ, có giá trị bắt buộc riêng với các thành viên của tổ chức xã hội đó. Ngoài ra, các tổ chức xã hội hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên. Đặc điểm này phân biệt tổ chức xã hội với các tổ chức kinh tế như: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,... Khi có những hành vi xâm hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên hay của những người khác, các tổ chức xã hội tạo ra dư luận xã hội rộng rãi để phản đối những hành vi vi phạm đó đồng thời yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ, khôi phục các quyền và lợi ích đã bị xâm phạm. Bên cạnh đó, phương pháp đặc trưng mà tổ chức sử dụng trong hoạt động là giáo dục, thuyết phục và các biện pháp tác động xã hội khác. Tổ chức xã hội không có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với các thành viên nhằm thi hành quyết định của mình; trừ trường hợp tổ chức được Nhà nước trao quyền. Tổ chức xã hội không phải là tổ chức của Nhà nước nhưng là một bộ phận cấu thành nên hệ thống chính trị Việt Nam. Trong đời sống xã hội, các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng góp phần thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước nói chung và chức năng quản lý nhà nước nói riêng.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Đề tài: Quy định của pháp luật về các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án dân sự.

Đề tài: Quy định của pháp luật về các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án dân sự.

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI  BÀI TẬP CÁ NHÂN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ Đề 8: Quy định của pháp luật về các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án dân sự. Họ và tên: Phan Quốc Nghiệp Mã số sinh viên: 1353801010057 Lớp: K1B Hà Nội, 2016   MỞ ĐẦU Trong công cuộc cải cách tư pháp và thủ tục tố tụng hiện nay, việc xây dựng thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự, phải đáp ứng được hai đòi hỏi cơ bản của thực tiễn giải quyết tranh chấp là tính nhanh chóng và sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của họ. Chế định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được xây dựng tại Chương thứ 8 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam 2015, bao gồm 31 điều luật (từ điều 111142). Nó đã thể hiện sự tiến bộ của pháp luật Việt Nam trong quá trình giải quyết các vụ dân sự. Với mục đích tìm hiểu kĩ hơn về sự tiến bộ của các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp, tạm thời nên tôi đã quyết định chọn đề tài: “Quy định của pháp luật về các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án dân sự” là bài tập lớn học kì của mình. NỘI DUNG I. Khái niệm, tính chất, ý nghĩa của biện pháp khẩn cấp tạm thời. 1. Khái niệm, tính chất của biện pháp khẩn cấp tạm thời. Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp mà Tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án. So với các biện pháp khác được Tòa án áp dụng trong quá trình tố tụng thì biện pháp khẩn cấp tạm thời có những điểm khác biệt, vừa mang tính khẩn cấp, vừa mang tính tạm thời. Tính khẩn cấp thể hiện ở chỗ, Tòa án phải ra quyết định áp dụng ngay và quyết định này được thực hiện ngay sau khi Tòa án ra quyết định, nếu không sẽ mất hết ý nghĩa, tác dụng. Tính tạm thời thể hiện ở chỗ, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa phải là quyết định cuối cùng về giải quyết vụ việc dân sự, nếu lý do của việc áp dụng không còn nữa thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định này. 2. Ý nghĩa của các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Chống lại các hành vi tẩu tán tài sản, hủy hoại chứng cứ, mua chuộc người làm chứng… qua đó bảo đảm việc giải quyết đúng vụ việc dân sự, bảo toàn được tình trạng tài sản, tránh việc gây thiệt hại không thể khắc phục được, giữ được tài sản bảo đảm cho việc thi hành án, quyết định của Tòa án sau này. Đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp bách của đương sự, tạo điều kiện cho đương sự sớm ổn định được cuộc sống của họ và những người sống phụ thuộc họ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. II. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định của pháp luật. Việc Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định tương đối đầy đủ các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự. Không chỉ quy định nhiều hơn về số lượng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo vệ quyền lợi cho đương sự, mà còn quy định tương đối cụ thể về điều kiện áp dụng đối với từng biện pháp. Chúng ta có thể nhận thấy điều này qua nội dung của 16 điều luật (từ Điều 115 đến Điều 132). Chính các điều luật này đã tạo nên các cơ sở pháp lý cụ thể, giúp Tòa án có thể áp dụng đúng và phù hợp các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến những người này mà họ chưa có người giám hộ. Việc giao người chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người đó. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu cấp dưỡng và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ và nếu không thực hiện trước ngay một phần nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ, đời sống của người được cấp dưỡng. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động được áp dụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động về tiền lương, tiền bảo hiểm, tiền bồi thường, tiền trợ cấp, chăm sóc sức khỏe theo quy định của pháp luật. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, sa thải người lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc không được xử lý kỷ luật sa thải đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động. Kê biên tài sản đang tranh chấp. Kê biên tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản. Tài sản bị kê biên có thể được thu giữ, bảo quản tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc lập biên bản giao cho một bên đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Tòa án. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hoá khác. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hoá khác được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có tài sản đang tranh chấp hoặc liên quan đến tranh chấp mà có hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hoá khác ở thời kỳ thu hoạch hoặc không thể bảo quản được lâu dài. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ. Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản đang gửi giữ và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc bảo việc thi hành án. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ được áp dụng nếu có căn cứ cho thấy việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ của họ đối với Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác và việc xuất cảnh của họ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc để bảo đảm việc thi hành án. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình. Cấm người có hành vi bạo lực gia đình tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình được áp dụng nếu biện pháp đó là cần thiết để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự của nạn nhân bạo lực gia đình theo quy định của Luật phòng chống bạo lực gia đình. Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu. Tạm dừng việc đóng thầu, phê duyệt danh sách ngắn, kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng được áp dụng nếu quá trình giải quyết vụ án cho thấy việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án. Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu bay để bảo đảm giải quyết vụ án dân sự mà vụ án đó do chủ sở hữu tàu bay, chủ nợ trong trường hợp tàu bay là tài sản bảo đảm, người bị thiệt hại do tàu bay đang bay gây ra hoặc người có quyền, lợi ích liên quan đối với tàu bay khởi kiện theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt Nam. Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển trong các trường hợp sau đây:  Tàu biển bị yêu cầu bắt giữ để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại hàng hải mà người yêu cầu bắt giữ tàu biển đã khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án.  Chủ tàu là người có nghĩa vụ về tài sản trong vụ án đang giải quyết và vẫn là chủ tàu tại thời điểm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển.  Người thuê tàu trần, người thuê tàu định hạn, người thuê tàu chuyến hoặc người khai thác tàu là người có nghĩa vụ về tài sản trong vụ án dân sự phát sinh từ khiếu nại hàng hải theo quy định của Bộ luật hàng hải Việt Nam và vẫn là người thuê tàu trần, người thuê tàu định hạn, người thuê tàu chuyến, người khai thác tàu hoặc là chủ tàu tại thời điểm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển.  Tranh chấp đang được giải quyết trong vụ án phát sinh trên cơ sở của việc thế chấp tàu biển đó.  Tranh chấp đang được giải quyết trong vụ án liên quan đến quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu tàu biển đó. Trình tự, thủ tục bắt giữ tàu bay, tàu biển được áp dụng theo quy định của pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu biển. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác. Ngoài các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản từ khoản 1 đến khoản 16 Điều 114 của Bộ luật này, Tòa án có trách nhiệm giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn tạm thời khác do luật khác quy định. Đây là những yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hiện không được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự nhưng được quy định trong các văn bản pháp luật khác có quy định thì Tòa án cũng có trách nhiệm xem xét giải quyết như yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thu giữ, niêm phong… quy định tại Điều 207 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Điều 207. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời 1. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây được áp dụng đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện sản xuất, kinh doanh hàng hoá đó: a) Thu giữ; b) Kê biên; c) Niêm phong; cấm thay đổi hiện trạng; cấm di chuyển; d) Cấm chuyển dịch quyền sở hữu. 2. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được áp dụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xem thêm

Đọc thêm

SỰ KHÁC BIỆT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI CƯ TRÚ VÀ NGƯỜI KHÔNG CƯ TRÚ KHI SỬ DỤNG NGOẠI HỐI TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM

SỰ KHÁC BIỆT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI CƯ TRÚ VÀ NGƯỜI KHÔNG CƯ TRÚ KHI SỬ DỤNG NGOẠI HỐI TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM

Sự khác biệt về quyền và nghĩa vụ của Người cư trú và Người không cư trú khi sử dụng ngọai hối trên lãnh thổ Việt Nam Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Ngân hàng Bài tập học kỳ Luật Ngân hàng có đáp án. Hiện nay, trong nền kinh tế hiện đại mỗi quốc gia đều có xu hướng sử dụng ngoại hối để nhập khẩu hàng hóa hay can thiệp vào thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ, điều hòa cán cân thanh toán quốc tế…góp phần phát triển kinh tế đất nước. Đặc biệt từ sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức WTO, nhu cầu sử dụng ngoại hối ngày càng gia tăng không ngừng và có ảnh hưởng sâu sắc lớn lao đối với nền kinh tế xã hội của quốc gia. Một vấn đề nổi cộm hiện nay là nạn đô la hóa đang đe dọa chủ quyền tiền tệ của Việt Nam. Tình trạng đôla hóa của nền kinh tế nước ta có thể đã xảy ra ngay từ trước khi nước ta bắt đầu mở cửa và trở nên phổ biến sau khi nền kinh tế trải qua thời kỳ lạm phát nghiêm trọng vào cuối thập niên 1980 khiến đồng đôla Mỹ trở thành một phương tiện dự trữ giá trị đáng tin cậy trước một đồng bạc Việt Nam đang suy yếu. Thực trạng này rất đáng lo ngại và khiến những nhà phân tích kinh tế trong và ngoài nước đã nhiều lần cảnh báo về mặt trái của hiện tượng đôla hóa, nhất là tác động của nó trong việc vô hiệu hóa các biện pháp kinh tế vĩ mô của nước ta. Câu hỏi đặt ra là làm sao chúng ta có thể thành công trong việc khuyến khích, nâng đỡ sản xuất trong nước, giải quyết nạn ứ đọng và giảm giá hàng nội địa, giải quyết nạn thất nghiệp trong nỗ lực khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu vừa qua, khi mà đồng đôla cứ liên tục bơm hàng lậu với giá rẻ mạt qua biên giới? Làm sao chúng ta có thể hỗ trợ hiệu quả cho nhà xuất khẩu, khắc phục tình trạng nhập siêu kéo dài hàng thập niên, khi mà sự hiện diện không thể kiểm soát của đồng đôla trong nền kinh tế cứ thường xuyên đội tỷ giá đồng bạc Việt Nam lên cao? Chính vì thế chính phủ Việt Nam đã tìm cách lựa chọn cho mình những chính sách thích hợp trong quản lý ngoại hối và điều tiết hoạt động ngoại hối, trong đó có quyền sử dụng ngoại hối của tổ chức cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam. B NỘI DUNG Lý luận chung về sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam I.1 Khái niệm ngoại hối và sử dụng ngoại hối a) Ngoại hối là một khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị dùng để thanh toán giữa các quốc gia. Tùy theo quan niệm của luật quản lý ngoại hối của mỗi nước mà khái niệm ngoại hối có thể là không giống nhau.Tồn tại sự khác nhau này là do mỗi quốc gia có chủ trương không giống nhau trong tìm hiểu về những tác động hay ảnh hưởng của ngoại hối đối với đời sống kinh tế xã hội và cơ chế quản lý sử dụng chúng phù hợp với thái độ của nhà cầm quyền đối với ngoại hối, chính sách tiền tệ của nước đó trong từng thời kỳ. Các nhà làm luật Việt Nam lựa chọn giải pháp định nghĩa về ngoại hối bằng cách liệt kê các tài sản được coi là ngoại hối gồm: Đồng tiền của quốc gia, lãnh thổ khác, đồng tiền chung Châu Âu và các đồng tiền chung khác dùng trong thanh toán quốc tế và khu vực (gọi là ngoại tệ); Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, chứng chỉ tiền gửi và các phương tiện thanh toán khác; Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác; Vàng thuộc dự trữ ngoại hối Nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; Đồng tiền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Ví dụ: trong vụ việc ông Trương Johnny và ba người con ruôt mang theo hành lý với gần 80.000USD khi xuất cảnh khỏi Việt Nam sang Singapore vào ngày 19062010 vừa qua, số ngoại tệ 80.000USD chính là ngoại hối. b) Sử dụng ngoại hối: Xét dưới góc độ khoa học pháp lý, hoạt động ngoại hối được hiểu là tổng hợp các hành vi pháp lý trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tài sản là ngoại hối.Theo khoản 8 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối ngày 13122005 thì : “Hoạt động ngoại hối là hoạt động của người cư trú, người không cư trú trong giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối”. Ví dụ anh A là công dân Việt Nam sinh sống và làm việc tại Mỹ kể từ ngày 252008. Vào ngày 132011, chị B là vợ anh A hiện đang sinh sống tại Việt Nam đã gửi cho anh A 1.000USD thông qua tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng BIDV. Trong trường hợp này hành vi gửi tiền của chị B chính là một hoạt động ngoại hối, theo đó chị B (người cư trú) đã thực hiện một giao dịch vãng lai là chuyển tiền một chiều từ Việt Nam ra nước ngoài với anh A (người không cư trú). Theo định nghĩa trên, sử dụng ngoại hối chính là một hành vi của hoạt động ngoại hối của người cư trú, người không cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. I.2 Chủ thể sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam Theo định nghĩa về hoạt động ngoại hối tại khoản 8 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối ngày 13122005 thì hoạt động ngoại hối là hoạt động của người cư trú và người không cư trú, do đó chủ thể sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm người cư trú và người không cư trú. Cách phân loại chủ thể sử dụng ngoại hối thành người cư trú và người không cư trú tạo cơ sở cho Nhà nước ta có những chính sách quản lý phù hợp đối với từng đối tượng quản lý nhà nước về ngoại tệ. Tuy nhiên hiện nay các nhà làm luật Việt Nam vẫn chưa đưa ra một định nghĩa khái quát về người cư trú và người không cư trú. Người cư trú : Căn cứ theo các quy định của pháp luật người cư trú được xác định là người có mặt tại Việt Nam từ 12 tháng liên tục trở lên và có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam( như đăng ký thường trú, hợp đồng thuê nhà có kì hạn trên 12 tháng…)� bao gồm: Tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam (sau đây gọi là tổ chức tín dụng); Tổ chức kinh tế được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam trừ đối tượng quy định tại điểm a khoản này (sau đây gọi là tổ chức kinh tế); Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện của Việt Nam hoạt động tại Việt Nam; Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam tại nước ngoài; Văn phòng đại diện tại nước ngoài của các tổ chức quy định tại các điểm a, b và c khoản này; Công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam; công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thời hạn dưới 12 tháng; công dân Việt Nam làm việc tại các tổ chức quy định tại điểm d và điểm đ khoản này và cá nhân đi theo họ; Công dân Việt Nam đi du lịch, học tập, chữa bệnh và thăm viếng ở nước ngoài; Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có thời hạn từ 12 tháng trở lên, trừ các trường hợp người nước ngoài học tập, chữa bệnh, du lịch hoặc làm việc cho cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự, văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam. Người không cư trú: là những đối tượng khác với những đối tượng là người cư trú. Như vậy người không cư trú có thể là: Tổ chức kinh tế nước ngoài được thành lập và hoạt động kinh doanh tại nước ngoài; Tổ chức kinh tế Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hoạt động kinh doanh tại nước ngoài; Tổ chức tín dụng Việt Nam, tổ chức tín dụng nước ngoài ở Việt Nam được thành lập và hoạt động kinh doanh tại nước ngoài; Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện của nước ngoài hoạt động tại nước ngoài; Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện các tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện các tổ chức phi chính phủ, lực lượng vũ trang và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp của nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; người nước ngoài làm việc trong các tổ chức này và những cá nhân đi theo họ; Văn phòng đại diện tổ chức kinh tế nước ngoài; văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ; Người nước ngoài cư trú tại nước ngoài; người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có thời hạn dưới 12 tháng; Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thời hạn từ 12 tháng trở lên; Ví dụ: B là công dân Việt Nam xuất cảnh sang Nhật Bản du học từ ngày 192009 và hiện đang là du học sinh Việt Nam tại trường đại học Tokyo của Nhật Bản. Như vậy tại thời điểm hiện tại B đã có thời gian cư trú tại Nhật Bản là hơn 2 năm nhưng do B xuất cảnh sang Nhật Bản với mục đích để học tập nên B vẫn được xác định là người cư trú theo quy định của Pháp luật Việt Nam. Trong trường hợp trên nếu B là công dân Nga đang cư trú tại Việt Nam thì B vẫn được coi là người không cư trú tại Việt Nam. I.3 Nguyên tắc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam a) Hạn chế sử dụng ngoại hối. Mọi giao dịch thanh toán, niêm yết, quảng cáo của người cư trú và người không cư trú trên lãnh thổ Việt Nam không được thực hiện bằng ngoại hối trừ các giao dịch với các tỏ chức tín dụng �. b) Mở và sử dụng tài khoản: NCT và NKCT được mở tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại các tổ chức tín dụng được phép để thực hiện các giao dịch hợp pháp của mình trên lãnh thổ Việt Nam như tiếp nhận ngoài tệ từ nước ngoài chuyển vào hoặc từ các nguồn thu ngoại tệ ở trong nước; chuyển ngoại tệ để bán cho các tổ chức tín dụng được phép; chi trả bằng ngoại tệ cho các giao dịch hợp pháp của mình thông qua tổ chức tín dụng, rút ngoại tệ tiền mặt để chi tiêu cho nhu cầu cá nhân… NCT là tổ chức, cá nhân có quyền mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ của mình ở nước ngoài để thỏa mãn các nhu cầu chính đáng, hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật. Khi chấm dứt hoạt động hoặc hết hạn ở nước ngoài, các tổ chức cá nhân là chủ tài khoản phải đóng tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài và chuyển toàn bộ số dư ngoại tệ về nước. Riêng đối với NCT là tổ chức kinh tế có chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài hoặc có nhu cầu mở tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài, phải tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về điều kiện, hồ sơ, thủ tục cấp và thu hồi giấy phép mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài. NCT là cá nhân nước ngoài được mở và sử dụng tài khoản đồng Việt Nam để thực hiện các giao dịch thu, chi và giao dịch đầu tư gián tiếp theo quy định của pháp luật Việt Nam. NKCT là tổ chức, cá nhân được mở và sử dụng tài khoản đồng Việt Nam tại tổ chức tín dụng được phép để thực hiện các giao dịch thu, chi theo quy định của pháp luật. Sử dụng ngoại tệ tiền mặt của cá nhân NCT, NKCT là cá nhân có ngoại tệ tiền mặt được quyền cất giữ, mang theo người, cho tặng, thừa kế, bán cho các tổ chức tín dụng được phép, chuyển, mang ngoại tệ tiền mặt ra nước ngoài phục vụ cho các nhu cầu và mục đích hợp pháp của mình. Người cư trú là công dân Việt Nam được gửi tiết kiệm, rút gốc và lãi bằng ngoại tệ. Phát hành thẻ thanh toán NCT và NKCT là cá nhân được sử dụng thẻ thanh toán quốc tế để giao dịch với khách hàng thông qua các tổ chức tín dụng được phép và các đơn vị chấp nhận thẻ. Các đơn vị chấp nhận thẻ chỉ được nhận thanh toán bằng đồng Việt Nam từ ngân hàng thanh toán thẻ. Như vậy, có thể thấy rằng, hành vi sử dụng ngoại hối được đề cập chủ yếu ở đây là ngoại tệ và pháp luật thừa nhận quyền sở hữu ngoại tệ của các chủ thể trong việc cất giữ, mang theo người khi xuất nhập cảnh, cho tặng, để tại thừa kế,… Sự khác biệt về quyền và nghĩa vụ của Người cư trú và Người không cư trú khi sử dụng ngọai hối trên lãnh thổ Việt Nam Mở và sử dụng tài khoản Nguồn thu ngoại tệ vào tài khoản cá nhân Quy định của pháp luật Sự khác biệt NCT Thu ngoại tệ chuyển khoản từ nước ngoài vào theo các hợp đồng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ hoặc từ nguồn tài trợ, viện trợ được pháp luật cho phép; Thu ngoại tệ tiền mặt chuyển khoản dưới hình thức cho, tặng, thừa kế, phù hợp với quy định của pháp luật; Thu ngoại tệ chuyển khoản dưới hình thức cho, tặng, thừa kế phù hợp với quy định của pháp luật; Thu ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt ở trong nước từ việc được phép nhận lương, thưởng và phụ cấp khác bằng ngoại tệ; Các khoản thu ngoại tệ khác được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép� . Người cư trú có quyền thu ngoại tệ từ nguồn tặng cho, thừa kế còn NKCT thì không có quyền này. NKCT Thu chuyển khoản từ nước ngoài vào; Thu ngoại tệ tiền mặt mang từ nước ngoài nộp vào (có xác nhận của Hải quan cửa khẩu); Thu ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ việc nhận lương, thưởng, phụ cấp khác của các tổ chức ở trong nước và các nguồn thu ngoại tệ khác được pháp luật Việt Nam cho phép; Thu ngoại tệ chuyển khoản từ việc bán Đồng Việt Nam lấy ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi Đồng Việt Nam; Các nguồn thu ngoại tệ khác được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép�; b, Nguồn chi ngoại tệ từ tài khoản cá nhân Quy định của pháp luật Sự khác biệt NCT Chi thanh toán tiền nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ cho tổ chức và cá nhân ở nước ngoài; Chi thanh toán tiền hàng hoá và dịch vụ cho tổ chức và cá nhân ở trong nước được phép thu ngoại; Chuyển ra nước ngoài (bằng chuyển khoản hoặc tiền mặt) để sử dụng cho các mục đích của cá nhân; Bán cho các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối; Rút ngoại tệ tiền mặt để sử dụng vào các mục đích cất giữ, gửi tiết kiệm ngoại tệ và các mục