LLSX VÀ CÁC QUAN HỆ SX

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "LLSX và các quan hệ SX":

QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX VÀ SỰ ĐA DẠNG HOÁ CÁC LOẠI HÌNH SỞ HỮU

QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX VÀ SỰ ĐA DẠNG HOÁ CÁC LOẠI HÌNH SỞ HỮU

Giai đoạn phát triển tuần tự về mặt lợng tự nó không làm thay đổi chất lợng của LLSX mà chỉ tạo nên sự thay đổi những thuộc tính về lợng, chỉ là bớc chuẩn bị tiền đề để chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, cao hơn, mạnh hơn về chất . Sự phát triển có tính cách mạng của LLSX là bớc nhảy vọt căn bản tạo nên một chất lợng hoàn tòan mới trong kết cấu cấu trúc cũng nh trong mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành LLSX. Sự phát triển trong LLSX có đặc tính làm thay đổi căn bản những t liệu lao động, quy trình công nghệ cơ sở khoa học của SX, yếu tố chủ quan trong LLSX . Hành trang của chúng ta để đi lên CNXH là quá thấp và lạc hậu, không tập chung. Chỉ cần nhìn lại tình hình SX nông nghiệp: cho đến năm 80 nông nghiệp cha vợt ra khỏi khuôn khổ của nền SX nhỏ, nó chỉ mới đang ở ngỡng cửa của SX hàng
Xem thêm

14 Đọc thêm

QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX VÀ SỰ ĐA DẠNG HOÁ CÁC LOẠI HÌNH SỞ HỮU

QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX VÀ SỰ ĐA DẠNG HOÁ CÁC LOẠI HÌNH SỞ HỮU

Nh vậy, nghiên cứu quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của lực lợng sản xuất và đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở Việt Nam là hết sức cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.Vì qua nghiên cứu đề tài này chúng ta thấy đ- ợc: Trong nền kinh tế thị trờng, sự phát triển của lực lợng sản xuất và đa dạng hoá có rất nhiều tác dụng mạnh mẽ, tích cực đến sự phát triển kinh tế của nớc nhà. Nó đã đa đất nớc ra khỏi nghèo nàn lạc hậu, tiến lên chủ nghĩa xã hội nhất là sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Tuy nhiên thực trạng LLSX ở nớc ta vẫn còn trong tình trạng thấp kém so với các nớc trên thế giới. Do đó vấn đề đặt ra cần phải giải quyết là nắm vững và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất với LLSX, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và quản lý nền kinh tế ngày một tốt hơn.
Xem thêm

18 Đọc thêm

Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Sự vận dụng của Đảng ta trong đường lối đổi mới ở Việt Nam

QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT. SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA TRONG ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM


C- KẾT LUẬN
Chúng ta cần phải hiểu và vận dụng một cách tốt nhất qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trên thực tế bất cứ ở đâu và vào lúc nào cũng không thể có được sự phù hợp tuyệt đối giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nhưng phải tuỳ theo tình hình thực tế mà chọn giải pháp phù hợp. Trong quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất nói chung cũng có sự ràng buộc xuất phát từ chúng. Tuy nhiên chính bản thân các quan hệ sản xuất lại có mối quan hệ chặt chẽ với lực lượng sản xuất. Vấn đề đặt ra là ta sử dụng mối quan hệ ấy như thế nào cho phù hợp. Đặc biệt quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất lại có nhiều lộn xộn trong việc nghiên cứu, sử dụng và phát triển các
Xem thêm

17 Đọc thêm

QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX VÀ SỰ ĐA DẠNG HOÁ CÁC LOẠI HÌNH SỞ HỮU Ở VN

QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LLSX VÀ SỰ ĐA DẠNG HOÁ CÁC LOẠI HÌNH SỞ HỮU Ở VN


Cùng với quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, cơ chế quản lý khoa học và công nghệ từng bớc đợc đổi mới theo hớng mở rộng liên kết giữa nghiên cứu với sản xuất, kinh doanh; nhờ đó đã nâng cao đợc hiêụ quả hoạt động khoa học và công nghệ, góp phần nâng cao năng suất, chất lợng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, cho tới nay, nền khoa học và công nghệ nớc ta vẫn đang trong tình trạng lạc hậu, chậm phát triển, cha đáp ứng đợc đúng và đủ nhu cầu của đất nớc. Tuy số lợng cán bộ khoa học, kỷ thuật lớn nhng tỷ lệ cán bộ nghiên cứu ứng dụng chỉ đạt tỷ lệ 4 ngời trên 1000 dân, xếp vào loại thấp nhất thế giới. Về cơ cấu lực l- ợng lao động kỹ thuật, do giáo dục nghề nghiệp kể cả trung học chuyên nghiệp và dạy nghề cha đợc tập trung đẩy mạnh nên mối quan hệ của các lực lợng này vẫn còn cha hợp lý, khoa học, do đó tạo nên xu thế bất lợi “nhiều thầy, ít thợ’’. Tỷ lệ giữa cán bộ khoa học công nghệ/ nhân viên kỹ thuật/ công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ có bằng hoặc chứng chỉ cũng chỉ là 1/ 1,04 / 8,86. Về cơ cấu lứa tuổi, tuổi bình quân của các cán bộ khoa học, công nghệ nớc ta hiện nay là 40,2 ( trong đó nam 42,7 tuổi và nữ là 37,0 tuổi ). Trình độ càng cao, tuổi càng lớn đó là điều mang tính quy luật, tuy nhiên trong cơ cấu lứa tuổi của các loại hình trình độ, có thể quan sát thấy đợc một sự cách biệt đáng chú ý , đó là : Tuổi bình quân của các cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao đẳng là 38,2 tuổi ; Đại học là 40,9 tuổi ; Thạc sỹ là 42,6 tuổi và tiến sỹ là 52,6 tuổi; Số cán bộ khoa học và công nghệ ở độ dới tuổi 25 chỉ chiếm 9,06 % ; Trong khi số cán bộ khoa học và công nghệ ở độ tuổi trên 55 lên tới 13,55 %. Mặt khác, nhiều chính sách nh chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách xuất nhập khẩu và chính sách kinh tế nói chung cha khuyến khích cả khoa học và công nghệ lẫn sản xuất trong nớc. Sự ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong nớc không mang lại lợi ích cao hơn ngoại nhập. Thêm đó, nguồn vốn chi cho hoạt động khoa học và công nghệ của nớc ta là quá thấp, chỉ đạt khoảng 1 % ngân sách nhà nớc. Chi phí cho nghiên cứu triển khai bình quân hàng năm cho mỗi cán bộ khoa học và công nghệ của ta cũng rất thấp, khoảng dới 1000 USD. Có thể nói về trình độ kỹ thuật – công nghệ, so với các nớc tiên tiến trên thế giới , chúng ta lạc hậu từ 50 đến 100 năm, so với các nớc tiên tiến ở mức trung bình ta lạc hậu từ 1 đến 2 thế hệ.
Xem thêm

39 Đọc thêm

QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP

QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP

- Trong quá trình CNH-HĐH, Việt Nam có thể tranh thủ cơ hội đi tắt đón đầu bằng việc nhập các thiết bị kĩ thuật tiên tiến để đổi mới thiết bị kĩ thuật đã lạc hậu.
- Quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam được tiến hành trong môi trường hoà bình với xu hướng hoà hoãn và hợp tác quốc tế. Nhờ vậy, nước ta mở rộng quan hệ bạn bè và hợp tác với nhiều nước nhằm tranh thủ sự viện trợ, giúp đỡ của các nước trên thế giới. Đồng thời xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đã tạo điều kiện và thời cơ cho Việt Nam có thể sử dụng khoa học, công nghệ mới, nguồn vốn của các nước giàu vào sự nghiệp CNH-HĐH, trên cơ sở đó, tham gia vào quá trình phân công và hợp tác quốc tế.
Xem thêm

