THỰC PHẨM ĐẨY LÙI Ô NHIỄM TIẾNG ỒN

Tìm thấy 9,391 tài liệu liên quan tới từ khóa "THỰC PHẨM ĐẨY LÙI Ô NHIỄM TIẾNG ỒN":

Lý thuyết chống ô nhiễm tiếng ồn

LÝ THUYẾT CHỐNG Ô NHIỄM TIẾNG ỒN

Ô nhiễm tiếng ồn xảy ra khi tiếng ồn to... + Ô nhiễm tiếng ồn xảy ra khi tiếng ồn to, kéo dài gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và hoạt động bình thường của con người. + Để chống ô nhiễm tiếng ồn cần làm giảm độ to của tiếng ồn phát ra, ngăn chặn đường truyền âm, làm cho âm truyền theo hướng khác. Những vật liệu được dùng để làm giảm tiếng ồn truyền đến tai gọi là những vật liệu cách âm.

1 Đọc thêm

BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM Ô NHIỄM TIẾNG ỒN ĐÔ THỊ

BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM Ô NHIỄM TIẾNG ỒN ĐÔ THỊ

Ở các đô thị lớn, trong các nguồn sinh ra tiếng ồn thì các phương tiện giao thông vận tải đóng vai trò chủyếu(60-80%).Việt Nam vào năm2009 cả nước có khoảng 29 triệu môtô và xe máy2010 sẽ có khoảng 24 triệu xe2015 dự báo lượng xe máy lưu hành trong cả nước khoảng 31 triệu xe.Hà Nộiđã là 4,6 triệu phương tiệnTPHồ Chí Minh là khoảng 5,5 triệu phương tiện,trong đó ở các thành phố lớn thì con số gia tăng tính trung bình là 10% mỗi năm .( theo CĐK)2.2.2 Ô nhiễm tiếng ồn từ giao thôngSTTLoại phương tiệnMức ồn (dB)1Xe nhỏ772Xe khách nhỏ
Xem thêm

31 Đọc thêm

BÀI 15. CHỐNG Ô NHIỄM TIẾNG ỒN

BÀI 15. CHỐNG Ô NHIỄM TIẾNG ỒN

không có trật tự, phát ra không đúng lúc,quá ngưỡng chịu đựng của con người, gâycảm giác khó chịu cho người nghe, làm ảnhhưởng đến quá trình làm việc và nghỉ ngơicủa con người.I. Nhận biết ô nhiễm tiếng ồn.Loại tiếng ồntiếng ồn có cường độ làm suy giảm hiệu suất làm việc, nhất làCường độ50dBngười lao động trí óc.Tiếng ồn làm tăng nhịp thở và nhịp đập của tim, tăng nhiệt độ cơ70dBthể và tăng huyết áp, ảnh hưởng tới hoạt động tiêu hóa và làm giảmhứng thú hoạt động.Tiếng ồn gây mệt mỏi, mất ngủ, tổn thương chức năng thính giác,90dBmất thăng bằng cơ thể và suy nhược thần kinh.70-80 dBTiếng ồn ban ngày gây mệt mỏi
Xem thêm

18 Đọc thêm

tiểu luận ô nhiễm không khí và tiếng ồn tại thành phố hà nội

TIỂU LUẬN Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ VÀ TIẾNG ỒN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

tiểu luận môn kiểm soát ô nhiễm không khí và tiếng ồn Đề tài: Ô nhiễm môi trường không khí tại thành phố Hà Nội Chương 1: Thực trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội Chương 2: Nguyên nhân gây ô nhiễm. Chương 3: Giải pháp

20 Đọc thêm

THIẾT KẾ MÔN HỌC KIỂM SOÁT Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ VÀ TIẾNG ỒN

THIẾT KẾ MÔN HỌC KIỂM SOÁT Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ VÀ TIẾNG ỒN

Thiết kế môn học kiểm soát ô nhiễm không khí và tiếng ồn

40 Đọc thêm

BÀI 15. CHỐNG Ô NHIỄM TIẾNG ỒN

BÀI 15. CHỐNG Ô NHIỄM TIẾNG ỒN

BÀI GIẢNGVẬTLÍ7KIỂM TRA BÀI CŨCâu 1: Khi nào có âm phản xạ? Tiếng vang là gì?Câu 2: Những vật như thế nào thì phản xạ âm tốt? Những vật như thế nào thì phản xạâm kém?Lấy ví dụ minh họa?•Tống tù nhân vào thùng phuy đầy nước, một tên ấn đầu xuống, một tên dùng vồ đập mạnh khiến cácchiến sĩ bị sặc nước và vỡ tai đau đớnC1 Hình nào trong các hình dưới đây thể hiện tiếng ồn tới mức ô nhiễm? Vì sao em biết?

20 Đọc thêm

07 VẤN ĐỀ VỀ Ô NHIỄM TIẾNG ỒN VÀ CHẤN ĐỘNG

07 VẤN ĐỀ VỀ Ô NHIỄM TIẾNG ỒN VÀ CHẤN ĐỘNG

I.Khái niệm. Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh có cường độ và tần số khác nhau, sắp xếp không có trật tự, gây cảm giác khó chịu cho người nghe, ảnh hưởng đến quá trình làm việc và nghỉ ngơi của con người. Hay là những âm thanh phát ra không đúng lúc, đúng nơi, âm thanh phát ra với mức độ quá lớn, vượt mức chịu đựng của con người. Tai người chỉ có thể tiếp nhận được biến thiên áp suất nếu sự thay đổi áp suất từ 15 đến 20 Hz. Hơn nữa, tai người không cảm nhận được biên độ bằng nhau của áp suất dao động trên tất cả các tần số. Vì vậy cả tần số và biên độ đều có ảnh hưởng tới độ to của âm thanh. Hầu hết tai người đêì có thể nghe được tần số âm thanh khoảng 1000Hz với áp suất dao động 10-5 Pa, khi hạ áp âm hạ xuống 10-1 mBA đủ để tạo ra âm thanh khó chịu. II.Nguồn gốc. 1.Tiếng ồn thiên nhiên. Do hoạt động của núi lửa và động đất. Tuy nhiên đây chỉ là 1 nguyên nhân thứ yếu mà thôi, chỉ khi nào có núi lửa và động đất thì lúc đó mới có ô nhiễm về tiếng ồn; nó chỉ thực sự tác động đến những người sống gần khu vực núi lửa hoặc động đất và chỉ diễn ra ngẫu nhiên. 2.Nguồn gốc nhân tạo. a) Giao thông. Hiện nay phương tiện giao thông cơ giới rất phổ biến, mỗi xe khi vận chuyển trên đường phố sẽ gây ra tiếng ồn do động cơ hoạt động, tiếng còi, ống xả, tiếng rít phanh và sự rung động của các bộ phận trên xe gây nên. Sau đây minh họa tiếng ồn do một số phương tiện giao thông gây nên:
Xem thêm

