QUAN HỆ SX PHÙ HỢP

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Quan hệ SX phù hợp":

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT (HAY QUY LUẬT QHSX PHẢI PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX). SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC NHƯ THẾ NÀO?

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT (HAY QUY LUẬT QHSX PHẢI PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX). SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC NHƯ THẾ NÀO?

Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (hay quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX). Sự vận dụng quy luật này trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước như thế nào?

33 Đọc thêm

 1PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT QHSXPHẢI PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤTTRÌNH ĐỘ CỦA LLSX

1PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT QHSXPHẢI PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤTTRÌNH ĐỘ CỦA LLSX

Bộ môn: Mác-LêninMôn học: Nguyên lý 1PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT QHSXPHẢI PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤTTRÌNH ĐỘ CỦA LLSXGVHD: Ths.Lê Thị NgaNhóm sinh viên thực hiện:Nhóm 1NỘI DUNGI. KHÁI NIỆM LLSX & QHSX1.LỰC LƯỢNG SẢN XUẤTa) Khái niệmb) Kết cấuc) Đặc điểm2. QUAN HỆ SẢN XUẤTa) Khái niệmb) Kết cấuc) Đặc điểmII. NỘI DUNG CỦA QUY LUẬT QUAN HỆ SX PHÙHỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ CỦA LLSXIII.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬNGVHD: Ths. Lê Thị NgaI. KHÁI NIỆM LLSX & QHSX
Xem thêm

30 Đọc thêm

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Bài tập học kỳ Mác Lênin
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin
Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển đúng hướng của lực lượng sản xuất quyết định. Do đó việc nghiên cứu quy luật vận động và những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất là một vấn đề hết sức quan trọng .

Thời kỳ quá độ lên chủ nghiã xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện và triệt để về mọi mặt. Từ xã hội cũ sang xã hội mới XHCN. Thời kỳ đó bắt đầu từ khi giai cấp vô sản lên nắm chính quyền. Cách mạng vô sản thành công vang dội và kết thúc khi đã xây dựng xong cơ sở kinh tế chính trị tư tưởng của xã hội mới. Đó là thới kỳ xây dựng từ lực lượng sản xuất mới dẫn đến quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới hình thành lên các quan hệ sở hữu mới. Từ cơ sở hạ tầng mới hình thành nên kiến trúc thượng tầng mới. Song trong một thời gian dài chúng ta không nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội về quy luật sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên tính đa dạng hoá các loại hình sở hữu ở Việt Nam từ đó tạo nên tính đa dạng của nền kinh tế nhiền thành phần. Thực tế cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu chứ không đơn thuần là hai hình thức sở hữu trong giai đoạn xưa kia. Vì vậy nghiên cứu “Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận dụng quy luật này ở Việt Nam có vai trò quan trọng mang tính cấp thiết cao vì thời đại ngày nay chính là sự phát triển của nền kinh tế thị trường hàng hoá nhiều thành phần. Nghiên cứu vấn đề này chúng ta còn thấy được ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn của nó hết sức sâu sắc .

NỘI DUNG

I SỰ NHẬN THỨC VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT. 1 Đôi nét về phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

a. Phương thức sản xuất là gì?

Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định. Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Phương thức sản xuất đóng vai trò nhất định đối với tất cả mọi mặt trong đời sống kinh tế xã hội. Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuẩt ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.

b.Lực lượng sản xuất là gì?

Lực lượng sản xuất là mối quan hệ của con người với tự nhiên hình thành trong quá trình sản xuất. Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ khống chế tự nhiên của con người. Đó là kết quả năng lực thực tiễn của con người tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất đảm bảo sự tồn tại và phát triển của loài người.

Trong cấu thành của lực lượng sản xuất, có thể có một vài ý kiến nào đó khác nhau về một số yếu tố khác của lực lượng sản xuất, song suy cho cùng thì chúng đều vật chất hoá thành hai phần chủ yếu là tư liệu sản xuất và lực lượng con người. Trong đó tư liệu sản xuất đóng vai trò là khách thể, còn con người là chủ thể.

Tư liệu sản xuất được cấu thành từ hai bộ phận đó là đối tượng lao động và tư liệu lao động. Thông thường trong quá trình sản xuất phương tiện lao động còn được gọi là cơ sở hạ tầng của nền kinh tế. Trong bất kỳ một nền sản xuất nào công cụ sản xuất bao giờ cũng đóng vai trò là then chốt và là chỉ tiêu quan trọng nhất. Hiện nay công cụ sản xuất của con người không ngừng được cải thiện và dẫn đến hoàn thiện, nhờ thành tựu của khoa học kỹ thuật đã tạo ra công cụ lao động công nghiệp máy móc hiện đại thay thế dần lao động của con người. Do đó công cụ lao động luôn là độc nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất.

Bất kỳ một thời đại lịch sử nào, công cụ sản xuất bao giờ cũng là sản phẩm tổng hợp, đa dạng của toàn bộ những phức hợp kỹ thuật được hình thành và gắn liền với quá trình sản xuất và phát triển của nền kinh tế. Nó là sự kết hợp của nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất và trực tiếp nhất là trí tuệ con người được nhân lên trên cơ sở kế thừa nền văn minh vật chất trước đó.

Nước ta là một nước giàu tài nguyên thiên nhiên, có nhiều nơi mà con người chưa từng đặt chân đến nhưng nhờ vào tiến bộ của KHKT và quá trình công nghệ tiên tiến con người có thể tạo ra được sản phẩm mới có ý nghĩa quyết định tới chất lượng cuộc sống và giá trị của nền văn minh nhân loại. Chính việc tìm kiếm ra các đối tượng lao động mới sẽ trở thành động lực cuốn hút mọi hoạt động cuả con người.

Tư liệu lao động dù có tinh sảo và hiện đại đến đâu nhưng tách khỏi con người thì nó cũng không phát huy tác dụng của chính bản thân. Chính vậy mà Lê Nin đã viết: “ lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động “. Người lao động với những kinh nghiệm, thói quen lao động, sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất. Tư liệu sản xuất với tư cách là khách thể của LLSX, và nó chỉ phát huy tác dụng khi nó được kết hợp với lao động sống của con người . Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: “ Sự nghiệp phát triển kinh tế đặt con người lên vị trí hàng đầu, vị trí trung tâm thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng khoa học và tiến bộ xã hội”.

Người lao động với tư cách là một bộ phận của lực lượng sản xuất xã hội phải là người có thể lực, có tri thức văn hoá, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm và thói quen tốt, phẩm chất tư cách lành mạnh, lương tâm nghề nghiệp và trách nhiệm cao trong công việc. Trước đây do chưa chú trọng đúng mức đến vị trí của người lao động, chúng ta chưa biết khai thác phát huy mọi sức mạnh của nhân tố con người. Đành rằng năng lực và kinh nghiệm sản xuất của con người còn phụ thuộc vào những tư liệu sản xuất hiện có mà họ đang sử dụng. Nhưng tích cực sáng tạo của họ đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

c. Quan hệ sản xuất là gì?

Quan hệ sản xuất là phạm trù triết học chỉ quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất và quan hệ về phân phối các sản phẩm làm ra… Quan hệ sản xuất do con người tạo ra nhưng sự hình thành và phát triển một cách khách quan không phụ thuộc vào ý chí con người.

