NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHÂN SUẤT DỰ TRỮ LƯU LƯỢNG ĐỘNG MẠCH VÀNH TRONG CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH QUA DA

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHÂN SUẤT DỰ TRỮ LƯU LƯỢNG ĐỘNG MẠCH VÀNH TRONG CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH QUA DA":

NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ BILIRUBIN TOÀN PHẦN HUYẾT TƯƠNG VÀ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH

NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ BILIRUBIN TOÀN PHẦN HUYẾT TƯƠNG VÀ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH

cứ tăng 10% LDL-C thì nguy cơ tim mạch tăng 20%. Người ta cũng thưanhận triglycerid cao luôn kết hợp với tăng nguy cơ tim mạch. HDL-C vốn đượcxem là “yếu tố bảo vệ ” chống lại việc hình thành các mảng xơ vữa và bệnh lýĐMV. Hâu như các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên lớn dùng thuốc hạ mỡ máustatine ở những người không có bằng chứng lâm sàng bệnh ĐMV đều cho thấycác tác dụng có lợi của thuốc đối với các biến cố tim mạchý [33][34][35].- Hoạt động thể lực: lối sống ít vận động là yếu tố nguy cơ mặc bệnhĐMV. Hoạt động thể chất thường xuyên với cường độ vận động từ vừa đếnnặng giúp phòng ngừa bệnh tim mạch. Không ít các nghiên cứu quan sát môtả đã cho thấy mối tương quan nghịch khá mạnh giữa các mức độ hoạt độnglúc nghỉ, mức tiêu thụ năng lượng, thói quen vận động với nguy cơ bệnhĐMV và tử vong. Tác động này theo xu hướng tăng dần, mức độ hoạt độngthể lực càng nhiều, nguy cơ xuất hiện các biến cố tim mạch càng thấp[36]. Đểdự phòng tiên phát mức độ hoạt động thể lực phù hợp trong suốt đời là đi bộ14nhanh tối thiểu 20 phút/ngày và từ 4-6 ngày/tuần. Vận động ở mức độ vừaphải đã là đủ để có nhũng lợi ích về tim mạch (Ví dụ giảm huyết áp, tăngHDL-C trong máu...)chứ không phải cường độ cao(vốn cần để duy trì thểhình hoặc giảm cân)[37][38].- Béo phì và thừa cân: người có lượng mỡ trong cơ thể quá mức, đặcbiệt nếu tích mỡ quá nhiều vùng mông, dễ bị bệnh tim và đột quị ngay cả khikhông có bất kỳ yếu tố nguy cơ của xơ vữa động mạch và bệnh tim mạch baogồm THA, kháng Insulin, rối loạn dung nạp glucose, cholesterol tăng cao,tăng triglycerid, giảm HDL-C và tăng fibrinogen trong huyết tương. Hơn thếnữa, kết quả nghiên cứu từ Framingham Heart Study, Nurse Health study vàmột số nghiên cứu khác cho thấy mối liên quan thuận giữa trọng lượng cơ thểvà bệnh ĐMV[38][23]. Phần bố mỡ trong cơ thể cũng là một yếu tố quan
Xem thêm

48 Đọc thêm

Nhồi máu cơ tim và can thiệp mạch vành cấp cứu doc

NHỒI MÁU CƠ TIM VÀ CAN THIỆP MẠCH VÀNH CẤP CỨU

ra trong khoảng 5-30 phút (kéo dài hơn hẳn so với cơn đau thắt ngực ổn định thông thường), thường không quá 1 giờ. Cơn đau có thể lan lên vai, cổ, hàm hoặc lan dọc theo cánh tay, đặc biệt là tay trái. - Có thể có kèm vã mồ hôi, buồn nôn, chóng mặt hoặc khó thở. - Nhiều trường hợp nhồi máu cơ tim lại biểu hiện như một tình trạng rối loạn tiêu hoá. - Hoặc chẳng hề có triệu chứng (nhồi máu cơ tim thầm lặng), hoặc lại hết sức đột ngột, biểu hiện bằng biến chứng rối loạn nhịp, ngừng tim hay đột tử 5. Chẩn đoán Chẩn đoán nhồi máu cơ tim dựa vào đặc điểm cơn đau thắt ngực, các biến đổi trên điện tâm đồ, các thay đổi về nồng độ men tim, siêu âm tim, nghiệm pháp gắng sức, xạ hình tưới máu cơ tim chụp động mạch vành bằng thuốc cản quang…để chân đoán (không phải trường hợp nào cũng có thể dễ dàng chẩn đoán nhồi máu cơ tim ngay lúc nhập viện. 6. Biến chứng nguy hiểm - Nặng nề nhất và không hiếm xảy ra, đó là tử vong. - Những biến chứng khác: rối loạn nhịp trầm trọng, suy tim tiến triển, sốc tim và ngừng tim - Một vài trường hợp, vùng cơ tim bị hoại tử lớn, gây thủng buồng tim (vỡ tim) có thể gây tử vong hoặc đòi hỏi phải phẫu thuật cấp cứu. 7. Xử trí tại nhà - Khi có cơn đau ngực như mô tả, bạn nên ngưng ngay hoạt động, gọi điện thoại cho thân nhân, nằm nghỉ, có thể sử dụng nitroglycerine ngậm dưới lưỡi (nếu đã được bác sĩ khuyến cáo trước đó). Nếu cơn đau vẫn không giảm, đặc biệt sau khi ngậm Nitroglycerine dưới lưỡi, cần vào bệnh viện hoặc cơ sở chuyên khoa để theo dõi ít nhất 12-24 giờ nhằm loại trừ hoặc xác định chẩn đoán. 8. Những xử trí nào được thực hiện tại bệnh viện Sau khi vào viện, bác sĩ đo huyết áp và thăm khám cho bạn, các xét nghiệm cần thiết sẽ thực hiện khẩn trương . Nếu chẩn đoán được xác minh là có nhồi máu
Xem thêm

