ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NHÂN Ở PHẠM VI XÃ HỘI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NHÂN Ở PHẠM VI XÃ HỘI":

Vấn đề xây dựng đạo đức kinh doanh ở việt nam hiện nay (qua thực tế ở hà nội

VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (QUA THỰC TẾ Ở HÀ NỘI

Đạo đức thương trường đã xuất hiện và được quan tâm nghiên cứu, xây dựng từ khi xuất hiện mầm mống thị trường trong xã hội loài người. Aristole triết gia Hi Lạp thời cổ đại đã đưa ra một số điều có thể coi là cơ sở của đạo đức kinh doanh thời hiện đại. Ông đã nêu ra ý tưởng rằng, nhiệm vụ chính của người thủ lĩnh không phải là gia tăng quyền lực của mình mà là tạo ra những điều kiện để tất cả mọi người dưới quyền mình có thể phát huy được năng lực ở mức độ cao nhất. Ngày nay, vấn đề đạo đức kinh doanh cũng đang được các học giả, những nhà kinh doanh, nhà quản lý, người tiêu dùng và toàn xã hội quan tâm. Người Mỹ đã sớm nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của đạo đức đối với công việc kinh doanh. Họ đã bỏ ra khá nhiều công sức và tiền bạc để nghiên cứu vấn đề này. Chỉ tính riêng trong năm 2000, theo Trung tâm vì một nền văn hoá kinh doanh có đạo đức, đã có tới 52 công trình nghiên cứu được xuất bản tại Mỹ viết về ảnh hưởng của đạo đức kinh doanh tới thu nhập tài chính của các công ty. Trong đó, đa số các công trình nghiên cứu (33 công trình) cho rằng, công ty có đạo đức sẽ dễ làm ăn phát đạt hơn. Ở Việt Nam, đạo đức kinh doanh là một vấn đề khá mới không những đối với các nhà kinh doanh mà với cả những người nghiên cứu về lĩnh vực này. Các vấn đề như: đạo đức kinh doanh, văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp, văn hoá công ty… mới chỉ nổi lên từ khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Trước đó, những vấn đề này ít được nhắc tới. Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO có nhiều phạm trù mới được xuất hiện như: quyền sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, thị trường chứng khoán, thị trường thương mại… và vì thế khái niệm đạo đức kinh doanh trở nên phổ biến hơn trong xã hội. Hiện nay, nền kinh tế đang chuyển sang vận hành theo thể chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, môi trường kinh doanh trở nên đa dạng và sôi động hơn. Hoạt động kinh doanh là những hành vi, những quyết định, cách ứng xử, nguyên tắc hoạt động của doanh nhân trên thương trường. Do vậy, đạo đức kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc định hướng, điều chỉnh hoạt động của các doanh nhân nhằm đảm bảo lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích của toàn xã hội, góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh và ổn định. Tuy nhiên, trong xã hội đang nảy sinh nhiều vấn đề đạo đức, cả trong lĩnh vực kinh doanh. Trong lĩnh vực hoạt động sản xuất và kinh doanh đang xuất hiện nhiều hiện tượng lừa đảo, kinh doanh bất chấp pháp luật như: buôn lậu, trốn thuế, làm hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, gian lận thương mại, lừa dối người tiêu dùng… Vì vậy, xây dựng đạo đức kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là vấn đề ngày càng nhận được sự quan tâm nhiều hơn của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, các doanh nghiệp, người tiêu dùng, nhiều tổ chức kinh tế xã hội ở các cấp các ngành, các lĩnh vực và của toàn xã hội. Từ mối quan tâm đó chúng tôi đã chọn đề tài “Vấn đề xây dựng đạo đức kinh doanh ở Việt Nam hiện nay (qua thực tế ở Hà Nội)” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.
Xem thêm

111 Đọc thêm

Vận dụng quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong việc xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Vận dụng quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong việc xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước Đảng ta luôn coi trọng yếu tố văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên. Văn hóa vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và là mục tiêu của chúng ta. Văn hóa đóng vai trò điều tiết tinh thần, góp phần đắc lực vào việc khai thác những nhân tố tích cực hạn chế nhân tố tiêu cực của mối quan hệ hàng hóa –tiền tệ trong xã hội, văn hóa giữ vai trò góp phần hình thành một con đường phát triển phù hợp với đặc điểm của dân tộc và xu hướng phát triển của thế giới. Gần đây các học giả quốc tế nghiên cứu hơn về các yếu tố thành công của các nước có nền công nghiệp mới trong phát triển trong khu vực Đông ÁĐông Nam Á .Sự thành công và năng động đó được xác nhận là sự bắt nguồn từ các yếu tố văn hóa truyền thống, trong đó tính cộng đồng, tính ý thức dân tộc thể hiện rất cao trong quan hệ kinh doanh: sự ham học hỏi, sáng tạo, tính nghiêm túc, kỉ luật cao trong công việc đã được nhấn mạnh và được coi là những nhân tố thúc đẩy quá trình tăng kinh tế bền vững, cân đối của những nước này. Và đặc biệt trong nền kinh tế thị trường kinh tế XHCN ở Việt Nam với rất nhiều các quan hệ kinh tế đan xen nhau bên cạnh mặt tích cực, đã xuất hiện mặt tiêu cực làm nảy sinh các hành vi kinh doanh thiếu đạo đứcphi văn hóa, chạy theo lợi nhuận ảnh hưởng đến văn hóa kinh doanh, đến các giá trị kinh doanh nền tảng của kinh tế thị trườnglàm cho các giá trị đó bị đảo lộn,đe dọa đến sư bất ổn cho hoạt động kinh tế,chính vì tính cấp thiết của sự xuống cấp thang giá trị đó. Xây dựng văn hóa kinh doanh vừa là mục tiêu,vừa là thách thức lớn đối với hầu hết các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam trong xu hướng gia nhập WTO và toàn cầu hóa hiện nay. Thách thức lớn nhất là nguy cơ tụt hậu, là hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh thấp.Hơn lúc nào hết chúng ta cần nhận thức rõ những hạn chế, bất cập trong văn hóa kinh doanh Việt Nam,từ đó tìm ra hướng đi cho các doanh nghiệp,doanh nhân văn hóa kinh doanh Việt Nam tiên tiến đạm đà bẳn sắc dân tộc, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam tiến tới tương lai.
Xem thêm

Đọc thêm

Tiểu luận quản trị học Đạo đức trong kinh doanh

Tiểu luận quản trị học Đạo đức trong kinh doanh

Phần mở đầu Đạo đức và trách nhiệm xã hội rõ ràng là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh. Nhưng thực tế lại cho thấy rằng những vấn đề này chưa được doanh nghiệp chú ý. Thật khó mà thuyết phục doanh nghiệp thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằng những luận cứ dựa trên lợi ích kinh tế trước mắt. Bác Hồ đã từng nói “ Một người có tài mà không có đức thì chẳng làm nên được chuyện gì; Còn một người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng không xong”. Là một sinh viên học về lĩnh vực kinh tế, thì đây là một vấn đề rất cần thiết để trang bị thêm vào hệ thống kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực quản trị kinh doanh sau này. Chính vì thế em đã lựa chọn đề tài “ Đạo đức trong kinh doanh”. Tiểu luận gồm 3 chương. Chương I: Lí luận về đạo đức kinh doanh. Chương II: Thực trạng đạo đức kinh doanh ở Việt Nam. Chương III: Một số đề xuất cải thiện và phát triển đạo đức kinh doanh ở Việt Nam. Em xin chân thành cám ơn của thầy Lê Hồng Lam đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này. Vì quỹ thời gian hạn hẹp, và hiểu biết về vấn đề vẫn chưa sâu sắc nên trong bài tiểu luận còn nhiều sai sót mong quý thầy cô và các ban góp ý để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn. Phần nội dung Chương 1. Lí luận về đạo đức kinh doanh. Nghiên cứu về đạo đức là một truyền thống lâu đời trong xã hội loài người, bắt nguồn từ những niềm tin về tôn giáo, văn hóa và tư tưởng triết học. Đạo đức liên quan tới những cam kết về luân lý, trách nhiệm và công bằng xã hội. Đạo đức phản ánh tính cách của cá nhân và trong thời đại ngày nay thì có thể nói lên cả tính chất của một doanh nghiệp, vì doanh nghiệp chính là tập hợp của các cá nhân. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mục tiêu của các doanh nghiệp là phải phấn đấu để đạt được tối đa hoá lợi nhuận trong những điều kiện nhất định. Các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để làm thế nào bán được càng nhiều hàng càng tốt và họ rất quan tâm đến hoạt động tuyên truyền, quảng bá thương hiệu của mình. Đạo đức
Xem thêm

Đọc thêm

Luận Ngữ Ứng Dụng Trong Kinh Doanh – Thiệu Vũ

Luận Ngữ Ứng Dụng Trong Kinh Doanh – Thiệu Vũ

Đây là cuốn sách tu dưỡng đạo đức hữu ích cho tất cả mọi người. Luận ngữ ứng dụng trong kinh doanh đề cập đến sáu phẩm chất mà bất kỳ doanh nhân nào cũng phải học hỏi, xây dựng mô hình phẩm chất của doanh nhân hiện đại: Nhân ái, Thủ chính, Tuân lễ, Thành tính, Trung thành, Hiếu học. Áp dụng những điều quí báu từ cuốn sách này, mỗi doanh nhân có thể tự tìm cho mình câu trả lời đơn giản và cụ thể nhất từ việc tìm hiểu các ví dụ được minh họa. Ngoài ra, cuốn sách cũng hướng dẫn mỗi doanh nhân tự mình tu dưỡng đạo đức để thành công hơn. Chia sẻ về tác phẩm Luận Ngữ Ứng Dụng Trong Kinh Doanh, tác giả Thiệu Vũ viết: “Thứ nhất, tôi muốn định nghĩa về “công sở”: Xã hội chính là một công sở lớn, mỗi người đều phải suy nghĩ và làm việc, mỗi người đều là người của công việc. Vì vậy, tôi cho rằng Luận Ngữ ứng dụng trong kinh doanh thích hợp với mọi độc giả. Thứ hai, những điều đáng học tập trong Luận Ngữ vô cùng nhiều, nhưng do Luận Ngữ có kết cấu chữ viết đặc biệt, khiến cho độc giả khó mà hình thành nên hệ thống logic nhất định, mà tôi thì mong muốn có thể tạo lập nên một hệ thống, hi vọng là những độc giả có tâm huyết sẽ hiểu được sự cố gắng của tôi. Thứ ba, hệ thống mà tôi tạo lập nên luôn xoay quanh một hạt nhân, đó là “phẩm chất”, tôi loại bỏ hết tất cả những nội dung không liên quan đến phẩm chất đi, nên quyển sách này mới đơn giản và ngắn gọn đến vậy. Nhưng để chọn lọc ra được sáu phẩm chất từ trong đó, tôi đã bỏ ra rất nhiều thời gian, hơn nữa đã không ít hơn mười lần sửa đổi mục lục, mục đích thì rất rõ ràng: tôi hi vọng có thể tìm ra được sự tinh túy của Luận Ngữ. Thứ tư, có rất nhiều “nhân sĩ” đã đưa ra cho tôi những kiến nghị xuất sắc, từ đó khiến cho việc đọc cuốn sách này trở nên nhẹ nhàng, dễ hiểu, thậm chí còn có một số điều rất gần gũi, giản dị nữa. Thứ năm, Luận Ngữ thực sự liên quan rất mật thiết đến cuộc đời và sự nghiệp của chúng ta, một khi thực sự hiểu Luận Ngữ, cuộc đời và sự nghiệp của chúng ta sẽ đạt được sự vượt bậc và nâng cao về chất.”
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu và phân tích văn hóa doanh nhân ngô trọng thanh, CEO của công ty tư vấn phát triển thị trường mancom

NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH VĂN HÓA DOANH NHÂN NGÔ TRỌNG THANH, CEO CỦA CÔNG TY TƯ VẤN PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MANCOM

Trong thời đại kinh tế phát triển và hội nhập, nền kinh tế tri thức phát triển, thì vai trò của lực lượng doanh nghiệp và doanh nhân ngày càng được chú trọng. Đây là lực lượng tạo lên bước đột phá trong thương mại và công nghiệp, từ đó thúc đẩy sự phát triển nên kinh tế đất nước. Để đáp ứng vai trò đó, các doanh nhân, những người giữ vị trí chủ trốt trong phát triển kinh tế, nhất thiết phải là các doanh nhân có văn hóa. Doanh nhân chính là tác giả của văn hóa kinh doanh và có vai trò quyết định tới văn hóa kinh doanh. Để có cái nhìn rõ hơn về văn hóa doanh nhân và tác động của nó đến hoạt động kinh doanh, nhóm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và phân tích Văn hóa doanh nhân Ngô Trọng Thanh, CEO của công ty tư vấn phát triển thị trường Mancom, chủ tịch HĐQT công ty Vietmac.
Xem thêm

33 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ: Tăng cường quản lý nhà nuớc về chống hoạt động cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam

Luận văn thạc sỹ: Tăng cường quản lý nhà nuớc về chống hoạt động cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam

1.Tính cấp thiết của đề tài Vấn đề “Tăng cường quản lý nhà nuớc về chống hoạt động cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” được chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công (QLHCC) vì những lý do cấp thiết như sau:Một là, vì bản chất “phản kinh tế, phản khoa học, phản nhân văn..”, gọi chung là tính “bất chính”, của hoạt động cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM)Cạnh tranh là thuộc tính của nền kinh tế thị trường (KTTT), cũng là thuộc tính của con người ở mọi thời đại, là xu hướng vươn tới lợi ích cao hơn người giữa những người cùng theo đuổi một lợi ích. Thông thường, để vượt lên các đối thủ phải nỗ lực bản thân, luyện rèn toàn diện. Kết quả là, ai nỗ lực hơn sẽ thắng. Nhưng cạnh tranh không lành mạnh đi ngược lại quy luật đó. Để chiến thắng, có những người đã không nỗ lực luyện rèn, nâng cao tài trí mà lại sử dụng các biện pháp thiếu lành mạnh. Hai là, cạnh tranh không lành mạnh đang là hoạt động khá phổ biến trong giới doanh nhân ở nước ta Hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nhân Việt Nam có nhiều dạng, có mặt ở khắp các ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong nước, tồn tại gần như hiển nhiên, thậm chí, vấn đề CTKLM đã trở nên hiểu nhiên đối với nhiều doanh doanh, còn người tiêu dùng đã quá quen thuộc với vấn đề này. Sở dĩ thế là vì nhiều lý do kinh tế xã hội khác nhau, trong đó có lí do là vì “túi tiền có hạn” và người tiêu dùng chưa thấy hết mối nguy hại từ những thứ hàng hóa, được tạo ra từ sự CTKLM này. Trong nhiều năm qua, rất nhiều khuyết tật của doanh nhân Việt Nam đã được đưa lên báo chí, công luận, một số không nhỏ loại doanh nhân này đã bị ra tòa và hiện còn đang chấp hành án tù. Số bị xử phạt hành chính thì không thể thống kê nổi. Nội dung chính của các cáo trạng đối với lớp doanh nhân này chính là phần buộc tội liên quan đến rất nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh.Ba là, vì nền kinh tế quốc dân Việt Nam đã gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế như ASEAN và WTO, nơi nghiêm cấm sự CTKLMHội nhập kinh tế quốc tế là một trong những đường lối chiến lược phát triển kinh tế để nước ta nhằm làm cho dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Điều đó có nghĩa là, chúng ta phải coi trọng những quy tắc ứng xử của các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập. Không thể “vô tổ chức, vô kỷ luật” đối với tổ chức mà mình đã tình nguyện gia nhập, đã cam kết tuân thủ thể chế của tổ chức đó. Vì thế, vai trò của nhà nước không chỉ là phải can thiệp vào hành vi sản xuất kinh doanh của các doanh nhân nhằm loại bỏ những hành vi không lành mạnh trong cạnh tranh, mà còn phải định hướng cho công dân doanh nhân nước mình biết luật chơi, ngăn chặn rồi đi đến triệt tiêu hẳn mọi lối “chơi xấu” của doanh nhân công dân nước mình.Khi còn là nền kinh tế đóng, những hành vi CTKLM nói trên còn có thể tồn tại được ở chừng mực nhất định. Nhưng khi hàng hóa Việt Nam đã tham gia sâu, rộng vào thị trường thế giới, nơi có những quy định khắt khe về sở hữu trí tuệ, về bảo hộ hàng hóa và quyền lợi người tiêu dùng, thì những hành vi CTKLM nói trên cùng hàng hóa và dịch vụ của chúng ta sẽ bị cô lập. Nghiêm trọng hơn, chúng ta sẽ bị khách hàng của các thị trường này sẽ tẩy chay. Điều đó cũng có nghĩa là, đường lối “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế về kinh tế” không còn khả thi.Chính vì lý do đó, mà việc triệt bỏ hành vi CTKLM của doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam là rất cần thiết. Bốn là, còn có sự bất cập trong hoạt động QLNN đối với hành vi CTKLMSự quản lý của nhà nước ta về cạnh tranh của các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam còn rất mỏng. Những chỗ “mỏng” này có nhiều, điển hình như sự trôi nổi nhiều năm nay của hàng bao nhiêu thứ thực phẩm không an toàn về vệ sinh, sự ô nhiễm môi trường của bao nhiêu vùng công nghiệp, sự triệt phá tài nguyên, nạn làm hàng giả, hàng kém chất lương...Xét trên nhiều mặt, đó chính là sự CTKLM, là sự “giảm chi bất chính” để có giá thành hạ, nhờ đó mà bán phá giá để cướp thị trường, cướp khách hàng.Năm là, sự bỏ ngỏ của các nhà khoa học đối với lĩnh vực khoa học và thực tiễn nàyĐiều này sẽ được trình bày trong tiểu mục “Tình hình nghiên cứu”, liền kề dưới đây, coi sự bỏ trống của việc nghiên cứu này là một trong những lý do, khiến chúng tôi chọn vấn đề QLNN nhằm chống CTKLM làm đề tài luận văn này.
Xem thêm

Đọc thêm

đạo đức trong kinh doanh và mối quan hệ với pháp luật

đạo đức trong kinh doanh và mối quan hệ với pháp luật

LỜI MỞ ĐẦU Lợi nhuận là một trong những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại của một doanh nghiệp và là cơ sở đánh giá khả năng duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu người quản lý doanh nghiệp hiểu sai bản chất của lợi nhuận và coi đấy là mục tiêu chính và duy nhất của hoạt động kinh doanh thì sự tồn tại của doanh nghiệp có thể bị đe doạ. Tầm quan trọng của đạo đức kinh doanh đối với một tổ chức là một vấn đề gây tranh cãi với rất nhiều quan điểm khác nhau. Nhiều giám đốc doanh nghiệp coi các chương trình đạo đức là một hoạt động xa xỉ mà chỉ mang lại lợi ích cho xã hội chứ không phải doanh nghiệp. Vai trò của sự quan tâm đến đạo đức trong các mối quan hệ kinh doanh tiếp tục bị hiểu lầm. Như vậy, đầu tư vào cơ sở hạ tầng đạo đức trong tổ chức sẽ mang lại cơ sở cho tất cả các hoạt động kinh doanh quan trọng của tổ chức cần thiết để thành công. Có nhiều minh chứng cho thấy việc phát triển các chương trình đạo đức có hiệu quả trong kinh doanh không chỉ giúp ngăn chặn các hành vi sai trái mà còn mang lại những lợi thế kinh tế. Mặc dù các hành vi đạo đức trong một tổ chức là rất quan trọng xét theo quan điểm xã hội và quan điểm cá nhân, những khía cạnh kinh tế cũng là một nhân tố cũng quan trọng không kém. Một trong những khó khăn trong việc dành được sự ủng hộ cho các ý tưởng đạo đức trong tổ chức là chi phí cho các chương trình đạo đức không chỉ tốn kém mà còn chẳng mang lại lợi lộc gì cho tổ chức. Chỉ riêng đạo đức không thôi, sẽ không thể mang lại những thành công về tài chính, nhưng đạo đức sẽ giúp hình thành và phát triển bền vững văn hóa tổ chức, phục vụ cho tất cả các cổ đông. Chúng ta hãy cừng tìm hiểu vấn đề này qua bài tiểu luận “ đạo đức trong kinh doanh và mối quan hệ với pháp luật”
Xem thêm

Đọc thêm

Quản trị hàng tồn kho tại công ty CP Thương mại và truyền thông doanh nhân Việt

Quản trị hàng tồn kho tại công ty CP Thương mại và truyền thông doanh nhân Việt

2. Mục đích nghiên cứu ¬Thứ nhất, hệ thống hóa lí thuyết về quản trị hàng tồn kho trong doanh nghiệp nói chung. Thứ hai, nghiên cứu và phân tích hoạt động quản trị hàng tồn kho, đánh giá thực trạng quản trị hàng tồn kho của công ty CPTM TT doanh nhân Việt từ năm 20132015 Thứ ba, đề xuất hướng giải quyết các vấn đề tồn tại trong quản trị hàng tồn kho tại công ty CP thương mại và truyền thông doanh nhân Việt. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: + Thực trạng quản trị hàng tồn kho của công ty. + Các yếu tố môi trường kinh doanh tác động tới quản trị hàng tồn kho của công ty. Phạm vi nghiên cứu: + Về mặt không gian: khóa luận được nghiên cứu tại công ty CP thương mại và truyền thông doanh nhân Việt + Về mặt thời gian: giai đoạn 2013 2015 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp thu thập số liệu: Các dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu đó là: + Dữ liệu thứ cấp từ nguồn dữ liệu nội bộ của Công ty CP thương mại và truyền thông doanh nhân Việt + Dữ liệu thứ cấp ngoài công ty như sách báo, giáo trình, các trang web có liên quan đến quản trị hàng tồn kho. Các phương pháp phân tích dữ liệu Các phương pháp sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích, so sánh, đồ thị, biểu đồ bảng biểu. Phương pháp biểu đồ, bảng biểu: Là phương pháp sử dụng các sơ đồ, hình vẽ về đặc điểm, mô hình quản trị, các bảng biểu về các chỉ tiêu chi phí, doanh thu, lợi nhuận, tài sản, nguồn vốn của công ty. Thông qua các sơ đồ, bảng biểu sẽ giúp ta đánh giá được mối tương quan giữa các đại lượng để có thể đánh giá phân tích dựa trên nguồn dữ liệu thu thập được. Phương pháp so sánh: Là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Tiêu chuẩn để so sánh là doanh thu, lợi nhuận, chi phí... của các năm sau so với năm trước. Trên cơ sở so sánh để đưa ra kết luận những yếu tố nào tăng, giảm hay không đổi qua các năm. Sử dụng phương pháp này để phân tích được tình hình tài sản, nguồn vốn, tình hình sản xuất kinh doanh của công ty qua các năm. Phương pháp phân tích cơ bản: Là phương pháp dựa trên nguồn dữ liệu đã có và sử dụng kết quả của những phương pháp khác để phân tích những yếu tố chủ chốt ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty, công tác quản trị hàng tồn kho và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản trị hàng tồn kho của công ty. 5. Kết cấu khóa luận Ngoài lời mở đầu, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ và hình vẽ, danh mục từ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của khóa luận được kết cấu chia làm 3 chương như sau: Chương I: Cơ sở lý thuyết về quản trị hàng tồn kho của công ty CP thương mại và truyền thông doanh nhân Việt Chương II: Thực trạng quản trị hàng tồn kho của công ty CP thương mại và truyền thông doanh nhân Việt Chương III: Định hướng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị hàng tồn kho của công ty CP thương mại và truyền thông doanh nhân Việt
Xem thêm