15 Đọc thêm

CON NGƯỜI VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ

CON NGƯỜI VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ


Phân bố dân số ảnh hởng đến hệ thống y tế . ở Các khu vực địa lý khác nhau , nh đồng bằng miền núi, thành thị, nông thôn có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên , kinh tê xã hội lên có cơ cấu bệnh tật khác nhau.VD ở vùng đông bằng ,vùng ven biển Miền Bắc Việt Nam thì các bệnh về đờng tiêu hoá, bệnh hô hấp là phổ biến,nhng ở vùng núi cao thì bệnh sốt rét ,bệnh bớc cổ lại là bệnh cần quan tâm phòng chống .Các bệnh xã hội hay lây lan nh :giang mai, hoa liễu, AIDS .. thờng tập trung ở các thành phố lớn mật độ cao. Mặc dù đã dạt đợc những thành tụu đáng ghi nhận ,nhng tình trạng sức khoẻ nhân dân ,nhất là ở vùng sâu, vùng xa đang đặt ra nhiều bức xúc ,có nhiều vấn đề trở lên gay gắt. Đại dịch HIV –AIDS ở nớc ta tuy cha đến mức nghiêm trọng nh ở các nớc,nhng với tốc độ lan truyền nh hiện nay thì sẽ là một thách thức lơn đối với chất lợng dân số. Theo thống kê của uỷ ban quốc gia phòng Chống AIDS thì HIV ca đầu tiên vào tháng 12 –1990 đến tháng 12-2002 là 35.330 . Con số thực tế còn cao hơn nhiều còn đang tăng nhanh, có thể đạt đỉnh vào năm 2010. HIV /AIDS tác động mạnh đến các lĩnh vực y tế và sức khoẻ. Sự lan truyền nhanh HIV/AIDS tạo ra sự thay đổi phức tạp theo su huớng làm xấu đi các quan hệ xã hội ,nhất là gia đình . Nó làm đảo lộn mối quan hệ truyền thống trong các gia đình ngời bệnh và cộng đồng ngời xung quanh . Đó là những yếu tố tiềm ẩn của những xáo trộn ngoài mong muốn, không tích cực đối với xã hội . Đại dịch HIV/AIDS ở nớc ta gây những tổn thất lớn về kinh tế cho đất nớc gia đình ngời nhiễn HIV ,sẽ ngăn cản làm chậm sự phát triển kinh tế xã hội .Dịch bệnh HIV/AIDS sẽ tác động khả năng phát triển nâu dài của đất thông qua những thay đổi theo chiều hớng không tốt cho cơ cấu dân c và làm giảm cả số lợng và chất lợng lực lợng lao động của xã hội trong tơng lai.
Xem thêm

22 Đọc thêm

VAI TRÒ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA 2 NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI

VAI TRÒ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA 2 NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI


Chơng II
Thực trạng vốn đầu t trong nớc, nớc ngoài và mối quan hệ giữa chúng ở Việt Nam
Trong hơn một chục năm trở lại đây với việc chuyển sang hệ thống thị trờng mở của nền kinh tế thị trờng, nền kinh tế nớc ta đã thu đợc nhiều thành tựu đáng khích lệ.Từ chỗ khủng hoảng thiếu trầm trọng, ngày nay đời sống nhân dân đã đợc nâng lên một bớc ,đợc đánh giá là một quốc gia an toàn cho đầu t với tốc độ tang trởng cao trong một thời kì dài, nền chính trị ổn định. Đạt đợc kết quả đó là nhờ chủ trơng đúng đắn của Đảng và nhà nớc ta trong việc khơi thông nguồn lực trong nớc tận dụng nguồn lực nớc ngoài.Vốn đầu t trong nớc và nớc ngoài đã góp phần quan trọng tạo nên tốc độ tăng trởng và sự phát triển kinh tế nớc ta.Tìm hiêủ về thực trạng hai nguồn vốn trong thời gian qua sẽ cho chúng ta cách nhìn đúng đắn hơn về vai trò của hai nguồn vốn cũng nh mối quan hệ giữa chúng.Từ đó ta có thể đa ra các biện pháp về huy động và sử dụng hai nguồn lực này cho sự phát triển kinh tế nớc ta trong thời gian tới.
Xem thêm