8 Đọc thêm

Tìm hiểu bệnh nhồi máu cơ tim docx

TÌM HIỂU BỆNH NHỒI MÁU CƠ TIM DOCX

Do tính chất thường gặp, nguy hiểm đến tính mạng và diễn biến nhanh chóng của bệnh, nên phương châm chủ đạo là tránh tối đa bỏ sót. Cần nghĩ tới nhồi máu cơ tim trước biểu hiện đau hoặc tức nặng ở ngực trái mà không cắt nghĩa được do nguyên nhân nào khác gây ra ở một người lớn tuổi, nhất là khi có các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Khi nghi ngờ, cần vào biện viện hoặc cơ sở chuyên khoa để theo dõi ít nhất 12-24 giờ nhằm loại trừ hoặc xác định chẩn đoán. Chẩn đoán nhồi máu cơ tim dựa vào đặc điểm cơn đau thắt ngực, các biến đổi trên điện tâm đồ, các thay đổi về nồng độ men tim trong máu diễn ra trong quá trình theo dõi (phải làm điện tâm đồ hoặc định lượng men tim trong máu nhiều lần để phát hiện ra các thay đôti này, khoảng cách giữa các lần tối đa là 6 giờ). Chụp động mạch vành bằng thuốc cản quang có hình ảnh tắc một đoạn động mạch vành do huyết khối là biện pháp chẩn đoán chắc chắn. Đối với một số bệnh nhân có triệu chứng điển hình, nguy cơ biến chứng cao (sốc tim, suy tim nặng, rối loạn nhịp ), nên chụp động mạch vành ngay để có chẩn đoán xác định và áp dụng các biện pháp điều trị kịp thời. Những bệnh nhân còn nghi ngờ có thể sử dụng một số biện pháp chẩn đoán khác như siêu âm tim, nghiệm pháp gắng sức, xạ hình tưới máu cơ tim tùy từng trường hợp trước khi chụp động mạch vành. * Biến chứng nguy hiểm là gì ? Nặng nề nhất và không hiếm xảy ra, đó là chết. Những biến chứng tiềm tàng, đe doạ tính mạng, có thể xảy ra bất kỳ lúc nào khi nhồi máu cơ tim bao gồm rối loạn nhịp trầm trọng, suy tim tiến triển, sốc tim và ngừng tim Một vài trường hợp, vùng cơ tim bị hoại tử lớn, gây thủng buồng tim (vỡ tim) có thể gây tử vong hoặc đòi hỏi phải phẫu thuật cấp cứu. Những biện pháp điều trị hiện đại như thuốc tiêu cục máu đông, can thiệp động mạch vành qua da, kết hợp với điều trị nội khoa tích cực từ sớm cho phép ngăn ngừa, hạn chế tiến triển và mức độ ảnh hưởng của các biến chứng với tiên lượng sống của bệnh nhân trong giai đoạn sớm cũng như lâu dài.
Xem thêm

7 Đọc thêm

Nghiên cứu vai trò của thang điểm syntax trong tiên lượng bệnh nhân sau can thiệp động mạch vành qua da

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA THANG ĐIỂM SYNTAX TRONG TIÊN LƯỢNG BỆNH NHÂN SAU CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH QUA DA

nhóm dùng aspirin phối hợp với coumadin [65]. - Thuốc ức chế trực tiếp thrombin.18Những chất ức chế trực tiếp thrombin không cần đồng tố (cofactor) là antithrombin III, tác động trực tiếp lên thrombin tù do hay đã gắn vào cục máu đông, tạo ra tình trạng chống đông ổn định có thể kiểm soát được [66]. * Nhóm thuốc nitrate.Theo hướng dẫn của Trường môn Tim mạch học Hoa Kỳ và Hội Tim mạch Hoa Kỳ (ACC/AHA), nitroglycerin truyền TM nên bắt đầu với liều 15 µg/phút, tăng dần 5-10µg/phút sau 5-10 phút/lần cho tới khi hết đau ngực hoặc có biÓu hiện tụt huyết áp. Hiện tượng dung nạp thuốc có thể xảy ra sớm ngay trong 24 giờ đầu nên cần phải có khoảng thời gian nghỉ thuốc hoặc phải tăng liều. Nitroglycerin truyền TM có hiệu quả trong 48 giờ đầu NMCT cấp. Dùng dài ngày có hiệu quả hơn khi kết hợp với thuốc ƯCMC [22]* Thuốc chẹn thụ thể bêta giao cảm.Chẹn thụ thể bêta giao cảm là nhóm thuốc đối kháng cạnh tranh với catecholamine, làm giảm tần số tim, giảm sức co bóp của cơ tim, do đó làm giảm nhu cầu tiêu thụ oxy của cơ tim. Thuốc chẹn bêta đã được chứng minh là làm giảm tỷ lệ tử vong ở các bệnh nhân NMCT cấp và ở bệnh nhân đau ngực ổn định có thiếu máu cơ tim thầm lặng. Chống chỉ định của nhóm thuốc chẹn bêta giao cảm bao gồm: nhịp chậm, tụt huyết áp, blốc nhĩ thất mức độ cao, hen phế quản, suy tim hoặc sốc tim. Nếu không có chống chỉ định, tất cả bệnh nhân nguy cơ cao nên dùng thuốc chẹn bêta giao cảm đường tĩnh mạch, còn bệnh nhân nguy cơ thấp và trung bình nên dùng đường uống [31], [72]. * Thuốc điều chỉnh rối loạn lipid máu.Gần đây, vai trò quan trọng của điều trị hạ lipid từ sớm, nhanh chóng và tích cực trong NMCT cấp đang được nghiên cứu. Nhóm thuốc “statin” làm ổn định mảng xơ vữa, giảm các biến chứng ĐMV tỷ lệ thuận với mức độ thoái triển bệnh ĐMV. Nghiên cứu RIKS-HIA (Swedish Register of Cardiac Intensive Care) so sánh 5528 bệnh nhân NMCT cấp uống statin trước khi xuất
Xem thêm

101 Đọc thêm

Tìm hiểu bệnh nhồi máu cơ tim pptx

TÌM HIỂU BỆNH NHỒI MÁU CƠ TIM PPTX

rối loạn nhịp trầm trọng, suy tim tiến triển, sốc tim và ngừng tim Một vài trường hợp, vùng cơ tim bị hoại tử lớn, gây thủng buồng tim (vỡ tim) có thể gây tử vong hoặc đòi hỏi phải phẫu thuật cấp cứu. Những biện pháp điều trị hiện đại như thuốc tiêu cục máu đông, can thiệp động mạch vành qua da, kết hợp với điều trị nội khoa tích cực từ sớm cho phép ngăn ngừa, hạn chế tiến triển và mức độ ảnh hưởng của các biến chứng với tiên lượng sống của bệnh nhân trong giai đoạn sớm cũng như lâu dài.  Điều trị như thế nào ? Nhồi máu cơ tim là một tình trạng cấp cứu. Nguyên tắc chung là tái lập dòng máu chảy trong đoạn động mạch vành bị tắc càng sớm càng tốt để cứu vãn tối đa phần cơ tim thoi thóp do thiếu máu nuôi dưỡng nằm xen lẫn với những vùng cơ tim đã chết vì hoại tử do thiếu máu. Dòng chảy động mạch vành chỉ được khôi phục khi loại bỏ được cục máu đông bằng thuốc tiêu cục máu đông hoặc sử dụng các biện pháp can thiệp qua da như nong bắng bóng và hoặc đặt giá đỡ trong lòng động mạch vành kết hợp với việc hút bỏ cục máu đông Chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ cục máu đông tự tan còn đa số phải được can thiệp. Tuy nhiên hiệu quả của các biện pháp này phụ thuộc rất nhiều vào thời gian áp dụng điều trị, thuốc tiêu cục máu đông chỉ có lợi thực sự khi được dùng ngay trong vòng từ 2 đến 4 giờ kể từ lúc khởi phát. Can thiệp động mạch vành qua da cũng chỉ có lợi rõ rệt khi được tiến hành trong vòng 12-18 giờ kể từ lúc khởi phát trừ một số trường hợp can thiệp muộn (trong vòng 36 giờ) vẫn có lợi như đau ngực tái phát sau nhồi máu, sốc tim, suy tim hoặc rối loạn nhịp tiến triển. Một tỷ lệ nhất định các trường hợp tới muộn không dùng được thuốc tiêu sợi huyết, thương tổn không phù hợp để can thiệp bằng bóng hoặc đặt giá đỡ thì mổ bắc cầu nối chủ vành cấp cứu là biện pháp cuối cùng để mở thông lòng mạch và cứu sống bệnh nhân dù tỷ lệ thành công ở giai đoạn cấp không phải là cao. Như vậy khi đã nhồi máu cơ tim, bệnh nhân cần được điều trị tích cực càng sớm càng tốt, nhất là việc mở thông đoạn mạch bị tắc. Việc điều trị các thuốc phối hợp như thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu,
Xem thêm