Đọc thêm

bài 4 đạo đức TRONG TUYỂN DỤNG LAO ĐỘNG

bài 4 đạo đức TRONG TUYỂN DỤNG LAO ĐỘNG

LỜI MỞ ĐẦUThực tiễn đổi mới kinh tế sau 20 năm ở Việt Nam đã cho thấy rằng, bên cạnh những thành tựu kinh tế quan trọng đã đạt được trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đang gặp phải một số khó khăn tồn tại do những thất bại vốn có của kinh tế thị trường sơ khai gây ra và do những yếu kém của chúng ta trong quá trình thực hiện. Một trong những khó khăn đó là những sai lệch trong đạo đức kinh doanh của một số doanh nghiệp, một số nhà kinh doanh, một số cơ quan quản lý và người lao động Thực tiễn thành công của các nhà kinh doanh thế giới và ở Việt Nam đã cho phép chúng ta có thể khẳng định rằng kinh doanh theo đúng chuẩn mực đạo đức kinh doanh là yếu tố quyết định sự thành công bền vững trong kinh doanh. Chính vì vậy, đạo đức trong kinh doanh là một vấn đề được nhiều người quan tâm trong nền kinh tế Việt Nam ngày nay. Hầu hết các doanh nghiệp đều công nhận đạo đức trong kinh doanh là một vấn đề quan trọng nhưng nhiều doanh nghiệp lại tỏ ra lúng túng không biết phải làm thế nào để đưa vấn đề này vào trong các hoạt động của mình. Do đó, hơn lúc nào hết, vấn đề đạo đức kinh doanh đang là vấn đề cấp thiết đối với nền kinh tế Việt Nam. Yếu tố không thể thiếu góp phần hoàn thiện Đạo đức trong các doanh nghiệp đó là: Đạo đức trong tuyển dụng lao động. Con người là nhân tố quyết định nên sự thành bại của doanh nghiệp . Vì vậy tôi chọn đề tài: “ Đạo đức trong tuyển dụng lao động” làm đề tài nghiên cứu để hiểu rõ hơn đạo đức trong tuyển dụng nguồn lực chủ chốt cho sự hình thành và pháp triển của các doanh nghiệp.Trong quá trình làm bài không tránh gặp phải những sai sót, rất mông được sự góp ý của Thầy và các bạn trong lớp cho bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

Đọc thêm

ĐẠO ĐỨC KINH DOANH Ở CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY

ĐẠO ĐỨC KINH DOANH Ở CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY

Đạo đức kinh doanh có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Từ thực tế, các nhà kinh tế đã chứng minh rằng lợi nhuận doanh nghiệp gắn liền với đạo đức, và mức độ tăng lợi nhuận gắn với mức độ tăng đạo đức. Vì vậy khi không hiểu được vai trò của đạo đức kinh doanh, không có ý thức xây dựng đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp, các doanh nghiệp sẽ rất khó đi tới con đường thành công cao nhất. Hiểu rõ khái niệm, vai trò và cách thức xây dựng đạo đức kinh doanh là vô cùng quan trọng với các doanh nghiệp. Vậy các doanh nghiệp phải xây dựng đạo đức kinh doanh như thế nào? Có phải doanh nghiệp chỉ cần làm những gì mà pháp luật xã hội không cấm không? Và các doanh nghiệp ở Việt Nam đang xây dựng đạo đức kinh doanh cho doanh nghiệp mình ra sao?... Để trả lời những câu hỏi đó chúng ta cùng nhau tìm hiểu về “Đạo đức kinh doanh ở các doanh nghiệp hiện nay”.
Xem thêm

Đọc thêm

giáo trình khởi tạo doanh nghiệp

giáo trình khởi tạo doanh nghiệp

dung  Khái niệm doanh nhân, sự khác biệt giữa doanh nhân với người sáng lập, chủ sở hữu, giám đốc điều hành (CEO).  Đặc điểm lao động và những tố chất cần thiết để trở thành doanh nhân.  Phát triển năng lực doanh nhân.  Tìm kiếm cố vấn trong quá trình tạo lập và điều hành doanh nghiệp. Hướng dẫn học Mục tiêu  Nghe giảng và đọc tài liệu để nắm bắt các nội dung chính.  Làm bài tập và luyện thi trắc nghiệm theo yêu cầu của từng bài.  Liên hệ và lấy các ví dụ trong thực tế để minh họa cho nội dung bài học.  Cập nhật những thông tin về kinh tế, xã hội trên báo, đài, tivi, mạng internet và đánh giá được tác động của chúng tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Thời lượng học  6 tiết Sau khi học bài này, học viên có thể:  Hiểu bản chất và đặc điểm lao động của doanh nhân.  Biết cách phát triển năng lực doanh nhân của bản thân.  Biết điểm mạnhyếu của mình để từ đó có thể tìm kiếm sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu Khoa học: Đạo đức kinh doanh Thực trạng và giải pháp

Nghiên cứu Khoa học: Đạo đức kinh doanh Thực trạng và giải pháp

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu: Đạo đức kinh doanh không còn là khái niệm mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Nhưng theo nhận định của tác giả đây là vấn đề vẫn mang tính thời sự rất cao mặc dù đã có rất nhiều tác giả nghiên c ứu v ề v ấn đ ề này dưới các hình thức bài báo, sách, giáo trình, tiểu luận, luận văn... như: Đề tài của TS Nguyễn Hoàng Ánh, Đại học Ngoại Thương, Hà Nội về đề tài “ Đạo đức kinh doanh tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp ”, năm 2006, đề tài có đi sâu vào phân tích thực trạng của đạo đ ức kinh doanh c ả nền kinh tế Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu nhưng do việc phân tích lí luận mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu khái niệm đạo đức kinh doanh nên các đánh giá đưa ra còn chung chung. Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của Đặng Thi Kim Anh nghiên c ứu v ề đ ề tài: “ Vấn đề xây dựng đạo đức kinh doanh hiện nay (qua thực tế ở Hà Nội)”, năm 2011, luận văn nghiên cứu đạo đức kinh doanh trong ph ạm vi các doanh nghiệp ở Hà Nội và đạo đức kinh doanh được đặt trong thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội để nghiên cứu nên nghiên cứu về mặt lí luận đưa ra còn bị giới hạn, chưa đầy đủ. Luận án tiến sĩ triết học của Đinh Công Sơn về vấn đề “ Xây dựng đạo đức kinh doanh ở nước ta hiện nay”, năm 2014, đây một đề tài nghiên cứu về đạo đức kinh doanh trong phạm vi rất rộng đó là toàn bộ n ền kinh t ế nước ta từ khi chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tác giả đã có sự khảo sát và tổng kết từ những công trình nghiên cứu trước đó để kế thừa, bổ sung thêm những tình hình mới trong việc xây dựng đạo đức kinh doanh của nước ta thời gian gần đây để đưa ra những đánh giá c ủa 6 Đề tài nghiên cứu khoa học mình. Theo nhận định của tác giả đạo đức kinh doanh ở Việt Nam đã có những thành tựu ban đầu song bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều hạn chế. Từ đó tác giả đã đưa ra một loạt các giải pháp nh ằm xây dựng đạo đ ức kinh doanh ở nước ta. Ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả khác và bài tiểu luận do học sinh, sinh viên ở các trường thực hiện về vấn đề đ ạo đức kinh doanh. Các bài luận được các giáo viên dạy các môn Văn hóa doanh nghiệp hay các môn học có đề cập đến đạo đức kinh doanh đưa ra làm bài tập cho học sinh. Nhìn chung các bài tiểu luận này tập chung phân tích tình hình hình thực tế của đạo đức kinh doanh, do giới hạn của thời gian và ph ạm vi nghiên cứu nên vẫn đề vẫn chưa được đi sâu. 2.Tính cấp thiết của đề tài. Tỷ lệ ung thư tại Việt Nam đang gia tăng một cách nhanh chóng. Theo thống kê của Viện nghiên cứu phòng chống ung thư Việt Nam thì Việt Nam là nước có bệnh nhân ung thư nhiều nhất trên thế gi ới. Tỷ l ệ các cu ộc kh ảo sát năm 2011 cho thấy Việt Nam có bệnh nhân tử vong vì ung th ư d ạ dày cao gấp 5 lần so với Lào, Thái Lan, Philipin và các nước trong khu vực châu Á. Tại hội nghị khoa học quốc tế về phòng chống ung thư tổ ch ức ở b ệnh viện Bạch Mai tháng 42013, ông Mai Trọng Khoa, Phó giám đốc bệnh viện Bạch Mai đã cho biết, số tử vong do ung thư hàng năm ở Việt Nam lên đến 82.000 trường hợp, tỉ lệ tử vongmắc lên đến 73,5% và vào loại cao hàng đầu thế giới (tỉ lệ tử vongmắc ở bệnh nhân ung thư chung toàn th ế giới là 59,7%). Vậy đâu là nguyên nhân cho thực trạng trên?
Xem thêm

