CON NGƯỜI DƯỚI GÓC NHÌN CỦA TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI HIỆN NAY

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Con người dưới góc nhìn của triết học và vấn đề con người trong quá trình đổi mới hiện nay":

TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAYI

TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAYI

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài khoá luận
Triết học đã nghiên cứu nhiều vấn đề, song vấn đề trung tâm của nó, vấn đề con người vẫn luôn được đề cao. Điều đó thể hiện ngay trong định nghĩa: “Triết học là hệ thống những lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vai trò của con người trong thế giới ấy”. Việc tìm hiểu, nghiên cứu về thế giới chung quy lại đều phục vụ việc tìm hiểu con người, phát triển con người. Xã hội loài người càng phát triển thì vấn đề con người càng được đánh giá cao và tìm hiểu sâu sắc. Ví dụ như thời cổ đại người ta tôn thờ những thế lực siêu nhiên, con người chỉ là kẻ tôi tớ phụng sự ý trời. Nhưng đến thời hiện đại, con người đã trở thành những kẻ chinh phục thế giới bằng trí tuệ và năng lực của mình. Ở mỗi nấc thang phát triển của loài người, vấn đề con người lại được nhìn nhận ở những khía cạnh, mức độ khác nhau. Ở thời đại hiện nay, vấn đề con người là vấn đề trung tâm, quyết định đối với sự phát triển của một đất nước. Và với Việt Nam thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết do Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ sở lý luận của sự nghiệp đổi mới đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa MácLênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nan cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân ta.
Trong thực tiễn của những năm qua, với việc áp dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin nói chung và triết học Mác Lênin nói riêng về vấn đề con người trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghịêp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa; Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn rất đáng hoan nghênh. Vì vậy việc khai thác, nghiên cứu triết học MácLênin về vấn đề con người là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách. Trong khi đó, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập về con người cho sự phát triển đất nước. Làm thế nào để phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay nói chung và với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Bình nói riêng? Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đang được nghiên cứu một cách có hệ thống, cơ bản, kịp thời nhằm tìm kiếm giải pháp phù hợp. Do đó để đánh giá đúng con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế xã hội hiện nay phải dựa trên những quan điểm, góc nhìn của triết học Mác Lênin. Bởi nội dung triết học Mác Lênin về con người đề cập đến nhiều vấn đề đó là: Bản chất của con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử...Việc nắm vững và vận dụng tốt quan điểm triết học Mác Lênin về con người ở nước ta hiện nay là một công việc cực kỳ quan trọng và cấp bách nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đó là sự hiểu biết sâu sắc và vận dụng linh hoạt quan điểm, tư tưởng của triết học Mác Lênin nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chuẩn bị những con người có đầy đủ năng lực và đạo đức cách mạng để phục vụ mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đặc biệt với Quảng Bình là một tỉnh ở khu vực Bắc Trung Bộ có nền kinh tế xã hội còn nghèo, điều kiện xây dựng và phát triển gặp nhiều khó khăn, trở ngại nên yêu cầu của việc nghiên cứu đề ra những mục tiêu, chính sách đúng đắn để phát triển đưa nền kinh tế xã hội ở Quảng Bình đi lên là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách.
Với ý nghĩa đó, tôi chọn: “Vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Bình hiện nay” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

32 Đọc thêm

VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU, Ý NGHĨA ĐỐI VỚI XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU, Ý NGHĨA ĐỐI VỚI XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

1TƯ TƯỞNG CƠ BẢN VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾTHỌC TÂY ÂU THỜI KỲ PHỤC HƯNG VÀ CẬN ĐẠI – GIÁ TRỊ VÀ ÝNGHĨA THỰC TIỄN CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG CONNGƯỜI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY1. Tư tưởng về vấn đề con người trong triết học tây âu thời kỳ phụchưng và cận đại .Tư tưởng về con người và giải phóng con người là một trong những nộidung cơ bản mà hầu hết các trào lưu triết học đều tập trung giải quyết. Tuynhiên, ở mỗi thời đại lịch sử vấn đề đó được đặt ra và giải quyết trong nhữngbối cảnh và nội dung khác nhau tuỳ thuộc vào thế giới quan và nhân sinhquan của các nhà triết học.Xét theo chiều dài lịch sử, mỗi thời đại kế tiếp nhau là một nấc thangtiến bộ của nhân loại, chế độ phong kiến ra đời thay thế chế độ chiếm hữu nôlệ cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Tuy nhiên, xét riêng về mặt triết họctrong thời kỳ này lại là bước lùi so với lịch sử triết học cổ đại. Trong một thờigian dài của đêm trường trung cổ, triết học kinh viện giữ vai trò thống trị hoàntoàn ở các nước Tây Âu. Những quan điểm duy vật bị các thế lực phong kiếncầm quyền và giáo hội đàn áp bằng những biện pháp tàn khốc, nhưng chủnghĩa duy vật không bị tiêu diệt, cùng với khoa học, triết học duy vật vẫn mởđược con đường phát triển trong xã hội phong kiến, nó đã được phục hồi vàothế kỷ XV – XVI và phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XVII – XVIII dựa trên sựphát triển của khoa học, công nghiệp và thương nghiệp.Từ thế kỷ XV, ở Tây Âu, chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ vàcác đạo luật hà khắc trung cổ bước vào thời kỳ tan rã. Nền kinh tế tự nhiên, tựcung, tự cấp kém phát triển được thay thế bằng nền sản xuất công trường thủcông đem lại năng xuất lao động cao hơn. Nhiều công cụ lao động được cảitiến và hoàn thiện. Việc sáng chế ra máy móc làm cho công nghiệp phát triển.
Xem thêm

17 Đọc thêm

Tóm tắt luận văn thạc sĩ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC FRIEDRICH NIETZSCHE

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC FRIEDRICH NIETZSCHE

. Lý do chọn đề tàiKể từ khi bước vào lịch sử đến nay, cùng với việc đi sâu tìm hiểu thế giới xung quanh, con người đã không ngừng tìm hiểu về chính bản thân mình. Biết bao nhiêu câu hỏi xung quanh vấn đề con người được đặt ra, và cũng đã có không biết bao nhiêu cách trả lời về những câu hỏi ấy. Qua nhiều thời đại, với những chế độ xã hội kế tiếp nhau trong lịch sử, vấn đề con người không hề trở nên cũ trong nhận thức của nhân loại.Là một hình thái ý thức xã hội, triết học bao giờ cũng trở lại với con người và coi con người như một đối tượng trung tâm của mình. Dù là duy vật hay duy tâm, dù có tuyên bố hay không tuyên bố là “triết học của con người, vì con người”, thì mọi trào lưu triết học từ cổ đại đến hiện đại, từ phương Tây sang phương Đông đều đi vào lý giải một cách trực tiếp hay gián tiếp những vấn đề chung nhất của con người.
Xem thêm

25 Đọc thêm

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC LENIN VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONGCHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC LENIN VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONGCHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

nguồn từ quần chúng nhân dân.Vấn đề con người trong chiến lược phát triển con người ở Việt Namhiện nayTại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khoá VIII), Đảngta đã có sự đánh giá đúng đắn, khách quan về những thành tựu, những yếukém của con người Việt Nam trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực hoạt3động, phản ánh ngày càng đầy đủ, toàn diện và kịp thời cả những mặtmạnh, ưu điểm lẫn những hạn chế, khiếm khuyết của con người Việt Namhiện nay.1. Điểm mạnh của con người Việt Nam hiện nay:Thứ nhất, trong công cuộc đổi mới đất nước, trong điều kiện mớicủa khu vực và thế giới, con người Việt Nam vẫn luôn gắn bó mậtthiết với những giá trị văn hoá truyền thông, với những phẩm giácủa dân tộc mà điểm nổi bật là tinh thần yêu nước, ý thức độc lậpdân tộc, tự lực, tự cường, đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc. Biểu hiệncủa điểm mạnh này là thái độ tích cực của mỗi công dân trước vậnmệnh của Tổ quốc, trước các chuyển đổi về kinh tế, xã hội hiện nay.Thứ hai, con người Việt Nam vẫn luôn thể hiện đức tính cần cù,sáng tạo trong mọi hoạt động. Đức tính này là một giá trị đặc trưng,chiếm vị trí xứng đáng trong bảng giá trị về nhân cách của conngười Việt Nam. Thái độ tích cực của con người Việt Nam trongđịnh hướng và lựa chọn giá trị này là điều kiện hết sức thuận lợi chocông tác giáo dục, từ giáo dục truyền thống, lối sống đến giáo dụcđạo đức, nhân cách con người hiện đại... nhằm phục vụ sự nghiệpcông nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.Thứ ba, nét đặc trưng của đời sống tinh thần, của phẩm giá của
Xem thêm

9 Đọc thêm

Luận văn 2015: Vấn đề con người trong triết học nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam hiện nay

LUẬN VĂN 2015: VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

... giáo dục đào tạo người xã hội Việt Nam Chính vậy, để góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu ảnh hưởng vấn đề người triết học Nho giáo xã hội Việt Nam, chọn đề tài: “ Vấn đề người triết học Nho giáo. .. ĐỀ CON NGƯỜI ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM 2.1 Ảnh hưởng triết học Nho giáo người xã hội truyền thống Việt Nam 2.1.1 Quá trình Nho giáo thâm nhập vào Việt Nam Đạo Nho truyền bá vào Việt Nam không đường... dung vấn đề người Nho giáo ảnh hưởng xã hội Việt Nam Ý nghĩa Luận văn Từ góc độ triết học, Luận văn bước đầu làm sáng tỏ trình bày có hệ thống nội dung quan niệm Nho giáo vấn đề người ảnh hưởng xã
Xem thêm

