ĐOẠN VĂN TỰ SỰ CÓ YẾU TỐ MIÊU TẢ BIỂU CẢM KHOAN 100 TU

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐOẠN VĂN TỰ SỰ CÓ YẾU TỐ MIÊU TẢ BIỂU CẢM KHOAN 100 TU":

Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm

LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN TỰ SỰ KẾT HỢP VỚI MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM

1. Xây dựng đoạn văn tự sự có kết hợp với miêu tả và biểu cảm từ những sự việc và nhân vật a) Chọn một trong các sự việc và nhân vật cho trước dưới đây để viết một đoạn văn tự sự có kết hợp với miêu tả và biểu cảm: (1) Em trót đánh vỡ một lọ hoa rất đẹp. 2) Em giúp đỡ một người cao tuổi qua đường vào lúc xe cộ đi lại rất đông. (3) Trong ngày sinh nhật ( hoặc lễ, tết) em bất ngờ nhận được một món quà rất thú vị. Gợi ý: - Xác định đối tượng kể: sự việc và nhân vật; - Lựa chọn ngôi kể: ngôi thứ nhất – “tôi” hoặc “em”; - Sắp xếp thứ tự các sự việc theo diễn biến câu chuyện; - Xác định nội dung miêu tả và biểu cảm trong đoạn văn sẽ viết; - Viết thành đoạn văn. 2. Trong vai ông giáo, hãy viết một đoạn văn kể lại chuyện lão Hạc sang báo tin sau khi bán chó với vẻ mặt và tâm trạng đau khổ. Gợi ý: Ở đây không đặt ra yêu cầu phải viết giống như lời văn của Nam Cao. Bằng lời văn của mình, chú ý khắc hoạ hình ảnh và tâm trạng đau khổ của lão Hạc trong sự việc báo tin bán chó. 3. Phân tích sự kết hợp giữa kể chuyện với miêu tả và biểu cảm trong đoạn trích sau: “Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay: - Cậu vàng đi đời rồi, ông giáo ạ! - Cụ bán rồi? - Bán rồi! Họ vừa bắt xong. Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà oà lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót xa năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc. Tôi hỏi cho có chuyện: - Thế nó cho bắt à? Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…” (Trích Lão Hạc, Nam Cao) Gợi ý: - Hình ảnh lão Hạc được khắc hoạ như thế nào? - Tâm trạng đau khổ của lão sau khi bán chó được tác giả thể hiện ra sao? - Thái độ của ông giáo? - Việc kết hợp miêu tả và biểu cảm trong lời kể đạt hiệu quả nghệ thuật ra sao? loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

SOẠN BÀI: LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN TỰ SỰ KẾT HỢP VỚI MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM

SOẠN BÀI: LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN TỰ SỰ KẾT HỢP VỚI MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM

LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN TỰ SỰ KẾT HỢP VỚI MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM 1. Xây dựng đoạn văn tự sự có kết hợp với miêu tả và biểu cảm từ những sự việc và nhân vật a) Chọn một trong các sự việc và nhân vật cho trước dưới đây để viết một đoạn văn tự sự có kết hợp với miêu tả và biểu cảm: (1) Em trót đánh vỡ một lọ hoa rất đẹp. (2) Em giúp đỡ một người cao tuổi qua đường vào lúc xe cộ đi lại rất đông. (3) Trong ngày sinh nhật ( hoặc lễ, tết) em bất ngờ nhận được một món quà rất thú vị. Gợi ý: - Xác định đối tượng kể: sự việc và nhân vật; - Lựa chọn ngôi kể: ngôi thứ nhất - “tôi” hoặc “em”; - Sắp xếp thứ tự các sự việc theo diễn biến câu chuyện; - Xác định nội dung miêu tả và biểu cảm trong đoạn văn sẽ viết; - Viết thành đoạn văn. 2. Trong vai ông giáo, hãy viết một đoạn văn kể lại chuyện lão Hạc sang báo tin sau khi bán chó với vẻ mặt và tâm trạng đau khổ. Gợi ý: Ở đây không đặt ra yêu cầu phải viết giống như lời văn của Nam Cao. Bằng lời văn của mình, chú ý khắc hoạ hình ảnh và tâm trạng đau khổ của lão Hạc trong sự việc báo tin bán chó. 3. Phân tích sự kết hợp giữa kể chuyện với miêu tả và biểu cảm trong đoạn trích sau: “Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay: - Cậu vàng đi đời rồi, ông giáo ạ! - Cụ bán rồi? - Bán rồi! Họ vừa bắt xong. Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà oà lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót xa năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc. Tôi hỏi cho có chuyện: - Thế nó cho bắt à? Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…” (Trích Lão Hạc, Nam Cao) Gợi ý: - Hình ảnh lão Hạc được khắc hoạ như thế nào? - Tâm trạng đau khổ của lão sau khi bán chó được tác giả thể hiện ra sao? - Thái độ của ông giáo? - Việc kết hợp miêu tả và biểu cảm trong lời kể đạt hiệu quả nghệ thuật ra sao?
Xem thêm

1 Đọc thêm

BỔ TRỢ MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC

BỔ TRỢ MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC

Ghi nhớ: + Trong văn bản tự sự rất ít khi các tác giả chỉ thuần kể ng¬ời, kể việc (kể chuyện) mà khi kể th¬ờng đan xen các yếu tố miêu tả và biểu cảm + Các yếu tố miêu tả và biểu cảm làm cho việc kể chuyện sinh động sâu sắc hơn. + Muốn xây dựng một văn bản tự sự có sử dụng các yếu tố và biểu cảm có thể theo 5 b¬ớc sau đây: B¬ớc 1: Xác định sự việc chọn kể B¬ớc 2: Chọn ngôi kể cho câu chuyện B¬ớc 3: Xác định trình tự kể (Câu chuyện bắt đầu từ đâu, diễn ra thế nào và kết thúc ra sao) B¬ớc 4: Xác định các yếu tố miêu tả và biểu cảm dùng trong đoạn văn tự sự sẽ viết (ở vị trí nào trong tryện) B¬ớc 5: Viết thành văn bản
Xem thêm

2 Đọc thêm

GIÁO ÁN NGỮ VĂN 8 TỰ CHỌN TUẦN 11

GIÁO ÁN NGỮ VĂN 8 TỰ CHỌN TUẦN 11

Tuần 11Tiết:43Luyện nói văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảmA: Mục tiêu .1. Kiến thức: Củng cố kiến thức về văn bản tự sự kết hợp với miêu tả và biểucảm.2. Kĩ năng: - Kĩ năng thêm yếu tố miêu tảbiểu cảm vào đoạn văn tự sựsao cho đoạn văn sinh động, hấp dẫn.- Rèn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ nói trong quá trình hoạt động ngôn ngữ.3. Thái độ: Tích cực học tập và biết bày tỏ thái độ trớc đám đông.B: Chuẩn bị.- Giáo viên: Soạn giáo án,đọc t liệu tham khảo. Một số đoạn văn mẫu và mộtsố bài tập- Học sinh: Nắm chắc kiến thức để vận dụng làm bài tập; Ôn lại kiến thứctrong chơng trình Ngữ văn 8. Soạn bài trớc ở nhà.C: Phơng pháp: Vấn đáp, thuyết trình, gợi mở, phân tích, tổng hợpD:Tiến trình dạy - học.1.Tổ chức:8A: ../../..: Sĩ số: . / Vắng:..8B: ../../..: Sĩ số: /Vắng:..2. Kiểm tra bài cũ: Nêu cảm nhận về nghệ thuật kể chuyện trong truyệnngắn Tôi đi học?3. Bài mới.*Giới thiệu bàiHoạt động của thày - tròNội dung cần đạtI. Chuẩn bị ở nhà:- Ôn lại các nội dung văn tự sự- Ôn lại vai trò của các yếu tố biểu
Xem thêm

6 Đọc thêm

Viết bài tập làm văn số 1 lớp 8

VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 1 LỚP 8

I. THAM KHẢO MỘT SỐ ĐỀ BÀI SAU Đề 1: Kể lại những kỉ niệm ngày đầu tiên đi học. Đề 2: Người ấy (bạn, thầy, người thân,…) sống mãi trong lòng tôi. Đề 3: Tôi thấy mình đã khôn lớn. II. HƯỚNG DẪN CHUNG 1. Nhớ lại đặc điểm của văn tự sự và cách viết một bài văn loại này: - Về phương thức tự sự: nhờ tự sự, người kể (bằng miệng hay viết) làm cho người nghe (hay đọc) nắm được nội dung câu chuyện như : truyện kể về ai, ở thời nào, sự việc chính là gì, diễn biến của sự việc ra sao, kết thúc thế nào, chuyện đem lại ý nghĩa gì (?),… - Phương thức tự sự là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc theo một trình tự nhất định, có trước có sau, có mở đầu, tiếp diễn và kết thúc. - Dàn bài của bài văn tự sự thường gồm ba phần : mở bài, thân bài và kết bài. Bố cục ba phần này quan hệ chặt chẽ với nhau trong việc triển khai chủ đề. Phần mở bài giới thiệu chung về nhân vật, sự việc. Phần thân bài kể diễn biến của sự việc. Phần kết bài kể kết cục của sự việc. Có khi, chủ đề được hé mở trong câu then chốt phần mở bài, kết luận ; cũng có khi chủ đề được bộc lộ qua các sự việc, hành động, chi tiết. Không có một khuôn mẫu cố định nào cho việc thể hiện chủ đề của bài văn tự sự. 2. Kết hợp giữa tự sự, miêu tả và biểu cảm: Để những sự việc, nhân vật trong câu chuyện trong bài văn hiện ra cụ thể, sinh động; nhằm bày tỏ được tình cảm của người viết đối với đối tượng cũng như tình cảm của các nhân vật trong câu chuyện, người viết cần kết hợp giữa tự sự với miêu tả và biểu cảm. Tuy nhiên, miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự chỉ là những yếu tố phụ trợ, không phải là mục đích của văn bản. Chủ đề mà ba đề văn trên nêu ra đều rất cần phải có sự kết hợp giữa tự sự với miêu tả và biểu cảm. Chú ý thao tác miêu tả người, diễn tả những cảm xúc của mình.  
Xem thêm

1 Đọc thêm

Soạn bài: Ôn tập văn bản biểu cảm

SOẠN BÀI: ÔN TẬP VĂN BẢN BIỂU CẢM

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài ÔN TẬP VĂN BẢN BIỂU CẢM 1. Văn biểu cảm khác văn miêu tả ở điểm nào? 2. Văn biểu cảm khác văn tự sự ở điểm nào? Gợi ý: Văn tự sự, văn miêu tả, văn biểu cảm, trước hết khác nhau ở nhu cầu tạo lập. Xuất phát từ những nhu cầu biểu đạt khác nhau sẽ cho ra những bài văn thuộc những loại khác nhau: từ nhu cầu kể lại sự việc mà chúng ta có văn tự sự; từ nhu cầu tái hiện người, vật, cảnh vật mà chúng ta có văn miêu tả; từ nhu cầu bộc lộ tình cảm mà chúng ta có văn biểu cảm. 3. Tự sự và miêu tả có vai trò gì trong văn biểu cảm? Gợi ý: Trên thưc tế, nhiều khi rất khó tách bạch giữa biểu cảm, tự sự, miêu tả. Tuy nhiên, như đã nói đến ở trên, xuất phát từ những dạng nhu cầu khác nhau sẽ cho ra những bài văn thuộc những loại khác nhau. Giữa biểu cảm, tự sự và miêu tả có những điểm khác nhau, và vì thế chúng mới có thể hỗ trợ, bổ sung cho nhau để đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất. Trong văn biểu cảm có tự sự và miêu tả. Biểu cảm phải dựa trên những đối tượng và sự việc cụ thể, chính miêu tả và tự sự sẽ giúp cho biểu cảm điều này. Nhưng cũng phải thấy rằng tự sự và miêu tả trong văn biểu cảm có vai trò như là những thao tác cần thiết chứ không phải mục đích hướng tới. Mục đích của văn biểu cảm là thể hiện và để người khác có thể cảm nhận được những trạng thái tình cảm, cảm xúc của người viết (nói) trước đối tượng nào đó, trong sự việc nào đó. 4. Với một đề bài biểu cảm cho trước, người ta phải tiến hành các bước như thế nào để tạo lập một văn bản? Gợi ý: Các bước làm một bài văn biểu cảm đã được đề cập đến trong bài 6 (Đề văn biểu cảm và cách làm bài văn biểu cảm). Khi tiến hành làm một bài văn biểu cảm theo đề bài cho trước cần chú ý các bước: - Tìm hiểu đề, xác định đối tượng biểu cảm và định hướng tình cảm sẽ thể hiện với đối tượng ấy; - Tìm ý và lập dàn ý theo bố cục 3 phần; - Viết thành bài văn hoàn chỉnh; - Kiểm tra, chỉnh sửa lại bài viết. 5. Bài văn biểu cảm thường dùng những biện pháp tu từ nào? Tại sao người ta nói ngôn ngữ văn biểu cảm gần với thơ? Gợi ý: Các biện pháp tu từ thường gặp trong văn biểu cảm là: so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, điệp ngữ. Nói ngôn ngữ của văn biểu cảm gần với thơ là đã đề cập đến đặc trưng nổi bật nhất của loại văn này. Bản chất của thơ (trữ tình, phân biệt với truyện thơ) là trực tiếp bộc lộ thế giới cảm xúc của con người. Văn biểu cảm, dù trực tiếp hay gián tiếp thì cũng là để bộc lộ tình cảm, vì thế rất gần với thơ.
Xem thêm