Đọc thêm

ĐẠO ĐỨC KINH DOANH VÀ VĂN HÓA DONH NGHIỆP

ĐẠO ĐỨC KINH DOANH VÀ VĂN HÓA DONH NGHIỆP

S ứ c s ố ng c ủ a th ươ ng hi ệ u đượ c trang b ị b ằ ng chi ề u sâu v ă n hóa bên trong nó. V ă n hóa ngày càng tr thành m ộ t đ òi h ỏ i mang tính xúc tác chính cho s ự phát tri ể n c ủ a th ươ ng hi ệ u. Đ i ề u đ ó không ph ả i là nh ữ ng bi ể u hi ệ n mang tính b ề m ặ t c ủ a s ả n ph ẩ m hay nh ữ ng ứ ng x ử h ơ n thua trong c ạ nh tranh kinh doanh, mà là quá trình phát tri ể n t ừ n ộ i t ạ i th ươ ng hi ệ u. Th ươ ng hi ệ u đượ c duy trì b i ngu ồ n n ă ng l ự c t ừ bên trong, và ngu ồ n n ă ng l ự c bên trong ấ y chính là v ă n hóa. N ế u nh ư coi th ươ ng hi ệ u ch ỉ là cái tên g ọ i ho ặ c d ấ u hi ệ u nào đ ó thì ch ư a th ấ y h ế t đượ c ý ngh ĩ a c ủ a vi ệ c g ắ n cho s ả n ph ẩ m m ộ t th ươ ng hi ệ u. Nó sâu s ắ c h ơ n nhi ề u, nó th ể hi ệ n đượ c ý ngh ĩ a, nh ữ ng l ợ i ích, s ự mong đợ i c ủ a khách hàng qua các giá tr ị , tính v ă n hóa, s ự quy ế n r ũ , đạ o đứ c, phong cách, tính cách, nét đặ c tr ư ng tiêu bi ể u c ủ a doanh nghi ệ p, c ủ a đấ t n ướ c, s ự tin t ưở ng, khát v ọ ng, truy ề n th ố ng khi s ử d ụ ng s ả n ph ẩ m đ ó. Chính nh ữ ng đ i ề u đ ó là cái khách hàng mong đợ i m ộ t th ươ ng hi ệ u, nh ữ ng đ i ề u đ ó s ẽ in đậ m trong tâm trí khách hàng theo cùng n ă m tháng và kh ả n ă ng c ạ nh tranh c ủ a s ả n ph ẩ m này so v ớ i s ả n ph ẩ m khác cùng tùy thu ộ c vào m ứ c độ th ể hi ệ n các y ế u t ố k ể trên ít hay nhi ề u. Đ ôi khi, v ớ i khách hàng, chuy ệ n nh ớ đế n m ộ t th ươ ng hi ệ u không n ằ m ch ỗ h ọ n ắ m quy mô t ổ ch ứ c và ph ươ ng ti ệ n k ỹ thu ậ t c ũ ng nh ư s ả n l ượ ng, doanh thu xu ấ t kh ẩ u c ủ a doanh nghi ệ p, đ i ề u chinh ph ụ c h ọ l ạ i là s ứ c thu hút mang tính rung c ả m c ủ a m ộ t ki ể u logo qua m ộ t cách ti ế p th ị g ầ n g ũ i phù h ợ p v ớ i t ậ p quán đờ i s ố ng và tác độ ng đế n c ả m tình b ằ ng nh ữ ng m ẫ u qu ả ng cáo hay câu slogan đầ y tính ngh ệ thu ậ t. Khách hàng ch ỉ c ầ n nghe tên ho ặ c nhìn th ấ y m ộ t d ấ u hi ệ u, hình v ẽ , bi ể u t ượ ng c ủ a m ộ t s ả n ph ẩ m nào đ ó ho ặ c liên t ưở ng ra ngay m ứ c độ đ em l ạ i s ự th ỏ a mãn nhu c ầ u c ủ a mình nh ư th ế nào. Lý do để m ọ i ng ườ i ch ọ n mua m ộ t th ươ ng hi ệ u bao hàm: giá tr ị , s ự ch ấ p nh ậ n và lòng trung thành. Nh ư v ậ y, m ộ t th ươ ng hi ệ u m ạ nh không ch ỉ hàm ch ứ a trong nó ch ấ t sáng t ạ o mà còn mang s ứ c m ạ nh v ă n hóa.
Xem thêm

0 Đọc thêm

VĂN HÓA KINH DOANH MICROSOFT

VĂN HÓA KINH DOANH MICROSOFT

Lời mở đầu Trong thời buổi kinh tế hiện nay, kinh doanh không chỉ là vấn đề bán gì, mua gì và với ai, mà nó còn là sự bảo đảm chữ tín, thái độ phục vụ và giá trị mang lại cho người tiêu dùng. Nói chung đó chính là “văn hoá trong kinh doanh” của những doanh nghiệp, công ty muốn tồn tại lâu dài. Thực tế Việt Nam còn có khuynh hướng làm ăn chộp giật, chưa thực sự kinh doanh từ cái tâm nên dễ dàng đánh mất “chữ tín” và các giá trị đạo đứa trong kinh doanh. Chính vì thế nhóm 08 quyết định lựa chọn công ty Microsoft để nghiên cứu văn hoá kinh doanh của công ty nước ngoài để thấy rõ “văn hóa kinh doanh” của các nước phát triển như thế nào ? Sau đây, nhóm 08 đi nghiên cứu và tìm hiểu về đề tài” Văn hoá kinh doanh của công ty Microsoft”. Bên cạnh đó cũng tìm hiểu thêm về văn hoá doanh nhân và văn hoá doanh nghiệp của công ty để làm rõ hơn về đề tài. A. Cơ sở lí thuyết I. Khái niệm văn hóa kinh doanh. Văn hóa kinh doanh là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan điểm và hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện trong cách ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng đồng hay một khu vực.Văn hóa kinh doanh không chỉ là văn hóa mà các chủ thể kinh doanh sử dụng trong kinh doanh của họ mà còn là giá trị sản phẩm văn hóa mà các chủ thể kinh doanh sáng tạo ra trong hoạt động kinh doanh của họ. Bản chất của văn hóa kinh doanh là làm cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Văn hóa kinh doanh là một phương diện của văn hóa xã hội, kinh doanh có văn hóa đòi hỏi chủ thể của nó không chỉ đạt được mục tiêu lợi nhuận cá nhân mà còn mang đến cái lợi, cái thiện, cái đẹp cho khách hàng, đối tác và xã hội. 1.1 Vai trò của văn hóa kinh doanh. Thứ nhất, văn hóa kinh doanh là phương thức phát triển sản xuất kinh doanh bền vững. Trong kinh doanh có hai quan điểm kinh doanh đó là: kinh doanh với mục đích đạt được lợi nhuận cao là chính bất chấp các thủ đoạn, có thể gọi đây là kiểu kinh doanh phi văn hóa, bên cạnh đó cũng có kiểu kinh doanh có văn hóa, nó có thể được hiểu là họ không chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân họ mà còn quan tâm đến lợi ích của cộng đồng. Kinh doanh có văn hóa họ chú trọng tới việc đầu tư lâu dài, giữ chữ tín. Kiểu kinh doanh này ban đầu có thể không đem lại hiệu quả ngay, nhưng khi đã vượt qua giai đoạn khó khăn thì những nguồn lực trong doanh nghiệp sẽ phát huy tác dụng và các chủ thể kinh doanh sẽ có bước phát triển lâu dài, bền vững. Hơn nữa, thông tin thị trường được cập nhật nhanh chóng, chính xác, đầy đủ, khách hàng sẽ dễ dàng xác thực được hình thức kinh doanh của các doanh nghiệp, và khi đó, các doanh nghiệp kinh doanh phi văn hóa sẽ dần bị đào thải, bị tẩy chay. Thứ hai, văn hóa kinh doanh là nguồn lực phát triển kinh doanh. Áp dụng văn hóa trong tổ chức và quản lí kinh doanh thể hiện ở sự lựa chọn phương hướng kinh doanh, về quan hệ giữa con người với nhau trong tổ chức, việc tuân thủ các quy tắc và quy luật của thị trường, hướng tới khách hàng…Điều này định hướng cho mỗi cá nhân trong tổ chức làm việc, gắn bó với nhau cùng đưa tổ chức, doanh nghiệp mình phát triển và tạo nên phong cách kinh doanh trung thực, ngay thẳng, tạo nên mối quan hệ thân thiết, gắn bó với khách hàng. Trong giao lưu, giao tiếp kinh doanh, văn hóa kinh doanh làm tăng mối quan hệ gắn bó lâu dài với khách hàng thông qua cách ứng xử, thái độ trong giao tiếp với khách hàng, các dịch vụ hậu mãi thích hợp. Đối với các đối thủ cạnh tranh, đối tác làm ăn, văn hóa kinh doanh cũng tạo ra được môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo cơ hội cho sự tồn tại và phát triển lâu dài. Văn hóa kinh doanh còn thể hiện trong trách nhiệm của chủ thể kinh doanh với xã hội. Điều này được thể hiện trong nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước, trách nhiệm bảo vệ môi trường, các hoạt động từ thiện… Thứ ba, văn hóa kinh doanh là điều kiện đẩy mạnh kinh doanh quốc tế. Hiện nay các doanh nghiệp không chỉ kinh doanh trong nước, họ còn hướng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài. Tuy nhiên những khách hàng, nhà đầu tư nước ngoài họ luôn đòi hỏi doanh nghiệp cần kinh doanh có văn hóa như: doanh nghiệp có thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội, không sử dụng lao động trẻ em…Vì vậy doanh nghiệp kinh doanh có văn hóa sẽ dễ dàng đáp ứng những yêu cầu khắt khe đó. Từ đó làm cho khách hàng nước ngoài nhanh chóng chấp nhận hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp. 1.2 Các yếu tố cấu thành văn hóa kinh doanh Văn hóa kinh doanh là văn hóa của nghề kinh doanh, là văn hóa của cộng đồng kinh doanh, là văn hóa của giới doanh nhân. Nó không chỉ có tác dụng trong công tác quản trị nội bộ mà còn cả trong quan hệ của doanh nghiệp với xã hội. 1.2.1. Triết lí kinh doanh. Theo cách thức hình thành: Triết lí kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm và khái quát hóa của các chủ thể kinh doanh và chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh. Triết lí kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các nội dung cơ bản sau: Sứ mệnh của doanh nghiệp là bản tuyên bố lí do tồn tại của doanh nghiệp, còn gọi là quan điểm, tôn chỉ, nguyên tắc, mục đích kinh doanh của doanh nghiệp. Các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp là những điểm cuối của nhiệm vụ của doanh nghiệp, mang tính cụ thể và khả thi cần thực hiện thông qua hoạt động của doanh nghiệp. Việc xây dưng các mục tiêu cơ bản rất có ý nghĩa đối với sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Hệ thống các giá trị của doanh nghiệp là những niềm tin căn bản thường không được nói ra của những người làm việc trong doanh nghiệp. Hệ thống các giá trị của doanh nghiệp xác định thái độ của doanh nghiệp với những người sở hữu, những nhà quản trị, người lao động, khách hàng và các đối tượng hữu quan. 1.2.2. Đạo đức kinh doanh. Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh. Các nguyên tắc, chuẩn mực của đạo đức kinh doanh: Tính trung thực: trung thực trong chấp hành luật pháp của nhà nước( không trốn thuế, lậu thuế, không sản xuất, buôn bán hàng hóa nhà nước cấm), trung thực trong giao tiếp với bạn hàng( không làm hàng giả, quảng cáo sai sự thật, vi phạm bản quyền..) Tôn trọng con người: tôn trọng phẩm giá, quyền lợi, hạnh phúc, tiềm năng của nhân viên, quan tâm đúng mức, tôn trọng quyền tự do của nhân viên, tôn trọng nhu cầu, sở thích , tâm lí khách hàng, tôn trọng lợi ích của đối thủ cạnh tranh. Gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng và xã hội, coi trọng hiệu quả gắn với trách nhiệm xã hội. 1.2.3. Văn hóa ứng xử trong kinh doanh. Ứng xử trong kinh doanh không chỉ là thái độ ứng xử trong các mối quan hệ với khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp mà còn là thái độ ứng xử giữa cấp trên và cấp dưới, giữa những đồng nghiệp trong doanh nghiệp. Ứng xử có văn hóa trong doanh nghiệp tạo nên môi trường làm việc sôi nổi, đoàn kết, thoải mái từ đó thúc đẩy năng lực làm việc của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp. Ứng xử có văn hóa với khách hàng tạo niềm tin, sự trung thành của khách hàng với doanh nghiệp. Ứng xử có văn hóa đối với đối tác nhằm tạo sự tin tưởng lẫn nhau, tiến tới làm ăn lâu dài. II. Văn hóa doanh nhân. Văn hóa doanh nhân là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nhân trong quá trình lãnh đạo và quản lí doanh nghiệp. Văn hóa doanh nhân có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa kinh doanh nào cũng mang đậm sắc thái nhân cách của những người sáng lập và người lãnh đạo doanh nghiệp trong thời kì đầu tiên. Nó chịu ảnh hưởng bởi tầm nhìn, triết lí kinh doanh, những giá trị cốt lõi và phong cách hoạt độngcủa người chủ và điều hành doanh nghiệp đó. Doanh nhân tạo ra môi trường cho các cá nhân phát huy tính sáng tạo, là người góp phần mang đến không gian tự do, bầu không khí ấm cúng cho doanh nghiệp. Văn hóa doanh nhân quyết định văn hóa doanh nghiệp thông qua việc kết hợp hài hòa các lợi ích để doanh nghiệp trở thành ngôi nhà chung của tất cả mọi người. III. Văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hàng vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kinh doanh riêng của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp có 2 cấp độ: Các quá trình và cấu trúc hữu hình như: kiến trúc, cách bài trí, cơ cấu tổ chức, các biểu tượng, logo, đồng phục… Những giá trị chung được tuyên bố( chiến lược kinh doanh, mục tiêu, triết lí của doanh nghiệp…) và những quan niệm chung( những niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức, mặc nhiên được công nhận trong doanh nghiệp). Văn hóa doanh nghiệp tạo nên sắc thái riêng của doanh nghiệp, giúp phân biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, tạo nên lực hướng tâm chung cho toàn doanh nghiệp. C. Thực trạng văn hóa kinh doanh của Microsoft. I. Giới thiệu sơ lược về Microsoft. 1.1 Giới thiệu chung về Microsoft Microsoft là một tập đoàn đa quốc gia của Hoa Kỳ đặt trụ sở chính tại Redmond, Washington, chuyên phát triển, sản xuất, kinh doanh bản quyền phần mềm và hỗ trợ trên diện rộng các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến máy tính. Công ty được sáng lập bởi Bill Gate và Paul Allen vào ngày 04041975. Nếu tính theo doanh thu thì Microsoft là hãng sản xuất phần mềm lớn nhất thế giới. Nó cũng được gọi là “một trong những công ty có giá trị nhất trên thế giới”. Được thành lập để phát triển phần mềm trình thông dịch BASIC cho máy Altair 8800, Microsoft vươn lên thống trị thị trường hệ điều hành cho máy tính gia đình với MS DOS giữa những năm 1980. Cổ phiếu của công ty sau khi được phát hành lần đầu ra thị trường đã tăng giá nhanh chóng và tạo ra 4 nhà tỷ phú và 12000 nhà triệu phú trong công ty. Kể từ thập kỷ 90, công ty bắt đầu đa dạng hóa hoạt động và tiến hành mua lại nhiều công ty khác. Trong năm 2011, Microsoft mua thành công Skype với giá lớn nhất từ trước đến nay là 8.5 tỷ . Trong năm 2012, Microsoft chiếm ưu thế trên cả hai thị trường hệ điều hành PC và bộ phần mềm văn phòng ( đứng thứ hai với Microsoft Office). Công ty sản xuất trên quy mô lớn những phần mềm cho máy tính để bàn và máy chủ, hoạt động trong lĩnh vực tìm kiếm trực tuyến (với Bing), tham gia ngành công nghiệp video game ( với máy chơi game Xbox 360), thị trường dịch vụ kỹ thuật số ( với MSN) , và điện thoại di động ( với hệ điều hành Windows Phone). Trong tháng 6 năm 2012, Microsoft tuyên bố họ sẽ trở thành nhà cung cấp PC cho thị trường với sự kiện cho ra đời máy tính bảng Microsoft Surface. 1.2. Sản phẩm nền tảng và bộ phận dịch vụ. a) Windows. Sản phẩm trụ cột của Microsoft. Công ty đã cho ra đời nhiều phiên bản gồm Windows 3.1, Windows 95, Windows 98, Windows 2000, Windows Me, Windows XP, Windows Vista, Windows 7, Windows 8, Windows 8.1. Mới đây nhất Microsoft đã cho ra mắt toàn thế giới phiên bản mới nhất của Windows: Windows 10. b) Dành cho hệ thống máy chủ. Microsoft đưa ra bộ phần mềm dành cho máy chủ là Microsoft Servers, HDH máy chủ Windows Server 2008, Windows Server 2012 và các sản phẩm như: SQL Server, Exchange Server, BizTalk Server, Systems Management Server, Small Business Server. c) Công cụ phát triển. Microsoft Visual Studio bộ công cụ môi trường phát triển tích hợp, giúp đơn giản hóa các chức năng tạo, sửa lỗi và triển khai phần mềm cho Windows, Microsoft Office và trang Web. d) Dịch vụ trực tuyến. Bao gồm MSN và nhóm dịch vụ Windows Live gồm: Bing, Windows Live Mail, Windows Live Messenger,…. 1.3. Phạm vi hoạt động. Microsoft có mặt tại hầu hết các quốc gia và Microsoft đặt chi nhánh ở hơn 102 quốc gia (2007) và được phân loại thành 6 khu vực: (1) Bắc Mỹ. (2) Châu Mỹ Latinh. (3) Châu Âu, Trung Đông, Châu Phi. (4) Nhật Bản. (5) Châu Á Thái Bình Dương. (6) Trung Quốc. II. Văn hóa kinh doanh của Microsoft. 2.1 Triết lý kinh doanh của Microsoft. Điểm nổi bật đầu tiên bên trong văn hóa kinh doanh của Microsoft chính là triết lý kinh doanh của công ty. Triết lý này có thể được chia làm 5 yếu tố chính: 1) Chính sách phát triển dựa trên nền tảng lâu dài. 2) Hướng đến các thành quả. 3) Tinh thần tập thể và động lực cá nhân. 4) Thái độ trân trọng đối với sản phẩm và khách hàng. 5) Thông tin phải hồi thường xuyên của khách hàng. Để thực hiện triết lý này, công ty luôn tuyển dụng những người thông minh, có óc sáng tạo và giữ chân họ bằng cách kết hợp 3 yếu tố: hứng thú, thách thức liên tục và điều kiện làm việc tuyệt hảo. Ngoài ra, họ còn có cơ hội được hưởng các chính sách ưu đãi như có quyền mua cổ phiếu dưới mức giá giao dịch bình thường để trở thành đồng chủ nhân của công ty chính sách này có tác dụng rất tốt. Về sứ mệnh và mục tiêu Mới đây,người đứng đầu Microsoft Nadella đã nhắc tới lộ trình trong năm tài khóa sắp tới của Microsoft, đặt nền tảng cho màn ra mắt Windows 10 và tiết lộ sứ mệnh chính thức mới: “Trao sức mạnh cho mọi người và mọi tổ chức trên hành tinh để đạt được nhiều thành tựu hơn”.Sứ mệnh mới này làm sáng rõ tầm nhìn của ông đối với công ty và đặc biệt dễ hiểu hơn sứ mệnh mà người tiền nhiệm Steve Ballmer từng đặt ra tạo ra một gia đình các thiết bị và dịch vụ cho các cá nhân và doanh nghiệp để trao quyền cho mọi người trên khắp thế giới ở nhà, nơi làm việc và trên đường đi, cho các hoạt động giá trị nhất. Sứ mệnh trên của Nadella được xây dựng trên một vài khẩu hiệu marketing ở Microsoft mà ông đưa ra kể từ khi ông nhậm chức hồi tháng Hai năm 2014. Ví dụ, cá nhân hơn máy tính đó là cách Microsoft chấp nhận cho tất cả mọi người kết nối các thiết bị với nhau qua Internet. Giải pháp này là một trong những chiến lược cốt lõi mà Nadella tin rằng nó sẽ giúp Gã khổng lồ phần mềm trở thành nhân vật chính trong thế giới điện thoại di động đầu tiên, điện toán đám mây đầu tiên. Trong thư gửi nhân viên, Nadella vạch rõ chiến lược mới của Microsoft với ba hướng chủ lực. Thứ nhất và trên hết, Microsoft sẽ “tái sáng tạo các dịch vụ năng suất trong thế giới số, có khả năng chạy trên mọi thiết bị”, và điều đó sẽ hấp dẫn khách hàng cả trong công việc và đời sống thường ngày. Những trải nghiệm này sẽ được hỗ trợ bởi nền tảng điện toán đám mây của công ty, và được thể hiện tốt nhất với nền tảng thiết bị Windows. Để đạt được điều này, Nadella cho biết công ty cần “một nền văn hóa trong phát triển tư duy”. Trong lá thư của mình, ông nêu ra ba lĩnh vực Microsoft nên tập trung vào: “khách hàng trên hết”, “đa dạng và toàn diện”, và làm việc cộng tác trên tinh thần “One Microsoft”. Lĩnh vực cuối cùng chính là chiến lược trong kế hoạch tái cấu trúc Microsoft mà người tiền nhiệm Steve Ballmer đề xuất hồi năm 2013 nhằm gắn kết các bộ phận của công ty làm việc hợp tác cùng nhau. “Tôi tin rằng văn hóa không tĩnh tại. Nó diễn tiến hàng ngày dựa trên hành vi của tất cả mọi người trong tổ chức. Chúng ta đang ở vị trí không thể tin được để nắm lấy tăng trưởng mới trong năm nay.Chúng ta cần đổi mới trong các lĩnh vực mới, hoàn thành các kế hoạch, đưa ra một số quyết định khó khăn trong các lĩnh vực không hiệu quả và xử lý các vấn đề khó để gia tăng giá trị cho khách hàng”.Đó là những gì mà ông Nadella muốn gửi tới nhân viên của mình. Đặt mục tiêu chiếm lĩnh thị trường là trên hết, Microsoft đã xác định một chính sách có thể gọi là: sẵn sàng trả giá gây rủi ro lợi nhuận để làm tăng thị phần của công ty. Tinh thần này ngấm vào mọi nhân viên của công ty động viên họ chấp nhận mọi rủi ro trong cuộc đấu tranh. Về hệ thống các giá trị Các giá trị của mỗi nhân viên trong Microsoft phải tỏa sáng trong mọi mối tương tác. Chính trực và trung thực: sự chính trực và trung thực có thể được thể hiện theo nhiều cách. Sự chính trực và trung thực không chỉ được thể hiện trong tình huống đặc biệt mà còn trong tất cả các quyết định hàng ngày của mỗi nhân viên. Là nhân viên, mỗi người đều phải lỗ lực vì sự xuất sắc ngay cả khi không có ai nhìn vào. Cởi mở tôn trọng: những người cởi mở và tôn trọng người khác hiểu rằng cách hoàn thành công việc cũng quan trọng như chính công việc đó. Chính vì vậy mỗi nhân viên của Microsoft không bao giờ hành động theo cách có thể bị coi là đe dọa, không khoan dung hoặc phân biệt đối xử. Tinh thần trách nhiệm: mỗi nhân viên đều giữ đúng lời hứa và chịu trách nhiệm về những cam kết mà mình đưa ra. Niềm tin trong mỗi nhân viên được tạo dựng theo thời gian chỉ bằng cách này. Trung thực và có trách nhiệm. Đam mê: sự đam mê có ở khắp nơi khi bạn nhìn vào Microsoft. Mỗi nhân viên đều có tâm huyết với công nghệ và những gì mà công nghệ giúp khách hàng của họ làm được. Mỗi nhân viên đều nỗ lực đáp ứng kỳ vọng của khách hàng và đối tác về chất lượng, tính bảo mật, quyền riêng tư, độ tin cậy và sự chính trực trong kinh doanh. Thách thức lớn: ngay từ đầu Microsoft đã cố gắng vượt qua những thách thức lớn. Thách thức lớn không liên quan đến một công việc cụ thể mà liên quan tới tầm nhìn, nghị lực và sự dũng cảm trong con người mỗi nhân viên. Tự phê bình: sự cống hiến vì chất lượng của Microsoft không chỉ dành riêng cho sản phẩm. Mỗi nhân viên đều hoàn thiện chính mình theo thời gian, liên tục hỏi bản thân và đồng nghiệp: “ tôi có thể làm gì tốt hơn? Lần sau, tôi có thể làm tốt hơn như thế nào?”. 2.2. Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội. 2.2.1. Đạo đức kinh doanh. Microsoft cam kết tuân thủ đầy đủ các luật và quy định liên quan khi thực hiện kinh doanh: Tuân thủ các quy định quản lý về kinh doanh, cũng như tất cả các luật và quy định liên quan về xuất khẩu, tái xuất, và nhập khẩu, trong việc thực hiện kinh doanh, chấp hành đầy đủ pháp luật về chống độc quyền và cạnh tranh lành mạnh, không tham gia vào các hoạt động tẩy chay quốc tế không được phê chuẩn bởi chính phủ Hoa Kỳ hay pháp luật được áp dụng, không tham gia vào bất kỳ hoạt động hối lộ hoặc lót tay nào, cho dù khi làm việc với công chức hay cá nhân trong mảng tư nhân. Microsoft cam kết thực hiện các tiêu chuẩn ứng xử quy định trong Đạo luật Chống Tham nhũng tại Nước ngoài của Hoa Kỳ (FCPA) và pháp luật về chống tham nhũng và chống rửa tiền tại các quốc gia mà Microsoft có hoạt động. Microsoft cam kết về nhân quyền và bình đẳng về cơ hội tại nơi làm việc, cụ thể như sau: (1) Không có sự quấy rối và phân biệt đối xử bất hợp pháp tại nơi làm việc, thừa nhận và tôn trọng sự khác biệt về văn hóa, Tôn trọng các quyền tự do lập hội và thương lượng tập thể của người lao động theo yêu cầu của pháp luật. (2) Chỉ sử dụng lao động tự nguyện, không sử dụng lao động trẻ em, không kỷ luật hoặc ngược đãi về thể chất, đe doạ lạm dụng thể chất, quấy rối tình dục hoặc các các hành vi quấy rối khác, và ngược đãi bằng lời nói hoặc các hình thức hăm dọa khác. (3) Không yêu cầu người lao động làm việc nhiều hơn số giờ làm việc tối đa của một ngày lao động như được quy định bởi luật hoặc quy định của địa phương và quốc gia. Trả các khoản tiền lương hợp pháp theo các điều kiện nhân đạo. Tất cả người lao động được cung cấp thông tin rõ ràng và bằng văn bản về điều kiện làm việc của họ cùng với tiền lương trước khi vào làm việc và khi cần thiết trong suốt thời gian làm việc của họ. Không trừ bất kỳ khoản tiền nào từ lương mà không được quy định bởi luật quốc gia hoặc địa phương khi không có sự đồng ý bằng văn bản của người lao động có liên quan. (4) Cung cấp một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh và tuân thủ đầy đủ pháp luật, quy định và thực hành về an toàn và sức khỏe bao gồm những quy định áp dụng cho các lĩnh vực an toàn nghề nghiệp, sẵn sàng ứng phó trường hợp khẩn cấp, tai nạn và bệnh nghề nghiệp, vệ sinh công nghiệp, công việc yêu cầu cao về thể lực, bảo vệ quanh máy móc, vệ sinh môi trường, thực phẩm, và nhà ở.
Xem thêm

Đọc thêm

Vai trò của đạo đức kinh doanh trong việc xây dựng thương hiệu của tập đoàn Ford Motor

Vai trò của đạo đức kinh doanh trong việc xây dựng thương hiệu của tập đoàn Ford Motor

MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU1CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH VÀ XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU31. Khái niệm đạo đức kinh doanh31.1. Khái niệm đạo đức31.2. Khái niệm đạo đức kinh doanh41.2.1. Định nghĩa đạo đức kinh doanh41.2.2. Lịch sử đạo đức kinh doanh61.2.3. Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội81.3. Vai trò của đạo đức kinh doanh trong quản trị doanh nghiệp.81.3.1. Điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh doanh91.3.2. Xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp101.3.3. Thúc đẩy sự cam kết và tận tâm của nhân viên111.3.4. Làm hài lòng khách hàng111.3.5. Tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp122. Khái niệm thương hiệu142.1. Định nghĩa thương hiệu142.2. Vai trò của thương hiệu trong kinh doanh:173. Mối quan hệ giữa kinh doanh có đạo đức và xây dựng thương hiệu mạnh:213.1. Triết lý kinh doanh213.2. Định vị thương hiệu223.3. Cam kết thương hiệu233.4. Nhân cách thương hiệu24CHƯƠNG II: VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC KINH DOANH TRONG VIỆC XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CỦA TẬP ĐOÀN FORD MOTOR281. Định vị thương hiệu Ford Motor trong ngành sản xuất và kinh doanh ô tô thế giới282. Triết lý kinh doanh của Ford Motor312.1. Triết lý về sản xuất312.2. Triết lý về tìm người và giữ người352.3. Triết lý về hòa bình thế giới363. Cam kết thương hiệu373.1. Cam kết về chất lượng sản phẩm và dịch vụ373.2. Cam kết bảo vệ môi trường404. Nhân cách thương hiệu434.1. Đối xử công bằng với người lao động444.2. Thấu hiểu người tiêu dùng494.3. Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội501.1. Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về đạo đức kinh doanh561.2. Đánh giá đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp trong quan hệ với các đối tượng có liên quan:591.2.1. Nhà đầu tư591.2.2. Người lao động601.2.3. Khách hàng611.2.4. Đối thủ cạnh tranh621.2.5. Trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội642.1. Cần nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện khung luật pháp Việt Nam nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho đạo đức kinh doanh652.2. Xây dựng các trung tâm tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp682.3. Nâng cao nhận thức về đạo đức kinh doanh ở Việt Nam692.4. Xây dựng chương trình đạo đức kinh doanh trong nội bộ doanh nghiệp73KẾT LUẬN83DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO84
Xem thêm

Đọc thêm

Tiểu Luận Xây dựng văn hóa kinh doanh Công ty VINAMILK

Tiểu Luận Xây dựng văn hóa kinh doanh Công ty VINAMILK

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2 PHẦN 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HOÁ KINH DOANH VÀ DOANH NGHIỆP 2 I. Khái quát chung về văn hoá kinh doanh 2 1. Khái niệm văn hoá kinh doanh 2 2. Các nhân tố cấu thành văn hoá kinh doanh 3 3. Các đặc trưng của văn hoá kinh doanh 5 4. Các nhân tố tác động đến văn hoá kinh doanh 6 II. Khái quát chung về công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk 7 1. Khái quát chung về hoạt động của Công ty 7 2. Tầm nhìn 8 3. Triết lý kinh doanh 8 4. Sứ mệnh 9 5. Mục tiêu của Công ty: 9 6. Phân tích SWOT của Công ty: 9 PHẦN 2: XÂY DỰNG VĂN HOÁ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 10 I. Xây dựng các nguyên tắc và chuẩn mực. 10 1. Đạo đức kinh doanh 11 2. Trách nhiệm xã hội 11 II. Xây dựng hệ thống các nguyên tắc, quy định trong tổ chức 13 1. Xây dựng quy định trong quản trị nguồn nhân lực 13 2. Xây dựng quy định trong hoạt động Marketing 14 3. Xây dựng quy định trong hoạt động tài chính 17 PHẦN 3: XÂY DỰNG VĂN HOÁ DOANH NHÂN CỦA DOANH NGHIỆP 18 I. Năng lực doanh nhân 18 II. Tố chất của doanh nhân 19 III. Đạo đức của doanh nhân 19 IV. Phong cách doanh nhân 19 PHẦN 4: GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI HỆ THỐNG CHUẨN MỰC VĂN HOÁ KINH DOANH 20 1. Đôn đốc, lãnh đạo 20 2. Hướng dẫn 20 3. Kiểm tra 20 KẾT LUẬN 20 LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, khái niệm văn hoá kinh doanh đã và đang được nhắc đến như một tiêu chí khi bàn về doanh nghiệp. Văn hoá kinh doanh chính là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp. Xây dựng, phát triển văn hoá kinh doanh của nước ta hiện nay có tác dụng rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp theo yêu cầu phát triển kinh tế đất nước, hội nhập kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk là một trong những doanh nghiệp Việt Nam đã sớm xây dựng cho mình văn hoá kinh doanh ngay từ những buổi đầu mới thành lập. Bằng tất cả sự tâm huyết, hết lòng vì khách hàng và trên hết là trên cơ sở hệ thống văn hoá kinh doanh chuyên nghiệp và lâu năm, tập thể công ty Vinamilk đã lần lượt cho ra đời những dòng sản phẩm có chất lượng và phù hợp với mọi khách hàng, đáp ứng được những yêu cầu khắt khe nhất của hội đồng chất lượng sản phẩm quốc tế. PHẦN 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HOÁ KINH DOANH VÀ DOANH NGHIỆP I. Khái quát chung về văn hoá kinh doanh 1. Khái niệm văn hoá kinh doanh Càng ngày con người càng nhận thấy rằng văn hoá tham gia vào mọi quá trình hoạt động của con người và sự tham gia đóngày càng được thể hiện rõ nét và tạo thành các lĩnh vực văn hoá đặc thù như văn hoá chính trị, văn hoá pháp luật, văn hoá giáo dục,… và văn hoá kinh doanh. Kinh doanh là một hoặt động cơ bản của con người, xuất hiện cùng với hàng hoá và thị trường. Mục đích của kinh doanh là đem lại lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh do đó bản chất của kinh doanh là để kiếm lời. Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh là một nghề chính đáng xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội, do sự phân công lao động xã hội tạo ra. Còn việc kinh doanh như thế nào, kinh doanh đem lại lợi ích và giá trị cho ai thì đó chính là vấn đề của văn hoá kinh doanh. Trong kinh doanh, những sắc thái văn hoá có mặt trong toàn bộ quá trình tổ chức và hoạt động của hoạt động kinh doanh, được thể hiện từ cách chọn và cách bố trí máy móc và dây chuyền công nghệ. Hoạt động kinh doanh cố nhiên không lấy các giá trị của văn hoá làm mục đích trực tiếp, song nghệ thuật kinh doanh, từ việc tạo vốn ban đầu, tìm địa bàn kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, cách tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh,…được “thăng hoa” lên với những biểu hiện và giá trị tốt đẹp thìkinh doanh cuãng là biểu hiện sinh động văn hoá của con người. Do đó, bản chất của văn hoá kinh doanh là làm cho cái lợi gắn bó chặt chẽ với cái đúng, cái tốt và cái đẹp. Từ những điều trên đây khái niệm văn hoá kinh doanh được hình thành như sau: “Văn hoá kinh doanh là toàn bộ các nhân tố văn hoá được chủ thể kinh doanh chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó.” 2. Các nhân tố cấu thành văn hoá kinh doanh Văn hoá kinh doanh là một phương diện của văn hoá trong xã hội và là văn hoá trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh. Văn hoá kinh doanh bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, những phương thức và kết quả hoạt động của con người được tạo ra và sử dụng trong quá trình kinh doanh. Các nhân tố cấu thành nên hệ thống văn hoá kinh doanh là triết lý kinh doanh, đạo đức kinh doanh, văn hoá doanh nhân và các hình thức văn hoá khác. 2.1. Triết lý kinh doanh Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm, khái quát hoá của các chủ thể kinh doanh và chỉ dẫn cho hoạt động kinh doanh. Đó là một hệ thống bao gồm những giá trị cốt lõi có tính pháp lý và đạo lý tạo nên phong thái đặc thù của chủ thể kinh doanh và phương thức phát triển bền vững của hoạt động này. Đôi khi triết lý kinh doanh còn là cơ sở để các nhà quản trị đưa ra các quyết định quản lý có tính chiến lược quan trọng trong những trong những tình huống mà sự phân tích lỗ lãi không thể giải quyết. Đồng thời triết lý kinh doanh còn là phương tiện để giáo dục và phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động kinh doanh. Hình thức thể hiện của triết lý kinh doanh cũng rất khác nhau với mỗi một chủ thể kinh doanh cụ thể. Nhưng dù dưới bất kì hình thức nào thì triết lý kinh doanh luôn trở thành ý thức thường trực trong mỗi chủ thể kinh doanh, chỉ đạo những hành vi của họ. Kết cấu nội dung của triết lý kinh doanh thường gồm những bộ phận sau: Sứ mệnh và các mục tiêu kinh doanh cơ bản. Các phương thức hành động để hoàn thành được những sứ mệnh và mục tiêu nhằm cụ thể hoá hơn cách diễn đạt được những sứ mệnh và mục tiêu. Các nguyên tắc tạo ra một phong cách ứng xử, giao tiếp và hoạt động kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp. 2.2. Đạo đức kinh doanh Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh. Đây là hệ thống các quy tắc xử sự, các chuẩn mực đạo đức, các quy chế, nội quy… có vai trò điều tiết các hoạt động của quá trình kinh doanh nhằm hướng đến triết lý đã định. Đạo đức kinh doanh góp phần phát triển mối quan hệ với người lao động, với chính quyền, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với nhà cung cấp và với cộng đồng xã hội, từ đó góp phần tạo nên môi trường kinh doanh ổn định. 2.3. Văn hoá doanh nhân Văn hoá doanh nhân là toàn bộ các nhân tố văn hoá mà các doanh nhân ch
Xem thêm