79 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

nên quan trọng nếu xem xét đến những thách thức phát triển con người đang nổilên” [149, tr.5]. Sự thật là, thế giới ngày càng giàu có hơn nhưng bất bình đẳng vềthu nhập, tài sản và cơ hội cũng ngày càng lớn bên cạnh bất bình đẳng giới vẫn còntồn tại dai dẳng; những cú sốc về kinh tế, tài chính, thiên tai và dịch bệnh vẫn đangđe dọa an ninh con ngườiTrong khi những thành tựu văn hóa và văn minh đạt tới1trình độ cao hơn, thì không phải vì thế mà những vấn đề về PTCN sẽ dần mất đi haybớt căng thẳng hơn. Mặc dù được giải quyết ngày càng căn bản, nhưng những vấnđề mới và cũ về PTCN cũng xuất hiện ngày càng đa dạng và phức tạp.Trong bối cảnh chung đó, những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về PTCNvẫn đang tiếp tục được chú ý ở trình độ sâu sắc hơn, nhằm từng bước tháo gỡ, giảiquyết những vấn đề về PTCN đang đặt ra trong thực tiễn ở phạm vi quốc gia cũngnhư trên toàn thế giới.Với triết học Mác, con người và PTCN là một trong những nội dung rất cănbản. Trong suốt thế kỷ XX và hiện nay, quan điểm của chủ nghĩa Mác về con ngườivà PTCN vẫn thu hút sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà hoạt động xã hội,bởi ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc của nó trong giải quyết những vấn đề mới củaPTCN hiện đại. “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tựdo của tất cả mọi người”, tư tưởng nổi tiếng của C.Mác và Ph.Ănghen nêu trong“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ngày nay vẫn là tư tưởng có ý nghĩa lý tưởng đốivới mọi lý thuyết về PTCN.Ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong PTCN gắn liền với những thànhtựu của công cuộc đổi mới. Đảng cộng sản Việt Nam trên cơ sở Chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với những chỉ dẫn tư tưởng về con người vàPTCN, đã cụ thể hóa quan điểm PTCN bằng các chủ trương, đường lối và thực hiệnquan điểm đó thông qua các chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Sự dunhập các tư tưởng thời đại vào Việt Nam từ cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, đã
Xem thêm

190 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

tình trạng tha hóa, phát triển toàn diện, hài hòa, cân đối trí lực và thể lực, đức và tài,phát triển cá tính và sự phong phú của con người, phát triển một cách tự do, đầy đủvà làm chủ, thích ứng với sự di động chức năng xã hội của con người” [40, tr.33].Trong Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2014 của Ngân hàng thế giới vớichủ đề Phát triển kỹ năng: Xây dựng lực lượng lao động cho một nền kinh tế thịtrường hiện đại ở Việt Nam cho rằng, Việt Nam đã rất nỗ lực để mở rộng khả năngtiếp cận giáo dục cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra đối vớingười sử dụng lao động họ rất cần người lao động có kỹ năng tư duy phản biện vàkỹ năng giao tiếp - nhưng điều đó còn rất thiếu và yếu. “Thách thức đối với ViệtNam chính là: làm thế nào có thể biến sinh viên tốt nghiệp từ những người học giỏitheo sách vở trở thành những người có tư duy phản biện và biết giải quyết vấn đề”[tr.26]. Từ đó Báo cáo khẳng định, việc xây dựng một lực lượng lao động có kỹnăng cao là trách nhiệm chung của chính phủ, các cơ sở giáo dục - đào tạo, người sửdụng lao động, sinh viên và phụ huynh. Tác giả Hồ Sĩ Quý trong bài viết Phát triểncon người Việt Nam qua các báo cáo thường niên về phát triển con người củaUNDP [109] đã phân tích và làm rõ triết lý con người chiếm vị trí trung tâm của sựphát triển trong quan niệm của UNDP. Trên cơ sở các chỉ số, chỉ báo, các tiêu chívề sự phát triển con người do UNDP đưa ra trong các HDR hàng năm, tác giả đãphân tích, so sánh và nhận xét về những thành tựu trong PTCN của Việt Nam từ1990 đến 2005, khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với sự PTCN. Tácgiả Nguyễn Văn Sơn trong Luận án của mình Quan điểm của C.Mác về phát triểncon người và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay [112] đã trình bày quan điểm củaC.Mác về PTCN, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng quan điểm nàyđối với sự tiến bộ mọi mặt đời sống xã hội ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, tác giảchưa đề cập vấn đề con người trong triết học Mác dưới hai góc độ là con người cánhân và cộng đồng, do đó khi đánh giá thực trạng PTCN Việt Nam chưa làm rõđược con người với cả hai tư cách là con người cá thể và con người xã hội.Trong bài viết Tăng trưởng kinh tế và phát triển con người: một số vấn đềthực tiễn ở Việt Nam hiện nay [56], [57] tác giả đã xem xét mối tương quan giữa
Xem thêm

191 Đọc thêm

DE CUONG TRIET HỌC MÁC LÊ NIN

DE CUONG TRIET HỌC MÁC LÊ NIN

Ở nước ta, lý luận trở thành thiết thân đối với sự nghiệp đổi mới nói riêng, đối với toàn bộ vận mệnh của chủ nghĩa xã hội nóichung. Giai đoạn hiện nay của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi “Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phầnphát triển lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực tổ chức củamình để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra”7.Trong những năm qua, công tác tư tưởng, công tác lý luận được Đảng ta hết sức chú trọng. Chúng ta coi đổi mới tư duy lý luận làkhâu đột phá, là điều kiện và tiền đề cho những đổi mới trong hoạt động thực tiễn. Công tác tư tưởng, lý luận đã góp phần khôngnhỏ vào những thành công của công cuộc đổi mới. Tuy vậy, công tác tư tưởng, công tác lý luận, công tác tổ chức, cán bộ nhìn chungvẫn có nhiều yếu kém, bất cập.Bên cạnh đó, trình độ tư duy lý luận của nhiều cán bộ, đảng viên nhìn chung còn thấp kém, chưa tương xứng với những công việcđược giao phó. Vì vậy, nâng cao một cách căn bản trình độ trình độ lý luận, trình độ trí tuệ của Đảng là phương hướng quan trọngvà cấp bách hiện nay. ý thức được tình trạng thiếu tri thức khoa học và yếu kém về lý luận, Đảng ta đã vạch ra phương hướng vàgiải pháp khắc phục hạn chế đó.2. Định hướng chủ yếu nhằm đổi mới, tăng cường công tác tư tưởng, lý luậnĐổi mới nhận thức lý luận và công tác lý luận là một quá trình khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải đấu tranh với tính bảo thủ, trì trệ vàsức ỳ của những quan niệm lý luận. Đồng thời, cần chỉ rõ những tư tưởng sai trái, cực đoan muốn từ bỏ những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thay thế vào đó là hệ tư tưởng tư sản và con đường tư bản chủ nghĩa.Khắc phục bệnh giáo điều và kinh nghiệm là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong trong quá trình đổi mới lý luận ở nước ta hiệnnay. Vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thường dẫn đến sai lầm cực đoan là bệnh giáo điều và bệnh kinhnghiệm. Đây là hai "căn bệnh
Xem thêm

18 Đọc thêm

Thế giới quan duy vật biện chứng theo tư tưởng hồ chí minh

THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

. Lý do chọn đề tài
“Từ đầu những năm hai mươi của thế kỷ XX, một con người đã trở thành hiện thân của quá trình gặp gỡ lịch sử giữa một dân tộc, một thời đại, làm nên một sự nghiệp cách mạng lớn lao. Con người ấy là Hồ Chí Minh. Dân tộc ấy là dân tộc Việt Nam. Thời đại ấy là thời đại quá độ trên toàn thế giới từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp ấy là sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, góp phần vào công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, đó là bốn nhân tố lịch sử tác động qua lại, đa dạng và quyện chặt vào nhau, bắt đầu từ một con người và cuối cùng thể hiện trong một sự nghiệp
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam cho tư duy và hành động của toàn Đảng, toàn dân ta. Trong giai đoạn hiện nay, khi phong trào cách mạng trên toàn thế giới tạm thời thoái trào, cách mạng Việt Nam đang bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện, phát triển đầy sáng tạo và không ngừng đi lên, nhưng cũng đứng trước những thử thách đầy cam go, thì việc nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh là cần thiết hơn bao giờ hết để củng cố niềm tin và hoạch định bước đi vào chủ nghĩa xã hội.
Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Thế giới quan duy vật biện chứng theo tư tưởng Hồ Chí Minh” là đề tài tiểu luận trong học phần tư tưởng triết học Hồ Chí Minh.
Xem thêm

28 Đọc thêm

Đề cương chi tiết luận văn: Quan niệm về con trong triết học Mác – Lênin và sự tha hóa nhân cách con người trong xã hội phong kiến qua tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT LUẬN VĂN: QUAN NIỆM VỀ CON TRONG TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VÀ SỰ THA HÓA NHÂN CÁCH CON NGƯỜI TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN QUA TÁC PHẨM “CHÍ PHÈO” CỦA NHÀ VĂN NAM CAO