34 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA NGUYÊN NHÂN VÀ KẾT QUẢ

Các quan hệ kinh tế của các HTX và TĐSX trớc đây gắn liền với nhà n- ớc, còn các quan hệ kinh tế của các công ty , các hợp tác xã mới đợc hoạt động mấy năm qua gắn liền với cơ chế thị trờng.
HTX và TĐSX trớc đây là một bộ phận của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, quy định bởi nhà nớc và vận động theo xu hớng chung đó. Còn kinh tế hợp tác hiện nay là hình thức liên kết tự nguyện của những ngời lao động, ngời sản xuất nhỏ, dới các hình thức hết sức đa dạng , đợc Đảng và nhà nớc ta coi là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cùng với kinh tế nhà nớc dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế .Chỉ thị ngày 24-5- 1996 của Ban bí th TƯ Đảng về phát triển kinh tế hợp tác chỉ rõ: " Nhà nớc tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh của HTX, không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX". Tuy nhiên, nhà nớc khuyến khích phát triển mọi hình thức kinh tế hợp tác , có các chính sách u đãi , hỗ trợ HTX về đất đai, thuế tín dụng , đầu t, xuất nhập khẩu, đào tạo, bồi dỡng cán bộ Trong điều kiện vừa đ … ợc nhận sự u đãi , hỗ trợ từ nhà nớc , vừa đợc hoàn toàn độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh, kinh tế tập thể hiện nay vận động theo xu hớng khác nhau , vừa bị quy định bởi cơ chế thị trờng , vừa phụ thuộc vào xu hớng chung của các thành viên tham gia hợp tác.
Xem thêm

32 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

Thực trạng hoạt động của mô hình TCT những năm qua cho thấy : Cùng với qúa trình đổi mới các DNNN, cần thiết phải đổi mới và chấn chỉnh lại tổ chức, cơ chế hoạt động của các TCT với mục tiêu đa các doanh nghiệp này trở thành đầu tầu cho sự phát triển, là nòng cốt và động lực cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nớc, tiên phong trong đổi mới công nghệ và nâng cao chất lợng, hiệu quả hoạt động để cạnh tranh tốt với các tập đoàn lớn của nớc ngoài không chỉ tại Việt Nam, mà còn trên thị trờng quốc tế. Một trong những giải pháp đợc đề cập đến là giải quyết tốt mối quan hệ giữa TCT với các doanh nghiệp thành viên thông qua mô hình CTM- CTC.
Xem thêm

22 Đọc thêm

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ PHÂN PHỐI TẠI VIỆT NAM DOC

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ PHÂN PHỐI TẠI VIỆT NAM DOC

Tuy nhiên Thái lan cung đạt đợc nhièu thành tựu trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bản dới nhiều hình thức phong phú nh phúc lợi bằng tiền mặt , bằng hiện vật , phúc lợi trẻ em và thanh niên ,trợ giúp việc làm phúc lợi cho ngời có tuổi
Tóm lại các chiến lợc công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu ở các nớc ASEAN đã thất bại chủ yếu do phân phối thu nhập không đều.Chính vì việc phân phói không đều đã bó hẹp thị trờng nội địa không chỉ do đông đảo quần chúng nghèo khổ mà còn do những ngòi có thu nhập cao thờng mua hàng ngoại , hoặc tiêu dùng những sản phẩm đơn lẻ.Qua đó đã chứng minh rằng ,giữa tăng trởng kinh tế và phân phối thu nhập có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau .Tăng trởng kinh tế không chỉ dẫn đến sự giàu có chung của đất nớc , mà còn tạo điều kiện thuận lơi để giúpcácnhóm có thu nhập thực hiễn xoá đói giảm ngheo mặt khác không thể có tăng trởng kinh tế kéo dài nếu không áp dụng các chinh sách phân phối thu nhập công bằng hơn
Xem thêm