Nếu như quan niệm lực lượng sản xuất là mặt tự nhiên của sản xuất thì quan hệ sản xuất lại là mặt xã hội của sản xuất.

Quan hệ sản xuất gồm có 3 mặt:

+ Quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu (gọi tắt là quan hệ sở hữu)

+ Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức, quản lý xã hội và trao đổi hoạt động cho nhau (gọi tắt là quan hệ tổ chức, quản lý).

+ Quan hệ giữa người với người trong phân phối, lưu thông sản phẩm làm ra (gọi tắt là quan hệ phân phối lưu thông)

Trong ba mặt của quan hệ sản xuất thì quan hệ sử hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu là quan hệ cơ bản và đặc trưng cho từng xã hội. Quan hệ về sở hữu quyết định

quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối các sản phẩm làm ra.

Trong cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất vấn đề quan trọng mà Đại hội VI nhấn mạnh là phải tiến hành cả ba mặt đồng bộ: chế độ sở hữu, chế độ quản lý và chế độ phân phối không nên coi trọng một mặt nào cả về mặt lý luận, không nghi ngờ gì rằng: chế độ sở hữu là nền tảng quan hệ sản xuất. Nó là đặc trưng để phân biệt chẳng những các quan hệ sản xuất khác nhau mà còn các thời đại kinh tế khác nhau trong lịch sử như mức đã nói.

Thực tế lịch sử cho thấy rõ bất cứ một cuộc cách mạng xã hội nào đều mang một mục đích kinh tế là nhằm bảo đảm cho lực lượng sản xuất có điều kiện tiếp tục phát triển thuận lợi và đời sống vật chất của con người cũng được cải thiện. Đó là tính lịch sử tự nhiên của các quá trình chuyển biến giữa các hình thái kinh tế xã hội trong quá khứ và cũng là tính lịch sử tự nhiên của thời kỳ quá độ từ hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Và xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất của sở hữu cũng quyết định tính chất của quản lý và phân phối. Mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chúng khong đối lập mà còn phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của chế độ kinh tế xã hội mới.

Nếu suốt trong quá khứ, đã không có một cuộc chuyển biến nào từ hình thái kinh tế xã hội sang hình thái kinh tế xã hội khác hoàn toàn là một quá trình tiến hoá êm ả, thì thời kỳ quá độ từ hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa hoặc trước tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa (CSCN) trong thời đại ngày nay càng không thể là một quá trình êm ả. Chủ nghĩa Mác Lênin chưa bao giờ coi hình thái kinh tế xã hội nào đã tồn tại kể từ trước đến nay là chuẩn nhất. Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội cùng với một quan hệ sản xuất thống trị, điển hình còn tồn tại những quan hệ sản xuất phụ thuộc, lỗi thời như là tàn dư của xã hội cũ. Ngay ở cả các nước tư bản chủ nghĩa phát triển nhất cũng không chỉ có một quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thuần nhất. Tất cả các tình hình trên đều bắt nguồn từ phát triển không đều về lực lượng sản xuất không những giữa các nước khác nhau mà còn giữa các vùng và các ngành khác nhau của một nước. Việc chuyển từ quan hệ sản xuất lỗi thời lên cao hơn như C.Mác nhận xét: Không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi... phải có một thời kỳ lịch sử tương đối lâu dài mới có thể tạo ra điều kiện vật chất trên.

2 Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

a. Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mâu thuẫn hay phù hợp.

Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị năm 1859 C.Mác viết Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất. Những qui luật này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ... Người ta thường coi tư tưởng này của Mác là tư tưởng về Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.

Cho đến nay hầu như qui luật này đã được khẳng định cũng như các nhà nghiên cứu triết học Mác xít. Khái niệm phù hợp được hiểu với nghĩa chỉ phù hợp mới tốt, mới hợp qui luật, không phù hợp là không tốt, là trái qui luật. Có nhiều vấn đề mà nhiều lĩnh vực đặt ra với từ phù hợp này. Các mối quan hệ trong sản xuất bao gồm nhiều dạng thức khác nhau mà nhìn một cách tổng quát thì đó là những dạng quan hệ sản xuất và dạng những lực lượng sản xuất từ đó hình thành những mối lien hệ chủ yếu cơ bản là mối liên hệ giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Nhưng mối liên hệ giữa hai yêu tố cơ bản này là gì? Phù hợp hay không phù hợp. Thống nhất hay mâu thuẫn? Trước hết cần xác định khái niệm phù hợp với các ý nghĩa sau.

Phù hợp là sự cân bằng, sự thống nhất giữa các mặt đối lập hay sự yên tính giữa các mặt.

Phù hợp là một xu hướng mà những dao động không cân bằng sẽ đạt tới.

Trong phép biện chứng sự cân bằng chỉ là tạm thời và sự không cân bằng là tuyệt đối. Chính đâylà nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển . Ta biết rằng trong phép biện chứng cái tương đối không tách khỏi cái tuyệt đối nghĩa là giữa chúng không có mặt giới hạn xác định. Nếu chúng ta nhìn nhận một cách khác có thể hiểu sự cân bằng như một sự đứng im, còn sự không cân bằng có thể hiểu như sự vận động. Tức sự cân bằng trong sản xuất chỉ là tạm thời còn không cân bằng không phù hợp giữa chúng là tuyệt đối. Chỉ có thể quan niệm được sự phát triển chừng nào người ta thừa nhận tính chân lý vĩnh hằng của sự vận động. Cũng vì vậy chỉ có thể quan niệm được sự phát triển chừng nào người ta thừa nhận, nhận thức được sự phát triển trong mâu thuẫn của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chừng nào ta thừa nhận tính vĩnh viễn không phù hợp giữa chúng.

Từ những lý luận đó đi đến thực tại nước ta cũng vậy với quá trình phát triển lịch sử lâu dài của mình từ thời đồ đá đến nay thời văn minh hiện đại. Nước ta đi từ sự không phù hợp hay sự lạc hậu từ trước lên đến nay nền văn minh đất nước. Tuy nhiên quá trình vận động và phát triển của sản xuất là quá trình đi từ sự không phù hợp đến sự phù hợp, nhưng trạng thái phù hợp chỉ là sự tạm thời, ngắn ngủi, ý muốn tạo nên sự phù hợp vĩnh hằng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất là trái tự nhiên, là thủ tiêu cái không thủ tiêu được, tức là sự vận động.