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về con người nói chung và quan niệm về con người trong triết học Mác – Lênin cũng như sự tha hóa nhân cách con người trong xã hội phong kiến qua tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao không phải là một vấn đề mới. Thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết tầm cỡ, quy mô và nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau nhưng vẫn chưa được quan tâm đúng mức và đầy đủ.
Trước những năm 1945, có các tác phẩm như “Tắt đèn”, “Lão Hạc”, “Chí Phèo”…, nhưng các tác phẩm ở thời kì này nói tới con người vẫn chỉ ở mức độ chung chung, chưa được cụ thể mà chỉ nhấn mạnh tới nỗi thống khổ của người nông dân.
Tuy nhiên, ở giai đoạn trước 1945, tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao là một tác phẩm có nhiều giá trị và trong đó nhân cách con người bị tha hóa được thể hiện rõ nét. Từ hiện thức này đã có khá nhiều công trình nghiên cứu như “Nam Cao – con người và xã hội cũ” (1964) của Lê Đình Kị. Hay Nguyễn Văn Trung có bài “Con người bị từ chối quyền làm người trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao” (1965). Các bài viết trên tập trung nói đến tư tưởng tiến bộ của nhà văn luôn đứng về phía những người nghèo khổ, đồng thời phản ánh hiện thực xã hội, biểu hiện những bế tắc trong tư tưởng Nam Cao. Trong bài viết của Nguyễn Văn Trung bàn đến tư tưởng nhân văn của Nam Cao qua tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người cảu nhân vật Chí Phèo. Bên cạnh đó còn nhiều công trình nghiên cứu khác như Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn “Sự tha hóa của con người trong sáng tác của Nam Cao trước 1945” của Đỗ Viết Khanh năm 2010.
Bên cạnh các công trình, sách báo viết về Nam Cao và nghiên cứu sự tha hóa nhân cách con người trong xã hội phong kiến qua tác phẩm Chí Phèo, thì quan niệm về con người trong triết học Mác – Lênin được rất nhiều người quan tâm. Một số công trình nghiên cứu như Tiểu luận “Triết học Mác – Lênin về con người” của Nguyễn Tiến Long (2013), “Vấn đề con người trong triết học Mác – Lênin và phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiên đại hóa đất nước” của Quan Văn Út (2013)…
Tuy những công trình này có những đóng góp nhất định cho việc nghiên cứu về quan niệm con người, nhưng tất cả chỉ dừng lại ở một khía cạnh nhất định. Vì vậy, qua đề tài “Quan niệm về con trong triết học Mác – Lênin và sự tha hóa nhân cách con người trong xã hội phong kiến qua tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao”, tôi mong muốn có thể đóng góp thêm những nhận định, những tư liệu giúp cho việc tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề này được hoàn thiện, đầy đủ hơn.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ
3.1. Mục tiêu
Mục tiêu của đề tài nhằm làm sáng tỏ bản chất của vấn đề nghiên cứu cả về lí luận và thực tiễn, đồng thời khảo cứu, đánh giá đúng vấn đề. Đề tài này hướng con người tới những giá trị nhân văn, nhân đạo cao cả trong triết học Mác và vạch ra bản chất thối nát của xã hội phong kiến đương thời đã làm tha hóa bản chất con người, đẩy con người vào hoàn cảnh cùng cực, tối tăm, không lối thoát.
3.2. Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của đề tài là làm rõ quan niệm về con người trong triết học MácLênin mà trước đó phải chỉ ra được những quan điểm ngoài Mác xít. Tiếp đó là làm sáng tỏ sự tha hóa nhân cách con người trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao những năm 1945, thông qua hình tượng tiêu biểu là nhân vật Chí Phèo. Cũng từ đó thấy được xã hội đương thời bần cùng hóa con người, là mất đi tính chủ thể của họ, biến họ thành những dạng tồn tại của xã hội hơn là sống.
Xem thêm

10 Đọc thêm

PHẬT GIÁO CÓ VAI TRÒ TRONG VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA KINH DOANH Ở NƯỚC TA.

PHẬT GIÁO CÓ VAI TRÒ TRONG VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA KINH DOANH Ở NƯỚC TA.

Tìm hiều về vấn đề này, ở Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực.
Trong các nghiên cứu các nhà nghiên cứu đã sử dụng chung các phương pháp như phương pháp như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh . Nghiên cứu của Hòa thượng, tiến sỹ Phật học Thích Minh Châu với đề tài “Đạo đức học Phật giáo”, nxb Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1995. Nghiên cứu được tác giả nêu lên những cơ sở và nhiều phạm trù đạo đức Phật giáo trong đó phân tích và cắt nghĩa nội dung của hạnh, nghiệp, thiện, ác. Bên cạnh đó khi nghiên cứu về đạo đức tôn giáo cũng thời điểm có cùng phương pháp nghiên cứu phải kể tới công trình “đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Duy Qúy . Với nghiên cứu “mấy vấn đề đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Phúc. Cuốn “một số vấn đề về lối sống đạo đức, chuẩn giá trị xã hội” của tác giả Huỳnh Khải Vinh chủ biên. Tác giả Đoàn Văn Khiêm với nghiên cứu “lý tưởng đạo đức và việc giáo dục lý tưởng đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện nay”.
Trên cơ sở đã dựa trên các phương pháp kết hợp với kết quả nghiên cứu đã cho thấy các công trình trên đã khái quát được nội dung chính về tình hình, thực trạng cũng như những biến đổi về mặt đạo đức của đông đảo thanh niên nói riêng và đạo đức Phật giáo nói chung. Những giá trị đạo đức trong bối cảnh đất nước đổi mới cũng như những hạn chế trong đạo đức con người trước tác động của cơ chế thị trường thông qua đó đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện đạo đức con người trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Tuy nhiên, những nghiên cứu này thiên về lĩnh vực nghiên cứu theo tôn giáo học, lịch sử và triết học nên sự đa dạng về phương pháp nghiên cứu không phát huy tối ưu của phương pháp phân tích định lượng như lĩnh vực xã hội học.
Bên cạnh những hạn chế, đề tài đã thể hiện được các giá trị và hạn chế của đạo đức Phật giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay. Đề tài đã đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm phát huy mặt tích cực, khắc phục những hạn chế của đạo đức Phật giáo.
Luận văn thạc sỹ triết học của Nguyễn Thúy Thơm về “vai trò Phât giáo trong đời sống tinh thần người Việt Nam (qua triều đại Trần), 2010. Nghiên cứu này đã hạn chế nhược điểm của Hoàng Văn Thụ đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, tối ưu hóa các ưu điểm của các phương pháp chứ không mang tính chất liệt kê tuy nhiên nghiên cứu chưa thể hiện sâu về bề rộng và chiều sâu phân tích, lý giải cũng như so sánh vấn đề.
Trong cuốn Ballet, Doanh nghiệp và đạo đức, nhà xuất bản thế giới, 2005 đã
đề cập đến đạo đức kinh doanh của con người. Cũng giống như một số công trình khác, cuốn sách đã đề cập đến vấn đề đạo và vô đạo trong kinh doanh. Điều thú vị ở tác phẩm đã truyển trải được thông điệp này tới người đọc bằng cách hình ảnh đưa ra với lý lẽ rất thuyết phục và thực tế.
Cùng sử dụng phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp phân tích tài liệu, có các tác giả như Trần Văn Trọng, tác giả Tạ Chí Hồng, Nguyễn Phan Quang, Đặng Thị Lan, các tác giả đã nêu bật được ý nghĩa phật giáo trong đời sống con người. Tiêu biểu có công trình “đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại” của tác giả Trần Văn Trọng, nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1993. Tác giả Đặng Thị Lan lại nghiên cứu về khía cạnh “đạo đức Phật giáo với đạo đức con người Việt Nam”. Nxb đại học Quốc gia Hà Nội, 2006. Lê Hữu Tiến với nghiên cứu “ảnh hưởng của những tư tưởng triệt học Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam “. Luận án tiến sỹ triết học của Tạ Thị Hồng với “ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội của Việt Nam hiện nay”, 2008. Trong nghiên cứu khác của Hoàng Thị Lan với nghiên cứu “ảnh hưởng của đọa đức tôn giáo với đọa đức trong xã hội Việt Nam hiện nay”, được tiến hành năm 2012.
Về cơ bản các nghiên cứu đã hệ thống hóa được phần nào những tư tưởng cơ bản của đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng cũng như vai trò của tôn giáo ảnh hưởng đến đời sống con người. Các nghiên cứu cũng đã tiếp cận dưới góc độ của triết học và tôn giáo học để chỉ ra những ảnh hưởng của phật giáo trong đời sống con người Việt Nam.
Qua các nghiên cứu đó, ta thấy ưu điểm của phương pháp nghiên cứu triệt học, tôn giáo học. Tuy nhiên, ở chiều cạnh khác các nghiên cứu cũng đã thể hiện hạn chế trong phương pháp nghiên cứu vì vậy các nghiên cứu chưa thể hiện chiều sâu về ý nghĩa thực tế.
Luận văn thạc sỹ Triết học, của Hoàng Văn Thụ về “đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với một số lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam hiện nay”, 2011.
Nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp logic và lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp so sánh, phương pháp quan sát và phương pháp điều tra. Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu này là chưa thể hiện thuyết phục đối với 1 số lĩnh vực nêu ra. Tên đề tài quá rộng nhưng nội dung chỉ tập trung làm rõ lĩnh vực kinh tế và văn hóa. Nghiên cứu liệt kê phương pháp điều tra nhưng luận văn không thể hiện rõ phương pháp vì vậy một số phương pháp chỉ nêu ra theo hình thức liệt kê chứ không áp dụng trong nghiên cứu. Từ cách tiếp cân hệ thống đặc điểm chung của Phật giáo và đạo đức Phật giáo, người nghiên cứu chỉ chú trọng và việc phân tích những ảnh hưởng cơ bản của đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
Quan các nghiên cứu đó, ta thấy liệu phật giáo có vai trò gì trong việc xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam?
Để trả lời cho câu hỏi trên, trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu về lĩnh vực triết học, tôn giáo học, dân tộc học, nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ xã hội học, bài viết này tập trung nghiên cứu : Phật giáo có vai trò trong việc xây dựng văn hóa kinh doanh ở nước ta.
Xem thêm