7 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ HẸP ĐỘNG MẠCH VÀNH CHỨC NĂNG

ĐÁNH GIÁ HẸP ĐỘNG MẠCH VÀNH CHỨC NĂNG

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu* Tiêu chuẩn chọn BN:- BN có triệu chứng đau ngực, được hội chẩn và có chỉ định chụp độngmạch vành qua da xét can thiệp.- Trên phim chụp DSA động mạch vành có tổn thương hẹp mức độtrung bình 50 -70 % đường kính lòng mạch.- Bệnh nhân và gia đình đồng ý thức hiện thủ thuật đo FFR và tham gianghiên cứu.* Tiêu chuẩn loại trừ BN:- Hội chứng vành cấp, phì đại thất trái, tình trạng nội khoa nặng, chốngchỉ định Adenosine.* Số lượng bệnh nhân: 37* Số tổn thương đo FFR : 4512PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắtngang có theo dõi dọc theo thời gian.2. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2012đến tháng 7/ 2014.3. Địa điểm nghiên cứu: Khoa tim mạch canthiệp bệnh viện Hữu nghị.13
Xem thêm

34 Đọc thêm

Nhồi máu cơ tim cấp doc

NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP DOC

Ticlopidine (Ticlid) 250 mg x 2 viên/ngày hoặc Clopidogrel (Plavix) cho ngay 300 mg sau đó 75 mg/ngày. Các nghiên cứu gần đây cho thấy phối hợp giữa Aspirin và Ticlopidin hoặc Clopidogrel làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong. f. Thuốc chống đông: Heparin tiêm thẳng TM liều 65-70 đv/kg sau đó duy trì liều 15-18 đv/kg/giờ. Heparin tự nó không làm giảm tỷ lệ tử vong do NMCT nhưng rất quan trọng nếu bệnh nhân được cho thuốc tiêu huyết khối hoặc can thiệp động mạch vành cấp. Dùng Heparin với thuốc tiêu huyết khối cần cho ngay 5000 đv tiêm TM sau đó truyền tĩnh mạch liều khoảng 1000 đv/giờ (trừ trường hợp cho Streptokinase thì không dùng Heparin phối hợp). Khi dùng Heparin cần điều chỉnh liều theo thời gian APTT sao cho thời gian này gấp 1,5 thời gian chứng (50-75 giây). g. Thuốc chẹn bêta giao cảm: làm giảm tỷ lệ tử vong và giảm diện cơ tim bị nhồi máu hoại tử. Thuốc hay dùng là Metoprolol tiêm TM 5 mg sau đó nhắc lại mỗi 5 phút cho đến tổng liều là 15 mg, trong khi đó bắt đầu cho uống 25-50 mg. Các thuốc khác có thể dùng là Atenolol, Esmolol. Không dùng các thuốc này khi bệnh nhân có dấu hiệu suy tim nặng, nhịp tim chậm dưới 60, huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg, bloc nhĩ thất độ cao, bệnh phổi tắc nghẽn, bệnh mạch ngoại vi nặng. B. Điều trị tái tưới máu Mục tiêu quan trọng nhất trong điều trị NMCT cấp là làm tái tưới máu (tái lưu thông ĐMV bị tắc) càng sớm càng tốt. Ba biện pháp điều trị tái tưới máu hiện nay là: dùng thuốc tiêu huyết khối, can thiệp (nong, đặt stent) động mạch vành cấp, mổ bắc cầu nối chủ-vành cấp. Việc điều trị sớm tái tưới máu đã làm giảm mức độ hoại tử cơ tim, giảm tỷ lệ tử vong và bảo tồn chức năng thất trái. 1. Lựa chọn phương pháp điều trị tái tưới máu: Việc lựa chọn phương
Xem thêm

25 Đọc thêm

Đánh giá tính khả thi và hiệu quả cũng như những ưu điểm và nhược điểm của phương pháp chụp và can thiệp động mạch vành qua đường động mạch quay ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp

ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI VÀ HIỆU QUẢ CŨNG NHƯ NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP CHỤP VÀ CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH QUA ĐƯỜNG ĐỘNG MẠCH QUAY Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP

ổn định, điện tim đồ vẫn có ST chênh lên thì có chỉ định can thiệp ĐMV. Can thiệp ĐMV có tạo thuận tức là can thiệp ĐMV một cách có hệ thống sau khi cho thuốc tiêu huyết khối thành công. Phương pháp này hiện nay vẫn đang bàn cãi và những nghiên cứu gần đây nhất chưa ủng hộ biện pháp này trở thành thường quy trong thực hành. 14 Khi can thiệp ĐMV cần dùng phối hợp với các thuốc: + Aspirin 75-325 mg/ngày phối hợp với Clopidogrel (Plavix) 75 mg/ngày. Thời gian dùng các loại thuốc này tùy thuộc vào loại stent dùng cho bệnh nhân. Đối với stent không bọc thuốc thì nên dùng từ 1-2 tháng, đối với stent bọc thuốc thì cần dùng lâu hơn, từ 6-12 tháng. + Các thuốc ức chế thụ thể GP IIb/IIIa như ReoPro, Aggrastat là những thuốc chống ngưng kết tiểu cầu khá triệt để. Các thuốc này dùng khi can thiệp ĐMV cấp có thể làm giảm tỷ lệ tai biến do can thiệp và tỷ lệ tắc mạch sau can thiệp. Tuy nhiên các thuốc này chỉ cho thấy lợi Ých rõ rệt ở bệnh nhân có nguy cơ cao như đái tháo đường, tổn thương nhiều mạch + Heparin là bắt buộc khi can thiệp. Heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH) chưa chứng minh được hiệu quả vượt trội so với Heparin thường trong NMCT cấp có can thiệp ĐMV. - Mổ làm cầu nối chủ-vành cấp cứu: chỉ được chỉ định khi bệnh nhân đau ngực tái phát sau dùng thuốc tiêu huyết khối hoặc động mạch vành không thích hợp cho can thiệp (tổn thương nhiều thân, tổn thương thân chung, tổn thương phức tạp ) hoặc can thiệp thất bại hoặc bệnh nhân có biến chứng cơ học Không nên chỉ định phẫu thuật ở bệnh nhân có NMCT thất phải vì ảnh hưởng đến quá trình chạy tim phổi nhân tạo [5],[6],[7],[13],[17],[64]. 1.2. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU CHỨC NĂNG HỆ ĐỘNG MẠCH CHI TRÊN VÀ HỆ ĐỘNG MẠCH VÀNH 1.2.1. Đặc điểm giải phẫu chức năng của hệ động mạch chi trên Động mạch chủ chia làm 3 nhánh là nhánh động mạch dưới đòn trái,
Xem thêm

