CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI AN TOÀN SAU KHI SINH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI AN TOÀN SAU KHI SINH":

Đánh giá tình hình sử dụng biện pháp tránh thai của các phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại khoa sản Bệnh viên Trung ương Huế

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TRÁNH THAI CỦA CÁC PHỤ NỮ TRONG ĐỘ TUỔI SINH ĐẺ TẠI KHOA SẢN BỆNH VIÊN TRUNG ƯƠNG HUẾ

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chúng ta đang đứng trước những thách thức về sự phát triển dân số, vào lúc này tương lai là mối quan tâm và trách nhiệm của mỗi chúng ta. Tương lai là vì cuộc sống của mỗi con người – cuộc sống và cái chết, các quan hệ cá nhân, hạnh phúc và nỗi đau khổ của mỗi con người.
Phụ nữ là cốt lõi của sự phát triển kinh tế và xã hội. Sức khỏe và cuộc sống của họ có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân, gia đình và cộng đồng. Hơn nữa, sức khỏe và đời sống của phụ nữ là yếu tố cơ bản cho thế hệ tương lai, phụ nữ nắm giữ chức năng của sự sống là sinh đẻ và nuôi dạy con cái chúng ta. Chúng ta vẫn chưa chú ý đầy đủ để đảm bảo rằng họ có thể thực hiện những việc này một cách an toàn.
Trong Hội nghị về Dân số và phát triển của Liên hiệp quốc tại Cairo, Ai Cập năm 1994 đã định nghĩa sức khỏe sinh sản như sau:
“Sức khỏe sinh sản là sự toàn diện, thoải mái không chỉ về thể chất, tinh thần, mà còn cả về xã hội. Đây không chỉ là tình trạng bộ máy sinh sản không có bệnh tật, không bị bất lực mà còn là tiến trình hoạt động của bộ máy này với đầy đủ chức năng. Do đó, sức khỏe sinh sản cũng có nghĩa là con người cũng có thể sinh hoạt tình dục tự do và an toàn, tự do quyết định khi nào có con và khoảng cách giữa các lần sinh.
Điều này cũng có nghĩa là tất cả mọi người, nam cũng như nữ, có quyền nhận được thông tin về các biện pháp tránh thai an toàn và hữu hiệu, có thể chấp nhận các biện pháp, có quyền tiếp cận các dịch vụ y tế, đảm bảo cho người phụ nữ bảo có thai và sanh đẻ an toàn, và cho những cặp vợ chồng cơ hội tốt nhất để có những đứa con khỏe mạnh với một khởi đầu tốt đẹp cho sự phát triển tinh thần và thể chất”.
Để thực hiện được yêu cầu đó ngoài công tác giáo dục về nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản, về mặt chuyên môn phải tiến hành đồng thời 2 việc:
- Vận động mọi cặp vợ trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết thai ngoài kế hoạch.
Vì vậy nhằm góp phần đạt được mục tiêu chiến lược chung về dân số kế hoạch hóa gia đình chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá tình hình sử dụng biện pháp tránh thai của các phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại khoa sản Bệnh viên Trung ương Huế” với mục tiêu:
* Tìm hiểu tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai của các phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
Xem thêm

33 Đọc thêm

BÀI THUYẾT TRÌNH CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI

BÀI THUYẾT TRÌNH CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI

1. Viên phối hợp:
Cơ chế chính: Ức chế rụng trứng
+ Sử dụng E và P liên tục liều cao gây phản hồi âm, ức chế vùng dưới đồi và tuyến yên, làm giảm bài tiết FSH và LH, không có đỉnh LH, buồng trứng ở trạng thái nghỉ  ngăn không rụng trứng
+ Khi ngừng thuốc hoạt động buồng trứng và nội tiết phục hồi dễ dàng nên người phụ nữ nhanh chóng có thai trở lại
Cơ chế phụ:
+ Ngăn cản tinh trùng di chuyển vào CTC: do P làm dịch nhày CTC đặc và dính tạo màng vật lý ngăn cản sự di chuyển của tinh trùng vào CTC
+ Ngăn cản trứng làm tổ: P làm teo niêm mạc tử cung nên không thuận lợi cho sự làm tổ của trứng thụ tinh
Ưu điểm:
Bảo vệ chống lại ung thư buồng trứng và ung thư nội mạc tử cung, u nang buồng trứng, u vú lành tính, mang thai lạc, và một số dạng nhất định của các bệnh viêm vùng chậu.
Làm giảm nguy cơ bị viêm khớp; loại bỏ mụn; và làm giảm lượng kinh, các thay đổi đổi tâm tính, sự căng thẳng và chứng chuột rút liên quan đến hội chứng tiền kinh nguyệt.
Tỷ lệ thất bại trong việc phòng tránh thai là 3%.
Nhược điểm:
+ Hoạt động của estrogen và progesterone có thể dẫn đến các biến chứng: mất kinh hay ra máu kinh rất ít, ra máu giữa hai kỳ kinh, buồn nôn, ngực lớn hơn hoặc mềm, thay đổi tâm tính bao gồm cả trầm cảm.
+ Ít hơn 5% những người sử dụng thuốc tránh thai sẽ phát triển bệnh cao huyết áp.
=> Vì vậy bạn nên đi khám phụ khoa để được tư vấn trước khi dùng
Xem thêm

35 Đọc thêm

CƠ SỞ KHOA HỌC CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI

CƠ SỞ KHOA HỌC CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI

NHÓM 2I . Ý nghĩa của việc tránh thaiTheo dự đoán, dân số Việt Namsẽ tăng đến năm 2020 là104,722 triệu người.SỨC ÉP ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG- Mỗi cặp vợ chồng chỉ nên sinh từ 1 – 2 con, khoảngcách 2 lần sinh từ 3 – 5 năm.- Khôngsinh con quá sớm ( trước 20 tuổi ), không đẻdày (mỗi năm sinh 1 con), đẻ nhiều (5 năm sinh 5 con)...Gia đình ấm no, hạnh phúcI . Ý nghĩa của việc tránh thai- Trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình: đảm bảosức khỏe cho người mẹ và chất lượng cuộc sống.- Đối với HS tuổi vị thành niên: không có con sớm vì sẽảnh hưởng tới sức khỏe, học tập và tinh thần.II. Những nguy cơ khi có thai ở tuổi vị thành niên
Xem thêm

30 Đọc thêm

Nghiên cứu sự hiểu biết và sử dụng các biện pháp tránh thai ở phụ nữ dân tộc Rai tại xã Hàm Cần và Mỹ Thạnh, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận

NGHIÊN CỨU SỰ HIỂU BIẾT VÀ SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI Ở PHỤ NỮ DÂN TỘC RAI TẠI XÃ HÀM CẦN VÀ MỸ THẠNH, HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay tình hình dân số trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng hết sức phức tạp và nóng bỏng, tỷ lệ phát triển dân số ở các nước đang phát triển vẫn còn cao trong đó có Việt Nam.
Tình hình tăng dân số là vấn đề cả thế giới quan tâm và cũng là vấn đề nóng bỏng của nhân loại, đặc biệt là các nước đang phát triển và kém phát triển. điều này buộc toàn nhân loại xích lại gần nhau để cùng suy nghĩ cùng hành động nhằm hạn chế sự gia tăng dân số tiến tới ổn định quy mô dân số, đảm bảo sự phát triển bền vững ở mỗi quốc gia và ở cả hành tinh [27], [29].
Kế hoạch hóa sự phát triển dân số đang là nhiệm vụ hàng đầu và một trong những nội dung của nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nhiều nước trên thế giới [28].
Qua tình hình phát triển dân số thế giới ta thấy tỉ lệ phát triển dân số rất nhanh qua các thời kỳ: Thời gian ngày càng ngắn lại mà dân số thế giới lại tăng nhanh chứng tỏ tỉ lệ phát triển dân số vẫn còn cao.
Nước ta, cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác, tỷ lệ phát triển dân số còn cao, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, dưới mức nghèo khổ theo tiêu chuẩn quốc tế [28]. Thực tế cho thấy một đất nước chỉ tìm cách giải quyết vấn đề dân số mà kinh tế - xã hội không phát triển hoặc phát triển kém thì chất lượng cuộc sống người dân sẽ không được nâng cao. Ngược lại, nền kinh tế phát triển mà dân số vẫn tăng cao thì thu nhập bình quân đầu người cũng không thể tăng được. Công tác dân số là bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những yếu tố cơ bản nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội góp phần thực hiện công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước [9], [11], [15].
Đảng và Nhà nước ta sớm nhận thức được sự gia tăng dân số quá nhanh đã ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Nghị quyết Trung ương IV khóa 7 đã chỉ rõ: “Sự gia tăng dân số quá nhanh là dân trong những nguyên nhân sâu xa kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cản trở việc cải thiện đời sống cho nhân dân và nâng cao chất lượng giống nòi” [12], [14].
Ở Việt Nam, chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình được bắt đầu từ những năm 1960 – 1961. Qua các thời kỳ được đánh dấu bằng các văn bản của Nhà nước. Mục tiêu của chính sách dân số mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con, tiến tới ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỷ 21và một trong các giải pháp cụ thể đó là dịch vụ kế hoạch hóa gia đình có ý nghĩa quyết định, đảm bảo kịp thời đầy đủ và đa dạng hoá các biện pháp tránh thai nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng các biện pháp tránh thai ở phụ nữ trong diện tuổi sinh đẻ, đặc biệt là các biện pháp tránh thai hiện đại đảm bảo mục tiêu giảm sinh [10], [13].
Nhà nước Việt Nam đã cho ra đời pháp lệnh về dân số 2003 số 03/ 2003 PL- UBTVQH 11 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 9 tháng 1 năm 2003 về dân số có hiệu lực từ ngày 1/5/2003.
Xuất phát từ khó khăn trên, yêu cầu thực hiện giảm không sinh con thứ 3. Chị em phụ nữ trong diện tuổi sinh đẻ và đặc biệt phụ nữ người dân tộc thiểu số nên chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu sự hiểu biết và sử dụng các biện pháp tránh thai ở phụ nữ dân tộc Rai tại xã Hàm Cần và Mỹ Thạnh, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận” với mục tiêu:
1. Mô tả kiến thức về các biện pháp tránh thai của phụ nữ dân tộc thiểu số(dân tộc Rai) tại hai xã Hàm Cần và Mỹ Thạnh, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
2. Xác định tỉ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai và các yếu tố liên quan của phụ nữ dân tộc thiểu số (dân tộc Rai) tại hai xã Hàm Cần và Mỹ Thạnh, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
Xem thêm

48 Đọc thêm

Nghiên cứu tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại và kiến thức, thái độ, thực hành về kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI HIỆN ĐẠI VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG TRONG ĐỘ TUỔI SINH ĐẺ

Nghiên cứu tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại và kiến thức, thái độ, thực hành về kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại xã cam nghĩa, huyện cam lộ, tỉnh quảng trị

70 Đọc thêm

Nghiên cứu kiến thức và thực hành về các biện pháp tránh thai của phụ nữ đến phá thai không mong muốn tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương, năm 2009”

NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI CỦA PHỤ NỮ ĐẾN PHÁ THAI KHÔNG MONG MUỐN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG, NĂM 2009”

ðẶT VẤN ðỀ
Hiện nay, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai trên thế giới đã tăng lên
đáng kể. Tuy nhiên, theo quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), tình trạng phá
thai vẫn đang gia tăng một cách nhanh chóng trên toàn thế giới: năm 1990 có 26
triệu trường hợp, năm 1995 có hơn 40 triệu trường hợp và đến năm 2000 đã có
50 triệu trường hợp phá thai (dẫn theo [10]).
Việt Nam là quốc gia được xếp trong các nước có tỷ lệ phá thai cao trên
thế giới nói chung và khu vực ðông Nam Á nói riêng. Tỷ lệ phá thai/tổng số đẻ
chung toàn quốc là 52%, tỷ lệ phá thai là 83/1000 phụ nữ trong độ tuổi sinh sản
và tỷ suất phá thai là 2,5 lần/phụ nữ [14].
Theo thống kê của Bộ Y tế, năm 2003 cả nước có 540.377 trường hợp phá
thai. Tuy nhiên, con số thực tế trong cộng đồng còn cao hơn rất nhiều vì phải có
đến 1/2 đến 1/3 các trường hợp phá thai không kiểm soát và thống kê được vì họ
đến phá thai tại các cơ sở y tế tư nhân.
Nguyên nhân làm tỷ lệ phá thai gia tăng trước hết do hàng nghìn nam giới
và nữ giới không tiếp cận được những thông tin cần thiết hoặc không có đầy đủ
thông tin về các biện pháp tránh thai giúp họ tránh thai một cách hiệu quả. ðiều
đó làm cho họ giảm niềm tin vào các biện pháp tránh thai, dẫn đến tránh thai thất
bại hoặc không sử dụng. Hơn nữa, không một biện pháp tránh thai nào đạt hiệu
quả 100%. ðể giảm được tỷ lệ phá thai, cần nâng cao kiến thức của người dân về các
biện pháp tránh thai. Từ đó giúp họ có niềm tin và sử dụng các biện pháp tránh
thai hiệu quả. Tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương- bệnh viện đầu ngành về Sản phụ
khoa và Kế hoạch hóa gia đình tại miền Bắc và cũng là cơ sở dịch vụ phá thai
lớn tại Hà Nội- trong vòng 6 tháng (3- 8/2001) có 2.344 trường hợp phá thai
[13]. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại Bệnh viện nhằm có cái nhìn đầy
đủ hơn về kiến thức và thực hành về các biện pháp tránh thai của những phụ nữ
đến phá thai. Từ đó có biện pháp tiếp cận về kế hoạch hóa gia đình tốt hơn nhằm
giảm bớt tỷ lệ thai ngoài ý muốn và tỷ lệ nạo phá thai.
Chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu kiến thức và thực hành về các
biện pháp tránh thai của phụ nữ đến phá thai không mong muốn tại Bệnh
viện Phụ sản Trung Ương, năm 2009”
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành về các biện pháp tránh thai
của phụ nữ đến phá thai không mong muốn tại Bệnh viện phụ sản Trung ương,
từ tháng 03/2009 đến hết tháng 07/2009.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của phụ
nữ phá thai không mong muốn về các biện pháp tránh thai.
Xem thêm

