VĂN HÓA TRONG CA DAO

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "VĂN HÓA TRONG CA DAO":

Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ

VĂN HÓA ĐẢM BẢO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ QUA CA DAO, TỤC NGỮ

Trong những sáng tạo của con người thì ăn, mặc, ở, đi lại là những lĩnh vực gần gũi nhất, trực tiếp nhất với đời sống con người cho nên nó có ý nghĩa rất quan trọng để nhận diện đặc trưng văn hóa thông qua những sáng tạo trong văn hóa đảm bảo đời sống. Với ý nghĩa đó để triển khai một đề tài rộng lớn hơn thì bước đầu chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu ở cấp độ nhỏ là: Văn hóa đảm bảo đời sống của người Việt đồng bằng Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ làm cơ sở để thực hiện đề tài nghiên cứu ở cấp độ lớn hơn.
Xem thêm

93 Đọc thêm

Biểu tượng dòng sông trong ca dao trữ tình người việt (KL07168)

BIỂU TƯỢNG DÒNG SÔNG TRONG CA DAO TRỮ TÌNH NGƯỜI VIỆT (KL07168)

... trên, ngƣời viết lựa chọn đề tài Biểu tƣợng dòng sông ca dao trữ tình ngƣời Việt Mục đích nghiên cứu Chọn đề tài Biểu tƣợng dòng sông ca dao trữ tình ngƣời Việt , ngƣời viết mong muốn đóng... hình ảnh dòng sông đƣợc gợi nhắc ca dao nhƣ lẽ tất yếu để qua nói lên nỗi lòng Trong viết: “Hình tƣợng sông nƣớc ca dao trữ tình Nam Bộ”, Trần Thị Diễm Thúy có nói: Trong ca dao dân ca Việt Nam... thuyết biểu tƣợng biểu tƣợng dòng sông Chƣơng 2: Dấu ấn địa – văn hóa biểu tƣợng dòng sông ca dao Chƣơng 3: Các dạng thức ý nghĩa biểu trƣng dòng sông ca dao NỘI DUNG Chƣơng GIỚI THUYẾT VỀ BIỂU
Xem thêm

60 Đọc thêm

Tổng thuật những ý kiến khác nhau về bài “thằng bờm có cái quạt mo”, phân tích và cho biết ý kiến của riêng mình

TỔNG THUẬT NHỮNG Ý KIẾN KHÁC NHAU VỀ BÀI “THẰNG BỜM CÓ CÁI QUẠT MO”, PHÂN TÍCH VÀ CHO BIẾT Ý KIẾN CỦA RIÊNG MÌNH

Có ý kiến cho rằng bài ca dao nhằm phê phán thói tham lam, vơ vét của bọn trọc phú thời xưa lẫn nay. Có ý kiến ca ngợi sự thông minh, nhạy bén, trong sáng của Bờm. Có ý kiến luận giải xa hơn về sự bảo tồn bản sắc văn hóa Việt Nam qua hình ảnh cái quạt mo,...

12 Đọc thêm

Tình yêu lứa đôi trong ca dao

Tình yêu lứa đôi trong ca dao

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Ca dao là một bộ phận của văn học dân gian , kho tàng qúi giá của đất nước đã vượt qua thử thách của thời gian để trở thành một thành tố quan trọng trong nền văn học Việt Nam. Có rất nhiều mảng đề tài về ca dao như: ca dao về tình cảm gia đình, ca dao tình yêu quê hương đất nước, ca dao về sản xuất lao động, ca dao sản vật thiên nhiên, nhưng không thể bỏ qua mảng đề tài “Tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long”. Từ xưa đến nay tình yêu luôn là một đề tài vô tận của văn chương, các nhà thơ nổi tiếng viết về tình yêu như: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Quỳnh, Nguyễn Bính... tùy vào mỗi phong cách mà nhà thơ có cách cảm nhận về tình yêu khác nhau, trong bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính có hai câu thơ, mang nỗi niềm cảm xúc của một người đang yêu, nhớ nhung đến phát bệnh: “Nắng mưa là bệnh của giời, Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Xuân Diệu thốt lên rằng: “ Làm sao sống được mà không yêu, Không nhớ không thương một kẻ nào”. Đó là cách cảm nhận về tình yêu trong thơ ca có một sự mạnh mẽ, dám thổ lộ hết cảm xúc của mình, đến với “Tình yêu lứa đôi trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long” không hoa mĩ trau chuốt mà thể hiện một cách rất là bình dị mộc mạc, dễ hiểu, rất thật với cuộc sống và gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, chàng trai yêu mà chẳng dám thổ lộ tình cảm , nhếnh nhác bằng hành động ngắt cọng ngò: “Đưa tay anh ngắt cọng ngò, Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ”. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất thấp, kênh rạch chằng chịt, dòng sông là vẻ đẹp của thiên nhiên tạo hóa, cho nên ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh những cây cầu khỉ bắc ngang những con sông nhỏ, những con đò đưa khách sang sông, bến nước...đó là những hình ảnh quá quen thuộc, rất là gần gũi với người dân miệt sông nước, chính vì điều kiện tự nhiên không thuận lợi nên tạo thành một khoảng cách cho các cuộc gặp gỡ của các đôi nam nữ đang yêu nhau. Hình ảnh cây cầu đã được phổ nhạc, nếu đã là người dân miệt sông nước thì chắc hẳn ai cũng đã nghe qua bài hát “Cây cầu dừa ”rất nổi tiếng do nhạc sĩ Hàn Châu sáng tác, đó là hình ảnh của một cô gái xa quê đã lâu, nhưng về quê lại không đi qua được cầu dừa, đó là một hình ảnh rất thực nhưng lại ngộ nghĩnh và đáng yêu. Không chỉ dừng lại ở đó cây cầu đã đi vào trong “ ca dao tình yêu”, bằng sự mời mộc chân thành của chàng trai: “Bắc cầu cho kiến leo qua, Cho ai bên ấy sang nhà tôi chơi”. Để tìm hiểu con người và tình cảm gắn bó chân thành của con người Đồng bằng sông Cửu long. Nơi tôi được sinh ra và lớn lên và là vùng đất hoang sơ, huyền bí “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh” là mảnh đất được hình thành sau nhất của bản đồ Việt Nam. Là nơi tạo nên tình yêu của những chàng trai hiền lành chất phác, thiệt thà đáng yêu, bên cạnh đó với những cô gái tuổi mới trăng tròn, đang độ tuổi biết yêu , e thẹn, nụ cười hồn nhiên, mang chút gì đó dễ thương của người miền Tây. Các anh chàng cô gái cũng rất mạnh mẽ và táo bạo trong tình yêu. Vì thế tôi muốn đi sâu tìm hiểu mảng đề tài “ Tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long” người dân vùng sông nước đã góp nhặt những tiếng nói ân tình cho tâm hồn người Việt bằng những hình ảnh quen thuộc mang tính biểu trưng của vùng đất được mệnh danh là “ Chín Rồng”. 2. Lịch sử vấn đề Ca dao là kho tàng qúi giá về tinh thần của người Việt Nam. Bởi thế ca dao luôn là đề tài đối các nhà nghiên cứu văn học dân gian nói riêng và những người đam mê văn học nói chung. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về ca dao nói chung là vấn đề được nhiều người quan tâm tìm hiểu. Sau đây là một số công trình nghiên cứu: Năm 1986, Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh có công trình Ca dao – dân ca Nam Bộ bài viết đã thể hiện đặc điểm cũng như tính chất của ca dao Nam Bộ là luôn gắn liền với quê hương đất nước, lao động sản xuất tình duyên gia đình hay là bằng hữu bằng thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc: “Trong văn học dân gian có một bộ phận sáng tác bằng thể thơ dân tộc kết hợp chặt chẽ với các làng điệu âm nhạc, để diễn đạt các khía cạnh khác nhau trong cảm nghĩ con người về quê hương đất nước, lao động sản xuất, tình duyên, gia đình quan hệ bằng hữu các vấn đề xã hội đó là một bộ phận của Ca dao dân ca Nam Bộ 1;19 Năm 1992, Nguyễn Xuân Kính có công trình Thi pháp ca dao. Bài viết này, tác giả đã phân tích đầy đủ các yếu tố thi pháp của ca dao như ngôn ngữ, thể thơ, kết cấu, thời gian và không gian nghệ thuật… đã cho ta cái nhìn đầy đủ và cụ thể hơn về nghệ thuật trong ca dao Việt Nam cũng như sự khác biệt cơ bản của loại hình văn học dân gian với các loại hình văn học khác: “Xét về mặt thi pháp bên cạnh những đặc điểm giống thơ của các tác giả thuộc dòng văn viết, ca dao có những đặc điểm riêng biệt. Ngôn ngữ ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường, về thể thơ 95% ca dao cổ truyền được sáng tác theo thể lục bát, thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, diễn xướng, không gian nghệ thuật chủ yếu là không gian trần thế, đời thường, bình dị”3;289 Năm 2007, Bích Hằng có công trình nghiên cứu Ca dao Việt Nam trong đó có nhận định “ Ca dao Việt Nam là viên ngọc qúy luôn tỏ sáng trong kho tàng văn hohjc dân gian việt Nam. Với ngôn ngữ tinh tế, sinh động, duyên dáng, giàu hình tượng và đày chất thơ, ca dao luôn đi vào lòng người, được người người thuộc nhớ, trau chuốt và truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác”3;5 Nghiên cứu về ca dao nói chung có rất nhiều công trình như đã nêu trên. Riêng về tình yêu lứa đôi trong ca dao Đồng bằng sông cửu Long thì có công trình nghiên cứu: Năm 1997, Chu Xuân Diên có công trình Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long bài viết này tác giả đã bao quát tương đối đầy đủ các loại chính của văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long như truyện địa danh và các sản vật địa phương, truyện loài vật, truyện liên quan đến lịch sử và văn hóa, ca dao¬ dân ca… Nó cho ta biết thực trạng tồn tại của văn học dân gian trong nhân dân thuộc một vùng được xác định cả về không gian và thời gian: “Vùng văn học dân gian đã được biết đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX qua các tài liệu sách báo. Từ sau thế kỉ XX đặc biệt là những thập niên gần đây đã làm phong phú rất nhiều những hiểu biết về văn học dân gian này”4;3 Đối với đề tài “ Tình yêu đôi lứa” tôi muốn hướng người đọc đến với cái nhìn rộng hơn, đa chiều về con người và vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long. 3. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đề tài, chúng tôi hướng đến mục đích sau: khám phá, thể hiện, nét đẹp về tình yêu lứa đôi trong ca dao Đồng bằng. Chỉ ra được nét đặc sắc về nghệ thuật thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Làm rõ nét riêng của ca dao Đồng bằng sông Cửu Long khi viết về tình yêu lứa đôi. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: nội dung ca dao rất phong phú đa dạng nhưng do yêu cầu của đề tài người viết chỉ tìm hiểu “Tình yêu lứa đôi trong ca dao”. Phạm vi nghiên cứu: những bài ca dao viết về tình yêu trong cuốn văn học nhân gian Đồng bằng sông Cửu Long của khoa Ngữ Văn Trường Đại học Cần Thơ. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp khảo sát: khảo sát các bài có liên quan đến đề tài. Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu: tìm kiếm các tài liệu có liên quan đến đề tài. Phương pháp phân tích: phân tích rõ những vấn đề trong ca dao. Phương pháp bình giảng: làm sáng tỏ kết hợp với đánh giá các bài ca dao, nhằm mục đích chỉ ra cái hay cái đẹp trong ca dao. Ngoài ra người viết còn kết hợp thêm các thao tác: chứng minh, giải thích, so sánh, bình luận… Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT CON NGƯỜI VÀ CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1.1 Vài nét về vùng đất và con người Đồng bằng sông Cửu Long 1.1.1 Vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) 1.1.2. Con người Đồng bằng sông Cửu |Long 1.2. Vài nét về ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 1.2.1. Khái niệm 1.2.2. Đặc điểm ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Chương 2 NHỮNG CUNG BẬC CẢM XÚC TÌNH YÊU TRONG CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2.1. Sự gặp gỡ và lời tỏ tình trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 2.1.1. Sự gặp gỡ 2.1.2. Lời tỏ tình 2.2. Nỗi nhớ nhung và tương tư trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 2.2.1.Nỗi nhớ nhung 2.2.2. Nỗi tương tư 2.3. Lời thề nguyền và hẹn ước trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 2.3.1. Lời thề nguyền 2.3.2. Lời hẹn ước 2.4. Nỗi đau khổ và oán trách khi tình yêu không trọn vẹn 2.4.1. Nỗi đau khổ 2.4.2. Nỗi oán trách Chương 3 THUẬT NGHỆ THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 3.1. Cách xưng hô của tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 3.2. Nghệ thuật so sánh và nghệ thuật ẩn dụ thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 3.2.1. Nghệ thuật so sánh thể hiện tình yêu đôi lứa 3.2.2 Nghệ thuật ẩn dụ thể hiện tình yêu đôi lứa 3.3. Nghệ thuật nhân cách hóa và biểu tượng tình yêu đôi lứa trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 3.3.1. Nhân cách hóa 3.3.2. Biểu tượng tình yêu đôi lứa 4. KẾT LUẬN
Xem thêm