2 Đọc thêm

MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG VĂN TỰ SỰ

MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG VĂN TỰ SỰ

MIÊU TẢBIỂU CẢM TRONG BÀI VĂN TỰ SỰI. Miêu tảbiểu cảm trong văn bản tự sự1. Miêu tả2. Biểu cảmTìm những yếu tốmiêu tả trong đoạntrích?{…} Nếu có lần nằm ngoài trời suốt đêm, hẳn bạn thừa biết giữa lúc chúng ta ngủ thì cả một thế giớihuyền bí bừng dậy trong cảnh cô quạnh và u tịch(1). Lúc ấy suối reo rõ hơn, đầm ao nhen lênnhững đốm lửa nhỏ, … và văng vẳng trong không gian, những tiếng sột soạt, những tiếng rung khekhẽ, tưởng đâu cành cây đang vươn dài và cỏ non đang mọc(2). Ban ngày là cuộc sống của chúngsinh và ban đêm là cuộc sống của cây cỏ(3). Không quen thì dễ sợ…(4) Cho nên tiểu thư củachúng ta cứ mỗi lần nghe thấy một tiếng động nhỏ là đã run lên và nép sát vào người tôi(5). Một lần,từ phía mặt đầm lấp lánh dưới kia nổi lên một tiếng kêu dài, não ruột, ngân vang rền rền tới chỗchúng tôi ngồi(6). Cũng vừa lúc một ngôi sao rực rỡ đổi ngôi, lướt trên đầu chúng tôi về cùng mộthướng đó, dường như tiếng than vãn mà chúng tôi vừa nghe thấy kia đã mang theo một luồng ánhsáng(7).- Cái gì thế? (8)– Xtê-pha-nét khe khẽ hỏi.(9)Những yếu tố miêu tả- Có một linh hồn lên thiên đàng, cô chủ ạ(10). – nói rồi tôi làm dấu thánh.(11)Nàng cũng làm theo và cũng ngồi ngửa cổ như thế một lát, vẻ rất trầm ngâm…(12)Nàng ngước mắt lên cao, tay đỡ lấy đầu, vai khoác tấm da cừu, nom nàng như chú mục đồng củanhà trời.(13)- Nhiều sao quá!(14) Đẹp quá kìa!(15) Chưa bao giờ tôi thấy nhiều sao như thế này.(16) Mục đồngcó biết tên các ngôi sao không?(17)- Dạ có, thưa cô chủ.(18)
Xem thêm

21 Đọc thêm

GIÁO ÁN NGỮ VĂN 7 BÀI 20

GIÁO ÁN NGỮ VĂN 7 BÀI 20

+ Bài 2: Yêu mến, tự hào, say đắm vẻ đẹpcủa cảnh và người thôn quê.- Để giãi bày tình cảm của mình với ngườikhác, mong muốn người khác sự đồngcảm.Hỏi: Những câu ca dao trên là văn biểucảm. Vậy, theo em, khi nào thì con ngườithấy cần làm văn biểu cảm?HS: trả lờiHỏi: Trong thư gửi người thân hay bạnbè em có thường biểu lộ tình cảmkhông? Em biểu cảm bằng cách nào?+ Qua từ ngữ xưng hô, lời gọi..+ Tình cảm cảm xúc của con người có thểbiểu cảm bằng nhiều các: Ca hát, vẽ tranh,đánh đàn, thổi sáo, viết thư, làm thơ ...GV: Văn biểu cảm là một trong nhữngphương tiện biểu cảm.- HS đọc hai ví dụ SGK / 72.Hỏi: Hai đoạn văn trên biểu đạt nhữngnội dung gì? Nội dung ấy có đặc điểm gìkhác so với văn tự sựmiêu tả?HS thảo luận nhóm 4 (3p)Các nhóm trình bày, chia sẻ- Đoạn 1: Biểu lộ tình cảm nhớ thươngngười bạn cũ qua lời gọi, tâm sự. (Tìnhcảm bộc lộ trực tiếp)- Đoạn 2: Biểu lộ tình cảm gắn bó với quêhương, đất nước qua tự sự, miêu tả (Tìnhcảm bộc lộ gián tiếp).
Xem thêm

5 Đọc thêm

SOẠN BÀI MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ

SOẠN BÀI MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ

Soạn bài miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự I. Gợi ý trả lời câu hỏi. Mục I. 1. Khái niệm miêu tả và biểu cảm : - Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung sự vật, hiện tượng, con người như đang hiện ra trước mắt. - Biểu cảm là bộc lộ tình cảm chủ quan của bản thân trước sự vật, sự việc, hiện tượng, con người trong đời sống. 2. Miêu tả trong văn bản tự sự có hoàn toàn giống với miêu tả trong văn bản miêu tả hay không ? Giữa biểu cảm trong văn bản tự sự với biểu cảm trong văn bản biểu cảm có những nét giống nhau và khác nhau cụ thể nào ? Gợi ý : Sự phân biệt miêu tả trong văn miêu tả, biểu cảm trong văn biểu cảm với miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự không phải ở số lượng câu chữ mà là ở mục đích. Một bài văn tự sự sử dụng yếu tố miêu tả hay biểu cảm chỉ để làm cho bài văn hay hơn, giàu sức truyền cảm hơn chứ không nhằm biến bài văn tự sự thành bài văn miêu tả hay bài văn biểu cảm. Có nghĩa là, dù có yếu tố miêu tả hay biểu cảm thì cái cốt lõi mà bài văn hướng tới là câu chuyện kể, mục đích chính của văn tự sự là kể chứ không phải là miêu tả hay biểu cảm. Cũng có thể nói tương tự vậy về biểu cảm. 3. Cần căn cứ vào đâu để đánh giá hiệu quả của miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự ? Căn cứ để đánh giá hiệu quả của miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự là ở chỗ miêu tả và biểu cảm đã phục vụ đắc lực cho mục đích tự sự đến mức độ nào, nó làm cho bài văn tự sự giàu sức truyền cảm ra sao. 4. Giải thích vì sao đoạn trích ở mục I.4 rất thành công trong việc sử dụng các yếu tố và biểu cảm ? Học sinh dựa vào phần gợi ý của SGK để tự làm. Mục II. 1. Chọn và điền từ (quan sát, liên tưởng, tưởng tượng) thích hợp vào mỗi chỗ trống. a. Liên tưởng : từ sự việc, hiện tượng nào đó mà nghĩ đến sự việc hiện tượng có liên quan. b. Quan sát : xem xét để nhìn rõ, biết rõ sự vật hay hiện tượng. c. Tưởng tượng : tạo ra trong tâm trí hình ảnh của cái không hề có ở trước mắt, hoặc chưa hề gặp. 2. Để làm tốt việc miêu tả trong văn tự sự, người làm văn cần và chỉ quan sát đối tượng một cách kĩ càng mà không cần liên tưởng, tưởng tượng được không ?  Vì sao ? Tìm trong đoạn trích ở mục I.4 những dẫn chứng để chứng minh cho quan điểm của anh (chị). Để làm tốt việc miêu tả trong văn tự sự, người làm văn không những phải có sự quan sát kĩ lưỡng, tinh tế đối tượng mà còn phải có sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú. Có như vậy sự việc tả mới chân thực, cụ thể, sinh động và hấp dẫn người đọc. Cụ thể, nếu không có sự quan sát kĩ lưỡng, sự cảm nhận tinh tế sẽ không thấy được “trong đêm, tiếng suối reo nghe rõ hơn, đầm ao nhen lên những đốm lửa nhỏ, những tiếng sột soạt văng vẳng trong không gian’’. Nếu không có sự quan sát kết hợp với tưởng tượng sẽ không thấy được “cô gái trông như một chú mục đồng của nhà trời, nơi có những đám cưới sao’’ và nếu không có sự liên tưởng sẽ không viết được “cuộc hành trình thầm lặng, ngoan ngoãn của ngàn sao gợi nghĩ đến đàn cừu lớn’’. 3. Ý nêu ở mục (d) là ý không chính xác. Học sinh căn cứ vào bài tập mục II.2 để giải thích. II. Luyện tập. Bài tập 1. Hãy nhận xét về vai trò của các yếu tố miêu tả và biểu cảm trong : a. Một đoạn văn tự sự đã học. Hướng dẫn : Nhận xét vai trò của yếu tố miêu tả và yếu tố tự sự trong đoạn văn được trích từ đoạn Ra-ma buộc tội sau. Nghe những lời đó, Gia-na-ki mở tròn đôi mắt đẫm lệ. Thấy người đẹp khuôn mặt bông sen với những cuộn tóc lượn sóng đứng trước mặt mình, lòng Ra-ma đau như dao cắt. Nhưng vì sợ tai tiếng, chàng bèn nói với nàng, trước mắt những người khác : “…’’ Yếu tố miêu tả có trong đoạn trích trên là : “Gia-na-ki mở tròn đôi mắt đẫm lệ’’ ; “người đẹp khuôn mặt bông sen với những cuộn tóc lượn sóng’’. Yếu tố biểu cảm sử dụng trong đoạn trích này đã làm nổi bật lên tâm trạng, tính cách của nhân vật. Chi tiết miêu tả Xi-ta cho ta thấy nàng rất đau đớn, đồng thời giúp người đọc hình dung được vẻ đẹp vô cùng thánh thiện của nàng. Yếu tố biểu cảm cho thấy tâm trạng khó xử của Ra-ma. Chàng phải đứng trên tư cách của một vị vua anh hùng, đồng thời là trên tư cách một người chồng, do đó phải lựa chọn một cách ứng xử phù hợp. b. Đoạn trích “Lẵng quả thông’’ của nhà văn C.Pau-tốp-xki : - Yếu tố miêu tả và biểu cảm : “em bé có đôi bím tóc nhỏ xíu’’, “Trời đang thu … run rẩy’’. - Yếu tố miêu tả và biểu cảm đã làm cho đoạn văn tự sự được trích trở nên sinh động và hấp dẫn. Bài tập 2. Viết một bài văn tự sự có sử dụng các yếu tố miêu tả và biểu cảm kể về một chuyến đi đem đến cho anh (chị) nhiều cảm xúc (một lần về quê, một chuyến tham quan du lịch). Học sinh tự làm. Chú ý : - Học sinh không nên sa đà vào miêu tả và biểu cảm mà quên nhiệm vụ chính là phải viết một bài văn tự sự theo đề tài mà SGK yêu cầu. - Đây là một đề tài gần gũi. Học sinh nên cố gắng khai thác vốn sống của bản thân để viết cho chân thật.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Soạn bài: Miêu tả trong văn bản tự sự