7 Đọc thêm

CON NGƯỜI DƯỚI GÓC NHÌN CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

CON NGƯỜI DƯỚI GÓC NHÌN CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

Chủ nghĩa xã hội do con ngời, vì con ngời. Do vậy hình thành mối quanhệ đúng đắn về con ngời về vai trò của con ngời trong sự phát triển xã hội nóichung trong xã hội, xã hội chủ nghĩa nói riêng là một vấn đề không thể thiếuđợc của thế giới quan Mác - Lênin.Không chỉ dừng lại ở thuộc tính sinh học tính sinh học mà con ngời cònlà một thực thể đặc biệt hoạt động có ý thức, có khả năng sáng tạo cho mình.Từ tự nhiên và chính trong quá trình hoạt động đó mà những quan hệ xã hội đợc hình thành có tác động mạnh mẽ tới sự hình thành nhân cách, bản chất conngời.Đúng nh Mác đã viết Con ngời là tổng hoà của những quan hệ xã hội.Con ngời là chủ thể lịch sử, sáng tạo ra lịch sử. Trong CMXHCN con ngời là yếu tố quyết định vừa là điểm xuất phát vừa là mục đích của một chínhsách kinh tế - xã hội, xây dựng xã hội chủ nghĩa là xây dựng xã hội mà ở đócó đủ những điều kiện vật chất và tinh thần, một xã hội mà ở đó con ngời đợclàm chủ cuộc sống của mình không còn cảnh ngời bóc lột ngời.Vậy Việt Nam đã làm đợc điều đó hay cha?Cho tới nay tuy chúng ta đã đạt đợc những thành tựu đáng kể nhng đờisống vật chất tinh thần của đại đa số, ngời dân vẫn còn thiếu thốn, Việt Namvẫn thuộc loại những nớc nghèo nhất thế giới, nền kinh tế vẫn ở tình trạng lạchậu, còn mang tính chất tự cấp, tự túc, đất nớc cha ra khỏi khủng hoảng kinhtế xã hội, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất cha ổn định, tình hình mất cân đốivẫn nghiêm trọng, bội chi ngân sách còn lớn, tốc độ tăng dân số cao. Cùng vớinhững thuyền thống tốt đẹp mà chúng ta đang kế thừa cũng có những truyềnthống lạc hậu của ngời đã chết đang đè nặng lên vai ngời đang sống... Vì vậymuốn không bị tụt hậu xa hơn nữa, muốn ổn định mọi mặt để đi lên và pháttriển thì tất yếu phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Do vậylý luận chủ nghĩa Mác Lênin nói chung và quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin vềcon ngời là kim chỉ nam để hớng đất nớc ta cần phải đi đâu, làm gì và làm nhthÕ nµo, ®Ó thùc hiÖn thµnh c«ng c«ng cuéc c«ng nghiÖp ho¸ hiÖn ®¹i hãa ®Êtníc, cã nh vËy chóng ta míi vît qua ®îc c¸i ngìng cña nghÌo nµn vµ l¹c hËu...
Xem thêm

19 Đọc thêm

Tóm tắt luận văn một số ảnh hưởng của triết lý ngũ giới phật giáo trong đời sống văn hoá xã hội huế

TÓM TẮT LUẬN VĂN MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT LÝ NGŨ GIỚI PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ XÃ HỘI HUẾ

.Tính cấp thiết của đề tài:
Phật giáo là một tôn giáo lớn của thế giới có nguồn gốc ở Ấn Độ. Phật giáo đã truyền vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu công nguyên, đến nay đã gần 2000 năm. Trong thời gian dài này Phật giáo đã để lại cho dân tộc ta nhiều dấu ấn có thể thấy từ tín ngưỡng cho đến văn hoá, phong tục, tập quán từ thế giới quan đến nhân sinh quan, từ tư tưởng đến tình cảm nhiều vấn đề của văn hoá dân tộc sẽ không sáng rõ nếu không hiểu được Phật giáo dân tộc.
Từ khi đạo Phật du nhập vào Việt Nam, những tư tưởng, những triết lý nhân văn đã ăn sâu vào văn minh, nếp sống, nếp nghĩ của người dân Việt Nam một cách tự nhiên. Phật giáo là một tôn giáo vì con người, mong muốn đem đến cuộc sống bình an hạnh phúc, hướng con người đến với chân thiện mỹ. Trong di sản văn hoá ở Huế, chùa Huế tồn tại như một bộ phận cấu thành của di sản văn hoá Huế, vì thế những ảnh hưởng của Phật giáo đã tác động khá rõ nét trong đời sống văn hoá xã hội của con người Huế, góp phần tạo nên tính cách Huế. Trong giai đoạn xây dựng đời sống văn hoá xã hội Huế tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Việc nghiên cứu đề tài “Một số ảnh hưởng của triết lý ngũ giới Phật giáo trong đời sống văn hoá xã hội Huế” có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn .
2. Tình hình nghiên cứu đề tài của khóa luận:
Đạo Phật đã thực sự mang tính nhân văn cao cả, triết lý của nhà Phật là hướng con người đến cuộc sống tốt đẹp khuyên con người nên tránh những đều xấu xa tội lỗi. Đây chính là chủ đề được nhiều người quan tâm, nghiên cứu khai thác. Đã có nhiều công trình của các cá nhân, tâp thể nghiên cứu về Phật giáo với nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau cụ thể như: “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay”, của Nguyễn Tài Thư (chủ biên); “Người Huế và dấu ấn Phật giáo một nét đặc thù cần chú ý trong giáo dục đào tạo” của Trần Cao Phong; “Phật học phổ thông” của Thích Thiện Hoa; “Phật pháp bách vấn” của Huyền Ngu Quảng Tánh; “Nhân sinh quan Phật giáo Huế qua góc nhìn của lịch sử triết học” của Hoàng Ngọc Vĩnh... Và còn có nhiều công trình nghiên cứu cấp trường của cán bộ giảng dạy và sinh viên trường Đại học khoa học Huế, nhìn chung Phật giáo được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Với tinh thần đó, trong khóa luận này tác giả chỉ là bước đầu tìm hiểu về triết lý ngũ giới của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó trong đời sống văn hóa xã hội Huế hiện nay.
Xem thêm

30 Đọc thêm

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH BẬC TIỂU HỌC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH BẬC TIỂU HỌC

Giáo dục – Đào tạo nói chung, giáo dục tiểu học nói riêng trong thực hiện đổi mới đồng bộ và toàn diện nhằm góp phần đào tạo những con người mới, tự chủ, sáng tạo , năng động góp phần nâng coa chất lượng dạy học trong cả nước.
Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề then chốt của chính sách dổi mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới Phương Pháp Dạy Học sẽ làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm của các thể hệ học trò – chủ nhân tương lai của đất nước.
Từ nhận thức trên, qua thực tế nhiều năm dạy học sinh lớp cuối bậc tiểu học, nhất là trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi. Tôi quyết định chọn đề tài “Đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh”.
Xem thêm