Tóm lại, có thể nói thực chất của qui luật về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là qui luật mâu thuẫn. Sự phù hợp giữa chúng chỉ là một cái trục, chỉ là trạng thái yên tĩnh tạm thời, còn sự vận động, dao động sự mâu thuẫn là vĩnh viễn chỉ có khái niệm mâu thuẫn mới đủ khả năng vạch ra động lực của sự phát triển mới có thể cho ta hiểu được sự vận động của qui luật kinh tế.

b. Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Tất cả chúng ta đều biết, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt hợp thành của phương thức sản xuất có tác động qua lại biện chứng với nhau. Việc đẩy quan hệ sản xuất lên quá xa so với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một hiện tượng tương đối phổ biến ở nhiều nước xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nguồn gốc của tư tưởng sai lầm này là bệnh chủ quan, duy ý chí, muốn có nhanh chủ nghĩa xã hội thuần nhất bất chấp qui luật khách quan. Về mặt phương pháp luận, đó là chủ nghĩa duy vật siêu hình, quá lạm dụng mối quan hệ tác động ngược lại của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự lạm dụng này biểu hiện ở Nhà nước chuyên chính vô sản có khả năng chủ động tạo ra quan hệ sản xuất mới để mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Nhưng khi thực hiện người ta đã quên rằng sự chủ động không đồng nghĩa với sự chủ quan tuỳ tiệ, con người không thể tự do tạo ra bất cứ hình thức nào của quan hệ sản xuất mà mình muốn có. Ngược lại quan hệ sản xuất luôn luôn bị qui định một cách nghiêm ngặt bởi trạng thái của lực lượng sản xuất, bởi quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất chỉ có thể mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển khi mà nó được hoàn thiện tất cả về nội dung của nó, nhằm giải quyết kịp thời những mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.

+ Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành biến đổi của quan hệ sản xuất: lực lượng sản xuất là cái biến đổi đầu tiên và luôn biến đổi trong sản xuất con người muốn giảm nhẹ lao động nặng nhọc tạo ra năng suất cao phải luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động. Chế tạo ra công cụ lao động mới. Lực lượng lao động qui định sự hình thành và biến đổi quan hệ sản xuất ki quan hệ sản xuất không thích ứng với trình độ, tính chất của lực lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất và ngược lại.

+ Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất khi đã được xác lập thì nó độc lập tương đối với lực lượng sản xuất và trở thành những cơ sở và những thể chế xã hội và nó không thể biến đổi đồng thời đối với lực lượng sản xuất. Thường lạc hậu so với lực lượng sản xuất và nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ sản xuất, tính chất của lực lượng sản xuất thì nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nếu lạc hậu so với lực lượng sản xuất dù tạm thời thì nó kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất vì nó qui định mục đích của sản xuất qui định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, qui định phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng. Do đó nó ảnh hưởng tới thái độ tất cả quần chúng lao động. Nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế sự phát triển công cụ sản xuất, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất hợp tác phân công lao động quốc tế.

II. SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 1 Những sai lầm về quy luật quan hệ sản xuất – lực lượng sản xuất trước kia:

Trong tiến trình lãnh đạo và quản lý đất nước của Đảng và Nhà nước ta trong suốt mấy chục năm qua, thực tiễn cho thấy những mặt được cũng như những mặt cũng như hạn chế trong quá trình nắm bắt và vận dụng các quy luật kinh tế cũng như quy luật quan hệ sản xuất lực lượng sản xuất vào thực tiễn ở nước ta, với đặc điểm của nước ta là Nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, lực lượng sản xuất thấp kém, con trâu đi trước cái cày đi sau, trình độ quản lý thấp cùng với nền sản xuất nhỏ tự cấp, tự túc là chủ yếu. Mặt khác Nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến lại phải trải qua hai cuộc chiến tranh, nhiều năm bị đế quốc Mỹ bao vây cấm vận nhiều mặt, nhất là về kinh tế. Do vậy lực lượng sản xuất chưa có điều kiện phát triển. Sau khi giành được chính quyền, trước yêu cầu xây dựng CNXH trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, Nhà nước ta đã dùng sức mạnh chí trị tư tưởng để xóa bỏ nhanh chế độ tư hữu, chuyển sang chế độ công hữu với hai hình thức toàn dân và tập thể, lúc đó được coi là điều kiện chủ yếu, quyết định, tính chất, trình độ xã hội hoá sản xuất cũng như sự thắng lợi của CNXH ở nước ta. Songtrong thực tế cách làm này đã không mang lại kết quả như mong muốn, vì nó trái quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX, đã để lại hậu quả là:

Thứ nhất: Đối với những người sản xuất nhỏ (nông dân, thợ thủ công, buôn bán nhỏ) thì tư hữu về TLSX là phương thức kết hợp tốt nhất giữa sức lao động và TLSX. Việc tiến hành tập thể nhanh chóng TLSX dưới hình thức cá nhân bị tập trung dưới hình thức sở hữu công cộng, người lao động bị tách khỏi TLSX, không làm chủ được qúa trình sản xuất, phụ thuộc vào lãnh đạo HTX, họ cũng không phải là chủ thể sở hữu thực sự dấn đến TLSX trở thành vô chủ, gây thiệt hại cho tập thể.

Thứ hai: Kinh tế quốc doanh thiết lập tràn lan trong tất cả các ngành. Về pháp lý TLSX cũng thuộc sở hữu toàn dân, người lao động là chủ sở hữu có quyền sở hữu chi phối, định đoạt TLSX và sản phẩm làm ra nhưng thực tế thì người lao động chỉ là người làm công ăn lương, chế độ lương lại không hợp lý không phản ánh đúng số lượng chất lượng lao động của từng cá nhân đã đóng góp. Do đó chế độ công hữu về TLSX cùng với ông chủ của nó trở thành hình thức, vô chủ, chính quyền (bộ, ngành chủ quản) là đại diện của chủ sở hữu là người có quyền chi phối, đơn vị kinh tế mất dần tính chủ động, sáng tạo, mất động lực lợi ích, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả nhưng lại không ai chịu trách nhiệm, không có cơ chế giàng buộc trách nhiệm, nên người lao động thờ ơ với kết quả hoạt động của mình.

Đây là căn nguyên nảy sinh tiêu cực trong phân phối, chỉ có một số người có quyền định đoạt phân phối vật tư, vật phẩm, đặc quyền đặc lợi.

Tuy vậy, trong quá trình lãnh đạo xã hội đẩy mạnh phát triển kinh tế Đang ta đang vận dụng quy luật sao cho quan hệ sản xuất luôn luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất̉, trên thực tế Đ ảng và Nhà nước ta đang từng bước điều chỉnh quan hê san xuât cả tầm vi mô và vĩ mô thời coi trọng việc đẩy mạnh phát triển lưc lương san xuât. Điều đó đã có một tác động tích cực đối với nền kinh tế nước ta.

2 Sự hình thành và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.
Nhìn thẳng vào sự thật chúng ta thấy rằng, trong thời gian qua do quá cường điệu vai trò của quan hệ sản xuất do quan niệm không đúng về mối quan hệ giữa sở hữu và quan hệ khác, do quên mất điều cơ bản là nước ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền tư bản chủ nghĩa. Đồng nhất chế độ công hữu với chủ nghĩa xã hội lẫn lộn đồng nhất giữa hợp tác hoá và tập thể hoá. Không thấy rõ các bước đi có tính qui luật trên con đường tiến lên CNXH nên đã tiến hành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân và xét về thực chất là theo đường lối đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa quan hệ sản xuất đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Thiết lập chế độ công hữu thuần nhất giữa hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Quan niệm cho rằng có thể đưa quan hệ sản xuất đi trước để tạo địa bàn rộng rãi, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển đã bị bác bỏ. Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội này đã mâu thuẫn với những cái phân tích trên.