SOẠN BÀI: MIÊU TẢ TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài MIÊU TẢ TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. YẾU TỐ MIÊU TẢ CÓ VAI TRÒ GÌ TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ? Đọc đoạn trích sau đây và thực hiện các yêu cầu bên dưới: (1) Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền 3 tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Đoạn kén hạng lính khỏe mạnh, cứ mười người khênh một bức, lưng dắt dao ngắn, hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ "nhất", vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mùng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh nổ súng bắn ra, chẳng trúng người nào cả. Nhân có gió bắc, quân Thanh bèn dùng ống phun khói lửa ra, khói toả mù trời, cách gang tấc không thấy gì hòng làm cho quân Nam rối loạn. Không ngờ trong chốc lát trời bỗng trở gió nam, thành ra quân Thanh lại tự hại mình. Vua Quang Trung liền gấp rút sai đội khiêng ván vừa che, vừa xông thẳng lên trước. Khi gươm giáo hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai nấy đều cầm dao chém bừa, những người cầm binh khí theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh. Quân Thanh chống không nổi bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tên Thái thú Điền Châu là Sầm Nghi Đống tự thắt cổ chết. Quân Tây Sơn thừa thế chém giết lung tung, thây nằm đầy đồng máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại. (Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí) - Tóm tắt các sự việc chính trong đoạn trích văn bản tự sự trên. - Đoạn văn dưới đây có thể hiện được diễn biến sinh động của câu chuyện như đoạn trích trên không? Vì sao? Vua Quang Trung cho ghép ván lại, cứ mười người khiêng một bức, rồi tiến sát đến đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh bắn ra, không trúng người nào, sau đó phun khói lửa. Quân của vua Quang Trung khiêng ván nhất tề xông lên mà đánh. Quân Thanh chống đỡ không nổi, tướng Thanh là Sầm Nghi Đống thắt cổ chết. Quân Thanh đại bại. Gợi ý: Tóm tắt các sự việc trong văn bản tự sự tức là trả lời câu hỏi: Văn bản kể về những sự việc gì? Bản thân các sự việc của câu chuyện được đặt theo trình tự trước - sau đúng như nó diễn ra trong câu chuyện chỉ thể hiện được rất hạn chế diễn biến cụ thể, sinh động của câu chuyện (như đoạn văn trên). Sở dĩ như vậy bởi vì muốn tái hiện một cách cụ thể, sinh động, hấp dẫn diễn biến các sự việc trong câu chuyện, người ta phải kết hợp sử dụng yếu tố miêu tả. Ở đoạn văn trên, là sự lắp ghép các sự việc, yếu tố miêu tả đã bị tước đi, vì thế không tái hiện được diễn biến của trận đánh. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Đọc lại hai đoạn trích Chị em Thuý Kiều và Cảnh ngày xuân để tìm những yếu tố tả người và tả cảnh. Gợi ý: - Trong đoạn trích Chị em Thuý Kiều: Có một câu tả cảnh (Êm đềm trướng rủ màn che); còn lại chủ yếu là các hình ảnh tả tài sắc của Thuý Kiều và vẻ đẹp của Thuý Vân. Các hình ảnh thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên được lấy để khắc hoạ vẻ đẹp của hai nhân vật chứ không phải để tả thiên nhiên. Đây là đặc điểm ước lệ của văn học trung đại. - Trong đoạn trích Cảnh mùa xuân: + Chú ý các hình ảnh tả cảnh: con én đưa thoi; Cỏ non xanh tận chân trời; Cành lê trắng điểm một vài bông hoa; Ngổn ngang gò đống kéo lên; Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay; Tà tà bóng ngả về tây; phong cảnh có bề thanh thanh; Nao nao, dòng nước uốn quanh; Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. + Tả người: Gần xa nô nức yến anh; Dập dìu tài tử giai nhân; Ngựa xe như nước, áo quần như nêm; Chị em thơ thẩn dan tay ra về. 2. Các yếu tố miêu tả trong hai trích đoạn Chị em Thuý Kiều và Cảnh ngày xuân có tác dụng gì trong việc thể hiên nội dung? Gợi ý: Chú ý vai trò của yếu tố miêu tả trong việc khắc hoạ vẻ đẹp của hai chị em Thuý Kiều. Nhờ yếu tố miêu tả, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp khác nhau giữa hai chị em Thuý Kiều như thế nào? Yếu tố miêu tả có tác dụng gì trong việc ca ngợi vẻ đẹp của con người và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh? 3. Dựa vào đoạn trích Cảnh ngày xuân, hãy tưởng tượng và viết một đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố miêu tả kể về việc chị em Thuý Kiều đi chơi trong chiều Thanh minh. Gợi ý: Xác định nội dung của đoạn văn: sự việc, nhân vật, phong cảnh, diễn biến cuộc du xuân. Trong đó, chú ý dựa vào những hình ảnh gợi tả ở đoạn trích để miêu tả về cảnh đẹp ngày xuân, khung cảnh chơi xuân nhộn nhịp, cảnh chiều tà, dáng vẻ của chị em Thuý Kiều khi chuẩn bị ra về,… 4. Viết một đoạn văn giới thiệu về vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều. Gợi ý: Không nên dùng lại y nguyên những hình ảnh ước lệ trong đoạn trích Chị em Thuý Kiều để giới thiệu mà phải biết liên tưởng từ những hình ảnh gợi tả mà tác giả sử dụng để làm nổi bật vẻ đẹp của hai nhân vật này theo cảm nhận của riêng mình. Chú ý đảm bảo mạch giới thiệu theo câu chuyện (ở đây là việc giới thiệu về gia đình Thuý Kiều, trình tự giới thiệu từ Thuý Vân đến Thuý Kiều, từ vẻ đẹp hình thức đến tài hoa,…).
Xem thêm

2 Đọc thêm

SKKN PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH KHI GIẢNG DẠY BÀI CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG CỦA O HEN RI

SKKN PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH KHI GIẢNG DẠY BÀI CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG CỦA O HEN RI

95 %85 %80 %65%83 %PHẦN IV: KẾT LUẬNVới cách dạy theo thiết kế tôi vừa trình bày như trên, tôi nhận thấy giờ dạy đạt hiệu quả cao hơn.Cụ thể:- Rèn luyện được cho học sinh cách đọc đúng, đọc hiểu một tác phẩm tự sự : vừa rõ ràng mạchlạc vừa thể hiện rõ nội dung cốt truyện. Qua cách đọc học sinh phần nào cũng hiểu được tíchchất quan trọng của mạch truyện.Việc đọc đúng sẽ giúp học sinh cảm nhận và hiểu đúng nhữngthông tin, hiển ngôn và hàm ngôn trong văn bản.Đồng thời hiểu được những quan điểm, tưtưởng về con người, về thời đại, về ý tưởng giáo dục của tác giả gửi gắm trong văn bản.- Giúp học sinh hiểu rõ về kiểu văn bản tự sự có lối kể chuyện hấp dẫn, nội dung giàu tính nhânđạo. Ngoài ra còn cho học sinh có cái nhìn toàn diện hơn về sự biến hoá của tự sự đan xen cácyếu tố miêu tả , biểu cảm trong văn tự sự . ở đó độc đáo về cách tạo dựng tình huống, cách sắpxếp tình tiết, cách khắc hoạ nhân vật, cách chọn ngôi kể, lời kể...- Giúp học sinh biết tóm tắt tác phẩm, xác định chủ đề , mối liên hệ giữa các phần trong văn bảnvà biết đặt tên cho đoạn văn.- Học sinh hiểu sâu sắc về các vấn đề mà tác giả đã đề cập tới trong tác phẩm đó là khát vọngcuộc sống , tình yêu thương giữa con người với con người , quan điểm đúng đắn về nghệ thuật ,sự dâng hiến và lòng vị tha cao cả của con người. Từ đó giáo dục học sinh lòng thương người,biết chia sẻ những khổ đau , những bất hạnh của mọi người xung quanh....- Với biện pháp dạy học bằng hệ thống câu hỏi cảm thụ văn bản được thực hiện dưới hình thức
Xem thêm

16 Đọc thêm

TÀI LIỆU THCS T 11

TÀI LIỆU THCS T 11

- HS học thuộc bài, làm bài tập, chuẩn bị bài.*************************************************************Tuần 11, tiết 42Ngày soạn: 31/10Ngày dạy: 03/11LUYỆN NÓI: KỂ CHUYỆN THEO NGÔI KỂKẾT HỢP VỚI MIÊU TẢ, BIỂU CẢMA. MỤC TIÊU:Giúp HS:- Ôn lại và củng cố kiến thức về ngôi kể;- Rèn luyện kĩ năng kết hợp yếu tố miêu tảbiểu cảm trong bài văn tự sự; làm quen với cáchtrình bày miệng một cách rõ ràng, mạch lạc, lôi cuốn và hấp dẫn trước tập thể lớp.- Luôn tự tin và trình bày hấp dẫn 1 vấn đề trước tập thể đông người.B. CHUẨN BỊ:I. GV: Hướng dẫn HS chuẩn bị đề cương.II.HS: Đọc và chuẩn bị trước đề cương theo yêu cầu trong SGK.C. TIẾN TRÌNH DẠY VÀ HỌC:I. Ổn định lớp:II. Dạy bài mới:* Dẫn vào bài: (05 phút) GV hướng dẫn cho HS ôn lại ngôi kể thứ ba, ngôi kể thứ nhất vàtác dụng của chúng trong văn tự sự. HS nhắc lại (…) GV: Từ đó, bài học hôm nay sẽ giúp cácem luyện nói.HOẠT ĐỘNG CỦA GVHOẠT ĐỘNG CỦA HSHoạt động 1: Làm dàn ý kể chuyện. (10 phút)- Cho HS đọc to đoạn văn (SGk/110).- Đọc to đoạn văn (SGk/110).?Xác định ngôi kể và sự việc chính, nhân vật - Trao đổi và trả lời:
Xem thêm

8 Đọc thêm

ĐỀ THI KHẢO SÁT GIỮA KÌ 2 MÔN VĂN 6 NĂM HỌC 2016 2017 TRƯỜNG CHU MẠNH CHINH

ĐỀ THI KHẢO SÁT GIỮA KÌ 2 MÔN VĂN 6 NĂM HỌC 2016 2017 TRƯỜNG CHU MẠNH CHINH

ca mỡnh i vi em gỏi trc (0,5 im)- Ngi anh cm thy ú khụng phi l bc tranh v mỡnh vỡ hỡnh nh trong bctranh quỏ p, trong sỏng v ngoi sc tng tng ca ngi anh (0,5 im)- Ngi anh hiu rng chớnh lũng nhõn hu ca em gỏi l c s to nờn ti nng.(0,5 im)- Cõu núi thm ca ngi anh th hin s hi hn chõn thnh, n nn, b thuytphc, t nhn thc v bn thõn cng nh v em gỏi ca mỡnh. (1,0 im).Cõu 3: (5,0 im)a. Yờu cu v k nng: (0,5im)- Bi lm phi c t chc thnh bi lm vn hon chnh.- Bit vn dng k nng t s kt hp vi cỏc yu t miờu t, biu cm.- Kt cu cht ch, din t trụi chy; hn ch li chớnh t, dựng t, ng phỏp.- Li k sỏng to, giu cm xỳc.b. Yờu cu v kin thc:(4,5 im)Trên cơ sở những kiến thức đã được học về văn bản Bài học đường đời đầu tiên(Tô Hoài) và kiểu văn tự sự kết hợp với yếu tố miêu tả, biểu cảm, học sinh nhậpvai để kể lại sự việc và diễn tả tâm trạng của Dế Mèn (câu chuyện phải được kể ởngôi thứ nhất).Học sinh có thể tổ chức bài làm theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đáp ứngđược những ý cơ bản sau:* Mở bài:- Giới thiệu nhân vật, thời gian, không gian xảy ra sự việc.(0,25 điểm)* Thân bài: (4 điểm)- Diễn biến của sự việc: căn cứ vào những tình tiết trong câu chuyện để kể lại sựviệc(3,0 điểm)
Xem thêm