đích khác được pháp luật cho phép; Đầu tư vào các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ; Chuyển đổi ra các công cụ thanh toán khác bằng tiền nước ngoài như séc, thẻ thanh toán và các công cụ thanh toán khác hoặc được chuyển đổi ra các loại ngoại tệ khác theo quy định của Ngân hàng được phép; Cho, tặng, thừa kế theo quy định của pháp luật; Người cư trú là cá nhân người nước ngoài được phép chuyển ra nước ngoài số ngoại tệ có trên tài khoản ngoại tệ của mình. Vậy, NCT có quyền rút ngoại tệ tiền mặt để sử dụng vào các mục đích cất giữ, gửi tiết kiệm ngoại tệ, NKCT không có quyền này. NCT có quyền đầu tư vào các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ. NKCT Chuyển khoản ra nước ngoài; Chi thanh toán tiền hàng hoá và dịch vụ cho tổ chức và cá nhân ở trong nước được phép thu ngoại tệ; Bán cho các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối; Được chuyển đổi ra các công cụ thanh toán khác bằng ngoại tệ như: séc, thẻ thanh toán và các công cụ thanh toán khác; Được chuyển đổi ra các loại ngoại tệ khác theo quy định của Ngân hàng được phép; Rút ngoại tệ tiền mặt mang theo người khi xuất cảnh hoặc chi tiêu tại những nơi được Ngân hàng Nhà nước cho phép thu ngoại tệ tiền mặt; Chuyển sang tài khoản ngoại tệ của Người không cư trú khác ở trong nước; Cho, tặng, thừa kế theo quy định của pháp luật. NKCT có quyền chuyển sang tài khoản ngoại tệ của Người không cư trú khác ở trong nước c, Mở tài khoản ngoại tệ của tổ chức Mở tài khoản ngoại tệ là quyền được đề cập tại Khoản 1 Điều 5; Điều 6 Nghị định số 631998NĐ – CP ngày 1781998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối và Mục I Chương I, Mục I, Mục II Chương II Phần thứ hai Thông tư số 011999TT – NHNN7 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thi hành Nghị định số 631998NĐ – CP ngày 1781998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối cho đối tượng NCT là tổ chức, NKCT là tổ chức đang hoạt động tại Việt Nam và NKCT đang hoạt động ở nước ngoài NCT NKCT NCT là tổ chức tín dụng được phép mở tài khoản ngọai tệ tại ngân hàng nước ngoài để thực hiện các hoạt động ngoại hối ở nước ngoài. NKCT là tổ chức được mở và sử dụng tài khoản đồng Việt Nam tại tổ chức tín dụng được phép để thực hiện các giao dịch, thu chi theo quy định của pháp luật. Mua bán ngoại tệ a, Mua ngoại tệ. Đối với công dân Việt Nam, vấn đề này được quy định tại Điều 14 Nghị định số 631998NĐ – CP ngày 1781998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối và được hướng dẫn chi tiết tại Mục I Chương IV Thông tư 01 1999TT – NHNN7 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thi hành Nghị định số 631998NĐ – CP ngày 1781998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối Đối với NKCT và NCT là người nước ngài, vấn đề này được quy định tại Điều 14 Nghị định số 631998NĐ – CP ngày 1781998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối và được hướng dẫn chi tiết tại Mục II Chương IV Thông tư 01 1999TT – NHNN7 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thi hành Nghị định số 631998NĐ – CP ngày 1781998 Quy định của pháp luật Sự khác biệt Người cư trú: công dân Việt Nam có nhu cầu ngoại tệ để chuyển, mang ra nước ngoài cho các mục đích đi du lịch, học tập, công tác, thăm viếng, chữa bệnh, trả tiền hội viên và các loại phí khác cho nước ngoài hoặc trợ cấp, thừa kế cho gia đình và người thân ở nước ngoài, có thể được liên hệ với các Ngân hàng được phép để mua ngoại tệ sau khi gửi cho Ngân hàng đơn xin mua ngoại tệ và các Giấy tờ hợp pháp chứng minh các nhu cầu thực tế phải chi ngoại tệ ở nước ngoài. NCT là tổ chức kinh tế Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, chi nhánh công ty nước ngoài, nhà thầu nước ngoài, nhà thầu liên danh với nước ngoài, tổ chức tín dụng ở Việt Nam, cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện của Việt Nam được mua ngoại tệ tại các Ngân hàng được phép để đáp ứng cho các giao dịch vãng lai hay các giao dịch được phép khác trên cơ sở xuất trình các giấy tờ và chứng từ hợp lệ; NCT là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh có dự án đặc biệt quan trọng đầu tư theo chương trình của Chính phủ trong từng thời kỳ, hoặc có dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự án quan trọng khác được Chính phủ Việt Nam bảo đảm cân đối ngoại tệ hoặc bảo đảm hỗ trợ cân đối ngoại tệ thì thực hiện việc mua ngoại tệ theo quy định về quản lý ngoại hối trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Người không cư trú: NKCT là cá nhân có các khoản thu nhập bằng đồng Việt Nam từ lương, thưởng, phụ cấp hoặc các nguồn thu khác bằng đồng Việt Nam được pháp luật Việt Nam cho phép thì được sử dụng số đồng Việt Nam đó để mua ngoại tệ tại các Ngân hàng được phép và được chuyển ngoại tệ ra nước ngoài khi có nhu cầu; Khi hết thời hạn làm việc tại Việt Nam hoặc kết thúc hợp đồng lao động ký với phía Việt Nam có nhu cầu chuyển ra nước ngoài toàn bộ số thu nhập bằng ngoại tệ trong thời gian ở Việt Nam thì khi làm thủ tục chuyển tiền phải xuất trình cho Ngân hàng chuyển tiền văn bản của cơ quan thuế có thẩm quyền xác nhận đã hoàn thành các nghĩa vụ tài chính ở Việt Nam. Người không cư trú là cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện các tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện các tổ chức phi chính phủ, lực lượng vũ trang và tổ chức chính trị, tổ chức chính trịxã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hộinghề nghiệp của nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức kinh tế nước ngoài và của tổ chức tín dụng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam có các nguồn thu bằng đồng Việt Nam từ việc cấp visa, các loại phí lãnh sự khác và các giao dịch hợp pháp khác được mua ngoại tệ và được chuyển ngoại tệ ra nước ngoài thông qua các Ngân hàng được phép trên cơ sở xuất trình các giấy tờ có liên quan. Như vậy, NCT là công dân Việt Nam khi mua ngoại tệ phải có lí do chính đáng và phải có đơn xin mua ngoại tệ và các Giấy tờ hợp pháp chứng minh các nhu cầu thực tế phải chi ngoại tệ ở nước ngoài nhưng ngoài quy định đó pháp luật không quy định nào khác về điều kiện mua ngoại tệ. Còn NKCT chỉ được mua ngoại tệ khi có thu nhập bằng đồng Việt Nam và được pháp luật Việt Nam cho phép thì mới được mua ngoại tệ bằng tiền Việt Nam tại các tổ chức tín dụng được phép và phải có văn bản của cơ quan thuế có thẩm quyền xác nhận đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính. Hai là, NKCT là tổ chức chỉ được mua ngoại tệ khi có các nguồn thu hợp pháp bằng đồng Việt Nam b, Bán ngoại tệ. Người cư trú có nghĩa vụ bán ngoại tệ thu được từ các giao dịch vãng lai cho các ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối tại Việt Nam trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày ngoại tệ được ghi “Có” vào tài khoản tiền gửi. Tỷ lệ bán được quy định riêng cho từng loại đối tượng cụ thể : 80% đối với tổ chức kinh tế, 100% đối với các tổ chức phi lợi nhuận, 0% đối với một số khoản tiền thu từ việc trợ nhân đạo, nhận ủy thắc, tạm nhập tái xuất… Người không cư trú không có nghĩa vụ này. Sử dụng ngoại tệ bằng tiền mặt của cá nhân Gửi tiền tiết kiệm: Theo quy định tại Điều 4 Mục II Chương I Thông tư số 011999TT – NHNN7 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thi hành Nghị định số 631998NĐ – CP ngày 1781998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối thì chỉ cho phép cá nhân là NCT mới có quyền gửi tiết kiệm ngoại tệ tại các tổ chức tín dụng được phép và được hưởng lãi suất bằng ngoại tệ và được rút ra cả gốc và lãi bằng ngoại tệ theo thể lệ tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ còn NKCT không có quyền này. Cất giữ mang theo ngoại tệ khi xuất nhập cảnh: Để hạn chế và ngăn ngừa tình trạng tích lũy ngoại tệ quá lớn khi di chuyển vào hoặc ra khỏi Việt Nam lam mất cân bằng thị trường ngoại hối trong nước, Ngân hành nhà nước Việt Nam đã có quy định về hạn mức ngoại tệ tiền mặt được mang vào, mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Theo Quyết định số 9212005QĐNHNN ngày 2762005 về sửa đổi Quyết định 3371998QĐNHNN của Thống đốc NHNN về mang ngoại tệ tiền mặt và đồng Việt Nam bằng tiền mặt khi xuất nhập cảnh, hạn mức phải khai báo với Hải quan của khẩu khi xuất nhập cảnh đối với ngoại tệ tiền mặt là 7.000 USD và đối với tiền Việt Nam là 15 triệu VND. Tuy nhiên vấn đề cất giữ ,mang theo ngoại tệ khi xuất nhập cảnh không có sự khác biệt giữa người cư trú và người không cư trú. Thừa kế, tặng cho: Quyết định 1437QĐ – NHNN không quy định trường hợp cho, tặng ngoại tệ cho đối tượng ở nước ngoài mà chỉ có quy định về việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài trong trường hợp trợ cấp, thừa kế. Điều này có thể hiểu rằng, việc cho tặng thừa kế ngoại tệ chỉ được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Theo quy định của pháp luật hiện hành, quyền tặng cho, thừa kế của người cư trú không bị hạn chế, còn người không cư trú không có quyền nhận ngoại tệ từ việc tặng cho, thừa kế trên lãnh thổ Việt Nam. Phát hành thẻ thanh toán Quyền sử dụng thẻ thanh toán không có sự khác biệt giữa người cư trú và người không cư trú. Người cư trú và người không cư trú được sử dụng thẻ thanh toán quốc tế để giao dịch với khách hàng thông qua các đơn vị chấp nhận thẻ và chỉ được sử dụng ngoại tệ để thanh toán cho tổ chức, cá nhân được phép thu ngoại tệ (Điểm 2 Mục II Chương I Phần thứ nhất Thông tư số 011999TT – NHNN7 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thi hành Nghị định số 631998NĐ – CP ngày 1781998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối) Nhận xét: Có thể thấy, do sự tác động và ảnh hưởng của người không cư trú đến nền kinh tế Việt Nam là không lớn nên các quy định của pháp luật nước ta về vấn đề sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam của người không cư trú không được chặt chẽ, đồng thời họ có ít quyền, nghĩa vụ hơn so với người cư trú. Một số đánh giá cá nhân về vấn đề sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam Do quản lý ngoại hối là một lĩnh vực phức tạp, thị trường ngoại hối luôn chịu tác động mạnh mẽ bởi hoàn cảnh khách quan và thay đổi không ngừng nên tuy nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp lý điều chỉnh vấn đề sử dụng ngoại hối nhưng hệ thống pháp luật quản lý ngoại hối Việt Nam vẫn còn thiếu sót và chưa theo kịp sự biến động của thị trường. Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay một số quy định hạn chế quyền sử dụng ngoại hối của các tổ chức, cá nhân tỏ ra không còn phù hợp, cần được sửa đổi bổ sung như các trường hợp được ghi thu trên tài khoản ngoại tệ, hạn mức ngoại tệ được mang theo người khi xuất nhập cảnh không phải khai báo hải quan, các thủ tục hành chính khi mua, chuyển ngoại tệ ra nước ngoài… Thứ nhất, nhà nước ta nên có quy định hạn chế quyền sở hữu đối với ngoại tệ của người cư trú là cá nhân để ngăn chặn tình trạng đô lá hóa trong thời gian qua do người dân Việt Nam vẫn có tâm lý cất giữ tiền của trong nhà mà không mang đến ngân hàng cất gửi giữ. Thứ hai, vấn đề mua bán ngoại tệ tại các cửa khẩu vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu để điều chỉnh. Ví dụ như tại cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị). Đặc biệt, tại các cửa hàng kinh doanh vàng bạc tư nhân có thực hiện mua bán ngoại tệ theo giấy ủy nhiệm, với tư cách là đại lý cho các ngân hàng thương mại nhưng thực chất, sự ủy nhiệm này chỉ là hình thức. Bởi lẽ, số liệu các giao dịch mà các cửa hàng này báo cáo thấp hơn rất nhiều so với các giao dịch thực tế, tỷ giá cũng không theo quy định của các ngân hàng thương mại. Các cửa hàng đều tự mua, tự bán mà rất ít khi bán cho các ngân hàng thương mại. C KẾT LUẬN Những năm vừa qua, Nhà nước ta đã có những bước phát triển trong việc công nhận và đảm bảo quyền sử dụng ngoại hối của các tổ chức, cá nhân, góp phần quan trọng phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, vẫn còn những quy định cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp hơn với yêu cầu của thực tiễn. Để làm được được điều đó, không chỉ những cơ quan quản lý nhà nước, các nhà làm luật và chính chúng ta, những người dân trực tiếp sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam phải phối hợp với Nhà nước xây dựng một chính sách ngoại tệ vừa hài hòa giữ nhu cầu của người dân và lợi ích của nhà nước, vừa đảm bảo phát triển kinh tế đất nước. Xem Khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 và Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 1602006 NĐ – CP ngày 28122006 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối Khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối ngày 13122005 Khoản 3 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối ngày 13122005 Điều 29 Nghị định số số 1602006NĐ – CP ngày 28122006 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối 2005. Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 631998NĐ – CP ngày 1781998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối và được hướng dẫn thực hiện tại Thông tư số 011999TT – NHNN7 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thi hành Nghị định số 631998NĐ – CP ngày 1781998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối về phần thu và phần chi Điều 6 Nghị định số 631998NĐ – CP ngày 1781998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối
Xem thêm