Nhưng thực ra mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với những hình thức kinh tế xã hội xa lạ được áp đặt một cách chủ quan kinh tế thích hợp cần thiết cho lực lượng sản xuất mới nảy sinh và phát triển. Khắc phục những hiện tượng tiêu cực trên là cần thiết về mặt này trên thực tế chúng ta chưa làm hết nhiệm vụ mình phải làm. Phải giải quyết đúng đắn giữa mâu thuẫn lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất từ đó khắc phục những khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế. Thiết lập quan hệ sản xuất mới với những hình thức và bước đi phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất luôn luôn thúc đâỷ sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao. Trên cơ sở củng cố những đỉnh cao kinh tế trong tay nhà nước cách mạng. Cho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa tư bản và luôn bán tự do rộng rãi có lợi cho sự phát triển sản xuất. Mới đây các nhà báo của nước ngoài phỏng vấn Tổng bí thư Lê Khả Phiêu rằng với một người có bằng cấp về quân sự nhưng không có bằng cấp về kinh tế ông có thể đưa nước Việt Nam tiến lên không, trả lời phỏng vấn Tổng bí thư khẳng định rằng Việt Nam chúng tôi khác với các nước ở chỗ chúng tôi đào tạo một người lính thì người lính ấy phải có khả năng cầm súng và làm kinh tế rất giỏi, và ông còn khẳng định là không chấp nhận Việt Nam theo con đường chủ quan của tư bản, nhưng không phải triệt tiêu tư bản trên đất nước Việt Nam và vẫn quan hệ với chủ nghĩa tư bản trên cơ sở có lợi cho đôi bên và như vậy cho phép phát triển thành phần kinh tế tư bản là sáng suốt. Quan điểm từ đại hội VI cũng đã khẳng định không nhưng khôi phục thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cả thế mà phải phát triển chúng rộng rãi theo chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhưng điều quan trọng là phải nhận thức được vai trò của thành phần kinh tế nhà nước trong thời kỳ quá độ. Để thực hiện vai trò này một mặt nó phải thông qua sự nêu gương về các mặt năng suất, chất lượng và hiệu quả. Thực hiện đầy đủ đối với nhà nước. Đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể thực hiện chính sách khuyến khích phát triển. Tuy nhiên với thành phần kinh tế này phải có những biện pháp để cho quan hệ sản xuất thực hiện phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ. Vì như thế mới thực sự thúc đẩy sự phát triển của lực lượng lao động.

Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, phát triển kinh tế tập trung ở hai lực lượng chính: lực lượng sản xuất của doanh nghiệp nhà nước (thường gọi là quốc doanh, thuộc thành phần kinh tế nhà nước); lực lượng sản xuất ngoài quốc doanh (thường gọi là dân doanh, thuộc kinh tế tư nhân).

Ông bà ta thường nói: muốn biết bơi phải nhảy xuống nước. Còn Lênin, trong tác phẩm Chính sách kinh tế mới và những nhiệm vụ của các Ban giáo dục chính trị, đã viết: “Hoặc là tất cả những thành tựu về mặt chính trị của chính quyền X ô viết sẽ tiêu tan, hoặc là phải làm cho những thành tựu ấy đứng vững trên một cơ sở kinh tế. Cơ sở này hiện nay chưa có. Đấy chính là công việc mà chúng ta cần bắt tay vào làm đúng theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

3 Công nghiệp hoá vận dụng tuyệt vời quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.

Thuộc phạm trù của lực lượng sản xuất và vận động không ngoài biện chứng nội tại của phương thức sản xuất, vấn đề công nghiệp hoá gắn chặt với hiện đại hoá, trước hết phải được xem xét từ tư duy triết học. Trước khi đi vào công nghiệp hoá hiện đại hoá và muốn thành công trên đất nước thì phải có tiềm lực về kinh tế con người, trong đó lực lượng lao động là một yếu tố quan trọng. Ngoài ra phải có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển lực lượng sản xuất đây mới là nhân tố cơ bản nhất.

Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá với tiềm năng lao động lớn cần cù, thông minh, sáng tạo và có kinh nghiệm lao động nhưng công cụ của chúng ta còn thô sơ. Nguy cơ tụt hậu của đất nước ngày càng được khắc phục. Đảng ta đang triển khai mạnh mẽ một số vấn đề của đất nước về công nghiệp hoá hiện đại hoá trước hết trên cơ sở một cơ cấu sở hữu hợp quy luật gắn liền với một cơ cấu các thành phần kinh tế hợp qui luật, cũng như cơ cấu một xã hội hợp giai cấp. Cùng với thời cơ lớn, những thử thách ghê gớm phải vượt qua để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước vì dân giàu nước mạnh công bằng văn minhhãy còn phía trước mà nội dung cơ bản trong việc thực hiện là phải nhận thức đúng đắn về qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong giai đoạn hiện nay của nước ta.

KẾT LUẬN

Đảng ta đã vận dụng sự phù hợp của mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay và tương lai.

Trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã khẳng định là: “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, văn minh”.

Chúng ta đều biết rằng từ trước tới nay công nghiệp hoá hiện đại hoá là khuynh hướng tất yếu của tất cả các nước. Đối với nước ta, từ một nền kinh tế tiểu nông, muốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của một nước phát triển thì tất yếu cũng phải đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá như là: “Một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ’’.

Trước những năm tiến hành công cuộc đổi mới chúng ta đã xác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của các thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Song về mặt nhận thức chúng ta đã đặt công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở vị trí gần như đối lập hoàn toàn với công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa. Trong lựa chọn bước đi đã có lúc chúng ta thiên về phát triển công nghiệp nặng, coi đó là giải pháp xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội, và không coi trọng đúng mức việc phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Công nghiệp hoá cũng được hiểu một cách đơn giản là quá trìng xây dựng một nền sản xuất được khí hoá trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân.

Công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghiệp với việc tranh thủ các cơ hội đi tắt, đón đầu, hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học công nghệ thế giới. Mặt khác chúng ta phải chú trọng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo thị trường, có sự điều tiết của nhà nước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Đây là hai nhiệm vụ được thực hiện đồng thời , chúng luôn tác động thúc đẩy hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển . Bởi lẽ “Nếu công nghiệp hoá hiện đại hoá tạo lên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới , thì việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp”.
Xem thêm