21 Đọc thêm

Tổng hợp câu hỏi ôn thi triết học và gợi ý trả lời

TỔNG HỢP CÂU HỎI ÔN THI TRIẾT HỌC VÀ GỢI Ý TRẢ LỜI

Câu 1:Anh chị hãy phân tích cơ sở lý luận và và nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 2: Phân tích cơ sở lý luận của khẳng định của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Câu3 :Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới”.Câu 4:Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện. Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện? Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.Gợi ýCơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối lien hệ phổ biến.Nguyên tắc toàn diện là gì – các yêu cầu của nguyên tắc toàn diện?Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu tôn trọng nguyên tắc toàn diện sẽ mang lại kết quả gì ? Ngược lại nếu không tôn trọng nguyên tắc toàn diện sẽ mang lại hậu quả gì ?Nguyên tắc toàn diện gợi mở cho chúng ta điều gì công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 5: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 6: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 7: Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển. Vì sao trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc phát triển? Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.Gợi ýCơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển nguyên lý về sự phát triển.Nguyên tắc phát triểnlà gì – các yêu cầu của nguyên tắcphát triển ?Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn nếu tôn trọng nguyên tắc phát triểnsẽ mang lại kết quả gì ? Ngược lại nếu không tôn trọng nguyên tắc phát triểnsẽ mang lại hậu quả gì ?Nguyên tắc phát triểngợi mở cho chúng ta điều gì công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay ?Câu 8: Phân tích cơ sở lý luận và yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc lịch sử cụ thể của phép biện chứng duy vật. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu 9: Phân tích nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác – Lênin. Vận dụng nguyên tắc này vào công cuộc đổi mới ở nưoc ta hiện nay.Câu10: Phân tích nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?Câu11: Hình thái kinh tế xã hội là gì? Ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội? Phân tích tư tưởng của Mác: “Sự phát triển hình thái kinh tế – xã hội là quá trình lịch sử – tự nhiên”. Đảng CSVN đã vận dụng học thuyết hình thái KTXH như thế nào vào thực tiễn cách mạng VN hiện nay?Câu12:Phân tích nội dung cơ bản của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tại sao nói quy luật này là quy luật cơ bản và phổ biến nhất của xã hội lòai người. Đảng CSVN đã vận dụng quy luật này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.Câu13:Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Đảng CSVN đã vận dụng mối quan hệ biện chứng này như thế nào vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay?CÂU 14: Bằng hiểu biết của mình về nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử, Anh ( chị) hãy làm sáng tỏ luận điểm sau đây của Lênin:“ Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học . Một lý luận hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị” Gợi ý Trước Mác các quan niệm về lịch sử mang tính duy tâm, phản khoa học… C. Mác Ăngghen đã vận dụng những nguyên lý của CNDVBC và PBCDV vào việc phân tích xã hội hình thành nên CNDVLS với những quan niệm duy vật và khoa học về lịch sử:+ SXVC quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội; PTSX quyết định đời sống chính trị và tinh thần nói chung.+ Sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên ( theo các quy luật khách quan)+ Nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước+ Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội mang tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội+ Bản chất con người…+ Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sửCÂU15: Hãy giải thích và chứng minh luận điểm sau đây của Lênin:“ Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” Gợi ýGải thích: Luận điểm trên chỉ rõ sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên diễn ra theo các quy luật khách quan mà quy luật cơ bản, quan trọng nhất là quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; điều đó có nghĩa, xét tới cùng sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên được bắt đầu từ sự phát triển của LLSXKhái niệm HTKT – XH và cấu trúc của HTKT – XHChứng minh sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên theo quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, nghĩa là được bắt đầu từ sự phát triển của LLSX.CÂU 16: Giai cấp là gì? Bằng lý luận và thực tiễn, chứng minh rằng: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội”.Gợi ýGiai cấp là gì?Luận điểm trên chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầngVề mặt lý luận: Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầngVề mặt thực tiễn Dùng thực tế lịch sử để chứng minhCâu 17: Anh ( chị) hãyphân tích quan điểm của triết học Mác Lênin về bản chất con người và vận dụng các quan điểm này vào việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay.Gợi ýQuan niệm về con người trong triết học Mác:+ Con người là một thực thể sinh vật – xã hội+ Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội+ Con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của lịch sửVận dụng các quan điểm về con người trong triết học Mác vào việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay:+ Phải biết quan tâm đến con người bản năng+ Phải biết quan tâm đến lợi ích vật chất của con người+ Phải biết quan tâm đến lợi ích cá nhân,kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể+ Phải biết kế thừa những giá trị tốt đẹp của con người trong quá khứ; đồng thời phải biết xây dựng mẫu người phù hợp với từng giai đoạn lịch sử…Dùng thực tế lịch sử để chứng minhBÀI LÀMCâu 1: Phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dung nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Cơ sở lý luận:Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung của nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới. Yêu cầu của nguyên tắc này được tóm tắt như sau :khi nhận thức khách thể (đối tượng), sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắm bắt, tái hiện nó trong chính nó mà không được thêm hay bớt một cách tùy tiện . Vật chất là cái có trước tư duy. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đọan phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy. Do tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng ta không được xuất phát từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng.mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được ”bắt” đối tượng tuân theo tư duy mà phải “bắt” tư duy tuân theo đối tượng. Không ép đối tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan hay một “Lôgíc” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong tư duy các hình tượng, tư tưởng cái lôgíc phát triển của chính đối tượng đó. Toàn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng được gói ghém trong sự tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức, phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào “thế giới” bên trong của sự vật. “nghệ thuật” chinh phục như thế không mang đến cho sự vật, hiện tượng một cái gì đó xa lạ với chính nó. Điều này đặt ra cho chủ thể một tình thế khó khăn. Làm như thế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sư vật là khách quan, là phù hợp với bản thân sự vật? Nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sung thêm yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng . Khi nhận thức các hiện tượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độ quan tâm và năng lực nhận thức của các lực lượng xã hội đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đối với khuynh hướng phát triển của các hiện tượng xã hội, đối với việc đánh giá tình hình xã hội … những đánh giá có giá trị hơn, những cách giải quyết đúng hơn thường là những đánh giá, những cách giải quyết thuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập trường của giai cấp tiên tiến, của những lực lượng cách mạng của thời đại đó. Vì vậy tính khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắc tính đảng. Việc xem thường nguyên tắc này dễ dẫn đến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan, cản trở việc nhận thức đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp. Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét:Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác của lôgíc biện chứng. Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau:+ Trong hoạt động nhận thức, Chủ thể phải: Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được tùy tiện đưa ra những nhận định chủ quan. Hai là: Phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả thuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả tuyết đó bằng thực nghiệm.+ Trong hoạt động thực tiễn, Chủ thể phải : Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối nó. Hai là: Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu, kế họach, tìm kiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện. Kịp thời điều chỉnh, uốn nắng họat động của con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra.Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức có nghĩa là phát huy vai trò tri thức, tình cảm, ý chí, lý trí… tức là phát huy vai trò nhân tố con người trong họat động nhận thức và họat động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươn lên làm chủ thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng của Việt Nam:Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất. Cụ thể là: Xuất phát từ hiện thực khách quan của đất nước, của thời đại để họach định các đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Biết tìm kiếm, khai thác và sử dụng những lực lượng vật chất để hiện thực hóa đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước. Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, coi đại đòan kết tòan dân tộc là động lực chủ yếu để phát triển đất nước. Biết kết hợp hài hòa các lợi ích khác nhau (lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội...) thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc đổi mới. Đảng ta rút ra những bài học kinh nghiệm từ những sai lầm, thất bại trước đổi mới, Đảng ta kết luận: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.Câu 2: Phân tích cơ sở triết học (lý luận và phương pháp luận) trong khẳng định của Đảng cộng sản Việt Nam Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan. Ngay từ khi ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam đã lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm nền tảng tư tưởng và vận dụng tư tưởng lý luận đó vào thực tế cách mạng nước ta để đề ra đường lối, chủ trương, chính sách qua từng thời kỳ. Một trong những vận dụng cơ sở lý luận của triết học Mác Lênin vào công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng đã khởi xướng bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ IV là nguyên tắc khách quan, một nguyên tắc được rút ra từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Đảng cộng sản Việt Nam Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan. Việc tìm hiểu quy luật khách quan trên cơ sở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức để vận dụng đúng đắn quy luật này vào thực tiễn là vấn đề hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học. Phạm trù vật chất và mối liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm với nhiều quan điểm khác nhau và luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong suốt lịch sử của triết học .Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người. Lênin –người đã bảo vệ và phát triển triết học Mác đã nêu ra định nghĩa “vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại để làm cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Vật chất là một phạm trù triết học: Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất , không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày. Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan” , “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, đó cũng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất.Vật chất quyết định ý thức, vật chất quyết định nội dung ý thức. Cả ý thức thông thường và ý thức lý luận đều bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định . Phong tục, tập quán , thói quen nầy nẩy sinh trên những điều kiện vật chất nhất định đó là thực tiển xã hội –lịch sử. Chủ nghĩa xã hội khoa học đời cũng dựa trên mảnh đất hiện thực là những tiên đề về kinh tế chính trị xã hội, về khoa học tự nhiên và sự kế thừa tinh hoa tư tưởng , văn hoá nhân loại cùng với thiên tài của MÁC và Ăngghen .Do thực tại khách quan luôn luôn biến động vận động nên nhận thức của nó củng luôn luôn biến đổi theo, nhưng xét đến cùng thì vật chất bao giờ củng quyết định ý thức . Nhưng ý thức đã ra đời thì nó có tác động lại vật chất . Với tính độc lập tương đối của mình ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiển của con người .Quán triệt quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức của triết học Mác xit. Trong nhận thức và thực tiễn , chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình . Đồng thời phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố của con người trong việc nhận thức, tác động cải tạo thế giới. Quan điểm khách quan trên giúp ta ngăn ngừa và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí.Bệnh chủ quan duy ý trí là xuất phát từ việc cường điệu tính sáng tạo của ý thức, tuyệt đối hoá vai trò nhân tố chủ quan của ý chí, bất chấp qui luật khách quan, xa rời hiện thực, phủ nhận xem nhẹ điều kiện vật chất .Ở nước ta , trong thời kỳ trước đổi mới. Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắt bệnh chủ quan duy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng vật chất kỹ thuật và cải tạo xã hội chủ nghĩa ; về bố trí cơ cấu kinh tế; về việc sử dụng các thành phần kinh tế ….Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa ,sử dụng các thành phần kinh tế , đã có hiện tượng nóng vọi muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa , nhanh chống biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh trong khi đúng ra là phải duy trì thực hiện phát triển các thành phần kinh tế theo từng bước đi thích hợp , phù hợp với thời kỳ quá độ trong một thời gian tương đối dài để phát triển lực lượng sản xuất.Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy ý chí trên là do sự lạc hậu, yếu kém về lý luận, do tâm lý của người sản xuất nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độ quan liêu bao cấp.Văn kiện Đại Hội toàn quốc lần thứ 6 của Đảng ta đã nêu lên bài học :”Đảng ta luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan. Chúng ta biết rằng quan điểm khách quan đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng, phải thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các qui luật tự nhiên và xã hội, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan.Bài học mà Đảng ta đã nêu ra , trước hết đòi hỏi Đảng nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống qui luật khách quan. Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ .Mổi chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước phải xuất phát từ thực tế khách quan của đất nước và phù hợp qui luật . Chúng ta biết rằng ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong quá trình con người cải tạo thế giới . Do đó càng nắm bắt thông tin về thực tế khách quan chính xác , đầy đủ trung thực và sử lý các thông tin ấy một cách khoa học thì quá trình cải tạo thế giới càng hiệu quả .Đồng thời cần thấy rằng sức mạnh của ý thức là ở năng lực nhận thức và vận dụng tri thức củng như các qui luật của thế giới khách quan .Xuất phát từ mối quan hệ biên chứng giữa vật chất và ý thức . Đảng ta xác định Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan” là xác định vai trò quyết định của vật chất (thế giới khách quan). Như vậy , từ chủ nghĩa MácLênin về mối quan hệ vật chất và ý thức, củng như từ những kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng ta đả rút ra bài học trên.Bài học ấy có ý nghĩa thời sự nóng hổi trong quá trình đổi mới đất nước. Hiện nay, trong tình hình đổi mới của cục diện thế giới và của cách mạng ở nước ta đòi hỏi Đảng ta không ngừng phát huy sự hiệu quả lảnh đạo của mình thông qua việc nhận thức đúng, tranh thủ được thời cơ do cách mạng khoa học công nghệ, do xu thế hội nhập và toàn cầu hoá đem lại, đồng thời xác định rỏ những thách thức mà cách mạng nước a trãi qua. Câu 3: Bằng lý luận và thực tiễn chứng minh rằng Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới ?Ý thức của con người theo triết học duy vật biện chứng không phải là một hiện tượng thần bí, tách rời khỏi vật chất mà là đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức đặc biệt là bộ óc của con người, là sự phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài vào bộ óc của con người trên nền tảng của hoạt động lao động sáng tạo và được hiện thực hóa bằng ngôn ngữ. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Ý thức con người có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Nguồn gốc tự nhiên: Triết học DVBC chỉ ra rằng, phản ánh là thuộc tính chung của mọi vạn vật chất. Đó là năng lực giữ lại, tái hiện lại của 01 hệ thống vật chất này những đặc điểm của của một hệ thống vật chất khác khi 02 hệ thống vật chất đó tác động lẫn nhau. Cùng với sự phát triển của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp lên cao. Như vậy ý thức là thuộc tính của 01 dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người. Não người và sự phản ánh của thế giới khách quan vao não người chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức Nguồn gốc xã hội:Triết học DVBC chỉ ra rằng, chính lao động và ngôn ngữ là 02 nguồn gốc xã hội Quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của ý thức Chính lao động đóng vai trò Quyết định trong sự chuyển biến từ vượn thành người, làm cho con người khác với tất cả động vật khác. Lao động giúp con người cải tạo thế giới và hoàn thiện chính mình. Thông qua lao động não người càng ngày càng hoàn thiện, phát triển giúp tư duy trừu tượng phát triển. Chính lao động là cơ sở hình thành, phát triển của ngôn ngữ . Sự ra đời của ngôn ngữ sẽ giúp con người phản ánh sự vật khái quát hơn. Điều này càng thúc đẩy tư duy trừu tượng phát triển . Đây là 02 yếu tố quan trọng để phát triển ý thức. Lao động và ngôn ngữ là “hai sức kích thích chủ yếu” để bộ não vượn thành bộ não người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý thức.Về bản chất của ý thức: Các Mác đã chỉ ra rằng ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong bộ óc của con người và được cải biến đi ở trong đó. Như vậy bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng khi phản ánh thì nó mang dấu ấn chủ quan của con người. Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào óc người nhưng đó là phản ánh sáng tạo. Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế. ý thức có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những huyền thoại, những giả thuyết ... Phản ánh của ý thức là tích cực, chủ động: con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn, chủ động tác động vào sự vật hiện tượng làm cho chúng bộc lộ tính chất, thuộc tính, đặc điểm → hiểu biết vận dụng tri thức để nhận thức và cải tạo TGKQ. Ý thức mang bản chất xã hộiKhi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, quyết định ý thức thì sự nhận thức thế giới không thể xuất phát từ ý thức con người, mà phải xuất phát từ thế giới khách quan.Trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan. Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, lấy ý chí áp đặt cho thực tế vì như vậy sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật đồng thời vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng to lớn của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Quan hệ giữa vật chất và ý thức là quan hệ hai chiều. Không thấy điều đó sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm thường và bệnh bảo thủ, trì trệ trong nhận thức và hành động.Nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người, vì ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả. Do đó, muốn thực hiện tư tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn. Nghĩa là con người muốn thực hiện quy luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động. Vai trò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con người, có thể quyết định làm cho con người hành động đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định. Do đó, con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới có hiệu quả Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sáng tạo ra thế giới. Vì vậy, phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo thế giới khách quan.Từ quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ta thấy không được xem nhẹ quan điểm khách quan, tính năng động, sáng tạo của ý thức mà nó còn đòi hỏi phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố chủ quan. Bởi vì quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính năng động, sáng tạo trong việc tìm ra những biện pháp, những con đường để từng bước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật, trên cơ sở đó con người thực hiện sự biến đổi từ cái “vật tự nó” (tức thực tại khách quan) thành cái phục vụ cho nhu cầu của con người đồng thời sử dụng hiệu quả các điều kiện, sức mạnh vật chất khách quan, sức mạnh của quy luật … để phục vụ cho các mục tiêu, mục đích khác nhau của con người.Nếu trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta tuyệt đối hóa, cường điệu hóa vai trò của nhân tố chủ quan thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của xã hội và rơi vào bệnh bệnh bảo thủ trì trệ. Đây là khuynh hướng sai lầm cực đoan do cường điệu hóa vai trò của vật chất, sùng bái sức mạnh của quy luật, hạ thấp vai trò của nhân tố chủ quan. Khuynh hướng bảo thủ sẽ dẫn đến tình trạng ỷ lại, chậm đổi mới, ngại thay đổi, dựa dẫm, chờ đợi, thậm chí cản trở cái mới, bằng lòng thỏa mãn với cái đã có. Liên hệ thực tế: Bệnh bảo thủ trì trệ là một thực tế tồn tại trong thời kỳ khá dài trước đổi mới (trước Đại hội lần VI tháng 121986). Trong giai đoạn này, tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội ngày càng trầm trọng xuất phát từ bảo thủ có tác hại rất lớn. Bênh bảo thủ trì trệ được biểu hiện qua việc “chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã lỗi thời”, trong công tác tổ chức thời kỳ này “khuyết điểm lớn nhất là sự trì trệ, chậm đổi mới công tác cán bộ. Việc lựa chọn, bố trí cán bộ vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp còn theo quan niệm cũ kỹ và tiêu chuẩn không đúng đắn, mang nặng tính hình thức..” Đảng ta đã “duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp” một cơ chế gắn liền với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm giản đơn về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chất chủ quan, duy ý chí. Bệnh bảo thủ trì trệ có nguyên nhân từ sự yếu kém lạc hậu về tư duy lý luận, trí thức lý luận không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Sự giản đơn yếu kém về lý luận thể hiện ở chổ: hiểu và vận dụng chưa đúng nguyên lý, quy luật, phạm trù, chưa chú ý tiếp thu kế thừa những thành tựu, kỹ thuật công nghệ mới của chủ nghĩa tư bản, của nhân loại, thậm chí còn có định kiến phủ nhận một cách cực đoan những thành tựu đó, chưa chú ý tổng kết những cái mới từ sự vận động, phát triển của thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nguyên nhân của bệnh chủ quan là kém lý luận, lý luận là lý luận suông. Còn do nguồn gốc lịch sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của con người chi phối. Nhờ vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, chế độ XHCN ngày càng củng cố và đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội và đang có những bước chuyển biến tích cực trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Tóm lại, từ những phân tích trên cho thắng lợi của công cuộc đổi mới có được là dựa trên một nền tảng tư tưởng đúng, đó là chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà trong đó sự quán triệt và vận dụng đúng quy luật, nguyên tắc khách quan là điều kiện đảm bảo sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng.Câu 4: AnhChị hãy nêu những yêu cầu phương pháp luận và phân tích cơ sở lý‎ luận của nguyên tắc toàn diện. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và họat động thực tiễn?Trả lời: (Tham khảo thêm sách TH P2, trang 70).
Xem thêm