3 Đọc thêm

Ôn tập phần làm văn lớp 7

ÔN TẬP PHẦN LÀM VĂN LỚP 7

VỀ VĂN BIỂU CẢM 1. Hãy ghi lại tên các bài văn biểu cảm (văn xuôi) đã được học và đọc trong Ngữ văn 7, tập 1. Gợi ý: Để xác định được bài văn nào là bài văn biểu cảm, cần hiểu được thế nào là văn biểu cảm. Văn biểu cảm xuất phát từ nhu cầu thổ lộ tình cảm của con người. Vì vậy, văn biểu cảm viết ra là để biểu đạt tình cảm, cảm xúc, sự đánh giá của con người đối với thế giới xung quanh, khơi gợi tình cảm, sự đồng cảm nơi người đọc. Có thể kể tên các bài văn biểu cảm: Cổng trường mở ra, Mẹ tôi, Một thứ quà của lúa non: cốm, Sài Gòn tôi yêu, Mùa xuân của tôi,… 2. Văn biểu cảm có những đặc điểm gì? Cho ví dụ cụ thể. Gợi ý: Chọn bài văn tuỳ thích phân tích để thấy được những biểu hiện của văn biểu cảm trong đó. Chú ý trả lời các câu hỏi: - Bài văn tập trung biểu đạt tình cảm nào? - Tác giả đã bộc lộ tình cảm của mình qua các hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng hay bộc lộ trực tiếp những trạng thái tình cảm của mình? Sắc thái tình cảm ấy là gì? - Tình cảm trong bài văn ấy tạo ra sự xúc động trong em ra sao? Những tình cảm ấy hướng ta tới điều gì? 3. Trong văn biểu cảm, yếu tố miêu tả có vai trò gì? Cho ví dụ cụ thể. Gợi ý: Miêu tả trong văn biểu cảm khác thế nào với miêu tả trong văn miêu tả? Miêu tả trong văn biểu cảm không nhằm mục đích tái hiện sự vật, hiện tượng mà là nhằm khơi gợi cảm xúc và nó chịu sự chi phối của cảm xúc. Cho nên, sự vật, hiện tượng trong văn biểu cảm hiện ra với hình dáng, màu sắc, …thấm đẫm tình cảm, cảm xúc của người viết. Đó là sông xanh, núi tím, trăng mới in ngần, mưa riêu riêu,gió lành lạnh, tiếng nhạn kêu trong đêm xanh,… gợi nỗi buồn nhớ, hoài niệm da diết, là tình yêu quê hương đằm thắm, đậm sâu mà khắc khoải đến nao lòng (Mùa xuân của tôi). Đó là tình yêu Sài Gòn thẫm đẫm trong hình ảnh Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây tơ đương độ nõn nà, với nắng ngọt ngào, là những cô gái tóc buông thõng trên vai, trên lưng… cũng yểu điệu thướt tha nhưng theo cung cách Bến Nghé, e thẹn ngượng nghịu như trăng mới ló, còn ngập ngừng dấu nửa vành sau áng mây… (Sài Gòn tôi yêu). 4. Nêu vai trò của yếu tố tự sự trong văn biểu cảm. Cho ví dụ cụ thể. Gợi ý: Vai trò của tự sự trong văn biểu cảm có giống với vai trò của tự sự trong văn tự sự không? Tình cảm cảm xúc phải có sự vật, sự việc cụ thể để bộc lộ, gửi gắm. Sự vật thì nhờ miêu tả, còn sự việc thì nhờ tự sự. Đó là câu chuyện về thú dạo chơi trong tiết xuân gợi cảm giác êm ái như nhung, say sưa như uống rượu, là chuyện chuyện thờ cúng tổ tiên sao mà ấm áp lạ lùng,… (Mùa xuân của tôi) … 5. Khi muốn bày tỏ tình thương yêu, lòng ngưỡng mộ, ngợi ca đối với một con người, sự vật, hiện tượng thì em phải nêu lên được điều gì của con người, sự vật, hiện tượng đó? Gợi ý: Không thể có tình thương yêu, lòng ngưỡng mộ, ngợi ca đối với những đối tượng vô hình. Phải khắc hoạ đối tượng, kể về đối tượng theo một cách nào đó thì mới có cớ để bộc lộ tình cảm, thì cảm xúc mới sống động, cụ thể. 6. Ngôn ngữ biểu cảm đòi hỏi phải sử dụng các phương tiện tu từ như thế nào? Cho ví dụ cụ thể. Gợi ý: Văn biểu cảm thường sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, điệp ngữ,… Hãy tìm trong các bài: Một thức quà của lúa non: Cốm, Sài Gòn tôi yêu, Mùa xuân của tôi,… các ví dụ về việc sử dụng các biện pháp tu từ này (chú ý nêu lên tác dụng cụ thể của chúng trong thể hiện tình cảm, cảm xúc). 7. Kẻ lại bảng sau vào vở và điền vào bảng sau: Gợi ý: - Nội dung biểu cảm: + Biểu cảm về sự vật, sự việc nào? + Bộc lộ tình cảm gì đối với đối tượng biểu cảm? Tính chất, màu sắc, cung bậc tình cảm ra sao? - Mục đích biểu cảm: Thổ lộ tình cảm, cảm xúc để làm gì? - Biểu cảm bằng phương tiện nào? Cách nào? + Ngôn ngữ biểu cảm như thế nào? + Các biện pháp tu từ được sử dụng để biểu cảm? 8. Kẻ lại bảng sau vào vở và điền những thông tin cần thiết. Mở bài   Thân bài   Kết bài   Gợi ý: - Phần nào có nhiệm vụ giới thiệu đối tượng biểu cảm, tính chất của tình cảm? - Phần nào bộc lộ cụ thể các sắc thái, cung bậc cụ thể của tình cảm đối với đối tượng? - Phần nào kết đọng ấn tượng về đối tượng, khắc sâu tình cảm về đối tượng? II. VỀ VĂN NGHỊ LUẬN 1. Trong chương trình Ngữ văn 7, tập 2, em đã được tìm hiểu những bài văn nghị luận nào? Gợi ý: Có thể kể các bài văn nghị luận như: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, Sự giàu đẹp của tiếng Việt, Đức tính giản dị của Bác Hồ, Ý nghĩa văn chương,… 2. Khi nào thì người ta dùng văn nghị luận? Em hãy kể ra một số trường hợp cụ thể đòi hỏi sử dụng văn nghị luận. Gợi ý: Khi người ta muốn xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó thì xuất hiện nhu cầu tạo lập văn bản nghị luận. Văn nghị luận có thể dưới dạng các ý kiến nêu ra trong một cuộc họp, các bài xã luận, bình luận, phát biểu ý kiến trên báo chí,… 3. Làm một bài văn nghị luận, chúng ta phải chú ý đến những yếu tố nào? Gợi ý: Luận điểm, luận cứ, lập luận là những yếu tố hết sức cơ bản của một bài văn nghị luận. Để tạo lập một bài văn nghị luận, không thể không chú ý đến các yếu tố này. 4. Thế nào là luận điểm? Trong các câu sau đây, những câu nào là luận điểm? Vì sao? a) Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. b) Đẹp thay tổ quốc Việt Nam! c) Chủ nghĩa anh hùng trong chiến đấu và sản xuất. d) Tiếng cười là vũ khí của kẻ mạnh. Gợi ý: - Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn, được nêu ra dưới hình thức câu khẳng định hay phủ định, được diễn đạt sáng rõ, nhất quán; luận điểm là linh hồn của bài viết, có vai trò thống nhất các đoạn văn thành một khối; luận điểm phải đúng đắn, chân thực, có ý nghĩa thực tế. - Theo đó, các câu (a) và (d) đáp ứng đúng tiêu chuẩn của luận điểm. 5. Có người nói: Làm văn chứng minh cũng dễ thôi, chỉ cần nêu luận điểm và dẫn chứng là xong. Ví dụ sau khi nêu ra luận điểm “Tiếng Việt ta giàu đẹp”, chỉ cần dẫn ra câu ca dao: Trong đầm gì đẹp bằng sen, Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng… là được. Em có đồng ý với ý kiến trên không? Vì sao? Gợi ý: - Bài văn lập luận chứng minh cần những yếu tố nào? ý kiến trên đã đảm bảo đầy đủ các yếu tố đó chưa? - Yêu cầu về chất lượng đối với từng yếu tố trong bài văn lập luận chứng mình là gì? + Luận điểm phải thế nào? + Lí lẽ phải thế nào? + Dẫn chứng phải thế nào? + Lập luận phải thế nào? 6. So sánh cách làm hai đề văn sau: a) Chứng minh rằng Ăn quả nhớ kẻ trồng cây là một suy nghĩ đúng đắn. b) Giải thích câu tục ngữ: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Gợi ý: Hai đề trên là ví dụ cho đề văn lập luận chứng minh và lập luận giải thích. Chỉ ra được điểm giống và khác nhau về cách làm giữa hai đề văn này tức là đã nắm được cách làm bài văn lập luận chứng minhvà lập luận giải thích. Hai đề này giống nhau ở nội dung của vấn đề được đưa ra nhưng khác nhau ở yêu cầu về thao tác. Với yêu cầu chứng minh, người viết phải dùng những lí lẽ chặt chẽ, dẫn chứng tiêu biểu, xác thực, đã được mọi người thừa nhận để chứng tỏ luận điểm Phải biết ơn những người có công tạo ra thành quả cho ta hưởng thụ thể hiện qua câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây là đúng đắn, đáng tin cậy. Với yêu cầu giải thích, nhiệm vụ trọng tâm của người viết là làm cho mọi người hiểu rõ câu tục ngữ; muốn được như vậy, cần phải làm sáng tỏ nghĩa đen, nghĩa bóng của câu này, lí giải và thuyết phục mọi người tin tưởng theo nhận thức của mình về nó. III. ĐỀ VĂN THAM KHẢO Đề 1: Bạn em chỉ ham thích trò chơi điện tử, truyền hình, ca nhạc, … mà tỏ ra thờ ơ, không quan tâm đến thiên nhiên. Em hãy chứng minh cho bạn thấy rằng thiên nhiên chính là nơi đem lại cho ta sức khoẻ, sự hiểu biết và niềm vui vô tận, và vì thế, chúng ta cần gần gũi với thiên nhiên, yêu mến thiên nhiên. Đề 2: Do không được nghe giảng về câu tục ngữ Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền, nhiều người không hiểu những từ Hán Việt trong câu ấy nghĩa là gì, người xưa muốn nói điều gì qua câu tục ngữ ấy và nói như thế có lí hay không. Em sẽ giải thích thế nào cho những người đó hiểu? Đề 3: Có người sau khi đọc Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu cứ băn khoăn: Vì sao Nguyễn Ái Quốc không để nhân vật Phan Bội Châu vạch tội hay thét mắng vào mặt Va-ren mà chỉ im lặng, với nụ cười ruồi thoáng qua, “kín đáo, vô hình” trên gương mặt. Người đó cũng không hiểu vì sao “cái im lặng dửng dưng” của Phan Bội Châu lại có thể “làm cho Va-ren sửng sốt cả người” Em đã học kĩ tác phẩm này, vậy hãy giải thích cho người đó rõ. Đề 4: Hãy chứng minh rằng: trong trích đoạn Nỗi oan hại chồng, nhân vật Thị Kính không chỉ chịu khổ vì bị oan mà còn mang nỗi nhục của một thân phận nghèo hèn bị kẻ giàu có, tàn ác khinh rẻ. Đề 5: Chép lại đoạn văn sau: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. (Hồ Chí Minh, Tinh thần yêu nước của nhân dân ta) a) Tìm các trạng ngữ của câu trong đoạn văn trên và nêu rõ công dụng của các trạng ngữ ấy. b) Chỉ ra một trường hợp dùng cụm C – V làm thành phần của cụm từ trong đoạn văn trên. Cấu tạo của cụm C – V ấy có gì đặc biệt? c) Câu đầu của đoạn văn trên có sử dụng biện pháp đảo trật tự từ trong một cụm từ làm phụ ngữ. Hãy chỉ ra từ nào đã được đảo trật tự và nêu tác dụng của biện pháp ấy trong câu văn. d) Trong câu cuối của đoạn văn trên, tác giả đã dùng hình ảnh nào để thể hiện cụ thể sức mạnh của tinh thần yêu nước? Nêu giá trị của việc sử dụng hình ảnh ấy. đ) Trong câu cuối đoạn văn trên, có một loạt động từ được sử dụng rất thích hợp. Hãy nêu các động từ ấy và phân tích giá trị của từng trường hợp. Đề 6: Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước. Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng tạm bị chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, ai cũng có một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc. Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc, đến những công chức ở hậu phương nhịn ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận tải, cho đến các bà mẹ chiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình. Từ những nam nữ công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất, không quản khó nhọc để giúp một phần vào kháng chiến, cho đến những đồng bào điền chủ quyên đất ruộng cho Chính phủ,… Những cử chỉ cao quý đó tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước. (Hồ Chí Minh, Tinh thần yêu nước của nhân dân ta) Đọc kĩ đoạn văn trên và cho biết: a) Câu mở đoạn và câu kết đoạn. b) Biện pháp liệt kê đã được sử dụng rộng rãi trong đoạn văn trên. Hãy nêu tác dụng của biện pháp ấy trong đoạn văn đối với việc chứng minh luận điểm cơ bản của bài văn: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta“. c) Giữa hai vế được liên kết theo mô hình “từ… đến…” ở đoạn văn trên có những mối quan hệ như thế nào? d) Viết một đoạn văn có sử dụng ba lần mô hình “từ… đến…”. Đề 7: Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Nói thế có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng hài hoà về mặt âm hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói thế cũng có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư tưởng của người Việt Nam và để thoả mãn cho yêu cầu của đời sống văn hoá nước nhà qua các thời kì lịch sử. (Đặng Thai Mai, Sự giàu đẹp của tiếng Việt) Đọc đoạn văn trên và cho biết: a) Câu văn nào nêu luận điểm và những câu nào làm nhiệm vụ giải thích luận điểm ấy? b) Tác giả đã giải thích thế nào về cái đẹp và cái hay của tiếng Việt? Hai phẩm chất ấy có quan hệ với nhau như thế nào? Đề 8: Lựa chọn câu đúng trong các bài tập sau đây: a) Trong bài văn nghị luận: - Không thể có yếu tố miêu tả, trữ tình; - Có yếu tố miêu tả, kể chuyện hay trữ tình; - Có thể có yếu tố miêu tả, kể chuyện hay trữ tình nhưng các yếu tố ấy không giữ vai trò quan trọng. b) Trong tác phẩm trữ tình: - Chỉ thể hiện trực tiếp tình cảm, thái độ của tác giả; - Tình cảm, thái độ của tác giả được thể hiện qua bức tranh thiên nhiên và đời sống con người; - Không có hình ảnh thế giới khách quan bên ngoài chủ thể trữ tình. c) Bài văn nghị luận nào cũng phải có: - Luận điểm cơ bản và hệ thống các luận điểm chi tiết; - Hệ thống các luận điểm chi tiết nhưng không nhất thiết phải có luận điểm cơ bản; - Luận điểm cơ bản nhưng không nhất thiết phải có hệ thống luận điểm chi tiết. loigiaihay.com
Xem thêm