116 Đọc thêm

BIỆN PHÁP TRÁNH THAI VÀ TÒA CÁO GIẢI

BIỆN PHÁP TRÁNH THAI VÀ TÒA CÁO GIẢI

Biện Pháp Tránh Thai và Tòa Cáo GiảiNhiều người “chuyên nghiệp” trong việc tiết chế và sử dụng các biện pháptránh thai (đa số là người Công giáo) sẽ nói rằng “Đừng làm ‘chuyện ấy’,nhưng nếu làm thì hãy dùng biện pháp tránh thai”, vì mang thai ở tuổi thiếuniên là sự nhục nhã. Họ nói rằng cách đó khá hiệu quả, và họ còn cho rằng“có làm tình thì cũng chẳng sao”.Nhiều người vẫn đều đặn xưng tộihằng tháng. Họ cho linh mục biết vợ chồng họ đã ly thân, lười biếng, kiêu ngạo,ham muốn. Họ nói: “Đừng phạm tội”, rồi biện hộ: “Trong sự khôn ngoan, Giáohội biết chúng ta sẽ vẫn phạm tội, thế nên Giáo hội cho chúng ta bí tích Hòa giải”.Nghĩa là: “Đừng phạm tội, nhưng nếu phạm tội thì cứ đi xưng tội là được” – nhưvậy, về thực tế, việc xưng tội chẳng khác gì “dùng bao cao-su”.Nếu chúng ta đang coi việc xưng tội là như vậy, chúng ta hoàn toàn sai lầm. Mụcđích của việc dùng bao cao su là để giảm hậu quả; mục đích của việc xưng tội làthay đổi cách xử sự và đổi mới tâm hồn. Hoàn toàn khác nhau.Lưu ý: Đối với các bí tích khác, hoặc đối với bất kỳ người Công giáo nào, thực tếcủa vấn đề rất sâu xa và thâm thúy, thế nên đối với những người phản đối cũngvậy. Nhưng chúng ta hãy cố gắng hiểu rõ vấn đề.Nếu bạn thực sự không muốn thay đổi các cư xử và bắt tâm hồn chúng ta biến đổi,chúng ta sẽ mất những gì Thiên Chúa trao ban cho chúng ta qua bí tích. Dùng baocao-su là cho rằng thiếu niên không chịu trách nhiệm. Xưng tội là không chịukhước từ sự vĩ đại.ĐGH Bênêđictô XVI nói: “Những cách của Thiên Chúa không dễ dãi. Chúng takhông được tạo nên để sống thoải mái, mà để sống vĩ đại. Thế giới cần những conngười vĩ đại, những thánh nhân, vậy tại sao chúng ta lại không sống như vậy?Làm sao xưng tội tốt? Trước khi xưng tội, hãy xét mình kỹ lưỡng. Sau khi xétmình, hãy nghiêm túc nghĩ về tình trạng của mình. Bạn có thực sự buồn vì điều sailầm mình đã làm? Hãy cân nhắc xem cuộc sống sẽ thay đổi thế nào nếu bạn làm
Xem thêm

3 Đọc thêm

Các biện pháp tránh thai

CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI

1. Các phương pháp tránh thai dùng cho nam giới sau đây, phương pháp nào có tác dụng ngừa thai cao nhấtA)Thắt và cắt ống dẫn tinh B)Giao hợp gián đoạnC)Bao cao su D) Các phương pháp có tác dụng như nhau2. Cơ chế tránh thai của viên thuốc ngừa thai loại phối hợp là:A)ức chế rụng trứng và làm đặc chất nhầy cổ tử cung B)gây phản ứng viêm tại nội mạc tử cungC)tăng nhu động của vòi trứngD)diệt tinh trùng và trứng3. Chống chỉ định đặt vòng tránh thai nào sau đây SAI:A)rong kinh, rong huyết chưa rõ nguyên nhânB)viêm cổ tử cung do Clamydia raginalisC)tiền sử thai ngoài tử cungD)bệnh béo phì
Xem thêm

38 Đọc thêm

BÀI 63 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦACÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI

BÀI 63 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦACÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI

cuộc sống sau này.HẬU QUẢ VIỆC CÓ THAI NGOÀI Ý MUỐN:* VỀ SỨC KHỎE-Trẻ vị thành niên nữ chưa phát triển toàn diện về thể chất,xương chậu nhỏ, gây đẻ khó, con bị ngạt, dễ bị mất máu,nhiễm trùng hoặc gây tử vong cho mẹ hoặc con, đôi khi cảhai.- Nguy cơ sẩy thai, đẻ non, nhiễm độc thai nghén, ảnhhưởng đến tính mạng- Con của các bà mẹ vị thành niên thường thiếu cân, khónuôi, dễ tử vong.- Nạo phá thai gây ra tổn thương thể xác lẫn tinh thần. Nếuphá thai to có thể dẫn đến nguy cơ tử vong hoặc để lạinhững hậu quả nghiêm trọng: thủng tử cung, vô sinh vĩnhviễn ……- Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi hoặc vứt ở nơi hoang vắng, trongthùng rác,thả trôi sông…rất đáng thương.BÀI 63: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦACÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAII – Ý nghĩa của việc tránh thaiII – Những nguy cơ khi có thai ở tuổi vị thành niên-Mang thai ở tuổi này có nguy cơ tử vong cao vì:+ Dễ sẩy thai, đẻ non.+ Con sinh ra thường nhẹ cân, dễ tử vong.-Có nguy cơ phải bỏ học, ảnh hưởng tới tiền đồ, sự nghiệp.-Nếu phải nạo phá thai dễ dẫn tới vô sinh vì dính tử cung, tắc vòitrứng, chửa ngoài dạ con.
Xem thêm

47 Đọc thêm

5 cách tránh thai tự nhiên

5 CÁCH TRÁNH THAI TỰ NHIÊN

5 biện pháp tránh thai tự nhiên hiệu quả, đơn giản5 biện pháp tránh thai tự nhiên hiệu quả, đơn giản5 biện pháp tránh thai tự nhiên hiệu quả, đơn giản5 biện pháp tránh thai tự nhiên hiệu quả, đơn giản5 biện pháp tránh thai tự nhiên hiệu quả, đơn giản5 biện pháp tránh thai tự nhiên hiệu quả, đơn giản5 biện pháp tránh thai tự nhiên hiệu quả, đơn giản