52 Đọc thêm

TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG CÁC TRÀO LƯU TRIẾT HỌC Ý NGHĨA TRONG PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG CÁC TRÀO LƯU TRIẾT HỌC Ý NGHĨA TRONG PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Tư tưởng về con người và giải phóng con người là một trong những nội dung cơ bản mà các trào lưu triết học nói chung, triết học Mác nói riêng đều tập trung giải quyết. Tuy nhiên, ở mỗi thời đại lịch sử vấn đề đó được đặt ra và giải quyết trong những bối cảnh và nội dung khác nhau tuỳ thuộc vào thế giới quan và nhân sinh quan của các nhà triết học.

21 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP: TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP: TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP: TRIẾT HỌC MÁC LÊNINCâu 1: Triết học là gì? Vấn đề cơ bản của triết học?1. Kn Triết học Nguồn gốc của Triết học Triết học là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy Nguồn gốc của Triết học: Triết học xuất hiện vào khoảng TK thứ 8 đến TK thứ 6 trước công nguyên. Lý do là:+ Tại thời điểm này trong xã hội đã có sự phân công lao động tương đối rõ ràng giữa lao động chân tay và lao động trí óc;+ Khả năng nhận thức của con người đã có sự phát triển vượt bậc đạt tới trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa.2. Vấn đề cơ bản của Triết học Vấn đề cơ bản của Triết học là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thể hiện ở 2 mặt, mỗi mặt trả lời cho 1 câu hỏi lớn:+ Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?+ Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Theo Ăngghen: vấn đề cơ bản lớn của mọi Triết học đặc biệt là Triết học hiện đại chính là quan hệ giữa tư duy và tồn tại (vật chất ý thức)Câu 2: Phân tích chức năng của Triết học? (Triết học có 2 chức năng)1. Chức năng thế giới quan TGQ là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới và về vị trí vai trò của con người trong thế giới ấy. Có 3 loại TGQ: TGQ huyền thoại, TGQ tôn giáo, TGQ Triết học. Cấu trúc của TGQ là sự thống nhất giữa tri thức và niềm tin. Triết học ra đóng vai trò là hạt nhân lý luận của TGQ Các khoa học cụ thể cho chúng ta tri thức về từng mặt, từng bộ phận của thế giới còn Triết học là tri thức chung nhất của con người về thế giới do đó nó là vấn đề cốt lõi, đóng vai trò là hạt nhân lý luận của TGQ.2. Chức năng phương pháp luận Kn phương pháp: phương pháp là tổ hợp những nguyên tắc và cách thức thực hiện hoạt động trong nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm đạt được mục đích đề ra Phương pháp biện chứng: là phương pháp nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự tác động, trong mối liên hệ, trong sự vận động phát triển với 1 tư duy linh hoạt, mềm dẻo. Phương pháp siêu hình: là phương pháp nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự cô lập, tĩnh tại, tách rời với 1 tư duy cứng nhắc và máy móc.Câu 3: Phân tích các tiền đề ra đời Triết học Mác Lênin1. Triết học Mác Lênin ra đời là một tất yếu lịch sửTriết học ML xuất hiện vào những năm 40 của TK 19 dựa trên những tiền đề: Tiền đề về Kinh tế Chính trị Xã hội Phương thức sản xuất TBCN có sự phát triển mạnh mẽ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về vật chất của con người và xã hội, đồng thời nó cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn (phân hóa giàu nghèo, phân chia giai cấp, mâu thuẫn về lợi ích…) Giai cấp vô sản hình thành và phát triển dần trở thành lực lượng chính trị xã hội độc lập có lợi ích cơ bản đối lập với giai cấp tư sản. Xuất hiện nhu cầu về 1 học thuyết lý luận chính trị xã hội khoa học để dẫn dắt và đưa phong trào đấu tranh của GCVS đi từ tự phát lên tự giác. Tiền đề về khoa học tự nhiên: những thành tựu về KHTN cũng là những tiền đề, luận cứ khẳng đinh tính đúng đắn về TGQ và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng Học thuyết cấu tạo tế bào (Sphennơ Stenđơ) Học thuyết tiến hóa giống loài (Đắc uyn) Tiền đề lý luận: Triết học Mác ra đời là sự kế thừa có chọn lọc Triết học cổ điển Đức (cá nhân tiêu biểu: Phoiơbắc Hêghen) Kinh tế chính trị học cổ điển Anh (Ricácđô Adamxmit) CNXH không tưởng Pháp (Xanhximong, Phurie, owen) Triết học Mác, chủ nghĩa Mác ra đời là một tất yếu của lịch sử, phù hợp với quy luật khách quan, đáp ứng nhu cầu thực tiễn mà trước hết là thực tiễn đấu tranh của GCCN để đi từ tự phát lên tự giác.2. Vai trò của Triết học Mác Lênin trong đời sống xã hội Triết học Mác Lênin đóng vai trò là TGQ khoa học phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Triết học Mác Lênin đóng vai trò là TGQ khoa học phương pháp luận cho các khoa học chuyên ngành Triết học Mác Lênin cung cấp cơ sở khoa học giúp chúng ta nhận thức đúng, chính xác về xã hội trong từng giai đoạn Triết học Mác Lênin cung cấp cơ sở khoa học để chúng ta tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển lý luận.Câu 4: Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin?1. Hc ra đời đn vật chấtCuối TK 19 đầu TK 20 xuất hiện một loạt các phát minh trong KHTN Năm 1895: Rơnghen phát hiện ra tia X  khẳng định nguyên tử là có thật Năm 1896: Béccơren phát hiện ra h.tượng phóng xạ  nguyên tử có thể bị phân chia Năm 1897: Tômxơn phát hiện ra điện tử  điện tử là yếu tố cấu thành nên nguyên tử Năm 1901: Kaufman phát hiện ra hiện tượng khối lượng biến thiên theo vận tốc Năm 1905: Anhxtanh chứng minh được thuyết tương đối E = m.c22. Đn vật chất của Lênin Đn: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. Phân tích: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan”  khẳng định vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người. “Được đem lại cho con người trong cảm giác”  khẳng định: bằng các giác quan con người có thể nhận thức được thế giới vật chất. “Được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”  khẳng định vật chất có trước ý thức, vật chất quyết định ý thức.3. Ý nghĩa của đn vật chất của Lênin (gồm 4 ý nghĩa) Giải quyết được vấn đề cơ bản của Triết học triệt để ở cả 2 mặt trên lập trường của CNDV biện chứng Bác bỏ quan điểm của CNDT siêu hình về vật chất Nâng CNDV lên một tầm cao mới, tạo tiền đề cho vật chất xây dựng quan điểm duy vật biện chứng trong lĩnh vực xã hội Định hướng cho các nhà khoa học cụ thể xây dựng một thế giới quan đúng đắn, tiếp tục đi sâu nghiên cứu thế giới.Câu 5: Phân tích nguồn gốc của ý thức theo quan điểm của CNDV biện chứng?Theo quan điểm của CNDVBC, ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc XH: Nguồn gốc tự nhiên cấu thành bởi 2 yếu tố cơ bản: Bộ óc: là sản phẩm cao nhất trong quá trình tiến hóa dài lâu của thế giới vật chất Thế giới khách quan (TGKQ): TGKQ tác động vào não người tạo ra những hình ảnh ý thức chủ quan, ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao nhất của thế giới vật chất cùng với sự xuất hiện của con người. Ý thức là ý thức của con người. Nguồn gốc xã hội của ý thức cấu thành bởi 2 yếu tố cơ bản: Lao động: lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con người tồn tại, thông qua lao động con người bắt thế giới tự nhiên phục vụ mục đích của mình và con người có thể phản ánh được thế giới khách quan Ngôn ngữ: Thông qua lao động ngôn ngữ xuất hiện, ngôn ngữ là 1 trong 2 yếu tố kích thích chủ yếu hình thành nên ý thức. Trong lao động, con người nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng giữa con người với các thế hệ người.+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức, là cái vỏ vật chất của tư duy. Nội dung của tư duy được tín hiệu hóa lưu giữ trong vỏ vật chất.+ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người trong xã hội, phản ánh khái quát sự vật, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và trong quá trình trao đổi ngôn ngữ dần hoàn thiện và phong phú hơn, nhờ ngôn ngữ tri thức loài người được lưu giữ và truyền lại cho các thế hệ sau.Câu 6: Phân tích bản chất của ý thức theo quan điểm của CNDVBC? Ý thức là sự phản ánh của thế giới khách quan vào trong bộ óc con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Ý thức là sự phản ánh mang tính năng động, sáng tạo về thế giới khách quan. Ý thức có được do sự trao đổi thông tin giữa chủ thể và khách thể, có tính chất 2 chiều có định hướng, chọn lọc. Ý thức phản ánh hiện thực nhưng không phải nguyên si mà luôn có sự mô hình hóa đối tượng phản ánh trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần và chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, hiện thực hóa tư tưởng thông qua hoạt động thực tiễn. Sự phản ánh của ý thức mang tính vượt trước, dự báo tương lai nhưng không có nghĩa ý thức đẻ ra vật chất mà đó là sáng tạo của sự phản ánh. Ý thức mang bản chất xã hội.Câu 7: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Kn về vc và ý thức Đn vật chất: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. Ý thức: là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn
Xem thêm