18 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ĐỀ BÀI PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ĐỀ BÀI PHÂN TÍCH NỘI DUNG QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

tăng cờng phát triển nhằm giữ vững vai trò chủ đạo đối với các thành phần kinh tếkhác. Và luôn luôn phải đề cao tính định hớng xã hội chủ nghĩa cho tất cả các thànhphần kinh tế.Đi cùng với tất cả các giải pháp trên cần phải thực hiện xoá bỏ một cách triệt đểcơ chế tập trung, chỉ huy, quan liêu bao cấp, và chuyển sang cơ chế thị tr ờng có sựquản lý và điều tiết của nhà nớc bằng những chính sách, đờng lối, pháp luật, kếhoạch phù hợp với tình hình và quá trình phát triển của đất nớc, thế giới.Chúng ta cần phải hiểu và vận dụng một cách tốt nhất quy QHSX phù hợp vớitính chất và trình độ phát triển của LLSX. Trên thực tế bất cứ ở đâu và vào lúc nàocũng không thể có đợc sự phù hợp tuyệt đối giữa QHSX với tính chất và trình độphát triển của LLSX. Nhng phải tuỳ theo tình hình thực tế mà chọn giải pháp phùhợp. Trong quan hệ giữa LLSX và QHSX nói chung cũng có sự ràng buộc xuất pháttừ chúng. Tuy nhiên chính bản thân các QHSX lại có mối quan hệ chặt chẽ vớiLLSX. Vấn đề đặt ra là ta sử dụng mối quan hệ ấy nh thế nào cho phù hợp. Đặc biệtquan hệ giữa LLSX và QHSX lại có nhiều lộn xộn trong việc nghiên cứu, sử dụngvà phát triển các phơng thức sản xuất tức là quá trình "Đa dạng hoá" cụ thể hơn làquá trình "phù hợp hoá" các loại phơng thức sản xuất vào điều kiện thực tế hiện naycủa nớc ta. Nếu chúng ta sử dụng đúng các quy luật trên cộng với điều hoà quan hệLLSX với QHSX thì không lâu sau nớc ta sẽ tiến nhanh cùng với các nớc phát triểntiến nhanh trên con đờng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đã chọn.Nh đã thấy ở trên, thì lực lợng sản xuất đóng góp tích cực vào nền kinh tế, nó lànhân tố quyết định tới sự phát triển cũng nh hội nhập của một đất nớc. Với vai tròHọc viên : Đinh Thị Thanh HoàLớp: Cao học K14, Chuyên ngành xây dựng đờng ôtô và đờng thành phố16Tiểu luận triết học
Xem thêm

18 Đọc thêm

VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI LLSX VÀ QHSX TRONG QUÁ TRÌNH CNH HĐH Ở VN

VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI LLSX VÀ QHSX TRONG QUÁ TRÌNH CNH HĐH Ở VN

MỞ ĐẦUNền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển của lựclượng sản xuất quyết định. Do đó việc nghiên cứu quy luật vận động vànhững hình thức phát triển của lực lượng sản xuất là một vấn đề hết sứcquan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.Đối với nước ta, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, việc xây dựng quan hệsản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trong những vấn đềquan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta. Tuy nhiên, trước thờikỳ đổi mới, chúng ta đã vi phạm quy luật khách quan, khi xây dựng quan hệ sản xuất tiêntiến đi trước nhằm mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Chính sự nhận thức vàvận dụng sai lầm đó được Đại hội lần thứ VI của Đảng, năm 1986 chỉ rõ là một trongnhững nguyên nhân cơ bản của sự kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển, đất nước lâmvào khủng hoảng.Trong gần 30 năm đổi mới chúng ta đã từng bước nhận thức và vận dụng quyluật này ngày một đúng đắn hơn, vì vậy đã góp phần quan trọng để đạt được nhữngthành tựu to lớn. Tuy nhiên việc xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất trong quá trình CNH, HĐH vẫn còn có những hạn chế, yếukém và bất cập, dẫn đến kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnhtranh của nền kinh tế còn thấp; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH cònchậm, chế độ phân phối bất hợp lý, phân hoá xã hội tăng lênXuất phát từ thực tiễn trên vấn đề: “Quy luật quan hệ sản xuất phùhợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận dụng quyluật này ở Việt Nam”có vai trò quan trọng mang tính cấp thiết cao vì thờiđại ngày nay chính là sự phát triển của nền kinh tế thị trường hàng hoánhiều thành phần. Nghiên cứu vấn đề này chúng ta còn thấy được ý nghĩalý luận cũng như thực tiễn của nó hết sức sâu sắc làm cơ sở trong quán triệtvà thực hiện nghị quyết của Đảng ta.2NỘI DUNG
Xem thêm

23 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN ĐƯỜNG LỐI CM CỦA ĐCS VIỆT NAM

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN ĐƯỜNG LỐI CM CỦA ĐCS VIỆT NAM

- Đại hội VIII tháng 6 – 1996 nhìn lại đất nước sau mười năm đổi mới, và nhận định nước tađã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiệm vụ nêu ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ làchuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa cơ bản hoàn thành để chuyển sang thời kỳ đẩy mạnhCNH,HĐH đất nước. Đại hội nêu quan điểm và định hướng nội dung cơ bản của CNH,HĐH nhữngnăm còn lại của thập kỷ 90, thế kỷ XX. Đến nay vẫn đúng.- Đại hội IX tháng 4-2001 và Đại hội X tháng 4-2006 Đảng ta tiếp tục bổ sung và nhấn mạnhmột số điểm mới về CNH:Con đường CNH: Có thể rút ngắn thời gian nhằm sớm thu hẹp khoảng cách về trình độ pháttriển so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Một nước đi sau có thể tận dụng những kinhnghiệm kỹ thuật, công nghệ và thành quả của các nước đi trước, tận dụng xu thế của thời đại qua hộinhập quốc tế để rút ngắn.Tiến hành CNH theo kiểu rút ngắn cần thực hiện các yêu cầu: phát triển kinh tế và công nghệphải vừa có những bước đi tuần tự, vừa có bước nhảy vọt; phát huy những lợi thế của đất nước, gắnCNH,HĐH với từng bước phát triển kinh tế trí thức; phát huy nguồn lực trí tuệ, sức mạnh con ngườiViệt Nam, coi trọng giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ.Hướng CNH,HĐH ở nước ta: Phát triển nhanh và có hiệu quả các sản phẩm các ngành, cáclĩnh vực có lợi thế đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.CNH,HĐH phải đảm bảo xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tếquốc tế, tức là cần có nền kinh tế mở.Đẩy nhanh CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn hướng vào việc nâng cao năng suất, chấtlượng, sản phẩm công nghiệp.2. Mục tiêu, quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóaa) Mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Mục tiêu cơ bản: cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuậthiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của LLSX,mức sống vật chất tinh thần cao, quốc phòng - an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội côngbằng, văn minh.Mục tiêu cụ thể, Đại hội X đề ra mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển
Xem thêm

35 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT CƠ SỞ HẠ TẦNG, KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT CƠ SỞ HẠ TẦNG, KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG

Mỗi xã hội trong lịch sử có một kiểu quan hệ vật chất cơ bản nhất định, ứng với những lực lượng sản xuất( LLSX) nhất định đó là những kiểu quan hệ sản xuất( QHSX). Phù hợp với kiểu QHSX đó là một hệ thống những quan điểm về chính trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật...những quan hệ chính trị tinh thần này được thể hiện thông qua những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, toà án, giáo hội và các tổ chức xã hội khác...Sự liên hệ và tác động lẫn nhau giữa những quan hệ kinh tế của xã hội và các quan hệ chính trị tinh thần hình thành trên các quan hệ kinh tế đó được CNDVLS phản ánh trong các phạm trù cơ sở hạ tầng( CSHT) và kiến trúc thượng tầng( KTTT).
Xem thêm

15 Đọc thêm

BÀI THUYẾT TRÌNH PHÂN TÍCH VÀ LÀM RÕ NHỮNG BƯỚC PHÁT TRIỂN TRONG ĐƯỜNG LỐI CNH HĐH CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 1986 2011 LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN NGÀNH LĨNH VỰC MÌNH THEO HỌC