4 Đọc thêm

UỐNG THUỐC TRÁNH THAI HÀNG NGÀY VẪN “DÍNH” BẦU 3 THAI

UỐNG THUỐC TRÁNH THAI HÀNG NGÀY VẪN “DÍNH” BẦU 3 THAI

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Christie Fletcher, 22 tuổi, khẳng định tại thời điểm phát hiện có bầu cô vẫn uống thuốc tránh thai đều đặn. Mặc dù vậy các bác sĩ vẫn khẳng định cô đã mang bầu 3, thậm chí là 3 bé không chung trứng. Tỷ lệ này rất hiếm, chỉ chiếm 1/25.000 ca trên toàn thế giới. Trường hợp mang thai 3 đặc biệt này thường chỉ xảy ra khi có sự giúp đỡ của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Các bé trai Jorj, Isaac và Jac đã chào đời cách đây 4 tháng và tất cả đều khỏe mạnh bình thường.   Christie Fletcher có 3 thai khi vẫn sử dụng thuốc tránh thai.   3 em bé may mắn đều chào đời khỏe mạnh Mẹ Fletcher sinh sống tại Glyn Ceriog, Wrexham đã có một bé 2 tuổi trước khi cô và chồng nhận được thông tin cực sốc này. Fletcher cho biết: “Tôi đã rất ngạc nhiên khi biết mình mang thai lần nữa bởi tôi vẫn dùng thuốc tránh thai đều đặn. Và có trong mơ tôi cũng không bao giờ nghĩ rằng mình mang thai 3.” “Thậm chí khi mang thai Osian tôi cũng đang dùng thuốc tránh thai nhưng tôi nghĩ rằng thời gian đó tôi đã không cẩn thận nên mới để mang thai. Sau khi sinh bé đầu, tôi đã rất nghiêm túc trong việc uống thuốc tránh thai mỗi ngày theo chỉ dẫn của bác sĩ.”, bà mẹ 22 tuổi nói.     Hình ảnh bà mẹ trẻ khi mang bầu ba.   Vợ chồng cô vô cùng sốc khi bác sĩ thông báo họ tiếp tục có 3 con. Một ngày Fletcher cảm thấy trong người mình có vấn đề gì rất lạ, kinh nguyệt cũng không thấy xuất hiện như mọi tháng. “Tôi nhận thấy dấu hiệu mang thai như lần đầu tiên nhưng tôi đã tự nói với bản thân rằng tôi không thể mang thai bởi tôi vẫn uống thuốc tránh thai đều đặn.” Dù vậy, để yên tâm cô đã làm xét nghiệm và vô cùng bất ngờ trước kết quả có thai. Cặp vợ chồng này còn “sốc” hơn khi kết quả siêu âm thai cho thấy cô đang bầu bí 3 thai. Fletcher sinh 3 bé ở tháng thứ 8 thai kỳ và thật may mắn các bé đều khỏe mạnh bình thường.     Mới 22 tuổi nhưng mẹ Christie Fletcher đã có 4 đứa con. Nói về việc mang thai ngoài ý muốn khi vẫn sử dụng thuốc tránh thai đều đặn của mẹ Fletcher, tiến sĩ Surabhi Nanda, đại học phụ sản Liverpool cho biết: “Tỷ lệ có thai ngoài ý muốn khi sử dụng thuốc tránh thai chỉ chiếm 3%. Một số loại thuốc khác như thuốc động kinh hoặc kháng sinh có thể làm giảm hiệu quả ngừa thai của thuốc tránh thai. ” Hiện tại bà mẹ trẻ này đang phải xem xét để sử dụng đến các biện pháp tránh thai khác thay vì uống thuốc tránh thai hàng ngày.
Xem thêm

1 Đọc thêm

BÀI 47. ĐIỀU KHIỂN SINH SẢN Ở ĐỘNG VẬT VÀ SINH ĐẺ CÓ KẾ HOẠCH Ở NGƯỜI

BÀI 47. ĐIỀU KHIỂN SINH SẢN Ở ĐỘNG VẬT VÀ SINH ĐẺ CÓ KẾ HOẠCH Ở NGƯỜI

ĐIỀU KHIỂN SINH SẢN Ở ĐỘNGVẬT VÀ SINH ĐẺ CÓ KẾHOẠCH Ở NGƯỜITổ 3I. Điều khiển sinh sản ở động vật:II. Sinh đẻ có kế hoạch ở người:Tình hình dân số trên thế giới và Việt Nam:II. Sinh đẻ có kế hoạch ở người:1. Sinh đẻ có kế hoạch là gì?Số conSinh đẻcó kếhoạchThời điểm sinhKhoảng cách sinh conNâng cao chấtlượng cuộc sốngII. Sinh đẻ có kế hoạch ở người:2. Các biện pháp tránh thai:

15 Đọc thêm

Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ

NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LÀM MẸ AN TOÀN CỦA NAM GIỚI CÓ VỢ 15 – 49 TUỔI TẠI TỈNH PHÚ THỌ

ĐẶT VẤN ĐỀLàm mẹ an toàn (LMAT) có nghĩa là tất cả phụ nữ đều được nhận sự chǎm sóc cần thiết để được hoàn toàn khỏe mạnh trong suốt thời gian mangthai, sinh đẻ và sau đẻ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) để đảm bảo an toàn cho mẹ và con trong quá trình mang thai và sinh, người phụ nữ phải được cán bộ y tế có trình độ chuyên môn chăm sóc và theo dõi. Nhưng việc này có được thực hiện hay không, phụ thuộc vào hoàn cảnh chung của địa phương, hoàn cảnh của mỗi cá nhân, thói quen, quan niệm của họ và đặc biệt là do người chồng hoặc gia đình chồng quyết định. Nếu người chồng cho là mang thai sinh nở là chuyện bình thường của phụ nữ, không cần phải đi khám thì chính định kiến giới này sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và con. Trên Thế giới mỗi năm có khoảng hơn 350.000 ca tử vong mẹ do thai nghén và sinh đẻ, phần lớn trong số này xảy ra ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam 54. Những nghiên cứu về tử vong mẹ tại Việt Nam gần đây cho thấy tử vong mẹ trên toàn quốc cao hơn so với các báo cáo hoặc ước tính chính thức (là 160100 000 tại nghiên cứu điều tra tử vong mẹ của Bộ Y tế năm 2002, so với mức 90100 000 theo công bố của UNICEF và TCYTTG) và 69100.000 trẻ sinh sống. Tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, nơi tập trung nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống, dân trí thấp, tỷ lệ sinh cao, điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn, tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong sơ sinh vẫn duy trì ở mức cao. Ước tính tử lệ tử vong mẹ là 178100 000 ca sinh sống ở các tỉnh Tây Nguyên và miền núi phía Bắc 5, 6, 11, 14.Nguyên nhân tử vong mẹ được xác định là 7580% do các biến chứng và bệnh nhiễm trùng xảy ra trong quá trình mang thai 27. Tuy nhiên, hầu hết các trường hợp tử vong mẹ đều có thể tránh được bằng cách chăm sóc sức khỏe mẹ tốt hơn, đặc biệt trong thời kỳ mang thai, sinh con và sau sinh 20.Theo báo cáo điều tra ban đầu về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh do Quỹ Dân số Liên hiệp quốc(UNFPA) tài trợ năm 2005, tại tỉnh Phú Thọ tỷ lệ phụ nữ khám thai đủ 3 lần đạt 91,6%. Tuy nhiên vẫn còn 4,1% phụ nữ sinh con tại nhà và 1,2% phụ nữ sinh con không có cán bộ y tế đỡ mà là chồng và người nhà đỡ 25. Do vậy việc có kiến thức về làm mẹ an toàn cho nam giới có vợ trong độ tuổi sinh đẻ là rất quan trọng.Hiện nay tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới (chỉ có duy nhất 1 nghiên cứu ở 7 tỉnhdo UNFPA tài trợ năm 2005). Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chưa phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới.Xuất phát từ những lý do nêu trên chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “Nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 – 49 tuổi tại tỉnh Phú Thọ” với các mục tiêu sau:1. Mô tả kiến thức và một số thực hành về làm mẹ an toàn của nam giới có vợ 15 49 tuổi có con nhỏ dưới 2 tuổi tại tỉnh Phú Thọ năm 2010 2011.2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn của đối tượng trên.
Xem thêm