22 Đọc thêm

luận văn thạc sĩ triết học - GIÁO DỤC Ý THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC - GIÁO DỤC Ý THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài
Muốn thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp đủ sức vượt qua những thách thức và nguy cơ trên con đường phát triển hiện nay, chúng ta phải có những đảm bảo vững chắc về chất lượng con người. Đó là chất lượng toàn diện về sự phát triển thể lực, năng lực trí tuệ, phẩm chất đạo đức, ý thức và nhân cách nói chung của con người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ.
Nước ta đang từng bước tiến vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhưng bên cạnh đó là môi trường đang bị xuống cấp một cách trầm trọng. Nguồn tài nguyên bị khai thác một cách bừa bãi, triệt để, môi trường tự nhiên bị hủy hoại. Nguyên nhân của vấn đề này, ngoài sự tăng trưởng về kinh tế, con người chỉ quan tâm đến lợi nhuận, còn một nguyên nhân nữa đó là ý thức của con người về việc bảo vệ môi trường, về trách nhiệm của mình với môi trường. Một bộ phận không nhỏ người dân hiện nay còn thờ ơ với môi trường sống, vô cảm với sự suy thoái của môi trường, thiếu trách nhiệm với chính cuộc sống của mình và cả thế hệ tương lai.
Sinh viên là một trong những đối tượng có ảnh hưởng lớn đến môi trường. Trong đó có một phần không nhỏ là sinh viên. Nhưng ý thức của sinh viên về trách nhiệm của mình đối với môi trường như thế nào? Sinh viên cần phải hành động ra sao để bảo vệ môi trường sống xung quanh con người khi mà hàng ngày, hàng giờ chúng ta đang chứng kiến cảnh môi trường tự nhiên - cái nôi cho sự sống của chúng ta - đang bị tàn phá nghiêm trọng.
Đây là lý do thứ nhất thôi thúc chúng tôi nghiên cứu về vấn đề giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên hiện nay.
Lý do thứ hai, kinh tế thị trường đã và đang được thực hiện trên phạm vi toàn cầu đã ngày càng bộc lộ những hạn chế và mâu thuẫn vốn có của nó trong đối sách trực tiếp với những định hướng giá trị của chủ nghĩa xã hội. Tại Việt Nam, việc phát triển các nhà máy, khu công nghiệp, làng nghề đến chóng mặt, hàng năm thải ra môi trường hàng chục ngàn tấn chất thải chưa qua xử lý. Các khu dân cư, du lịch, chợ, đường giao thông có những nơi ngập tràn trong rác thải, môi trường sống ô nhiễm trầm trọng. Bởi vậy, đẩy mạnh giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên sẽ góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đồng thời khắc phục những mặt trái của kinh tế thị trường.
Lý do thứ ba, thôi thúc tác giả lựa chọn vấn đề “Giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên” làm đề tài luận văn là ở chỗ, bấy lâu nay, giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên tuy đã được đề cập đến và công bố trong một số công trình nghiên cứu trong nước, song nhìn chung vẫn còn tản mạn và dừng ở mức độ nghiên cứu, mà chưa được ứng dụng và luận giải trong một tình hình cụ thể.
Cuối cùng, hiện trạng về ý thức và giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên tại tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay càng lôi cuốn và hối thúc tác giả luận giải đúng hiện trạng, xác định rõ nguyên nhân, nhận diện các vấn đề, các tình huống mới xuất hiện, từ đó đề xuất giải pháp nhằm đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục ý thức môi trường trong các trường Đại học, Cao đẳng ở Bắc Giang, góp phần tạo chuyển biến tích cực trong chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh và đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những vấn đề liên quan đến môi trường hiện đã có rất nhiều nghiên cứu, cả từ góc độ lý luận và thực tiễn, cả từ góc độ đơn ngành đến liên ngành. Tuy vậy, từ góc độ khoa học xã hội nhân văn trong đó có triết học có thể thấy đã có những công trình cơ bản sau đây:
Một số vấn đề sinh thái nhân văn Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 1995; Nguyễn Viết Chức (chủ biên), Văn hoá ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2002; Hà Huy Thành (chủ biên), Một số vấn đề xã hội, nhân văn trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Hồ Sỹ Quý (chủ biên), Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000; Trần Lê Bảo (chủ biên), Văn hoá sinh thái nhân văn, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội 2001, Phạm Thị Ngọc Trầm “Môi trường sinh thái: Vấn đề và giải pháp” xuất bản năm 1997; Phạm Thị Ngọc Trầm (chủ biên), Quản lý nhà nước đối với tài nguyên và môi trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội – nhân văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006; Phạm Thị Ngọc Trầm, Nhân tố xã hội nhân văn trong quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, tháng 2/2008; Bùi Văn Dũng với đề tài “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền” năm 1999; Bảo vệ môi trường cần ý thức trong mỗi cá nhân, Báo Vietnamnet 12/8/2008; “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh”, Báo Quân đội nhân dân, ngày 10/9/2007; Bài phỏng vấn TS. Trần Hồng Hà, “Cần tạo chuyển biến trong nhận thức trách nhiệm và đạo đức về môi trường”, Tạp chí tài nguyên và Môi trường, tháng 2/2007.
Gần đây trực tiếp bàn đến những vấn đề liên quan đến xây xựng ý thức môi trường có các công trình: Phạm Thị Ngọc Trầm, Đạo đức sinh thái: từ lý luận đến thực tiễn, Tạp chí triết học số 2/1999; Phạm Thị Ngọc Trầm, Các giá trị văn hoá sinh thái truyền thống Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá, Tạp chí triết học số 7/2001; Phạm Thị Ngọc Trầm, Vấn đề xây dựng đạo đức sinh thái trong điều kiện kinh tế thị trường, Tạp chí triết học số 3/2002; tác giả Phạm Văn Boong với tác phẩm “Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu bền” năm 2002; tác giả Hồ Sỹ Quý, Về đạo đức môi trường, Tạp chí triết học số 9/2005; Nguyễn Thị Lan Hương, Trách nhiệm môi trường-một phương diện của trách nhiệm xã hội, tạp chí Triết học số 9/2009; Phạm Thị Ngọc Trầm, Xây dựng đạo đức sinh thái-một trách nhiệm xã hội của con người đối với giới tự nhiên, tạp chí Triết học số 6/2009; Nguyễn Văn Phúc, Bảo vệ môi trường nhìn từ góc độ đạo đức, Tạp chí Triết học số 4/2010.
Trong các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết được một số vấn đề sau:
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tạo ra khối lượng sản phẩm khổng lồ như hiện nay đang tạo ra mâu thuẫn sâu sắc giữa xã hội và tự nhiên. Các công trình nghiên cứu trên đã xác định được nội dung của khái niệm “phát triển lâu bền” và vấn đề ý thức sinh thái cho con người trong quá trình phát triển. Bởi vì muốn bảo vệ được môi trường thì trước hết phải xây dựng được ý thức sinh thái đối với toàn xã hội. Giải quyết mâu thuẫn giữa nền sản xuất vật chất với tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của môi trường tự nhiên. Xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho từng cá nhân trong xã hội, cần phải giáo dục ý thức môi trường, nâng cao trách nhiệm và đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh, sinh viên.
Ngoài ra các công trình trên cũng đã đề cập đến các vấn đề đặt ra trong công tác giáo dục ý thức môi trường và giải pháp. Vấn đề quản lý nhà nước trong khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và vấn đề bảo vệ môi trường. Trách nhiệm của các nhà quản lý trong việc xây dựng ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường tự nhiên. Các yếu tố tồn tại trong quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường.
Các nghiên cứu đã giải quyết được một số vấn đề liên quan đến bảo vệ tài nguyên môi trường, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, vấn đề quản lý nhà nước trong bảo vệ môi trường. Tuy nhiên nhìn chung đây là những công trình mang tính lý luận cơ bản. Trên thực tế cần có những nghiên cứu mang tính ứng dụng nhằm góp phần nhằm giải quyết những vướng mắc, những vấn đề đã đang nảy sinh từ thực tiễn.
Xem thêm

86 Đọc thêm

Tiểu luận: Nguồn lực con người - Yếu tố quyết định trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

TIỂU LUẬN: NGUỒN LỰC CON NGƯỜI - YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

Nguồn lực con người - Yếu tố quyết định trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Có thể nói vấn đề con người là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thế giới từ trước tới nay. Đó là vấn đề luôn được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu phân tích một cách sâu sắc nhất. Không những thế trong nhiều đề tài khoa học của xã hội xưa và nay thì đề tài con người là một trung tâm được các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý. Các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, y học, triết học, xã hội học,... Từ rất sớm trong lịch sử đã quan tâm đến con người và không ngừng nghiên cứu về nó. Mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó đều có ý nghĩa riêng đối với sự hiểu biết và làm lợi cho con người. Hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, lĩnh vực triết học lại có nhiều mâu thuẫn trong quan điểm, nhận thức và nó đã gây nên sự đấu tranh không biết khi nào dừng. Tuỳ theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên vấn đề này hay vấn đề kia. Đồng thời, tuỳ theo giác độ tiếp cận khác nhau mà các trường phái triết học, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp khác nhau trong việc lý giải về con người. Mặt khác trong khi giải quyết những vẫn đề trên, mỗi nhà triết học, mỗi trường phái triết học có thể lại đứng trên lập trường thế giới quan, phương pháp luận khác nhau: quan điểm duy vật hoặc duy tâm, quan điểm triết học phương Đông hoặc phương Tây, phương pháp biện chứng hoặc siêu hình,... 1. Quan điểm triết học về con người trong lịch sử Đề cập đến vấn đề con người các nhà triết học tự hỏi: Con người là gì? Bản tính, bản chất con người? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì để giải phóng mình, đạt tới tự do?... Khi phân tích các nhà triết học cổ đại coi con người là một tiểu vũ trụ, là một thực thể nhỏ bé trong thế giới rộng lớn, bản chất con người là bản chất vũ trụ. Con người là vật cao quý nhất trong trời đất, là chúa tể của muôn loài, chỉ đứng sau thần linh. Con người được chia làm hai phần là phần xác và phần hồn. Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo thì cho rằng phần hồn là do thượng đế sinh ra, quy định, chi phối mọi hoạt động của phần xác, linh hồn con người tồn tại mãi mãi. Chủ nghĩa duy vật thì ngược lại họ cho rằng phần xác quyết định, chi phối phần hồn, không có linh hồn nào là bất tử cả và quá trình nhận thức đó không ngừng được phát hiện. Càng ngày các nhà triết học tìm ra được bản chất của con người và không ngừng khắc phục lý luận trước đó. Triết học thế kỷ XV - XVIII phát triển quan điểm triết học về con người trên cơ sở khoa học tự nhiên đã khắc phục và bắt đầu phát triển. Chủ nghĩa duy vật máy móc coi con người như một bộ máy vận động theo một quy luật cổ. Còn chủ nghĩa duy tâm chủ quan, coi cái tôi và cảm giác của cái tôi là trung tâm sáng tạo ra cái không tôi, cái tôi không có khả năng vượt qua cảm giác của mình nên về bản chất là nhỏ bé yếu ớt, phụ thuộc vào “đấng tối cao”. Các nhà triết học một mặt đề cao vai trò sáng tạo của lý tính người, mặt khác coi con người là sản phẩm của tự nhiên và hoàn cảnh. Nhìn chung, các nhà triết học duy tâm trong lịch sử triết học phương Tây lại chú trọng giác độ hoạt động lý tính của con người. Tiêu biểu cho giác độ tiếp cận này quan điểm của Platon thời Cổ đại Hy Lạp, R.Descartes trong nền triết học Pháp thời Cận đại và F.Hegel trong nền triết học Cổ điển Đức. Hegel quan niệm con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối là con người ý thức và do đó đời sống con người chỉ được xem xét về mặt tinh thần song Hegel cũng là người đầu tiên thông qua việc xem xét cơ chế hoạt động của đời sống tinh thần cá nhân. Đồng thời Hegel cũng đã nghiên cứu bản chất quá trình tư duy khái quát các quy luật cơ bản của quá trình đó. Do không đứng trên lập trường duy vật, các nhà triết học này đã lý giải bản chất lý tính của con người từ giác độ siêu tự nhiên. Với Platon, đó là bản chất bất tử của linh hồn thuộc thế giới ý niệm tuyệt đối, còn với R.Descartes, đó là bản tính khi kinh nghiệm (apriori) của lý tính tuyệt đối... Đối lập với các nhà triết học duy tâm, các nhà triết học theo lập trường triết học duy vật đã lựa chọn giác
Xem thêm

22 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT CON NGƯỜI CÁ NHÂN XÃ HỘI

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT CON NGƯỜI CÁ NHÂN XÃ HỘI

Vấn đề con người là nội dung phức tạp và luôn luôn là vấn đề trung tâm của mọi triết học, triết học nào cũng hướng về con người và quay trở lại con người. Nhận thức và giải quyết vấn đề con người là nội dung cơ bản trong mọi học thuyết chính trị xã hội, tư tưởng. Tuy nhiên, trước khi triết học Mác ra đời, những nhà triết học, nhà tư tưởng giải thích vấn đề con người có sự khác nhau, nhưng về cơ bản không khoa học. Chỉ đến khi triết học Mác ra đời, vấn đề con người mới được luận giải một cách khoa học tạo ra bước ngoặt cách mạng trong nhận thức và giải thích con người, hướng đến giải phóng con người. Để hiểu sâu sắc thực chất con người là gì? Con người có nguồn gốc từ đâu? Bản chất con người ra sao? chúng ta nghiên cứu chủ đề: “Con người, cá nhân và xã hội”
Xem thêm

22 Đọc thêm