BÀI THUYẾT TRÌNH PHÂN TÍCH VÀ LÀM RÕ NHỮNG BƯỚC PHÁT TRIỂN TRONG ĐƯỜNG LỐI CNH HĐH CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 1986 2011 LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN NGÀNH LĨNH VỰC MÌNH THEO HỌC

Cơ cấu kinh tế hợp lý để phát triển sản xuất; củng cố quốcphòng và an ninh.Ba chương trình mục tiêu: lương thực-thực phẩm, hàng tiêudùng, hàng xuất khẩu.Đại hội VII:Chiến lược đến năm 2000: ra khỏi khủng hoảng, ổn định tìnhhình kinh tế - xã hội, vượt qua tình trạng nước nghèo và kémphát triển, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng vàan ninh.IIIIĐại hội VIII:XD nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiệnđại, cơ cấu KT hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ pháttriển của LLSX, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vữngchắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, xây dựng thành côngCNXH.Đại hội IX:Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bảntrở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.Đại hội X, XI:Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới,huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho CNH, HĐH đất nước; phát triểnvăn hoá; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và anninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc
Xem thêm

47 Đọc thêm

81CAU HOI MAC LENIN

81CAU HOI MAC LENIN

Thời đại ngày nay là thời đại của những biến động sâu sắc. Quá trình tạo ra những tiền đềcho chủ nghĩa xã hội đang diễn ra trong xã hội tư bản phát triển là một xu hướng kháchquan. Thời đại ngày nay cho thấy vai trò hết sức to lớn của lý luận, của khoa học trong sựphát triển của xã hội. Những điều đó tất yếu đòi hỏi chủ nghĩa Mác-Lênin phải được bổsung, phát triển và có những khái quát mới. Chỉ có như vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin mới giữđược vai trò thế giới quan, phương pháp luận trong quan hệ với khoa học cụ thể và trongsự định hướng phát triển của xã hội loài người.C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin không để lại cho những người cộng sản nói chung,những người cộng sản Việt Nam nói riêng những chỉ dẫn cụ thể về con đường quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở mỗi nước. Các quốc gia, dân tộc khác nhau có những con đường đikhác nhau lên chủ nghĩa xã hội, bởi lẽ mỗi quốc gia, dân tộc đều có những đặc thù riêngvà điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử, văn hoá riêng và con đường riêng đó “đòihỏi phải áp dụng những nguyên tắc của chủ nghĩa cộng sản sao cho những nguyên tắc ấyđược cải biến đúng đắn trong những vấn đề chi tiết, được làm cho phù hợp, cho thích hợpvới đặc điểm dân tộc và đặc điểm nhà nước-dân tộc”. Trên cơ sở kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuất phát từ những bài học cải tạo và xây dựng chủ nghĩaxã hội từ thực trạng kinh tế-xã hội đất nước, Đảng ta đề ra đường lối đưa đất nước ta từngbước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn của quá trình đổi mới đang đặt ra hàng loạtvấn đề mới mẻ và phức tạp về kinh tế, chính trị, văn hoá; những vấn đề đó không thể giảiquyết chỉ bằng lý luận, nhưng chắc chắn không thể giải quyết được nếu không có tư duy lýluận Mác-Lênin.Câu hỏi 6. Mục đích và yêu cầu của việc học tập, nghiên cứu môn học Những nguyênlý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin?Đáp. Học tập, nghiên cứu môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin cầnphải theo phương pháp gắn những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin với thựctiễn đất nước và thời đại;Học tập, nghiên cứu môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin cần phảihiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; tránh bệnh kinh viện, giáo điều trong học tập,
Xem thêm

163 Đọc thêm

CAU HOI DAP AN NHUNG NGUYEN LY CO BAN CUA CHUNGHIA MACLENIN

CAU HOI DAP AN NHUNG NGUYEN LY CO BAN CUA CHUNGHIA MACLENIN

trở thành vật cản của sự phát triển đó thì xẩy ra mâu thuẫn giữa chúng với nhau. Trong xã hội cóđối kháng giai cấp, do lợi ích giai cấp, giai cấp thống trị bằng mọi cách để bảo vệ, duy trì quan hệsản xuất đang mang lại lợi ích cho mình, nên giai cấp đó dùng mọi biện pháp, trong đó có biệnpháp sử dụng bộ máy nhà nước để trấn áp những giai cấp mới đại diện cho lực lượng sản xuấttiên tiến hơn. Xây dựng quan hệ sản xuất mới, mở đường cho lực lượng sản xuất tiếp tục pháttriển, là giải quyết mâu thuẫn trên; xác lập phương thức sản xuất mới, thúc đẩy xã hội phát triểnlà mục đích của đấu tranh giai cấp. Muốn thiết lập quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất thì phải thông qua đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh ấy sẽ dẫnđến cách mạng xã hội để xoá bỏ giai cấp đại diện cho quanhệ sản xuất đang thống trị. Vai trò củađấu tranh giai cấp đối với sự vận động và phát triển của xã hội do tính chất, trình độ phát triển củađấu tranh giai cấp quy định. Có cuộc cách mạng xã hội chỉ thay thế hình thức áp bức, bóc lột, caitrị; có cuộc cách mạng giải phóng giai cấp bị bóc lột, cai trị khi đồng thời giải phóng cả giai cấpbóc lột, cai trị, do đó giải phóng toàn xã hội khỏi bóc lột, cai trị.Có thể nói, các cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội có đối kháng giai cấp đều xuất phát từ lợi íchkinh tế, nhằm giải quyết vấn đề kinh tế và từ vấn đề này giải quyết những vấn đề khác để thúcđẩy xã hội phát triển. Bởi vậy, đấu tranh giai cấp là phương pháp cơ bản, là đầu tàu của lịch sử,là đòn bẩy để thay đổi hình thái kinh tế-xã hội, là động lực để thúc đẩy sự phát triển các mặt khácnhau của đời sống xã hội.25 CÂU HỎI-TRẢ LỜI PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊCâu hỏi 2. Phân tích hàng hoá và hai thuộc tớnh của hàng hoỏ. í nghĩa thực tiễn của vấnđề này đối với Việt Nam hiện nay?Đáp. Cõu trả lời gồm ba ý lớn1) Phân tích hàng hoá. Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoả món nhu cầu nào đó củacon người thông qua trao đổi, mua-bán. Khái niệm trên cho ta thấy a) Hàng hoá phải là sản phẩmcủa lao động, cũn những sản phẩm khụng do lao động tạo ra, dù rất cần thiết cho con người đềukhông phải là hàng hoá. b) Sản phẩm của lao động nhất thiết phải qua trao đổi mua bán. c) Hànghoá phải có tính hữu dụng, được con người dùng.2) Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị.a) Giá trị sử dụng của hàng hoá do công dụng và thuộc tính tự nhiên của nó quy định. Công dụngđó nhằm thoả món một nhu cầu nào đó của con người, có thể là nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân;
Xem thêm