89 Đọc thêm

Nghiên cứu rám má trên phụ nữ có thai và một số biện pháp can thiệp

NGHIÊN CỨU RÁM MÁ TRÊN PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rám má hay nám má (melasma) là một bệnh lý da lành tính, thể hiện bằng những đốm nâu, đen hoặc đen nâu, có kích thước bằng hạt đậu xanh, khu trú ở má nhất là hai gò má. Những đốm này xuất hiện do tăng hắc tố (melanin). Bệnh thường gặp ở phụ nữ mang thai 3 tháng đầu, người dùng thuốc tránh thai, bị bệnh phụ khoa và những người ở tuổi mạn kinh, tiền mạn kinh. Rám má không gây nguy hiểm đến tính mạng, tuy nhiên khi rám má lan rộng và tiến triển dai dẳng thì có thể gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ, thậm chí đến chất lượng cuộc sống, nhất là ở những người trẻ, hoặc những người có công việc đòi hỏi giao tiếp nhiều.
Rám má có cơ chế bệnh sinh phức tạp. Các yếu tố liên quan đến rám má là di truyền, ánh nắng mặt trời (ANMT), nội tiết tố, sử dụng một số thuốc hoặc mỹ phẩm… , trong đó sự thay đổi nội tiết tố là nguyên nhân gây rám má được nói tới nhiều nhất. Hiện tượng tăng các nội tiết tố estrogen và progesterone trong thời kỳ mang thai được cho là căn nguyên chính gây rám má cho phụ nữ trong giai đoạn đặc biệt này. Tỉ lệ rám má trên phụ nữ mang thai rất thay đổi, có thể chiếm đến
50% [1] – 70% [2]. Nghiên cứu tại Iran, Pakistan, nam Brazil và Pháp cho thấy tỉ lệ phụ nữ mang thai bị rám má là 5-46% [3], [4], [5], [6]. Nghiên cứu của Hoàng Văn Minh và cs tại Tp HCM vào năm 2003 thì tỉ lệ này là 8.77% [7].
Rám má xuất hiện trong thời gian mang thai có thể thoái triển sau sanh một cách tự phát, trong đó 70% trường hợp biến mất hoàn toàn trong vòng một năm sau sinh. Tuy nhiên 1/3 trường hợp rám má có thể kéo dài trong nhiều năm sau đó mà không rõ căn nguyên. Nhiều nghiên cứu cho thấy trong suốt thời kỳ thai nghén, đặc biệt là trong 3 tháng cuối, nồng độ estrogen và progesterone tăng cao trong máu đã kích thích các tế bào hắc tố (melanocytes) tăng tổng hợp hắc tố (melamin). Sự gia tăng đáng kể của nội tiết tố kích thích tế bào hắc tố (MSH – Melanocyte Stimulating Hormone) trong 3 tháng giữa đến 3 tháng cuối của thời kỳ mang thai [8] cũng là yếu tố kích thích tăng tổng hợp hắc tố đáng kể. Ngoài ra, các yếu tố khác có liên quan đến sự thay đổi nội tiết tố như dùng thuốc ngừa thai, trị liệu thay thế bằng progesterone, rối loạn chức năng buồng trứng hoặc


tuyến giáp, u buồng trứng… cũng được đề cập đến như là yếu tố sinh bệnh học

của hiện tượng rối loạn hắc tố này.

Cho đến nay, điều trị rám má vẫn còn nhiều hạn chế. Để điều trị rám má có hiệu quả cần sự kết hợp của 3 yếu tố chống nắng - tẩy rám - loại bỏ yếu tố nguyên nhân. Các biện pháp điều trị rám má được nghiên cứu và ứng dụng nhiều trên đối tượng không mang thai bao gồm phương pháp tẩy rám cổ điển bằng bôi hydroquinone, vitamin A acid (retinoids), uống các vitamin… hay hiện đại hơn như laser, ánh sáng trị liệu, tế bào gốc… đã mang lại một số kết quả khả quan. Tuy nhiên không phải tất cả các biện pháp này đều áp dụng được trên phụ nữ mang thai. Với đối tượng này, các phương pháp điều trị đòi hỏi mang tính hiệu quả, đồng thời đảm bảo an toàn cho bà mẹ và thai nhi. Vì vậy các phương pháp thường được chọn lựa chủ yếu là chống nắng cơ học (mang khẩu trang đúng cách), kem bôi chống nắng, thuốc bôi azelaic acid, vitamin C, thảo dược.
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, các yếu tố khởi phát hoặc những yếu tố làm nặng tình trạng rám má ở phụ nữ mang thai. Tuy nhiên các nghiên cứu xem xét sự thay đổi nội tiết tố trong thai kỳ có liên quan đến rám má thì rất ít. Đặc biệt chỉ có một nghiên cứu can thiệp phòng ngừa sự phát triển rám má trên phụ nữ mang thai bằng kem chống nắng phổ rộng, được thực hiện tại Ma-rốc [9] và hầu như không có các nghiên cứu can thiệp để tẩy rám má ở phụ nữ mang thai. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào liên quan đến rám má trên phụ nữ mang thai, cũng như các biện pháp can thiệp rám má trên đối tượng này. Vì thế chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu rám má trên phụ nữ có thai và một số biện pháp can thiệp” nhằm:
1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến rám má trên phụ

nữ có thai tại tại Bệnh viện Đại Học Y Dược, cơ sở 4, từ 02/2011- 03/2013.

2. Xác định nồng độ nội tiết tố estradiol, progesterone và mối liên quan với

lâm sàng rám má ở phụ nữ mang thai.

3. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp trên rám má ở phụ nữ

mang thai.
Xem thêm

165 Đọc thêm

Hậu quả tai hại chẳng ai mong sau sinh mổ

HẬU QUẢ TAI HẠI CHẲNG AI MONG SAU SINH MỔ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Theo số liệu thống kê, số lượng các mẹ trẻ chọn đẻ mổ đang ngày càng gia tăng. Nguyên nhân được cho là do tâm lý các mẹ trẻ sợ đau đẻ, sợ ảnh hưởng đến "vùng kín" sau sinh nở. Đúng là đẻ mổ mang lại khá nhiều lợi ích như giúp hạn chế kéo dài thời gian đau đẻ, giúp mẹ chủ động trong ca sinh nở, tỉnh táo suốt hành trình con chào đời và đặc biệt "vùng kín" không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, mẹ đừng vì thế mà vội vàng quyết định đẻ mổ bởi bên cạnh những ưu điểm, đẻ mổ cũng để lại khá nhiều hậu quả mà không ai mong muốn: Tác động xấu đến tình cảm mẹ - con Các nhà nghiên cứu Mỹ đã phát hiện ra rằng, não người mẹ sẽ nhạy cảm hơn với tiếng khóc của trẻ sơ sinh khi bé chào đời bằng phương pháp đẻ thường. Ngoài ra, khi sinh thường cổ tử cung mở, cơ thể sản xuất hormone sẽ tăng cường cảm xúc của người mẹ với em bé. Nghiên cứu cũng cho hay, não mẹ có thể điều chỉnh các hoạt động và hành vi của cơ thể để có những bản năng chăm sóc con tốt nhất sau khi bé chào đời. Những mẹ đẻ mổ sẽ không có được điều này. Mổ lần mang thai sau Với những mẹ đã từng mổ lấy thai lần đầu thì nguy cơ phải mổ lần 2 lên đến 98%. Không chỉ có thế, với những  mẹ đã từng sinh mổ cũng sẽ phải chờ sau khoảng ít nhất 2-3 năm mới nên sinh em bé tiếp theo để tránh nhưng nguy cơ xấu có thể xảy ra. Mẹ sinh mổ còn mất nhiều thời gian để phục hồi sức khỏe, vết mổ dễ bị nhiễm trùng, dính ruột và sữa về muộn sau sinh.   Hầu hết các mẹ sinh mổ lần một đều sẽ phải sinh mổ trong những lần mang thai sau. (ảnh minh họa) Tử cung bị chấn thương nghiêm trọng Mổ lấy thai đứng đầu những nguy cơ khiến tử cung mẹ bị tổn thương nghiêm trọng. Phụ nữ mang thai thường lầm tưởng đẻ mổ sẽ bớt đau và giúp con thông minh hơn đẻ thường. Tuy nhiên, thực tế thì đẻ thường vẫn là tốt nhất. Bác sĩ chỉ chỉ định đẻ mổ khi sản phụ gặp bất trắc trong thai kỳ. Khi mổ lấy thai,  chị em sẽ phải chịu đựng những rủi ro từ việc gây mê, mất máu, nhiễm trùng và cả việc chọn các biện pháp tránh thai sau này. Để giảm tổn thương cho tử cung, mẹ nên ăn các sản phẩm từ đậu nành, uống trà xanh, bổ sung kích thích tố nữ… Những cách này còn giúp giảm nguy cơ bị ung thư nội mạc tử cung nữa. Bơi lội cũng là phương pháp rất có lợi cho tử cung, giúp tăng cường tuần hoàn máu, thúc đẩy trao đổi chất. Mẹ nên dành 2 giờ để bơi lội mỗi tuần. Vết sẹo xấu xí Vết sẹo từ ca mổ lấy thai sẽ không bao giờ biến mất trên bụng trong suốt cuộc đời bạn. Và vết mổ lần 2 sẽ còn xấu hơn lần 1 do da bụng bị trùng xuống. Lúc này, các mẹ thường đổ lỗi cho tay nghề bác sĩ nhưng thực tế không phải như vậy. Làm thế nào để vết mổ đẻ dễ nhìn hơn? Khi sinh mổ, mẹ cần chú ý tránh gây áp lực lên vết mổ bằng cách không ngồi nhiều và khi ngồi cho con bú thì nên ngồi thẳng lưng. Mẹ cũng có thể dùng khăn ấm để chườm lên vết mổ đẻ sau sinh khoảng 10 ngày để vết mổ không gây ngứa ngáy, khó chịu sau này.
Xem thêm