21 Đọc thêm

Một số vấn đề về tài sản theo quy định của bộ Luật Dân sự

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

Một số vấn đề về tài sản theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự Bài tập học kỳ Luật Dân sự 8 điểm Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Dân sự 1, Luật Dân sự 2 Xã hội ngày càng phát triển và đi lên mạnh mẽ. Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới hiện nay thì vấn đề giao lưu dân sự giữa các quốc gia, các tập đoàn, công ty, các tổ chức, cá nhân công dân cũng được phát triển mạnh mẽ. Quan hệ tài sản là một trong những quan hệ quan trọng nằm trong đối tượng điều chỉnh của luật dân sự cũng cùng đó mà được phát triển và mở rộng hơn. Quan hệ này là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản. Vậy để quản lý tốt hơn các mặt trong quan hệ tài sản thì cần thiết phải đặt ra những quy định đúng đắn và chính xác về chế định tài sản. Tài sản luôn được đánh giá là biểu hiện cho sự phát triển văn minh của xã hội loài người, là điều hết sức quan trọng và cần thiết để duy trì một đời sống kinh tế vững mạnh và phát triển. Việc nghiên cứu mang tính lý luận về tài sản sẽ mang ý nghĩa to lớn trong công tác quản lý xã hội của nhà nước, cũng như phát hiện được những hạn chế còn tồn tại trong pháp luật hiện hành quy định về tài sản ở nước hiện nay rồi từ đó tìm hướng giải quyết. Bộ luật Dân sự 2005 (bộ luật hiện hành của nước ta) có các quy định về vấn đề tài sản. Vì muốn được tìm hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về tài sản nên em xin lựa chọn đề tài: “Một số vấn đề về tài sản theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự” cho bài tập lớn học kỳ. Do kiến thức còn hạn chế mà bài làm của em sẽ không tránh khỏi thiếu sót, em mong nhận được sự nhận xét của thầy, cô để bài được hoàn thiện hơn. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Khái quát chung về tài sản 1. Khái niệm tài sản. Tài sản luôn được coi là một điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội. Nó là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng. Tài sản là một công cụ của đời sống xã hội nên khái niệm về tài sản không phải là một khái niệm thuần túy có tính học thuật mà là một khái niệm có tính mục đích cao. Khái niệm này phải đáp ứng được các nhu cầu cần thiết của xã hội. Tài sản không thể được xem xét tách rời các giá trị xã hội. Có thể hiểu tài sản là của cải được con người sử dụng. Với nghĩa tài sản luôn gắn với một chủ thể xác định. Theo nghĩa này thì tài sản luôn biến đổi và phát triển cùng với sự thay đổi của thời gian, của điều kiện xã hội, của sự nhận thức con người về giá trị vật chất nên phạm vi của tài sản qua mỗi thời kì lại được nhìn nhận ở một góc độ khác nhau. Có thể nhận thấy tài sản là khách thể của quyền sở hữu, nó có thể là đối tượng của thế giới vật chất hoặc là kết quả của các hoạt động sáng tạo tinh thần. Khái niệm tài sản lần đầu tiên được quy định tại Điều 172 BLDS năm 1995: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”. Tiếp đó, Điều 163 BLDS 2005 (Bộ luật dân sự hiện hành) quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Nhận thấy, khái niệm tài sản theo BLDS 2005 đã mở rộng hơn BLDS 1995 về những đối tượng nào được coi là tài sản, theo đó, không chỉ những “vật có thực” mới được gọi là tài sản mà cả những vật được hình thành trong tương lai cũng được gọi là tài sản. Tuy nhiên, cũng giống như BLDS 1995, BLDS 2005 cũng đưa ra khái niệm tài sản theo hình thức liệt kê, điều này đã không đáp ứng sự phát triển của thực tiễn cuộc sống và gây ra sự tranh cãi về một số đối tượng như: tài sản ảo trong game online, khoảng không, hệ thống khách hàng … có được coi là tài sản trong pháp luật dân sự hay không? Chính điều này đòi hỏi cơ quan lập pháp phải tiến hành sửa đổi quy định về khái niệm tài sản trong BLDS theo hướng khái quát hơn và đưa ra những tiêu chí để phân biệt đâu là tài sản, đâu không phải là tài sản. Đã có nhiều quan điểm khác nhau bàn về vấn đề như thế nào được coi là tài sản, có thể đưa ra một số quan điểm như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: tài sản là đối tượng của quyền sở hữu. Như vậy, theo quan điểm này muốn hiểu tài sản là gì thì trước tiên chúng ta phải hiểu quyền sở hữu là gì? Tuy nhiên, khái niệm quyền sở hữu tại Điều 164 BLDS 2005 cũng chỉ được đưa ra theo hướng liệt kê, theo đó, “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật”. Do đó, nếu áp dụng khái niệm này thì chúng ta lại bị rơi vào vòng luẩn quẩn định nghĩa tài sản thông qua một khái niệm quyền sở hữu trong khi đó bản thân khái niệm quyền sở hữu cũng chưa giải quyết được một cách triệt để, thậm chí còn là phái sinh từ khái niệm tài sản. Quan điểm thứ hai cho rằng: tài sản là của cải vật chất tồn tại dưới dạng cụ thể, được con người sử dụng và được nhận biết bằng giác quan tiếp xúc như xe ôtô, môtô, bàn, ghế, máy tính, giường, tủ, tờ tiền… Như vậy, theo quan điểm này thì chỉ những gì thuộc về thế giới vật chất, hiện đang tồn tại và chúng ta có thể cầm, nắm… được thì mới được coi là tài sản. Do đó, quyền tài sản không được coi là tài sản. Quan điểm thứ ba cho rằng: tài sản bao gồm động sản và bất động sản. Đây thực chất là một cách phân loại tài sản dựa trên tính chất vật lý không di dời được về mặt cơ học và nó cũng rơi vào vòng luẩn quẩn như quan điểm thứ nhất khi định nghĩa tài sản thông qua khái niệm bất động sản và động sản trong khi đó khái niệm bất động sản và động sản cũng chưa được làm sang tỏ và thậm chí muốn hiểu thế nào là bất động sản và động sản thì phải hiểu thế nào là động sản trước. Hơn nữa, nếu theo quan điểm này thì quyền tài sản không biết được xếp vào bất động sản hay động sản. Quan điểm thứ tư cho rằng: tài sản là những gì định giá được. Nhận xét, quan điểm trên vẫn còn những điểm chưa hợp lý vì: Thứ nhất, tài sản là những gì định giá được có thể hiểu là tài sản là những gì trị giá được bằng tiền và tiền ở đây chỉ được hiểu là nội tệ vì ngoại tệ không được coi là tiền, bởi lẽ ngoại tệ không bao giờ được coi là công cụ thanh toán đa năng – một tính năng quan trọng nhất của tiền. Như vậy, tiền sẽ được định giá bằng gì? Và nó có được coi là tài sản không? Thứ hai, nếu cứ những gì định giá được thì được gọi là tài sản, vậy tài sản nợ nghĩa vụ trả nợ cũng sẽ được xem là tài sản vì nó cũng có thể định giá được (cứ xem giá của nó là 0 đồng thì giá 0 đồng hoàn toàn khác với không định giá được), trong khi đó, tài sản thì có thể để lại thừa kế được còn nghĩa vụ trả nợ thì không để lại thừa kế được, trừ nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi di sản do người chết để lại. Trên đây là bốn trong số rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tài sản dưới góc độ pháp lý. Tuy nhiên, đánh giá được rằng các quan điểm nêu trên (như đã phân tích) đều bộc lộ những bất cập và chưa đưa ra được tiêu chí để xác định những gì được gọi là tài sản. Quay lại với khái niệm tài sản được quy định tại Điều 163 BLDS 2005: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Trong đó, vật được hiểu là bộ phận của thế giới khách quan mà con người có thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình. Tuy nhiên chỉ những vật nằm trong sự chiếm hữu của con người và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự thì được coi là tài sản. Tiền theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác. Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó có giá trị lưu hành trên thị trường. Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay, đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng. Nó được hiểu là giấy tờ có trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự. Ngoài vật, tiền, giấy tờ có giá thì tài sản còn được xác định là quyền tài sản được quy định tại điều 181 của Bộ luật dân sự 2005: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Quyền tài sản được hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại vật chất cho mình. Xét theo ý nghĩa này thì quyền sở hữu cũng là quyền tài sản (vật quyền). Quyền yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ tài sản (trái quyền) cũng là quyền tài sản. Có thể thấy rằng những loại tài sản được pháp luật thừa nhận tại Điều 163 BLDS 2005 là kết quả của quá trình phát triển lưu thông dân sự được nhà nước thừa nhận. Tuy nhiên, pháp luật thường chậm hơn thực tiễn nên việc liệt kê sẽ rất có thể là không đầy đủ hoặc không theo kịp sự phát triển của khoa học và đời sống. Bởi vậy để đi tìm một khái niệm chung nhất cho tài sản là rất khó. Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội đặc biệt là với nền kinh tế thị trường thì phạm vi tài sản là không hạn chế, chúng bao gồm toàn bộ tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Hiện nay, tài sản vô hình đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển khoa học kĩ thuật, sản xuất hàng hóa. Do vậy pháp luật ngày càng chú trọng đến việc bảo vệ quyền sở hữu của các chủ thể đối với sản phẩm trí tuệ do con người tạo ra như với việc ban hành Luật sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, cũng cần phân biệt khái niệm tài sản với khái niệm hàng hóa trong khoa học chính trị kinh tế học (là sản phẩm do con người tạo ra có giá trị và giá trị sử dụng). Giá trị của hàng hóa được được xác định bằng lao động xã hội đã bỏ ra để sản xuất hàng hóa đó. Vì vậy thấy rằng đất đai, tài nguyên thiên nhiên là vật (tài sản) chứ không phải hàng hóa. Như vậy, tài sản cần được tiếp cận ở phạm vi rộng hơn so với khái niệm hàng hóa. Ngày nay, tài sản có thể được hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị nằm trong sự chiếm hữu của một chủ thể, đó là một khái niệm rộng và không giới hạn, luôn được bồi đắp thêm bởi những giá trị mới mà con người nhận thức ra. 2. Đặc điểm của tài sản. Xem xét trong nhiều quan niệm về tài sản, cũng như từ khái niệm tài sản được quy định tại Điều 163 BLDS 2005 có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của tài sản như sau: Một là, tài sản có giá trị thể hiện ở việc chúng đều trị giá được bằng tiền. Tiền là thước đo giá trị của các loại tài sản khác. Theo Điều 163 thì những tài sản còn lại như vật, giấy tờ có giá, quyền tài sản đều có thể quy đổi ra tiền. Hai là, tài sản luôn phải đáp ứng một lợi ích nào đó cho chủ thể có quyền (cả về vật chất lẫn tinh thần). Ba là, tài sản là đối tượng trong lưu thông dân sự, chính bởi như thế khái niệm về tài sản được mở rộng hay thu hẹp theo từng thời kì để phù hợp với điều kiện giao lưu dân sự trong xã hội thời đó. Bốn là, khái niệm tài sản trong cuộc sống khác với khái niệm tài sản trong pháp lí. Pháp luật là công cụ thực hiện quyền lực, ý chí của một nhà nước với các quan hệ xã hội. Bởi vậy nếu như nhà nước không công nhận một loại tài sản thì nó sẽ không được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật. Sự quy định đâu là tài sản dựa vào ý chí của nhà nước đưa vào bộ luật dân sự. 3. Phân loại tài sản Tài sản là một chế định quan trọng của luật dân sự mà trong đó việc phân loại tài sản có một ý nghĩa rất lớn, bởi tài sản là một công cụ của đời sống xã hội. Nó liên quan tới hàng loạt các vấn đề pháp lý như: thuế, bảo đảm nghĩa vụ dân sự, thừa kế, hiệu lực của hợp đồng, bán tài sản, công khai, các quyền tài sản, thương mại, tư pháp quốc tế… Thứ nhất, dựa vào đặc tính vật lí của tài sản theo Điều 174 BLDS 2005 quy định: “1. Bất động sản là các tài sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai; d) Các tài sản khác do pháp luật quy định. 2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.” Cách phân loại này chủ yếu dựa vào đặc tính vật lí của tài sản là có thể di dời được hay không thể di dời được. Đây là cách phân loại truyền thống mà khá nhiều nước trên thế giới lựa chọn vì các quy phạm điều chỉnh hai loại tài sản này là hai hệ thống riêng rẽ độc lập với nhau khi áp dụng cho việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan. Nhà làm luật cũng định nghĩa bất động sản theo phương pháp liệt kê. Theo đó thì hiện nay đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai như nhà, công trình xây dựng, cây cối, tài nguyên… sẽ được coi là bất động sản. Tuy nhiên điều luật đã quy định về bất động sản một cách mở chứ không liệt kê khép kín như khái niệm tài sản ở Điều 163 vì vậy những tài sản khác mà pháp luật quy định vẫn được coi là bất động sản (như quyền sử dụng đất). Việc phân loại động sản và bất động sản có nhiều ý nghĩa như: Xác lập thủ tục đăng kí đới với tài sản (quyền sở hữu với bất động sản được đăng kí theo quy định của BLDS và pháp luật về đăng kí bất động sản, quyền sở hữu với động sản thì không đăng kí trừ trường hợp pháp luật quy định khác); Xác định thời điểm chuyển giao quyền sử hữu đối với tài sản (khoản 1, Điều 168 BLDS 2005); Xác định được các quyền năng của chủ thể quyền đối với từng loại tài sản nhất định; Xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ đối với các giao dịch có đối tượng là bất động sản trong trường hợp các bên không có thỏa thuận; Xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu (như tại Điều 239 BLDS 2005 quy định nếu vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu là động sản sẽ thuộc sở hữu của người phát hiện còn nếu vật là bất động sản thì sẽ thuộc sở hữu nhà nước…); Xác định hình thức của hợp đồng; Là căn cứ để xác định thời hạn thời hiệu và các thủ tục khác (thời hạn chuộc lại với đối với tài sản đã bán trong hợp đồng mua bán có chuộc lại đối với động sản là một năm và đối với bất động sản là năm năm theo điều 462 BLDS); Xác định phương thức kiện dân sự: Theo Điều 257; Điều 258 BLDS 2005 thì điều kiện để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu kiện đòi lại tài sản đối với động sản và bất động sản là khác nhau.); Xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự… Thứ hai, dựa vào nguồn gốc và cách thức hình thành tài sản thì có thể phân tài sản thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức. Tài sản gốc được hiểu là tài sản khi sử dụng khai thác công dụng thì sinh ra lợi ích vật chất nhất định. Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại (hoa quả thu hoạch từ cây cối, con nghé do con trâu đẻ ra). Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản mà không phải do tài sản tự sinh ra (tiền cho thuê nhà, tiền lãi…). Như vậy cả hoa lợi và lợi tức đều là những tài sản sinh ra từ việc khai thác và sử dụng tài sản gốc. Việc phân loại tài sản theo hướng này có những ý nghĩa nhất định: Xác định chủ sở hữu của tài sản (hoa lợi sẽ thuộc chủ sở hữu của tài sản, lợi tức sẽ thuộc về người có quyền sử dụng hợp pháp tài sản đó); Xác định trong một số trường hợp người chiếm hữu tài sản gốc chỉ được hưởng hoa lợi sinh ra từ tài sản gốc mà không được khai thác công dụng của tài sản để thu lợi tức (trường hợp cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ thì bên cầm giữ tài sản có quyền thu hoa lợi từ tài sản cầm giữ và được dùng để bù trừ nghĩa vụ theo Điều 416 BLDS 2005). Thứ ba, căn cứ vào giá trị của tài sản, vai trò, ý nghĩa của tài sản đối với chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, quản lí nhà nước thì ta phân ra tài sản có đăng kí quyền sở hữu, tài sản không đăng kí quyền sở hữu. Tài sản có đăng kí quyền sở hữu là tài sản mà pháp luật quy định bắt buộc phải đăng kí, nếu không đăng kí sẽ không được công nhận quyền sở hữu đối với tài sản đó (nhà, máy bay, súng săn…). Tài sản không đăng kí quyền sở hữu là tài sản mà theo quy định của pháp luật không buộc phải đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (quần áo, giầy dép, đồ chơi…). Với cách phân loại tài sản này cũng có ý nghĩa pháp lí trong một số trường hợp nhất định: Xác định thời điểm phát sinh, chuyển giao quyền sở hữu; Xác định phương thức kiện dân sự (kiện vật quyền hay kiện trái quyền được quy định từ Điều 257 đến Điều 260 BLDS 2005.); Xác định hình thức của hợp đồng… Thứ tư, căn cứ vào chế độ pháp lí đối với tài sản, người ta phân chia tài sản thành ba loại: tài sản cấm lưu thông, tài sản hạn chế lưu thông và tài sản tự do lưu thông. Tài sản cấm lưu thông là tài sản mà ví lợi ích của nó đối với nền kinh tế quốc dân, ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia mà Nhà nước cấm giao dịch (vũ khí quân dụng, ma túy, chất phóng xạ, động vật quý hiếm…). Tài sản hạn chế lưu thông là tài sản khi dịch chuyển trong giao dịch dân sự nhất thiết phải tuân theo những quy định riêng pháp luật. Trong một số trường hợp phải được sự đồng ý, cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (vũ khí thể thao, thanh toán bằng ngoại tệ với số lượng lớn…). Tài sản lưu thông tự do là những tài sản mà không có quy định nào của pháp luật hạn chế việc dịch chuyển đối với tài sản đó, nếu có sự dịch chuyển thì các chủ thể không cần phải xin phép. Việc xác định đúng loại tài sản có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định hiệu lực pháp lí của giao dịch dân sự. Cụ thể: tài sản cấm lưu thông không thể trở thành đối tượng trong giao dịch dân sự. Chính vì vậy nếu các bên vẫn xác lập giao dịch này thì giao dịch đó sẽ là giao dịch vô hiệu tuyệt đối do có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật; và khi đó tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức sẽ bị tịch thu sung công quỹ nhà nước. Thứ năm, căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu, tài sản được phân thành loại tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Tài sản hiện có là tài sản đã có và tồn tại vào thời điểm hiện tại và đã được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu của tài sản đó. Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét (thường là thời điểm xác lập nghĩa vụ hoặc giao dịch dân được giao kết) nhưng chắc chắn sẽ được hình thành trong tương lai (tiền lương sẽ được hưởng, xe máy đang được lắp ráp…). Ngoài ra tài sản hình thành trong tương lai còn gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch nhưng sau thời điểm đó thì tài sản mới thuộc sở hữu của các bên (tài sản có được do mua bán, trao đổi..). Với việc phân loại tài sản này ta có thể thấy ý nghĩa của nó: Xác định đối tượng được phép giao dịch; Xác định hình thức thủ tục xác lập (Việc xác lập giao dịch có đối tượng là tài sản sẽ có trong tương lai buộc các bên phải bàn giao những giấy tờ chứng minh mình là người có quyền sở hữu đối với tài sản sẽ hình thành trong tương lai đó.) Thứ sáu, căn cứ vào Điều 163 BLDS 2005 ta cũng có một cách phân loại tài sản. Cách phân loại này mang tính chất liệt kê, theo đó thì tài sản được phân thành: vật, tiền, giấy tờ có giá, các quyền tài sản. Đây là cách phân loại tài sản hiện hành của pháp luật Việt Nam, bên cạnh một số hạn chế thì nó mang nhiều ý nghĩa pháp lí. Khi đối tượng của giao dịch là các loại tài sản khác nhau thì phương thức thực hiện cũng sẽ được áp dụng khác nhau. Như vậy việc phân thành các loại tài sản như trên sẽ có ý nghĩa trong việc hình thành nên các quy phạm điều chỉnh của pháp luật sao cho phù hợp với chúng để tránh gây ra tranh chấp trong quá trình giao thông dân sự. Bên cạnh đó cách phân loại này còn có ý nghĩa trong Luật hình sự khi xác định được đúng các loại tài sản, sẽ giúp xác định đúng tội danh như: tội vận chuyển trái phép hàng hóa tiền tệ (Điều 154 BLHS),… Ngoài ra, tài sản còn được phân thành nhiều loại như tài sản chung, tài sản riêng; tài sản là tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng; tài sản có thật, tài sản ảo; tài sản cố định, tài sản lưu động; tài sản công, tài sản tư… II. Tài sản theo quy định tại BLDS 2005. 1. Vật 1.1 Định nghĩa Vật là một bộ phận của thế giới vật chất và con người có thể chiếm hữu, sử dụng nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của mình cả về vật chất lẫn tinh thần. BLDS năm 2005 đã có sự mở rộng phạm vi về vật từ “vật có thực” (BLDS 1995) sang “vật” (BLDS 2005) là tài sản. Như vậy, khái niệm vật không chỉ dừng lại ở khái niệm vật hiện hữu mà vật hình thành trong tương lai cũng có thể được coi là tài sản. Tại Điều 175 BLDS 2005 đã xác định loại tài sản này là hoa lợi, lợi tức đây chính là sự gia tăng của tài sản trong điều kiện nhất định. Định nghĩa về vật được xét theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau như: vật lý, lí học, pháp luật dân sự, chế độ pháp lí, quan niệm xã hội, tâm lý, thẩm mỹ, văn hóa sử dụng… Vậy vật khi nào là tài sản? Để giải quyết vấn đề này cần thiết phải căn cứ vào những tiêu chí cụ thể của quan hệ pháp luật dân sự cụ thể để xác định. Tại Điều 163 BLDS 2005 thì có phải mọi vật của thế giới vật chất đều được hiểu là tài sản không? Và tất nhiên không phải như vậy, không phải bất kỳ vật nào thuộc thế giới vật chất cũng đều được coi là tài sản. Xét theo quan hệ này thì một vật nhất định được coi là tài sản nhưng nếu xét theo quan hệ cụ thể khác thì vật đó không thể được coi là tài sản. Để xác định được rõ một vật có được coi là tài sản hay không cần phải đặt vật đó trong từng quan hệ cụ thế và không thể lập luận theo một chiều, có vật là có tài sản. Trong quan niệm của Luật dân sự thì vật phải thỏa mãn những điều kiện nhất định sau: Vật đó phải tồn tại khách quan hoặc vật đó chắc chắn được hình thành trong tương lai xác định được; Vật đó con người phải chi phối được, phải kiểm soát được, phải chiếm hữu được; Vật đó phải xác định được giá trị thanh toán hay giá trị trao đổi, vật đó phải khai thác được về tài sản (thương mại, dấn sự, tiêu dùng,..), đáp ứng được nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người. Vật đó là vật được phép lưu thông dân sự và mang giá trị tài sản, có thể trao đổi được cho nhau dưới dạng vật chất hay quy đổi được bằng tiền. Như vậy, có thể đưa ra một định nghĩa khái quát chung về vật trong quan hệ pháp luật dân sự như sau: Vật là một bộ phận của thế giới vật chất và con người có thể chiếm hữu được, sử dụng nhằm mục đích đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình. 1.2 Đặc điểm pháp lý của vật Vật có một số đặc điểm sau: Vật thuộc thế giới vật chất và phải do con người chiếm hữu được; Đối với vật chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật đó; Vật có thể do nhiều chủ thể sáng tạo ra (vật có thể được cấu tạo đơn giản hoặc phức tạp, do vậy đối với những vật có kết cấu cầu kì thì không phải một chủ thể có thể tạo ra nó được cần phải có sự hợp tác của nhiều chủ thể như xe máy, ôtô…); Chủ sở hữu của vật sẽ có quyền định đoạt đối với vật (hủy bỏ, đập bỏ…), thay đổi hình dáng vật thuộc sở hữu. 1.3 Phân loại vật BLDS 2005 có nhiều cách phân loại vật khác nhau, ở mỗi tiêu chí phân loại lại có ý nghĩa khác nhau cho nền khoa học pháp lý. 1.3.1 Vật chính và vật phụ. Dựa vào mối liên hệ, phụ thuộc về công dụng của vật đối với nhau mà theo Điều 176 BLDS 2005 thì vật được chia thành vật chính và vật phụ. Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng; vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính. Việc phân loại này mang lại ý nghĩa cơ bản cho việc thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật trong trường hợp chuyển giao vật chính thì phải chuyển cả vật phụ. 1.3.2 Vật chia được và vật không chia được. Căn cứ theo hình dáng, tính năng của vật mà chia vật thành vật chia được và vật không chia được. Vật chia được là vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng ban đầu, ví dụ: gạo, xăng…. Vật không chia được là vật khi bị phân chia thì không giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng ban đầu. Ví dụ: xe máy, tủ, ghế, bàn… Cách phân loại này có ý nghĩa trong trường hợp khi cần phân chia vật không chia được thì phải trị giá thành tiền để chia. 1.3.3 Vật tiêu hao và vật không tiêu hao Căn cứ vào tính chất vật lý có thể phân loại vật thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao. Theo quy định tại Điều 178 BLDS 2005 thì vật tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được tính chất, hình dạng và tính năng sử dụng ban đầu. Ví dụ: xà bông, xi măng, cát…Do đó, vật tiêu hao không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng cho mượn. Vật không tiêu hao là vật qua sử dụng một lần vẫn giữ được tính chất, hình dạng và tính năng sử dụng ban đầu, ví dụ: quần áo, nhà ở, các loại phương tiện giao thông, các loại máy móc,... 1.3.4 Vật cùng loại và vật đặc định Dựa vào dấu hiệu phân biệt của vật mà có thể chia thành vật cùng loại và vật đặc định. Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường như kg, lít (xăng dầu, gạo…). Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế được cho nhau. Nếu vật cùng loại bị tiêu hủy thì có thể thay thế nó bằng vật cùng loại khác. Vật đặc định là những vật có thể phân biệt với các vật khác bằng các dấu hiệu đặc trưng riêng biệt của vật đó về kí hiệu, hình dáng, mà sắc chất liệu, đặc tính, vị trí. Trong khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật, đối với vật đặc định thì nó là vật duy nhất nên nếu trong quá trình chuyển giao vật phải dùng chính vật đó mà không thể dùng vật khác để thay thế. 1.3.5 Vật đồng bộ Vật đồng bộ là tập hợp các vật, mà chỉ có đầy đủ nó mới có giá trị sử dụng đầy đủ. Tập hợp các vật phải liên hệ với nhau thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc có bộ phận không đúng quy cách, chủng loại, thông số, kĩ thuật thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút (đôi dép, đôi găng tay…). Vật đồng bộ là đối tượng thống nhất trong giao dịch dân sự vì vật khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ các phần hoặc các bộ phận hợp thành vật đồng bộ. 2. Tiền 2.1 Định nghĩa Theo Mác “Tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt được tách ra khỏi thế giới hàng hóa dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác.” Theo các nhà kinh tế hiện đại thì tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hóa, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ. Trong BLDS 2005 không có những quy định để làm rõ bản chất của tiền, tuy nhiên, thong qua các quan niệm thì có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về tiền: “Tiền được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác và nó phải có giá trị lưu hành trên thị trường”. Như vậy, chỉ có loại tiền đang được lưu hành tức là được pháp luật thừa nhận tại thời điểm đó mới được coi là một loại tài sản. Với việc BLDS 2005 đã bỏ quy định tiền thanh toán phải là tiền Việt Nam như quy định tại BLDS 1995 thì về mặt pháp lý tiền có thể được hiểu là nội tệ hoặc ngoại tệ. Tuy nhiên, ngoại tệ là loại tài sản hạn chế lưu thong chứ không được lưu hành rộng rãi như tiền Việt Nam. Có thể thấy một số đặc điểm của tiền như: tính được chấp nhận một cách rộng rãi; dễ nhận biết; có nhiều mệnh giá khác nhau; tính lâu bền; tính khan hiếm. 2.2 Bản chất pháp lý Tiền là một loại tài sản đặc biệt được quy định tại Điều 163 BLDS: dùng tiền để xác định giá trị của các loại tài sản thông qua đó có thể biết được tài sản nào có giá trị hơn. Như vậy, việc tất cả các tài sản đều có thể quy đổi ra tiền đã tạo nên tính đặc biệt của loại tài sản này. Chức năng của tiền: công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản, thước đo giá trị. 2.3 Phân biệt tiền và vật Theo quy định của Điều 163 BLDS 2005 thì tiền và vật cùng là tài sản, nhưng giữa chúng lại có một số điểm khác biệt về đặc điểm pháp lý như sau: Thứ nhất, đối với vật thì chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật đó (dùng nhà để ở, dùng xe để đi…). Còn đối với tiền thì không thể khai thác công dụng hữu ích trực tiếp từ chính tờ tiền hay đồng tiền xu đó. Tiền thực hiện ba chức năng chính là: công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác. Khái niệm “quyền sử dụng” chỉ áp dụng được một cách trọn vẹn cho vật chứ không áp dụng được cho tiền. Thứ hai, các vật thông thường có thể do rất nhiều chủ thể khác nhau tạo ra, còn tiền thì chỉ do nhà nước độc quyền phát hành. Thứ ba, vật được xác định số lượng bằng những đơn vị đo lường thông dụng như kilogram, mét, lít,…, còn tiền lại được xác định số lượng thông qua mệnh giá. Thứ tư, chủ sở hữu vật được toàn quyền tiêu hủy vật thuộc sở hữu của mình, còn chủ sở hữu tiền lại không được tiêu hủy tiền (không được xé, đốt, sửa chữa, thay đổi hình dạng, kích thước, làm giả…). 3. Giấy tờ có giá 3.1 Vài nét về giấy tờ có giá Theo định rộng, giấy tờ có giá nói chung được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét trong mối quan hệ pháp lí với các chủ thể khác. Với chức năng là một công cụ tín dụng thì giấy tờ có giá gồm: hối phiếu nhận nợ, hối phiếu đòi nợ, séc… Với chức năng là phương tiện tín dụng là các loại hàng hóa được ghi giá trên thị trường tài chính, bao gồm các phương tiện ngắn hạn như các chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, kì phiếu và các phương tiện tín dụng dài hạn. Với chức năng là công cụ tài chính, giấy tờ có giá gồm: cổ phiếu và trái phiếu. Theo nghĩa hẹp, tại khoản 1 Điều 4 Quyết định số 022005 QĐ – NHNN: “Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua”. Tuy nhiên trong pháp luật dân sự không phải loại giấy tờ có giá nào cũng được coi là một loại tài sản trong giao lưu dân sự. Cần lưu ý với các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng ký ô tô, sổ tiết kiệm… không được coi là giấy tờ có giá. Nếu cần phải xem xét thì đó chỉ đơn thuần được coi là một vật và thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó. 3.2 Đặc điểm của giấy tờ có giá Giấy tờ có giá có một số đặc điểm sau: Giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định; Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ; Giấy tờ có giá có tính thanh khoản và công cụ có thể chuyển nhượng toàn bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu. 3.3 Phận biệt giấy tờ có giá và một số loại tài sản khác 3.3.1 Phân biệt giấy tờ có giá và tiền Khác với tiền chỉ do cơ quan duy nhất là Ngân hàng Nhà nước ban hành thì giấy tờ có giá có thể do rất nhiều cơ quan ban hành như Chính phủ, ngân hàng, kho bạc, các công ty cổ phần,…; nếu tiền luôn có mệnh giá nhất định thể hiện thước đo giá trị của những loại tài sản khác, luôn lưu hành không có thời hạn, không ghi danh thì giấy tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá, có thế có thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng, có thể ghi danh hoặc không ghi danh và việc thực hiện quyền định đoạt về số phận thực tế đối với giấy tờ có giá cũng không bị hạn chế như việc định đoạt tiền. 3.3.2 Phân biệt giấy tờ có giá và vật Giấy tờ có giá và vật cùng là tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự nên chúng có điểm giống nhau đó là: đều là động sản trong cách phân loại thành bất động sản và động sản (Điều 174 BLDS 2005); đều là loại tài sản hữu hình. Tuy nhiên, đối với vật có thể xác định số lượng, giá tri thông qua những đơn vị đo lường thông dụng (kg, tạ, tấn, mét, ml…). Trong khi đó các loại giấy tờ có giá được xác định giá trị thông qua giá trị ghi trên loại giấy tờ có giá đó (séc…), nhưng có loại giá trị của nó có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị bề ngoài của nó (cổ phiếu…). Bên cạnh đó, chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích trực tiếp từ chính vật đó, còn đối với giấy tờ có giá thì không thể có điều này… Ngoài ra, chủ sở hữu vật được toàn quyền đối với vật thuộc sở hữu của mình, còn chủ sở hữu giấy tờ có giá thì bị hạn chế quyền này, không được quyền sửa chữa, tẩy xóa, xé rách, thay đổi hình dạng, kích thước,… Đối với vật thì có thế do rất nhiều chủ thể khác nhau tạo ra, nhưng giấy tờ có giá chỉ có thể do một số chủ thể có quyền nhất định phát hành theo pháp luật. 4. Quyền tài sản 4.1 Định nghĩa Khái niệm quyền tài sản đã được đưa vào BLDS năm 1995, và đến BLDS 2005 thì quy định trong Điều 181: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Thông qua khái niệm về quyền tài sản trong BLDS 2005 thấy rằng quyền tài sản trước tiên phải được hiểu là xử sự được phép của chủ thế mang quyền. Quyền ở đây chính là một quyền năng dân sựu chủ quan của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền này phải trị giá được thành tiền hay nói cách khác là phải tương đương với một đại lượng vật chất nhất định. Quyền tài sản có rất nhiều nhưng chỉ những quyền tài sản nào có thế trở thành đối tượng trong các giao dịch dân sự thì mới được coi là tài sản tại Điều 163 BLDS 2005. Hiện nay, pháp luật dân sự Việt Nam công nhận một số quyền tài sản là tài sản như: quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hạn đối với tài sản bị xâm phạm, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần góp vốn trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng (Điều 332 BLDS 2005). 