29 Đọc thêm

QUÁ ĐỘ LÊN CNXH VÀ NỀN KINH TẾ NHIỀUTHÀNH PHẦN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊNCNXH Ở VIỆT

QUÁ ĐỘ LÊN CNXH VÀ NỀN KINH TẾ NHIỀUTHÀNH PHẦN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊNCNXH Ở VIỆT

nhân dân.+ Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần tạo ra môi trườngcạnh tranh, thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, phát triển kinh tếnăng động và tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.+ Tạo điều kiện thực hiện và mở rộng các hình thứckinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội.5+ Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là đáp ứngyêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp vớitrình độ của lực lượng sản xuất làm cho nền kinh tế nướcta từ sau đổi mới đến nay phát triển nhanh, mọi mặt củađời sống kinh tế, chính trị, xã hội không ngừng được nângcao.Câu 13: Bản chất, xu hướng vận động, tính thống nhấtvà mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế trong thờiký quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay?Trả lời:Bản chất, xu hướng vận động của các thành phầnkinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta hiện nay1. Kinh tế nhà nước- “Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nềnkinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ đểnhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế”- Để kinh tế nhà nước giữ được vai trò chủ đạo trong nền
Xem thêm

10 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÁC CHỈ TIÊU TIẾN BỘ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 20042014 VÀ ĐỀ XUẤT CÁC CHÍNH SÁCH CHO PHÙ HỢP

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÁC CHỈ TIÊU TIẾN BỘ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 20042014 VÀ ĐỀ XUẤT CÁC CHÍNH SÁCH CHO PHÙ HỢP

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÁC CHỈ TIÊU TIẾN BỘ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 20042014 VÀ ĐỀ XUẤT CÁC
CHÍNH SÁCH CHO PHÙ HỢPNGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÁC CHỈ TIÊU TIẾN BỘ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 20042014 VÀ ĐỀ XUẤT CÁC
CHÍNH SÁCH CHO PHÙ HỢPNGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÁC CHỈ TIÊU TIẾN BỘ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 20042014 VÀ ĐỀ XUẤT CÁC
CHÍNH SÁCH CHO PHÙ HỢPNGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÁC CHỈ TIÊU TIẾN BỘ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 20042014 VÀ ĐỀ XUẤT CÁC
CHÍNH SÁCH CHO PHÙ HỢPNGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỈ TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÁC CHỈ TIÊU TIẾN BỘ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 20042014 VÀ ĐỀ XUẤT CÁC
CHÍNH SÁCH CHO PHÙ HỢP
Xem thêm

58 Đọc thêm

Nêu mối quan hệ giữa pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động

NÊU MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG, THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VÀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Câu 1: Nêu mối quan hệ giữa pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động?
Trả lời:
I. Khái quát chung thỏa tước lao động tập thể và hợp đồng lao động.
Các quan hệ lao động nói chung và quan hệ pháp luật lao động nói riêng được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật lao động trong đó bộ Luật Lao động năm 2012 (BLLĐ) và các văn bản liên quan .BLLĐ được Quốc hội khoá XIII nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012. Ngày 02 tháng 7 năm 2012, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố và Bộ luật lao động năm 2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 05 năm 2013, bao gồm 17 Chương và 242 Điều. Trên tinh thần thừa kế và phát triển bộ luật Lao động năm 1994, bộ Luật lao động năm 2012 quy đinh các vấn đề như việc làm, tiền lương, thời giờ lao động, thời giờ nghỉ ngơi, đình công và giải quyết đình công,…Trong đó, các chế định về hợp đồng được quy đinh tại chương III và chế định về Thỏa ước lao động tập thể tại chương V. Có thể thấy BLLĐ đã cơ bản điều chỉnh các quan hệ lao động phù hợp trong điều kiện mới theo hướng khuyến khích, bảo vệ và phát triển những quan hệ lao động tốt, phù hợp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, góp phần quan trọng trong việc tiếp tục phát triển sức sản xuất, phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng ở Việt Nam hiện nay.
Xem thêm

15 Đọc thêm

TUAN10 NGU CANH73

TUAN10 NGU CANH73

TIẾNG VIỆT 11NGỮ CẢNH.MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: Giúp HS:1-Về kiến thức:a. Bộ môn :Nắm được khái niệm ngữ cảnh, các yếu tố của ngữ cảnh và vai trò củangữ cảnh trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ.b. GD kĩ năng sống :- Sử dụng từ ngữ và tạo lập lời nói ,lĩnh hội lời nói phù hợp bối cảnh vàmục đích giao tiếp- Phân tích đối chiếu các yếu tố ngữ cảnh , văn cảnh và hoàn cảnh giaotiếp2-Về kĩ nănga. Bộ môn :Biết nói và viết cho phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp, đồng thời có nănglực lĩnh hội, phân tích nội dung và hình thức của lời nói trong quan hệ vớingữ cảnh.b. Kĩ năng sống : Rèn luyện kĩ năng giao tiếp ,tư duy sáng tạo và raquyết định3-Về thái độ : Rèn luyện thói quen biết nói và viết phù hợp đề tài, nội dung,sử dụng ngôn ngữ. Có thái độ yêu quí sự trong sáng, đa dạng của ngônngữ tiếng Việt.Kiểm tra bài cũ:1/ Cảnh thiên nhiên ở phố huyện được tácgiả miêu tả như thế nào? Những con người ởphố huyện ra sao? Tâm trạng An và Liên ?
Xem thêm

14 Đọc thêm

MỘT SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

MỘT SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

khai thác mọi tiềm năng sản xuất, phát huy nội lực, tính chủ động sáng tạo14của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần. Kinh tế quốcdoanh phải phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả để thực sự đóng vai trò chủ đạotrong nền kinh tế nớc ta.Để thực hiện đợc điều đó chúng ta phải khắc phục quan niệm bỏ quamột cách giản đơn, giáo điều, nóng vội, mà cái chính là phải mạnh dạn khaithác, sử dụng tối đa những thành tựu về khoa học, công nghệ, quản lý đã đạtđợc trong xã hội t bản, làm khâu trung gian để chuyển nền sản xuất nhỏ lênchủ nghĩa xã hội. Chủ trơng phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và việcsử dụng những hình thức kinh tế trung gian quá độ trong thời ký quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở nớc ta mà Đại hội Đảng lần thứ VI đã vạch ra là đúng đắn.Đại hội VII của Đảng ta cũng chỉ rõ: Phù hợp với sự phát triển của lực l ợng sản xuất, thiết lập từng bớc quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đếncao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trờng cósự quản lý của Nhà nớc, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trởthành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thực hiện nhiều hình thức phânphối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệ quả kinh tế là chủ yếu. Nghịquyết 06 NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1998 về một số vấn đề phát triểnnông nghiệp nông thôn đã viết: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắnphát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, ngành nghề, gắn sản xuấtvới thị trờng để hình thành sự liên kết nông công nghiệp dịch vụ và thịtrờng ngay trên địa bàn nông thôn và trên địa bàn cả nớc; gắn phát triển nôngnghiệp với xây dựng nông thôn mới; gắn công nghiệp hoá với thực hiện dânchủ hoá và nâng cao dân chí, đào tạo nhân lực ở nông thôn; tạo ra sự phâncông lao động mới, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, xoá đói, giảmnghèo, thu hẹp dần khoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn,thực hiện có kết quả mục tiêu phát triển dân số.
Xem thêm