27 Đọc thêm

LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TƯ BẢN VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG

LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TƯ BẢN VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG


Phần mở đầu
Trong xã hội t bản, mối quan hệ giữa t bản và ngời lao động là mối quan hệ cơ bản, sâu sắc nhất, xuyên qua tất cả quan hệ của xã hội đó. Giá trị thặng d, phần giá trị do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra ngoài sức lao động và bị nhà t bản chiếm không do bóc lột sức lao động. Giá trị thặng d do lao động không công của ngời công nhân làm thuê sáng tạo ra là nguồn gốc làm giầu của các giai cấp các nhà t bản, sản xuất ra giá trị thặng d trớc hết nhà t bản tạo ra một giá trị sử dụng nào đó vì giá trị sử dụng là vật mang giá trị và giá trị thặng d .Toàn bộ hoạt động của nhà t bản hớng đến, đó là tăng cờng việc tạo ra giá trị thặng d tuyệt đối và giá trị thặng d tơng đối.
Xem thêm

12 Đọc thêm

VAI TRÒ VỊ TRÍ VÀ MỖI QUAN HỆ GIỮA GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI

VAI TRÒ VỊ TRÍ VÀ MỖI QUAN HỆ GIỮA GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI


vật. Xã hội ( cơ thể ) lành mạnh tạo điều kiện cho các gia đình tiến bộ, gia đình (tế bào) hạnh phúc góp phần cho sự phát triển hài hoà của xã hội.
Trong mỗi quan hệ mật thiết ấy , trình độ phát triển về mọi mặt của quyết định đến hình thức , tính chất kết cấu và cả quy mô gia đình .C.Mác nhiều lần lưu ý rằng : tôn giáo , gia đình, nhà nước, pháp quyền , đạo đức, khoa học nghệ thuật … chỉ là những hình thức đặc thù của sản xuất và phụp tùng quy luật chung của sản xuất.
Xem thêm

13 Đọc thêm

PHÂN TÍCH TRIẾT HỌC MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VỚI MÔI TRƯỜNG SINH THÁI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHÂN TÍCH TRIẾT HỌC MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VỚI MÔI TRƯỜNG SINH THÁI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


giải quyết vấn đề sinh thái của thời đại và trong điều kiện cụ thể của nớc ta đã nảy sinh nhu cầu cần thiết phải có một sự nhìn nhận chính xác về vai trò của con ngời trớc thực tại môi trờng sinh thái Việt Nam. Trong đó con ngời và xã hội là chủ thể có một vai trò ngày càng to lớn trong việc biến đổi tự nhiên, và ngày nay là việc khắc phục những mặt tiêu cực của quá trình phát triển xã hội, để làm thế nào loài ngời có thể trở lại sống hài hoà thực sự với tự nhiên trong thế giới hiện đại.Bản thân tự nhiên về mặt cấu trúc cũng nh chức năng hoàn toàn không có gì mâu thuẫn với xã hội, mâu thuẫn giữa con ngời và tự nhiên chỉ xuất hiện trong quá trình hoạt động sống và phát triển xã hội của con ngời.Quan trọng nhất là quá trình sản xuất ra của cải vật chất điều khiển một cách vô ý thức mối quan hệ gữa con ngời và tự nhiên nghĩa là phải nắm bắt đợc những quy luật của tự nhiên đồng thời phải biết vận dụng những quy luật đó vào hoạt động thực tiễn xã hội.Với mục đích đa xã hôi trở lại với tự nhiên , con ngời trong các hoạt động thực tiễn của mình phả biết tuân thủ theo các nguyên tắc tự tổ chức, tự điều chỉnh, tự làm sạch,tự bảo vệ thiên nhiên.Để có thể xây dựng đợc mối quan hệ thật sự giữa xã hội và tự nhiên, con ngời cần phải thay đổi chiến lựoc phát triển xã hội, từ chỗ vì lợi ích của xã hội, của con ngời sang vì lợi ích ,vì sự tồn tại và phát triển của cả hệ thống tự nhiên-xã hội-con ngừơi, nghĩa là thực hiện chiến lợc phát triển bền vững vì sự sống tồn không chỉ của thế giới hôm nay mà còn vì sự sống và cơ hội phát triển mai sau.
Xem thêm