11 Đọc thêm

PHÂN TÍCH SỰ SẴN SÀNG TRẢ ĐỂ GIẢM TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TỪ ĐƯỜNG GIAO THÔNG

PHÂN TÍCH SỰ SẴN SÀNG TRẢ ĐỂ GIẢM TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TỪ ĐƯỜNG GIAO THÔNG

PHÂN TÍCH SỰ SẴN SÀNG TRẢ TIỀN ĐỂ GIẢM TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TỪ ĐƯỜNG GIAO THÔNG: Nghiên cứu từ Pyrenees ở Navarre (Tây Ban Nha) 1. Khoa Kinh tế, Đại học Công Navarra 2.Cục Thống kê và các hoạt động nghiên cứu, trường đại học công củaNavarra. 3. Cục Quản trị Kinh doanh, Đại học Công Navarra. 4 .Tiến Sinh viên, UABUPNAUIB Tóm lược: Vận tải đường bộ nói chung được coi là một trong những nguồn lớn nhất của ngoại tác toàn cầu. Bài viết này, sử dụng kết quả của một cuộc khảo sát adhoc, là để dân sống gần những con đường Pyrenean hạt nhân Navarra, Tây Ban Nha. Nhằm phân tích sự sẵn sàng trả tiền để giảm hai yếu tố chính ở bên ngoài của giao thông vận tải mặt đất , đó là : “Tiếng ồn và ô nhiễm không khí.” Như vậy, mục đích của công việc này, là nghiên cứu các yếu tố bên ngoài và so sánh mức độ ô nhiễm thực tế giữa khu vực nông thôn và thành thị. Họ đã sử dụng mô hình xác suất (probit và logit) và mô hình Spike, quan sát sự khác biệt đáng kể giữa các giá trị của các yếu tố bên ngoài . Chính là mối quan hệ giữa các phép đo tiếng ồn và ô nhiễm không khí qua sự đánh giá của người dân. Tóm tắt: Giao thông vận tải đường bộ được biết đến là một trong những nguồn chính của các yếu tố ngoại tác trên toàn thế giới. Điều này, qua một cuộc khảo sát adhoc của người dân sống gần những con đường băng qua dãy núi Pyrenees ở Tây Ban Nha Navarre, họ phân tích sự sẵn sàng chi trả cho việc giảm hai yếu tố chính do các yếu tố giao thông đường bộ: “Tiếng ồn và ô nhiễm.”. Vậy, tiếng ồn và ô nhiễm không khí là đặc trưng cho các nghiên cứu kinh tế của những yếu tố bên ngoài. Mô hình xác suất (Probit và Logit) và các mô hình Spike.: mức độ thực tế của ô nhiễm và các ứng dụng của họ trong các môi trường nông thôn và thành thị. Ước tính, Sự khác biệt về định giá quan sát quan trọng. Trong số Cả hai vấn đề môi trường. Các mối quan hệ cũng có thể đã được quan sát giữa vật lý với sự ô nhiễm tiếng ồn và xác định giá trị kinh tế của người dân. Từ khóa: Chất lượng không khí; Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên; Y tế; tiếng ồn; Đường giao thông vận tải; Spike mẫu; Sẵn sàng để trả tiền. 1. Giới thiệu Trong thập kỷ gần đây, do sự tăng trưởng vượt trội về kinh tế mà ngành giao thông đã trở thành một ngành chiến lược của nền kinh tế và là một đóng góp lớn cho sự tiến bộ của kinh tế và xã hội. Đường giao thông vận tải nói riêng đã tăng lên đáng kể nhất, tuy nhiên giao thông vận tải cũng có tác động tiêu cực, chẳng hạn như “tiếng ồn, ô nhiễm không khí, và tắc nghẽn,”mà hầu như không được đưa vào tài khoản trong hoạch định chiến lược. Sự cần thiết phải xem xét các chi phí bên ngoài vì là cấp bách để đảm bảo đồng thời vẫn phát triển bền vững của ngành giao thông và tăng trưởng kinh tế ( Sinha và Labi, 2007) do đó ngành giao thông chiếm hơn một phần tư tiêu thụ năng lượng trên thế giới vào năm 2004 ( Cơ quan Năng lượng Quốc tế, 2006).Nhiều nghiên cứu đã cố gắng định lượng kinh tế, tác động của các yếu tố bên ngoài ở châu Âu. Theo cơ sở hạ IWW (2004), chi phí bên ngoài giao thông vận tải năm 2000 đạt gần 8,5% và 9,5% của GDP trong Liên minh châu Âu và Tây Ban Nha. Giao thông vận tải đường bộ là trách nhiệm đối với gần 91% chi phí bên ngoài từ các phương tiện giao thông ở châu Âu (cơ sở hạ IWW, 2000) và chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng hoạt động này tạo ra các yếu tố ngoại tác lớn về môi trường (Bell et al., 2006, Saz, 2004, Hoyos, 2004 và Matus et al., 2008).Mối quan tâm tập trung vào vận tải đường bộ, vận chuyển hàng hóa và các nguồn lớn nhất của hàng hóa liên quan đến lượng khí thải CO2 ở các nước phát triển (Intergovernmental Panel on Climate Change, 2007). Ngày nay, có thỏa thuận chung về sự cần thiết để nội tác các tiêu cực bên ngoài, bằng cách xử lý chúng như là một ưu tiên khi xây dựng chiến lược cơ sở hạ tầng. Liên minh châu Âu, ví dụ, đã phát triển một cơ sở hạ tầng sử dụng hệ thống thuế (CHỈ 19991962 EC và 200638 EC, Eurovignette) dựa trênngười sử dụng và gây ô nhiễm phải trả tiền nguyên tắc (Ủy ban châu Âu, 1999, 2006).Trong một số trường hợp đặc biệt liên quan đến cơ sở hạ tầng ở các vùng miền núi, các chỉ thị cho thấy khả năng trả thêm tiền để thu phí cầu đường. Các chỉ thị trong câu hỏi nhấn mạnh rằng“Chú ý đặc biệt nên được dành cho khu vực miền núi như dãy Alps hoặc Pyrenees (Ủy ban châu Âu, 2006). Giá trị kinh tế của giao thông liên quan đến tác động bên ngoài là hoàn toàn cần thiết cho sự thành công của các đề xuất quy phạm. Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng có hai tác động môi trường liên quan đến giao thông: tác động ô nhiễm không khí (Sinha và Labi, 2007) và các hiệu ứng tiếng ồn (Navrud, 2002). Mục đích chính của (2002) báo cáo Navrud là việc đánh giá kinh tế của cả hai vấn đề môi trường (ô nhiễm và tiếng ồn) sử dụng đánh giá ngẫu nhiên trong một khu vực châu Âu với mức độ ô nhiễm cao. Mục đích của bài viết này là để tính toán sự sẵn sàng chi trả cho tiếng ồn của giao thông và ô nhiễm không khí (WTP) của người dân ở một khu vực giáp Pyrenees ở Navarre (Tây Ban Nha), cho việc giảm giao thông vận tải .Với mục tiêu này, chúng tôi đã chọn năm con đường quan trọng nhất qua Pyrenees ở Navarre, Cùng Với 14 địa phương khi họ đi qua đó. Dựa vào sự lựa chọn đó, chúng tôi đã khảo sát 900 người dân (trưởng thành ) ở địa phương đó. Một trong những cải tiến chính của chúng tôi là phân tích đồng thời của cả hai yếu tố, yếu tố bên ngoài được mô tả trong giai đoạn trước.Một số tác giả đã thực hiện các phân tích tương tự bao gồm Kondo et al,(2003), Wardman và Bristow (2004) và Rehdanz và Maddison (2008).Nhiệm vụ của công việc này là phân tích của các khu, tùy thuộc vào mức độ tác động giao thông vận tải đường bộ. Mục đích là so sánh các cấp độ nhận thức khác nhau của người dân, để có những chính sách giải quyết phù hợp. Cuối cùng, một khía cạnh đáng chú ý là sự khác biệt trong phạm vi địa lý, trong đó chủ yếu là nông thôn. Cho tới nay, các nghiên cứu đã tập trung chủ yếu vào thành phố (Bell et al. 2006, Wang et al. 2006, Yoo Chae và 2001, Karimzadegan et al.Marmolejo and Frizzera 2008 or 2008), and mediumsize cities (Barreiro et al., 2005; Martin et al, 2006, Andersson et al, 2009).Ở những khu vực, ô nhiễm chính là sự phiền toái cho người dân và giảm ô nhiễm được coi là một ưu tiên. Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào các địa phương nhỏ và vừa ở Pyrenees phương Tây, nơi đó ô nhiễm sẽ ít được quan tâm hơn ở các thành phố lớn. Thực tế, những con đường qua dãy núi Pyrenees được xem xét là các con đường thường phải chịu những ảnh hưởng của các yếu tố giao thông đường bộ, cụ thể: Pyrenees tạo thành ranh giới tự nhiên giữa Tây Ban Nha và phần còn lại của 4 Châu Âu, và hơn 150.000 xe, gần như 30% là xe chở hàng nặng, băng qua dãy núi Pyrenees hàng ngày (Đài HispanoPháp trong giao thông Pyrenees, 2008). Bài viết này được tổ chức thành năm phần chính. Sau phần giới thiệu này (phần1), phần 2 mô tả và biện minh cho sự lựa chọn của khu vực nghiên cứu. Mục 3 giải thích các phương pháp đo lường ô nhiễm. Phần 4 tập trung vào các khía cạnh phương pháp luận của việc thiết kế khảo sát đánh giá ngẫu nhiên. Phần 5 trình bày các kết quả chính .Cuối cùng, phần kết luận mô tả những hạn chế và cho thấy con đường tiềm năng cho các nghiên cứu trong tương lai. 2. Phạm vi địa lý Phạm vi địa lý cho nghiên cứu của chúng tôi là dãy núi Pyrenees, mà là một ranh giới tự nhiên giữa Tây Ban Nha và Pháp. Đây là khu vực có mật độ giao thông vận tải đường bộ rất cao, các tuyến đường nhộn nhịp nhất là những người nằm gần vùng núi ở vùng Catalonia (La Jonquera), xứ Basque và Navarre (IrunBehobia), mà cắt qua các khu vực có giá trị sinh thái tuyệt vời .Những điểm vượt qua phải chịu một tác động môi trường cao và mức độ phiền toái giao thông đường bộ. Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào các tuyến bay quốc tế chính băng qua dãy núi Pyrenees ở Navarre, có vị trí địa lý làm cho nó trở thành một khu vực chiến lược. Như vậy, năm tuyến đường chính được bắt đầu ở Pamplona (thủ đô của Navarre) và kết thúc ở Pháp như thể hiện trong hình 1. Những đường bay này, sẽ đi qua các thị trấn và làng mạc, thay đổi trong đặc tính từ đường quốc lộ chính cao tốc đông xe cộ cho đến tuyến đường ít bận rộn. Sau khi lựa chọn các tuyến đường, bước tiếp theo là chọn các địa phương trong tiếng ồn và khảo sát ô nhiễm không khí.Chúng tôi bắt đầu bằng cách chỉ định vùng đệm rộng 400mét hoặc vùng ảnh hưởng trên mỗi bên của đường, từ đó để lựa chọn địa điểm bị ảnh hưởng. Các địa phương sau đó đã được lựa chọn theo các tiêu chí ( a: đại diện là những thị trấn làng gần đó, để nghiên cứu các tình huống khác nhau, b: số lượng người dân. Các yếu tố khác, chẳng hạn như hình thái làng và đất đai). Lựa chọn cuối cùng bao gồm 14 địa phương được phân phối gần như bằng nhau giữa năm tuyến đường, như trong hình 1. Hình 1: phạm vi địa lý: đường giao thông và các ngôi làng 3. Các phép đo ô nhiễm Tiếp theo, chúng tôi thực hiện một số phép đo tiếng ồn và dự đoán ô nhiễm không khí ở các tuyến đường và địa phương, bằng cách sử dụng Decibel Trait và các phần mềm DISPER 4.0 (2004) (www.canarina.es) được lựa chọn để xác định mức độ của tiếng ồn giao thông vận tải đường bộ và ô nhiễm phiền toái trên các vùng khác nhau. Mặc dù vấn đề đo lường và tính toán kỹ thuật quan trọng vì liên quan đến các phương pháp lựa chọn, nhưng nó không phải là ý định của chúng tôi bao gồm tất cả các chi tiết trong bài viết này. Như vậy, các thông tin có liên quan nhất đến đo lường và dự đoán được quy định trong Bảng 1.   