6 Đọc thêm

TỔNG KẾT PHẦN TẬP LÀM VĂN LỚP 9

TỔNG KẾT PHẦN TẬP LÀM VĂN LỚP 9

I. CÁC KIỂU VĂN BẢN ĐÃ HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH Đọc bảng tổng kết sau và trả lời câu hỏi.   1. So sánh và tự rút ra nhận xét về sự khác nhau giữa các kiểu văn bản. Gợi ý: So sánh trên từng đặc điểm: mục đích, nội dung, phương thức biểu đạt, các phương pháp sử dụng và yêu cầu về ngôn ngữ. 2. Các kiểu văn bản trên có thay thế cho nhau được hay không? Vì sao? Gợi ý: Mỗi kiểu văn bản phù hợp với mục đích riêng, với thế mạnh riêng, phù hợp với những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau. Vì thế, không thể thay thế các kiểu văn bản cho nhau. 3. Các phương thức biểu đạt trên có thể được phối hợp với nhau trong một văn bản cụ thể hay không? Vì sao? Nêu một ví dụ minh hoạ. Gợi ý: Trong văn bản cụ thể, các phương thức biểu đạt có thể kết hợp với nhau để tạo ra hiệu quả giao tiếp cao nhất. Sự kết hợp sẽ phát huy được thế mạnh của từng phương thức trong những mục đích, nội dung cụ thể. 4. Từ bảng trên, hãy cho biết kiểu văn bản và hình thức thể hiện, thể loại tác phẩm văn học có gì giống nhau và khác nhau. Gợi ý: Kiểu văn bản là cơ sở. Một kiểu văn bản có thể có những hình thức văn bản khác nhau. Kiểu văn bản không đồng nhất với thể loại tác phẩm văn học. Tuy nhiên, mỗi thể loại văn học thường gắn với một kiểu văn bản như là yếu tố cơ sở. Không thể đồng nhất giữa kiểu văn tự sự với thể loại văn học tự sự. Nhưng trong thể loại văn học tự sự, yếu tố tự sự (kể chuyện) giữ vai trò chủ đạo.Tương tự như vậy, kiểu văn bản biểu cảm và thể loại văn học trữ tình là khác nhau nhưng trong thể loại văn học trữ tình, yếu tố biểu cảm (bộc lộ tình cảm, cảm xúc) giữ vai trò chủ đạo. Cũng có thể thấy đặc điểm này trong tác phẩm nghị luận. Người viết có thể sử dụng thuyết minh, miêu tả, tự sự trong văn bản nghị luận. Các yếu tố này giúp cho việc triển khai, thuyết phục luận điểm. 5. Hãy kể tên các thể loại văn học đã học. Gợi ý: Tự sự, trữ tình, kịch, kí. 6. Mỗi thể loại văn học có thể sử dụng nhiều phương thức biểu đạt không? Gợi ý: Các phương thức biểu đạt khác nhau có thể được kết hợp sử dụng trong một thể loại văn học. Ví dụ: Tự sự (thể loại văn học) có thể sử dụng các phương thức biểu đạt tự sự, thuyết minh, miêu tả, biểu cảm… Văn bản thơ, truyện, kịch có thể sử dụng yếu tố nghị luận. II. PHẦN TẬP LÀM VĂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS 1. Phần Văn và tập làm văn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nắm vững những kiến thức, kĩ năng của phần Tập làm văn thì mới có khả năng đọc – hiểu tốt và ngược lại. Các văn bản (hoặc đoạn trích) trong phần Văn là những biểu hiện cụ thể, sinh động của các kiểu văn bản và phương thức biểu đạt. 2. Những nội dung của phần Tiếng Việt có liên quan mật thiết với phần Văn và Tập làm văn. Cần nắm chắc những kiến thức và vận dụng được các kĩ năng về từ ngữ, câu, đoạn để khai thác nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong các văn bản (hoặc đoạn trích) cũng như để viết, nói cho tốt. 3. Các phương thức biểu đạt như miêu tả, tự sự, nghị luận, biểu cảm, thuyết minh là những phương thức không thể thiếu đối với việc làm văn. Rèn luyện kĩ năng làm văn, thực chất cũng là rèn luyện sử dụng miêu tả, tự sự, nghị luận, biểu cảm, thuyết minh trong những tình huống cụ thể. III. CÁC KIỂU VĂN BẢN TRỌNG TÂM Xem kĩ lại bảng tổng kết các kiểu văn bản và phương thức biểu đạt ở mục (I) để nắm vững những kiến thức và định hướng kĩ năng về: - Văn bản thuyết minh; - Văn bản tự sự; - Văn bản nghị luận. Với mỗi kiểu văn bản, hãy chú ý tới những vấn đề sau: - Mục đích biểu đạt của kiểu văn bản ấy là gì? - Kiểu văn bản ấy có những đặc điểm gì về nội dung? - Phương pháp thường dùng trong kiểu văn bản? - Đặc điểm ngôn ngữ, cách diễn đạt, bố cục của kiểu văn bản? Đặc biệt chú ý tới kiểu văn bản nghị luận, nhất là nghị luận văn học.  loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

SOẠN BÀI : ÔN TẬP PHẦN LÀM VĂN LỚP 8

SOẠN BÀI : ÔN TẬP PHẦN LÀM VĂN LỚP 8

ÔN TẬP PHẦN LÀM VĂN 1. Văn bản cần phải có sự thống nhất vì nếu không có sự thống nhất văn bản sẽ bị phân tán, không tập trung vào được vấn đề chính hoặc lạc sang vấn đề khác trong khi triển khai văn bản. Tính thống nhất của văn bản được thể hiện ở các mặt sau: - Về nội dung: các ý trong văn bản phải thống nhất trong một chủ đề. - Về hình thức: các câu trong một đoạn, các đoạn trong văn bản phải có sự liên kết chặt chẽ qua các từ nối, quan hệ từ, từ chuyển tiếp. Nếu là văn bản hành chính thì phải đảm bảo các thể thức của loại văn bản hành chính đó. 2. Để viết thành một đoạn văn, cần lưu ý: - Câu "Em rất thích đọc sách" mở đầu đoạn văn tự nó đã nêu ra chủ đề cho cả đoạn. Bởi vậy, các câu ở phần sau của đoạn văn phải nói rõ: vì sao thích đọc sách và thích đọc sách như thế nào. - Câu "Mùa hè thật hấp dẫn" đứng cuối đoạn văn, như một lời kết, khép lại phần văn bản đã trình bày, vì thế các câu đứng trước nó cần phải là những câu nêu rõ ràng và cụ thể về sức hấp dẫn mùa hè. 3. Chúng ta cần tóm tắt văn bản tự sự vì : - Để lưu giữ và nhớ lại khi cần thiết. - Để giới thiệu ngắn gọn văn bản đó cho người khác biết. - Để trích dẫn trong những trường hợp cần thiết. Muốn tóm tắt văn bản tự sự, cần phải theo đúng trình tự sau: - Đọc kĩ để hiểu đúng chủ đề văn bản. - Xác định nội dung chính cần tóm tắt. - Sắp xếp nội dung theo một trình tự hợp lí. - Viết thành bản tóm tắt. 4. Việc viết văn bản tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm giúp cho việc kể chuyện sinh động và sâu sắc hơn, đồng thời thể hiện được thái độ tình cảm của người kể. 5. Khi viết (nói) đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm cần chú ý: Yếu tố tự sự là chính, cần lập dàn ý theo nội dung tự sự, khi viết phải luôn bám sát dàn ý đó. Các yếu tố miêu tả và biểu cảm chỉ có ý nghĩa bổ trợ, có thể đưa vào cho bài văn thêm sinh động nhưng nhưng nên lạm dụng. 6. Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong đời sống hàng ngày. Văn bản thuyết minh cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân... của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích. Một số văn bản thuyết minh thường gặp : - Giới thiệu một sản phẩm mới. - Giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc một di tích lịch sử. - Giới thiệu tiểu sử một danh nhân, một nhà văn. - Giới thiệu một tác phẩm... 7. Muốn làm một văn bản thuyết minh, chúng ta cần phải: - Xác định đối tượng cần phải được thuyết minh. - Xác định rõ phạm vi, tri thức khách quan, khoa học về đối tượng cần được thuyết minh đó. - Lựa chọn phương pháp thuyết minh thích hợp. - Tìm bố cục thích hợp. Một số phương pháp thuyết minh sự vật thường gặp : - Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích. - Phương pháp liệt kê. - Phương pháp nêu ví dụ. - Phương pháp dùng số liệu. - Phương pháp so sánh. - Phương pháp phân loại, phân tích. 8. Bố cục thường gặp nhất khi làm bài thuyết minh bao gồm ba phần : - Phần mở đầu Đây là phần giới thiệu đối tượng cần phải thuyết minh (đồ dùng, sản phẩm, di tích, danh lam thắng cảnh...). - Phần thân bài Trình bày một cách chi tiết, cụ thể về các mặt như : cấu tạo, đặc điểm, lợi ích, và những điểm nổi bật khác của đối tượng. - Phần kết bài Bày tỏ thái độ đối với đối tượng. 9. Luận điểm trong bài văn nghị luận là những tư tưởng, quan điểm... mà người viết nêu ra trong bài. Với một vấn đề được nêu ra, người viết có thể xây dựng thành một hệ thống luận điểm. Các luận điểm đó phải chính xác, rõ ràng, phù hợp với yêu cầu giải quyết vấn đề và đủ làm sáng tỏ vấn đề được đặt ra. Bên cạnh đó, các luận điểm vừa có sự liên kết chặt chẽ vừa có sự phân biệt với nhau và được sắp xếp theo một trật tự hợp lí. Ví dụ: Với đề bài "Vì sao chúng ta phải đổi mới phương pháp học tập", có thể đưa ra một số luận điểm như sau: - Phương pháp học tập có ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập. - Phương pháp học tập cũ (thụ động, máy móc...) hạn chế kết quả học tập. - Cần xây dựng phương pháp học tập mới (tích cực, chủ động...) nhằm mang lại hiệu quả cao... 10. Trong một bài văn nghị luận, hệ thống luận điểm, lập luận đóng vai trò then chốt. Tuy nhiên, việc kết hợp các yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả làm cho bài văn nghị luận thêm sinh động, tăng sức hấp dẫn, sức thuyết phục đối với bạn đọc. Ví dụ, trong Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn có đoạn: "Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương. ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lạ được thế nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời". Trong đoạn trích trên, trước khi đi đến luận điểm: "Thành Đại La là nơi thắng địa, chốn tụ hội bốn phương, kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời", Lý Công Uẩn đã miêu tả rất chi tiết địa thế xung quanh Đại La. Cách miêu tả như vậy khiến người đọc, người nghe có thể hình dung rõ về nơi "thánh địa" ấy, qua đó, luận điểm của tác giả tăng thêm sức thuyết phục. 11. Văn bản tường trình là văn bản dùng để trình bày lại một cách cụ thể, chi tiết những thiệt hại hay mức độ trách nhiệm của người tường trình trong các sự việc xảy ra hậu quả để những người có trách nhiệm hoặc cơ quan có thẩm quyền xem xét. Văn bản thông báo là văn bản dùng để truyền đạt thông tin cụ thể của cơ quan, đoàn thể, người tổ chức đến những người dưới quyền, thành viên đoàn thể, hoặc những ai quan tâm đến nội dung thông báo được biết để thực hiện hay tham gia. Văn bản thông báo và văn bản tường trình giống nhau ở chỗ: - Đều là những văn bản thuộc loại hành chính - Đều có nơi gửi (hoặc người gửi) và nơi nhận (hoặc người nhận). Tuy nhiên, giữa hai loại văn bản này cũng có nhiều điểm khác nhau cơ bản. Nội dung của văn bản thông báo là nhằm truyền đạt thông tin cụ thể của cơ quan, đoàn thể, người tổ chức báo cho những người dưới quyền, thành viên đoàn thể, hoặc những ai quan tâm đến nội dung thông báo được biết để thực hiện hay tham gia. Ngược lại, Nội dung của bản tường trình là nhằm để trình bày thiệt hại hay mức độ trách nhiệm của người tường trình trong các sự việc xảy ra hậu quả cần phải xem xét. Người viết tường trình là người có liên quan đến sự việc. Người nhận tường trình là cá nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự lớp 10

MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG VĂN TỰ SỰ LỚP 10

MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG VĂN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Miêu tả là dùng ngôn ngữ (hay một phương tiện nghệ thuật khác) làm cho người nghe (người đọc, người xem) có thể thấy sự vật, hiện tượng, con người như đang hiện ra trước mắt. Biểu cảm là bộc lộ những tình cảm, cảm xúc của bản thân trước sự vật, sự việc, hiện tượng con người trong đời sống. 2. Miêu tả và biểu cảm trong văn biểu cảm so với miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự không phải khác nhau ở số lượng câu văn mà là ở mục đích sử dụng. Yếu tố miêu tả trong văn miêu tả và trong văn tự sự tuy đều có tác dụng làm cho sự vật, sự việc, con người… trở nên rõ ràng sinh động. Thế nhưng miêu tả cho rõ, cho hay là mục đích của văn miêu tả. Trong khi đó, miêu tả chỉ là phương tiện để việc kể chuyện trong văn tự sự thêm cụ thể, sinh động và lí thú hơn. Cũng như vậy, nếu yếu tố biểu cảm làm cho bài văn biểu cảm dồi dào cảm xúc thì nó cũng chỉ là một phương tiện để biểu hiện và dẫn dắt câu chuyện trong văn tự sự mà thôi. 3. Để đánh giá sự thành công của việc miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự, người ta thường phải xem xét các yếu tố này có phục vụ đắc lực cho mục đích tự sự hay không, hoặc đã phục vụ cho mục đích ấy ở mức độ nào. 4. Muốn miêu tả và biểu cảm thành công, người viết cần phải quan tâm tìm hiểu cuộc sống, con người và bản thân mình, đồng thời chú ý quan sát, liên tưởng, tưởng tượng và lắng nghe những lay động mà sự vật, sự việc khách quan gieo vào trong tâm trí mình.   II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu kĩ năng miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự qua đoạn trích Những vì sao của A. Đô-đê. Đây là một trích đoạn tự sự bởi nó có các yếu tố như: nhân vật (chàng chăn cừu và cô gái), có sự việc (một cốt truyện nhỏ) và có cả người dẫn chuyện (nhân vật tôi – chàng chăn cừu). – Đoạn trích này sử dụng khá nhiều các yếu tố miêu tả và biểu cảm để làm phương tiện cho việc "kể chuyện". Các yếu tố miêu tả xuất hiện ở phần đầu đoạn văn (miêu tả hiện thực của cảnh ban đêm) và đoạn tả bầu trời ngàn sao ở phần cuối. Yếu tố biểu cảm trong đoạn văn là phần diễn tả những cảm xúc tinh tế của nhân vật tôi khi "đầu nàng nặng trĩu vì buồn ngủ đã ngả vào tôi với tiếng sột soạt êm ái của những dải đăng-ten và làn tóc mây gợn sóng". – Có thể nói, đây là một đoạn văn mà yếu tố miêu tả và biểu cảm đã đóng góp tích cực cho việc nâng cao hiệu quả tự sự. Hai yếu tố này chẳng những đã giúp chúng ta hình dung một cách sinh động về cảnh đêm sao thơ mộng mà còn có tác dụng thúc đẩy diễn biến của cốt truyện. Yếu tố miêu tả làm nền cho việc nảy sinh sự việc và từ đó mới có những rung động khẽ khàng, say sưa mà thanh khiết của chàng chăn cừu bên cô gái ngây thơ, xinh đẹp. Đêm sao thơ mộng cùng những rung động ngọt ngào làm cho đoạn văn trở nên hấp dẫn và lí thú hơn.   2. a) Liên tưởng : Từ sự việc, hiện tượng nào đó mà nghĩ đến sự việc, hiện tượng có liên quan. b) Quan sát : Xem xét để nhìn rõ, biết rõ sự vật hay hiện tượng. c) Tưởng tượng : Tạo ra trong tâm trí hình ảnh của cái không hề có ở trước mắt, hoặc chưa hề gặp.   3. Để miêu tả cho tốt, cho hay, chúng ta không thể "chỉ cần quan sát đối tượng một cách kĩ càng" mà còn phải phát huy tích cực khả năng tưởng tượng và liên tưởng nữa. Ví như, chúng ta sẽ không thể cảm nhận được các hình ảnh, âm thanh rất đặc sắc, rất thơ mộng trong đoạn văn của A. Đô-đê nếu không có sự quan sát tinh tế để thấy: trong đêm, tiếng suối reo nghe rõ hơn, đầm ao nhen lên những đốm lửa nhỏ, những tiếng sột soạt văng vẳng trong không gian… Hay hình ảnh "Cô gái nom như một chú mục đồng nhà trời, nơi có những đám cưới sao…" là sản phẩm của trí tưởng tượng. Và nếu không có sự liên tưởng phong phú thì không thể có được cảnh "cuộc hành trình trầm lặng, ngoan ngoãn của ngàn sao gợi nghĩ đến đàn cừu lớn".   4. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, tình cảm, cảm xúc của nhân vật "tôi" trong đoạn tríchNhững vì sao nảy sinh từ việc quan sát kĩ càng, chăm chú cảnh đêm. Một đêm sao huyền ảo và thơ mộng, hơn nữa vẻ đẹp hồn nhiên và ngây thơ của cô gái chắc chắn đã làm lay động trái tim giàu cảm xúc và dễ rung động của chàng trai. Và rõ ràng chính những tình ý ấy đã làm cho đoạn văn thêm mượt mà và hấp dẫn hơn. Cho nên, không thể nói để biểu cảm khi tự sự, chỉ tìm những cảm xúc, những rung động trong tâm hồn người kể.   5. Đoạn văn kể lại cuộc chiến đấu giữa Đam Săn với Mtao Mxây trong sử thi Đam Săn là một đoạn văn có sử dụng nhiều yếu tố miêu tả và biểu cảm. Có thể nói nhờ các yếu tố này mà khung cảnh cũng như diễn biến của cuộc chiến hiện ra cụ thể sinh động tới từng chi tiết trong sự hình dung của người đọc. Các yếu tố miêu tả (những hình ảnh so sánh ví von) và biểu cảm (cảm xúc của các nhân vật cũng như của cộng đồng) đã làm cho cuộc chiến đấu trở nên hoành tráng và dữ dội. Cũng từ đó mà hình ảnh người anh hùng cũng được nâng bổng hơn lên.   6. Trong đoạn văn trích từ truyện ngắn Lẵng quả thông của C. Pau-tôp-xki, người kể đã "kể chuyện" bằng quan sát, tưởng tượng và suy ngẫm. Để giúp người đọc hình dung rõ rệt hơn, cảm nhận thích thú hơn vẻ đẹp của mùa thu, nhà văn đã không miêu tả trực tiếp mà tưởng tượng "nếu như có thể lấy hết đồng và vàng trên trái đất đem đánh thành muôn vàn lá cây rất mực tinh xảo"; và suy ngẫm "những chiếc lá nhân tạo nọ sẽ rất thô kệch…". Những câu văn ấy cũng là nhấn mạnh vẻ đẹp tự nhiên của mùa thu nhưng yếu tố miêu tả và biểu cảm đã mang đến cho chúng ta một cách cảm nhận khác lạ lẫm và lí thú hơn.   7. Viết bài văn tự sự có sử dụng các yếu tố biểu cảm và miêu tả kể về một chuyến đi đã đem lại cho anh (chị) nhiều cảm xúc (một lần về quê, một chuyến tham quan du lịch…).  Tham khảo bài viết dưới dây (kể về một lần về quê nội). Quê hương tôi cũng đẹp và đáng yêu như quê hương của Tế Hanh. Cũng có con sông xanh biếc và những hàng tre rợp mát những buổi trưa hè. Chỉ tiếc tôi sống ở quê không nhiều lắm. Mỗi  năm tôi chỉ được về quê có một lần và thường là những ngày hè oi bức. Hè năm nay cũng vậy, tôi cũng theo bố mẹ về thăm quê nội. Thế nhưng chuyến đi năm  nay buồn  man mác và nhói đau hơn.  Chả là cách cái ngày tôi về quê tròn hai tháng, nội tôi đã vĩnh viễn ra đi khỏi trái đất này. Mới nghe cái tin dữ ấy, tôi đã khóc  suốt buổi trưa và nằng nặc đòi bố mẹ cho về quê để nhìn mặt ông lần cuối. Thế nhưng bố an ủi: “Nội ra đi là một mất mát lớn đối với tất cả chúng ta. Lúc nội còn  sống, nội đã rất tin vào sức học của các con. Bây giờ con lại sắp phải thi chuyển cấp. Vì thế con hãy cố gắng ôn và thi cho tốt để làm an lòng linh hồn của nội”. Tôi ngoan ngoãn và ngậm ngùi nghe theo lời dạy bảo của bố tôi. Nỗi đau và niềm nhớ thương ông nội  nén lại trong tim tôi nghẹn ngào và da diết.  Con tàu ngày xưa vẫn chạy rất nhanh sao hôm nay nó ì ạch và nặng nề biết mấy. Bò ngang qua mấy con đê và không biết đến bao nhiêu cánh đồng mênh mông bát ngát, con tàu dừng lại ngay phía đầu ngôi làng nhỏ của nội tôi. Vừa đặt chân lên mảnh đất của làng, tôi  bỗng giật mình nhận ra người bạn xưa quen thuộc- những bụi tre làng. Quê nội tôi có rất nhiều tre, tre đã gắn với bố, với tôi bao kỉ niệm. Những ngày nắng, những đêm mưa, những đêm trăng cùng  bạn bè trong xóm với  bao trò chơi thú vị, tôi đều đã gửi gắm ở nơi đây. Nhưng hôm nay trời không nắng và không có gió. Những đám trẻ âm thầm, lạnh lẽo và dường như cũng buồn như tâm hồn của chính tôi.  Bố nắm chặt tay tôi khi cả nhà đứng trước hai cánh cổng đầy rêu xanh nhà nội. Tôi bắt đầu không cầm được nước mắt. Tôi chạy thẳng vào sân, và vào lòng bà và nức nở. Các cô, các bác và các chị em xúm lại an ủi tôi. Bà nội dắt tôi đến trước bàn thờ ông nội. Tôi thắp nhang trong khi hai mắt vẫn cay xè.Tôi cố gượng để nhìn sâu vào tôi mắt sáng và rất hiền hoà của nội tôi rồi lại oà lên khóc.  Tôi thương nội rất nhiều. Qua lời kể của bố tôi, tôi biết ông bà nội đã phải lam lũ  suốt cuộc đời để nuôi dạy con cái cho thành đạt. Lúc còn sống, nội thường nói; “nội rất vui vì con cháu đều ngoan ngoãn cả”.Nhưng quả thực nội đã hy sinh trọn cuộc đời mà chưa có được một ngày thảnh thơi vui sướng.  Hôm ấy sau khi viếng mộ ông, tôi xin phép bố mẹ một mình ra thăm bờ sông. Nơi ấy xưa nội thường đưa tôi ra hóng mát. Ông dạy tôi cách vót diều và cũng có hôm tôi được ông cho thả diều trên bờ con sông quê ấy. Dòng sông bắt đầu nhô ra trước mắt tôi, uốn khúc bao quanh ngôi làng nhỏ như một dải lụa trắng khổng lồ. Mặt sông hôm nay lăn tăn gợn sóng như đang nói, đang cười, như tâm sự… Tôi đứng lặng trên bờ sông, nhắm mắt và nghe gió thổi vi vu. Hình như trong tiếng gió thổi nghe được tiếng thì thầm đó đây của nội.  Tối hôm đó tôi  có cảm thấy vui hơn vì được các anh chị đưa ra với đám thiếu niên ngoài xóm. Thế nhưng cuộc vui tàn rất nhanh, tôI ra về lòng không được tươi mới như những lần vui chơi ngày trước. Buổi sáng hôm sau tôi phải theo bố mẹ về ngay thành phố. Bố tôi phải đi công tác gấp, còn tôi năm nay cũng bận hơn với chuyện học hè. Vả lại tôi không dũng cảm để mà ở lại. Tôi muốn nhớ về ông nhưng không phải  ngày nào cũng cứ nhìn thấy ông rồi khóc.  Bà nội chu đáo chuẩn bị cho bố con tôi rất nhiều quà, trong đó có cả một con diều nhỏ. Tôi nín thở để kìm nén cảm xúc trong lòng. Tôi ôm chặt và thầm cảm ơn ông bà về tất cả. Trời hôm nay nắng và nắng rất to. Bố mẹ và tôi bước ra khỏi đám tre làng uể oải và mệt mỏi. Con đường trước mắt tôi rộng và xa tít. Nhưng không được đi dưới những tán tre làng đôi mắt tôi hình như cứ mỗi lúc hoa lên… Nhìn chung, đây là một bài tập mà ta có thể chủ động viết một cách sáng tạo, linh hoạt, không nên tuân theo một khuôn mẫu nào. Điều đáng lưu ý là không được sa vào kể chuyện "suông" (câu chuyện chỉ gồm các sự việc, chi tiết tiếp nối nhau) hoặc lạc sang kiểu bài thuần biểu cảm.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Lập dàn ý cho bài văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm

LẬP DÀN Ý CHO BÀI VĂN TỰ SỰ KẾT HỢP VỚI MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Phân tích bố cục của bài văn sau, khái quát nội dung của từng phần: MÓN QUÀ SINH NHẬT Nhân kỉ niệm ngày sinh nhật năm nay của tôi, bạn bè đến chơi vui vẻ qúa. Suốt cả buổi sáng, nhà tôi tấp nập kẻ ra, người vào, tiếng cười nói ríu ra ríu rít không ngớt. Hai chiếc bình cắm đầy hoa. Hoa hồng bạch, hoa hồng nhung, hoa cẩm chướng, hoa mặt trời, lại có những bông hoa cỏ nhỏ xíu màu tím nhạt mà tôi rất thích nữa. Các bạn tôi ngồi chật cả nhà, bao nhiêu ghế mượn thêm của cô Ba nhà bên cũng vẫn không đủ, có chỗ hai bạn phải ngồi chung một ghé, chật chội nhưng mà vui. Nhiều bạn còn mang cả quà đến tặng tôi nữa. Tôi nhận được nhiều thứ quá: nào là cặp tóc, nào sổ, nào khăn mùi soa,… bao nhiêu thứ bày la liệt trên bàn. Vui thì vui thật, nhưng tôi vẫn cứ bồn chồn không yên. Không hiểu sao cái Trinh, đứa bạn thân nhất của tôi, giờ này vẫn chưa đến. Chẳng lẽ nó lại quên ngày vui của tôi? Không, con bé vốn chu đáo lắm kia mà! Bạn bè đã bắt đầu ra về lác đác, tôi cũng bồn chồn. Tôi không trách Trinh nữa mà bắt đầu lo. Hay là….Trinh đã gặp tai nạn gì giữa đường chăng? Tôi đang đăm chiêu nghĩ ngợi, chợt Thanh reo lên: - Kia rồi! Chị Trinh kia rồi! Tôi quay phắt ra cửa, nhìn  thấy Trinh đang tươi cười đi vào sân. Tôi chạy ào ra, xô đổ cả ghế. Thấy Trinh bình thường, tự nhiên tôi thất tủi thân và giận Trinh. Tôi trách: - Sao bây giờ mới đến? Tưởng quên người ta rồi? Ghét ! Trinh cười lỏn lẻn, đầu hơi nghiêng nghiêng trông thật hiền lành. Nhìn nét cười ấy không thể nào mà giận cho được. Tôi phát vào lưng Trinh một phát rõ đau rồi hỏi: - Xe đâu không dắt vào, lại để ngoài cổng à? Trinh vẫn cười không ra tiếng, lắc lắc đầu hất lọn tóc nặng ra sau, nói nhỏ như người có lỗi: - Xe sáng nay anh Toàn đi sớm. - Thế đi bộ xuống đây à? Trinh không trả lời, chỉ mỉm cười gật đầu. Tôi giận mình quá, thế mà cứ trách Trinh mãi. Đi bộ thảo nào bây giờ mới đến. Nhà Trinh mãi trên Quảng Bá, xuống đây cũng phải đến năm, sáu cây số, chứ có gần gì. Tôi kéo Trinh vào ngồi giữa bạn bè. Trinh mở chiếc lẵng mây nhỏ, thận trọng lấy ra mấy bông hồng vàng. Tất cả đều sửng sốt reo lên. Cái Thanh vội cầm chiếc cốc đi múc nước. Mấy bạn khác cũng xúm lại trầm trồ nhìn ngắm. Trinh lại khẽ nâng lên một cành ổi. Còn nguyên cả lá và lúc lỉu đến năm, sáu quả tròn to, láng bóng. Lại những tiếng xuýt xoa bàn tán. Trinh cười quay sang tôi : - Trang còn nhớ chùm ổi nay không ? Không à ? Quả của cây ổi găng góc ao đấy thôi ! Tôi “à” lên một tiếng, mi mắt bỗng nong nóng và sống mũi cay xộc. Tôi nhớ ra rồi. Lâu lắm, từ mấy tháng trước, lúc ổi đang ra hoa, tôi có lên nhà Trinh chơi. Trinh dẫn tôi vào vườn, đến góc bờ ao, Trinh nói nhỏ, vẻ bí mật : - Trang! Trang! Lại đây tớ cho xem cái này, hay lắm! Trinh lom khom, luồn qua những cành ổi la đà gần sát mặt đất, rẽ lối cho tôi luồn theo. Đến góc ao, Trinh vít một cành ổi xa nhất, thích thú chỉ cho tôi xem một chùm hoa trắng muốt. Trinh thì thào : - Cậu có thích không? Cả một chùm mọc sát nhau nhé! Cây ổi này là giống ổi găng ngon nhất vườn đấy. Quả to, cùi dày, ăn giòn và thơm chẳng kém gì lê. Tớ phát hiện ra chùm hoa này, tuyệt không? Một, hai, ba… sáu, bảy, tám… phải hơn chục hoa là ít. Mà lại nở chụm vào một đầu cành mới thích chứ! Thấy tôi chăm chú nhìn cành hoa ổi, Trinh nói tiếp: - Tớ đang có một ” âm mưu ” này, Trang ạ. Rất thú vị nhé! Tôi gặng hỏi mãi, Trinh cũng không chịu nói. Trinh bảo chưa muốn nói bây giờ vì muốn dành cho tôi một sự bất ngờ. Và bây giờ thì chùm ổi đã chín vàng trên hai bàn tay tôi. Nâng chùm ổi trên tay, giọng tôi run run: - Cái “âm mưu” Trinh nói dạo ấy là chuyện này đây phải không? Trinh vẫn lặng lẽ cười, chỉ gật đầu không nói. Cảm ơn Trinh quá. Món quà ngày sinh nhật Trinh mang đến cho mình mới quý giá làm sao! Nó không phải là món quà mua vội vàng trên vỉa hè, trong cửa hiệu, chỉ cốt bỏ tiền ra là mua được, mà nó là cả một tấm lòng trân trọng của Trinh; Trinh đã ấp ủ, nâng niu, hằng nghĩ đến bao ngày nay. Trinh đã săn sóc chùm ổi ấy, để mắt đến nó, từ khi nó chỉ mới là những chiếc nụ nhỏ xíu, rồi nở hoa, rồi kết quả. Trinh đã mong ngày, mong đêm, tìm mọi cách giữ chùm quả ấy lại nguyên vẹn để hôm nay có được chùm quả vàng tươi thơm mát này… ( Theo Trần Hoài Dương, Những ngôi sao trong mưa) Gợi ý: - Mở bài (từ đầu cho đến “bày la liệt trên bàn.”): cảnh buổi lễ sinh nhật. - Thân bài (từ “Vui thì vui thật” cho đến “chỉ gật đầu không nói.”): món quà sinh nhật của Trinh tặng Trang. - Kết bài (đoạn còn lại): cảm nghĩ của Trang về món quà sinh nhật. 2. Tìm hiểu câu chuyện theo gợi ý sau: a) Truyện kể về việc gì? b) Ai là người kể chuyện? (Xưng ở ngôi thứ mấy? Tên là gì?) c) Chuyện xảy ra trong hoàn cảnh nào? (lúc nào? ở đâu? bối cảnh nào?) d) Chuyện xảy ra với những ai? (Có những nhân vật nào? Ai là nhân vật chính?) Tính cách của mỗi nhân vật ra sao? e) Diễn biến câu chuyện ra sao? (Mở đầu thế nào? Diễn biến ra sao? Đỉnh điểm ở đâu? Kết thúc ở sự việc nào?) Tính bất ngờ của câu chuyện được tạo nên từ đâu? g) Truyện có sử dụng miêu tả và biểu cảm trong lời kể không? Miêu tả và biểu cảm ở những chỗ nào? Các yếu tố miêu tả và biểu cảm có tác dụng ra sao trong việc thể hiện chủ đề truyện? 3. Nhận xét về thứ tự kể của văn bản Món quà sinh nhật. Gợi ý: Câu chuyện về món quà sinh nhật được kể lồng vào câu chuyện sinh nhật như thế nào? Người kể chỉ kể chuyện hiện tại hay còn kể chuyện đã xảy ra trong quá khứ? 4. Dàn ý của một bài văn tự sự có kết hợp với miêu tả và biểu cảm Qua bài văn trên, hãy cho biết: + Bố cục của bài văn tự sự gồm mấy phần? Nhiệm vụ của từng phần là gì? + Yếu tố miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự cần được thể hiện ra sao? Gợi ý: Bài văn tự sự bố cục thành ba phần. Phần Mở bài có nhiệm vụ giới thiệu sự việc, nhân vật và tình huống xảy ra câu chuyện; có khi, kết cục của câu chuyện được kể ngay ở phần Mở bài, sau đó mới kể ngược lại diễn biến. Phần Thân bài có nhiệm vụ kể lại diễn biến câu chuyện theo một trình tự nào đó, có thể kể theo diễn biến trước – sau tự nhiên của các sự việc cũng có thể kể theo mạch hồi tưởng lại hoặc đan xen giữa thực tại và hồi tưởng; nội dung của phần này hướng tới trả lời những câu hỏi như: Chuyện xảy ra ở đâu? Vào thời điểm nào? Chuyện xảy ra với ai? Chuyện xảy ra như thế nào?… Yếu tố miêu tả được sử dụng kết hợp khi kể về người, vật, khung cảnh,… Yếu tố biểu cảm được sử dụng để bày tỏ tình cảm, thái độ của người kể đối với đối tượng được kể hoặc của nhân vật đối với nhân vật. Phần Kết bài có nhiệm vụ nêu kết cục của câu chuyện và suy nghĩ, tâm trạng của người kể hoặc nhân vật. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Tóm tắt dàn ý của văn bản Cô bé bán diêm. Gợi ý: Đọc lại văn bản và tóm tắt dàn ý theo bố cục ba phần. Đoạn lược dẫn ở phần đầu đoạn trích xem như phần Mở bài. Lưu ý tóm tắt diễn biến câu chuyện theo mỗi lần quẹt diêm của cô bé bán diêm. 2. Nhận xét về việc sử dụng kết hợp giữa tự sự, miêu tả và biểu cảm trong văn bản Cô bé bán diêm. Gợi ý: Miêu tả và biểu cảm có tác dụng như thế nào trong việc tạo ra sức truyền cảm của lời kể? Lòng thương cảm của tác giả được thể hiện như thế nào? - Cảm nghĩ về người bà của cô bé bán diêm? - Cảm giác rét buốt được gợi tả ra sao? - Hình ảnh những que diêm và niềm mơ ước của cô bé? - Sự đối lập giữa mơ ước và thực tại? - Hình ảnh cô bé ở cuối đoạn trích? 3. Cho đề bài: “Một kỉ niệm xúc động và nhớ mãi với một người bạn lúc tuổi thơ”. Hãy lập dàn ý trong đó có chỉ rõ việc sử dụng yếu tố miêu tả và biểu cảm. Gợi ý: Trước hết, phải tưởng tượng ra toàn bộ diễn biến của câu chuyện. Sau đó mới triển khai lập ý theo bố cục của bài văn. Có thể kể như câu chuyện đang diễn ra hoặc kể bắt đầu từ hiện tại mà nhớ về tuổi ấu thơ. Việc lựa chọn cách kể, trình tự kể sẽ quy định dàn ý. loigiaihay.com
Xem thêm

4 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài: Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI: MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG VĂN TỰ SỰ

MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG VĂN TỰ SỰ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN Ôn tập về miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự, lưu ý những kiến thức sau : 1. Miêu tả là dùng ngôn ngữ (hay một phương tiện nghệ thuật khác) làm cho người nghe (người đọc, người xem) có thể thấy sự vật, hiện tượng, con người như đang hiện ra trước mắt. Biểu cảm là bộc lộ những tình cảm, cảm xúc của bản thân trước sự vật, sự việc, hiện tượng con người trong đời sống. 2. Miêu tả trong văn miêu tả, biểu cảm trong văn biểu cảm so với miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự không phải khác nhau ở số lượng câu văn mà là ở mục đích sử dụng. Yếu tố miêu tả trong văn miêu tả và trong văn tự sự tuy đều có tác dụng làm cho sự vật, sự việc, con người... trở nên rõ ràng sinh động. Thế nhưng miêu tả cho rõ, cho hay là mục đích của văn miêu tả. Trong khi đó, miêu tả chỉ là phương tiện để việc kể chuyện trong văn tự sự thêm cụ thể, sinh động và lí thú hơn. Cũng như vậy, nếu yếu tố biểu cảm làm cho bài văn biểu cảm dồi dào cảm xúc thì nó cũng chỉ là một phương tiện để biểu hiện và dẫn dắt câu chuyện trong văn tự sự mà thôi. 3. Để đánh giá sự thành công của việc miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự, người ta thường phải xem xét các yếu tố này có phục vụ đắc lực cho mục đích tự sự hay không, hoặc đã phục vụ cho mục đích ấy ở mức độ nào. 4. Muốn miêu tả và biểu cảm thành công, người viết cần phải quan tâm tìm hiểu cuộc sống, con người và bản thân mình, đồng thời chú ý quan sát, liên tưởng, tưởng tượng và lắng nghe những lay động mà sự vật, sự việc khách quan gieo vào trong tâm trí mình. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Tìm hiểu kĩ năng miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự qua đoạn trích Những vì sao của A. Đô-đê. Đây là một trích đoạn tự sự bởi nó có các yếu tố như: nhân vật (chàng chăn cừu và cô gái), có sự việc (một cốt truyện nhỏ) và có cả người dẫn chuyện (nhân vật tôi - chàng chăn cừu). - Đoạn trích này sử dụng khá nhiều các yếu tố miêu tả và biểu cảm để làm phương tiện cho việc "kể chuyện". Các yếu tố miêu tả xuất hiện ở phần đầu đoạn văn (miêu tả hiện thực của cảnh ban đêm) và đoạn tả bầu trời ngàn sao ở phần cuối. Yếu tố biểu cảm trong đoạn văn là phần diễn tả những cảm xúc tinh tế của nhân vật tôi khi "đầu nàng nặng trĩu vì buồn ngủ đã ngả vào tôi với tiếng sột soạt êm ái của những dải đăng-ten và làn tóc mây gợn sóng". - Có thể nói, đây là một đoạn văn mà yếu tố miêu tả và biểu cảm đã đóng góp tích cực cho việc nâng cao hiệu quả tự sự. Hai yếu tố này chẳng những đã giúp chúng ta hình dung một cách sinh động về cảnh đêm sao thơ mộng mà còn có tác dụng thúc đẩy diễn biến của cốt truyện. Yếu tố miêu tả làm nền cho việc nảy sinh sự việc và từ đó mới có những rung động khẽ khàng, say sưa mà thanh khiết của chàng chăn cừu bên cô gái ngây thơ, xinh đẹp. Đêm sao thơ mộng cùng những rung động ngọt ngào làm cho đoạn văn trở nên hấp dẫn và lí thú hơn. 2. a) Liên tưởng : Từ sự việc, hiện tượng nào đó mà nghĩ đến sự việc, hiện tượng có liên quan. b) Quan sát : Xem xét để nhìn rõ, biết rõ sự vật hay hiện tượng. c) Tưởng tượng : Tạo ra trong tâm trí hình ảnh của cái không hề có ở trước mắt, hoặc chưa hề gặp. 3. Để miêu tả cho tốt, cho hay, chúng ta không thể "chỉ cần quan sát đối tượng một cách kĩ càng" mà còn phải phát huy tích cực khả năng tưởng tượng và liên tưởng nữa. Ví như, chúng ta sẽ không thể cảm nhận được các hình ảnh, âm thanh rất đặc sắc, rất thơ mộng trong đoạn văn của A. Đô-đê nếu không có sự quan sát tinh tế để thấy: trong đêm, tiếng suối reo nghe rõ hơn, đầm ao nhen lên những đốm lửa nhỏ, những tiếng sột soạt văng vẳng trong không gian... Hay hình ảnh "Cô gái nom như một chú mục đồng nhà trời, nơi có những đám cưới sao..." là sản phẩm của trí tưởng tượng. Và nếu không có sự liên tưởng phong phú thì không thể có được cảnh "cuộc hành trình trầm lặng, ngoan ngoãn của ngàn sao gợi nghĩ đến đàn cừu lớn". 4. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, tình cảm, cảm xúc của nhân vật "tôi" trong đoạn trích Những vì sao nảy sinh từ việc quan sát kĩ càng, chăm chú cảnh đêm. Một đêm sao huyền ảo và thơ mộng, hơn nữa vẻ đẹp hồn nhiên và ngây thơ của cô gái chắc chắn đã làm lay động trái tim giàu cảm xúc và dễ rung động của chàng trai. Và rõ ràng chính những tình ý ấy đã làm cho đoạn văn thêm mượt mà và hấp dẫn hơn. Cho nên, không thể nói để biểu cảm khi tự sự, chỉ tìm những cảm xúc, những rung động trong tâm hồn người kể. 5. Đoạn văn kể lại cuộc chiến đấu giữa Đam Săn với Mtao Mxây trong sử thi Đam Săn là một đoạn văn có sử dụng nhiều yếu tố miêu tả và biểu cảm. Có thể nói nhờ các yếu tố này mà khung cảnh cũng như diễn biến của cuộc chiến hiện ra cụ thể sinh động tới từng chi tiết trong sự hình dung của người đọc. Các yếu tố miêu tả (những hình ảnh so sánh ví von) và biểu cảm (cảm xúc của các nhân vật cũng như của cộng đồng) đã làm cho cuộc chiến đấu trở nên hoành tráng và dữ dội. Cũng từ đó mà hình ảnh người anh hùng cũng được nâng bổng hơn lên. 6. Trong đoạn văn trích từ truyện ngắn Lẵng quả thông của C. Pau-tôp-xki, người kể đã "kể chuyện" bằng quan sát, tưởng tượng và suy ngẫm. Để giúp người đọc hình dung rõ rệt hơn, cảm nhận thích thú hơn vẻ đẹp của mùa thu, nhà văn đã không miêu tả trực tiếp mà tưởng tượng "nếu như có thể lấy hết đồng và vàng trên trái đất đem đánh thành muôn vàn lá cây rất mực tinh xảo"; và suy ngẫm "những chiếc lá nhân tạo nọ sẽ rất thô kệch...". Những câu văn ấy cũng là nhấn mạnh vẻ đẹp tự nhiên của mùa thu nhưng yếu tố miêu tả và biểu cảm đã mang đến cho chúng ta một cách cảm nhận khác lạ lẫm và lí thú hơn. 7. Viết bài văn tự sự có sử dụng các yếu tố biểu cảm và miêu tả kể về một chuyến đi đã đem lại cho anh (chị) nhiều cảm xúc (một lần về quê, một chuyến tham quan du lịch…).  Tham khảo bài viết dưới dây (kể về một lần về quê nội). Quê hương tôi cũng đẹp và đáng yêu như quê hương của Tế Hanh. Cũng có con sông xanh biếc và những hàng tre rợp mát những buổi trưa hè. Chỉ tiếc tôi sống ở quê không nhiều lắm. Mỗi  năm tôi chỉ được về quê có một lần và thường là những ngày hè oi bức. Hè năm nay cũng vậy, tôi cũng theo bố mẹ về thăm quê nội. Thế nhưng chuyến đi năm  nay buồn  man mác và nhói đau hơn.  Chả là cách cái ngày tôi về quê tròn hai tháng, nội tôi đã vĩnh viễn ra đi khỏi trái đất này. Mới nghe cái tin dữ ấy, tôi đã khóc  suốt buổi trưa và nằng nặc đòi bố mẹ cho về quê để nhìn mặt ông lần cuối. Thế nhưng bố an ủi: “Nội ra đi là một mất mát lớn đối với tất cả chúng ta. Lúc nội còn  sống, nội đã rất tin vào sức học của các con. Bây giờ con lại sắp phải thi chuyển cấp. Vì thế con hãy cố gắng ôn và thi cho tốt để làm an lòng linh hồn của nội”. Tôi ngoan ngoãn và ngậm ngùi nghe theo lời dạy bảo của bố tôi. Nỗi đau và niềm nhớ thương ông nội  nén lại trong tim tôi nghẹn ngào và da diết.  Con tàu ngày xưa vẫn chạy rất nhanh sao hôm nay nó ì ạch và nặng nề biết mấy. Bò ngang qua mấy con đê và không biết đến bao nhiêu cánh đồng mênh mông bát ngát, con tàu dừng lại ngay phía đầu ngôi làng nhỏ của nội tôi. Vừa đặt chân lên mảnh đất của làng, tôi  bỗng giật mình nhận ra người bạn xưa quen thuộc- những bụi tre làng. Quê nội tôi có rất nhiều tre, tre đã gắn với bố, với tôi bao kỉ niệm. Những ngày nắng, những đêm mưa, những đêm trăng cùng  bạn bè trong xóm với  bao trò chơi thú vị, tôi đều đã gửi gắm ở nơi đây. Nhưng hôm nay trời không nắng và không có gió. Những đám trẻ âm thầm, lạnh lẽo và dường như cũng buồn như tâm hồn của chính tôi.  Bố nắm chặt tay tôi khi cả nhà đứng trước hai cánh cổng đầy rêu xanh nhà nội. Tôi bắt đầu không cầm được nước mắt. Tôi chạy thẳng vào sân, và vào lòng bà và nức nở. Các cô, các bác và các chị em xúm lại an ủi tôi. Bà nội dắt tôi đến trước bàn thờ ông nội. Tôi thắp nhang trong khi hai mắt vẫn cay xè.Tôi cố gượng để nhìn sâu vào tôi mắt sáng và rất hiền hoà của nội tôi rồi lại oà lên khóc.  Tôi thương nội rất nhiều. Qua lời kể của bố tôi, tôi biết ông bà nội đã phải lam lũ  suốt cuộc đời để nuôi dạy con cái cho thành đạt. Lúc còn sống, nội thường nói; “nội rất vui vì con cháu đều ngoan ngoãn cả”.Nhưng quả thực nội đã hy sinh trọn cuộc đời mà chưa có được một ngày thảnh thơi vui sướng.  Hôm ấy sau khi viếng mộ ông, tôi xin phép bố mẹ một mình ra thăm bờ sông. Nơi ấy xưa nội thường đưa tôi ra hóng mát. Ông dạy tôi cách vót diều và cũng có hôm tôi được ông cho thả diều trên bờ con sông quê ấy. Dòng sông bắt đầu nhô ra trước mắt tôi, uốn khúc bao quanh ngôi làng nhỏ như một dải lụa trắng khổng lồ. Mặt sông hôm nay lăn tăn gợn sóng như đang nói, đang cười, như tâm sự… Tôi đứng lặng trên bờ sông, nhắm mắt và nghe gió thổi vi vu. Hình như trong tiếng gió thổi nghe được tiếng thì thầm đó đây của nội.  Tối hôm đó tôi  có cảm thấy vui hơn vì được các anh chị đưa ra với đám thiếu niên ngoài xóm. Thế nhưng cuộc vui tàn rất nhanh, tôI ra về lòng không được tươi mới như những lần vui chơi ngày trước. Buổi sáng hôm sau tôi phải theo bố mẹ về ngay thành phố. Bố tôi phải đi công tác gấp, còn tôi năm nay cũng bận hơn với chuyện học hè. Vả lại tôi không dũng cảm để mà ở lại. Tôi muốn nhớ về ông nhưng không phải  ngày nào cũng cứ nhìn thấy ông rồi khóc.  Bà nội chu đáo chuẩn bị cho bố con tôi rất nhiều quà, trong đó có cả một con diều nhỏ. Tôi nín thở để kìm nén cảm xúc trong lòng. Tôi ôm chặt và thầm cảm ơn ông bà về tất cả. Trời hôm nay nắng và nắng rất to. Bố mẹ và tôi bước ra khỏi đám tre làng uể oải và mệt mỏi. Con đường trước mắt tôi rộng và xa tít. Nhưng không được đi dưới những tán tre làng đôi mắt tôi hình như cứ mỗi lúc hoa lên… Nhìn chung, đây là một bài tập mà ta có thể chủ động viết một cách sáng tạo, linh hoạt, không nên tuân theo một khuôn mẫu nào. Điều đáng lưu ý là không được sa vào kể chuyện "suông" (câu chuyện chỉ gồm các sự việc, chi tiết tiếp nối nhau) hoặc lạc sang kiểu bài thuần biểu cảm.                                                                            
Xem thêm

5 Đọc thêm

MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ

MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Sự kết hợp giữa kể, tả và biểu cảm trong văn bản tự sự a) Đọc đoạn văn sau và nhận xét về những phần chữ in nghiêng: Xe chạy chầm chậm… Mẹ tôi cầm nón vẫy tôi, vài giây sau, tôi đuổi kịp. Tôi thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi và khi trèo lên xe, tôi ríu cả chân lại. Mẹ tôi vừa kéo tay tôi, xoa đầu tôi hỏi, thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở. Mẹ tôi cũng sụt sùi theo: - Con nín đi! Mợ đã về với các con rồi mà. Mẹ tôi lấy vạt áo nâu thấm nước mắt cho tôi rồi xốc nách tôi lên xe. Đến bấy giờ tôi mới kịp nhận ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá như cô tôi nhắc lại lời người họ nội của tôi. Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má. Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc? Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường. Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng. Từ ngã tư đầu trường học về đến nhà, tôi không còn nhớ mẹ tôi đã hỏi tôi và tôi đã trả lời mẹ tôi những câu gì. (Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu) Gợi ý: Phần chữ in nghiêng là phần miêu tả và biểu cảm. Như vậy, câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa con – “tôi” và người mẹ đã được kết hợp, đan xen với rất nhiều yếu tố miêu tả và biểu cảm. b) Hãy liệt kê ra những hình ảnh miêu tả và những từ ngữ bộc lộ tình cảm trong đoạn văn trên và cho biết nếu lược đi các yếu tố này thì câu chuyện sẽ thế nào? Gợi ý: Phần lớn các hình ảnh miêu tả đều thấm đẫm cảm xúc của nhân vật “tôi” – người con, là tả lại những trạng thái cảm xúc, tả lại tình cảm yêu thương trìu mến, xúc động của con và mẹ, cảm giác sung sướng của người con khi được ấp iu trong lòng mẹ. Có những phần chỉ thuần tuý bộc lộ tình cảm như:Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc?. Nếu lược đi các yếu tố miêu tả và biểu cảm thì đoạn trích chỉ còn lại những sự việc rất giản đơn: Xe chạy chầm chậm… Mẹ tôi vẫy tôi, tôi đuổi kịp mẹ tôi. Cả hai mẹ con đều khóc. Mẹ lau nước mắt cho tôi rồi xốc nách tôi lên xe, ôm tôi vào lòng. Từ ngã tư đầu trường học về đến nhà, tôi không còn nhớ mẹ tôi đã hỏi tôi và tôi đã trả lời mẹ tôi những câu gì. Như thế, sẽ không gây được trong lòng người đọc ấn tượng đậm nét về hình ảnh “trong lòng mẹ”, tình cảm mẹ con sâu sắc, khao khát tột bậc của người con. c) Nếu lược đi những sự việc trong phần kể thì đoạn trích sẽ như thế nào? Gợi ý: Người đọc sẽ không tưởng tượng ra một cách cụ thể cảnh hai mẹ con gặp nhau (bắt đầu thế nào, diễn biến rồi kết thúc ra sao) và làm mờ nhạt đi diễn biến của mạch cảm xúc. d) Từ những điều đã phân tích ở trên, hãy tự rút ra nhận định về vai trò của yếu tố miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sự. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Đọc lại các văn bản Tôi đi học (Thanh Tịnh), Tức nước vỡ bờ (Ngô Tất Tố), Lão Hạc (Nam Cao) và cho biết trong các văn bản này yếu tố tự sự, miêu tả và biểu cảm kết hợp với nhau như thế nào? Sự kết hợp giữa các yếu tố tự sự, miêu tả và biểu cảm có tác dụng ra sao trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm? Gợi ý: - Đọc kĩ lại văn bản; - Tóm tắt những sự việc chính của câu chuyện; - Nhận xét về tác dụng của miêu tả và biểu cảm trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật, khung cảnh, bộc lộ thái độ tình cảm của tác giả, của nhân vật,… 2. Em rất xúc động khi được gặp lại một người thân sau nhiều ngày xa cách (ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em,…). Hãy viết một đoạn văn ngắn kể về cuộc gặp gỡ ấy và cho biết em đã sử dụng miêu tả, biểu cảm trong tự sự như thế nào? Gợi ý: - Kể: + Cuộc gặp gỡ mở đầu, diễn ra, kết thúc ra sao? (thời gian, địa điểm,…) + Nhân vật: gồm những ai? + Lời kể: theo ngôi thứ nhất – “tôi” hoặc “em”. - Tả: khung cảnh gặp gỡ; hình dáng, cử chỉ của người thân,… - Biểu cảm: cảm xúc của em, cảm xúc của người thân,… Phải biết kết hợp khéo léo giữa ba yếu tố trên. 3. Qua hai đoạn văn của Tô Hoài và Phạm Hổ trong phần Đọc thêm, em rút ra cho mình điều gì? loigiaihay.com  
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề