CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Con người và bản chất":

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC PHÂN TÍCH CÁC PHƯƠNG DIỆN TIẾP CẬN NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA CON NGƯỜI THEO QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC PHÂN TÍCH CÁC PHƯƠNG DIỆN TIẾP CẬN NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA CON NGƯỜI THEO QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN

Sự phát triển của lực lượng sản xuất tự nó đã nói lên trình độ con người chiếmlĩnh tự nhiên và khả năng sử dụng các lực lượng tự nhiên của con người; nói lêntrình độ phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ.Trong hoạt động sản xuấtvật chất của mình, con người càng chiếm lĩnh được nhiều lực lượng vật chất baonhiêu thì trình độ phát triển của xã hội càng cao bấy nhiêu. Chính C.Mác đãnhấnmạnh trong bộ Tư bản của ông rằng, những thời đại kinh tế khác nhau không phảiở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất ra cái đó bằng cách nào,5với những tư liệu lao động nào. Đó cũng là lý do tại sao chủ nghĩa Mác coi sự pháttriển của lực lượng sản xuất có vai trò quyết định, là động lực chủ yếu trong sựphát triển của xã hội.Tuy nhiên, khi nói về động lực phát triển của xã hội, không thể chỉ nói đến cácđộng lực vật chất, mặc dù đó là những động lực cơ bản, mà không tính đến cácđộng lực chính trị -tinh thần khác như văn hoá và các giá trị văn hoá, trình độ dânchủ mà một xã hội đạt được, truyền thống và chủ nghĩa yêu nước cùng hàng loạtcác động lực khác. Sự phát triển của con người và của xã hội được đo bằng sự tiếnbộ của xã hội và của từng cá nhân con người. Tiêu chuẩn của sự tiến bộ đó tậptrung vào sự phát triển phong phú của bản chất con người cũng như sự phát triểntoàn diện con người nhằm xoá bỏ chế độ bóc lột.2. Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hộiTriết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồngthời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếutố xã hội.Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là giới tự nhiên.Cũng do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bản tính sinhhọc, tính loài của nó. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quyđịnh sự tồn tại của con người. Vì vậy, có thể nói: Giới tự nhiên là "thân thể vô cơcủa con người"; con người là một bộ phận của tự nhiên; là kết quả của quá trình
Xem thêm

12 Đọc thêm

Vấn đề bản chất con người và việc lựa chọn phương pháp quản lý qua một số học thuyết.

VẤN ĐỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI VÀ VIỆC LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ QUA MỘT SỐ HỌC THUYẾT.

Bản chất con người là gì? Nhiều thế kỉ đi qua, vấn đề bản chất con người vẫn là chủ đề tranh luận của nhiều nhà tư tưởng, nhà khoa học. Thật khó để chọn ra một quan điểm nào là đúng hơn. Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ thế nào là “ bản chất”, để từ đó có thể suy rộng ra hiểu về bản chất của con người.
Bản chất là phạm trù chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật với hiện tượng (là phạm trù chỉ sự biểu hiện ra bên ngoài của bản chất). Phạm trù bản chất gắn liền với phạm trù cái chung nhưng không đồng nhất với cái chung, có cái chung là bản chất nhưng có cái chung không phải là bản chất. Phạm trù bản chất và phạm trù quy luật là cùng loại. Tuy nhiên, quy luật thường chỉ biểu hiện một mặt, một khía cạnh nhất định của bản chất. Bản chất là tổng hợp của nhiều quy luật do đó phạm trù bản chất rộng hơn và phong phú hơn quy luật.
(Bách khoa toàn thư)
Theo chủ nghĩa Mác thì quan điểm duy tâm không thừa nhận hoặc không hiểu đúng sự tồn tại khách quan của bản chất và hiện tượng, họ cho rằng, bản chất không tồn tại thật sự, bản chất chỉ là tên gọi trống rỗng do con người bịa đặt ra, còn hiện tượng dù có tồn tại nhưng đó chỉ là tổng hợp những cảm giác của con người, chỉ tồn tại trong chủ quan con người. Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan tuy thừa nhận sự tồn tại thực sự của bản chất nhưng đó không phải là của bản thân sự vật mà theo họ đó chỉ là những thực thể tinh thần. Còn chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác cho rằng, cả bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan là cái vốn có của sự vật không do ai sáng tạo ra, bởi vì sự vật nào cũng được tạo nên từ những yếu tố nhất định. Những yếu tố này liên kết với nhau bằng những mối liên hệ khách quan, đan xen, chằng chịt. Trong đó có những mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định. Những mối liên hệ tất nhiên đó tạo thành bản chất của sự vật. Vậy, bản chất của con người có là cái tồn tại khách quan gắn liền với sự vật còn hiện tượng là những cử chỉ, hành động, cách giao tiếp biểu hiện ra bên ngoài của bản chất con người. Vậy chúng ts đặt a câu hỏi nếu đã là bản chất thì con người sẽ có những hành xử bộc phát từ cái con người vốn có của bản thân, hành vi từ một cái bản chất chung thì phải giống nhau, vậy tại sao cho đên giờ con người lại có nhiều khác nhau trong lỗi hành xử, trong cách thức hành động, trong cách thức thể hiện bản chất ra bên ngoài, có một bộ phận lộ rõ bản chất của con người nhưng cũng có một bộ phận lấn áp được bản tính tự nhiên của mình?
Xem thêm