Đọc thêm

ĐẠO VỢ CHỒNG TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM

ĐẠO VỢ CHỒNG TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM

đạt được giá trị khách quan và khoa học, là một trong những nhân tố góp phầnthúc đẩy sự tiến bộ của xã hội trong thời đại ngày nay. Tiêu chí của đạo làmngười trong xã hội ngày nay đòi hỏi sự phát triển toàn diện về chính trị, tưtưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng12nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hàihoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội.Để có Đạo làm người, mỗi người phải hoàn thành bổn phận, nghĩa vụ,trách nhiệm của mình đối với gia đình, nổi bật là giữa người vợ, người chồng,đó là đạo vợ chồng. Tiêu chí của Đạo làm người trong xã hội đòi hỏi sự thủychung, gắn bó tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa tronggia đình, cộng đồng và xã hội. Đạo vợ chồng không chỉ có đạo đức mà cònbao hàm cả chính trị, văn hóa. Nó hàm chứa những triết lý nhân văn sâu sắc,phản ánh trí tuệ và văn hóa nói chung của một thời đại , một dân tộc, Sự dungdị ấy cũng không kém phần sâu sắc, nó là một kiểu thông thái và minh triếtcủa nhân dân, của dân gian.Về quan hệ vợ chồng, các tác giả “Thi ca bình dân Việt Nam” viết:"Trước nhất, chúng ta thường thấy trong ca dao Việt Nam, người bình dânquan niệm sự sống chung giữa vợ chồng là một cái "đạo". [24, 491]. Các tácgiả đã phân tích khá tỷ mỉ các mối quan hệ của tình vợ chồng khi gần gũi, khisóng gió, khi xa cách, rồi đi đến kết luận: "Tóm lại, đối với tình vợ chồng,người bình dân gọi là cái đạo. Cái đạo theo quan niệm của họ là bình đẳng,tương thân và chung thủy, khác với đạo "tam tòng" của Khổng Mạnh. Tronglúc đạo "tam tòng" tước đoạt hết quyền của người đàn bà, bắt người đàn bàphải sống lệ thuộc vào đàn ông, tạo trong gia đình quý tộc sự bất bình đẳng,thì đạo vợ chồng của người bình dân ngược lại dùng ý thức sinh hoạt làmnghĩa vụ, khiến cho nền tảng bình đẳng được bảo vệ và duy trì. Và ý thức dân
Xem thêm

99 Đọc thêm

Phát huy tính tích cực của học sinh trong bài học ca dao than thân

Phát huy tính tích cực của học sinh trong bài học ca dao than thân

Phát huy tính tích cực của học sinh trong bài học ca dao than thân giúp học sinh hiểu hơn về văn hóa của người Việt Nam để thêm yêu ca dao của người việt 1 truyền thống hay và tốt đẹp của người Đại Việt từ xưa tới nay

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC MÔN: TIẾNG VIỆT VÀ LỄ HỘI Ở VIỆT NAM (Vietnamese Language and Vietnamese traditional festivals)

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC MÔN: TIẾNG VIỆT VÀ LỄ HỘI Ở VIỆT NAM (VIETNAMESE LANGUAGE AND VIETNAMESE TRADITIONAL FESTIVALS)

Thông qua việc học tiếng Việt, sinh viên có được những kiến thức cơ bản nhất về lễ hội ở Việt Nam. Lễ hội là một nét đặc sắc không thể thiếu khi nói đến lối sống văn hóa của người Việt. Nó bao gồm hầu như đầy đủ các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian như: văn học dân gian (truyền thuyết, thần thoại, thần tích, thần phả, văn tế, văn bia, hoành phi, câu đối, ca dao hò vè…), nghệ thuật biểu diễn dân gian (sân khấu, dân ca, chèo tuồng, dân vũ, dân nhạc…); tôn giáo, phong tục tín ngưỡng (nghi lễ, nghi thức, trò tục, trò diễn, tục lệ, trò chơi dân gian…).Thông qua những kiến thức đại cương về lễ hội, sinh viên có thể có thêm những hiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa của người Việt là một nền văn hóa gốc nông nghiệp trồng lúa nước.
Xem thêm

8 Đọc thêm

Bàn về truyện cổ tích và ca dao, có ý kiến cho rằng Các nhà văn học được văn trong truyện cổ tích và học được thơ trong ca dao Anh chị nghĩ như thế nào về ý kiến trên?

BÀN VỀ TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ CA DAO, CÓ Ý KIẾN CHO RẰNG CÁC NHÀ VĂN HỌC ĐƯỢC VĂN TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ HỌC ĐƯỢC THƠ TRONG CA DAO ANH CHỊ NGHĨ NHƯ THẾ NÀO VỀ Ý KIẾN TRÊN?