4.2 Đặc điểm pháp lý của quyền tài sản: Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền (quyền sở hữu trí tuệ, sử đất…); có thể dùng là đối tượng trong giao lưu dân sự hoặc là quyền của chủ thể trong một số quan hệ dân sự tuyệt đối. Khác với các loại tài sản khác, quyền tài sản là tài sản vô hình. Quyền tài sản trong luật thực định Việt Nam được xây dựng như một khối đối lập với vật trong hệ thống phân loại cơ bản (vật hữu hình). Nói khác đi, quyền tài sản trong luật thực định Việt Nam được hiểu là quan hệ pháp luật khác với quan hệ sở hữu mà trên cơ sở quan hệ khác đó, một lợi ích định giá được bằng tiền hình thành và thuộc về một chủ thể của quan hệ đó. 4.3 Phân biệt quyền tài sản và giấy tờ có giá. Nếu như giấy tờ có giá là một vật (tức là một tờ giấy được xác định giá trị) thì quyền tài sản hoàn toàn là một vật vô hình. Đối với giấy tờ có giá có thể thực hiện quyền chiếm hữu và quyền định đoạt thì đối với quyền tài sản chúng ta không thực hiện được chức năng này. Quyền tài sản chỉ mang lại lợi ích cho chủ thể khi chúng được chuyển giao cho một chủ thể khác qua việc mua bán quyền tài sản (Điều 449 BLDS 2005). Giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong giao lưu dân sự chính là giấy tờ chính minh cho quyền tài sản vô danh, giá trị của tờ giấy có giá trị bằng với giá trị của quyền tài sản đó. III. Những bất cập, hạn chế trong quy định về tài sản và phương hướng hoàn thiện. 1. Những bất cập, hạn chế trong quy định về tài sản của BLDS 2005. 1.1 Về cách quy định tại Điều 163 BLDS 2005 là chưa thật sự đầy đủ. Theo quy định của điều luật này thì tài sản được định nghĩa theo kiểu liệt kê về các loại tài sản mà chưa đưa ra được phạm vi của nó cũng như không có một khái niệm chung về tài sản. Điều này sẽ gây bất cập khi phát sinh tài sản mới trong khi đời sống kinh tế xã hội đang phát triển từng ngày, từng giờ. Bản thân tài sản là một khái niệm động, ngày càng có nhiều yếu tố đang được xem như là tài sản như: hồ sơ khách hàng, giọng hát ca sĩ, bào thai người, các sản phẩm của trí tuệ…Vì vậy nếu quy định theo cách liệt kê thì sẽ tạo sự hạn chế trong giao lưu dân sự khi phát sinh một tài sản mới trong xã hội (khi đó chưa có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh giao dịch dân sự với tài sản đó sẽ dẫn đến nhiều tranh chấp khó giải quyết.) Bên cạnh đó, quy định tại Điều 163 BLDS 2005 như đã tách biệt quyền sở hữu ra khỏi khái niệm tài sản và chỉ coi vật chất liệu là tài sản. 1.2 Không có những quy định cụ thể về tiền. Tiền được quy định là một loại tài sản, thậm chí nó là tài sản có đặc điểm pháp lí khá đặc trưng nhưng thực tế cho thấy rằng trong BLDS lại không có quy định nào giải thích cụ thể về tiền dẫn đến nhiều cách hiểu không thống nhất về bản chất pháp lí của tiền. Hiện nay có nhiều tranh cãi xung quanh việc ngoại tệ có phải là tiền theo Điều 163 BLDS 2005 hay không? Về bản chất ngoại tệ và nội tệ đều là tiền nhưng trong pháp luật dân sự thì ngoại tệ chỉ được lưu thông hạn chế, không đáp ứng được chức năng là công cụ thanh toán đa năng, chỉ có những chủ thể nhất định mới được phếp giao dịch đối với nó. Như vậy, nêu để ngoại tệ vào loại tài sản nào trong các loại tài sản của Điều 163? Đây chính là sự khó khăn trong việc quy định khái niệm tài sản một cách khép kín của điều luật. Nhưng từ đó cũng có thể rút ra một hướng hoàn thiện cho các nhà làm luật cần quy định tiền trong BLDS – tiền nội tệ. 1.3 Sự hạn chế trong những quy định về giấy tờ có giá. Điều khoản quy định về giấy tờ có giá trong BLDS 2005 quá đơn giản, không có sự giải thích cụ thể nào về giấy tờ có giá cả. Có nhiều loại giấy tờ có giá nhưng không phải loại nào cũng được coi là tài sản. BLDS 2005 chỉ quy định nó là một loại tài sản nhưng không đưa ra một giải thích nào dẫn đến sự mâu thuẫn trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khi giải thích khái niệm này. Như trong Quyết định số 022005QĐ–NHNN ngày 04012005 Về việc ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong nước tại Điều 4: “Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua”. Tuy nhiên tại khoản 3 Điều 9 Nghị định của Chính phủ số 16306NĐCP thì giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự. 1.4 Sự chưa phù hợp trong quy định về quyền tài sản. Điều 181 BLDS 2005 về quyền tài sản đã bộc lộ thiếu sót lớn khi nhà làm luật không quy định về các quyền tài sản không chuyển giao được trong giao lưu dân sự, đó là những quyền trị giá được bằng tiền nhưng do gắn với nhân thân nên không thể chuyển giao được, ví dụ: quyền yêu cầu cấp dưỡng,… Bên cạnh đó, khái niệm quyền tài sản của Việt Nam được xấy dựng là một loại tài sản đối lập với vật, tức là một loại tài sản vô hình. Như vật, khi ta kết hợp cách phân loại giữa vật và quyền với cách phân loại giữa bất động sản sẽ không tạo ra khái niệm quyền tài sản mang tính chất bất động sản. Do vậy, trong trường hợp này thì quyền tài sản sẽ là động sản. Điều này sẽ trở nên không phù hợp với quyền sử dụng đất (một loại quyền tài sản). Ngoài ra, trong quan niệm về quyền tài sản của BLDS Việt Nam 2005 đã không có khái niệm về quyền thực hiện trực tiếp trên vật (quyền đối vật). 1.5 Cách hiểu không đúng về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi coi nó là một loại tài sản. Pháp luật Việt Nam không thừa nhận chế độ sở hữu đối với đất đai của công dân. Những người có quyền sử dụng đất sẽ được cơ quan nhà nước làm thủ tục và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi vay tiền ở các ngân hàng, người có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến làm thủ tục thế chấp vay tiền. Từ đó đã dẫn đến cách hiểu không đúng của một số bộ phận người coi giấy này là tài sản, vì việc thế chấp nó đã được nhận lại một loại tài sản khác ở ngân hàng là tiền Việt Nam đồng. Thực tế giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một chứng chỉ ghi nhận quyền tài sản. Đây chính là tờ giấy mà trên bề mặt của nó có các ký tự, thong tin về lô đất. Có thể nhận thấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một văn bản chứng quyền, cho nên không thể coi nó là tài sản và cũng không nên xem nó là loại giấy tờ có giá trong thanh toán, trao đổi. 2. Những phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về tài sản. 2.1 Bổ sung hoàn thiện quy định của pháp luật về tài sản trong BLDS. Cần quy định theo lối mở rộng hơn đối với Điều 163 BLDS 2005 để phù hợp hơn với xu thế của đời sống xã hội. Bởi lý do phạm vi tài sản ngày càng được mở rộng hơn, số lượng những yếu tố được coi là tài sản mới ngày càng nhiều. Đồng thời cần có sự giải thích cụ thể hơn về các loại tài sản (tiền, vật, giấy tờ có giá, quyền tài sản) được nêu trong Điều 163 BLDS 2005 hiện hành để tạo tính thống nhất giữa BLDS với các văn bản luật chuyên ngành. Các nhà làm luật nên bổ sung thêm các quy định về khái niệm vật cũng như đưa ra các giải thích cụ thể để làm rõ hơn bản chất pháp lý của nó. Bên cạnh đó, cần xây dựng khái niệm về giấy tờ có giá theo hướng: trong quan hệ pháp luật dân sự thì giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản được hiểu là chứng chỉ xác nhận quyền tài sản của một chủ thể xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác, trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự. Ngoài ra, đối với quyền tài sản thì cần xây dựng nó như một đối trọng của quyền nhân thân. Quyền có thể chuyển giao được cho người khác thì không phải là quyền nhân thân. 2.2 Vấn đề công nhận “tài sản ảo” là một loại tài sản. Tài sản với tư cách là đối tượng của sở hữu được đề cập lần đầu tiên trong các quy định về tài sản và quyền sở hữu của BLDS Việt Nam. BLDS năm 1995 trước đây cũng như BLDS năm 2005 hiện hành dựa vào tiêu chí tài sản là đối tượng của quyền sở hữu phải trị giá được bằng tiền và có thể đưa vào giao lưu dân sự. Theo Điều 172 BLDS 1995: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”. Đến BLDS năm 2005 khái niệm tài sản đã được hoàn thiện thêm một bước góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng pháp luật. Theo Điều 163 BLDS 2005: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Mặc dù, BLDS 2005 đã quy định cụ thể khái niệm tài sản tuy nhiên trên thực tế xoay quanh vấn đề tài sản vẫn còn nhiều vướng mắc. Một trong những vấn đề được đề cập nhiều trong thời gian gần đây là : có nên thừa nhận tài sản ảo là một loại tài sản hay không và cơ chế pháp lý điều chỉnh những giao dịch phát sinh từ đối tượng này như thế nào. Tài sản ảo được nói đến ở đây là trong trò chơi trực tuyến (online games). Tài sản ảo là một thuật ngữ xuất hiện cùng với sự phát triển của trò chơi trực tuyến. Đối chiếu với pháp luật hiện hành của nước ta hiện nay, tài sản ảo không phải là thuật ngữ pháp lý mà nó chỉ là cách gọi thông dụng của những người tham gia online games và các nhà nghiên cứu. Để xác định tài sản ảo là một loại tài sản cần phải xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau. Cụ thể: Về tính pháp lý: Tài sản ảo là một khái niệm rất rộng như tên miền internet, địa chỉ hộp thư điện tử, các loại tài khoản Game Online,… phổ biến nhất là tài sản ảo trong trò chơi trực tuyến, tên miền. Tiếp cận theo nghĩa hẹp, tài sản ảo là các đối tượng ảo trong thế giới ảo, còn theo nghĩa rộng thì tài sản ảo được hiểu là những tài nguyên trên mạng máy tính được xác định giá trị bằng tiền và có thể chuyển giao trong các giao dịch dân sự. Khái niệm này được tiếp cận thông qua tư duy lý luận về quyền tài sản. Con người không thể thông qua các giác quan của mình để tiếp cận được với quyền tài sản nên quyền tài sản không tạo cho mọi người khả năng tiếp cận mang tính vật thể mà cần phải xác định loại tài sản này thông qua giá trị thể hiện bằng tiền. Nhờ thông qua giá trị bằng tiền của quyền tài sản mà chúng ta có thể tiếp cận và tạo nên khả năng cảm nhận đầy đủ các quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản ảo, đó là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Điều đó cho thấy, tài sản ảo có bản chất “rất gần” với quyền tài sản và do đó việc thừa nhận nó như một loại tài sản cũng là hợp lý. Về bản chất: Tài sản ảo (cung, kiếm, áo giáp ảo, tiền ảo …) chỉ là hình ảnh thể hiện ra bên ngoài, mà bên trong chính là thông tin tồn tại dưới dạng các đoạn mã máy tính. Các đoạn mã khác nhau tạo nên những loại tài sản ảo khác nhau. Chính vì vậy, tài sản ảo cũng có sự thống nhất của tính chất nội tại và hình ảnh bên ngoài như bất kỳ tài sản thông thường nào khác. Tuy nhiên, do các đoạn mã máy tính không tồn tại độc lập hoàn toàn nên không thể thực hiện quyền chiếm hữu như tài sản thông thường mà chỉ có thể thực hiện được quyền này thông qua giá trị bằng tiền của tài sản ảo đó. Điều này về bản chất không khác với quyền sở hữu trí tuệ (có tính vô hình) đã được thừa nhận là một loại quyền tài sản. Tương tự như vậy, việc thừa nhận tài sản ảo là các đoạn mã ghi nhận quyền của người chơi sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo hộ và khai thác các lợi ích của tài sản ảo, đồng thời giải quyết được nhiều vấn đề về tài nguyên mạng đã gây tranh chấp hiện nay. Về giá trị: Tài sản ảo có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng vì nó đáp ứng những nhu cầu của con người. Game online đáp ứng nhu cầu về giải trí; tên miền cung cấp một hình thức đại diện cho doanh nghiệp, cơ quan, thương hiệu,… Trong thực tế, các giao dịch liên quan đến “tài sản ảo” được thực hiện khá phổ biến, mặc dù pháp luật không chính thức thừa nhận và bảo hộ loại tài sản này là đối tượng của giao dịch dân sự nhưng giá trị của các loại tài sản ảo này là rất lớn có thể trị giá hàng chục, hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng. Ví dụ như trò chơi Game online với tên gọi “Dự án Entropia” được tạo ra ở Thụy Điển với nội dung xây dựng thế giới mới tại hành tinh Calipso và những người chơi đóng vai trò là những cư dân. Cuộc sống mới trên hành tinh này mô phỏng cuộc sống thật trên trái đất và mọi giao dịch thực hiện bằng đô la ảo với giá trị 10 đô la ảo = 1 đô la thật. Mối liên hệ giữa cuộc sống ảo và thực thông qua mối quan hệ tiền tệ dần xóa bỏ tính “ảo” của tài sản trong trò chơi khiến nó thực như bất cứ tài sản nào khác trên trái đất. Việc thừa nhận tài sản ảo là tài sản trong BLDS sẽ giải quyết được các vấn đề còn vướng mắc trên thực tế như sau: + Tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xác định các giao dịch liên quan đến tài sản ảo với tư cách là tài sản trong giao dịch dân sự để có thể xác lập quyền sở hữu. + Tạo cơ sở để giải quyết các hành vi phạm tội đối với tài sản ảo khi các vụ án hình sự đối với hành vi trộm cắp, lừa đảo tài sản ảo ngày càng gia tăng. Công nhận tài sản ảo là một xu hướng mới, do đó, vấn đề này cũng còn gặp phải rất nhiều tranh cãi trên thực tế. Tuy nhiên, đây là một đòi hỏi của thực tế cuộc sống, dù muốn hay không thì các giao dịch về tài sản ảo vẫn diễn ra. Trên thế giới, các nước cũng chưa chính thức thừa nhận tài sản ảo trên các văn bản pháp luật, nhưng đã có những hành vi thực tế để dần “luật hóa” tài sản ảo, đó là: Thụy Điển chính thức tuyên bố khẳng định sự hiện diện ngoại giao của mình trong thế giới ảo (trò chơi Second Life), Công ty truyền thông Linchtenstein Creative Media ở Cambridge (Mỹ) thực hiện chương trình truyền thông định kỳ phát sóng trực tuyến cho cộng đồng ảo mỗi tuần 1 giờ từ tháng 82006 với trên 250 lần phát sóng,… Với tốc độ phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin hiện nay, việc thừa nhận tài sản ảo là cần thiết và phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới. Xét từ tình hình thực tiễn và dựa vào những vấn đề lý luận của tài sản có thể giải quyết “tài sản ảo” hướng áp dụng vào Điều 163 và Điều 181 BLDS 2005, như sau: Xác lập “tài sản ảo” là một quyền tài sản và giải thích theo Điều 181 BLDS 2005. Tài sản ảo có thể trị giá được bằng tiền theo quy luật cung cầu. Để tiếp cận tài sản ảo theo hướng quyền tài sản thì cần quy định khung pháp lý chặt chẽ về vấn đề này. Vì hiện nay, người chơi không có quyền sở hữu hoàn chỉnh, quyền chiếm hữu không thuộc về người chơi vì nó nằm trong hệ thống máy chủ của nhà cung cấp trò chơi, quyền định đoạt cũng không có vì quyết định thời hạn cung cấp phần mềm trò chơi thuộc nhà sản xuất cũng như nhà cung cấp, người chơi chỉ có quyền sử dụng đối với trò chơi. Do vậy, cần thiết nên quy định những ràng buộc nhất định giữa người chơi với nhà cung cấp và nhà sản xuất. Bên cạnh đó, quyền định đoạt đối với tài sản ảo cũng là một vấn đề cần quan tâm để bảo vệ quyền lợi cho người sở hữu loại tài sản này. C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Chế định tài sản là một vấn đề cốt lõi trong pháp luật dân sự, các nhà làm luật, các nhà nghiên cứu cũng như các tổ chức, pháp nhân, cá nhân công dân cần có những nghiên cứu, nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc về vấn đề này. Có sự kiểm tra, nhìn nhận ra những khuyết điểm, hạn chế và mở rộng, bổ sung hợp lý, đúng đắn, chính xác về chế định tài sản trong pháp luật Việt Nam, nói chung và BLDS nói riêng thì mới mong có sự phù hợp với thực tiễn xã hội hiện nay và góp phần to lớn trong sự phát triển chung của nền kinh tế xã hội, đảm bảo sự thúc đẩy lưu thông dân sự và đi lên của cuộc sống, xã hội con người.
Xem thêm

34 Đọc thêm

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN THẾ CHẤP TẠI NGÂN HÀNG VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN THẾ CHẤP TẠI NGÂN HÀNG VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG

trung như vậy, nhằm để chuyên môn hóa, cụ thể hơn về công việc. Và đặc biệtnhằm hạn chế được những rủi ro cho ngân hàng.Cơ cấu tổ chức trong các phòng, trung tâm thường bao gồm: Trưởngphòng, Giám đốc trung tâm: là người đứng đầu, phụ trách chung các công việccủa phòng, trung tâm; Các tổ trưởng, trưởng bộ phận và cán bộ định giá: trựctiếp thực hiện công tác định giá; Văn thư là đầu mối tiếp nhận hồ sơ đề nghị địnhgiá từ các đơn vị kinh doanh, thực hiện việc lưu trữ hồ sơ, tài liệu liên quan.Các cán bộ định giá là những người có trình độ, nghiệp vụ, kinh nghiệpdày dặn trong công tác định giá, khả năng nhạy bén, am hiểu về thị trường bấtđộng sản. Đảm bảo cho quá trình thực hiện nhanh chóng, hiệu quả, chính xác,giảm thiểu được rủi ro cho ngân hàng.1.2.3.3 Phương pháp định giá bất động sản thế chấpViệc lựa chọn phương pháp định giá phụ thuộc vào mục đích định giá, loạibất động sản thế chấp và các thông tin thu thập được trên thị trường. Có nămphương pháp định giá nhưng trên thực tế sử dụng chủ yếu bốn phương pháp:phương pháp so sánh, phương pháp chi phí, phương pháp thu nhập và phươngpháp thặng dư. Phương pháp so sánh trực tiếp.Khái niệm và cơ sở lý luận.- Phương pháp so sánh trực tiếp được xây dựng chủ yếu dựa trên việc tuânthủ nguyên tắc thay thế, đó là: một người mua thận trọng sẽ không bỏ ra một sốtiền nào đó nếu anh ta tốn ít tiền hơn mà vẫn có được tài sản tương đương đểthay thế.- Theo nguyên tắc này, giá trị tài sản mục tiêu được coi là hoàn toànngang bằng với giá trị của những tài sản tương đương có thể so sánh được.24Như vậy, xét về mặt kỹ thuật, theo phương pháp này người ta không cần phải
Xem thêm

105 Đọc thêm

báo cáo bộ luật dân sự

BÁO CÁO BỘ LUẬT DÂN SỰ

Khái niệm: Luật dân sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật dân sự do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản và các quan hệ thân nhân phi tài sản hoặc có liên quan đến tài sản của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác dựa trên nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lý, quyền tự định đoạt, quyền khởi kiện dân sự và trách nhiệm tài sản của những người tham gia quan hệ đó. 1, Đối tượng điều chỉnh Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là những quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân trong quá trình sản suất, phân phối, lưu thông tiêu dùng, các sản phẩm hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của các thành viên trong xã hội. 1.1, Quan hệ tài sản Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản dưới dạng tư liệu sản xuất, một tư liệu tiêu dùng hoặc dịch vụ nhằm tạo ra một tài sản nhất định. Tài sản trong luật dân sự Việt Nam được hiểu theo nghĩa rộng gồm: tài sản, quyền về tài sản, nghĩa vụ về tài sản. VD: Sau khi kết hôn thì chồng và vợ có mối quan hệ tài sản chung. 1.2, Quan hệ nhân thân Là quan hệ giữa người với người không mang tính kinh tế không tính được thành tiền nó phát sinh do một giá trị tinh thần gắn liền với một người hoặc một tổ chức và không chuyển dịch được VD: Quan hệ anh em, cô dì chú bác.
Xem thêm

33 Đọc thêm

Quyền tiếp cận thông tin về tài sản, giao dịch bảo đảm trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng ở Việt Nam

QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN VỀ TÀI SẢN, GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRONG LĨNH VỰC TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM

Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn liên quan đến quyền tiếp cận thông tin, quá trình công khai hóa tình trạng pháp lý của tài sản, giao dịch bảo đảm trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng ở Việt Nam, qua đó bài viết đưa ra một số giải pháp công khai hóa thông tin về tài sản, giao dịch bảo đảm như là một cơ chế phòng ngừa rủi ro đối với các tổ chức tín dụng, ngân hàng ở Việt Nam.

7 Đọc thêm

Tăng cường công tác huy động vốn tại ngân hàng TMCP công thương việt nam – chi nhánh thái bình”

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH THÁI BÌNH”

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Cơ sở lý luận về huy động vốn trong NHTM. 1.1.1. Hoạt động kinh doanh của NHTM trong nền kinh tế hiện nay 1.1.1.1. Khái niệm về NHTM Thuật ngữ ngân hàng xuất hiện từ rất lâu đời, bắt nguồn từ yêu cầu giữ hộ tiền của những nhà tư bản phương Tây. Cho đến nay, ngân hàng ngày càng phát triển lớn mạnh với rất nhiều loại hình khác nhau cùng những chức năng riêng biệt để phục vụ cho sự phát triển không ngừng của nền kinh tế. Nhận biết được tầm quan trọng của hoạt động ngân hàng, các quốc gia phát triển trên thế giới đã đưa ra những khái niệm cũng như quy định về hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng. Cụ thể: Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Theo định nghĩa của Peter S.Rose thì “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Ở Việt Nam, hệ thống ngân hàng hình thành và phát triển trên 20 năm, trên cơ sở nền tảng pháp lý ban đầu gồm 2 Pháp lệnh: Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính (có hiệu lực từ 1101990) và từ 1997 đến nay là các bộ Luật về Ngân hàng. Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 472010QH12 ngày 1662010, có hiệu lực từ ngày 01012011: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. 1.1.1.2. Chức năng của NHTM Chức năng trung gian tín dụng: đây là chức năng được xem là quan trọng nhất của NHTM. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người cho vay. Chức năng thanh toán: NHTM thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản của họ để thanh toán tiền hàng, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Chức năng “tạo tiền” cho nền kinh tế: tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện được chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. 1.1.1.3. Hoạt động chủ yếu của NHTM a. Hoạt động huy động vốn NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau: Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại hình tiền gửi khác. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Vay vốn của các TCTD khác hoạt động tại Việt Nam, các TCTD nước ngoài. Vay vốn ngắn hạn của NHNN. Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN. b. Hoạt động cấp tín dụng Cho vay: NHTM được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức: + Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. + Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. + Cho vay thấu chi: mỗi khách hàng được cấp một hạn mức thấu chi khi khách hàng tạm thời thiếu hụt trong thanh toán, khách hàng không cần phải thế chấp. + Cho vay theo hạn mức tín dụng: ngân hàng cấp một hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong khoảng thời gian nhất định mà khách hàng và ngân hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. + Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: ngoài hạn mức tín dụng cấp ban đầu, ngân hàng áp dụng hạn mức tín dụng dự phòng khi khách hàng không có đủ vốn vì mức vốn đầu tư cho dự án, nhu cầu tiêu dùng, kinh doanh tăng thêm… Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu … bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và GTCG ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể chiết khấu các thương phiếu và GTCG ngắn hạn khác đối với các TCTD khác. Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng theo Nghị định của Chính phủ. Bao thanh toán: NHTM thực hiện bao thanh toán như một hình thức cấp tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp như: Bao thanh toán truy đòi, miễn truy đòi, ứng trước hay bao thanh toán chiết khấu, bao thanh toán khi đáo hạn trong phạm vi buôn bán nội địa lẫn quốc tế. Tài trợ xuất nhập khẩu: Mở LC thanh toán hàng nhập khẩu; Cho vay ứng trước một phần để thanh toán cho người bán hay ứng trước tiền thuế xuất nhập khẩu; Cho vay thu mua hàng xuất khẩu, nguyên vật liệu, cho vay đầu tư, bảo trì máy móc thiết bị, nhà xưởng ở nước ngoài; Bảo lãnh và tái bảo lãnh việc thanh toán hối phiếu khi đến hạn; Chấp nhận hối phiếu, chiết khấu hối phiếu, chứng từ thanh toán LC. c. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM gồm: Cung cấp phương tiện thanh toán; Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng; Thu hộ, chi hộ; Các dịch vụ thanh toán khác theo qui định của NHNN; Tham gia, thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép; Thu và phát tiền mặt cho khách hàng; Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng. d. Các hoạt động khác Góp vốn và mua cổ phần: NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các TCTD khác trong nước; góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh. Tham gia thị trường tiền tệ: NHTM được tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN, thông qua hình thức mua bán các công cụ thị trường tiền tệ. Kinh doanh ngoại hối: NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước, quốc tế. Ủy thác và nhận ủy thác: NHTM được ủy thác và nhận ủy thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý. Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm. Tư vấn tài chính: NHTM được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn trực thuộc ngân hàng. Bảo quản vật quý giá: NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý, GTCG, cho thuê tủ két sắt, cầm đồ và các dịch vụ có liên quan. 1.1.2. Vốn huy động và công tác huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. 1.1.2.1. Khái niệm về vốn huy động. Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, nguồn tài nguyên to lớn nhất và quan trọng nhất của NHTM. Huy động vốn được coi là hoạt động cơ bản, có tính chất sống còn đối với bất kỳ một NHTM nào, vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu của các NHTM. Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau. Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 472010QH12 ngày 1662010, có hiệu lực từ ngày 01012011, NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau đây: Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài. Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật. 1.1.2.2. Vai trò của huy động vốn a. Đối với nền kinh tế Hệ thống NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Trong suốt quá trình vận hành của mình, nền kinh tế luôn xảy ra tình trạng có nơi thừa vốn và cũng có nơi thiếu vốn. Thông qua hoạt động huy động vốn, hệ thống ngân hàng tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của xã hội, biến tiền nhàn rỗi từ chỗ là phương tiện tích lũy trở thành nguồn vốn lớn của nền kinh tế. Nguồn vốn huy động giúp cho các doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn, đẩy nhanh hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ và thu hồi vốn giúp gia tăng tốc độ quay vòng vốn, tăng số vòng quay, mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp và từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển hơn. Không những vậy, huy động vốn còn là kênh thông thương giữa nền kinh tế trong nước và nền kinh tế thế giới: thông qua hoạt động huy động vốn của các NHTM, thu hút nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới sẽ tham gia vào nền kinh tế trong nước, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước trên cơ sở các bên cùng có lợi. Ngoài việc thu hút tiền nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư phát triển bên cạnh đó hoạt động huy động vốn còn là công cụ giúp NHNN kiểm soát khối lượng tiền tệ trong lưu thông qua việc sử dụng chính sách tiền tệ (tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, …). Như vậy, có thể thấy được tầm quan trọng của nguồn vốn huy động đối với nền kinh tế, tác động trực tiếp lên mối quan hệ tích lũy và tiêu dùng. Việc đẩy mạnh hoạt động huy động vốn cho đầu tư phát triển và điều hành chính sách tiền tệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong điều kiện của nước ta hiện nay. b. Đối với Ngân hàng thương mại Huy động vốn là hoạt động nền tảng và quan trọng trong hoạt động của NHTM. Mặc dù không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng nó là yếu tố chính giúp NHTM thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. NHTM khi được cấp phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định, tuy nhiên vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định, cơ sở vật chất… cần thiết cho hoạt động chứ chưa đủ vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác. Nghiệp vụ huy động vốn, do vậy, có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng. Mặt khác, thông qua hoạt động huy động vốn, NHTM có thể đo lường được uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng, từ đó gia tăng thị phần, quy mô hoạt động cũng như nâng cao vị thế của ngân hàng trên thị trường. Do đó, NHTM không ngừng hoàn thiện và phát triển hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. c. Đối với khách hàng Huy động vốn cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lời, có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai mà không tốn nhiều thời gian, công sức; Là nơi an toàn để cất giữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi. Có thể nói gửi tiền qua ngân hàng là kênh đầu tư có rất ít rủi ro. Ngoài ra, hoạt động huy động vốn giúp cho khách hàng tiếp cận với các dịch vụ khác của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng với các giá trị gia tăng kèm theo và dịch vụ cấp tín dụng cho sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng. Thông qua huy động vốn, NHTM là trung gian giúp khách hàng chuyển vốn từ nơi thặng dư sang nơi thiếu hụt vốn một cách kịp thời với chi phí tương đối thấp so với việc sử dụng các nguồn vốn khác như phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc vay từ các tổ chức khác.
Xem thêm

106 Đọc thêm

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH KIÊN GIANG

MỞ ĐẦU 1. Ý nghĩa chọn đề tài 8 2. Mục tiêu nghiên cứu 9 3. Phương pháp nghiên cứu 9 4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 11 5. Đóng góp mới của chuyên đề 11 6. Bố cục của chuyên đề 11 Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 12 1.1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG 12 1.1.1 Khái niệm tín dụng 12 1.1.2 Bản chất, chức năng, vai trò của tín dụng 12 1.1.2.1 Bản chất của tín dụng 13 1.1.2.2 Chức năng của tín dụng 13 1.1.2.3 Vai trò của tín dụng 13 1.1.3 Các hình thức tín dụng 14 1.1.4 Các nguyên tắc của tín dụng 22 1.1.5 Các hình thức bảo đảm tín dụng 23 1.1.5.1 Cầm cố 24 1.1.5.2 Thế chấp 24 1.1.5.3 Bảo lãnh 24 1.2 TÍN DỤNG NGẮN HẠN 25 1.2.1 Khái niệm 25 1.2.2 Phân loại tín dụng ngắn hạn 25 1.2.2.1 Tín dụng ứng trước 25 1.2.2.2 Cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền 28 1.2.2.3 Tín dụng bằng chữ ký của ngân hàng 29 1.2.3 Vai trò của tín dụng ngắn hạn 29 1.2.3.1 Đối với nền kinh tế 29 1.2.3.2 Đối với các doanh nghiệp 30 1.2.3.3 Đối với ngân hàng 31 1.2.4 Các quy định trong hoạt động tín dụng ngắn hạn 31 1.2.4.1 Nguyên tắc tín dụng 31 1.2.4.2 Điều kiện vay vốn 31 1.2.4.3 Thời hạn cho vay 32 1.2.4.4 Lãi suất cho vay 32 1.2.4.5 Mức cho vay 32 1.3 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 33 1.3.1 Khái niệm 33 1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng ngắn hạn của Ngân Hàng Thương Mại 35 1.3.2.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng 35 1.3.2.2 Các nhân tố thuộc về khách hàng 36 1.3.2.3 Các nhân tố thuộc về môi trường 37 1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng 38 1.3.3.1 Dư nợ trên vốn huy động 38 1.3.3.2 Vòng quay vốn tín dụng 38 1.3.3.3 Tỷ lệ nợ quá hạn 38 1.3.3.4 Doanh số thu nợ trên doanh số cho vay 39 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH KIÊN GIANG 40 2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH KIÊN GIANG 40 2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 40 2.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng 41 2.1.2.1 Sơ đồ tổ chức 41 2.1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban 42 2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Kiên Giang (năm 2011 đến 2013) 44 2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG HÀNG NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH KIÊN GIANG 48 2.2.1 Tình hình huy động vốn 48 2.2.2 Tình hình sử dụng vốn 52 2.2.3 Hiệu quả hoạt động tín dụng ngắn hạn 54 2.2.4 Đánh giá hoạt động tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Kiên Giang 56 2.2.4.1 Những kết quả đạt được 56 2.2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 56 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH KIÊN GIANG 60 3.1 ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH KIÊN GIANG 60 3.1.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng 60 3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Kiên Giang 60 3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH KIÊN GIANG 61 3.2.1 Giải pháp nghiệp vụ 61 3.2.2 Giải pháp hỗ trợ 64 3.3 KIẾN NGHỊ 67 3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 67 3.3.2 Kiến nghị với Hội sở Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn VN 68 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 70 KẾT LUẬN 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Xem thêm

73 Đọc thêm

Nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiên nay

Nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiên nay

Pháp luật có vai trò vô cùng lớn nên xây dựng pháp luật cũng là một hoạt động cơ bản, không thể thiếu của nhà nước. Để tổ chức và quản lí các lĩnh vực quan trọng, khác nhau của đời sống xã hội được tốt, nhà nước phải tiến hành xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh làm cơ sở pháp lí cho việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan, nhân viên nhà nước, các tổ chức xã hội khác và sự ứng xử của các cá nhân trong toàn xã hội. Vì hoạt động xây dựng pháp luật là quá trình phức tạp nên nó phải có những nguyên tắc nhất định như: nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nguyên tắc khách quan, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc đảm bảo sự hài hòa về lợi ích giữa các lực lượng xã hội.
Xem thêm

Đọc thêm

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DƯ ÁN ĐẦU TƯ VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH HƯƠNG SƠN

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DƯ ÁN ĐẦU TƯ VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH HƯƠNG SƠN

LỜI MỞ ĐẦU Trong bối cảnh thực hiện công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá, nền kinh tế nước ta đòi hỏi cần có một khối lượng vốn rất lớn. Điều đó tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại thực hiện vai trò “trung gian tài chính” của mình. Tuy nhiên trong một vài năm gần đây các hoạt động của ngân hàng có xu hướng chững lại và xuất hiện tình trạng ứ đọng vốn trong khi các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế lại đang nằm trong tình trạng thiếu vốn để tổ chức sản xuất và thực hiện các dự án. Nguyên nhân của tình trạng trên thì rất nhiều nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu đó là chất lượng của công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại các ngân hàng chưa được quan tâm một cách đúng mức, hoạt động cho vay còn nặng về trường hợp “ bảo đảm vốn vay bằng tài sản thế chấp”. Khi quyết định cho vay vốn, việc đảm bào an toàn cho nguồn vốn là điều rất quan trọng. Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao hạn chế được rủi ro cho hoạt động tín dụng của ngõn hàng.. Muốn vậy thì những dự án này phải đảm bảo chất lượng, tức là phải làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư, trong đó có việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án. Chính vì vậy, vai trò to lớn của công tác thẩm định tín dụng dự án đầu tư, đặc biệt là thẩm định tài chính dự án đầu tư là không thể phủ nhận được. Qua thời gian thực tập tại NHNo&PTNT chi nhánh Hương Sơn, cùng với sự hướng dẫn tận tỡnh, những gúp ý quý bỏu của cụ giỏo - Ths Hoàng Thị Thu Hà, em đó hoàn thành xong bài chuyờn đề thực tập với đề tài : “Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dư án đầu tư vay vốn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Hương Sơn”
Xem thêm

51 Đọc thêm

Cùng chủ đề