2 Đọc thêm

BẠO LỰC TRONG TÌNH YÊU SINH VIÊN

BẠO LỰC TRONG TÌNH YÊU SINH VIÊN

biến, và đáng ngại hơn là nó ngày càng lan rộng trở thành vấn đề nhức nhốicủa xã hội đồng thời cũng là tiếng chuông báo động về vấn đề bất bình đẳnggiới của Việt Nam.Một số nhà tâm lý học đã lên tiếng về vấn đề này. Theo thạc sĩ tâm lý ĐàoLê Hòa An, Hội Tâm lý học xã hội VN, yêu nhau mà đã sử dụng bạo lực, đólà lúc sự tôn trọng lẫn nhau đã không còn. Hành vi bạo lực ấy rất đáng lên ánvà cần bị loại bỏ. Hành vi này chứng tỏ sự yếu thế về lý lẽ và tình yêu chắcchắn sẽ bị rạn nứt. Việc đánh nhau giữa hai người bình thường đã khó chấpnhận huống hồ gì giữa hai người có danh nghĩa là yêu nhau. Còn chuyên giatâm lý Nguyễn Ngọc Duy, Trung tâm đào tạo và chăm sóc tinh thần Ý tưởngViệt, cho biết kết cục của “tình yêu bạo lực” đương nhiên không có gì tốtđẹp. Nó làm tổn thương cho cả hai người về thể chất cũng như tinh thần.Mối quan hệ đó sẽ không thể kéo dài hoặc đi đến kết cục tốt đẹp. Khôngnhững thế, còn dễ làm cho người trong cuộc bị sang chấn tâm lý hay nôm nalà một “vết thương lòng” để rồi họ có thể chán yêu, sợ yêu, thậm chí bị trầmcảm... Với những bạn trẻ lỡ gặp phải tình cảnh yêu bạo lực, cần được thamvấn và trị liệu tâm lý đúng cách để tránh những hệ lụy về sau. Thế nhưngnhững cặp đôi thừa nhận khi yêu nhau, việc mâu thuẫn là điều không thểtránh khỏi. Vì vậy cần có những biện pháp thiết thực hơn. Đừng bao giờ cốtình đẩy mâu thuẫn lên cao trào dẫn đến sự xuất hiện các hành vi bạo lực.“Chuyện bất hòa trong tình yêu là chuyện không thể tránh khỏi, là một gia vịkhông thể thiếu. Nhưng mỗi người hãy mềm mỏng một xíu, hy sinh một xíu,tỉnh táo một xíu để biến thứ gia vị này trở thành một gia vị có ích, giúp chotình yêu mặn hơn, đẹp hơn và trưởng thành hơn”Trên thựctế có không ít các trường hợp bạo lực tình yêu sinh viên không chỉvới các cặp sống thử mà cả những cắp yêu đương thông thường. Nạn nhânchủ yếu của bạo lực tình yêu sinh viên là các bạn sinh viên nữ, họ bị bạntình/người yêu của mình đánh đập, mắng chửi thậm tệ, cưỡng ép quan hệ
Xem thêm

13 Đọc thêm

Cách phát hiện thai dị tật mẹ không thể bỏ qua

CÁCH PHÁT HIỆN THAI DỊ TẬT MẸ KHÔNG THỂ BỎ QUA

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Ngày nay, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản ngày càng được nâng cao, các biện pháp chẩn đoán trước sinh phát triển. Vì vậy, các dị tật của thai nhi (kể cả những dị tật không nhìn thấy được bằng mắt thường) được phát hiện sớm (bệnh Down, song thai dính nhau, thai có khối u ở mặt cổ...). Ngoài ra, một số thông tin cũng chỉ ra rằng việc sử dụng một số hoá chất tổng hợp, chế độ dinh dưỡng không hợp lý cũng có thể gây nên các bất thường về cấu trúc và sự phát triển của thai. Vì vậy, để sinh ra một đứa trẻ khỏe mạnh, các bà mẹ cần phải đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được tư vấn về chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt và được quản lý thai có hệ thống. Những dị tật có thể được phát hiện sớm Bất thường về nhiễm sắc thể: Đây là những bất thường về di truyền (bệnh Down, hội chứng Turner...), những bất thường này thường để lại những hậu quả nặng nề cho cuộc sống sau này của đứa trẻ. Hiện nay, để phát hiện những bất thường này cần phải làm rất nhiều xét nghiệm sàng lọc như siêu âm sớm (đo độ dày da gáy thai lúc 12-14 tuần), xét nghiệm về máu (double tests, triple tests...), chọc dò nước ối... Bất thường về hệ thần kinh thai: Nhiều dị tật liên quan đến hệ thần kinh, có những dị tật có thể phát hiện được sớm trong 3 tháng đầu (thai vô sọ, não úng thủy, não lộn ngoài...), có những dị tật phát hiện muộn hơn như não nhỏ, bất thường về cấu trúc não... Các dị tật này có thể phát hiện được trong 3 tháng giữa của thai kỳ bằng siêu âm, xét nghiệm máu, chụp cộng hưởng từ. Ngày nay, nhiều nghiên cứu cho rằng việc dùng axít folic (vitamin B9) trước thời kỳ có thai khoảng 1-2 tháng sẽ làm giảm một số bất thường về ống thần kinh.   Chọc dò ối thường được thực hiện vào tuần thứ 16-18 của thai kỳ. (ảnh minh họa) Bất thường về hệ tim mạch: chiếm tỉ lệ 0,4-0,8% trẻ đẻ ra, thường được phát hiện vào 3 tháng giữa thời kỳ mang thai. Các dị tật về tim thường có tính chất gia đình, vì vậy, cần phải có thăm khám kỹ đối với những người có tiền sử gia đình và bản thân mắc bệnh. Những bệnh thường gặp là thông liên nhĩ, thông liên thất, còn ống động mạch, đảo gốc động mạch... Bất thường về xương: thường hay gặp chiếm khoảng 1% trẻ đẻ ra, nếu không phối hợp với các bất thường khác thì có thể điều trị được sau khi sinh. Ngoài ra, còn có thể phát hiện được rất nhiều các dị tật ở các cơ quan khác thông qua thăm khám và các sàng lọc trước sinh. Phòng tránh những dị tật này bằng cách nào? Theo thống kê, tỉ lệ thai mắc các dị tật chiếm khoảng 2 - 3% các trường hợp trẻ đẻ ra, tuy nhiên, phần lớn là các dị tật có thể điều trị được (sứt môi, hở hàm ếch, một số dị tật về tim, hệ tiêu hoá, xương khớp...). Với sự phát triển của khoa học ngày nay, chúng ta có thể phát hiện được nhiều dị tật rất sớm từ khi tuổi thai còn nhỏ và có thể điều trị được một số dị tật mà trước đây không can thiệp được. Điều này có thể giúp cho các thầy thuốc quyết định sớm cách xử trí đúng đắn để giảm thiểu các tai biến cho mẹ và con. Những phụ nữ trước khi chuẩn bị mang thai cần đi khám sức khỏe toàn diện, điều trị dứt điểm những bệnh đang mắc, cần được theo dõi chặt chẽ những bệnh mạn tính như tim mạch, hen, dị ứng... trong suốt quá trình mang thai và sau sinh. Nên tiêm phòng những loại bệnh dễ gây dị tật thai nhi như cúm, thủy đậu, Rubella 3 tháng trước khi có thai. Trong thời gian có thai, cần kiểm tra sức khỏe thai nghén định kỳ, nếu phát hiện những bất thường sẽ được tư vấn, nếu dị tật có thể điều trị được thì sau khi sinh cần được đưa trẻ đến các trung tâm phẫu thuật nhi để được điều trị sớm. Một yếu tố quan trọng nữa là những phụ nữ mang thai cần được ăn uống đầy đủ dưỡng chất, có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, tránh lao động quá sức, tránh stress.
Xem thêm

1 Đọc thêm

TOP 10 VIỆC CẦN LÀM TRONG THAI KỲ

TOP 10 VIỆC CẦN LÀM TRONG THAI KỲ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Khi bạn biết mình có bầu, chắc chắn cảm xúc của bạn đang rất lẫn lỗn. Vui có – đương nhiên – vì bạn đã được lên chức mẹ mà nhưng cũng không thể không lo lắng. Bạn lo rằng không biết sẽ phải chăm sóc thai kỳ thế nào, chế độ ăn uống ra sao để con phát triển tốt nhất… Chúng tôi sẽ mách các bạn những việc cần làm khi mang thai để chị em bớt lo lắng và có một thai kỳ hoàn hảo nhất. Bắt đầu bằng việc khám thai Ngay khi biết tin mình mang thai, bạn nên đi khám tại các bệnh viện chuyên khoa hoặc phòng khám sản uy tín càng sớm càng tốt. Nhiều mẹ có ý nghĩ để đến tuần thứ 7,8 đi khám thai mới biết được tim thai nhưng như thế là không nên. Việc đi khám thai sớm ngay sau khi thụ thai khoảng tuần thứ 4,5 sẽ cho bạn biết kết quả thai nhi đã làm tổ đúng chỗ chưa. Các mẹ cần biết rằng, 12 tuần đầu thai kỳ là thời gian quan trọng nhất để não thai nhi phát triển. Chính vì vậy ngoài việc đi khám thai, bạn cũng nên tham khảo ý kiến bác sĩ để có chế độ ăn uống lành mạnh, tốt cho bé nhất.   Ngay khi biết tin mình mang thai, bạn nên đi khám tại các bệnh viện chuyên khoa hoặc phòng khám sản uy tín càng sớm càng tốt. (ảnh minh họa) Hạn chế tiếp xúc hóa chất độc hại Một trong những điều vô cùng quan trọng trong thai kỳ là tránh xa các chất độc hại. Những hóa chất này đặc biệt nguy hiểm với sự phát triển của thai nhi bao gồm thuốc trừ sâu, chất tẩy rửa gia dụng, thuốc nhuộm tóc, mùi sơn… Chị em nên sử dụng các loại chất tẩy rửa hữu cơ hoặc chiết xuất từ tự nhiên để an toàn. Bạn cũng cần biết rằng, tắm nước nóng, xông hơi là rất hại cho thai nhi, vì vậy chị em cũng cần tránh để bé yêu được an toàn nhé! Bổ sung vitamin Bổ sung vitamin là điều cần thiết phải làm trước, trong và sau thời gian mang thai. Việc này không thể thay thế được một chế độ ăn uống lành mạnh bởi vì thông thường chị em không thể bổ sung đủ dưỡng chất cho 2 mẹ con nếu chỉ thông qua chế độ ăn uống. Bổ sung vitamin trước sinh giúp phụ nữ dung nạp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho một thai kỳ khỏe mạnh. Ngoài vitamin tổng hợp, chị em cần bổ sung các loại vitamin cụ thể theo từng giai đoạn mang thai. Trước và 3 tháng đầu mang thai, chị em cần uống thêm axit folic, từ tháng thứ 4,5 thai kỳ, bà bầu cần uống thêm sắt và canxi. Ngoài ra, axit béo omega 3 cũng rất quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển trí não thai nhi.   Bổ sung vitamin là điều cần thiết phải làm trước, trong và sau thời gian mang thai. (ảnh minh họa) Chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh Một chế độ ăn lành mạnh, cân bằng và bổ dưỡng là rất cần thiết để mẹ bầu khỏe mạnh và thai nhi phát triển tốt nhất. Chị em không nên kiêng khem quá mức mà nên ăn đa dạng các loại thực phẩm. Bạn chỉ cần nhớ không nên ăn đồ tái sống và đồ uống có chất kích thích. Ngoài ra, có một số thực phẩm cần tuyệt đối tránh trong thời gian mang bầu là cá có hàm lượng thủy ngân cao, pho mát chưa tiệt trùng và trứng tái sống.   Chị em bầu được khuyên là nên uống đủ 8 ly nước (2 lít) mỗi ngày và nên hạn chế tuyệt đối cà phê, trà và thuốc lá. Tránh hút thuốc, rượu và ma túy Tất cả các bác sĩ đều khuyến cáo chị em bầu không được sử dụng thuốc lá, rượu và đặc biệt là ma túy. Những tệ nạn này sẽ gây bất lợi rất lớn với thai nhi của bạn. Ngoài ra, mẹ bầu cũng không nên uống thuốc bừa bãi. Khi có bệnh cần phải đi khám và uống thuốc theo đơn bác sĩ. Nuông chiều bản thân Khi mang thai, chị em thường có cảm giác mệt mỏi, căng thẳng chính vì vậy việc nghỉ ngơi đầy đủ là vô cùng quan trọng. Mẹ bầu nên dành đủ 8 giờ để ngủ mỗi ngày. Ngoài ra, bạn cũng nên dành 30 phút ngủ trưa mỗi ngày để tinh thần được thoải mái nhất. Tập thể dục cũng là biện pháp giúp giải tỏa căng thẳng khi mang thai. Chị em nên chọn những bài tập nhẹ nhàng, phù hợp với sức khỏe bản thân. Ngoài ra, chị em bầu cũng nên tránh những hoạt động, suy nghĩ căng thẳng. Rất nhiều bằng chứng khoa học đã khẳng định mẹ bầu căng thẳng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và trí não của thai nhi. Vì vậy, tốt hơn cả hãy tự nuông chiều bản thân và bỏ qua mọi bực bội trong thời gian bầu bí để tốt cho con yêu bạn nhé.   Bà bầu nên tránh những hoạt động, suy nghĩ căng thẳng. (ảnh minh họa) Khám nha khoa Vệ sinh răng miệng là việc tưởng như không cần thiết nhưng lại vô cùng quan trọng trong thời gian mang thai. Rất nhiều bằng chứng khoa học đã chỉ ra rằng, sâu răng có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng sảy thai hoặc sinh non. Chính vì vậy, mẹ bầu nên khám nha khoa thường xuyên và đánh răng đều đặn ngày 2 lần. Nếu không chăm sóc cẩn thận, răng của bạn rất dễ bị đau hoặc viêm lợi nhất là vào những ngày trời lạnh. Lúc này bạn lại không được uống thuốc nên việc điều trị sẽ rất khó khăn đấy. Lên kế hoạch sinh nở Khi bạn có thai, đó là điều rất cần thiết để có một kế hoạch cụ thể cho tương lai đặc biệt là kế hoạch sinh con. Việc bạn cần làm là chọn bệnh viện để sinh nở, nhờ một bác sĩ có tay nghề cao và tham khảo các chế độ thai sản. Bạn cũng cần chuẩn bị một khoản tài chính nhất định cho việc sinh nở, chuẩn bị đồ đạc sẵn sàng cho mẹ và bé yêu đồng thời có kế hoạch ở nhà trông con hay thuê người giúp việc sau sinh nở. Có một kế hoạch chi tiết sẽ giúp chị em không bị bỡ ngỡ khi lần đầu làm mẹ.   Chị em cần học cách cho con bú, chăm sóc núi đôi để nhiều sữa sau sinh và cách duy trì nguồn sữa mẹ. (ảnh minh họa) Học cách cho con bú Các chuyên gia luôn khuyến cáo trẻ cần được bú sữa mẹ trong vòng 6 tháng đầu đời. Không có gì tốt và rẻ bằng sữa mẹ. Chính vì vậy bạn cần học cách cho con bú, chăm sóc núi đôi để nhiều sữa sau sinh và cách duy trì nguồn sữa mẹ. Nhờ sự hỗ trợ của gia đình Học hỏi kinh nghiệm từ mẹ, chị gái là rất hữu ích trong thời gian mang thai đấy bạn nhé. Hãy chia sẻ tất cả khó khăn, những vấn đề bạn đang băn khoăn với người thân của bạn và nhờ sự giúp đỡ. Họ cũng là nguồn động viên tinh thần rất lớn của bạn trong suốt quá trình bạn phải vật vã với chiếc “bao lô ngược” đấy. Sau khi sinh nở, sự trợ giúp của người thân trong gia đình càng vô cùng quan trọng. Vì vậy, chị em đừng ngần ngại nhờ vả nhé.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Mẹ "có kiêng", con "có lành"

MẸ "CÓ KIÊNG", CON "CÓ LÀNH"

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} 9 tháng mang thai khỏe mạnh, con yêu được phát triển tốt nhất đến ngày chào đời là niềm mong ước của tất cả các mẹ bầu. Để có được điều này, mẹ bầu cần tránh xa những lưu ý dưới đây: CẦN TRÁNH... - Cần hạn chế sinh hoạt tình dục, phòng gây nguy hiểm cho thai nhi. - Cần phòng tránh bệnh cảm cúm, vì nó có thể dẫn đến sảy thai, đẻ non hoặc thai lưu, làm cho thai nhi có các dị dạng khác nhau. - Cần phòng tránh lây nhiễm bệnh sởi. - Cần phòng tránh lây nhiễm đường tiết niệu, vì lây nhiễm đường tiết niệu sẽ dẫn đến đẻ non, sảy thai, thai nhi phát triển không tốt. - Cần tránh các thương tích bên ngoài. - Tránh bị chấn động, va chạm mạnh. - Tránh để cân nặng tăng quá nhanh. - Tránh để cơ thể quá mệt mỏi. - Tránh táo bón. - Tránh thiếu hụt nguyên tố vi lượng. - Tránh tiếp xúc với tia X quang và chất phóng xạ. - Tránh xa sự kích thích của tiếng ồn. - Tránh ăn thiên lệch các thức ăn để phòng ngừa sự thiếu hụt hoặc không đủ một chất dinh dưỡng nào đó.   9 tháng mang thai khỏe mạnh, con yêu được phát triển tốt nhất đến ngày chào đời là niềm mong ước của tất cả các mẹ bầu. (ảnh minh họa) KHÔNG NÊN... - Để bảo vệ an toàn cho bé, chống đẻ non, sảy thai, bà bầu không nên đi xe đạp lâu. - Khi đi ngủ không nên nằm ngửa mà nên nằm nghiêng về bên trái. - Không nên ăn nhiều đường, vì ăn nhiều đường sẽ dẫn đến bệnh đái đường và thai nhi quá to, làm tăng thêm sự nặng nề của người mẹ, dẫn đến khó sinh con. - Không nên chen lẫn ở chỗ đông người như: lên xe buýt, lễ hội. - Không nên đi bơi ở bể bởi công cộng để chống lây nhiễm các bệnh. - Không nên đi du lịch. - Không nên đi giầy cao gót. - Không nên đi máy bay chặng dài. - Không nên giấu tuổi thai nhi, tránh việc dự tính sai ngày sinh nở và có thể xảy ra sự cố. - Không nên làm công việc phải đứng lâu. - Không nên lạm dụng các loại vitamin. - Không nên lạm dụng dầu cá và viên canxi. - Không nên sử dụng thuốc nhuộm tóc. - Không nên tắm bằng bồn tắm. - Không nên tắm nước lạnh. - Không nên tắm nước nóng lâu. - Không nên thắt bụng, không được nịt chặt ngực. - Không nên thường xuyên xoa bóp đầu ti, tránh kích thích đầu ti, gây ra co thắt tử cung, dẫn đến sảy thai. - Không nên uống chè đặc và cà phê. - Không nên uống rượu, vì cồn có thể làm cho nhiễm sắc thể của thai nhi biến dạng, có thể làm cho thai nhi có dị dạng hoặc trí óc phát triển không tốt, cũng có thể dẫn đến sảy thai hoặc thai nhi chết. - Không nên xem ti vi trong thời gian dài. - Phụ nữ mang thai mắc bệnh vàng da, vàng mắt thì cần đi khám ngay và thực hiện một cách nghiêm ngặt những lời khuyên của bác sĩ chuyên khoa. KHÔNG... - Không chơi với động vật, đặc biệt là chó, mèo, tránh lây nhiễm giun, sán. - Không được hút thuốc lá. - Không được lạm dụng thuốc, đặc biệt là loại kháng sinh có hại cho thai và những loại thuốc khác ảnh hưởng tới sức khỏe của thai nhi qua cuống rốn. - Không được tham gia các hoạt động thể thao mạnh, tránh sảy thai. - Không được tự ý nạo thai, tránh ảnh hưởng đến sức khỏe, thậm chí gây nguy hiểm đến tính mạng.
Xem thêm

2 Đọc thêm