26 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN VỀ NGUỒN GỐC BẢN CHẤT CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊ NIN VỀ NGUỒN GỐC BẢN CHẤT CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC

trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế trithức ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Quốc gia nào có chiến lượcđúng đắn trong việc phát huy nguồn nhân lực con người, chuẩn bị được nguồnnhân lực chất lượng cao dựa trên nền tảng tri thức hiện đại thì nền kinh tế củaquốc gia đó sẽ tăng mạnh mẽ, có năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế toàncầu và phát triển bền vững.Sinh thời, Bác Hồ từng nhấn mạnh rằng: cán bộ nếu chỉ có phẩm chấtđạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, mà thiếu tri thức, kiến thức khoahọc, tức có đức mà không có tài, thì cũng chẳng khác gì ông Bụt ngồi trên tòasen, không làm điều gì xấu nhưng cũng chẳng làm được việc gì có ích chođời. Sự yếu kém về trí tuệ sẽ là lực cản nguy hại đối với hoạt động của mỗingười và đương nhiên ảnh hưởng nhất định đối với tổ chức, cơ quan. Nănglực trí tuệ của con người hiện nay biểu hiện ở khả năng áp dụng những thànhtựu khoa học để sáng chế ra kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Khả năng đó thểhiện qua trình độ tay nghề, mức độ thành thạo trình độ chuyên môn nghiệpvụ... Yêu cầu nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh của quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng đòi hỏi trình độ chuyên môn hóa caocủa đội ngũ lao động. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vàngày nay trong công cuộc hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: nguồn laođộng dồi dào, con người Việt Nam có truyền thống yêu nước, cần cù sáng tạo,có nền văn hóa, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệlà nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh.Trong các nguồn lực phát triển kinh tế thì nguồn nhân lực luôn luônđóng vai trò quyết định. Vai trò quyết định được thể hiện như sau:Thứ nhất, nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng caolà nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xãhội. Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và
Xem thêm

18 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN TÂM LÝ HỌC

ĐỀ CƯƠNG MÔN TÂM LÝ HỌC

+ Nhân cách là một cấu trúc tâm lí tức là một chỉnh thể thống nhất các thuộctính, đặc điểm tâm lí xã hội, thống nhất giữa phẩm chất và năng lực, giữa đứcvà tài. Các phẩn tử tạo nên nhân cách liên hệ hữu cơ với nhau làm cho nhâncách mang tính trọn vẹn.+ Tính thống nhất của nhân cách còn thể hiện ở sự thống nhất giữa ba cấp độ:cấp độ bên trong cá nhân, cấp độ liên cá nhân và cấp độ siêu cá nhân. Đóchính là sự thống nhất giữa tâm lí, ý thức với hoạt động, giao tiếp của nhâncách.- Tính ổn định của nhân cách:Những thuộc tính tâm lí là những hiện tượng tâm lí tương đối ổn định và bềnvững. Nhân cách là tổ hợp những thuộc tính tâm lí sáng tạo thành bộ mặt tâmlí xã hội của cá nhân, phần nào nói lên bản chất xã hội của họ. Vì vậy các đặcđiểm nhân cách cũng như cấu trúc nhân cách khó hình thành và cũng khó mấtđi.Trong thực tế, từng nét nhân cách có thể thay đổi trong quá trình sống củacon người, nhưng nhìn một cách tổng thể chúng vẫn tạo một cấu trúc trọnvẹn, tương đối ổn định. Chính vậy ta mới có khả năng dự kiến trước đượchành vi của một nhân cách nào đó trong tình huống, hoàn cảnh này hay khác.- Tính tích cực của nhân cách:Nhân cách là chủ thể của hoạt động và giao tiếp, là sản phẩm của xã hội.Vìthế, tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách. Tính tích cực của nhâncách trước tiên thể hiện ở cách xác định một cách tự giác mục đích hoạtđộng, tiếp đó là sự chủ động tự giác thực hiện các hoạt động, giao tiếp nhằmhiện thực hóa mục đích.Ở đây, nhân cách bộc lộ khả năng tự điều chỉnh vàchịu sự điều chỉnh của xã hội. Đây cũng là biểu hiện tính tích cực của nhâncách.Tùy theo mức độ và loại hình hoạt động mà mục đích của nó được nhâncách xác định là nhận thức hay cải tạo thế giới, nhận thức hay cải tạo chínhbản thân mình.Giá trị đích thực của nhân cách, chức năng xã hội và cốt cáchlàm người của cá nhân thể hiện rõ tính tích cực của nhân cách. Tính tích cựccủa nhân cách cũng thể hiện trong quá trình cũng biểu hiện rõ trong quá trình
Xem thêm

30 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ ĐỐI LẬP TƯƠNG ĐỐI GIỮA BẢN THỂ LUẬN VÀ NHẬN THỨC LUẬN

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SỰ ĐỐI LẬP TƯƠNG ĐỐI GIỮA BẢN THỂ LUẬN VÀ NHẬN THỨC LUẬN

Ngoài hai thuyết trên, còn có chủ nghĩa hoài nghi. Những người theo tràolưu này nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạtđược và cho rằng con người không thể đạt đến chân lý khách quan.2. Phân biệt bản thể luận với nhận thức luậnTừ các khái niệm nêu trên có thể thấy, bản thể luận và nhận thức luận cósự khác biệt như sau:Về nội dung nghiên cứu, bản thể luận bàn về những gì đang tồn tại, diễn ratheo tự chính bản thân nó, không cần biết chúng ta có nhận thức được nó không4Môn: Triết họcNhóm 01 – CHNC23 – A1nó vẫn tồn tại theo tính quy luật của nó. Bản thể luận tìm cách mô tả phạm trùtồn tại và các mối quan hệ của phạm trù tồn tại để xác định nên thực thể và cáckiểu thực thể bên trong khuôn khổ của tồn tại. Nó giải quyết những câu hỏi như:Thế giới có nguồn gốc từ đâu, nó hình thành như thế nào, bản chất của nó là gì?Cái gì tồn tại? Như thế nào là tồn tại? Những yếu tố nào quyết định (hay khôngquyết định) sự tồn tại của một sự vật, một hiện tượng? Các sự vật ra đời, tồn tạivà mất đi có tuân theo quy luật nào không?Trong khi đó, nhận thức luận lại bàn tới nhận thức của con người về thếgiới khách quan, nó nghiên cứu về bản chất, nguồn gốc và phạm vi của quá trìnhnhận thức của con người đối với thế giới. Nhận thức luận trả lời câu hỏi: Conngười có thể nhận thức được thế giới hay không? Làm sao con người nhận biếtđược (hay không nhận biết được) một sự vật, một hiện tượng, hay một con ngườiđang tồn tại? Làm sao ta phân biệt được luận đề đúng với luận đề sai, cái này làtốt còn cái kia là xấu? Làm sao ta khẳng định được rằng những gì ta nhìn thấy làsự thật? Tri thức về điều đó có được bầng cách nào?
Xem thêm

10 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI KHÁCH SẠN MƯỜNG THANH

NGHIÊN CỨU AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI KHÁCH SẠN MƯỜNG THANH

hành chính, về kinh tế - xã hội để:- Loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, tạo nên một điềukiện lao động tiện nghi, thuận lợi và môi trường lao động ngày càng được cải thiện tốthơn nhằm bảo vệ sức khỏe, tính mạng NLĐ, góp phần tăng năng xuất lao động và giảmthiệt hại cho doanh nghiệp cũng như NLĐ- Ngăn ngừa TNLĐ và BNN, hạn chế ốm đau và giảm sút sức khỏe cũng như thiệt hạikhác đối với NLĐ- Mục tiêu chủ yếu là cải thiện điều kiện lao động, phải xử lý ôi nhiễm không khí, nướcthải, đất đai,… tại khu vực DN hoạt động, vì vậy không chỉ là công việc của doanhnghiệp mà phải được cả xã hội quan tâm1.2.1.2. Ý nghĩa• Ý nghĩa về chính trị- AT - VSLĐ thực hiện bản chất ưu việt của chế độ CNXH, thể hiện quan điểm con ngườilà động lực và mục tiêu của sự phát triển.- Trong xã hội có tỷ lệ NLĐ, BNN thấp là xã hội luôn coi trọng NLĐ là vốn quý nhất, phảiđược tôn trọng, phải được bảo vệ.- Thực hiện công tác AT- VSLĐ chính là góp phần chăm sóc sức khỏe, tính mạng và đờisống của con người – lực lượng quan trọng nhất để phát triển đất nước.• Ý nghĩa xã hội- AT-VSLĐ vừa là yêu cầu cần thiết của sản xuất, vừa là quyền lợi, nguyện vọng chínhđáng của NLĐ, là biểu hiện thiết thực nhất chăm lo đến đời sống hạnh phúc của họ.- AT-VSLĐ tốt đảm bảo xã hội trong sáng, lành mạnh, đội ngũ giai cấp công nhân cóđiều kiện phát triển toàn diện về trí lực, thể lực. Mọi NLĐ có sức khỏe sẽ làm việc cóhiệu quả cao, làm chủ bản thân, làm chủ khoa học kỹ thuật,… TNLĐ không xảy ra, sứckhỏe được đảm bảo thì Nhà nước, xã hội và gia đình không phải chịu những tổn thất dophải nuôi dưỡng điều trị và do đó hạnh phúc gia đình được đảm bảo.7• Lợi ích về kinh tế
Xem thêm

27 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ CƯƠNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

tự nhiên vô cùng vô tận, không dễ gì chúng ta thay đổi. Con người chỉ là một sinhvaajtm, sinh linh nhỏ bé trong thế giới tự nhiên cho nên hiểu biết world rất khóHiểu biết world tự nhiên tìm hiểu sv, htg, từ bên ngoài đến bên trong, từ htg đếnbản chất, từ cái riêng đến cái chung; từ cái tất yếu đến cái quy luậtMục đích cuối cùng của nhận thức trong nckh là nhà kh phản ánh đúng bc của sv,htg , tìm ra những quy luật tất yếu, khách quan của world tự nhiên, nhận thứcnhững quy luậtCải tạo thế giới:Nhận thức là bước đầu, là tiền đề của nckh. Nckh chỉ dừng lai để cung cấp hiểubiết cho con người về world tự nhiên mà còn tìn ra những giải pháp để cải tạothiên nhiên đó.3Dương Trang Đp37+4Chức năng cải tạo: là áp dụng thành tựu kh vào cuộc sống. Kh trở thành một trithức nhân loại trong hoạt động kinh tế, trong các lĩnh vực khác của đời sống XH.Vì vậy công trình Kh nào cũng hàm chứa trong đó chức năng cải tạo, hay nóicách khác là chức năng phuc vụ con người Vì vậy chứ năng cải tạo nckh là để đưa thành tự kh công nghệ vào cuộc sống- Cải tạo ntn?- Cải tạo có nhiều nghĩa, là biến đổi cái tự nhiên, cải tạo tự nhiên tạo nên nhữngkhuôn mẫu mới- Cải tạo có nghĩa là đưa những giải pháp tích cực để giải quyết 1 số vướng mặctrong cuộc sống ; tìm ra giải pháp thích hợp để thúc đẩy sự phát triển của nó.
Xem thêm

12 Đọc thêm

TÀI LIỆU đặc TRƯNG cơ bản của lối SỐNG xã hội CHỦ NGHĨA và NHỮNG vấn đề xây DỰNG lối SỐNG XHCN ở nước TA HIỆN NAY

TÀI LIỆU ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA LỐI SỐNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ XÂY DỰNG LỐI SỐNG XHCN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác Lênin, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội. Vì vậy, lối sống một phẩm chất của con người cũng được hình thành theo đúng qui luật chung đó. Lối sống được hình thành và bộc lộ ra trong cuộc sống của họ như là kết quả của một quá trình sống, hoạt động và giao tiếp xã hội. Trong cuộc sống, hoạt động của con người bao giờ cũng gắn với điều kiện, hoàn cảnh nhất định và chịu sự quy định của điều kiện và hoàn cảnh đó.
Xem thêm

16 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT Ý THỨC XÃ HỘI

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT Ý THỨC XÃ HỘI

Quy luật vận động của xã hội được thực hiện thông qua hoạt động của con người. Xã hội càng phát triển thì vai trò của con người ngày càng tăng. Nắm vững nguồn gốc, bản chất, vai trò của YT XH giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn vai trò con người trong trong sự phát triển của xã hội đồng thời có cơ sở lý luận và phương pháp luận trong xem xét lý giải một cách khoa học những hiện tượng đời sống tinh thần xã hội.

22 Đọc thêm

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC THÁI BÌNH TRONG ĐIỀU KIỆN TÁI CẤU TRÚC NGÀNH ĐIỆN VIỆT NAM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC THÁI BÌNH TRONG ĐIỀU KIỆN TÁI CẤU TRÚC NGÀNH ĐIỆN VIỆT NAM

mại, kinh doanh dịch vụ. Trong kinh tế thị trường, doanh nghiệp tiến hành kinhdoanh là tham gia cạnh tranh. Khi nền kinh tế của đất nước hội nhập với kinh tế khuvực, kinh tế thế giới doanh nghiệp có nhiều cơ hội đồng thời phải chịu nhiều sức épcạnh tranh ngày càng lớn. Trong bối cảnh đó doanh nghiệp nào tụt lùi, không tiến sovới trước, tiến chậm so với các đối thủ là tụt hậu, là thất thế trong cạnh tranh haykhông có được vị thế cạnh tranh. Từ đó hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quảthấp dẫn tới nguy cơ đổ vỡ và phá sản.Theo nghiên cứu và đánh giá của các nhà kinh tế cho rằng điều làm cho cáctổ chức thành đạt nhất khác biệt với các tổ chức khác chính là cách thức họ quản lýnguồn nhân lực. Khả năng giành được và duy trì lợi thế cạnh tranh nằm ở chính lựclượng lao động. Những quyết định khó khăn nhất mà những nhà lãnh đạo của các tổchức phải đối mặt đó chính là quyết định về nguồn nhân lực, đặc biệt là lựa chọnmột mô hình tổ chức phù hợp để có thể quản lý và điều hành một cách hiệu quảSXKD của DN. Họ phải lãnh đạo một lực lượng lao động đa dạng như thế nào, tổchức ra sao, kiểm soát chi phí lao động như thế nào để hoạt động hiệu quả nhất.Những thách thức cụ thể phụ thuộc vào những áp lực bức bách mà các tổ chức phảiđối mặt. Thế nhưng những thách thức lớn nhất đều đòi hỏi phải quản lý nguồn nhânlực sao cho đáp ứng tối ưu được các yêu cầu SXKD của mình.1.1.2. Bản chất của quản trị nhân lựcQuản trị nguồn nhân lực nghiên cứu các vấn đề về quản trị con người trong các tổchức ở tầm vi mô và có hai mục tiêu:Học viên: Đào Thị Thủy-5-Lớp CH QTKD2–2009Luận văn tốt nghiệp
Xem thêm

149 Đọc thêm

Đề cương tâm lý học quản lý

ĐỀ CƯƠNG TÂM LÝ HỌC QUẢN LÝ

Tâm lý học QL là 1 bộ môn khoa học tâm lý chuyên ngành, nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất, đặc điểm và tính quy luật của các hiện tượng tâm lý con người và các nhóm XH trong hđ LĐQL. Đồng thời nghiên cứu ứng dựng trực tiếp những đặc điểm và tính quy luật đó vào LĐQL các quá trình LĐSX, KTXH và đời sống hàng ngày của con người.

29 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT CON NGƯỜI CÁ NHÂN XÃ HỘI

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT CON NGƯỜI CÁ NHÂN XÃ HỘI

Vấn đề con người là nội dung phức tạp và luôn luôn là vấn đề trung tâm của mọi triết học, triết học nào cũng hướng về con người và quay trở lại con người. Nhận thức và giải quyết vấn đề con người là nội dung cơ bản trong mọi học thuyết chính trị xã hội, tư tưởng. Tuy nhiên, trước khi triết học Mác ra đời, những nhà triết học, nhà tư tưởng giải thích vấn đề con người có sự khác nhau, nhưng về cơ bản không khoa học. Chỉ đến khi triết học Mác ra đời, vấn đề con người mới được luận giải một cách khoa học tạo ra bước ngoặt cách mạng trong nhận thức và giải thích con người, hướng đến giải phóng con người. Để hiểu sâu sắc thực chất con người là gì? Con người có nguồn gốc từ đâu? Bản chất con người ra sao? chúng ta nghiên cứu chủ đề: “Con người, cá nhân và xã hội”
Xem thêm

22 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC III: BIỆN CHỨNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY – GIAI CẤP, DÂN TỘC VÀ NHÂN LOẠI

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC III: BIỆN CHỨNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY – GIAI CẤP, DÂN TỘC VÀ NHÂN LOẠI

PHẦN THỨ NHẤT: BIỆN CHỨNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
1.1. Xã hội và các đặc trưng cơ bản của quy luật xã hội
1.1.1. Xã hội và quy luật xã hội
Xã hội là gì?
Trước Mác, có nhiều học thuyết, lý luận tìm cách lý giải về bản chất và quy luật vận động của xã hội loài người trong đó có những khía cạnh hợp lý, tiến bộ nhưng chưa chỉ ra được tính quy luật của nó do chủ yếu lấy hệ tư tưởng (tôn giao, pháp luật, chính trị,...) làm cơ sở. Chưa có học thuyết, lý luận nào giải quyết được toàn diện, triệt để về cơ sở khoa học của bản chất và quy luật vận động, phát triển của xã hội loài người.
Thời kỳ cổ đại:
Hêrôđôt: tìm cái chung thông qua việc mô tả hoạt động sản xuất của con người và lưu truyền cho các thế hệ sau.
Pratôn: nêu ra mô hình nhà nước lý tưởng dựa trên sự bất bình đẳng trong xã hội.
Thời kỳ trung cổ:
Tômat Đacanh, Bêcơn: giải thích xã hội, số phận con người theo quan điểm coi lịch sử là sự thể hiện của mệnh trời, số phận con người do thượng đế quy định.
Thời kỳ triết học khai sáng Pháp
Hecdo: cho rằng những lực lượng sống, những năng lực người là nguồn gốc sự vận động xã hội.
Xem thêm

101 Đọc thêm

Đề cương chi tiết luận văn: Quan niệm về con trong triết học Mác – Lênin và sự tha hóa nhân cách con người trong xã hội phong kiến qua tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT LUẬN VĂN: QUAN NIỆM VỀ CON TRONG TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VÀ SỰ THA HÓA NHÂN CÁCH CON NGƯỜI TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN QUA TÁC PHẨM “CHÍ PHÈO” CỦA NHÀ VĂN NAM CAO

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về con người nói chung và quan niệm về con người trong triết học Mác – Lênin cũng như sự tha hóa nhân cách con người trong xã hội phong kiến qua tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao không phải là một vấn đề mới. Thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết tầm cỡ, quy mô và nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau nhưng vẫn chưa được quan tâm đúng mức và đầy đủ.
Trước những năm 1945, có các tác phẩm như “Tắt đèn”, “Lão Hạc”, “Chí Phèo”…, nhưng các tác phẩm ở thời kì này nói tới con người vẫn chỉ ở mức độ chung chung, chưa được cụ thể mà chỉ nhấn mạnh tới nỗi thống khổ của người nông dân.
Tuy nhiên, ở giai đoạn trước 1945, tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao là một tác phẩm có nhiều giá trị và trong đó nhân cách con người bị tha hóa được thể hiện rõ nét. Từ hiện thức này đã có khá nhiều công trình nghiên cứu như “Nam Cao – con người và xã hội cũ” (1964) của Lê Đình Kị. Hay Nguyễn Văn Trung có bài “Con người bị từ chối quyền làm người trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao” (1965). Các bài viết trên tập trung nói đến tư tưởng tiến bộ của nhà văn luôn đứng về phía những người nghèo khổ, đồng thời phản ánh hiện thực xã hội, biểu hiện những bế tắc trong tư tưởng Nam Cao. Trong bài viết của Nguyễn Văn Trung bàn đến tư tưởng nhân văn của Nam Cao qua tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người cảu nhân vật Chí Phèo. Bên cạnh đó còn nhiều công trình nghiên cứu khác như Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn “Sự tha hóa của con người trong sáng tác của Nam Cao trước 1945” của Đỗ Viết Khanh năm 2010.
Bên cạnh các công trình, sách báo viết về Nam Cao và nghiên cứu sự tha hóa nhân cách con người trong xã hội phong kiến qua tác phẩm Chí Phèo, thì quan niệm về con người trong triết học Mác – Lênin được rất nhiều người quan tâm. Một số công trình nghiên cứu như Tiểu luận “Triết học Mác – Lênin về con người” của Nguyễn Tiến Long (2013), “Vấn đề con người trong triết học Mác – Lênin và phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiên đại hóa đất nước” của Quan Văn Út (2013)…
Tuy những công trình này có những đóng góp nhất định cho việc nghiên cứu về quan niệm con người, nhưng tất cả chỉ dừng lại ở một khía cạnh nhất định. Vì vậy, qua đề tài “Quan niệm về con trong triết học Mác – Lênin và sự tha hóa nhân cách con người trong xã hội phong kiến qua tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao”, tôi mong muốn có thể đóng góp thêm những nhận định, những tư liệu giúp cho việc tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề này được hoàn thiện, đầy đủ hơn.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ
3.1. Mục tiêu
Mục tiêu của đề tài nhằm làm sáng tỏ bản chất của vấn đề nghiên cứu cả về lí luận và thực tiễn, đồng thời khảo cứu, đánh giá đúng vấn đề. Đề tài này hướng con người tới những giá trị nhân văn, nhân đạo cao cả trong triết học Mác và vạch ra bản chất thối nát của xã hội phong kiến đương thời đã làm tha hóa bản chất con người, đẩy con người vào hoàn cảnh cùng cực, tối tăm, không lối thoát.
3.2. Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của đề tài là làm rõ quan niệm về con người trong triết học MácLênin mà trước đó phải chỉ ra được những quan điểm ngoài Mác xít. Tiếp đó là làm sáng tỏ sự tha hóa nhân cách con người trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao những năm 1945, thông qua hình tượng tiêu biểu là nhân vật Chí Phèo. Cũng từ đó thấy được xã hội đương thời bần cùng hóa con người, là mất đi tính chủ thể của họ, biến họ thành những dạng tồn tại của xã hội hơn là sống.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Slide PHƯƠNG SAI SAI SỐ THAY ĐỔI

SLIDE PHƯƠNG SAI SAI SỐ THAY ĐỔI

Do bản chất của các biến số trong mô hình.
Do các phương tiện thu thập, kỹ thuật xử lý thông tin và bảo quản ngày càng hoàn thiện do đó sai số ngày càng giảm phương sai giảm.
Do con người có khả năng rút kinh nghiệm và thích nghi tốt hơn.
Mô hình chỉ định sai, xuất hiện các quan sát ngoại lai ....

15 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC CẢM TÍNH VÀ NHẬN THỨC LÝ TÍNH

MỐI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC CẢM TÍNH VÀ NHẬN THỨC LÝ TÍNH

Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

1. Khái niệm nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

Nhận thức là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan và bản thân con người thông qua các giác quan và dựa trên kinh nghiệm hiểu biết của bản thân. Nhận thức ở mức độ thấp là nhận thức cảm tính, ở mức độ cao hơn là nhận thức lý tính. Nhận thức lý tính và nhận thức cảm tính có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau trong cùng một hoạt động thống nhất của con người.


Nhận thức cảm tính là mức độ nhận thức đầu tiên, thấp nhất của con người. Trong đó con người phản ánh những thuộc tính bên ngoài, những cái đang trực tiếp tác động đến giác quan của họ. Nhận thức cảm tính bao gồm: cảm giác tri giác.


Nhận thức lý tính là mức độ nhận thức cao ở con người, trong đó con người phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối quan hệ có tính quy luật của hiện thức khách quan một cách gián tiếp. Nhận thức lý tín bao gồm tư duy và tượng.

2. Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

Giống nhau:

Đều là quá trình tâm lí nên có mở đầu, diễn biến và kết thúc một cách tương đối rõ ràng..

Chỉ phản ánh thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng.

Phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp.

Đều có ở động vật và con người

Là mức độ nhận thức đầu tiên, sơ đẳng, cảm giác có vai trò nhất định trong hoạt động nhận thức và toàn bộ đời sống con người.

Cảm giác

Tri giác

Phản ánh riêng lẻ các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng.

Là mức độ đầu tiên của nhận thức cảm tính.

Cảm giác là mối liên hệ trực tiếp giữa cơ thể và thế giới xung quanh. Nhờ mối liên hệ đó mà cơ thể có khả năng định hướng và thích nghi với môi trường. Cảm giác giúp con người thu nhận nguồn tài liệu trực quan sinh động, cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động tâm lý cao hơn.

Phản ánh trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng.

Phản ánh sự vật, hiện tượng theo cấu trúc nhất định.

Gắn liền với hoạt động của con người.

Là mức độ cao nhất của nhận thức cảm tính.

Tri giác giúp con người định hướng nhanh chóng và chính xác hơn, giúp con người điều chỉnh một cách hợp lý hoạt động của mình trong thế giới, giúp con người phản ánh thế giới có lựa chọn và có tính ý nghĩa.

Khác nhau:

So sánh nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính:

Đều là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.

Khác:

1. Nhận thức cảm tính:

Là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức. Đó là giai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động vào sự vật nhằm nắm bắt sự vật ấy.

Nhận thức cảm tính gồm các hình thức sau: cảm giác, tri giác, biểu tượng.

Đặc điểm:

Phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức.

Phản ánh bề ngoài, phản ánh cả cái tất nhiên và ngẫu nhiên, cả cái bản chất và không bản chất.

Giai đoạn này có thể có trong tâm lý động vật.

Hạn chế của nó là chưa khẳng định được những mặt, những mối liên hệ bản chất, tất yếu bên trong của sự vật. Để khắc phục, nhận thức phải vươn lên giai đoạn cao hơn, giai đoạn lý tính.

2. Nhận thức lý tính: là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận.

Đặc điểm:

Là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật, hiện tượng.

Là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng.

Nhận thức cảm tính và lý tính không tách bạch nhau mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính.

Không có nhận thức lý tính thì không nhận thức được bản chất thật sự của sự vật.
Xem thêm

4 Đọc thêm

10TƯ TƯỞNG CON NGƯỜI XÃ HỘI TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI TỚI CẬN ĐẠI

10TƯ TƯỞNG CON NGƯỜI XÃ HỘI TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI TỚI CẬN ĐẠI

thiện, ngu dốt là cội nguồn của cái ác, và chỉ có cái thiện phổ biến mới là cơ sở củađạo đức, mới là cơ sở của đức hạnh. Ai tuân theo cái thiện phổ biến thì người đó mớicó đạo đức. Và muốn theo cái thiện phổ biến thì phải hiểu được nó, muốn hiểu đượcnó phải thông qua các cuộc tranh luận, tọa đàm, luận chiến tìm ra chân lý theo cáchthức mà về sau được gọi là “phương pháp Socratess”. Trở nên thấp kém hơn bảnthân mìnhkhông phải là cái gì khác hơn ngoài sự ngu dốt, trở nên cao cả hơn bảnthân mình không phải cái gì khác ngoài sự thông thái”.Phương pháp triết học của ông gồm bốn bước: Một là “mỉa mai”, tức là nêu ranhững câu hỏi mẹo, mang tính châm biếm, mỉa mai nhằm làm cho đối phương sa vàomâu thuẫn. Hai là “đỡ đẻ tinh thần”, giúp cho đối phương thấy được con đường để tựmình khám phá ra chân lý. Ba là “qui nạp”, tức là xuất phát từ cái riêng lẻ khái quátthành những cái phổ biến, từ những hành vi đạo đức riêng lẻ tìm ra cái thiện phổ biếnTrang 7Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đạicủa mọi hành vi đạo đức. Và phương pháp cuối cùng là “định nghĩa”, là chỉ ra hành vithế nào đạo đức, quan hệ thế nào là đúng mực. Phương pháp này đối với ông chỉ cónhững người có tri thức như giai cấp quý tộc và các triết gia mới là những người cóđạo đức. Bốn bước này quan hệ chặt chẽ với nhau trên bước đường tìm kiếm tri thứcchân thật, bản chất giúp con người sống đúng với tư cách và phận sự, của nó trong đờisống xã hội.Sự đóng góp của ông thay đổi từ nguyên lý vũ trụ sang nguyên lý nhân minh đãlàm nên một bước chuyển mới trong nền triết học. Cho nên, triết học Hy Lạp mới lấyông làm tiêu chí để phân kỳ, nó là thẩm định những giá trị của tư tưởng Socratess đốivới sự phát triển trong lịch sử.Ông là một trong những nhà tư tưởng nổi tiếng thời cổ đại, ông không để lại chođời một tác phẩm nào, vì ông chỉ thường xuyên đàm luận mà không viết. Ngày naychúng ta sở dĩ biết được được về Socratess là do các học trò của ông và những tư
Xem thêm

66 Đọc thêm

ĐỘNG VIÊN NHÂN VIÊN

ĐỘNG VIÊN NHÂN VIÊN

Động viên nhân viênĐộng viên nhân viênBởi:Trần Quốc TuấnĐỘNG VIÊN NHÂN VIÊNKhái niệm động viên:Động viên là tạo ra sự hăng hái, nhiệt tình , phấn khởi và trách nhiệm hơn trong quátrình thực hiện công việc cuả các thuộc cấp, qua đó làm cho công việc được hoàn thànhmột cách có hiệu quả cao.Động viên bao gồm cả động viên về vật chất lẫn động viên về mặt tinh thần. Muốn độngviên được thuộc cấp thì cần tạo ra động cơ làm việc của họ. Động cơ thúc đẩy là xuhướng và sự cố gắng để thoả mãn một mong muốn hoặc một mục tiêu nhất định. Độngcơ thúc đẩy là một phản ứng nối tiếp như sau:Nhu cầu mong muốn thôi thúc hành động sự thoả mãn.Trong lịch sử phát triển quản trị gồm có các lý thuyết động viên sau:Lý thuyết khoa học:Xuất phát từ quan điểm : “bản chất người lao động là lười biếng & nhà quản trị hiểubiết về công việc hơn công nhân…”, do đó nhà quản trị cần dùng chính sách tiền lươngvà thưởng để động viên công nhân thực hiện các công việc lặp đi lặp lại một cách nhàmchán nhằm đạt hiệu quả cao. Chính sách động viên thường nhấn mạnh đến nhu cầu vậtchất mà không chú trọng đến nhu cầu tinh thầnLý thuyết tâm lý xã hội:Xuất phát từ quan điểm: “ quan hệ xã hội trong quá trình làm việc đã có tác dụng thúcđẩy hoặc kìm hãm sự hăng hái làm việc của công nhân. Con người sẽ nhàm chán khithực hiện những công việc nhàm chán…”, do đó động viên lao động bằng cách thừanhận nhu cầu xã hội của họ & tạo điều kiện cho họ cảm thấy hãnh diện về sự hữu íchvà quan trọng của họ trong công việc, tạo cho họ nhiều tự do hơn để làm các quyết địnhliên quan đến công việc được giao, quan tâm hơn đến các nhóm không chính thức, thông
Xem thêm