Bài văn đoạt giải nhất quốc gia Đề: Bàn về truyện cổ tích và ca dao, có ý kiến cho rằng: "Các nhà văn học được văn trong truyện cổ tích và học được thơ trong ca dao" Anh, chị nghĩ như thế nào về ý kiến trên? Yêu cầu: 1/ Hiểu đúng ý kiến của nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị - đây cũng là ý kiến của Hêghen, Gorki, Gamdatốp, Vũ Ngọc Phan, Xuân Diệu...nhằm khẳng định tác dụng, chức năng của hai thể loại cổ tích và ca dao nói riêng và văn học dân gian nói chung đối với văn học viết. Nhà văn là người viết văn, làm thơ, hiểu rộng ra là người sáng tác văn học nói chung. "Học được văn trong cổ tích" là học được nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của những truyện cổ tích:"Học được thơ trong ca dao" tức là học được cảm xúc, nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của ca dao. Nói khái quát "học được văn trong cổ tích, học được thơ trong ca dao" là học được cái hay cái đẹp, những giá trị của hai thể loại này. Như vậy đề thi nói đến tác dụng chức năng của hai thể loại là truyện cổ tích và ca dao đối với những người sáng tác, nói rộng ra là đối với văn học viết. văn học dân gian. 2/ Cần biết cách chọn lọc phân tich một số truyện cổ tích và một số câu ca dao để làm sáng tỏ vấn đề nêu ở đề bài . Đồng thời trong quá trình bàn luận, người viết ít nhiều phải nêu được một số dẫn chứng, mà ở đó có phần tác giả đã học được qua truyện cổ tích hoặc qua ca dao. Các nhà văn học được văn trong truyện cổ tích tức là học được sự sáng tạo những điển hình nghệ thuật hoàn hảo, học được nghệ thuật tự sự hấp dẫn, học được cách thức hư cấu và những yếu tố tưởng tượng phong phú, đa dạng...cần phân tích một số chi tiết, nhân vật được xây dựng thành công có thể do nhà văn đã học tập được ở cổ tích hoặc có chất cổ tích trong sáng tác của một số nhà văn VN như Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Ng Minh Châu...hoặc một số nhà văn nước ngoài như Andecxen, Puskin,... để làm sáng tỏ thêm vấn đề Các nhà văn nhà thơ học được thơ trong ca dao tức là học được nội dung cảm xúc của ca dao để phản ánh được nguyện vọng ước mơ nỗi niềm...của quần chúng, học được những yếu tố nghệ thuật đặc sắc của ca dao (từ cách gieo vần cách sử dụng thể thơ đến cách dùng hình ảnh ngôn ngữ...) để thơ trở nên ngắn gọn hàm súc trong sáng và gợi cảm...từ đó thơ có sức lay động hồn người và vượt qua được sự sàng lọc của thời gian. Cần phân tích một số sáng tác thành công có thể do tác giả học tập ở ca dao hoặc có chất ca dao của một số nhà thơ như Ng Du, nguyễn Bính hoặc của Tố Hữu...để làm sáng tỏ thêm vấn đề. 3/ Biết lí giải và giới hạn vấn đề . Có thể khẳng định VHDG là sự kết tinh quá trình sáng tạo nghệ thuật của quần chúng nhân dân qua nhiều thế hệ. Những tác phẩm còn lưu truyền đếnn gày hôm nay đã được thời gian sàng lọc một cách hết sức khe khắt, bởi vậy chúng có giá trị về nhiều mặt. Trong kho tàng VHDG các dân tộc, trong đó có VN, truyện cổ tích và dân ca (ca dao) là những thể loại có nhiều thành tựu xuất sắc nhất, những thể loại này quả là "khuôn vàng thước ngọc" cho văn học viết (V N Phan) Nhà văn cần phải học ở truyện cổ tích, ở ca dao, nhưng không chỉ học ở hai thể loại này và cũng không chỉ học tập ở VHDG. Hơn nữa, việc học tập đó thành công đến đâu còn phụ thuộc vào mức độ sáng tạo, năng lực cách tân, tức là bản lĩnh và tài năng của mỗi người. Những nhà văn nhà thơ lớn phần nhiều đều là những người biết tìm về truyền thống văn học dân gian để tiếp thu và sáng tạo. Tác phẩm của họ rất giàu tính dân tộc tính nhân dân. *********************** Bài làm đoạt giải nhất Có những tác phẩm đã ra đời từ cách đây rất lâu mà không bao giờ cũ, vẫn để lại trong lòng người đọc những ấn tượng ám ảnh day dứt không nguôi. Đó là những câu chuyện cổ, những áng ca dao dân ca. Dù năm tháng đổi thay, những đền đài rồi sụp đổ, những tranh tượng rồi tiêu tan thì các tác phẩm văn học dân gian ấy vẫn cứ tồn tại bền bỉ như dòng sông chảy mãi tưới mát tâm hồn bao thế hệ người đọc hôm qua, hôm nay và mai sau. Song không chỉ bồi đắp cho tâm hồn muôn triệu con người, những câu chuyện cổ, những áng ca dao còn là nguồn cảm hứng khơi nguồn cho các tác phẩm thơ ca, văn chương của văn học viết, giúp các nhà nhà thơ học được nhiều điều. Bởi thế khi bàn về truyện cổ tích và ca dao, có ý kiến cho rằng:"Các nhà văn học được văn trong truyện cổ tích và học được thơ trong ca dao". Tôi còn nhớ người nghệ sĩ mù, nhà thông thái của Hi Lạp cổ đại Hômerơ từng lang thang khắp các con phố, khắp các nẻo đường nhặt nhạnh, lắng nghe những câu chuyện dân gian, để từ chất liệu vô giá ấy viết nên hai thiên trường ca bất hủ: Iliat và Ôđixê. Tác giả của sử thi Ramayana Mahabharata cũng kiếm tìm bền bỉ trong kho thần thoại dân gian Ấn Độ để sáng tác nên hai thiên sử thi làm rạng danh cho nền văn học ở đất nước giàu truyền thống văn hóa này. Cho hay học tập tinh hoa văn hóa của văn học dân gian để làm đẹp làm giàu cho các sáng tác văn học viết là quá trình bền bỉ của nhiều nhà nghệ sĩ ở nhiều nền văn học trên thế giới. Ý kiến của nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị khi bàn về truyện cổ tích và ca dao đã khẳng định sự học tập và tiếp thu tonh hoa văn hóa dân gian của các nhà văn, nhà thơ. Truyện cổ tích và ca dao, những sáng tác truyền miệng vô danh cứ âm thầm bền bỉ sống từ đời này qua đời khác. Nó được kể lại được ngân nga, hát lên trong những lời mẹ ru con bên nôi, những tâm tình của trai gái bên cối gạo, những người chống đò hát với đêm trăng (ý của Chế Lan Viên). Một dân tộc có thể đếm được sốn hà văn, nhà thơ nhưng sao có thể tính được những người dân vô danh sáng tác nên cả nền văn học bằng trí nhớ? Truyện cổ tích và ca dao mãi bất diệt trong đời sống tâm hồn, tình cảm con người, khơi nguồn cảm hứng cho bao nghệ sĩ. Học ở đây được hiểu là sự tiếp nối kế thừa một cách sáng tạo những vẻ đẹp của truyện cổ tích và ca dao. Các tác giả không sao chép thụ động, vẹn nguyên những sáng tác dân gian truyền miệng, mà học tập trên cơ sở sáng tạo học trên cơ sở phát huy. Có như vậy những tác phẩm văn học viết mới tồn tại với thời gian, trụ vững vàng cùng năm tháng. Nếu không nó chẳng khác nào một bản sao vụng về của văn học dân gian. "Học được văn trong truyện cổ tích, học thơ trong ca dao", sự học tập ấy không giản đơn, thoáng chốc trong ngày một ngày hai mà là cả một quá trình dài lâu bền bỉ. Những câu truyện cổ tích, những áng ca dao cứ thấm nhuần trong tâm hồn nghệ sĩ, để hồn văn hồn thơ dân gian tự nhiên chuyển hóa vào văn học viết chứ không phải là sự bắt chước sống ss]ơngj vô hồn. Các tác giả học được gì nơ những sáng tác dân gian? Họ tiếp thu những ngôn ngữ lối cấu tứ, hình ảnh ...trong ca dao, họ học tập cách xây dựng nhân vật, không khí truyện huyền ảo thần bí, cách kết thúc có hậu...trong cổ tích. Các tác phẩm VHDG cứ phả hồn mình vào những sáng tác của các nhà văn, nhà thơ hiện đại. Chính sự học tập này là một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của văn học viết. Đọc văn học viết, không hiểu sao tôi cứ thấy thấp thoáng đi về một Chử Đồng Tử, một sự tích Trầu cau, những hồn ca dao dân ca thuở nào vương vấn. Những atcs phẩm ấy không chết mà vẫn tái sinh vĩnh cữu trong nền văn học hôm nay, cũng như văn học Hi la đã góp phần tái sinh làm nên cả một nền văn học Phục hưng "xanh màu nhân bản". Vì lẽ gì các nhà văn nhà thơ lại tiếp nối, học tập những câu chuyện cổ tích, những áng ca dao mang hồn xưa muôn thuở? Điều gì tạo nên sự nối dài trong lịch sử văn học này? Trước hết có thể thấy rằng, văn học dân gian là nền văn học đầu tiên xuất hiện trong lịch sử văn hóa tinh thần của loài người. Nó đồng hành cùng sự sống con người ngay từ lúc sơ khai. Khi con người thoát khỏi những tiếng gào rú vô hồn, những âm thanh vô nghĩa, khi con người biết đứng trên đôi chân khỏe mạnh của chính mình, biết cảm nhận cái đẹp cũng là lúc văn học dân gian ra đời, một nền văn học chỉ được lưu truyền trong trí nhớ. Truyện cổ tích và ca dao xuất hiện muộn hơn các thể loại văn học dân gian khác như thần thoại sử thi truyền thuyết, khi xã hội đã có đấu tranh giai cấp. Như thế chính sự ra đời sớm hơn và đạt được nhiều thành tựu đáng kể mà truyện cổ tích và ca dao đã đem đến cho các nhà văn nhà thơ sau này những bài học về nghệ thuật, giúp các tác giả học được nhiều điều. Có học giả đã nhận xét rằng: Các sáng tác trong Kinh th phần nhiều là cảu nông dân, phụ nữ làm ra mà nhiều văn sĩ đời sau không theo kịp được. Là tiếng nói bình dân, nhưng cũng như Kinh thi, truyện cổ tích và ca dao VN sống với thời gian bằng sức hấp dẫn nội tại của nó. Vẻ đẹp ấy muôn đời vẫn được khám phá, kiếm tìm. Các nghệ sĩ sau này học tập tiếp thunhững vẻ đẹp cả nội dung và nghệ thuật có giá trị vĩnh cữu ngàn đời của VHDG. Từ câu chuyện cổ dân gian nước Nga, Pu skin chẳng đã sáng tác "Ông lão đánh cá và con cá vàng" sao?"Vợ chồng A Phủ"của Tô Hoài cũng phảng phất hồn cổ tích muôn đời in dấu vào trang viết. Những câu ca dao chẳng đã đỏ bóng lung liinh trong thơ NGuyễn Du, nguyễn bính sao? Nếu VHDG chỉ giản đơn là những lời hò vè vô nghĩa, những lời nói bắt thành vần sao chúng có thể làm nên những bài học nghệ thuật cho văn nghệ sĩ sau này học tập, tiếp thu? Chính những thành tựu trong văn của truyện cổ tích và trong thơ của ca dao đã giúp các tác giả sau này học được nhiều điều. Có thể thấy lịch sử văn học phát triển trong sự nối dài của nhiều nền văn học. VHDG và văn học viết vừa song hành, vừa tiếp nối nhau. Nền văn học ra đời sau tất yếu phải tiếp thu những tinh hoa cảu nền văn học trước. Các nhà văn nhà thơ sau này tất nhiên phải học tập cái hay cái đẹp của văn trong truyện cổ, của thơ trong ca dao. Ấy là qui luật của sáng tạo nghệ thuật. Những truyện cổ tích, những câu ca dao tái sinh mình trong những tác phẩm văn học viết sau này. Nhưng sự học tập của các nhà văn nhà thơ không phải là sự sao chép nguyên vẹn, bê nguyên xi cổ tích ca dao vào những trang viết. Trái lại bản chất của văn học là sáng tạo. Văn chương sẽ đi về đâu nếu mỗi nghệ sĩ chỉ lặp lại những điều đã có, nếu mỗi nhà văn chỉ nhìn đời bằng con mắt cũ mòn? Bởi thế tiếp thu mà không quên sáng tạo. Các tác giả đem cái hồn văn của cổ tích với mootip nhân vạt kết cấu, cách nhận thức nghĩ suy của người xưa vào văn mình đem cái hồn thơ lấp lánh trong ca dao để làm nên chất hồn riêng cho thi phẩm. Quá trình học được kia vì thế mà không hề thụ động, có tiếp thu nhưng phải trên cơ sở sáng tạo, phát huy. Những giấc mơ cổ tích ngày nào, những giai điệu ngọt ngào tình tứ của ca dao tưởng đã lùi xa vào quá vãng, tưởng chỉ tồn tại như sản phẩm tinh thần của con người một thời. Song nó đã bắt rễ vào trái tim tâm hồn người Việt. Tự lúc nào ca dao cổ tích đã ngấm sâu vào muôn nẻo hồn thơ muôn nẻo hồn văn của các nghệ sĩ hôm nay. Thế mới thấm thía bài học sáng tạo của nghệ sĩ muôn đời. Ý kiến của nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị xét cho cùng là bàn về sự học tập tiếp nối, kế thừa sáng tạo phát huy những tinh hoa của truyện cổ ca dao để làm giàù làm đẹp thêm cho văn học viết. Ý kiến đó là kết quả của sự nghiên cứu nghiêm túc, bền bỉ của nhà phê bình. Nó được thử nghiệm được minh chứng bởi sự phát triển của văn học, bởi hành trình tiếp thu những giá trị đẹp đẽ của truyện cổ ca dao từ văn học trung đại, văn học hiện dại đến văn học đương đaị hôm nay. Sự tiếp thu ấy không chỉ diễn ra trong văn học VN mà cả văn học nhân loại. Bởi vậy ý kiến của nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị là đúng đắn và có tính thuyết phục cao. Ai đó đã không ngần ngại khẳng định rằng: Lịch sử văn học là lịch sử tâm hồn của mỗi dân tộc. Bởi văn học gắn liền với cuộc sống, đồng hành cùng sự sống con người. Trong đó cổ tích ca dao chính là tâm hồn con người lúc ấu thơ. Tâm hồn ấy sẽ dần cứng cáp và phát triển trong VH viết. Những câu chuyện cổ, những câu ca dao bao thế kỉ rồi vẫn như những con sóng xô ftaam hồn để mặt biển lòng người không ngững rung động, xôn xao. Nó âm vọng vào cả nền văn học sau này, để con người hôm nay mỗi lần giở "Truyện Kiều", đọc thơ HX Hương, Ng Bính, Tố Hữu, Ng Khao Điềm laijthaays thấp thoáng, lại được gặp nơi mỗi trang thơ hồn ca dao đi về muôn thuở. Các tác giả đã học tập được thơ của những câu hát dân gain. Chất thơ vút lên từ mồ hôi nước mắt, từ cuộc sống càn lao lam lũ đời thường. Vì đâu "Truyện Kiều" lại trở thành tiếng hát tâm hồn dân tộc? Bởi lẽ tiếng thơ Tố Như đã đi về cùng ca dao muôn đời. Nhà thơ đã học tập những tinh chất tinh hoa trong ca dao. Chính Tố Như đã nói"Thôn ca sơ học tang ma ngữ (trong thôn xóm ta học được ngôn ngữ của người trồng dâu trồng gai). Đi vào cuộc sống, trở về với nguyên thủy dân ca, nhà thơ sẽ trưởng thành lên rất nhiều, nhà thơ sẽ học được nhiều điều "Học được thơ trong ca dao", Ng Du đã học ngôn ngữ hình ảnh thể lục bát truyền thống...từ tiếng hát tâm hồn người lao động. Hình ảnh nàng Kiều chẳng phải là hiện thân điển hình cho những người phụ nữ khốn khổ, khốn cùng nơi những câu hát than thân: Thân em như hạt mưa sa, Thân em như hạt mưa rào sao? Khơi nguồn thi cảm từ bể sầu nhân thế, không biết bao thi nhân"đau đớn lòng". Nguồn cảm hứng về nỗi khổ con người đã được khai thác nhiều mà xem ra chưa cạn vơi đi nhiều lắm. Nguyễn Du đã bắt nhịp tâm hồn cùng tiếng khóc của người phụ nữ dưới đáy cùng bể khổ kia, để cất lên khúc hát rong về nỗi khổ phận người. Cảm hứng ấy chẳng phải đã được khơi nguồn từ cadao, dân ca sao? Song có lẽ Ng Du chịu ảnh hưởng đậm nét nhất ở chất thơ trong ca dao là lối sử dụng hình ảnh ngôn ngữ thi liệu. Những vầng trăng, những lời thề nguyền, hò hẹn, những từ ngữ vừa bình dị vừa lấp lánh chất thơ...đi vào "Truyện Kiều" từ miền ca dao xưa cũ. Vầng trăng trong cuộc chia li Kiều- Thúc"Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Nửa in gối chiếc nửa soi dặm đường"được học tập từ vầng trăng của ca dao một thuở"Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?" Vẫn là vầng trăng ấy, mà sao từ ca dao hóa thân vào "Đoạn trường tân thanh" lại mang một nét hồn riêng biệt. Vầng trăng trong con mắt người biệt li nhuốm đầy tâm trạng. Vì người phải chia phôi nên trăng cũng thành xẻ nữa. Lấy cái nhìn chủ thể mà nhìn hiện thực khách quan, Nguyễn Du đã để vầng trăng vốn tròn đầy viên mãn vỡ ra thành hai mảnh. Câu thơ dâng đầy một nỗi xót xa cùng bao dự cảm âu lo. Thực chất trăng vẫn viên mãn, tròn đầy, nhưng là viên mãn trong cái nhìn của những kẻ không cô đơn. Còn hôm nay, Kiều và Thúc, mỗi người chỉ mang trong mình có một nửa vầng trăng thôi, một nửa vầng trăng hao khuyết. Thấy phảng phất trong vần thơ Tố Như cuộc biệt li của cô gái chàng trai trong ca dao. Cuộc biệt ki ấy hóa thân vào sự chia phôi giữa Kiều và Thúc. Vầng trăng tan vỡ trong ca dao lại in bóng ở Truyện Kiều. Nếu không học tập ngôn ngữ, hình ảnh của người lao động bình dân, sao Ng Du có thể viết nên hai câu thơ bất hủ, hai câu thơ góp phần không nhỏ làm nên vẻ đẹp toàn bích của "Truyện Kiều"? Thể lục bát truyền thống làm nên giai điệu ngọt ngào của chất thơ trong ca dao được học tập đầy sáng tạo trong thơ Ng Du. Nhà thơ đã tiếp thu vốn văn học dân gian để đưa vào tác phẩm của mình những vần thơ tuyệt tác. Làm nên vị trí kiệt tác số một của Đoạn trường tân thanh trong VHVN có nhiều lí do, song có một điều không thể thiếu: Tố Như đã đi vào nơi cuộc sống của người bình dân bằng vốn tri thức sách vở và đời thực ông đã học được thơ trong ca dao một sự học tập đầy sáng tạo. Không chỉ Ng Du, Ng Bính, một nhà thơ mới cũng đã đem vào một thời đại trong thi ca một tiếng thơ quen bởi thi sĩ đã trở về nương hồn mình nơi bến nước gốc đa, những đêm hội chèo để nghe tiếng vọng của ca dao đổ về từ cội nguồn dân tộc. Nếu Xuân Diệu từ bỏ chốn làng quê thuần hậu đi đến nơi thành thị để làm một người rất mới, rất tây thì Nguyễn bính trở về, đưa nguồn thơ chan hòa vào những câu ca dao thuần hậu nguyên thủy muôn đời. Có lại chăng khi trong tiếng thơ của một nhà thơ mới mà cứ thấp thoáng đi về một người nhà quê một hồn quê với bến nước gốc đa với nỗi nhớ thương tương tư của con người Việt Nam thuở trước. Hóa ra tâm hồn chàng thi sĩ quê mùa Nguyễn Bính đã ăm ắp chất thơ của ca dao. Những từ ngữ, hình ảnh cách tỏ tình lứa đôi trong thơ, những mình những ta, những anh những nàng lối lục bát mênh mang giai điệu trữ tình sao gần với ca dao làm vậy? Đọc thơ Nguyễn Bính mà cứ ngỡ rằng thêm lần nữa được thưởng thức nguồn ca dao từ xưa cũ. Song ngẫm kĩ vẫn thấy một cái tôi Nguyễn Bính không nhạt nhòa, hòa lẫn trong lời ca của những thi sĩ bình dân: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn đông, Một người chín nhớ mười mong nột người. Gió mưa là bệnh của giời Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. Không nói "anh nhớ em", "tôi nhớ nàng" mà kín đáo ngụ nỗi nhớ vào hai miền không gian xa cách: thôn Đoài - thôn Đông, một người - một người. Đúnglà cách bày tỏ tình cảm kín đáo vòng vo của ca dao.Tình cảm là sự thực của mình nhưng cứ gán cho một đối tượng nào bóng gió xa xôi lắm: Những mận những đào những mượn mình làm mối cho ta một người mà lại là một người đẹp vừa tươi như mình. Hai chữ một mình bị đấy ra hai đầu mút câu thơ khiến khoảng cách cũng muôn trùng cách trở:chín nhớ mười mong. Thành ngữ dân gian đi vào câu thơ một cách tự nhiên. Có phải Nguyễn Bính đã lấy tứ Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo của ca dao ? Chàng thi sĩ quê mùa ấy đã phả vào thơ mình một chất thơ lấy từ ca dao. Đó là một trong những nét làm nên sức hấp dẫn riêng của nhà thơ Nguyễn Bính. Một Tố Hữu đem vào tiếng thơ mình nguồn ca dao một thuở với những mình ta (V Bắc). Mượn cách nói của những lời tỏ tình đôi lứa để biểu đạt những tình cảm chính trị lớn lao, thơ TH gần với ca dao biết mấy! Nguyễn Khoa Điềm trong Mặt đường khát vọng cùng tìm về ca dao để cắt nghĩa, lí giải sự sinh thành, phát triển của đất nước ở bề sâu văn hóa. Và cả những Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn...sau này các nhà thơ đã học tập chất thơ - những từ ngữ, hình ảnh cảm hứng, cấu tứ giọng điệu ở ca dao. Không chỉ học tập chất thơ trong ca dao, văn học viết còn tiếp thu chất văn trong cổ tích, những câu chuyện vô danh chở đầy ước mơ hồn nhiên của con người thuở trước giờ lại đổ bóng hình vào văn học hiện đại hôm nay. Victo Huygo xây dựng nên hình tượng Quadimodo từ thế giới nhân vật dị dạng, méo mó trong cổ tích. Những chất liệu từ cổ tích đã cung cấp cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo. Họ học ở cổ tích cách xây dựng nhân vật theo môtip thiện-ác phả vào trang văn của mình chất huyền ảo thiêng liêng và niềm tin, sự lạc quan của người bình dân trong cổ tích đã truyền niềm tin sự lạc quan trong tư tưởng các nhà văn hiện thực cách mạng. Có ai đó cho rằng Vợ chồng APhủ của THoài là thiên truyện thấm đầy chất cổ tích và hiện thực. Cổ tích chuyển hóa vào hiện thực, mô tip nhân vật ấy chắc hẳn THoài đã học được từ chất văn trong những trang truyện cổ thuở xưa. Mị tiêu biểu cho những cô gái nghèo bất hạnh, cô phải chịu những đau khổ trong cuộc đời, nhưng lại mang trong mình những khoảng sáng của phẩm chất tốt đẹp. A Phủ là hiện thân cho môtip nhân vật các chàng trai mồ côi, hoàn toàn không có gì cả, song lại có một sức sống bền bỉ dẻo dai. Họ không có gì cả mà hóa ra lại mang trong mình những vẻ đẹp phẩm chất vô giá. Có phải ta đang gặp lại hình ảnh Chử Đồng Tử trong A Phủ, gặp lại cô Tấm dịu hiền trong hình ảnh Mị ? Lối kết thúc có hậu cũng được sử dụng trong truyện ngắn. A Châu, người chiến sĩ CM, là hình ảnh của những ông tiên vị phật đem lại hạnh phúc cho những chàng trai cô gái bất hạnh. Có thể thấy ở Vợ chồng A phủ, TH đã học được chất văn từ cổ tích xa xưa. Lời kể chuyên trầm trầm khách quan nhưng vẫn thấy ấm áp tấm lòng người cầm bút. Như thế có thể thấy rằng các nhà văn nhà thơ đã học tập được văn trong truyện cổ và học được thơ trong ca dao. Đó là sự học tập đầy sáng tạo, học tập trên những gì có sẵn. Chính nguồn thơ nguồn văn ở VHDG đã nuôi dưỡng cho những sáng tác tinh thần ở VH viết . Nó tái sinh trong VH hôm nay. Ý kiến của nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị không trực tiếp nói tới sức sống của VHDG song qua sự học tập tiếp thu của các tác giả mà ta hiểu được sức sống ấy mãnh liệt nhường nào. Ngược lại có những tác phẩm học tập từ ca dao, rồi lại có tác động ảnh hưởng đến chính ca dao ( Truyện Kiều). Nhiều câu ca dao được sáng tác từ chính mối tình Kim Kiều trắc trở: Anh xa em như liễu xa hồ Như Thúy Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi Ý kiến này cũng đặt ra bài học cho người cầm bút muôn đời: Anh hãy học tập, tiếp thu sáng tạo những tinh hoa của truyện cổ, ca dao để làm đẹp thêm cho sáng tác của mình". Bởi ca dao, truyện cổ là dòng sông muôn đời bồi đắp cho người sáng tạo Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về đất nước mình thì bắt lên câu hát Ca dao truyện cổ cũng như những dòng sông ấy, tháng năm vẫn âm vang nhịp sóng trong tâm hồn nghệ sĩ muôn đời. Các nhà văn nhà thơ vẫn muôn đời học được nhiều điều từ ca dao truyện cổ.
Xem thêm

5 Đọc thêm

LÀNG gốm bát TRÀNG và TIỀM NĂNG PHÁT TIỂN DU LỊCH

LÀNG gốm bát TRÀNG và TIỀM NĂNG PHÁT TIỂN DU LỊCH

1.1: Lý do chọn đề tài Từ lâu, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với con người. Không chỉ nhằm mục đích tham quan, vui chơi, giải trí, thì ngày nay người ta còn đi du lịch với nhu cầu tìm hiểu các giá trị văn hóa truyền thống của nơi đến. Một trong những địa điểm không thể bỏ qua đó chính là các làng nghề. Theo thống kê của Viện Nghiên Cứu và Phát triển Du lịch, hàng năm có tới 800 triệu người đi du lịch. Con số này sẽ lớn hơn 1 tỉ vào năm 2010 và đạt 1,6 tỷ vào năm 2020. Trog đó, chiếm 60% dòng khách du lịch hiện nay chọ du lịch văn hóa – làng nghề. Nước ta có hơn 2000 làng nghề thủ công, nếu được quan tâm đúng mức thì tiềm năng du lịch sẽ rất lớn. Khi nói đến làng nghề truyền thống của nước ta, không thể không kể đến một làng nghề nổi tiếng bậc nhất nhì trong quá khứ cũng như hiện tại, đó là làng gốm Bát Tràng – Hà Nội. “ Ước gì anh lấy được nàng Để anh mua gạch Bát Tràng về xây…” Câu ca dao quen thuộc của ông cha ta ngày xưa không chỉ khái quát về chất lượng mà còn về danh tiếng của sản phẩm gốm sứ và gạch của vùng. Có lẽ vì thế mà ngày nay, Bát Tràng trở thành một điểm đến không thể thiếu cho những ai yêu thích tìm hiểu văn hóa dân tộc nói chúng và văn hóa làng nghề nói riêng.
Xem thêm

Đọc thêm

Thành ngữ, tục ngữ, ca dao việt nam

THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM

Đây là từ điển về thành ngữ,tục ngữ, ca dao Việt Nam được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái. Trọng tài liệu có cả phần giải thích khái niệm thành ngữ, tục ngữ, ca dao rất chính xác và ngắn gọn.tài liệu này giúp ích cho bạn khi lấy dẫn chứng để làm bài nghị luận văn học,nghị luận xã hội. Đồng thời bạn càng thêm thấu hiểu hơn về phong tục tập quán , văn hóa xã hội của đất nước Việt Nam

115 Đọc thêm

CA DAO DÂN CA

CA DAO DÂN CA

Làng quê Việt Nam ở đâu cũng vậy, ẩn chứa trong nó bao điều gần gũi và thân thương. Mỗi một miền quê đều có những câu hò, điệu hát rất chung mà lại rất riêng, mang âm hưởng của từng vùng, miền. Tất cả cùng hòa vào câu thơ, giọng hát của những làn điệu, tạo thành dòng ca dao dân ca Việt Nam rất đa dạng và phong phú. Ca dao dân ca, xét về góc độ tư duy của dân tộc, là tấm gương bức xạ hiện thực khách quan của mỗi dân tộc với lối sống, điều kiện sống và những phong tục tập quán riêng. Hình ảnh về thiên nhiên, cuộc sống, về truyền thống dân tộc, quan hệ xã hội được phạm trù hóa theo những cách khác nhau, bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau. Nghiên cứu về ca dao dân ca không chỉ cho thấy những nét đẹp văn hóa của người Việt Nam mà còn làm nổi bật lên tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu người thiết tha. Ca dao dân ca là kết tinh thuần tuý của tinh thần dân tộc, là nét đẹp trong văn hóa dân gian Việt Nam. Với cội nguồn lịch sử và chữ viết rất phong phú đa dạng nên ca dao và dân ca có mặt ở Việt Nam từ rất sớm. Các công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian, cũng như các nhà khoa học có liên quan đã khẳng định một trong những dấu tích của ca dao cách chúng ta khoảng trên dưới 2.500 năm. Điều này được thể hiện rất rõ qua các hoa văn trên trống đồng và các hiện vật khảo cổ cùng niên đại. Phân tích các họa tiết hoa văn trên trống đồng, nhiều người đã tìm thấy ở đây hình ảnh lễ thờ nữ thần Mặt Trời cũng là nữ thần Nông nghiệp. Trong lễ hội này đã sử dụng các hình thức âm nhạc, thanh nhạc múa hát và các nhạc khí. Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đặng Văn Lung, Trưởng Ban Văn học dân gian, Viện Văn học phát biểu: "Tất cả các dân tộc trên thế giới suốt mấy nghìn năm chỗ nào cũng có dân ca và ca dao. Vì thế nói về ca dao dân ca của một dân tộc hay ca dao dân ca nói chung là vấn đề rất lớn. Nó tồn tại rất lâu, từ hàng ngàn năm trước và như các nhà khoa học nghiên cứu trước đây, các học giả đã nói ca dao ra đời khi trong lòng mình có những điều muốn thể hiện ra, muốn nói lên. Những điều đó được gọi là ca dao". Câu nói, làn điệu, giọng hát là những đòi hỏi bức thiết nảy sinh trong đời sống xã hội, qua thời gian, những câu nói hay, những làn điệu hấp dẫn đã được nhân dân sưu tập và gìn giữ. Cùng xuất phát từ hoàn cảnh thực tế của đời sống xã hội và trí tuệ của nhân dân đúc kết nên. Qua lời ca, câu hát, ca dao và dân ca Việt Nam là những câu nói đúc kết những kinh nghiệm sống, những quan niệm về nhân cách, nhân đức ở mỗi con người. Càng đi sâu vào tìm hiểu ca dao dân ca, chúng ta sẽ thấy được những nét tài hoa, óc sáng tạo đầy tinh thần thẩm mỹ. Tuy nhiên ở mỗi loại hình lại có những đặc điểm riêng biệt. Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đặng Văn Lung, Trưởng Ban Văn học dân gian, Viện Văn học phát biểu: "Các cụ ngày xưa có nói bỏ ca đi thì còn lại dao, có nghĩa là ca dao và dân ca ra đời cùng một lúc. Nhưng cũng không phải tất cả câu hát của dân ca là ca dao. Đi sâu vào nghiên cứu thì thấy dân ca phát triển rất nhiều, còn ca dao chỉ có một số chức năng nhất định". Ca dao dân ca là loại hình văn nghệ truyền miệng, là một hình thức văn hóa dân gian đã có từ rất lâu. Nó có thể là một câu nói triết lý bao hàm một nội dung giáo dục của ai đó. Trải qua thời gian, mọi người thấy đúng và nghe theo, thậm chí họ có thể thêm vào hoặc bớt đi để đúng với từng hoàn cảnh cụ thể. Vì vậy, có thể nói ca dao dân ca là của quần chúng nhân dân sáng tác nên và họ có thể sáng tác trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong lễ hội, trong lao động sản xuất. Như Giáo sư Vũ Ngọc Phan đã viết: "Nó xuất hiện trong lao động từ thời cổ xưa và hình thức thô sơ của nó đã được sửa đổi qua các thế hệ của loài người". Có một câu ca dao rất ý nghĩa, không chỉ nói lên quan niệm triết lý của người Việt Nam mà đó còn là một câu nói thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau, thể hiện sức mạnh của tập thể. "Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại thành hòn núi cao". Chất trí tuệ, giàu tư tưởng tình cảm trong ca dao dân ca là những nguồn nhựa sống bổ sung cho văn hóa dân gian thêm phong phú và đậm đà bản sắc. Tuy cũng là câu nói, giọng điệu cùng với một cái nôi xuất phát nhưng không phải câu ca dao nào cũng có thể trở thành dân ca và ngược lại, ở mỗi thể loại lại có thêm những ưu thế bổ sung ứng dụng trong từng hoàn cảnh của thực tế đời sống. Theo cách hiểu thông thường, ca dao là lời của các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy hoặc ngược lại là những câu thơ có thể bẻ thành những làn điệu dân ca. Như vậy giữa ca dao và dân ca không có ranh giới rõ ràng. Ca dao là những câu nói phổ thông trong dân gian. Ca dao người Việt thường được cấu tạo bằng hai câu lục bát, một thể thơ rất âm điệu tiếng Việt. Khi có nhiều câu kết thành một đoạn ngắn thì gọi là dân ca, vì vậy ranh giới giữa ca dao và dân ca là một sợi chỉ rất mỏng manh. Ca dao là lối văn truyền khẩu, trước tiên là do một người vì xúc cảm mà phát hiện ra, rồi vì lời hay, ý đẹp mà lan truyền trong dân gian và truyền mãi từ đời này qua đời khác. Tuy ca dao xuất phát trong giới bình dân nhưng nhiều câu rất nên thơ và ý nghĩa đậm đà, dễ xúc cảm người nghe nên được nhiều người để tâm sưu tầm. "Có cha, có mẹ có hơn Không cha, không mẹ như đàn không dây. Mẹ cha như nước, như mây, Làm con phải ở cho tầy lòng con". Câu thơ không chỉ nói về công đức sinh thành, giáo dưỡng của cha mẹ mà còn khuyên nhủ, răn dạy mọi người phải ăn ở sao cho đúng đạo làm con. Âu đó cũng là triết lý, quan điểm sống của mỗi con người chúng ta. Hoặc đó cũng có thể là những câu nói khuyên răn về quan hệ giữa anh em, bạn bè. "Anh em như chân, như tay Như chim liền cánh, như cây liền cành". Hoặc là những câu ngợi ca tình yêu lao động, trân trọng những giá trị của sự lao động. "Ai ơi bưng bát cơm đầy, Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần". Chính vì khả năng dễ nói, dễ tiếp thu, ca dao đã đi vào đời sống của nhân dân một cách rất tự nhiên và trong mọi hoàn cảnh. Trong mỗi chúng ta ai cũng có một miền quê, quê hương là cánh đồng lúa thơm ngát, luỹ tre xanh trải dài dọc bờ đê, là những hình ảnh thân thương nhất đối với cuộc sống mỗi con người. Hai tiếng quê hương nghe gần gũi và thân thương, đó là nơi chôn nhau cắt rốn, nơi đã nuôi dưỡng ta trưởng thành. Qua ca dao dân ca những hình ảnh của miền quê như trở nên gần gũi hơn, lung linh hơn nhờ những ca từ đầy hình ảnh. Khi nói đến dân ca, chúng ta không thể quên những lời ru con thiết tha trìu mến, qua tiếng ầu ơ mẹ ru con, những hình ảnh của miền quê yêu dấu của biển rộng non cao, của gió Lào cát cháy, những người mẹ năm tháng tảo tần một nắng hai sương nuôi dậy con khôn lớn. Những lời hát ru của mẹ đã hòa đồng với tâm hồn trẻ thơ, vừa đằm thắm nhẹ nhàng nhưng cũng không kém phần trầm tư sâu lắng. Trong câu hát của mẹ có ánh trăng soi rọi như đưa con vào giấc ngủ êm đềm, có áng mây trôi bồng bềnh trên đỉnh núi, có dòng sông bên lở bên bồi, có mặt biển long lanh ánh bạc và những con thuyền thấp thoáng ngoài khơi xa. Nghe lời ru của mẹ, trẻ thơ như được tiếp thêm nguồn dự trữ lớn lao về lòng yêu quê hương, đất nước, chắp cánh cho tuổi thơ của con thêm vững bước và sáng ngời niềm tin. Lấy nguồn cảm hứng từ thực tế cuộc sống, ca dao dân ca được sáng tạo nên, đó là lời ăn, tiếng nói của ông cha ta tích lũy từ ngàn đời. Đó là những câu nói đúc kết từ những kinh nghiệm sản xuất răn dậy con cháu, bao hàm những nội dung mang ý nghĩa triết lý dậy bảo rất sâu sa. Đó là những câu hát được truyền tải bằng âm thanh giọng điệu ngôn ngữ với nội dung nghệ thuật phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc. Giống như đại thi hào Macxingocki đã nhận định: "con người không thể sống mà không vui sướng được. Họ phải biết cười đùa, họ sáng tạo nên những bài hát vui tươi, họ thích nhẩy múa". Bởi vậy, ca dao dân ca là sản phẩm văn hoá tinh thần và cần thiết đối với mỗi dân tộc, con người.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với Bắc Bộ

Những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với Bắc Bộ

MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài luận văn Dân tộc Việt Nam có một kho tàng ca dao vô cùng phong phú, đa dạng. Nó là nơi thể hiện rõ nhất điệu tâm hồn dân tộc (Tố Hữu), phô diễn trực tiếp thế giới tâm hồn của con người, biểu đạt những tình cảm, cảm xúc đa dạng của nhân dânNó rất gần gũi với suy nghĩ, tâm hồn của nhân dân, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người lao động. Bởi vậy, ca dao có một sức lôi cuốn hết sức mạnh mẽ đối với con người Việt Nam. Nó là dòng sữa ngọt nuôi dưỡng tâm hồn Việt Nam qua bao thế hệ. Từ cái thủa vẫn còn nằm nôi, chúng ta đã được nghe những làn điệu dân ca ngọt ngào đằm thắm qua lời ru của bà, của mẹ. Tuy vậy, ca dao có sự khác biệt giữa vùng miền, cụ thể là sự khác biệt giữa ca dao Nam Bộ và Bắc Bộ. Ca dao Bắc Bộ đã khá quen thuộc với chúng ta còn ca dao Nam Bộ đang trong quá trình khảo cứu. Đó là bởi vì ca dao Nam Bộ ra đời muộn. Nam Bộ là một mảnh đất được khai sinh trong hành trình lịch sử Nam tiến của dân tộc. Đây là vùng đất “sinh sau đẻ muộn” , nhưng đây thường được gọi là vùng đất nhiều tài nguyên và mang nét văn hóa đặc sắc. Và trong tiến trình lịch sử, mảnh đất này cũng đã để lại những dấu ấn văn hóa riêng. Đáng chú ý là ca dao bởi nó được xem là thể loại ổn định, phản ánh rõ nét đặc điểm địa lý, lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc con người nơi đây. Ca dao miền Nam vẫn có sức sống mãnh liệt. Nó còn được phát triển mạnh và là một sinh hoạt tiềm tàng trong cuộc sống của người bình dân, cho dù chúng ta không còn thấy những màn hò đối đáp trong công việc hàng ngày ở trên đồng ruộng, sân lúa hay trên sông rạch như tiểu thuyết đã mô tả. Nó nằm ngay trên cửa miệng người bình dân, họ đọc ra như một phản xạ tự nhiên phù hạp với hoàn cảnh đang xảy ra không chê được. Tuy vậy, từ trước đến nay, ca dao Nam Bộ chưa có chỗ đứng dúng đắn trong văn học sử của Việt Nam, cũng chưa được đề cập một cách đầy đủ trong chương trình học ngày trước. Chúng ta có thể có nhiều cách giải thích. Có lẽ do người viết chương trình của bộ giáo dục trong những năm đầu chuyển tiếp từ chương trình Pháp sang chương trình Việt không có tài liệu nhiều về văn học trong Nam; hay người viết chương trình không biết gì về văn học trong Nam; hay người viết chương trình cho rằng văn học trong Nam quá nôm na, không có vẻ bác học; hay đơn giản hơn hết là văn học trong Nam chưa có đủ chiều dài về thời gian để có chỗ đứng trong văn học sử... Chương trình văn học có sự mất cân đối, nghiêng nặng về những tác giả tác phẩm ở ngoài Bắc và đã bỏ quên những sinh hoạt văn học trong Nam. Trong mọi lãnh vực về văn học ở chương trình trung học, miền Nam đã bị bỏ quên, khiến cho sau bao nhiêu năm, sự lãnh hội về kiến thức trong chúng ta về văn học đã bị thiếu sót. Ca dao miền Nam cũng chịu chung số phận như thế. Sự mất cân đối trong chương trình học đã làm học sinh Nam Bộ trở thành xa lạ với môi trường họ đang sống, trở thành vong thân với chính xã hội của họ. Chúng ta cần dành một chỗ đứng thích đáng cho ca dao miền Nam. Trả lại cho văn chương và ca dao miền Nam chỗ đứng đúng đắn trong văn học sử là việc nên làm, phải làm. Công việc đó qui mô và cần công sức của nhiều người. Hiện nay, chương trình Ngữ văn trung học phổ thông đã bổ dung thiếu sót này bằng việc yêu cầu giảng dạy phần văn học địa phương. Do vậy, nghiên cứu về ca dao Nam Bộ cũng là điều cần thiết và bổ ích trong quá trình giảng dạy của mình. Trong ca dao Nam Bộ có những hình ảnh thường gặp phản ánh rõ nét thiên nhiên, đời sống con người Nam Bộ. Những hình ảnh ấy đơn giản mộc mạc như chính vùng đất non trẻ này của đât nước. Chất nôm na, chất phác của lớp người bình dân đã thấm đẫm trong cái nhìn về cuộc sống, vạn vật. Qua cái nhìn của người dân Nam Bộ, ta thấy vẻ hoang vu của thiên nhiên một dấu ấn trong những bài ca của thiên nhiên đất nước. Ta còn thấy những sự vật đặc trưng của Nam Bộ như cái cầu khỉ, bông điên điển, trái bần,…hay con sấu, con rắn,… Nét hoang dã của đất nước Nam Bộ còn thể hiện gián tiếp qua tâm trạng lo sợ của người đi khai hoang, cảnh vật lạ lùng khiến cho người ta sợ mọi thứ:“Tới đây sứ sở lạ lùngChim kêu cũng sợ ,cá vùng cũng ghꔓ Chèo ghe sợ sấu ăn chưngXuống bưng sợ đỉa , lên rừng sợ ma”. Cùng với đó là hình ảnh con người Nam Bộ chất phác. Tinh thần phóng khoáng và lòng mến khách của người Việt Nam giúp họ gắn bó với mảnh đất này. Họ đã bám đất bằng tất cả sức mạnh của đôi bàn tay, của ý chí vươn tới, của năng lực tổ chức, của tình đoàn kết chung lưng đấu cật. Ca dao Nam bộ đã ghi lại những hình ảnh cụ thể:Chiều chiều ông Ngữ thả câu Sấu lôi ông Ngữ cắm đầu xuống sông (sưu tầm ở Phú TânAn Giang) Đem đối sánh với ca dao Bắc Bộ, ta sẽ có những phát hiện thú vị. Nếu ca dao Bắc Bộ ngọt ngào thì Nam Bộ chân chất. Nếu Bắc Bộ giàu hình ảnh miền Bắc thì Nam Bộ mang hình ảnh của một thiên nhiên mới khai phá, cùng nếp sống đậm chất miền Nam. Nếu con người Bắc Bộ nhẹ nhàng, trừ tình thì con người Nam Bộ mang nét đẹp khỏe khắn của người mở cõi.Vì vậy, chúng tôi chọn khảo cứu những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với Bắc Bộ là đối tượng nghiên cứu cho đề tài này. Đề tài là sự khái quát có lý giải về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với ca dao Bắc Bộ dựa trên tài liệu đã có và bản thân người viết sưu tầm. Từ đó, chúng tôi mong đóng góp một tiếng nói để ca dao miền Nam có chỗ đứng trong kho tàng ca dao Việt Nam nói riêng và trong lòng người dân Việt Nam nói chung.2. Lịch sử nghiên cứu Từ trước đến nay cũng có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận văn. Đầu tiên là các công trình về ca dao Nam Bộ. Tiêu biểu là công trình “Ca dao dân ca Nam Bộ”(1984) của nhóm tác giả Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị, NXB Thành phố Hồ Chí Minh. Công trình này có những bài nghiên cứu chung về ca dao Nam Bộ. Tiếp theo là công trình “Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long” (1999) của Khoa Ngữ Văn trường Đại học Cần Thơ, NXB Giáo Dục. Công trình này chủ yếu công bố những tư liệu đã sưu tầm được về các thể loại văn xuôi dân gian và các thể loại văn vần dân gian ở đồng bằng sông Cửu Long. “Ca dao Đồng Tháp Mười” của Đỗ Văn Tân chủ biên, Sở VHTT Đồng Tháp xuất bản, 1984 cũng là cuốn sách có nhiều tư liệu để nghiên cứui đối chiếu. Ngoài ra, có nhiều công trình lẻ tẻ nói về ca dao từng tỉnh Nam Bộ, như công trình “Văn học dân gian Bến Tre” (1988) của Nguyễn Phương Thảo và Hoàng Thị Bạch Liên, NXB Hà Nội. Trong công trình này, tác giả đã chú ý nét riêng và nhấn mạnh một hiện tượng phải lưu ý khi xem xét ca dao Bến Tre về mặt hình thức là hiện tượng là những bài ca có ba dòng lời . Tác giảcó nêu sốliệu khảo sát nhưng không lý giải. Về ngôn ngữ ca dao, tác giả khái quát mang đặc điểm của phương ngữ, nhất là phương ngữ Nam bộ, ngôn ngữ đầy sức sống, tươi rói, tác động mạnh vào cách nhìn, cách nghe của con người . Đối với vấn đề này, tác giả chỉ dừng lại bằng việc nêu ví dụ. Tuy nhiên, đây là những gợi ý quý báu mà trong luận văn này chúng tôi sẽ tìm hiểu sâu hơn. Phần sau là công bốnhững tư liệu đã sưu tầm về các thể loại. Trong đó ca dao là 88 trang (với 900 bài). Tiếp đó là công trình nghiên cứu “Văn học dân gian Bạc Liêu” do Chu Xuân Diên chủ biên, NXB Văn nghệ TP HCM, 2005. Khi đối chiếu, chúng tôi chọn chủ đề tình yêu lứa đôi gồm 354 bài ca dao. Để đối chiếu, so sánh, chúng tôi có nghiên cứu bổ sung về ca dao Bắc Bộ. Ca dao Bắc Bộ phong phú hơn và được nghiên cứu từ rất lâu. Ở đây, để lấy được các hình ảnh trong ca dao Bắc Bộ mà so sánh với Nam Bộ, chúng tôi đã xem xét các tài liệu như: “Ca dao ngạn ngữ Hà Nội” 20 và Tục ngữ ca dao dân ca Vĩnh Phú 119 , Dân ca quan họBắc Ninh 113, song tài liệu 20 và tài liệu 119 có số lượng bài ít.Như vậy, qua những công trình giới thiệu trên đây chúng tôi không thấy công trình nghiên cứu riêng về hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ chưa có. Phần lớn những nghiên cứu về hình ảnh ca dao Nam Bộ được viết chung trong phần nghiên cứu về ca dao Nam Bộ. Việc khảo sát những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ vẫn chưa trở thành đề tài nghiên cứu trọn vẹn. Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi sẽ khảo sát những hình ảnh xuất hiện trong ca dao Nam Bộ một cách có hệ thống.3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Đề tài nhằm góp phần vào việc tìm hiểu diện mạo chung của ca dao Nam Bộ. Làm rõ những hình ảnh thường gặp của ca dao Nam Bộ trong sự đối sánh với ca dao Bắc Bộ và qua đó hiểu thêm đời sống văn hoá tinh thần của con người Bến Tre. Đề tài cũng khẳng định những giá trị đã tạo nên vẻ đẹp, sức sống của ca dao Nam Bộ. Từ đó phát huy những vẻ đẹp đó để giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc, góp phần bảo tồn ca dao Nam Bộ.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu: chúng tôi chọn nghiên cứu những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ. Phạm vi nghiên cứu:Trong luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát ca dao Nam Bộ về hình ảnh quen thuộc trong so sánh với ca dao Bắc Bộ. Theo định hướng đã đề ra như trên, đối tượng mà người viết khảo sát là những bài ca dao trữ tình của dân tộc Việt ở đất Nam Bộ, không khảo sát ca dao lao động và nghi lễ. Việc gọi câu hát dân gian, bài hát dân gian, bài ca, lời thơ dân gian, đơn vị tác phẩm trong luận văn này đều là một, chỉ bài ca dao. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận vănTrong quá trình thực hiện đềtài luận văn, chúng tôi sửdụng một sốphương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp sưu tầm: Văn học dân gian ra đời sớm và được lưu lại trong trí nhớcủa nhân dân bằng con đường truyền miệng. Trước đây, việc sưu tầm ca dao đã được tiến hành nhưng chưa thể nào tập hợp hết những bài ca dao tồn tại trong trí nhớ của nhân dân. Để có thêm tư liệu trong quá trình khảo sát, cũng như góp phần nhỏ trong công tác sưu tầm tập hợp, chúng tôi sử dụng phương pháp sưu tầm. Phương pháp thống kê: Việc sửdụng phương pháp thống kê giúp chúng tôi tính toán được sốlượng nhiều hay ít của các từngữ, công thức, hình ảnh… trong ca dao. Phương pháp này giúp đưa ra được những số liệu cụ thể, chính xác về vấn đề cần khảo sát. Từ đó dẫn đến những kết luận khách quan. Phương pháp hệ thống: Phương pháp hệthống là cách đặt những bài ca dao Nam Bộ trong cùng một hệthống như hệthống ca dao cả nước để thấy được nét chung cũng như nét riêng của nó. Phương pháp phân tích, so sánh: Tìm ra những điểm giống và điểm khác của ca dao Nam Bộ với ca dao của Bắc Bộ, người viết phải phân tích, đối chiếu những bài ca dao Nam Bộ với những bài ca dao Bắc Bộ. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp này dùng để lý giải cho những hình ảnh ca dao Nam Bộ. Kiến thức của nhiều ngành khác nhau như: lịch sử, địa lí,dân tộc học, văn hóa học… sẽrất hữu ích trong việc nghiên cứu. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Ý nghĩa lí luận:Đề tài là sự khái quát có lý giải về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong đối sánh với ca dao Bắc Bộ dựa trên tài liệu đã có và bản thân người viết sưu tầm. Từ đó, chúng tôi mong đóng góp một tiếng nói để ca dao miền Nam có chỗ đứng trong kho tàng ca dao Việt Nam nói riêng và trong lòng người dân Việt Nam nói chung. Ý nghĩa thực tiễn: Hiện nay, chương trình Ngữ văn trung học phổ thông yêu cầu giảng dạy phần văn học địa phương, đặc biệt ở miền Trung và Nam. Do vậy, nghiên cứu về ca dao Nam Bộ nói chung và hình ảnh trong ca dao Nam Bộ nói riêng là điều cần thiết và bổ ích. Nó sẽ là tư liệu bổ sung cho việc giảng dạy kiến thức địa phương ở các trường THPT miền Nam. 7. Kết cấu của luận văn Luận văn gồm phần mở đầu, nội dung và kết luận. Phần nội dung gồm 3chương: Chương I: Nhìn chung về ca dao Nam Bộ. Chương II: Những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ trong sự đối sánh với ca dao Bắc Bộ Chương III: Đặc điểm nghệ thuật của những hình ảnh thường gặp trong ca dao Nam Bộ.
Xem thêm

Đọc thêm

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN SỰ TIẾP BIẾN NHO GIÁO Ở VIỆT NAM QUA TỤC NGỮ, CA DAO – DÂN CA NGƯỜI VIỆT

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN SỰ TIẾP BIẾN NHO GIÁO Ở VIỆT NAM QUA TỤC NGỮ, CA DAO – DÂN CA NGƯỜI VIỆT

DẪN NHẬP I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Nhìn vào diện mạo văn hóa truyền thống người Việt, chúng ta thấy có một sự khác biệt rất lớn so với các dân tộc trong khu vực. Sự khác biệt đó phần lớn do sự ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo trải qua nhiều thế kỷ dân tộc Việt tiếp xúc với Nho giáo. Mục đích của luận án chúng tôi là tìm hiểu nguyên nhân và sự biến đổi cụ thể trong bản chất để tìm ra những yếu tố đã góp phần tạo nên sự khác biệt đó qua tư liệu văn vần dân gian là tục ngữ, ca dao – dân ca. Đồng thời, từ những phân tích và kiến giải chúng tôi sẽ làm rõ thái độ của tầng lớp bình dân Việt đối với tư tưởng thống trị Nho giáo và vai trò của đạo đức Nho giáo trong quan niệm truyền thống của người dân Việt, thông qua đó chứng minh tính hiện đại của đạo đức Nho giáo đối với xã hội hiện nay. II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Trước 1945 Nho giáo được đề cập thoáng qua trong phần giới thiệu ở các công trình chú giải, sưu tập tục ngữ, ca dao – dân ca bởi một số nhà nho: Vương Duy Trinh trong bài tựa của tập sách Thanh Hóa quan phong vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; Nguyễn Văn Mại với Việt Nam phong sử; Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu… Sau năm 1945 Hầu hết, Nho giáo được bàn đến trong phần tiểu luận của các công trình sưu tập. Trong các công trình này, dù nhìn Nho giáo ở góc độ nào, các nhà nghiên đều cho rằng: một số nội dung tư tưởng Nho giáo đã hòa hợp vào triết lý dân gian, tạo nên một hệ thống chuẩn mực đạo đức riêng của người Việt. Những vấn đề chưa được tập trung nghiên cứu: (1) Xác định rõ những phạm trù, nội dung Nho giáo đã được người dân tiếp nhận, qua đó khách quan cho thấy thái độ của người dân Việt đối với tư tưởng Nho giáo. (2) Nguyên nhân cụ thể dẫn đến sự xâm nhập của Nho giáo vào đời sống người dân, sau đó được phản ánh vào lời ăn tiếng nói của họ như thế nào. Từ đó, thấy được sự đóng góp tích cực lẫn ảnh hưởng tiêu cực mà tư tưởng Nho giáo mang đến cho hệ thống biểu tượng đạo đức truyền thống của người Việt. (3) Phác họa một bức tranh tổng thể về thực tế biến đổi diện mạo văn hóa của dân tộc Việt do những đường nét tiếp biến Nho giáo khắc họa trên nền tư liệu tục ngữ, ca dao – dân ca. III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Chúng tôi tập trung vào những phạm trù Nho giáo sau khi được tiếp biến ở Việt Nam, xuất hiện rõ nét trong hai công trình (đều do Nguyễn Xuân Kính chủ biên): Kho tàng ca dao người Việt, gồm hai tập với 12.487 bài, nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin ấn hành năm 2001 và 15.331 (con số còn lại sau khi đã lược bỏ những câu trùng với một số câu có hình thức 6 – 8 trong Kho tàng ca dao người Việt) câu tục ngữ trong bộ Kho tàng tục ngữ người Việt, nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin ấn hành năm 2002. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Bao gồm các phương pháp: liên ngành, phân tích, so sánh đối chiếu, thống kê và lịch sử. V. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Xem thêm

27 Đọc thêm

Nét văn hóa truyền thống của Việt Nam

Nét văn hóa truyền thống của Việt Nam

Việt Nam là 1 nước có rất nhiều nét đẹp về văn hóa trong đó bao gồm cả văn hóa phi vật thể( thờ cúng tổ tiên, lễ hội chọi trâu, hát quan họ,...) và văn hóa vật thể( trống đồng Đông Sơn,...).Mỗi một văn hóa ấy đều mang một nét đẹp riêng của dân tộc, đăc biệt là nét đẹp về gia đình. Dân ta có rất nhiều âu ca dao, tục ngữ về tình cảm gia đình, mỗi một câu đều là đúc kết từ cuộc sống mà ra nên nó thường phản ánh sâu sắc nhất những truyền thống của dân tộc. Bữa cơm gia đình là một ví dụ điển hình cho một nét đẹp sẽ không bao giờ bị mai một theo thời gian.
Xem thêm

Đọc thêm

TIẾNG CƯỜI NGHỊCH DỊ PHỒN THỰC TỪ CA DAO ĐẾN THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG

TIẾNG CƯỜI NGHỊCH DỊ PHỒN THỰC TỪ CA DAO ĐẾN THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG

Thuật ngữ “nghịch dị” ở Việt Nam còn tương đối mới mẻ. Trước nay nhiều người vẫn quan niệm rằng, đó là mảnh đất riêng để nghiên cứu các tác phẩm, tác giả văn học phương Tây như “Gacgiangchuya và Pangtaruyen” của Rabole, “Đoonkihotê” của Xecvantec, hay bi hài kịch của Secxpia…Tuy nhiên chúng ta hoàn toàn có cơ sở để áp dụng “cái nghịch dị” vào nghiên cứu những hiện tượng văn hóa, văn học Việt Nam. Nghệ thuật nghịch dị đã nằm trong tâm thức cổ xưa của người Việt và len lỏi vào những hoạt động văn hóa – văn học vốn đặc trưng cho nền văn hóa trào tiếu dân gian. Kiểu hình tượng nghịch dị đã xuất hiện trong những hệ thần thoại, cổ ngữ và đặc biệt là trong ca dao. Đến những hiện tượng văn học viết như Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng…cái nghịch dị đã đi thêm một chặng đường mới với nhiều biến hóa phức tạp hơn. Điểm qua một vài nét nghệ thuật nghịch dị trong chiều dài lịch sử văn hóa, văn học Việt Nam; từ dân gian đến hiện đại, từ hình thức nguyên thủy còn rời rạc đến những biến hóa không ngừng, chúng ta có những cơ sở để đánh giá nghệ thuật nghịch dị trong ca dao và thơ Hồ Xuân Hương. Nếu như trong ca dao, nghệ thuật nghịch dị còn xuất hiện một cách lẻ tẻ thì nghịch dị trong thơ Hồ Xuân Hương không còn xuất hiện một cách lẻ tẻ mà đầy đủ và hệ thống.
Xem thêm

Đọc thêm

 TIẾNG CƯỜI TRONG CA DAO

TIẾNG CƯỜI TRONG CA DAO

Tiếng cười dân gian trong ca dao quả thật đã chứa đựng nghệ thuật sống của người bình dân ngày xưa. Tiếng cười ấy phản chiếu tinh thần của những người lao động luôn biết vượt lên hoàn cảnh, những bất công ngang trái, những khó khăn thực tại để lạc quan yêu đời       Bên canh mảnh ca dao trữ tình, ca dao hài hước cũng phản chiếu một khía canh khác trong tâm hồn của người bình dân ngày xưa, chứa đựng tinh thần lạc quan, sức sống mạnh mẽ và tinh thần phản kháng của nhân dân. Không những thế, tiếng cười trong ca dao cũng chính là những uất ức bất bình, những thái độ ứng xử, điều chỉnh hành vi, hướng tới một cuộc sống tốt đẹp công bằng hơn.       Ca dao hài hước chứa đựng cái nhìn, thái độ, tình cảm của người bình dân trước các hiện tượng đời sống mối quan hệ tình cảm giữa người với người. Không những thế tiếng cười còn là vũ khí tinh thần giúp họ vượt lên bao khó khăn của đời sống. Tiếng cười trong ca dao phong phú nhiều cung bậc, có khi là tiếng cười trào lộng dí dỏm, có khi là tiếng cười chua chát trước sự thật đáng cười đáng chán, cũng có khi là tiếng cười phản kháng trước thực trạng xã hội còn nhiều thứ bất công ngang trái.      Từ thực tại còn nhiều vất vả cay cực, người bình dân đến với nhau trong tiếng đùa vui, mượn tiếng cười ngỏ bày tâm tình một cách ý vị: “Cưới nàng anh toan dẫn voi, Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn”.       Chàng trai ngỏ lòng với cô gái bằng lối nói khoa trương để cho thấy ngay rằng anh đang đùa. Nhưng liệu có phải hoàn toàn là một. lời nói đùa không? Có thể hình dung ra hoàn cảnh của đôi nam nữ yêu nhau qua bài ca dao: họ sống nghèo khổ nhưng vô cùng lạc quan. Lời đối đáp có chút tinh nghịch nhưng cũng thoáng chút ngậm ngùi cho phận nghèo. Ngôn ngữ phóng đại khoa trương khỏa lấp đi một sự thật mà người đời quen gọi là “nói khoác” thực ra đã mang một ý vị chua chát đả phá vào những hủ tục ngăn cách con người tìm đến với nhau. Chàng trai đã có những lễ vật dẫn cưới thật sang trọng: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò... nhưng cuối cùng lại là con chuột béo thật ấn tượng. Lí giải thật hợp tình hợp lẽ: con voi to đùng kia là hàng quốc cấm - phép nước luật vua không cho phép, dẫn trâu dẫn bò thì lo họ hàng nhà gái máu hùn, co gân - chứng tỏ chàng trai là người “chu đáo” với đàng gái biết bao! Sợ cho nhà gái hay là một lời đay nghiến, mỉa mai những người đã nghĩ ra chuyện thách cưới ác nghiệt khiến cho đôi lứa phải chịu cảnh dở khóc dở cười. Con chuột béo là một thái độ đáp lại bằng cách giễu cợt cay chua. Nhưng lời đáp lại của cô gái dù đùa vui mà lại ẩn chứa một nỗi lòng đáng quý: “Chàng dẫn thế em lấy làm sang, Nỡ nào ern lại phá ngang như là... Người ta thách lợn thách gà, Nhà em thách cưới một nhà khoai lang...”       Ngầm chứa trong lời đáp là sự động viên chàng trai vững tâm để đi đến hạnh phúc, vẫn là thách cưới nhưng chàng trai hoàn toàn có thể đáp ứng được bằng chính sức lao động của mình. Cái tinh tế trong lời cô gái vừa là phản ứng trước việc thách cưới phá ngang, vừa là mong mỏi chàng trai là người cần cù siêng năng xứng đáng với tấm tình của cô. Không những thế, cô còn đem tới lời nhắn nhủ về sự cần kiệm: củ to mời làng, củ nhỏ mời họ, và không bỏ sót củ mẻ, củ rím, củ hà. Lời đáp khéo léo ấy đem lại niềm hi vọng và lạc quan về hạnh phúc.        Ca dao hài hước còn mang theo những suy ngẫm về thực trạng xã hội phong kiến vốn dành ưu ái đặc quyền cho nam giới, vẫn là mô típ làm trai cho đáng nên trai nhưng không phải là lời ca ngợi vào khả năng “vá trời lấp bể” mà chỉ là: “Làm trai cho đáng sức trai, Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng.”       Từ bản chất của những người yêu lao động, người bình dân phê phán và chế giễu những kẻ lười biếng mà huênh hoang. Ý nghĩa hài hước toát ra từ hình ảnh đối nghịch: sức dài vai rộng mà lại Khom lưng chống gối chì để gánh hai hạt vừng. Động tác kia chẳng khác nào mô phỏng hình ảnh các vị chức sắc quan lại chỉ giỏi khom lưng luồn cúi, chống gối quỵ lụy để tiến thân. Người bình dân chế giễu những kẻ vô tích sự ấy, mang tiếng là gánh vác sơn hà nhưng thực tế chẳng khác nào những bọn vô công rỗi nghề ăn bám người khác. Thật bất hạnh cho những ai vớ phải một ông chồng như thế! Ca dao cũng sẫn những lời ta thán của những người phụ nữ: “Chồng người đi ngược về xuôi, Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo”        Trong quan hệ gia đình, có lẽ phải gặp hoàn cảnh bất đắc dĩ thì người vợ mới có chuyện so sánh chồng minh với chồng người. Hình ảnh anh chồng thật thảm hại trong tương quan đi ngược về xuôi với sờ đuôi con mèo. Bất cứ người phụ nữ nào cũng mong muốn chồng mình giỏi giang cáng đáng việc quốc gia đại sự hay chí ít cũng là trụ cột gia đình. Còn anh chồng trong bài ca dao này cứ quẩn quanh xó bếp, nhu nhược hèn kém. Nhưng lời than thở giận hờn ấy không thay đổi được số phận. Than thở thế thôi, dẫu gì cũng vẫn là chồng em, vẫn là nghĩa tình duyên nợ với nhau. Đằng sau lời ca dao ấy là nỗi lòng trĩu nặng, phản chiếu một mong mỏi chồng mình cũng được bằng anh bằng em, để người vợ có thể mở mày mở mặt.      Trong ca dao không chỉ có tiếng cười chế giễu mà còn bao tiếng cười đầm ấm tình thương yêu gắn bó với nhau. Người bình dân biết cười đời và cũng biết cách cường điệu phóng đại những tật xấu của mình để tự cười mình. Không phải là tiếng cười thiên lệch dành cho nam giới mà cả giới nữ cũng có nhiều cái đáng cười. Điểm đặc biệt là tất cả những sự lệch chuẩn ấy đã thành cái đáng yêu trong một gia đình hạnh phúc: “Lỗ mũi em mười tám gánh lông, Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho. Đêm nằm thì ngáy o o... Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà. Đi chợ thì hay ăn quà, Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm. Trên đầu những rác cùng rơm, Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu!”       Chắc không người phụ nữ nào lại tự lôi ra tất cả những “thói hư tật xấu” của mình đầy đủ đến thế với một cách nói phóng đại tô đậm những cái hoàn toàn ngược với chuẩn mực “Công - Dung - Ngôn - Hạnh” phong kiến. Không hề gò mình ép khuôn vào một cách sống giả tạo gò bó, điều mong muốn của người bình dân là có một gia đình hạnh phúc, một sự thông cảm chia sẻ trong đời sống vợ chồng. Điệp khúc chồng yêu chồng bảo... không hề che giấu niềm tự hào có một người chồng tuyệt vời. Có lẽ các triết lí của các học giả đáng kính cũng rút tỉa ra từ thực tại cuộc sống phong phú đáng yêu này mà thôi: “vẻ đẹp không nằm ở đôi má hồng thiếu nữ mà ở trong đôi mắt của kẻ tình si” (Kant). Người chồng yêu vợ như thế quả là hiếm có trong một xã hội vốn khắt khe với những chuẩn mực nặng nề, những quy tắc cứng nhắc. Không những thế, đó chính là sự điều chỉnh hành vi của người bình dân bởi lẽ không người phụ nữ nào lại muốn giữ những nét xấu trong mắt chồng. Cười vui là thế nhưng cũng có ý nghĩa cảnh tỉnh nhẹ nhàng cho việc giữ gìn hạnh phúc. Bởi lã chồng yêu thì hạnh phúc nhưng chồng ghét, thì là tai họa, là tan vỡ.        Tiếng cười dân gian trong ca dao quả thật đã chứa đựng nghệ thuật sống của người bình dân ngày xưa. Tiếng cười ấy phản chiếu tinh thần của những người lao động luôn biết vượt lên hoàn cảnh, những bất công ngang trái, những khó khăn thực tại để lạc quan yêu đời. Tiếng cười ấy là sức sống tâm hồn khỏe khoắn của những con người luôn ý thức giá trị bản thân, luôn mong muốn cuộc sống tốt đẹp công bằng. Trích:loigiaihay.com
Xem thêm

3 Đọc thêm