106 Đọc thêm

Điều trị bệnh nhồi máu cơ tim cấp ppt

ĐIỀU TRỊ BỆNH NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP

Điều trị bệnh nhồi máu cơ tim cấp Nhồi máu cơ tim (NMCT) là tình trạng bị nghẽn mạch, thiếu máu đến nuôi một vùng tim, gây hoại tử cơ tim. NMCT là một bệnh lý rất thường gặp và có liên quan nhiều đến sức khoẻ cộng đồng ở các nước phát triển và nguyên nhân thường gặp là do xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, hút thuốc lá… Triệu chứng NMCT cấp Triệu chứng chủ yếu của NMCT cấp là cơn đau thắt ngực điển hình: đau như bóp nghẹt phía sau xương ức hoặc vùng trước tim, lan lên vai trái và mặt trong tay trái cho đến tận ngón đeo nhẫn và ngón út. Cơn đau thường xuất hiện đột ngột, kéo dài hơn 30 phút và không đỡ khi dùng thuốc giãn động mạch vành (nitroglycerin). Đau có thể lan lên cổ, cằm, vai, sau lưng, tay phải, hoặc vùng thượng vị. Tuy nhiên có trường hợp bệnh nhân bị NMCT mà không có hoặc ít cảm giác đau: hay gặp ở bệnh nhân sau mổ, người già, tiểu đường hoặc tăng huyết áp. Ngoài ra còn có các triệu chứng khác như: vã mồ hôi, khó thở, hồi hộp trống ngực, nôn hoặc buồn nôn, lú lẫn… Khám giúp chẩn đoán phân biệt và phát hiện các biến chứng của bệnh. Những triệu chứng hay gặp: nhịp tim nhanh, tiếng tim mờ, tiếng ngựa phi, huyết áp có thể tăng hoặc tụt, xuất hiện tiếng thổi mới ở tim… Điều trị và phòng ngừa NMCT cấp Sự lựa chọn phương pháp điều trị bệnh nhân NMCT cấp nên được quyết định bởi các bác sĩ ở Khoa Cấp cứu cùng phối hợp với các bác sĩ tim mạch dựa theo các phác đồ của bệnh viện. Nếu ở các bệnh viện không có khả năng can thiệp, cần giải thích rõ cho bệnh nhân và gia đình về tình trạng
Xem thêm

5 Đọc thêm

Sự biến đổi nồng độ NT - proBNP huyết tương trước và sau can thiệp động mạch vành qua da

SỰ BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ NT - PROBNP HUYẾT TƯƠNG TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH QUA DA

ĐẶT VẤN ĐỀ Ở các nước phát triển, bệnh động mạch vành là bệnh mạn tính phổ biến nhất và đe dọa tính mạng của bệnh nhân. Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc bệnh động mạch vành 6% năm 2010, với nhóm tuổi ≥ 65 tuổi chiếm đa số (19,8%), tỷ lệ ở nam giới 7,8% và nữ giới 4,6%. Với 16,8 triệu người được chẩn đoán bệnh động mạch vành, trong đó có 7,9 triệu người mắc bệnh nhồi máu cơ tim. Tại Châu Âu, có tới 600.000 bệnh nhân tử vong mỗi năm do bệnh động mạch vành và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu [1], [2]. Ở Việt Nam, tại Viện Tim mạch Việt Nam thấy nhóm bệnh nhân mắc bệnh tim thiếu máu cục bộ tăng dần sau mỗi năm, từ 11,2% (năm 2003) lên 24% (năm 2007), trung bình là 18,3% tổng số bệnh nhân nhập viện (với 8.267 bệnh nhân). Trong cả nước ngày càng có nhiều trung tâm can thiệp động mạch vành với số lượng bệnh nhân ngày càng tăng hơn [3]. Trong nhiều năm qua, chúng tôi chứng kiến sự gia tăng đáng kể số lượng các nghiên cứu lâm sàng liên quan đến việc ứng dụng của B-type natriuretic peptide (BNP) và NT- proBNP (N Terminalfragment pro–B-type natriuretic peptide). Hiện nay, BNP và NT - proBNP sử dụng như công cụ cận lâm sàng để chẩn đoán suy tim cấp. Những quan sát thực nghiệm cho thấy nồng độ NT – proBNP huyết thanh cũng liên quan đến mức độ rối loạn chức năng tâm trương và tâm thu thất, bằng chứng cho thấy thiếu máu cơ tim là yếu tố kích thích mạnh mẽ đến phóng thích peptide thải natri. Nhiều nghiên cứu chứng minh mối liên quan chặt chẽ, độc lập giữa nồng độ NT - proBNP huyết thanh và tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân động mạch vành. Ngoài ra, BNP và NT - proBNP được xem như yếu tố tiên lượng của bệnh suy tim và hội chứng mạch vành cấp cũng như bệnh động mạch vành ổn định [4], [5], [6], [7]. Các peptide thải natri niệu (NT - proBNP) được phóng thích nhanh chóng sau tổn thương thiếu máu cơ tim cấp. Nồng độ NT – proBNP tăng sau thiếu máu cơ tim do nhiều yếu tố khác nhau. Thiếu máu cơ tim gây ra tình trạng căng giãn của tế bào cơ tim, dẫn đến rối loạn chức năng tâm thu và hoặc tâm trương thất trái là tác nhân quan trọng gây phóng thích NT - proBNP huyết thanh. Thiếu máu cơ tim và giảm oxy tế bào cũng kích thích sản xuất NT - proBNP huyết thanh [8], [9]. Hiện tại, chúng ta đã có nhiều hiểu biết hơn về phòng bệnh, tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị bệnh mạch vành. Về điều trị có 03 phương pháp chính là: điều trị nội khoa, can thiệp mạch vành và phẩu thuật bắt cầu nối. Trong đó, can thiệp động mạch vành qua da được xem là biện pháp hiệu quả hơn cả và đang được áp dụng rộng rãi [10]. Các công trình nghiên cứu đều tập trung đánh giá biến đổi NT-proBNP cũng như tiên lượng và tỷ lệ tử vong trong hội chứng vành cấp, đau thắt ngực ổn định. NT-proBNP thay đổi như thế nào trước và sau can thiệp, các yếu tố nào ảnh hưởng đến nó. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Sự biến đổi nồng độ NT - proBNP huyết tương trước và sau can thiệp động mạch vành qua da” nhằm 02 mục tiêu: 1. Đánh giá sự biến đổi nồng độ NT – proBNP huyết tương trước và sau can thiệp động mạch vành qua da. 2. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi nồng độ NT- proBNP huyết tương trước và sau can thiệp động mạch vành qua da.
Xem thêm