18 Đọc thêm

QUAN HỆ GIỮA MỸ VÀ TRUNG QUỐC THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI

QUAN HỆ GIỮA MỸ VÀ TRUNG QUỐC THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI

Sau một thời gian khá dài các lực lượng TBCN xâu xé và bóc lột, bị chiếntranh tàn phá nặng nề, đất nước luôn trong tình trạng mất ổn định thì nay TrungQuốc đã bắt đầu bước sang một trang sử mới độc lập và tự chủ - ngày 1/10/1949,nước CHND Trung Hoa ra đời.Lúc này trên thế giới, tình hình đang có những diễn biến phức tạp. Thế giới bịchi phối bởi chiến tranh lạnh. Do vậy, tình hình của Trung Quốc lúc này cũng bịảnh hưởng sâu sắc bởi chiến tranh lạnh. Chính vì lẽ đó, Trung Quốc những nămđầu cách mạng đã thi hành chính sách "nhất biên đảo”. "Nhất biên đảo” thực chấtlà ngả hẳn về phía Liên Xô để chống lại CNĐQ mà trước hết là chống lại Mỹ.Trong thời gian này, "nhất biên đảo” được coi là sự lựa chọn chiến lược vì nó phùhợp nhất với lợi ích quốc gia, đồng thời nó cũng phù hợp với niềm tin vào CNXHcủa Đảng và nhân dân Trung Quốc. Tháng 2/1950 - Trung Quốc đã kí với Liên Xôbản "Hiệp ước hữu nghị đồng minh và tương trợ”. Đồng thời trong giai đoạn này,Trung Quốc đã lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trong pheXHCN. Không những vậy, Trung Quốc còn tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc trên thế giới và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.Mặc dù là một đất nước còn non trẻ, xong nước CHND Trung Hoa ngày càngcó địa vị to lớn trên trường quốc tế. Tuy nhiên, như trên đã nói, trong giai đoạn nàyTrung Quốc thi hành chính sách "nhất biên đảo” để chống lại CNĐQ mà đứng đầulà đế quốc Mỹ. Chính vì lẽ đó, quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc trong giai đoạn6này là ở vào thế đối đầu. Trong suốt gần 30 năm kể từ khi CHND Trung Hoa rađời vào ngày 1/10/1949, Mỹ không hề công nhận thể chế này, trong khi đó, Mỹvẫn duy trì quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan và chỉ công nhận cái gọi là"Cộng hòa Trung Hoa” theo như Đài Loan tự xưng, là "đại diện hợp pháp duynhất” của toàn Trung Quốc, kể cả ở Liên Hợp Quốc. Bên cạnh đó, Mỹ còn ra sứckhuyến khích các nước đồng minh của Mỹ không công nhận CHND Trung Hoa,đồng thời hưởng ứng cuộc cấm vận của Washington chống Bắc Kinh.
Xem thêm

61 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG HỎI ĐÁP CHI TIẾT PHẦN PHÁP LUẬT - MÔN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

ĐỀ CƯƠNG HỎI ĐÁP CHI TIẾT PHẦN PHÁP LUẬT - MÔN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Cùng với nhà nước, pháp luật có nguồn gốc từ sự hình thành và phát triển của chế độ tư hữu, khi xã hội có sự phân chia thành giai cấp, có sự xung đột, đối kháng về lợi ích giai cấp. Trong điều kiện đó, những quy phạm xã hội thể hiện ý chí chung của cộng đồng thị tộc, bộ lạc dùng để điều chỉnh hành vi, cách xử sự của các thành viên trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ trở nên không phù hợp với tính chất của các mối quan hệ xã hội mới. Nhu cầu cần có một hệ thống quy tắc xử sự mới mang tính cưỡng chế mạnh nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phù hợp trước hết với ý chí, lợi ích của giai cấp thống trị, đồng thời duy trì trật tự công cộng đã dẫn đến việc nhà nước xây dựng pháp luật, thiết lập nên những quy phạm pháp luật làm công cụ quản lý, điều hành xã hội.
Xem thêm

68 Đọc thêm

QUAN HỆ SẢN XUẤT

QUAN HỆ SẢN XUẤT

  Quan hệ sản xuất là mối liên hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội).  Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất và mối quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản tất yếu của quá trình sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là “hình thức xã hội” của quá trình đó.QUAN HỆ SẢN XUẤTNgười NgườiPHƯƠNG THỨC SẢN XUẤTLỰC LƯỢNG SẢN XUẤTNgười Tự nhiênTrong mỗi phương thức sản xuất khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì lực lượng sản xuất phát triển. Nếu không phù hợp thì ìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.        Vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất của Đảng ta trong giai đọan đổi mới đất nước hiện nay.  Trong thời kỳ đầu, sau giải phóng miền Bắc, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã nhấn mạnh thái quá vai trò “tích cực” của quan hệ sản xuất, dẫn đến chủ trương quan hệ sản xuất phải đi trước, mở 
Xem thêm

21 Đọc thêm

TIỂU LUẬN QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

TIỂU LUẬN QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trở nên gay gắt, đưa đấtnước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội. Chúng ta đã có những biểu hiện nóngvội muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóngbiến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh; mặt khác, duy trì quá lâu cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Chúng ta vừa chủ quannóng vội, vừa bảo thủ trì trệ, hai mặt đó cùng tồn tại và cản trở bước tiến của cáchmạng. Sự nhận thức sai quy luật chứng tỏ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vậndụng quy luật đang hoạt động trong thời kỳ quá độ; thành kiến không đúng nhữngquy luật của sản xuất hàng hóa; coi nhẹ việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được Đảng ta đềra tại Đại hội VI. Có thể nói, đây là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng,bởi lẽ phát triển kinh tế nhiều thành phần lúc này được coi là một tất yếu Thời kỳtrước đổi mới, nước ta đang tồn tại nhiều loại trình độ lực lượng sản xuất khác nhau.Để đáp ứng yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất vàtrình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì đòi hỏi phải có nhiều hình thức sở hữu,nhiều thành phần kinh tế.Thời kì này nền kinh tế ở nước ta là nền kinh tế tập trung,bao cấp. Kinh tế tập trung, bao cấp được đặc trưng bằng việc nhà nước quản lý nềnkinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chitiết áp đặt từ trên xuống dưới; các doanh nghiệp làm ăn lỗ thì nhà nươc bù, lãi thìnhà nước thu; các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm về vật chất và pháplý dối với các quyết định của mình; quan hệ hàng hóa tiền tệ bị coi nhẹ chỉ là hìnhthức quan hệ hiện vật là chủ yếu.nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ "cấpphát -giao nộp"; bộ máy quản lý cồng kềnh nhiều cấp trung gian hoat đông kém13hiệu quả sinh ra quan liệu phong cách cửa quyền nhưng lai dược hưởng quyền lợicao hơn người lao động... Chế độ bao cấp đã trở thành vật cản lớn trên con đườngphát triển của nước ta kéo nước ta, kinh tế khủng hoảng, trì trệ. Lúc này, một tình
Xem thêm

41 Đọc thêm