Đọc thêm

Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp

Đạo đức kinh doanh và văn hoá doanh nghiệp

Đạo đức kinh doanh là một trong những vấn đề quan trọng nhất nhưng đồng thời cũng là điều dễ gây hiểu nhầm nhất trong thế giới kinh doanh ngày nay. Trong vòng hơn 20 năm vừa qua, đạo đức kinh doanh đã trở thành một vấn đề thu hút được nhiều quan tâm. Ngày nay, các doanh nghiệp phải đối mặt với sức ép của người tiêu dùng về các hành vi đạo đức, các quy định pháp luật cũng được thiết kế khuyến khích các hành vi tốt của doanh nghiệp từ hoạt động marketing đến bảo vệ môi trường. Hoạt động kinh doanh tác động đến tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội, nên nhà kinh doanh cũng cần phải có đạo đức nghề nghiệp và không thể hoạt động ngoài vòng pháp luật mà chỉ có thể kinh doanh những gì pháp luật xã hội không cấm. Phẩm chất đạo đức kinh doanh của nhà doanh nghiệp là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên uy tín của nhà kinh doanh, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt được những thành công trên thương trường, tồn tại và phát triển bền vững.
Xem thêm

Đọc thêm

Văn hóa kinh doanh của việt tiến

Văn hóa kinh doanh của việt tiến

LỜI MỞ ĐẦU Nhiều kết luận nghiên cứu của các nhà kinh tế đã khẳng định, trong điều kiện hiện nay các doanh nghiệp thắng thế không phải ở chỗ là có bao nhiêu vốn và sử dụng công nghệ gì mà nó được quyết định bởi việc tổ chức con người như thế nào, cũng như nguyên lý: con người có thể đi lên từ tay không về vốn nhưng không bao giờ đi lên từ tay không về văn hóa. Rõ ràng văn hóa doanh nghiệp là tài sản vô vô giá của mỗi doanh nghiệp. Xuất phát điểm của doanh nghiệp có thể sẽ cao và bền vững nếu như được xây dựng trên nền tảng văn hóa. Điều đó được chứng thực tại Mỹ ( nước đầu tiên khởi xướng xây dựng Văn hóa doanh nghiệp). Các nhà nghiên cứu Mỹ khi tìm hiểu mối quan hệ giữa hoạt động , thành tựu và nội dung văn hóa của doanh nghiệp đã kết luận rằng, mỗi doanh nghiệp đều có nền tảng riêng. Và, hầu hết các doanh nghiệp thành công đều duy trì, giữ gìn nền văn hóa doanh nghiệp riêng của mình. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp còn rất mơ hồ đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam, Với hầu hết những lao động và công nhân viên rất ít được nghe tới “Văn hóa doanh nghiệp”, vì vậy họ chưa thấy được giá trị đích thực của môi trường văn hóa nơi mà họ thường gắn bó và làm việc. Sức mạnh của doanh nghiệp chỉ được tạo nên khi mọi cá nhân trong doanh nghiệp đó nhận thức được đầy đủ giá trị văn hóa của đơn vị mình. Đó là yếu tố quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp trong thời đại công nghiệp hiện đại. Phân tích Văn hóa kinh doanh của Việt Tiến để thấy được tầm quan trọng của văn hóa kinh doanh đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của Việt Tiến như thế nào.   MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY MAY VIỆT TIẾN 3 1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH 3 2. HỆ THỐNG NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU CÔNG TY MAY VIỆT TIẾN. 3 2.1. Tên thương hiệu. 3 2.2. Các thương hiệu con của May Việt Tiến. 4 CHƯƠNG II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5 1. VĂN HÓA KINH DOANH 5 1.1. Các khái niệm 5 1.2. Các đặc trưng của văn hóa kinh doanh 5 1.3. Các nhân tố tác động đến văn hóa kinh doanh 6 1.4. Các yếu tố cấu thành văn hóa kinh doanh 7 1.5. Văn hóa kinh doanh Việt Nam 7 2. VĂN HÓA DOANH NHÂN 9 2.1. Khái niệm văn hóa doanh nhân 9 2.2. Những nhân tố tác động tới văn hóa doanh nhân 9 2.3. Các bộ phận cấu thành của văn hóa doanh nhân 10 2.4. Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá văn hóa doanh nhân 11 2.5. Văn hóa doanh nhân của công ty cổ phần may Việt Tiến 11 3. VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 13 4 . XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 16 4.1. Tình hình triển khai văn hoá doanh nghiệp tại Công ty Việt Tiến. 25 4.2 Đánh giá văn hóa doanh nghiệp của công ty Việt 26 KẾT LUẬN 27   CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY MAY VIỆT TIẾN 1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH Tiền thân công ty là một xí nghiệp may tư nhân “ Thái Bình Dương kỹ nghệ công ty” tên giao dịch là Pasific Enterprise. Xí nghiệp này được 8 cổ đông góp vốn do ông Sâm Bảo Tàimột doanh nhân người Hoa làm giám đốc. Tháng 51977 được Bộ Công Nghiệp công nhận là doanh nghiệp quốc doanh và đổi tên thành Xí Nghiệp May Việt Tiến. Ngày 13111979 Xí nghiệp gặp hỏa hoạn, thiệt hại hoàn toàn. Tuy vậy, Việt Tiến nhanh chóng đi vào hoạt động trở lại và ngày càng khẳng định vị trí của mình trên thương trường, xí nghiệp được Bộ Công Thương chấp nhận nâng lên thành Công ty may Việt Tiến. Ngày 3082007 Tổng công ty may Việt Tiến được thành lập trên cơ sở tổ chức lại công ty may Việt Tiến thuộc tập đoàn Dệt May Việt Nam. Tổng công ty May Việt Tiến hoạt động theo mô hình công ty mẹcông ty con. Hiện nay Việt Tiến bao gồm 12 xí nghệp, 17 công ty con và công ty liên kết. Bên cạnh lĩnh vực hoạt động đa dạng khác như : Dịch vụ xuất nhập khẩu, vận chuyển giao nhận hàng hóa; sản xuất và kinh doanh nguyên phụ liệu ngành may; máy móc phụ tùng và các thiết bị phục vụ nghàng may công nghiệp; đầu tư kinh doanh tài chính…Thì những sản phẩm mang thương hiệu Việt Tiến vẫn không ngừng phát triển, mở rộng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của người tiêu dùng. 2. HỆ THỐNG NHẬN DIỆN THƯƠNG HIỆU CÔNG TY MAY VIỆT TIẾN. 2.1. Tên thương hiệu. Tên Tiếng Việt là Công ty cổ phần May Việt Tiến. Tên giao dịch quốc tế là VIETTIEN GARMENT CORPORATION. Tên viết tắt la VTEC.Thương hiệu Việt Tiến được xây dựng ngay từ khi công ty được thành lập với ý nghĩa Việt là Việt Nam, Tiến là Tiến lên, công ty sẽ cùng đất nước Việt Nam tiến lên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thương hiệu Việt Tiến được biết đến như một nhãn hiệu thời trang dành cho công sở như áo sơ mi, quần âu, quần kaki. Với chức năng chính là sản xuất và kinh doanh hàng may mặc, bên cạnh còn có thêm các ngành kinh doanh khác như: Dịch vụ xuất nhập khẩu, vận chuyển giao nhận hàng, sản xuất và kinh doanh nguyên phụ liệu ngành may; máy móc phụ tùng và các thiết bị phục vụ ngành may công nghiệp, thiết bị điện âm thanh và ánh sáng. Kinh doanh máy in, chuyển giao công nghệ, điện thoại, máy fax, hệ thống điện thoại bàn, hệ thống điều hòa không khí và các phụ tùng.... Logo của May Việt Tiến : 2.2. Các thương hiệu con của May Việt Tiến. Việt Long : một số mang phong cách công sở, một số mang phong cách thời trang thoải mái tiện dụng. TT up: dòng thờ trang mang phong cách sành điệu. San Sciaro : dòng thời trang cao cấp mang phong cách Ý. Manhattan: dòng thời trang cao cấp mang phong cách Mỹ. Vee Sandy: thời trang thông dụng giành cho giớ trẻ, năng động.   CHƯƠNG II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. VĂN HÓA KINH DOANH 1.1. Các khái niệm Khái niệm văn hóa Văn hóa là một thuật ngữ đa nghĩa. Đó là do bản thân các vấn đề văn hóa rất phức tạp, đa dạng, do vậy các nhà nghiên cứu có những cách tiếp cận khác nhau nên dẫn đến nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm văn hóa. Cho đến nay đã có khoảng 400 500 khái niệm về văn hóa. Một con số rất lớn đủ để hiểu sự phong phú của khái niệm văn hóa. Ta có thể tiếp cận theo khái niệm sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Khái niệm văn hóa kinh doanh Văn hóa kinh doanh là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện trong cách cư xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng đồng hay một khu vực. 1.2. Các đặc trưng của văn hóa kinh doanh Văn hóa kinh doanh là văn hóa của một lĩnh vực đặc thù trong xã hội, là một bộ phận trong nền văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội. Vì vậy nó cũng mang những đặc điểm chung của văn hóa như: Tính tập quán: hệ thống các giá trị của văn hóa kinh doanh sẽ quy định những hành vi được chấp nhận hay không được chấp nhận trong một hoạt động hay môi trường kinh doanh cụ thể. Tính cộng đồng: văn hóa kinh doanh bao gồm những giá trị những tập tục, những lề thói… mà các thành viên trong cộng đồng cùng tuân theo một cách rất tự nhiên, không cần phải ép buộc. Nếu một người nào đó làm khác đi sẽ bị cộng đồng lên án hoặc xa lánh tuy rằng xét về mặt pháp lý những việc đó không trái pháp luật. Tính chủ quan: tính chủ quan của văn hóa kinh doanh được thể hiện thông qua việc các chủ thể khác nhau sẽ có những suy nghĩ, đánh giá khác nhau về cùng một sự việc và hiện tượng kinh doanh. Tính khách quan: mặc dù văn hóa kinh doanh là sự thể hiện quan điểm chủ quan của từng chủ thể kinh doanh, nhưng do được hình thành trong cả một quá trình với sự tác động của rất nhiều yếu tố bên ngoài như xã hội, lịch sử, hội nhập… nên văn hóa kinh doanh tồn tại khách quan ngay cả với chính chỉ thể kinh doanh. Tính kế thừa: văn hóa kinh doanh là sự tích tụ của tất cả các hoàn cảnh. Trong quá trình kinh doanh, mỗi thế hệ sẽ cộng thêm các đặc trưng riêng biệt của mình vào hệ thống văn hóa trước khi truyền lại cho thế hệ sau. Thời gian qua đi, những cái cũ có thể bị loại trừ nhưng sự sàng lọc và tích tụ qua thời gian sẽ làm cho các giá trị của văn hóa kinh doanh trở nên giàu có, phong phú và tinh khiết hơn. Tính học hỏi: có những giá trị của văn hóa kinh doanh không thuộc về văn hóa dân tộc hay văn hóa xã hội và cũng không phải do các nhà lãnh đạo sáng lập ra. Những giá trị đó có thể được hình thành từ kinh nghiệm hoặc được tiếp nhận trong quá trình giao lưu với nền văn hóa khác… tất cả các giá trị đó được tạo nên là bởi tính học hỏi của văn hóa kinh doanh. Tính tiến hóa: kinh doanh rất sôi động và luôn thay đổi, do đó văn hóa kinh doanh với tư cách là bản sắc của chủ thể kinh doanhcũng luôn tự điều chỉnh cho phù hợp với trình độ kinh doanh và tình hình mới. 1.3. Các nhân tố tác động đến văn hóa kinh doanh Văn hóa xã hội, văn hóa dân tộc Thể chế xã hội Quá trình toàn cầu hóa Khách hàng Sự khác biệt và giao lưu văn hóa Các yếu tố nội bộ doanh nghiệp 1.4. Các yếu tố cấu thành văn hóa kinh doanh Triết lý kinh doanh Đạo đức kinh doanh Văn hóa doanh nhân Văn hóa doanh nghiệp Văn hóa ứng xử trong kinh doanh 1.5. Văn hóa kinh doanh Việt Nam Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, văn hóa kinh doanh ở Việt Nam cũng bước đầu định hình và đạt được những thành tựu nhất định, biểu hiện ở triết lý kinh doanh, chiến lược, cách thức kinh doanh của các chủ thể kinh doanh. Doanh nhân Việt Nam dần dần được tôn trọng và được coi như những chiến sĩ tiên phong cho công cuộc chấn hưng đất nước. Vể văn hoá doanh nhân, đa phần các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay xây dựng thương hiệu theo hướng những cá nhân có tác phong chuyên nghiệp, có trình độ quản lý và năng lực; tầm nhìn. Trong quá trình xây dựng và phát triển doanh nghiệp, triết lý kinh doanh cũng được xác định rõ thông qua sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi của doanh nghiệp đó. Từ khi công cuộc đổi mới được bắt đầu đến nay, ở nước ta đã dần dần hình thành mục đích kinh doanh mới, đó là kinh doanh vì lợi ích của mỗi doanh nghiệp và lợi ích của cả dân tộc. Họ đã hướng đến việc tạo ra các sản phẩm đạt chất lượng cao, hình thức đẹp và giá thành hạ, đáp ứng được nhu cầu của thị trường, được xã hội và người tiêu dùng chấp nhận; thực hiện hoạt động kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật, làm tròn nghĩa vụ với nhà nước, tạo được uy tín đối với khách hàng; tích cực đổi mới trong nắm bắt thông tin, cải tiến kỹ thuật và công nghệ, tiết kiệm nguyên vật liệu, tạo ra được nhiều việc làm, quan tâm nhiều hơn đến đời sống vật chất và tinh thần của người làm công, chú ý bồi dưỡng và phát huy tiềm năng sáng tạo của họ. Mỗi doanh nghiệp phát triển không chỉ vì bản thân doanh nhân, mà còn vì sự phát triển của quê hương, của mỗi huyện, tỉnh; động cơ đó thúc đẩy mỗi doanh nhân vươn lên.Mục đích ấy đang được thể hiện ngày càng rõ nét trong chiến lược phát triển của mỗi doanh nghiệp; cũng đã được thể hiện trong các doanh nghiệp có hàng hóa được người tiêu dùng bình chọn đạt chất lượng cao trong những năm gần đây. Những danh hiệu “Sao đỏ”, Sao vàng đất Việt … là sự ghi nhận và tôn vinh rõ ràng nhất của xã hội đối với các doanh nghiệp, doanh nhân văn hoá điển hình. Tuy nhiên, bên cạnh đó, chúng ta vẫn phải thừa nhận rằng, trình độ văn hoá kinh doanh ở nước ta còn thấp và thiếu tính đồng bộ, thiếu những yếu tố và điều kiện đủ cho một nền văn hoá kinh doanh hiện đại, tiên tiến mà vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc. Xuất thân từ nền văn hoá tiểu nông, nên đa phần các doanh nghiệp trong nước vẫn giữ cung cách làm ăn nhỏ lẻ, thói quen tuỳ tiện, thiếu chuyên nghiệp, thiếu sáng tạo; theo đó tầm nhìn của doanh nhân Việt Nam vẫn còn khá hạn hẹp với lối tư duy ngắn hạn; các doanh nghiệp còn thiếu tính liên kết; xem nhẹ chữ tín; dẫn tới không ít doanh nghiệp lúng túng, thậm chí đi sai đường trong việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp dẫn tới khả năng cạnh tranh yếu. Trong quá trình vươn mình ra biển lớn, hội nhập cùng những nền văn hoá kinh doanh đặc trưng khác, doanh nghiệp Việt Nam rất dễ bị lay chuyển khi xây dựng văn hoá kinh doanh riêng. Những cách kinh doanh bất chấp xâm phạm đạo đức, pháp luật vẫn còn xảy ra.. Nhìn chung, văn hoá kinh doanh tại Việt Nam đã chuyển mình cùng thời đại nhưng chưa thực sự có những bước đi đột phá để tạo nên một nét bản sắc riêng của Việt Nam. Một trong những ví dụ thành công trong xây dựng văn hoá kinh doanh tại Việt Nam có thể kể tới Công ty cổ phần may Việt Tiến. Ngay từ đầu, Việt Tiến đã chú trọng phát triển nhân sự, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao và coi đó là kim chỉ nam để phát triển văn hoá kinh doanh riêng của công ty. Ban Giám đốc cho biết: “Chúng tôi ý thức được rằng tính nhân văn là yếu tố thiết yếu tạo nên nền văn hoá cũng như hành vi giao tiếp của người Việt. Việt Tiến đã đặc biệt tạo cho mình một nét nhân văn riêng trong công ty.Tính nhân văn mà Việt Tiến đang hướng tới là một nét riêng trong cách sống của người dân Việt nam vốn là một dân tộc luôn quan tâm hàng đầu đến hạnh phúc gia đình, phụ nữ và trẻ em.Trên tinh thần đó, công ty đã xây dựng chính sách sử dụng nguồn nhân lực lao động riêng cho mình với sự quan tâm tỷ mỷ đến từng người lao động”. Mọi sáng kiến đưa ra đều nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất và gia tăng giá trị cho sản phẩm khi đưa ra thị trường. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển cùng với sự thay đổi và phát triển của kinh tế xã hội nước nhà, công ty may Việt Tiến đã nhanh chóng tiếp thu những điểm tích cực trong văn hoá kinh doanh chung của Việt Nam đồng thời nhận thức được những điểm hạn chế của nó để kịp thời rút kinh nghiệm, đổi mới văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp mình.
Xem thêm