12 Đọc thêm

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VẬN DỤNG VÀO VIỆC XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VẬN DỤNG VÀO VIỆC XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA

Trớc năm 1986, đất nớc ta đã gặp rất nhiều khó khăn bởi một nền kinh tế trì trệ, một hệ thống quản lý yếu kém cũng là do một phần không nhận thức đúng và đầy đủ về mối quan hệ giữa vận chất và ý thức. Vấn đề này đã đợc nhận thực đúng sau đổi mới ở đại hội VI, và quả nhiên đã giành rất nhiều thắng lợi sau khi đã chuyển nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Xem thêm

13 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ


Kết luận
Trên đây là những khái quát sơ bộ nhất về quan hệ năm thành phần kinh tế nớc ta hiện nay. Để thực hiện mục tiêu tổng quát của chiến lợc phát triển kinh tế năm 2001: ổn định tình hình kinh tế xã hội, phấn đấu vợt qua tình trạng nớc nghèo kém phát triển, cải thiện đời sống nhân dân củng cố quốc phòng và an ninh, và tạo điều kiện cho đất nớc phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ 21, thì việc xác định đúng quan hệ và có chính sách phù hợp với năm thành phần kinh tế là một nhiệm vụ cấp bách và rất cần thiết của Đảng và Nhà nớc ta trong những năm này.
Xem thêm

21 Đọc thêm

PHÂN TÍCH NHỮNG MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA CÁC BÊN TRONG QUAN HỆ THANH TOÁN THÔNG QUA THẺ NGÂN HÀNG

PHÂN TÍCH NHỮNG MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA CÁC BÊN TRONG QUAN HỆ THANH TOÁN THÔNG QUA THẺ NGÂN HÀNG

Hay một vấn đề khác, có một số quy định của pháp luật còn chưa phù hợp. Ví dụ như quy định về điều kiện của chủ thẻ phụ khi tham gia các quan hệ chưa phù hợp. Mặc dù quy QĐ 20/2007 đã có những sửa đổi về điều kiện giữa chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ so với quy chế năm 371/1999 song còn tồn tại một vấn đề. Đó là việc quy định chủ thẻ phụ cũng phải có NLHVDS đầy đủ là điều không cần thiết, chủ thẻ phụ không phải là đối tượng chủ yếu trong pháp lí, phòng ngừa rủi ro liên quan đến hoạt động thẻ ngân hàng của các tổ chức cung ứng thẻ mà là chủ thẻ chính (cam kết thanh toán toàn bộ các khoản tiền thanh toán cho cả chủ thẻ phụ). Vì vậy, pháp luật cũng nên quy định mềm dẻo hơn về vấn đề này.
Xem thêm

14 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ


ợng", đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ sẽ thực sự làm cho nền kinh tế mạnh lên, nhng cũng thực sự sẽ diễn ra 2 cuộc đấu tranh giữa hai định hớng phát triển kinh tế xã hội. Chính sách phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đòi hỏi có sự khuyến khích kinh tế t nhân phát triển mạnh mẽ vì hiện nay sự phát triển đó còn thấp, cha tơng ứng với tiềm năng hiện có. Tuy nhiên đ- ờng lối đó cũng đòi hỏi thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển. Chỉ có nh vậy mới làm cho các thành phần kinh tế khác ngày càng mạnh lên, phát huy tốt vai trò chỉ đạo và hợp thành nền tảng kinh tế Quốc dân. Trong nền kinh tế nớc ta hiện nay, các thành phần kinh tế bình đẳng trớc pháp luật, nhng không có vai trò, vị trí nh nhau trong quá trình hình thành và xây dựng chế độ kinh tế - xã hội mới. Kinh tế mà nòng cốt là các doanh nghiệp Nhà n- ớc giữ vai trò chủ đạo. Trong quá trình tổ chức xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trờng, Nhà nớc ta sử dụng một phần vốn tài sản thuộc sở hữu Nhà nớc xây dựng khu vực doanh nghiệp nhà nớc đủ mạnh, hoạt động có hiệu quả để giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, Nhà nớc sử dụng các doanh nghiệp Nhà nớc nh một "công cụ vật chất để vừa hớng dẫn, điều chỉnh những biến động tự phát triển của thị trờng; vừa "mở đờng" làm "đầu tàu" thu hút, lôi kéo các thành phần kinh tế khác phát triển theo định hớng, chiến lợc và kế hoạch của Nhà nớc, chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 đã nêu rõ"khu vực quốc doanh đợc sắp xếp lại, đổi mới công nghệ và tổ chức quản lý, kinh doanh có hiệu quả liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác, thực hiện vai trò chỉ đạo và chức năng của công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nớc" (1) . Nh vậy bên cạnh quan hệ thống nhất có liên quan mật thiết đến nhau của các thành phần kinh tế còn tồn tại những mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế. Những mâu thuẫn này tạo động lực và tiền đề cho sự phát triển của nền kinh tế. Năm thành phần kinh tế nớc ta đến nay , không chỉ có mâu thuẫn bên ngoài giữa các thành phần kinh tế mà có mâu thuẫn bên trong bản thân các thành phần kinh tế mà muốn hiểu đúng bản chất của
Xem thêm

20 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI

Một số trào lu triết học khác lại giải thích bản chất con ngời từ góc độ những điểm chung của mọi sinh vật trên trái đất. Bản chất đó là bản tính tự nhiên, là những nhu cầu thuộc về sự duy trì thể xác và dục vọng để phát triển giống nòi; hoặc tìm kiếm bản chất con ngời trong khuôn khổ cá nhân riêng lẻ, nghĩa là con ngời bị tách khỏi mối quan hệ xã hội hiện thực của nó. Tính chất siêu hình của các quan điểm này về bản chất của con ngời biểu hiện ở chỗ, con bản chất là cái vốn có trừu tợng và quy nó về bản tính tự nhiên, tách khỏi xã hội và trở nên bất biến.
Xem thêm

18 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ GIỮA TIỀN TỆ VÀ LẠM PHÁT

MỐI QUAN HỆ GIỮA TIỀN TỆ VÀ LẠM PHÁT


MỐI QUAN HỆ GIỮA TIỀN TỆ VÀ LẠM PHÁT. 1.1 Môi quan hệ lý thuyết giữa tiền tệ và lạm phát
1.2 Khái niệm lạm phát
Trên thực tế có rất nhiều khái niệm khác nhau về lạm phát đã được đưa ra. Mac cho rằng: “lạm phát là sự phát hành tiền mặt quá lố”. Lênin cũng đưa ra: “lạm phát là sự thừa ứ tiền giấy trong các kênh lưu thông”. Năm 1960 Miton Friedman khẳng định: “lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”.Một số tác giả lại quan niệm: lạm phát là tình trạng mức giá chung tăng lên. Một số khác nhấn mạnh tính liên tục của hiện tượng tăng giá và độ dài thời gian. Kết hợp những ý tưởng khác nhau đó, ta có thể đưa ra khái niệm: Lạm phát là tình trạng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định. Thời gian nhất định bao lâu tùy thuộc vào đánh giá của từng người.
Xem thêm

17 Đọc thêm

MỘT SỐ QUAN HỆ GIỮA CÁC CLASS TRONG UML

MỘT SỐ QUAN HỆ GIỮA CÁC CLASS TRONG UML

• <<refine>> : chỉ rằng lớp gốc ở 1 mức độ tinh chế cao hơn từ lớp ngọn . Chẳng hạn 1 lớp lập ở giai đoạn thiết kế nhằn tinh chế cùng lớp đó lập ở giai đoạn phân tích
L u ý ư : Phân bi t gi a Dependency và Association ệ ữ • Association là quan hệ cấu trúc • Dependency là qua hệ phi cấu trúc

5 Đọc thêm