73 Đọc thêm

Điều trị và phòng ngừa bệnh nhồi máu cơ tim cấp potx

ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA BỆNH NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP POTX

Điều trị và phòng ngừa bệnh nhồi máu cơ tim cấp Điều trị và phòng ngừa NMCT cấp Sự lựa chọn phương pháp điều trị bệnh nhân NMCT cấp nên được quyết định bởi các bác sĩ ở Khoa Cấp cứu cùng phối hợp với các bác sĩ tim mạch dựa theo các phác đồ của bệnh viện. Nếu ở các bệnh viện không có khả năng can thiệp, cần giải thích rõ cho bệnh nhân và gia đình về tình trạng bệnh, những lợi ích và nguy cơ của can thiệp động mạch vành (ĐMV) qua da và yêu cầu bệnh nhân hoặc người nhà ký giấy cam đoan xin chuyển đến bệnh viện có khả năng tái tưới máu cơ học cấp cứu gần nhất. Trong quá trình vận chuyển bệnh nhân cần có nhân viên y tế được đào tạo về cấp cứu tim mạch đi cùng, với các phương tiện cấp cứu cơ bản, bằng các phương tiện vận chuyển cấp cứu phù hợp khi tình trạng bệnh nhân tương đối ổn định sau những sơ cứu ban đầu. Các biện pháp chung cho mọi bệnh nhân bao gồm: nghỉ ngơi tại giường; thở ôxy; thuốc giảm đau (morphin sulphat), thuốc giãn ĐMV nitroglycerin ngậm dưới lưỡi, hoặc natispray xịt dưới lưỡi; cho ngay thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu: aspirin, và/hoặc clopidogrel (nếu không có chống chỉ định); thuốc chống đông: heparin thường hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp; thuốc chẹn bêta giao cảm (nếu không có các chống chỉ định); thuốc ức chế men chuyển: nên cho sớm và bắt đầu liều nhỏ (trong vòng 24 giờ đầu). Chế độ dinh dưỡng: ăn nhẹ, tránh táo bón, chế độ ăn đủ năng lượng, ít cholesterol và muối. Việc lựa chọn phương pháp điều trị tái tưới máu ngay cho bệnh nhân NMCT cấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian đến viện, tình trạng bệnh nhân, điều kiện trang thiết bị và trình độ của cơ sở y tế. Có 3 biện pháp điều trị tái tưới máu: Điều trị tái tưới máu ĐMV bằng thuốc tiêu sợi huyết: Nếu không có chống chỉ định, nên sử dụng thuốc tiêu sợi huyết cho những bệnh nhân có biểu hiện đau thắt ngực trong vòng 12 giờ kể từ lúc khởi phát, có kèm theo biểu hiện đoạn ST chênh lên (1mm ở ít nhất hai chuyển đoạn ngoại vi, 2mm ở hai chuyển đạo liên tiếp trước tim) và/hoặc biểu hiện blốc nhánh trái mới trên điện tim đồ. Muốn đạt hiệu quả tối ưu, phải dùng thuốc tiêu sợi huyết càng sớm càng tốt dựa trên những tiêu chuẩn về
Xem thêm

3 Đọc thêm

Nghiên cứu hẹp động mạch vành mức độ trung gian bằng siêu âm nội mạch và phân suất dự trữ lưu lượng ở bệnh nhân bệnh mạch vành mạn tính (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU HẸP ĐỘNG MẠCH VÀNH MỨC ĐỘ TRUNG GIAN BẰNG SIÊU ÂM NỘI MẠCH VÀ PHÂN SUẤT DỰ TRỮ LƯU LƯỢNG Ở BỆNH NHÂN BỆNH MẠCH VÀNH MẠN TÍNH (FULL TEXT)

MỞ ĐẦU Bệnh động mạch vành hay còn gọi tắt là bệnh mạch vành (BMV) với những tổn thương hẹp hoặc tắc chủ yếu do xơ vữa động mạch vành, phổ biến trên toàn thế giới và đang ngày càng thường gặp ở nước ta [1],[4]. Tình trạng xơ vữa động mạch vành có thể duy trì trạng thái không triệu chứng hàng thập kỷ. Sự chuyển dịch chậm hay nhanh và từ không sang có triệu chứng tắc nghẽn gây thiếu máu cơ tim cục bộ có liên quan đến huyết khối xơ vữa động mạch vành [37]. Hậu quả là gây mất cân bằng giữa khả năng cung cấp của hệ thống động mạch vành và nhu cầu oxy cũng như dinh dưỡng của cơ tim. Trong thực hành khi triệu chứng lâm sàng và kết quả cận lâm sàng điển hình thì việc chẩn đoán dễ dàng [1],[4],[5],[8],[9]. Chụp động mạch vành hiện vẫn là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh mạch vành [101]. Khi triệu chứng lâm sàng không rõ ràng, tổn thương trên chụp mạch vành không được bộc lộ rõ hoặc ở mức độ trung gian thì việc chẩn đoán tổn thương hẹp có ý nghĩa hay không hoặc có nguy cơ biến chứng cao trong tương lai gần hay không thì cần phải sử dụng những công cụ hỗ trợ hình ảnh và chức năng thích hợp [102], [35]. Công cụ chẩn đoán hình ảnh thường có những điểm hạn chế khi suy diễn khả năng đánh giá chức năng, và ngược lại, công cụ đánh giá chức năng lại không đánh giá được những tổn thương hẹp kèm tái định dạng mạch máu hoặc tổn thương nguy cơ cao có thể gây biến cố tim mạch sớm. Vì vậy, việc sử dụng hợp lý những kỹ thuật này hoặc kết hợp những tiêu chuẩn chẩn đoán với nhau trong những trường hợp cần thiết sẽ giúp tăng độ chính xác khi đánh giá tổn thương động mạch vành. Phân suất dự trữ lưu lượng (FFR) đã được nghiên cứu sâu và xác lập giá trị ngưỡng chẩn đoán thiếu máu cơ tim (FFR < 0,8) với độ tin cậy rất cao cho tổn thương trên từng nhánh động mạch chi phối một vùng cơ tim tương ứng [61],[76]. Bên cạnh đó, do tính chất dễ sử dụng nên FFR cũng đã trở thành công cụ tham chiếu trong nghiên cứu cho các phương pháp đánh giá thiếu máu cơ tim khác như chụp mạch vành chọn lọc, siêu âm nội mạch… cho từng tổn thương trên một nhánh động mạch chi phối một vùng cơ tim tương ứng. Siêu âm nội mạch (IVUS) là công cụ dễ sử dụng và đo đạc định lượng chính xác các thông số giải phẫu học tổn thương, giúp chẩn đoán thiếu máu cơ tim và hỗ trợ đắc lực trong can thiệp mạch vành. Đối với tổn thương thân chung động mạch vành trái, giá trị tiết diện cắt ngang lòng mạch tối thiểu (MLA) (MLA < 6mm 2 ) vẫn còn giá trị trong chẩn đoán thiếu máu cơ tim [65]. Trong khi đó, ứng dụng đơn thuần giá trị điểm cắt cũ về tiết diện cắt ngang lòng mạch tối thiểu cho các tổn thương mạch máu không phải thân chung động mạch vành trái (MLA ≤ 4,0mm 2 ) [86],[97],[112] của IVUS đã cho thấy tỉ lệ dương tính giả quá nhiều kể từ khi FFR được công nhận trong đánh giá thiếu máu cơ tim ngay tại phòng thông tim và IVUS được bắt đầu nghiên cứu chung với FFR [47],[48],[49],[83]. Vì vậy, hiện tại IVUS đang bị hạ bậc trong các hướng dẫn lâm sàng mới [61]. Do đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu hẹp động mạch vành mức độ trung gian bằng siêu âm nội mạch và phân suất dự trữ lưu lượng ở bệnh nhân bệnh mạch vành mạn tính” với các mục tiêu: 1. Nghiên cứu đặc điểm hình thái học tổn thương mạch vành mức độ trung gian qua chụp mạch, siêu âm nội mạch và phân suất dự trữ lưu lượng 2. So sánh giá trị và sự tương quan kỹ thuật chụp động mạch vành phối hợp siêu âm nội mạch và/ hoặc phân suất dự trữ lưu lượng trong đánh giá tổn thương mạch vành mức độ trung gian 3. Xác định giá trị điểm cắt mới (Cut – off ) của tiết diện cắt ngang lòng mạch tối thiểu trên siêu âm nội mạch Tính chất cấp thiết, khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
Xem thêm

166 Đọc thêm

Tài liệu Tiến bộ trong điều trị bệnh lý tim mạch pdf

TÀI LIỆU TIẾN BỘ TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ TIM MẠCH PDF

Đối với van động mạch chủ: tháng 4/2002, tại Bệnh viện Charles Nicolle ở thành phố Ruoen, Cộng hòa Pháp. BS. Cribier đã tiến hành trường hợp thay van động mạch chủ qua da đầu tiên thành công. Năm 2006, Cribier đã công bố kết quả rất đáng khích lệ qua nghiên cứu 56 trường hợp đầu tiên thay van động mạch chủ qua da. Tuy nhiên, trước mắt, kỹ thuật này chỉ được áp dụng với những trường hợp không còn khả năng phẫu thuật hoặc nguy cơ tử vong phẫu thuật quá cao (&gt;20%). Đối với các bệnh lý động mạch: Bệnh phình hoặc bóc tách động mạch chủ: ngày nay người ta đã tiến hành đặt giá đỡ bằng kim loại (được gọi là stent) vào trong lòng động mạch chủ thay cho phẫu thuật. Có rất nhiều loại stent khác nhau, có loại stent chứa cả các nhánh động mạch nhỏ để có thể giải quyết được việc mở thông các nhánh động mạch xuất phát từ động mạch chủ như động mạch chậu hai bên, động mạch thận Hẹp động mạch vành: nong động mạch vành bằng bóng đã được bác sĩ Gruentzig tiến hành từ năm 1977, đặt stent động mạch vành từ năm 1987. Những phương pháp mới xuất hiện gần đây trong điều trị bệnh động mạch vành đó là: * Làm cầu nối ĐMV bằng phương pháp can thiệp qua da: có nhiều phương pháp, tuy nhiên có 2 phương pháp được cho là hữu hiệu đó là: ghép tĩnh mạch vành vào với động mạch vành sau khi làm tắc 2 đầu tĩnh mạch sau đó đoạn tĩnh mạch vành này sẽ được nối với động mạch vành phía trên và dưới chỗ hẹp. Phương pháp thứ 2 là đưa một đoạn vật liệu làm cầu nối qua một dụng cụ đặc biệt vào động mạch chủ, sau đó đoạn vật liệu này được gắn một đầu vào động mạch chủ, đầu kia được nối với động mạch vành sau vị trí hẹp bằng những kỹ thuật cũng khá đặc biệt. Kết quả là tạo được một cầu nối đưa máu tới vị trí động mạch vành phía sau đoạn hẹp. * Phẫu thuật làm cầu nối chủ vành trong lúc tim vẫn còn đập. Trước đây, để làm cầu nối, người ta phải cho tim ngừng đập và dùng tuần hoàn ngoài cơ thể (hay còn gọi là tim phổi nhân tạo), sau khi ghép xong người ta mới cho tim đập trở lại. Với kỹ thuật này, tim không cần ngừng đập, không phải sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể sẽ làm cho thời gian hồi phục của bệnh nhân rất nhanh, chi phí phẫu thuật
Xem thêm

5 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT BẮC CẦU ĐỘNG MẠCH VÀNH TRÊN BỆNH NHÂN CÓ PHÂN SUẤT TỐNG MÁU THẤT TRÁI GIẢM

NGHIÊN CỨU PHẪU THUẬT BẮC CẦU ĐỘNG MẠCH VÀNH TRÊN BỆNH NHÂN CÓ PHÂN SUẤT TỐNG MÁU THẤT TRÁI GIẢM

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh mạch vành là một bệnh rất phổ biến ở các nước phát triển và hiện đang có xu hướng gia tăng rất mạnh ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Bệnh mạch vành là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước phương Tây, và là một trong năm nhóm bệnh tử vong cao nhất ở Mỹ năm 2002 [24]. Theo dự đoán, bệnh mạch vành vẫn sẽ là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới vào năm 2020 [153]. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính tử vong do bệnh mạch vành trên toàn cầu sẽ gia tăng từ 7,2 triệu người ở năm 2002 đến 11,1 triệu người vào năm 2020 [21]. Hiện nay có ba phương pháp điều trị bệnh mạch vành: điều trị nội khoa, can thiệp động mạch vành qua da, phẫu thuật bắc cầu mạch vành (PTBCĐMV). Điều trị bệnh mạch vành ngày nay tiến bộ đáng kể so với những năm qua, một phần lớn là do sự cải tiến về kỹ thuật phẫu thuật và can thiệp mạch vành qua da. Vào thập niên 1950, với sự ra đời kỹ thuật tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT), các nhà ngoại khoa bắt đầu áp dụng PTBCĐMV. Từ đấy, PTBCĐMV được xem như là một trong những biện pháp tái tưới máu cơ tim có hiệu quả ở những bệnh nhân bị bệnh mạch vành. Sau đó, đến thập niên 1970 can thiệp ĐMV qua da, một thủ thuật ít xâm lấn hơn hẳn PTBCĐMV bắt đầu phát triển. Nhiều tiến bộ của kỹ thuật can thiệp ĐMV ngày nay đã cho phép giải quyết những tổn thương phức tạp của ĐMV, nên chỉ định của PTBCMV đã ngày một giới hạn hơn [80]. Từ giữa năm 1999 đến năm 2002, số lượng bệnh nhân được can thiệp ĐMV gia tăng với tốc độ 6,8% mỗi năm so với PTBCMV là 1,9% mỗi năm [112]. Tuy nhiên, PTBCMV vẫn giữ vai trò rất quan trọng, nhiều nghiên cứu cho thấy lợi ích vượt trội của PTBCMV so với can thiệp mạch vành qua da đối với những bệnh nhân có tổn thương thân chung ĐMV, tổn thương nhiều nhánh ĐMV, kèm theo ĐTĐ, chức năng thất trái giảm. Chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ, mỗi năm có hơn 300.000 trường hợp được PTBCĐMV [68]. Trải qua bốn thập niên, PTBCĐMV là một trong những phẫu thuật được xem là thành tựu lớn của nền y học. PTBCĐMV cho phép điều trị dứt điểm các cơn đau thắt ngực, cải thiện khả năng gắng sức và kéo dài tuổi thọ của nhiều người bệnh mạch vành do xơ vữa động mạch [66]. Những kết quả sớm và muộn đạt được rất tốt là do việc chỉ định, cải tiến kỹ thuật mổ, biện pháp bảo vệ cơ tim trong khi phẫu thuật, cách lựa chọn loại mạch máu làm cầu nối, tiến bộ của gây mê hồi sức tim mạch, và chăm sóc hậu phẫu…[93]. Từ thập niên 1990, PTBCĐMV tiến thêm một bước mới: Phẫu thuật không cần làm ngưng tim (off – pump), đây là một phương pháp mới, đã mở ra nhiều hứa hẹn tốt đẹp cho những bệnh nhân bị bệnh mạch vành [107]. Cùng với sự hiểu biết và cải tiến không ngừng về kỹ thuật và dụng cụ, để khẳng định chỗ đứng vững chắc trong điều trị chung về bệnh mạch vành, PTBCĐMV cần đạt kết quả phẫu thuật tốt hơn, tỉ lệ tử vong và biến chứng thấp hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn, chi phí ít tốn kém hơn. Đặc biệt PTBCĐMV trên những bệnh nhân có phân suất tống máu thấp ≤40%. Đó cũng là những vấn đề mà các nhà phẫu thuật cũng như các nhà nghiên cứu y học trên thế giới đang rất quan tâm. So với các nước trên thế giới, Việt Nam khởi đầu chậm hơn trong phẫu thuật tim nói chung và phẫu thuật bắc cầu ĐMV nói riêng. Hiện nay, phẫu thuật bắc cầu ĐMV đã được thực hiện ở một số bệnh viện trung ương và cũng đã có những công trình nghiên cứu về kết quả phẫu thuật này [2],[3],[4],[5],[9],[13]. Tuy nhiên, hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá kết quả phẫu thuật bắc cầu ĐMV trên bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái giảm, mà hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều nhấn mạnh rằng đây chính là yếu tố gây tử vong hàng đầu trong phẫu thuật. Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng PTBCĐMV cho phẫu thuật này, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu điều trị phẫu thuật bắc cầu động mạch vành trên bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái giảm” với 2 mục tiêu: 1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, các yếu tố tiên lượng và chỉ định phẫu thuật bắc cầu động mạch vành trên bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái giảm. 2. Đánh giá kết quả sớm trên bệnh nhân phẫu thuật bắc cầu động mạch vành với phân suất tống máu thất trái giảm.
Xem thêm

140 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ, MARKER VIÊM Ở BỆNH NHÂN BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH MẠN TÍNH

NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ, MARKER VIÊM Ở BỆNH NHÂN BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH MẠN TÍNH

Lê Thị Thu Trang, năm 2011, thấy răng nồng độ trung bình của CRP (mg/l) và IL-6 (pg/ml) ở người tăng huyết áp cao hơn hẳn người không tăng huyết áp, p&lt; 0,0001. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu: Gồm 109 bệnh nhân, kết quả chụp động mạch vành chia làm 02 nhóm. 2.1.1. Nhóm I: 31 bệnh nhân có kết quả hẹp &lt; 50% đường kính lòng động mạch vành (nhóm chứng). 2.1.2.Nhóm II: 78 bệnh nhân có kết quả hẹp ≥ 50% đường kính lòng động mạch vành (nhóm bệnh động mạch vành mạn tính). 2.1.3. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân Bệnh nhân vào viện với cơn đau thắt ngực. Bệnh nhân có yếu tố nguy cơ: tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá, thừa cân, đái tháo đường, tuổi cao. Điện tim, siêu âm tim có hình ảnh thiếu máu cơ tim hoặc nghi ngờ thiếu máu cơ tim. Kết 7quả chụp động mạch vành có hẹp động mạch do vữa xơ, hoặc hẹp không ý nghĩa. 2.1.4. Tiêu chuẩn loại trừ Nhồi máu cơ tim trong giai đoạn cấp, loạn nhịp tim nặng. Dị tật bẩm sinh động mạch vành, cầu cơ. Do thuyên tắc ĐMV (cục máu đông, khí, mảng sùi ). Các bệnh hệ thống làm viêm động mạch (bệnh Kawasaki, Takayasu, lupus ban đỏ hệ thống ). Tổn thương
Xem thêm

27 Đọc thêm

Điều cần biết khi can thiệp động mạch vành pps

ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH

theo lời dặn của bác sĩ. Không nên bi quan về bệnh tật của mình. Hãy đến gặp bác sĩ để có các thông tin cần thiết, hãy liên lạc với những người có cùng phương pháp điều trị để trao đổi kinh nghiệm trong cuộc sống và phòng bệnh. PGS.TS. Nguyễn Quang Tuấn

4 Đọc thêm

NHỒI MÁU CƠ TIM pot

NHỒI MÁU CƠ TIM POT

3.2.2.4. Khi can thiệp động mạch vành cần dùng phối hợp với các thuốc- Aspirin:+ 75 - 325 mg/ngày kéo dài, phối hợp Clopidogrel (Plavix) 75 mg/ngày. + Tùy loại stent được dùng cho bệnh nhân mà thời gian kéo dài của thuốc này(Plavix) là bao lâu.. Đối với stent không bọc thuốc thì nên dùng từ 1 - 2 tháng.. Stent bọc thuốc cần dùng lâu hơn từ 6 - 12 tháng. - Các thuốc ức chế thụ thể GP IIb/IIIa (ReoPro, Aggrastat ): 19+ Là những thuốc chống ngưng kết tiểu cầu khá triệt để. + Khi dùng cùng với can thiệp ĐMV cấp có thể làm giảm các tỷ lệ tai biến docan thiệp và tỷ lệ tắc mạch sau can thiệp. + Tuy nhiên, các thuốc này chỉ cho thấy lợi ích rõ rệt ở nhóm có nguy cơ cao(đái tháo đường, nhiều mạch tổn thương…).- Heparin:+ Là bắt buộc trong khi can thiệp. + Heparin trọng lượng phân tử thấp chưa chứng minh được hiệu quả vượt trộiso với heparin thường trong NMCT cấp có can thiệp ĐMV.3.2.3. Mổ làm cầu nối chủ - vành cấp cứu- Chỉ định:+ Bệnh nhân đau ngực tái phát sau dùng tiêu huyết khối hoặc+ Động mạch vành không thích hợp cho can thiệp (tổn thương nhiều thân, tổnthương thân chung, tổn thương phức tạp ) hoặc+ Can thiệp thất bại, hoặc bệnh nhân có những biến chứng cơ học - Không nên chỉ định phẫu thuật ở bệnh nhân có NMCT thất phải vì ảnhhưởng đến quá trình chạy tim phổi nhân tạo.3.3. Điều trị tiếp theo3.3.1. Các biện pháp chung3.3.1.1. Chế độ vận động- Với những bệnh nhân trong giai đoạn cấp hoặc chưa ổn định cần bất động
Xem thêm

31 Đọc thêm

Điều cần biết khi can thiệp động mạch vành pot

ĐIỀU CẦN BIẾT KHI CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH

Nếu tổn thương chỉ cần nong bằng bóng thì thủ thuật sẽ dừng lại ở đây và bác TRANG 8 ĐẶT KHUNG ĐỠ STENT ĐỂ DUY TRÌ KHẨU KÍNH CỦA LÒNG MẠCH Cũng như kỹ thuật nong bóng, bóng gắn stent đượ[r]

15 Đọc thêm

đánh giá chức năng tâm thu thất trái trước và sau phẫu thuật bắc cầu nối chủ - vành không dùng tuần hoàn ngoài cơ thể

ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG TÂM THU THẤT TRÁI TRƯỚC VÀ SAU PHẪU THUẬT BẮC CẦU NỐI CHỦ - VÀNH KHÔNG DÙNG TUẦN HOÀN NGOÀI CƠ THỂ

4], [9], [14], [42], [67]. 13Diễn biến lâm sàng Đau tiền triệu: Một phần ba số bệnh nhân có tiền sử xen kẽ các hình thái đau thắt ngực, đợt khởi phát mới của thắt ngực có thể điển hình hoặc không điển hình, hoặc có cảm giác khó chịu bất thờng ở ngực. Đau của nhồi máu: Hầu hết trờng hợp nhồi máu cơ tim xảy ra trong lúc nghỉ ngơi, không giống các cơn đau thắt ngực. Đau cũng tơng tự nh đau thắt ngực về vị trí và hớng lan nhng nặng hơn và tăng lên nhanh chóng hoặc dần đạt tới tối đa trong một vài phút hoặc lâu hơn. Nitroglycerin ít tác dụng, ngay cả thuốc giảm đau có thuốc phiện cũng không làm hết đau. Các triệu chứng kết hợp: Bệnh nhân có thể vã mồ hôi lạnh, cảm giác yếu và sợ hãi, không thể nằm yên tĩnh, đau đầu nhẹ, nôn, buồn nôn hoặc chớng bụng có thể xuất hiện đơn thuần hoặc kết hợp với nhau Nhồi máu không đau: một số ít các trờng hợp không đau hoặc đau rất nhẹ và thờng bị che khuất bởi các biến chứng tức thì. Chết đột ngột và các rối loạn nhịp sớm: Vào khoảng 20% các bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp bị chết trớc khi đến viện. Chết đột ngột thờng xảy ra trong những giờ đầu và chủ yếu do rung thất. Toàn thân: Bệnh nhân thờng lo lắng vã nhiều mồ hôi. Tần số tim có thể thay đổi từ chậm rõ rệt đến nhịp nhanh, cung lợng tim thấp. Huyết áp có thể cao. Khó thở thờng chứng tỏ suy tim. Phổi: Hai phế trờng sạch là tiên lợng tốt, nhng thờng thấy ran ở hai đáy phổi và không phải bao giờ cũng do suy tim, ran rộng hơn hoặc tiếng ngáy lan toả có thể chứng tỏ phù phổi cấp. Tim: Khám tim có thể thấy bình thờng, tĩnh mạch cổ nổi có thể chỉ ra rằng có nhồi máu thất phải hoặc tăng áp lực đổ đầy thất trái. Tiếng tim mờ, nhịp ngựa phi chứng tỏ có rối loạn chức năng thất trái. Tiếng thổi tâm thu hở
Xem thêm

92 Đọc thêm

CHẨN ĐOÁN BỆNH KAWASAKI Ở TRẺ EM docx

CHẨN ĐOÁN BỆNH KAWASAKI Ở TRẺ EM DOCX

1. Đoàn Tấn Huy Tâm, Vũ Minh Phúc (2005). Yếu tố nguy cơ tổn thương động mạch vành giai đoạn cấp ở bệnh nhi Kawasaki được điều trị globulin tại bệnh viện Nhi Đồng 1 và 2. Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú bệnh viện. Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh. Khoa Y. Bộ môn Nhi.2. Đỗ Nguyên Tín, Vũ Minh Phúc, Hoàng Trọng Kim (2003). Khảo sát yếu tố nguy cơ dãn mạch vành trong bệnh Kawasaki ở trẻ em. Thời sự Tim mạch học, số tháng 02;60.3. Jane w. Newburger, Kathryn a. Taubert, Stanford t. Shulman (2003). Summary and abstracts of the seventh international kawasaki disease symposium December 4–7, 2001, hakone, Japan. Pediatric research 53(1).4. Jane W. Newburger, Masato Takahashi, et al (2004). Diagnosis, Treatment, and Long-Term Management of Kawasaki Disease: A Statement for Health Professionals From the Committee on Rheumatic Fever, endocarditis, and Kawasaki Disease, Council on Cardiovascular Disease in the Young, American Heart Association. Circulation 110:2747-2771.5. Jane C Burns, Mary P glodé (2004). Kawasaki syndrome. Lancet 364:533–44.6. Kathryn Senior January (2007). Cause of Kawasaki syndrome uncertain again. The Lancet Infectious Diseases 7(1). 7. Stanford t. Shulman, h. Rowley (2004). Advances in kawasaki disease. Eur j pediatr 163:285–291.(còn tiếp)
Xem thêm

5 Đọc thêm