4 Đọc thêm

Tiểu luận: Nguồn lực con người - Yếu tố quyết định trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

TIỂU LUẬN: NGUỒN LỰC CON NGƯỜI - YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

Nguồn lực con người - Yếu tố quyết định trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Có thể nói vấn đề con người là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thế giới từ trước tới nay. Đó là vấn đề luôn được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu phân tích một cách sâu sắc nhất. Không những thế trong nhiều đề tài khoa học của xã hội xưa và nay thì đề tài con người là một trung tâm được các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý. Các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, y học, triết học, xã hội học,... Từ rất sớm trong lịch sử đã quan tâm đến con người và không ngừng nghiên cứu về nó. Mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó đều có ý nghĩa riêng đối với sự hiểu biết và làm lợi cho con người. Hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, lĩnh vực triết học lại có nhiều mâu thuẫn trong quan điểm, nhận thức và nó đã gây nên sự đấu tranh không biết khi nào dừng. Tuỳ theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên vấn đề này hay vấn đề kia. Đồng thời, tuỳ theo giác độ tiếp cận khác nhau mà các trường phái triết học, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp khác nhau trong việc lý giải về con người. Mặt khác trong khi giải quyết những vẫn đề trên, mỗi nhà triết học, mỗi trường phái triết học có thể lại đứng trên lập trường thế giới quan, phương pháp luận khác nhau: quan điểm duy vật hoặc duy tâm, quan điểm triết học phương Đông hoặc phương Tây, phương pháp biện chứng hoặc siêu hình,... 1. Quan điểm triết học về con người trong lịch sử Đề cập đến vấn đề con người các nhà triết học tự hỏi: Con người là gì? Bản tính, bản chất con người? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì để giải phóng mình, đạt tới tự do?... Khi phân tích các nhà triết học cổ đại coi con người là một tiểu vũ trụ, là một thực thể nhỏ bé trong thế giới rộng lớn, bản chất con người là bản chất vũ trụ. Con người là vật cao quý nhất trong trời đất, là chúa tể của muôn loài, chỉ đứng sau thần linh. Con người được chia làm hai phần là phần xác và phần hồn. Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo thì cho rằng phần hồn là do thượng đế sinh ra, quy định, chi phối mọi hoạt động của phần xác, linh hồn con người tồn tại mãi mãi. Chủ nghĩa duy vật thì ngược lại họ cho rằng phần xác quyết định, chi phối phần hồn, không có linh hồn nào là bất tử cả và quá trình nhận thức đó không ngừng được phát hiện. Càng ngày các nhà triết học tìm ra được bản chất của con người và không ngừng khắc phục lý luận trước đó. Triết học thế kỷ XV - XVIII phát triển quan điểm triết học về con người trên cơ sở khoa học tự nhiên đã khắc phục và bắt đầu phát triển. Chủ nghĩa duy vật máy móc coi con người như một bộ máy vận động theo một quy luật cổ. Còn chủ nghĩa duy tâm chủ quan, coi cái tôi và cảm giác của cái tôi là trung tâm sáng tạo ra cái không tôi, cái tôi không có khả năng vượt qua cảm giác của mình nên về bản chất là nhỏ bé yếu ớt, phụ thuộc vào “đấng tối cao”. Các nhà triết học một mặt đề cao vai trò sáng tạo của lý tính người, mặt khác coi con người là sản phẩm của tự nhiên và hoàn cảnh. Nhìn chung, các nhà triết học duy tâm trong lịch sử triết học phương Tây lại chú trọng giác độ hoạt động lý tính của con người. Tiêu biểu cho giác độ tiếp cận này quan điểm của Platon thời Cổ đại Hy Lạp, R.Descartes trong nền triết học Pháp thời Cận đại và F.Hegel trong nền triết học Cổ điển Đức. Hegel quan niệm con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối là con người ý thức và do đó đời sống con người chỉ được xem xét về mặt tinh thần song Hegel cũng là người đầu tiên thông qua việc xem xét cơ chế hoạt động của đời sống tinh thần cá nhân. Đồng thời Hegel cũng đã nghiên cứu bản chất quá trình tư duy khái quát các quy luật cơ bản của quá trình đó. Do không đứng trên lập trường duy vật, các nhà triết học này đã lý giải bản chất lý tính của con người từ giác độ siêu tự nhiên. Với Platon, đó là bản chất bất tử của linh hồn thuộc thế giới ý niệm tuyệt đối, còn với R.Descartes, đó là bản tính khi kinh nghiệm (apriori) của lý tính tuyệt đối... Đối lập với các nhà triết học duy tâm, các nhà triết học theo lập trường triết học duy vật đã lựa chọn giác
Xem thêm

22 Đọc thêm

TIỂU LUẬN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

TIỂU LUẬN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Dân chủ là một phạm trù đa nghĩa với nhiều tầng bản chất và các hình thức khác nhau. Trong các thời đại lịch sử khác nhau, thì bản chất, trình độ phát triển của dân chủ cũng có những biến đổi khác nhau. Trình độ dân chủ bị chi phối bởi trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, dân trí và các nhân tố xã hội khác. Dân chủ là một thước đo, tiêu chí đánh giá trình độ văn minh của xã hội, trình độ giải phóng xã hội, giải phóng con người, phản ánh điều kiện, năng lực làm chủ xã hội của con người.
Xem thêm

24 Đọc thêm