Bảng 1: Đo lường tiếng ồn và đánh giá dữ liệu ô nhiễm không khí Tiếng ồn Ngày tháng Số lượng và thời gian Tháng 1 năm 2009 2, 3 hoặc 4, tùy thuộc vào ngôi làng. Ba mươi phút trên mỗi lần đo Thời gian Trong ngày: 10 – 20 giờ; Trong đêm: từ 0 giờ Phương pháp Cao 1.5 mét, giữa mặt tiền phía trước và khu vực mở rộng Trang bị Đồng hồ đo mức độ âm thanh. Symphonie bicanal analyzer. Kết quả Phần mềm Đo độ nét cường độ âm thanh (Decibel Trait) Ô nhiễm không khí Thông số giới hạn Mật độ giao thông (Government of Navarre, 2007), thông tin địa lý, tốc độ và hướng gió, nhiệt độ và điều kiện không khí. Phần mềm DISPER 4.0 Đánh giá mô hình ISCST (Mô hình khu công nghiệp liên hợp ngắn hạn Industrial Source Complex Short Term Model) dựa vào Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA Environmental Protection Agency) Kết quả Nồng độ và sự phân tán CO, NOX and CXHY. Tiếng ồn tại 1 điểm cụ thể Những phép đo và ước tính, xác định được hai mức ô nhiễm phiền toái ở mỗi địa phương. Hai dải song song đã được xác định trên mỗi bên của đường. Dải phía trong sẽ bị ảnh hưởng nặng nề hơn bởi tiếng ồn và ô nhiễm không khí, và giả định là khu A, và dải bên ngoài ít bị ảnh hưởng giả định là khu B. Các đặc điểm chính của cả hai khu vực được thể hiện trong bảng 2.   Bảng 2. Đặc tính khu vực ô nhiễm Khu vực A Khu vực B Khoảng cách từ quốc lộ Từ 0 đến 80100 mét Từ 80100 mét đến 300 mét Mức độ tiếng ồn xấp xỉ Trên 65 Db Dưới 65 Db Nồng độ ô nhiễm(1) Đến 77 μgm3 Dưới 60 μgm3 Hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm vị trí (cứu trợ, ví dụ) và khác nhau nhẹ giữa các làng. Các giới hạn biên giới giữa các khu vực không chỉ có một định nghĩa bởi vì chúng khác nhau tùy thuộc vào các thị trấn nhỏ và những ngôi làng. Bước cuối cùng trong nghiên cứu này là đánh giá mức độ trả lời của mỗi người khi phải chịu đựng ô nhiễm tiếng ồn và ô nhiễm không khí, được đo bằng decibel (dB) và mg m3 NOX, 10 log () (3.1) 10 0 LL dd eq = + ⋅ Tương ứng. Cần lưu ý rằng, đánh giá này được thực hiện sau khi khảo sát, vì nó đòi hỏi các thông tin thu được tai điểm khảo sát. Người được hỏi đều nằm trên một GIS (hệ thống thông tin địa lý) dựa trên địa chỉ bưu chính của họ,với sự trợ giúp của một dịch vụ WMS (Web Map Service cung cấp dữ liệu địa chính được cung cấp bởi IDENA (2009)) mà cho phép chúng tôi để xác định khoảng cách của từng nhà bị ảnh hưởng. Bằng cách xây dựng một bản đồ của những con đường khác nhau, bao gồm một lớp raster và dữ liệu từ xa, chúng tôi đã có thể thực hiện tất cả các nhiệm vụ để tham gia vào vị trí nghiên cứu. Như vậy, bằng cách liên kết các phép đo tiếng ồn và dữ liệu từ xa, chúng tôi đã có thể xác định mức độ tiếng ồn phải chịu đựng của mỗi bên. Chúng tôi sử dụng công thức (3.1) và (3.2), đưa ra dưới đây, để ước tính giá trị decibel ảnh hưởng đến mỗi điểm khảo sát.nơi Leq là mức liên tục của tiếng ồn phải được ước tính, L mức độ tiếng ồn tại một điểm cụthể( thực hiện) d0 khoảng cách đo từ đường và d là khoảng cách đo từ đường đến nhà của người trả lời. Những công thức này đã được phát triển bởi Sinha và Labi (2007). Tuy nhiên, các công thức khác nhau đã được sử dụng tùy thuộc vào loại tiếng ồn đang được xem xét. Công thức (3.1) đã được sử dụng cho các làng với lưu lượng giao thông dưới 3.000xe mỗi ngày, nơi tiếng ồn được coi như một nguồn điểm. Khi làm việc với các làng nghề với lưu lượng giao thông của hơn 3.000 xe, chúng tôi sử dụng công thức (3.2), nơi tiếng ồn được xem như là một biến tuyến tính. L_eq= L+10.〖log〗_10 (d_0⁄d) (3.1) cL_eq= L +20.〖log〗_10 (d_0⁄d) (3.2) Trong trường hợp của ô nhiễm không khí, DISPER 4,0 phần mềm cho phép chúng tôi có được cả hai phân tán và nồng độ dữ liệu cho mỗi điểm, sau đó đã được đặt lên trên các điểm khảo sát, để có được mức độ ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến mỗi bên. Như đã nói ở phần trước, các phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) đã được lựa chọn để đo lường tác động của các yếu tố ngoại tác vận tải đường bộ từ những con đường thông qua Pyrenees. Lý do chính cho sự lựa chọn của chúng tôi là: Phương pháp giá cả hưởng thụ, một phương pháp nổi tiếng với các phép đo lường được tác động từ yếu tố môi trường, một số lợi ích bằng cách bỏ qua, những thông số khác, sự gia tăng phúc lợi của người dân bị ảnh hưởng (Barreiro et al, 2005). Có một loạt vấn đề cần lưu ý về đo lường chất lượng không khí bằng cách sử dụng phương pháp giá cả hưởng thụ (Kim et al., 1998, Kawamura và Mahajan, năm 2005, Martin et al., 2006, Rehdanz và Maddison, 2008, Andersson et al., 2009) , đánh giá ngẫu nhiên (Alberini và Chiabai, 2007, Delucchi et al.,2002, Saz, 2004, Duran và Vazquez., 2008, Dziegielewska và Mendelsohn, 2005, Hammitt và Chu, năm 2006, và Wang et al., 2006), các phương pháp Bayesian do Vazquez et al., (2006) và gần đây, Một sự kết hợp của việc đánh giá và lựa chọn phương pháp thí nghiệm ngũ Phương Pháp (Garcia et al., 2008, Tuấn và Navrud, 2007). Thủ tục xác định giá trị tương tự có thể đã được sử dụng liên quan đến tiếng ồn, chủ yếu đánh giá ngẫu nhiên (Barreiro et al., 2005, Marmolejo và Frizzera, 2008 và Navrud,2002), và sự kết hợp của các đánh giá ngẫu nhiên và giá cả hưởng thụ (Bjørner et al., 2003) và phương pháp thay thế khác (Martin et al., 2006). (DIỄM) 4.1 Bảng câu hỏi phân tích Trong thiết kế của bảng câu hỏi khảo sát, chúng tôi theo các khuyến nghị của các bảng NOAA panel by Arrow et al.(1993) hoặc Vázquez et al. (2006), người đã chỉ ra rằng một câu hỏi dài hơn bình thường được yêu cầu trình bày các vấn đề môi trường để người trả lời. Điều này, cùng với thực tế là cuộc khảo sát của chúng tôi liên quan đến việc định giá của hai loại cải tiến, lựa chọn phỏng vấn cá nhân là phương pháp thu thập dữ liệu phù hợp nhất. Do đó, các câu hỏi, được thiết kế để có được một định giá tiền tệ của việc giảm các yếu tố bên ngoài, được chia thành ba phần chính. Hưởng ứng (2002) đề nghị Vazquez, điều quan trọng là để bao gồm một giới thiệu tương đối rộng rãi để đảm bảo rằng người trả lời hiểu rõ vấn đề được xem xét. Cho rằng chúng ta đã được định giá hai yếu tố bên ngoài khác nhau, tiếng ồn và ô nhiễm không khí, và một trong những mục tiêu của chúng ta là so sánh các kết quả thu được cho mỗi định giá; chúng tôi chọn những yếu tố bên ngoài để mô tả trả lời, để họ có thể đánh giá các vấn đề đa dạng liên quan. Trong phần đầu tiên của bảng câu hỏi, ý kiến trả lời khi được hỏi về những nguồn chính của tiếng ồn và ô nhiễm không khí trong khu vực của họ(Martín et al., 2006),hiện trạng môi trường của khu vực (Lambert et al., 2001; Aprahamian et al., 2007), mức độ phiền toái trong 12 tháng qua (ISO TS 15666, 2003) và các vấn đề sức khỏe ảnh hưởng đến người trả lời hoặc gia đình của họ phát sinh từ các yếu tố bên ngoài. Một số trong những câu hỏi giới thiệu là của cấu trúc của ISO TS 15666 (2003) đề xuất nơi người trả lời cho xếp hạng trên thang điểm từ 15, cho kết quả tương đương với các nghiên cứu khác. Phần thứ hai của bảng câu hỏi là mô tả quá trình đánh giá ngẫu nhiên. Đầu tiên, chúng tôi sử dụng câu hỏi câu hỏi phân đôi sự lựa chọn nhằm mục đích gợi ra sự sẵn sàng trả (WTP), để người được hỏi trả lời có hoặc không họ sẵn sàng trả một khoản tiền nhất định. Họ được nhắc nhở rằng việc trả tiền sẽ bao hàm giảm bớt nguồn ngân sách từ gia đình của họ, do đó những chi tiêu khác bị hạn chế. (Dziegielewska và Mendelsohn, 2005). Một câu hỏi đóngmở cũng được bao gồm để gợi ra sự sẵn sàng trả tối đa của người trả lời. Đây là định dạng được đề xuất bởi NOAA panel (Arrow et al., 1993) là cách hấp dẫn nhất để gợi ra sự sẵn lòng trả vì người trả lời chỉ có quyết định đồng ý hay từ chối. Các định dạng mởkết thúc đôi khi được xem như là một nhiệm vụ khó khăn mà có thể tăng số lượng các phản ứng tiêu cực. Thông thường, loại câu hỏi trình bày một số không đáng kể của số không phản đối, thuật ngữ được sử dụng cho số không phản đối do sự phản đối của người trả lời, quá trình này được sử dụng để chỉ định một chi phí cho các biện pháp được đề xuất trong một cuộc khảo sát. 4.2 Các khía cạnh phương pháp luận của cuộc điều tra Vì vậy, để phân biệt số người không phản đối từ số người trả lời không thực sự, một câu hỏi dạng đóngmở tiếp theo được đưa cho những người trả lời đã gây ra phản ứng tiêu cực với câu hỏi phân đôi sự lựa chọn và đã công khai ý nghĩa là trả lời “không” trong câu hỏi đóngmở. Những phản ứng phản đối được xác định là những người trả lời bày tỏ sự phản đối với kịch bản đề xuất, đó là, họ hoặc cảm thấy không chịu trách nhiệm đối với tiếng ồn và ô nhiễm không khí, nhận thấy sự suy giảm chưa đủ hoặc nghĩ rằng họ đã nộp đủ thuế. Đối với kịch bản giảm tiếng ồn, thiết kế khảo sát dự tính một lần giảm trong khu vực B và hai lần giảm trong khu vực A, nhờ vào mức độ ban đầu cao hơn của tiếng ồn. Sự suy giảm được đề xuất cả về số lượng decibel yếu đi và mức tỉ lệ phần trăm. Do đó, chỉ giảm đi 20%, từ 60 đến 50 dB, đã được đề xuất trong các khu vực bên ngoài và các mẫu trong khu vực bên trong được chia thành 20% và 40% giảm, từ mức ban đầu 70 đến 60 và 50 decibel, tương ứng. Với sự khó khăn được biết đến của việc suy giảm mức độ tiếng ồn lên đến 50 decibel, chúng tôi thiết lập giá trị đó là giới hạn của mức suy giảm. Để đề xuất mức giảm 1 cách hợp lí sao cho người trả lời cảm nhận sự thay đổi từ trạng thái ban đầu. Như vậy, chúng ta có thể đánh giá các ảnh hưởng tiềm tàng của mức sẵn lòng trả ở mức độ ban đầu khi chịu đựng tiếng ồn của người trả lời và các tác động của sự suy giảm được đề xuất. Một sự mong chờ rằng mức độ cao hơn của tiếng ồn và tác động suy giảm tiếng ồn cao hơn có thể dẫn đến mức sẵn long trả cao hơn trong số những người được phỏng vấn. Đặc điểm thích hợp và mới lạ trong nghiên cứu của chúng tôi là, trước khi trả lời phỏng vấn đã được nói ra các kịch bản khảo sát, họ đã được yêu cầu nghe một mẫu tiếng ồn ghi nhận dựa trên các biện pháp thực tế, rất gần với mức tiếng ồn ảnh hưởng đến ngôi nhà của họ. Một khi kịch bản đã được trình bày, người trả lời được hỏi để nghe mộtmẫu tiếng ồn thứ hai và theo dõi thêm mô phỏng mức suy giảm được đề xuất sau khi áp dụng các biện pháp chính sách đã định. Chúng tôi cũng đề xuất hai mức suy giảm ô nhiễm không khí khác nhau dựa trên các ước tính của các mức độ ban đầu bằng cách sử dụng mô hình máy tính. Vì vậy, đề xuấtmức giảm bớt ô nhiễm là 25% hoặc 50% giảm từ giá trị ban đầu của họ trong khu vực A và B. Hơn nữa, nhận thức được sự bất đồng trong các tài liệu liên quan đến các tác động trực tiếp của ô nhiễm không khí (Carlsson và JohanssonStenman, 2000; Dziegielewska và Mendelsohn, 2005), chúng tôi quyết định đề xuất cải thiện chất lượng không khí như tăng phúc lợi công cộng, nơi có nhiều người bị ảnh hưởng sẽ có được hai mức độ khác nhau về lợi ích sức khỏe. Kahneman và Knetsch (1992) đã mô hình hóa tác động sức khỏe như là một vấn đề toàn cầu nhằm tăng tỷ lệ phản ứng WTP tích cực phát sinh từ ý thức sự thỏa mãn tinh thần hoặc hành vi vị tha người trả lời nhận được từ đóng góp cho lợi ích chung. Do đó, người trả lời được yêu cầu đóng góp để suy giảm, đầu tiên, số lượng người bị ảnh hưởng ít bởi ô nhiễm không khí và sau đó số lượng người bị ảnh hưởng nhiều. Các ảnh hưởng ít được mô tả như người dân đau đớn vì ho, kích ứng mắt và vấn đề về hô hấp có thể gây ra phản ứng dị ứng. Với khoảng 160.000 người ở Navarre được xem là bị ảnh hưởng bởi các bệnh như vậy, theo Hiệp hội Dị ứng và Miễn dịch học lâm sàng Tây Ban Nha (2009) là 25% (50%),suy giảm ô nhiễm không khí sẽ được hưởng lợi cho 40.000 (80.000) người. Những ảnh hưởng nhiều đã được mô tả như là sự đau đớn của người dân từ ho dữ dội hoặc suy hô hấp cấp tính có thể dẫn đến bệnh hen suyễn hoặc viêm phổi. Theo Hiệp hội dị ứng và hen suyển Navarre (2009) khoảng 60.000 người ở Navarre có triệu chứng nặng và mức suy giảm dược đề xuất khoảng 25% (50%) sẽ được hưởng lợi cho 15.000 (30.000) người. Nói về phương pháp học, quy trình này cũng tương tự như kỹ thuật của Dziegielewska và Mendelsohn (2005). Như vậy, những kỳ vọng trước đó về WTP cao hơn cho việc mức giảm 50% ở những người bị ảnh hưởng nhiều, và kết quả cũng tương tự như nghiên cứu tiếng ồn. Vấn đề quan trọng khác trong thiết kếbảng câu hỏi WTP là bắt đầu lựa chọn giá thầu, người trả lời có quyền sử dụng như tài liệu tham khảo cho bài trả lời của họ. Thực tế là họ định giá hàng hóa phi thị trường mà không được sử dụng để xác định nhiều đến kết quả. Cái gọi là hiệu ứng neo này đã được nghiên cứu bởi Aprahamian et al. (2007) và Rozan (2004) trong số những người khác. Các mức giá thầu bắt đầu vì vậy được chọn lựa cẩn thận, có tính đến kết quả thu được trong các dự án tương tự bằng cách sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM). Những phương pháp này được nêu trong Bảng 3. Lambert et al. (2001) và Wardman và Bristow (2004) đề xuất một ý nghĩa cao hơn so với các tác giả khác, có thể bị ảnh hưởng bởi vị trí khảo sát của họ hoặc thủ tục gợi mở. Lấy các nghiên cứu khác vào xem xét, chúng tôi đặt 3mẫu thay thế bằng với giá thầu thiết lập tại 15 €, €30 và €45, cho phép chúng ta phân tích xem mức giá thầu cao hơn làm giảm tỷ lệ người dân sẵn sàng trả để giảm tác động của các yếu tố bên ngoài. Các phương tiện thanh toán là một khoản thuế hàng năm bắt buộc trong 5 năm tiếp theo trên toàn bộ dân số Navarre, như vậy không chỉ người dân bị ảnh hưởng, mà là tất cả các cư dân của Navarre sẽ đóng góp vào sự suy giảm này. Bảng 3: Mức sẵn lòng trả qua các cuộc điều tra CVM khác nhau Tác giả Năm Địa điểm Vấn đề E (WTP) Diễn tiến Yoo Chae 2001 Hàn Quốc Không khí 15.50 WTP để cải thiện chất lượng không khí Navrud 2001 Thụy Điển Không khí 17.90 WTP để tránh sức khỏe tồi tệ hơn mỗi năm do ô nhiễm không khí Lambert 2001 Pháp Tiếng ồn 73 WTP để thực hiện chương trình giảm tiếng ồn khó chịu Wardman Bristow 2004 Anh Không khí Tiếng ồn 115.20 106.70 WTP cho việc giảm 50% ô nhiễm không khí WTP cho việc giảm 50% mức độ tiếng ồn Dziegielewska Mendelsohn 2005 Ba Lan Không khí 16 20 25% giảm đi số lượng người bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí Tương tự như trên giảm đi 50% Barreiro 2006 Tây Ban Nha Tiếng ồn 2629 Chi trả hàng năm để giảm đi sự quấy rầy của tiếng ồn Vázquez 2006 Tây Ban Nha Không khí 48 WTP để giảm số lượng người bị ảnh hưởng bởi các triệu chứng khác nhau thông qua việc cải thiện chất lượng không khí Wang 2006 Trung Quốc Không khí 14.30 WTP cho việc giảm đi 50% các chất gây ô nhiễm không khí Martín 2006 Tây Ban Nha Tiếng ồn 7.20 WTP để giảm đi tiếng ồn khó chịu Nguồn: lập riêng Giá trị chuyển sang euro từ nguyên tệ theo tỷ giá tại thời điểm tính Để tóm tắt, các kịch bản thay thế cho sự suy giảm ô nhiễm tiếng ồn và không khí, và các giá thầu khác nhau được thể hiện trong Bảng 4. 12 loại khác nhau của các bảng câu hỏi cuối cùng đã thu được và được kiểm tra ngẫu nhiên trên nghiên cứu dân số, phân loại theo địa bàn. Cuộc khảo sát với 900 cư dân của địa phương được đề cập nằm trên hoặc gần giáp với đường cao tốc đã được tiến hành giữa tháng Hai và tháng Ba năm 2009 lấy mẫu là 3,1% và mức độ tin cậy 95%. Bảng 4: Đề xuất các diễn tiến khác nhau và số lượng người được khảo sát Khu vực ô nhiễm A B Tiếng ồn giảm 70 50 70 – 60 60 50 Ô nhiễm giảm 50% 25% 50% 25% Giá ban đầu (€) 15 30 45 15 30 45 15 30 45 15 30 45 Hình thức bảng câu hỏi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Số lượng bảng câu hỏi 100 100 100 50 50 50 50 50 50 100 100 100 Để hoàn thành các cuộc thảo luận về các khía cạnh phương pháp luận, ở phần cuối của bảng câu hỏi, người trả lời được hỏi liệu họ đã thực hiện bất kỳ thay đổi của ngôi nhà, và nếu như vậy, tại sao, để xác định xem lý do của họ có liên quan với tiếng ồn, ô nhiễm không khí (Wardman và Bristow, 2004; Bjørner et al, 2003;. Barrigón, 2002; Barreiro et al, 2006 và Martin et al, 2006). Một câu hỏi về thái độ ủng hộ môi trường đã được bao gồm cảphạm vi của Castanedo (1995) đề xuất, để cho phép chúng ta đánh giá sự quan tâm của người trả lời trong các vấn đề ô nhiễm môi trường, quan điểm của họ về sự can thiệp của Chính phủ và thái độ của họ đối với việc giải quyết các vấn đề. Cuối cùng, dữ liệu kinh tếxã hội về người trả lời, bao gồm giới tính, tuổi tác, trình độ giáo dục, quy mô hộ bao gồm cả số lượng thành viên trong mỗi nhóm, tình hình lao động và thu nhập cũng được thu thập. Các biến này thường tiết lộ những lý do cho sự khác biệt về giá giữa các nhóm người trả lời bằng cách xác định mức WTP của họ trong quá trình định giá (Wang et al, 2006;. Rehdanz và Maddison, 2008; Tuấn và Navrud, 2007). 5. Thảo luận về các kết quả 5.1 Kết quả chung Trong việc định giá của một hàng hóa phi thị trường, cá nhân quyết định trả tiền để giảm bớt phiền toái, được xem xét như là một phần của thị trường hàng hóa. (Casado et al., 2004). Các bản phân phối được sử dụng rộng rãi nhất trong việc định giá ngẫu nhiên của sự sẵn lòng trả, giả định rằng tất cả người trả lời sẽ cho một giá trị tích cực WTP (Hanemann, 1984). Tuy nhiên, thực tế các mặt hàng không cung cấp lợi ích cho người trả lời. Bảng 5 cho thấy số người được hỏi nêu ra WTP giá trị bằng không cho mỗi định giá và mức giá thầu cho toàn bộ mẫu, với mức giá cao câu trả lời tiêu cực trong tất cả các trường hợp. Bảng 5: Số lượng người trả lời bắt đầu với mức WTP là 0 WTP=0 Tiếng ồn Ô nhiễm không khí Ảnh hưởng ít Ảnh hưởng nhiều Giá € 15 203300 (67%) 192300 (64%) 192300 (64%) 30 205300 (68%) 190300 (63%) 190300 (63%) 45 218299 (72%) 201299 (67%) 201299 (67%) Tổng mẫu 626899 (69%) 583899 (65%) 583899 (65%) Những kết quả này đã khiến chúng tôi phải sử dụng một mô hình tăng đột biến bởi Kriström (1997) đề xuất, nơi một số các câu trả lời không được đưa vào phân tích. Các nghiên cứu khác phải đối mặt với cùng một vấn đề đã sử dụng một mô hình tăng đột biến để ước lượng WTP (Casado et al, 2004;.. García de la Fuente et al, 2009;. Hanley et al, 2009). Dựa trên việc phân loại được mô tả trong phần trước, phản đối đã được gỡ bỏ từ các phân tích và chỉ số không thực sự đã được thành lập, trong đó mô hình tăng đột biến đã gán cho họ một xác suất khác nhau từ số không. Hai biến cần phải được xác định để áp dụng mô hình tăng đột biến (Kriström, 1997). Nó là cần thiết, đầu tiên, để thiết lập có hoặc không, trong đó người trả lời là một phần của thị trường hàng hóa (Ei), và, thứ hai, để xây dựng một biến nào cho WTP của anh cô ấy là cao hơn so với giá đề nghị (Di), trong đó A là giá thầu, như sau: E_i={█(1 if WTP>0 (5.1)0 ortherwise)┤ D_i= {█(1 if WTP>A (5.2)0 ortherwise )┤ Hơn nữa, khả năng tối đa được xác định trong (5.3) bằng cách sử dụng phần mềm kinh tế lượng NLOGIT 4.0. Mean WTP (5.4) và giá trị tăng đột biến (5.5), tương ứng, được ước tính như sau: α là lợi ích cận biên của việc giảm ô nhiễm và β lợi ích cận biên của thu nhập. Các thành phần được định nghĩa là giá trị WTP có xác suất là bằng không. l=∑_1N▒〖E_i D_i ln⁡〖1F_DAP (A)+E_i (1D_i ) ln⁡〖F_DAP (A)F_DAP (0)+(1E_i)ln⁡〖F_DAP (0) (5.3)〗 〗 〗 〗 mean=1β ln⁡〖1+eα (5.4)〗 spike= 1(1+eα ) (5 Kết quả bảng 6 cho thấy, các mô hình tăng đột biến được áp dụng cho toàn bộ mẫu, mặc dù thực tế mô hình cố gắng loại trừ các số không phản đối, toàn bộ mẫu được lấy trong phân tích đầu tiên này cho mục đích so sánh. Giá trị tăng đột biến giải thích xác suất của WTP là bằng không. Trong trường hợp của chúng tôi, xác suất là gần 70% đối với tiếng ồn và hơi thấp hơn (65%) đối với ô nhiễm không khí, có xem xét đến các nơi ảnh hưởng nhẹ và nặng. Như vậy, một phản ứng không có nhiều khả năng nếu chúng ta đã có được định giá cao cho việc giảm tiếng ồn. Những giá trị này rất giống với những người thu được trong Bảng 5. Theo dự kiến, kết quả sau khi phản đối đã bị loại bỏ, cho thấy rằng xác suất của WTP là không giảm và có nghĩa là WTP tăng ở tất cả các trường hợp. Chỉ khi tích cực và thực sự không phản ứng được mới đưa vào tài khoản, giá trị tăng đột biến là 42% đối với tiếng ồn giảm và thấp hơn một chút (khoảng 38%) đối với việc giảm số lượng người bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí. Mean WTP cho thấy một giải thích tương tự, có nghĩa là, như dự kiến trước đây, việc giảm dân số bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí gây nên một giá trị WTP cao hơn so với mức giảm tiếng ồn; và giảm dân số bị ảnh hưởng nặng nề bởi ô nhiễm không khí được đánh giá cao hơn giảm những ảnh hưởng nhẹ. Xem xét những kết quả để phân biệt số người không phản đối từ số người trả lời không thực sự, chúng ta có được một WTP trung bình €8,22 cho tiếng ồn và €9,31 và €9,56 cho việc giảm các quần thể nhẹ và nặng ảnh hưởng, tương ứng. Mean WTP cho tiếng ồn thu được trong quá trình Martin et al. (2006), đã thể hiện trong Bảng 3, nhưng đáng chú ý là thấp hơn so với các nghiên cứu khác. Đối với ô nhiễm không khí, các bài báo xem xét lại quy định trong Bảng 3 cho thấy các khoản thanh toán giữa €5 và €10 cao hơn. Một số lý do có thể được đề nghị để giải thích sự khác biệt này. Các khu vực của Navarre, nơi nghiên cứu đã được tiến hành, là thứ ba cuối cùng trong số các khu vực của Tây Ban Nha trong dư luận quan tâm về các vấn đề môi trường và chỉ có 3,4% dân số đã tình nguyện trong các hoạt động môi trường. Tương tự như vậy, chỉ có 6,6% số hộ Navarre bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn, so với mức trung bình của Tây Ban Nha là 11,7% (Viện thống kê quốc gia Tây Ban Nha, 2009). Một bài tập thú vị sẽ được so sánh nghiên cứu tác động môi trường của môi trường sống nông thôn với những môi trường sống đô thị, và các phương pháp định giá khác nhau (Bergmann et al., 2008, Rambolinaza và DacharyBernard, 2007, và Sayadi et al., 2009). Các nghiên cứu này có thể làm sáng tỏ về sự mất cân bằng giữa các nghiên cứu về môi trường phát sinh từ các vùng nông thôn đô thị phân đôi. Trong phân tích của chúng tôi, giá trị thấp hơn về các cam kết của người dân với các vấn đề môi trường có thể được dự kiến vì chúng tôi phân tích các khu vực nông thôn và bán đô thị. Có nghĩa là WTP cho tiếng ồn giảm ở mức nào thấp hơn đáng kể so với cải thiện chất lượng không khí. Đối với phương pháp khác nhau, với Wardman và Bristow (2005) cũng cho thấy sự thay đổi trong xếp hạng chất lượng không khí cao hơn như thế nào so với các biến thể trong tiếng ồn. Dân số bị ảnh hưởng nặng, được mô tả như những người bị các triệu chứng nghiêm trọng nhất, gợi lên một WTP cao hơn so với dự kiến trước đó và so sánh với kết quả báo cáo trong Dziegielewska và Mendelsohn (2005), Navrud (2001) hoặc Vázquez (2002), nơi mà các triệu chứng nặng thường đề nghị thanh toán cao hơn. Các thông số mô hình α (tiện ích cận biên giảm) và β (tiện ích cận biên của thu nhập) cũng cho thấy kết quả quan trọng (Bảng 6). Đối với toàn bộ mẫu, một giá trị âm cho α được tìm thấy trong tất cả các trường hợp, cho thấy sự thiếu tiện ích của nhiều cải thiện thêm cho môi trường. Đó là cao hơn, trong điều kiện tuyệt đối, người được phỏng vấn cho rằng việc giảm tiếng ồn thêm sẽ có ích hơn là giảm ô nhiễm không khí. Bỏ qua sự phản đối, các tham số α trở nên tích cực, cho thấy tiếng ồn và ô nhiễm không khí giảm được đánh giá cao và chứng minh rằng cuộc biểu tình phản ứng sai lệch kết quả. Trong tất cả các trường hợp, các tiện ích cận biên của thu nhập là rất quan trọng và tích cực, đó là một điều kiện cần thiết cho việc định nghĩa thích hợp của trung bình WTP (Kriström, 1997), cho thấy tác dụng đã đề cập trước đó. Trong tất cả các trường hợp, các mô hình là rất quan trọng, với các kiểm nghiệm cho thấy một giá trị xác suất 0.00. BẢNG 6: So sánh các mô hình ước lượng tăng đột biến cho toàn bộ mẫu và sau khi loại bỏ các phản ứng phản đối. Định giá Tiếng ồn Ô nhiễm không khí Ảnh hưởng ít Ảnh hưởng nhiều TỔNG THỂ MẪU Giá trị tăng đột biến 0.698 0.652 0.652 WTP thực 4.14 4.98 5.19 Mô hình Α 0.841 0.628 0.629 β (giá) 0.086 0.085 0.082 Quan sát 899 899 899 Log likelihood 669.17 723.42 730.76 Tỉ lệ có thể xảy ra 1338.35 (0.000) 1446.74 (0.000) 1461.52 (0.000) BỎ QUA CÁC PHẢN ỨNG PHẢN ĐỐI Giá trị tăng đột biến 0.424 0.377 0.384 WTP thực 8.22 9.31 9.56 Mô hình Α 0.305 0.501 0.471 β (giá) 0.104 0.104 0.100 Quan sát 465 495 500 Log likelihood 436.63 470.63 483.20 Tỉ lệ có thể xảy ra 873.26 (0.000) 941.26 (0.000) 966.41 (0.000) Lưu ý: p<0.01; p<0.05; p<0.10 Phân tích chi phílợi ích được sử dụng rộng rãi để đánh giá lợi ích của tăng phúc lợi xã hội. Các chỉ thị hiện nay 200249 EC về tiếng ồn môi trường (Ủy ban châu Âu năm 2002: L189 16) nói: Việc giảm tác hại và tỷ lệ chi phíhiệu quả là tiêu chuẩn chính cho việc lựa chọn các chiến lược và biện pháp đề xuất. Trong nghiên cứu của chúng tôi, lợi ích xã hội được tính như việc vận chuyển có liên quan đến giảm bớt phiền toái, nơi mà chi phí là đầu tư công cần thiết để có được nó, và các biện pháp chính sách chỉ được thực hiện nếu các lợi ích xã hội vượt quá chi phí. Kể từ khi có sự tuyên truyền về tiếng ồn và ô nhiễm không khí thì có sự khác biệt đáng chú ý, chúng tôi ước tính lợi ích xã hội trong hai phạm vi địa lý khác nhau. Đối với tiếng ồn, chúng tôi sử dụng các thiết lập của làng nằm trên hoặc gần đường giao thông và đường cao tốc được xem xét trong nghiên cứu (Saz, 2004). Chúng tôi ước tính mật độ dân số của các bản đồ trung tâm dân số trong Hệ thống thông tin địa lý (GIS) trên từng con đường với 300 m. Vùng đệm rộng. Xấp xỉ ước tính có 15.000 người bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn. Để đánh giá tác động ô nhiễm không khí, và biết rằng việc tuyên truyền của ô nhiễm không khí là lớn hơn so với tiếng ồn, toàn bộ dân số nông thôn được xem xét, đưa ra một ước tính khoảng 125.000 (hơn 20% dân số Navarre). Bảng 7 cho thấy một xấp xỉ của các lợi ích xã hội cho mỗi ngoại tác giảm, với nguy cơ đánh giá thấp hoặc đánh giá quá cao thuộc giới hạn hợp lý trong khu vực quan tâm. BẢNG 7 : Lợi ích xã hội từ việc giảm đi mỗi ngoại tác Tiếng ồn Ô nhiễm không khí Ảnh hưởng ít Ảnh hưởng nhiều Giá trị thực mức WTP (Bảng 6) 8.22 9.31 9.56 Trong 5 năm 41.1 46.55 47.8 Quan tâm đến dân số 45,000 125,000 125,000 Trong độ tuổi (80%) 36,000 100,000 100,000 LỢI ÍCH XÃ HỘI € 1,479,200 4,655,000 4,780,000 Để kết luận kết quả tổng thể của chúng tôi, một vấn đề quan trọng trong các cuộc khảo sát đánh giá ngẫu nhiên là hành vi chiến lược của người trả lời. Mitchell và Carson (1989) cho thấy rằng bằng một cách so sánh sự phân bố WTP với một phân bố bình thường, nó có thể phát hiện một hành vi chiến lược. Phản ứng chiến lược cố gắng ngoại tác WTP trung bình hoặc tăng hoặc giảm nó. Nếu chúng ta đang đối mặt với hành vi chiến lược, sự phân bố sẽ tuân theo một phân phối hai mặt, với hầu hết người thấy giá trị WTP rất cao hoặc rất thấp (Saz et al., 1999) Hình 2 cho thấy sự phân bố WTP nêu trên định giá trong nghiên cứu của chúng tôi, sau khi loại bỏ những phản ứng phản đối (chỉ số không thực sự bao gồm).Như có thể thấy, chúng ta thấy không có hành vi chiến lược mà có thể dẫn đến một WTP trung bình cao hơn, bởi vì không có số lượng đáng kể để người trả lời cho một mức giá có khả năng làm tăng nó. Mặt khác, chúng ta thấy rằng một nhóm lớn những người được hỏi họ tuyên bố WTP là một giá trị bằng không, nhưng chúng tôi cho rằng tất cả các số thực sự và không phải là một kết quả của hành vi chiến lược, bởi vì những người trả lời trong câu hỏi tuyên bố họ hoặc là không bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm hoặc không thể đủ khả năng để trả tiền cho như một ngoại tác. Kết quả này cũng đã chứng thực những tác dụng giảm đề cập trước đó, phản ánh trong các cụm lớn xung quanh các hồ sơ bắt đầu dự thầu. Mối tương quan cao cũng được tìm thấy trong định giá của hơn 70% và lên đến 97% dân số bị ảnh hưởng nặng. Hình 2: Tấn số xuất hiện định mức WTP trên mỗi giá trị 5.2. Tác động của mức độ gây hại và đề xuất mức suy giảm Mục đích của chúng tôi trong phần này là để so sánh các kết quả thu được không chỉ trên 3 mức định giá khác nhau, mà còn qua những câu trả lời được đưa ra với các mức độ gây hại khác nhau giữa đề xuất giảm mức ô nhiễm tiếng ồn hay không khí. Sự kỳ vọng trước khi ngườidân được đưa ra 15 mức độ cao hơn của ô nhiễm tiếng ồn, không khí sẽ sẵn sàng trả một khoản tiền cao hơn để làm giảm các yếu tố ngoại vi. Tương tự như vậy, những người hoàn toàn ủng hộ trong việc đề xuất mức suy giảm cũng nên sẵn sàng trả nhiều tiền hơn. Bảng 8 cung cấp kết quả của các mô hình tăng đột biến ước tính cho mỗi định giá đối với khu vực A và B và mức suy giảm khác nhau được đề xuất. Bắt đầu với giá trị tăng đột biến, chúng ta có thể thấy các xác suất của WTP bằng không thấp hơn ở khu vực A cho cả 3 định giá, mặc dù sự khác biệt là không lớn, (40, 37 và 37% so với 46, 39 và 41%). Điều này cho thấy rằng những người tiếp xúc với nồng độ cao hơn của sự ô nhiễm đang sẵn sàng trả tiền để giảm bớt nó. Mức WTP thực được hành xử tương tự kiểu như vậy, vì nó có giá trị nhỏ hơn trong khu vực B, nơi mà mức độ ô nhiễm thấp hơn, trong cả ba trường hợp. Wardman và Bristow (2004) cũng tìm thấy rằng những người sẵn sàng trả nhiều hơn cho sự cải thiện tương ứng của chất lượng tiếng ồn và không khí khi áp dụng những hoàn cảnh hiện nay là kém và rất kém. Phân tích các đề xuất suy giảm khác nhau cho thấy sự khác biệt lớn. Như mong đợi, các giảm thiểu cao nhất được liên kết với một số lượng lớn những người sẵn sàng trả và cao hơn giá trị WTP thực, như được tìm thấy trong Dziegielewska và Mendelsohn (2005) và Kondo et al. (2003). Sự khác biệt đáng kể về kích thước cũng được tìm thấy trên các kiểu giảm, và trong mối quan hệ với tiếng ồn, sự khác biệt giữa mức suy giảm cao và thấp là rất thích hợp. Có nghĩa là WTP cho việc giảm cao hơn gấp hai lần so với mức giảm thấp hơn, mặc dù điều này có thể là do vấn đề thủ tục. Trước khi được yêu cầu cung cấp những đánh giá của họ, những người trả lời đã nghe một đoạn so sánh mức độ tiếng ồn trước và sau khi mức suy giảm được đề xuất, trong đó có thể đã làm cho họ nhạy cảm nhiều hơn với mức suy giảm tiếng ồn so với việc cải thiện chất lượng không khí. Đó là sự thật, đối với trường hợp của ô nhiễm không khí, rằng sự khác biệt giữa các số đo cao hơn và thấp hơn cũng thường đáng kể, mặc dù ít quan trọng hơn trong trường hợp tiếng ồn. Các lợi ích cận biên của việc giảm ô nhiễm là luôn luôn tích cực cho cả hai khu vực A và B và mức giảm cao hơn và thấp hơn, có nghĩa là giảm mức độ tiếng ồn hay trong số người bị ảnh hưởng luôn luôn có giá trị tích cực. Trong hai khu vực, lợi ích này là cao hơn ở khu A, nơi tiếp xúc lớn hơn (0,3, 0,5 và 0,5 so với 0,1, 0,4 và 0,3). Ngoài ra, việc giảm số lượng người bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí dường như cung cấp nhiều lợi ích hơn so với mức giảm tiếng ồn, vì những giá trị cao hơn, và sự khác nhau giữa các khu vực là nhỏ hơn một chút. Do đó, một sự cải thiện chung về chất lượng không khí cho toàn bộ người dân được đánh giá cao hơn việc cải thiệncủa cá nhân tiếp xúc với các mức độ tiếng ồn, các dấu hiệu được củng cố bởi Wardman và Bristow (2005). Kết quả này có thể được hiểu là lòng vị tha của người trả lời, khi một xã hội thuđược các lợi ích gia tăng (Kahneman và Knetsch, 1992). So sánh các kiểu suy giảm, lợi ích cao hơn khi các mức độ suy giảm cao, mức độ chênh lệch lớn hơn trong trường hợp tiếng ồn suy giảm. Trong Bảng 8, sự khác biệt giữa mức suy giảm trong các quần thể bị ảnh hưởng ít và nhiều là không đáng kể, không đủ quan trọng để đề cập. Các lợi ích cận biên của thu nhập thì lại luôn luôn thể hiện theo cách nào rằng nó ảnh hưởng đến giá trị WTP của người trả lời. Cả hai thông số giá và các thông số mô hình luôn rất quan trọng. Bảng 8: So sánh các mô hình ước tính tăng đột biến giữa các khu vực ô nhiễm Môhình Tiếngồn Ô nhiễmkhôngkhí Ảnhhưởngít Ảnhhưởngnhiều MỖI KHU VỰC A Giátrịtăngđộtbiến 0.408 0.370 0.370 Giátrịthực 9.096 10.305 10.837 Giátrị Α 0.368 0.531 0.528 β1 (Giá) 0.098 0.096 0.091 Quansát 325 352 352 Log likelihood 310.52 340.79 346.95 Tỉlệcóthểxảyra 621.04 (0.000) 681.59 (0.000) 693.91 (0.000) B Giátrịtăngđộtbiến 0.459 0.392 0.412 Giátrịthực 6.188 6.886 6.563 Giátrị Α 0.162 0.437 0.354 β1 (Giá) 0.125 0.135 0.134 Quansát 140 143 148 Log likelihood 123.83 126.32 131.19 Tỉlệcóthểxảyra 247.66 (0.000) 252.65 (0.000) 262.38 (0.000) MỖI MỨC GIẢM CAO 40% Tiếng ồn; 50% Không khí Giá trị tăng đột biến 0.324 0.357 0.359 Giátrịthực 12.781 11.241 11.941 Giátrị Α 0.732 0.587 0.577 β1 (Giá) 0.088 0.091 0.086 Quansát 156 262 261 Log likelihood 157.28 256.60 261.51 Tỉlệcóthểxảyra 314.56 (0.000) 513.20 (0.000) 523.03 (0.000) THẤP 20% Tiếng ồn; 25% Không khí Giá trị tăng đột biến 0.473 0.397 0.408 Giátrịthực 5.822 7.136 6.948 Giátrị Α 0.105 0.414 0.370 β1 (Giá) 0.128 0.129 0.128 Quansát 309 233 239 Log likelihood 267.10 208.72 214.13 Tỉlệcóthểxảyra 534.21 (0.000) 417.44 (0.000) 428.26 (0.000) Lưu ý: p<0.01; p<0.05; p<0.10 Kể từ khi cả hai khu vực và mức độ giảm có ý nghĩa để giải thích WTP, bằng cách so sánh Bảng 9 và mức suy giảm cao hơn ở bảng 8, ta có thể xác định các yếu tố liên quan nhất. Bảng 9 cho thấy các mô hình tăng đột biến của khu vực A và mức suy giảm thấp hơn và các hàng trên của bảng 8 cho thấy kết quả cho khu vực A và suy giảm cao hơn. Do đó, chúng ta có thể so sánh hai mức giảm khác nhau cho cùng một khu vực. Như chúng ta có thể thấy, có sự khác biệt đáng kể giữa người trả lời trong khu vực A dựa vào mức độ ô nhiễm giảm bớt được đề xuất. Ví dụ, người dân sống trong khu vực A sẵn sàng trả nhiều tiền hơn 2,3 lần (€ 5,504 so với 12,781 €) để giảm 40% so với giảm 20% tiếng ồn. Trong trường hợp của ô nhiễm không khí, khi mức suy giảm 50% được đề xuất, mọi người sẵn sàng trả nhiều tiền hơn 1,5 lần so với việc giảm 25%. Do đó chúng tôi có thể kết luận rằng WTP trả lời bị ảnh hưởng nhiều bởi đề xuất suy giảm của các mức gây hại hơn là bởi mức độ phơi nhiễm. Bảng 9: Mô hình ước lượng tăng đột biến bỏ qua phản ứng phản đối Môhình Tiếngồn Ô nhiễmkhôngkhí Ảnhhưởngít Ảnhhưởngnhiều Khu vực + Mức giảm thấp Giá trị tăng đột biến 0.485 0.406 0.401 Giátrịthực 5.504 7.548 7.600 Giátrị Α 0.057 0.380 0.398 β1 (Giá) 1.131 0.119 0.119 Quansát 169 90 91 Log likelihood 143.11 82.18 82.71 Tỉlệcóthểxảyra 286.22 (0.000) 164.37 (0.000) 165.43 (0.000) Lưu ý: p<0.01; p<0.05; p<0.10 5.3. PhântíchsựảnhhưởnggâyphiềnnhiễuvớiLogitvàProbit Sử dụng máy tính ước tính các mức độ tiếng ồn và nồng độ chất ô nhiễm, chúng tôi đã xây dựng mô hình Logit và Probit để đánh giá ảnh hưởng của các mức độ ô nhiễm hiện nay. Một số tác giả đã tiến hành nghiên cứu trong lĩnh vực này. Ví dụ, trongBarreiro et al. (2005) và Martín et al. (2006), khi mức độ tiếng ồn thực sự của khu vực khảo sát được thêm vào phân tích, một mối quan hệ mạnh mẽ được tìm thấy giữa mức độ tiếng ồn gây hại và giá trị kinh tế. Các biến được lựa chọn trong trường hợp tiếng ồn là dB và, mặc dù phần mềm DISPER cho phép chúng tôi thu được 3 chất gây ô nhiễm khác nhau, chỉ NOX (đo bằng μgm3), tức là, các chất gây ô nhiễm chính do giao thông đường bộ và cũng chính là chất gây ô nhiễm không khí do điều tiết, được sử dụng trong trường hợp ô nhiễm không khí. Bảng 10 cho thấy các kết quả của các phân tích này bỏ qua không trả lời. Biến phụ thuộc là một biến nhị phân, trong đó 1 được gán cho những người trả lời sẵn sàng trả một khoản tiền tích cực và 0 nếu ngược lại. Ví dụ, đối với một người được phỏng vấn đã bác bỏ giá € 30 nhưng sẵn sàng trả € 10, các biến được gán giá trị là 1. BẢNG 10 Logit và Probit mô hình cho giá thầu ban đầu và mức độ thực tế của ô nhiễm Mô hình Tiếng ồn Ô nhiễm không khí Ảnh hưởng ít Ảnh hưởng nhiều Logit Α 1.012 0.034 0.015 β1 (Giá) 0.0008 0.0001 0.002 β2 (dB)(NOX) 0.028 0.25D05 0.27D05 Log likelihood 312.88 311.77 314.95 Tỉ lệ có thể xảy ra 4.676 (0.096) 24.24 (0.000) 27.96 (0.000) Probit Α 0.634 0.008 0.002 β1 (Giá) 0.0004 0.000 0.001 β2 (dB)(NOX) 0.017 0.15D05 0.16D05 Log likelihood 312.87 311.61 314.77 Tỉ lệ có thể xảy ra 4.69 (0.095) 24.56 (0.000) 28.34 (0.000) Quan sát 465 495 500 Lưu ý: p<0.01; p<0.05; p<0.10 Bảng 10 cho thấy các kết quả của các phân tích này bỏ qua không trả lời. khi giá dự thầu và các phiền toái thực tế được phân tích với nhau, giá thầu có giá trị không đáng kể trong mọi trường hợp. Đối với số lượng người bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn, nó là tiêu cực, như mong đợi, nhưng, đối với số bị ảnh hưởng nhẹ, nó có một giá trị tích cực. Tuy nhiên, các biến thực tế, cả hai decibel và NOX. Mặc dù là rất nhỏ cho các trường hợp ô nhiễm không khí, người được phỏng vấn trả lời, nếu càng phiền cho họ, thì họ sẵn sàng trả tiền. Các mô hình khác nhau luôn ý nghĩa thống kê. Điều này cho thấy mức độ thực tế tiếp xúc xác định mạnh mẽ WTP, như được nhấn mạnh trong các nghiên cứu nói trên. Kết quả của chúng tôi cho tiếng ồn phù hợp với các nghiên cứu khác (Barreiro et al, 2005;. Martín et al., 2006). Chúng tôi không thể để so sánh liên quan đến ô nhiễm không khí, tuy nhiên, kể từ khi chúng tôi đã tìm thấy một cách phân tích khác các biện pháp gây ô nhiễm thực (Wardman và Bristow, 2004). Cuối cùng, Bảng 11 cho thấy phân tích tương tự như mô tả ở đoạn trên. Từ bảng này, chúng ta có thể thấy rằng, trong trường hợp của tiếng ồn, các tham số giá thầu ban đầu là không bao giờ có ý nghĩa, cho thấy rằng không có mối quan hệ rõ ràng giữa giá chào bán và WTP. Các tham số decibel cũng xuất hiện không đáng kể, ngoại trừ trường hợp người trả lời nằm trong khu A được tiếp xúc với một mức độ cao hơn của tiếng ồn, chứng minh rằng ảnh hưởng của phiền toái thực tế về đánh giá là chỉ quan trọng khi nó đạt đến mức rất cao. Như đề xuất trước đó, theo dõi âm thanh có thể nâng cao nhận thức của người trả lời trong trường hợp giảm tiếng ồn. Vì vậy, mô hình đó chỉ có giá trị đối với trường hợp của khu A BẢNG 11: Logit và Probit mô hình cho mỗi khu vực Mô hình Tiếng ồn Ô nhiễm không khí Ảnh hưởng ít Ảnh hưởng nhiều A Logit Α 1.200 0.167 0.187 β1 (Giá) 0.0003 0.005 0.005 β2 (dB)(NOX) 0.033 0.21D05 0.21D05 Log likelihood 215.93 222.12 222.14 Tỉ lệ có thể xảy ra 4.75 (0.092) 13.74 (0.001) 13.71 (0.001) Probit Α 0.749 0.111 0.122 β1 (Giá) 0.0001 0.003 0.003 β2 (dB)(NOX) 0.020 0.13D05 0.13D05 Log likelihood 215.92 221.96 221.97 Tỉ lệ có thể xảy ra 4.77 (0.091) 14.06 (0.000) 14.04 (0.0008) Quan sát 325 352 352 B Logit Α 0.248 0.833 0.741 β1 (Giá) 0.003 0.021 0.0126 β2 (dB)(NOX) 0.011 0.47D05 0.53D05 Log likelihood 96.21 86.91 90.02 Tỉ lệ có thể xảy ra 0.25 (0.881) 15.75 (0.000) 18.98 (0.000) Probit Α 0.155 0.507 0.447 β1 (Giá) 0.002 0.013 0.007 β2 (dB)(NOX) 0.007 0.28D05 0.31D05 Log likelihood 96.21 86.84 89.97 Tỉ lệ có thể xảy ra 0.25 (0.881) 15.90 (0.000) 19.09 (0.000) Quan sát 140 143 148 Lưu ý: p<0.01; p<0.05; p<0.10 Kết quả ô nhiễm không khí là rất tương tự cho các cấp tiếp xúc nhẹ và nặng. Cả hai thông số ô nhiễm không khí thực tế liên quan là rất quan trọng cho các vùng khác nhau, và dấu hiệu tích cực của họ cho chúng ta thấy rằng mức độ ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến WTP người trả lời, với mức cao hơn WTP hướng tới các giá trị tích cực. Kể từ khi được phỏng vấn định giá được cải thiện tốt hơn, những kết quả này cho chúng ta biết rằng những người tiếp xúc nhiều hơn để giảm những phiền toái cho mình, nên họ ý thức hơn về vấn đề và do đó sẵn sàng trả nhiều tiền hơn. Các thông số giá đề nghị là không bao giờ có ý nghĩa cho thấy lời giải thích của các nhà máy nước là chủ yếu bao phủ bởi các biến thực đo ô nhiễm không khí. 6. Kết luận Bài viết này phân tích các kết quả của một cuộc khảo sát đánh giá ngẫu nhiên, được thực hiện tại khu vực Tây Pyrenean giữa Tây Ban Nha và Pháp, để tính toán những tác động môi trường của vận tải đường bộ trong khu vực đó. Những đóng góp chính của bài viết này là như sau. Thứ nhất, nó thực hiện một phân tích chung của tiếng ồn và ô nhiễm không khí từ giao thông đường bộ trong khu vực, làm cho sự so sánh giữa hai yếu tố bên ngoài. Ô nhiễm không khí được đề cập trong các điều khoản toàn cầu và các bài tập định giá này được chia theo mức độ tác động (nhẹ và nặng). Thứ hai, nó phân tích các vùng khác nhau của tình cảm để kiểm tra sự biến đổi. Thứ ba, nó bổ sung thêm các biện pháp cấp độ tiếng ồn và ô nhiễm không khí ước tính vào việc phân tích để tìm kiếm một mối quan hệ giữa các đánh giá về thể chất và kinh tế. Thứ tư, phạm vi địa lý của nghiên cứu này có thể được coi là vùng bán đô thị nông thôn, nơi lưu lượng giao thông có thể được nhẹ hơn so với khu vực thành thị, nhưng các tác động môi trường là cao hơn bởi vì nó tập trung ở các khu vực với chất lượng môi trường cao. Lấy kết quả như một tổng thể, chúng ta thấy rằng số lượng người phản ứng không cao hơn đáng kể so với báo cáo trong các nghiên cứu trước đó, buộc chúng ta phải sử dụng các mô hình tăng đột biến mà một số trong những câu trả lời được đưa vào tài khoản. Phù hợp với các nghiên cứu khác, các kết quả nổi bật thực tế rằng abatements ô nhiễm không khí là đánh giá cao hơn giảm tiếng ồn. Tương tự như vậy, WTP là cao hơn đối với một đề xuất giảm trong dân số bị ảnh hưởng nặng nề hơn đối với một trong các dân số bị ảnh hưởng nhẹ. Khi lợi ích xã hội được đánh giá, ô nhiễm không khí được tìm thấy để tạo ra lợi ích xã hội cao hơn vì họ được đánh giá cao hơn giá trị của dân số bị ảnh hưởng và tiếp xúc có thể được giả định sẽ lan rộng hơn. Chúng tôi kiểm tra xem khu vực khác nhau của tình cảm và mức độ xử lý chất thải được đề xuất khác nhau có liên quan trong khả năng chi trả của ngư
Xem thêm

31 Đọc thêm

Bài 7 trang 46 sgk vật lý 7

BÀI 7 TRANG 46 SGK VẬT LÝ 7

Giả sử một bệnh viện nằm bên cạnh đường quốc lộ... C7. Giả sử một bệnh viện nằm bên cạnh đường quốc lộ có nhiều xe cộ qua lại. hãy đề ra các biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn cho bệnh viện này. Hướng dẫn giải: Biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn cho bệnh viện nằm trên đường quốc lộ là: - Treo biển báo cấm bóp còi gần bệnh viện - Xây tường chắn xung quanh bệnh viện, đóng cửa các phòng để ngăn chặn đường truyền âm. - Trồng nhiều cây xanh xung quanh bệnh viện để hướng âm truyền theo hướng khác. - Treo rèm ở cửa ra vào để ngăn chặn đường truyền âm cũng như để hấp thụ bớt âm. - Dùng nhiều đồ dùng mềm có bề mặt xù xì để hấp thụ bớt âm.
Xem thêm

1 Đọc thêm

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ 1 MÔN VẬT LÝ LỚP 7

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ 1 MÔN VẬT LÝ LỚP 7

gương cầu lõmPhản xạ âm,tiếngvang.Chống ô nhiễm tiếngồn.Âm phản xạ1,0 điểm0.5 câuPhát hiện bộ phậndao động phát raâm1,0 điểm0,5 câuĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ I - NĂM HỌC 2011-2012Môn: Vật lí 7 (Thời gian: 45 phút)MÃ ĐỀ 1:SCâu 1 (1,5 điểm): Phát biểu định luật phản xạ ánh sáng?Câu 2 (2,0 điểm): Hãy giải thích hiện tượng nhật thực? Vùng nàotrên Trái600Đất quan sát được nhật thực toàn phần hay một phần?ICâu 3 (2,5 điểm):

5 Đọc thêm

Tiểu luận QLMT: Ô nhiễm môi trường làng nghề

Tiểu luận QLMT: Ô nhiễm môi trường làng nghề

MỤC LỤC MỤC LỤC 2 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VÀ BẢN ĐỒ 3 MỞ ĐẦU Đặt vấn đề 3 1. Tính cấp thiết của đề tài 4 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài 4 3. Phương pháp nghiên cứu 5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5 I. LÀNG NGHỀ VIỆT NAM 5 1.1 Khái niệm làng nghề 5 1.2 Vai trò của các làng nghề truyền thống 6 1.3 Ô nhiễm môi trường làng nghề 8 1.3.1 Ô nhiễm không khí. 8 1.3.2 Ô nhiễm nguồn nước mặt 9 1.3.3 Ô nhiễm chất thải rắn ...11 1.4 Tác hại của ô nhiễm môi trường làng nghề đến cộng đồng dân cư....14 II. Ô NHIỄM LÀNG NGHỀ BÁT TRÀNG 16 2.1 Làng nghề Bát Tràng 16 2.1.1 Vị trí điạ lý............................................................................................16 2.1.2 Mấy nét về làng gốm Bát Tràng xưa và nay......................................16 2.2 Ô nhiễm làng nghề Bát Tràng ...19 2.2.1 Ô nhiễm đất...................................................................................20 2.2.2 Ô nhiễm không khí.......................................................................22 2.2.3 Ô nhiễm nguồn nước....................................................................25 2.2.4 Ô nhiễm tiếng ồn..........................................................................26 2.3 Tác hại của ô nhiễm môi trường làng nghề đến cộng đồng dân cư ....27 2.4 Giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề Bát Tràng. 28 KẾT LUẬN 31
Xem thêm

Đọc thêm

Khảo sát tiếp xúc ô nhiễm do bụi và CO của người dân làm nghề lái xe ôm và bán hàng bên đường tại đường giảng võ, láng hạ thành phố hà nội đánh giá rủi ro sức khỏe

KHẢO SÁT TIẾP XÚC Ô NHIỄM DO BỤI VÀ CO CỦA NGƯỜI DÂN LÀM NGHỀ LÁI XE ÔM VÀ BÁN HÀNG BÊN ĐƯỜNG TẠI ĐƯỜNG GIẢNG VÕ, LÁNG HẠ THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐÁNH GIÁ RỦI RO SỨC KHỎE

Khảo sát tiếp xúc ô nhiễm do bụi và CO của người dân làm nghề lái xe ôm và bán hàng bên đường tại đường Giảng Võ, Láng Hạ thành phố Hà Nội. Đánh giá rủi ro sức khỏe Không khí có vai trò rất quan trọng, là một yếu tố không thể thiếu đối với sự sinh tồn và phát triển của sinh vật trên trái đất. Con người có thể nhịn ăn, nhịn uống trong vài ngày nhưng không thể nhịn thở trong vài phút. Từ xa xưa môi trường thiên nhiên vốn rất trong sạch và yên tĩnh. Nó có thể tự điều chỉnh cân bằng và không bị ô nhiễm. Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế và quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, sự gia tăng các phương tiện giao thông đặc biệt là giao thông đường bộ gây không ít hậu quả làm suy thoái môi trường đặc biệt là vấn đề ô nhiễm không khí ngày càng trở nên trầm trọng hơn nhất là ở các thành phố lớn. Ngoài ra ô nhiễm không khí còn gây ra ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm nhiệt, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất trồng ảnh hưởng trực tiếp đến con người. . Ô nhiễm môi trường không khí và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe con người đã và đang ngày càng hiện hữu rõ nét. Nó có tác động xấu đến sức khỏe, đặc biệt là gây ra các bệnh về đường hô hấp (viêm mũi, viêm họng, viêm phế quản…), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng nhà kính, mưa axit, suy giảm tầng ozone),… Khu vực đường Giảng Võ, Láng Hạ thuộc hai quận Đống Đa và Ba Đình của thành phố Hà Nội. Tuy thuộc địa phận của hai quận nhưng lại là một trục đường chính, là huyết mạch của thành phố Hà Nội. Tại con đường này tập trung hai bên đường nhiều khu dân cư, cửa hàng, công ty, siêu thị, khách sạn…nên có mật độ giao thông dày đặc. Sự phát thải khí thải từ phương tiện giao thông gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường không khí và sức khỏe người dân trên địa bàn, vì khí thải thải ra chính là nơi người dân đi bộ, đi xe đạp, xe máy và đặc biệt là những người làm nghề lái xe ôm, bán hàng vì họ hầu như có mặt ở ngoài lề đường suốt 8 tiếng đến 10 tiếng trên một ngày
Xem thêm

47 Đọc thêm

Đề thi học kì 2 lớp 4 môn Khoa học năm 2014

ĐỀ THI HỌC KÌ 2 LỚP 4 MÔN KHOA HỌC NĂM 2014

Đề thi học kì 2 lớp 4 môn Khoa học năm 2014 - THCS Minh Tiến Câu 1: Kể ra 2 tiếng ồn ảnh h­ưởng đến sức khỏe? Câu 2:  Hãy nêu 3 cách chống ô nhiễm không khí? Câu 3 : a)  Nhiệt độ nào là nhiệt độ của một ngày trời nóng? b) Người ta  đã chia sức gió thổi thành bao nhiêu cấp độ? c)  Điều gì sẽ xảy ra nếu Trái Đất không được Mặt Trời sưởi ấm?  Câu 4 : Hãy nêu nhu cầu nước của thực vật ?  Đáp án đề thi học kì 2 lớp 4 môn Khoa học năm 2014 - THCS Minh Tiến Câu 1:   (2,5 điểm)     1. Tiếng ồn của các loại xe (xe máy, ô tô…)      2 . Tiếng ồn của các loại máy, động cơ… Câu 2:    (2,5 điểm)  Trả lời: Thu gom và xử lí phân rác hợp lí . Bảo vệ rừng , trồng nhiều cây xanh. Giảm l­ợng khí thải độc hại của xe có động cơ và của nhà máy… Câu 3 :   ( 3 điểm) ( mỗi ý 1 điểm ) a)  Nhiệt độ 300 C                                          b)  13 cấp c)  Gió sẽ ngừng thổi.                      Trái Đất sẽ trở nên lạnh giá.                      Nước trên Trái Đất sẽ ngừng chảy và đóng băng, sẽ không có mưa.                      Trái Đất sẽ trở thành một hành tinh chết, không có sự sống. Câu 4 : (2 điểm) Các loài cây khác nhau có nhu cầu nước khác nhau. Có cây ­a ẩm, có cây chịu được khô hạn . Cùng một cây, trong những giai đoạn phát triển khác nhau. Ngoài ra, khi thời tiết có thay đổi, nhu cầu nước cũng thay đổi. Vào những ngày nắng,  nóng, lá cây thoát nhiều hơi nước hơn nên nhu cầu nước của cây cũng cao hơn. Tuyensinh247 sẽ tiếp tục cập nhật các phần tiếp theo của đề thi học kì 2 môn Khoa học lớp 4 năm 2014 các em chú ý theo dõi.   Nguồn Dethi.vioelt
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II MÔN SINH HỌC 9

ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II MÔN SINH HỌC 9

+ Có quy hoạch tốt và hợp lí khi xây dựng khu công nghiệp, khudân cư và cần biện pháp tránh ô nhiễm cho khu dân cư.+ Tăng cường trồng nhiều cây xanh để hạn chế bụi, điều hoà khíhậu hạn chế tiếng ồn.+ Sử dụng năng lượng không gây ô nhiễm ( năng lượng mặt trời,gió...)Câu 4. Phân biệt các dạng tài nguyên thiên nhiên chủ yếu, lấy ví dụ. Chúngta cần phải sử dụng các nguồn tài nguyên đó như thế nào? Vì sao? (1.5đ)Đáp ánĐiểm- Có 3 dạng tài nguyên thiên nhiên :0.75đ+ Tài nguyên tái sinh : Có khả năng phục hồi khi sử dụng hợp líVD: Đất, nước, rừng.+ Tài nguyên không tái sinh : Là dạng tài nguyên sau một thờigian sở dụng sẽ bị cạn kiệt .VD: Than đá , dầu mỏ , mỏ thiếc...0.5đ+ Tài nguyên năng lượng vĩnh cửu : Là tài nguyên sử dụng mãimãi , không gây ô nhiễm môi trường .VD: Năng lượng mặt trời, năng lượng gió...- Chúng ta cần sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lí, vừa đáp ứngnhu cầu sử dụng tài nguyên của xã hội hiện tại, vừa đảm bảo duytrì lâu dài các nguồn tài nguyên cho thế hệ mai sau- Vì: Vì nguồn tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận.0.25đCâu 5. Hãy vẽ sơ đồ một lưới thức ăn gồm những sinh vật sau: cỏ, sâu ăn lá,
Xem thêm

7 Đọc thêm

Ô nhiễm, tiếng ồn làm gia tăng trẻ tự kỷ

Ô NHIỄM, TIẾNG ỒN LÀM GIA TĂNG TRẺ TỰ KỶ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Đây là nghiên cứu của các nhà khoa học Đại học University of Southern California đăng tải trên trang mạng của tạp chí Archives of General Psychiatry (Mỹ). Trẻ sinh sống gần nơi có mật độ giao thông dày đặc, có nguy cơ mắc bệnh tử kỷ cao hơn trẻ sống ở nơi khác - Ảnh minh họa Các nhà khoa học đã tiến hành so sánh số liệu giữa 279 trẻ mắc tự kỷ và 245 trẻ bình thường trong cùng lứa tuổi và điều kiện sống của gia đình. Những yếu tố khác bao gồm khoảng cách từ nhà đến mặt đường, mật độ giao thông, hướng gió cũng được các nhà khoa học tính toán chi tiết. Kết quả cho thấy, trẻ sống gần khu giao thông đông đúc có nguy cơ mắc tự kỷ cao gấp 3 lần so với trẻ sống ở những khu dân cư thanh bình, yên ả. Theo nghiên cứu, trẻ trong bào thai, trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi là những đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao nhất. Lý do các nhà khoa học đưa ra là, trong những năm đầu đời, bộ não trẻ còn non nớt nên dễ bị tác động mạnh bởi tiếng ồn và khói bụi. Mức độ ô nhiễm giao thông trong nghiên cứu trên dựa theo mức độ tiếp xúc với nitơ dioxit (NO2) và các phân tử hóa học đen theo tiêu chuẩn của cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ. Cả hai chất này đều được tìm thấy trong khói xả của xe máy và ô tô, đã tác động gián tiếp vào não trẻ trong bào thai qua người mẹ.   Ô nhiễm giao thông là một trong những tác nhân làm tăng nguy cơ mắc tự kỷ. (Ảnh minh họa) Người đứng đầu công trình nghiên cứu này là tiến sĩ Heather Volk (trường Keck School of Medicine, thuộc Đại học University of Southern California), cho biết: Lâu nay chúng ta vẫn cho rằng, khói bụi ảnh hưởng xấu đến hô hấp và phổi. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây còn chỉ ra, ô nhiễm khói bụi có hại cho não, gây ra những rối loạn tâm thần lâu dài. Chẳng hạn, nghiên cứu gần đây từ trường King’s College London (Anh) đã chỉ ra tác hại khói thuốc lên não và phổi là tương đương nhau. Các hạt phân tử hóa học có hại thường được tìm thấy trong động cơ diesel với tên khoa học là PM10s và PM2.5s. Chúng có cấu tạo hóa học phức tạp, nguy hiểm cho sự phát triển của não bộ khi chúng ta hít vào, tiến sĩ Volk cho biết thêm. Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên chỉ ra mối liên hệ giữa ô nhiễm giao thông và nguy cơ mắc bệnh tự kỷ ở con người. Xung quanh vấn đề này, các chuyên gia đã bày tỏ quan điểm khác nhau. Bà Sophia Xiang Sun, làm việc tại Trung tâm nghiên cứu bệnh tự kỷ ở Đại học Cambridge (Anh), cho biết: “Rất có thể ô nhiễm giao thông là một trong những tác nhân làm tăng nguy cơ mắc tự kỷ. Song, các yếu tố khác như ô nhiễm trong nhà, hút thuốc thụ động ở các bà mẹ trong thai kỳ và đặc biệt yếu tố di truyền cần được cân nhắc thêm”. Emily Simonoff, giáo sư tâm thần học trẻ em và trẻ vị thành niên, trường King’s College London, cho rằng: Đây là một nghiên cứu mới về bệnh tự kỷ nên việc xác minh tính chính xác của nó là hết sức cần thiết.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Bài C6 trang 44 sgk vật lí 7

BÀI C6 TRANG 44 SGK VẬT LÍ 7

Hãy chỉ ra trường hợp gây ô nhiễm tiếng ồn gần nơi em sống... C6. Hãy chỉ ra trường hợp gây ô nhiễm tiếng ồn gần nơi em sống và đề ra một số biện pháp chống sự ô nhiễm tiếng ồn đó. Hướng dẫn giải: Các biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn có thể là: - Tiếng ồn họp chợ vào sáng sớm hằng ngày. Biện pháp: đóng cửa phòng, xây tường chắn, trồng cây xung quanh, làm tường cách âm, làm cửa kính cách âm… - Tiếng máy khoan, máy cắt, nổ mìn, phá đá. Biện pháp: bịt , nút tai khi  làm việc. - Tiếng lợn kêu vào sáng sớm hằng ngày tại lò mổ. biện pháp: đề nghị chuyên lò mổ tới nơi xa dân cư sinh sống, xây tường chắn xung quanh…
Xem thêm

1 Đọc thêm

Bài C5 trang 44 sgk vật lí 7

BÀI C5 TRANG 44 SGK VẬT LÍ 7

Hãy đề ra những biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn có thể thực hiện ... C5. Hãy đề ra những biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn có thể thực hiện được đối với hình vẽ 15.2; 15.3. Hướng dẫn giải: - Những biện pháp ô nhiếm tiếng ồn có thể thực hiện được: - Với hình 15.2 SGK: Yêu cầu trong giờ làm việc tiếng ồn máy khoan phát ra không quá 80 dB, người thợ khoan cần dùng bông nút kín tai hoặc đeo cái bịt tai lúc làm việc… - Với hình 15.3 SGK: Ngăn cách giữa lớp học và chợ bằng cách đóng cửa phòng học, xây tường chắn, trồng cây xanh, di chuyển lớp học hoặc chợ đi nơi khác…
Xem thêm

1 Đọc thêm

Bài 7 trang 45 sgk vật lý 7

BÀI 7 TRANG 45 SGK VẬT LÝ 7

Trường hợp nào sau đây có ô nhiễm tiếng ồn ? C7. Trường hợp nào sau đây có ô nhiễm tiếng ồn ? a) Tiếng còi xe cứu hỏa (hay tiếng kẻng báo cháy) b) Làm việc cạnh nơi nổ mìn, phá đá. c) Tiếng ồn của trẻ em làm ảnh hưởng đến cuộc nói chuyện giữa hai người lớn. d) Hát karaoke to lúc ban đêm. Hướng dẫn giải: Các trường hợp có ô nhiễm tiếng ồn: b) Làm việc cạnh nơi nổ mìn, phá đá. d) Hát karaoke to lúc ban đêm.

1 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ VÀ TIẾNG ỒN ĐẾN TẬP TÍNH VÀ ĐỜI SỐNG CỦA LOÀI DƠI KHU VỰC CHÙA DƠI (MAHATUP) THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ VÀ TIẾNG ỒN ĐẾN TẬP TÍNH VÀ ĐỜI SỐNG CỦA LOÀI DƠI KHU VỰC CHÙA DƠI (MAHATUP) THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

... hƣởng ô nhiễm không khí tiếng ồn đến tập tính đời sống loài dơi khu vực Chùa Dơi (Mahatup), thành phố Sóc Trăng đƣợc thực nhằm nghiên cứu ảnh hƣởng ô nhiễm không khí tiếng ồn loài dơi, từ đƣa... thể dơi chùa Dơi suy giảm nhanh chóng, nhìn thấy đƣợc phần sân nhỏ chùa Chính lẽ mà đề tài Nghiên cứu ảnh hƣởng ô nhiễm không khí tiếng ồn đến tập tính đời sống loài dơi khu vực Chùa Dơi (Mahatup), ... cực ô nhiễm không khí tiếng ồn đến đời sống đàn dơi Chùa Dơi 1.3 Nội dung nghiên cứu - Thu thập tài liệu liên quan đến ảnh hƣởng tiếng ồn đến hành vi tập tính loài dơi - Truy khảo nghiên cứu
Xem thêm

60 Đọc thêm

BÀI C1 TRANG43 SGK VẬT LÍ 7

BÀI C1 TRANG43 SGK VẬT LÍ 7

Hình nào trong các hình 15.1, 15.2, 15.3 thể hiện tiếng ồn.. C1. Hình nào trong các hình 15.1, 15.2, 15.3 thể hiện tiếng ồn tới mức ô nhiễm tiếng ồn ? vì sao em biết? Hướng dẫn giải: - Hình 15.2 SGK: Vì tiếng ồn máy khoan to, gây ảnh hưởng đến việc gọi điện thoại và gây điếc tai người thợ khoan. - Hình 15.3 SGK: Vì tiếng ồn to, kéo dài từ chợ, gây ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh. Kết luận: Tiếng ồn gây ô nhiễm là tiếng ồn to và kéo dài làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sinh hoạt của con người.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Cùng chủ đề