Đọc thêm

đạo đức trong thành lập doanh nghiệp

đạo đức trong thành lập doanh nghiệp

LỜI MỞ ĐẦU 1.Lý do chän ®Ò tµi Trong qu¸ tr×nh häc tËp, nhiÖm vô lµm tiÓu luËn m«n häc lµ rÊt cÇn thiÕt, ®ã lµ h×nh thøc tù häc tËp sau mçi giê lªn líp, nh»m ph¸t huy tÝnh tù chñ, n¨ng ®éng s¸ng t¹o cña mçi sinh viªn. Tuy nhiªn, chän mét ®Ò tµi t×m hiÓu ®Ó ®¹t ®­îc nh÷ng môc ®Ých, hiệu quả cao th× trong néi dung cña c¶ m«n häc chän phÇn néi dung mµ b¶n th©n cßn ch­a ®­îc hiÓu râ rµng, s©u s¾c. Đạo đức là một phạm trù đặc trưng của xã hội loài người. Đạo đức là một phạm trù rất rộng đề cập đến mối quan hệ con người và các quy tắc ứng xử. Nó gắn liền với cuộc sống, trong tất cả các hoạt động của con người, trong giao tiếp xã hội và trong kinh doanh. Và ở đây nhóm chúng em chọn đề tài: “Đạo đức trong thành lập doanh nghiệp” để nghiên cứu và tìm hiểu. 2.Mục đích nghiên cứu Đạo đức kinh doanh thực tế của một doanh nhân thường thể hiện khi thành lập doanh nghiệp, tổ chức quản lý và khi chấm dứt một doanh nghiệp. Khi thành lập doanh nghiệp, doanh nhân cần phân biệt rõ ràng các loại hình kinh doanh để đáp ứng đúng các yêu cầu đạo đức đã đề ra cho mỗi kiểu kinh doanh, phải khai báo trung thực, làm ăn công khai mà nhất là tránh các ngành nghề mà pháp luật đã cấm. Như vậy mục đích nghiên cứu của đề tài là: • Cơ sở lý luận: Tìm hiểu về các loại hình kinh doanh: Đăng ký kinh doanh, không đăng ký kinh doanh. • Thực trạng và giải pháp về vấn đề đạo đức trong thành lập doanh nghiệp
Xem thêm

Đọc thêm

thực trạng và giải pháp đạo đức trong bán hàng

thực trạng và giải pháp đạo đức trong bán hàng

MỞ ĐẦU 1.Sự cần thiết của đề tài Đạo đức trong kinh doanh không chỉ là câu khẩu hiệu để lấy lòng người tiêu dùng. Chúng còn là công cụ để tối đa hoá lợi nhuận, để củng cố thương hiệu của mỗi doanh nghiệp, doanh nhân, với đạo đức trong bán hàng là một phần của đạo đức kinh doanh đóng vai trò quan trọng đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng. Tuy nhiên trong hoạt động diễn ra hàng ngày, vấn đề vi phạm đạo đức trong bán hàng luôn tồn tại, diễn ra rất đa dạng và phổ biến như hàng giả, hàng nhái, hàng cấm, cạnh tranh bất chính …điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới an sinh xã hội, ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Từ nhiệm vụ làm bài tiểu luận, cũng như nhận thức những vấn đề về đạo đức kinh doanh ngày nay, để cũng cố kiến thức đã học, nhóm chúng em chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp trong đạo đức bán hàng” làm đề tài tìm hiểu. 2.Đóng góp của đề tài Qua đề tài, nhóm sẽ đưa ra những vấn đề về đạo đức trong bán hàng đang diễn ra hàng ngày, dựa trên cơ sở lý luận, sẽ phân tích nguyên nhân cũng như sự ảnh hưởng của nó tới an sinh xã hội, tới người tiêu dùng, từ đó nhóm thống nhất đưa ra một số ý kiến nhận xét nhằm giảm thiểu tối đa vấn nạn vi phạm đạo đức trong bán hàng – đạo đức kinh doanh. 3.Phương pháp nghiên cứu Bài tiểu luận được thực hiện dựa trên các phương pháp Tổng hợp – Phân tích Quy nạp – Diễn dịch Logis 4.Hạn chế của đề tài Với thời gian thực hiện đề tài ngắn, kiến thức còn nhiều hạn chế, quá trình tiếp xúc thực tế chưa được cụ thể, tuy bài được thực hiện bởi nhiều người (nhóm) có thể bổ sung, góp ý cho nhau, nhưng cũng còn nhiều vấn đề chưa thống nhất nhau. Vì vậy bài làm không thể tránh được những thiếu sót. Rất mong được thầy cô và các bạn góp ý để nhóm được hoàn thiện hơn.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề