KHU VỰC NÀO LÀ THỊ TRƯỜNG CÓ TRIỂN VỌNG NHẤT ĐỐI VỚI SẢN PHẨM CỦA NHÀ MÁY

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "KHU VỰC NÀO LÀ THỊ TRƯỜNG CÓ TRIỂN VỌNG NHẤT ĐỐI VỚI SẢN PHẨM CỦA NHÀ MÁY":

Chiến lược kinh doanh của công ty cổ phần bia rượu nước giải khát sài gòn sabeco

CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BIA RƯỢU NƯỚC GIẢI KHÁT SÀI GÒN SABECO

CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BIA RƯỢU NƯỚC GIẢI KHÁT SÀI GÒN SABECO I. Phân tích môi trường: 1.1. Tổng quan về công ty: Tiền thân của Tổng công ty bia rượu nước giải khát Sài Gòn, trước đây là nhà máy Rượu bia Miền Nam chính thức tiếp nhận và quản lý nhà máy bia Chợ Lớn từ hãng BGI của Pháp và hình thành nên nhà máy Bia Sài Gòn(1977). Với truyền thống lâu đời trên 100 năm trong ngành sản xuất bia, chất lượng sản phẩm của Công ty Bia Sài Gòn không ngừng được nâng cao nhờ sự kết hợp đồng bộ giữa công nghệ truyền thống, thiết bị hiện đại, nguyên liệu ngoại nhập từ những nước có nguồn nguyên liệu nổi tiếng trên thế giới với việc đổi mới phương thức quản lý. Một trong những yếu tố quan trọng góp phần ổn định chất lượng sản phẩm là hệ thống phương tiện kỹ thuật kiểm tra tiên tiến được đánh giá đạt tiêu chuẩn cấp quốc gia và hệ thống đảm bảo chất lượng cho sản phẩm bia chai và bia lon phù hợp với tiêu chuẩn ISO 9001:2000. Từ năm 1992, với uy tín trong nước, sản phẩm của Công ty Bia Sài Gòn đã vươn ra có mặt trên thị trường khó tính nhất như: Nhật, Úc, Mỹ, EU, Singapore, Hongkong,...(phụ lục 2b) Năm 2000, Công ty Bia Sài Gòn là doanh nghiệp sản xuất bia đầu tiên của Việt Nam đạt và vượt mốc sản lượng 200 triệu lítnăm. Vào năm 2003 Nhà máy được đổi tên thành Công ty bia Sài Gòn và trở thành một trong những Công ty có trang thiết bị hiện đại nhất trong ngành bia Việt Nam.Tháng 72003, Công ty Bia Sài Gòn phát triển lớn mạnh thành Tổng Công ty Bia rượu Nước giải khát Sài Gòn và trở thành doanh nghiệp hàng đầu trong ngành sản xuất bia Việt Nam. Công ty đang vào kinh doanh với bảy lĩnh vực đó là: bia, rượu, nước giải khát, cơ khí, bao bì, vận tải và bất động sản. ngoài ra hiện nay công ty còn tập trung đầu tư vào lĩnh vực tài chính – ngân hàng.(phụ lục1A). Trong đó chủ đạo của Sabeco vẫn là sản xuất và kinh doanh bia các loại, ước tính chiếm khoảng 96% doanh thu của toàn công ty, kế đến là nước giải khát khoảng 2,6% và rượu là 0,6%. Hiện nay gồm 28 thành viên trực thuộc và trải đều khắp các tỉnh thành trên cả nước với một mạng lưới phân phối rộng lớn trong và ngoài nước(phụ lục 2a) Triển vọng phát triển: Với quan điểm “ khách hàng là thượng đế ”, công ty đã thu nhận được 1700 khách hàng chính là nhà phân phối cấp 1 của công ty với nhiều trách nhiệm và nghĩa vụ đi kèm. Với chiến lược này các sản phẩm của công ty nhanh chóng có mặt tại khắp các địa phương trên toàn quốc và chiếm khoảng 35% thị phần bia trên toàn quốc, là một trong 5 công ty có công suất trên 100 triệu lítnăm, và dự tính năm 2010 là 1000 triệu línăm, nhãn hiệu Sài Gòn chiếm 17% thị phần và là nhãn hiệu bán chạy nhất trong thời gian qua, đặc biệt là Sài Gòn đỏ đang chiếm lĩnh vững chắc tại thị trường phổ thông.Với tỷ lệ thị phần đó, có thể coi Sabeco là một trong những đơn vị dẫn đầu trong cả nước. 2812008 công ty bia rượu nước giải khát Sài Gòn mở đợt phát hành cổ phiếu với mức 20% vốn điều lệ của công ty(5.500 tỷ đồng) tương đương với 128,2 triệu cổ phiếu.với mức giá khởi điểm là 70.000đCP(cổ phiếu).(phụ lục 1A) và mức giá hiện nay là 22500đ cổ phiếu đây cũng là xu hướng chung do biến động kinh tế và đi xuống của thị trường chứng khoán trong thời gian qua 1.2. Phân tích môi trường: 1.2.1. Môi trường vĩ mô: Ngành bia được coi là mảnh đất màu mỡ, được nhà nước bảo hộ trong các năm qua, mức thâm nhập thị trường thấp, việc các sản phẩm mới xâm nhập thị trường như bia Laser, Foster… bị đánh bật ra khỏi thị trường chi thấy vị trí khá vững chắc của các thương hiệu lớn hiện nay như: Sabeco, Heniken, Tiger… Ngoài ra, một số công ty lớn liên doanh với nhau như: Vinamilk – SABMiller, Tân Hiệp Phát….đã và đang có kế hoạch tham gia vào ngành bia hứa hẹn được mức độ cạnh tranh sẽ diễn ra ngày càng sôi nổi hơn. Mặt khác thời gian vừa qua, việc chính phủ có sự điều chỉnh các loại thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các ngành bia, rượu. Cụ thể là đối với bia hơi tăng lên 50%, và giảm từ 75% xuống còn 50% . Điều này cho thấy định hướng của Nhà nước là khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất nước giải khát với thiết bị, công nghệ hiện đại hợp về sinh an thực phẩm và bảo vệ môi trường. Khuyến khích sử dụng các nguồn nguyên liệu trong nước gắn liên với việc xây dựng vùng nguyên liệu tại địa phương. Theo nhận xét thì thị trường bia có triển vọng tăng trưởng mạnh ít nhất là 5 năm tới. Tuy nhiên so với nước ngoài như các nước trong khu vực Châu Á, hay Châu Âu thì tình hình tiêu thụ bia ở Việt Nam vẫn ở mức thấp. Cụ thể là, tỷ lệ tiêu thụ bia ở Việt Nam chỉ là 18 lít người năm so với mức trung bình của dân Châu Âu là 88 lít người năm, và Châu Á ( Nhật Bản và Hàn Quốc) là 43 lít người năm. Thêm vào đó, Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ với tỷ lệ 70% dân số ở lứa tuổi được phép sử dụng các loại thức uống có cồn hợp pháp đã và sẽ tiếp tục mang lại tiềm năng phát triển cho ngành bia nói riêng và các loại thức uống khác nói riêng. Sự dịch chuyển của xu hướng sử dụng các loại thức uống có cồn, điều này ngày càng thể hiện rõ hơn khi Việt Nam đã hội nhập sâu vào thị trường chung thế giới, nó không chỉ mạng lại những chuyển biến tích cực về kinh tế mà còn cả về mặt đời sống tinh thần và văn hoá tiêu dùng. Người Việt Nam đặc biệt là giới trẻ đã dần chuyển sang sử dụng các loại thức uống gắn liền với hình ảnh của phương Tây như bia và các loại rượu vang… Trong khi các công ty nội địa vẫn chiếm ưu thế ở thị trường thức uống có cồn, các công ty nước ngoài gia tăng thị phần bằng cách tăng cường liên kết, liên doanh với các công ty nội địa như liên doanh giữa công ty Asia Pacific Breweries( singapore) và công ty bia Sài Gòn, trong đó Asia Pacific Breweries chiếm 60% cổ phần, liên doanh giữa Carlsberg với hai đối tác là nhà máy bia Đông Nam Á và công ty bia Huế, chiếm số cổ phần lần lượt 60% và 50%. Xu hướng đi tăng tỷ lệ sở hữu trong các công ty liên doanh, dự đoán sẽ tiếp tục được các công ty nước ngoài phát huy trong tương lai nhằm tận dụng những ưu thế sắc có của các công ty nội địa như: hệ thống phân phối và sự thông thạo thị trường nội địa. Các công ty nội địa với quy mô sẽ phải đối mặt với xu hướng bị thâu tóm bởi cả cac công ty nước ngoài và các công ty nội địa với quy mô lớn như Sabeco và Habeco. Áp lực cạnh tranh và mở rộng thị phần: các công ty nội địa mặc dù có những ưu thế về hệ thống phân phối và sự thông thạo thị trường nội địa nhưng sẽ đối mặt với áp lực cạnh tranh từ các công ty nước ngoài với những ưu thế nhất định về thương hiệu toàn cầu, chiến lược marketing, công nghệ sản xuất… các công ty nội địa trong thời gian qua đã liên tục cải thiện năng lực sản xuất thông qua việc mở rộng các nhà máy sản xuất. Mở rộng các sản phẩm bia như bia nâu, bia đen và bia với nồng độ còn thấp… sẽ là một trong những hướng mở rộng nhằm gia tăng thị phần của cac công ty trong tương lai. 1.2.2. Môi trường vi mô:  Các đối thủ cạnh tranh: Là những doanh nghiệp sản xuất bia trong ngành, có cùng một phân khúc và thị trường mục tiêu, các đối thủ truyền thống và chiếm vị trí đầu ngành như Heniken, Tiger... Hiện nay các công ty bia nhỏ trong nước có xu hướng liên doanh với các công ty nước ngoài nhằm tăng tiềm lực và vị thế của công ty minh lên VD như công ty bia Huế( thành lập năm 1990) với hãng Tuborg International AS và Quỹ Công Nghiệp hoá IFU của Đan Mạch đã chào đời thương hiệu bia Huda và Festival, hoặc là các công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài, có thể kể đến là công ty bia San Miguel Việt Nam chiếm 7% thị phần bia tai Việt Nam. Đặc biệt hiện nay là sản phẩm bia Zorok là sản phẩm liên doanh giữa công ty Vinamilk và SAB Miller Việt Nam.(phụ lục 1c)  Khách hàng: Với mức độ phát triển nhanh chóng của xã hội thì mức sống của người dân cũng ngày càng một nâng cao do đó nhu cầu của người dân cũng luôn được thay đổi, theo thống kê thì số lượng người tiêu thụ bia gia tăng theo từng năm trong đó chi phí cho uống bia hiện nay của dân Việt Nam vào khoảng trên 20 nghìn tỷ đồngnăm. Đồng thời xuất phát từ sự nâng cao nhận thức về sức khoẻ, hiện nay xu hướng có sự chuyển dịch từ các loại thức uống có cồn nồng độ cao( các loại rượu mạnh) sang các loại thức uống có nồng độ cồn thấp hơn( bia và các loại rượu nhẹ…). Một điều quan trọng nữa trong nhận thức người tiêu dùng nữa là khi mữa sống và thu nhập tăng lên thì người dân cũng có khuynh hướng chuyển sang các loại thức uống có thương hiệu, có sự đảm bảo về nguồn gốc và chất lượng sản xuất thay vì các loại thức uống tại nhà và không rõ xuất sứ. Với tình hình cạnh tranh về sản phẩm diễn ra gay gắt như hiện nay, thì phân khúc phổ thông được các công ty cố gắng khai thác một cách có hiệu quả và có chất lượng cao. Tuy nhiên thì lượng khách hàng tuy ổn định, nhiều tiềm năng nhưng vẫn chưa khai thác hết được tiềm năng này.  Nguồn cung ứng nguyên vật liệu: Các sản phẩm bia được sản xuất với các loại nguyên vật liệu được nhập khẩu từ nước ngoài. Do bị ảnh hưởng bởi các tác động từ nền kinh tế, thì giá nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho việc sản xuất bia, rượu tăng rất cao so với các năm trước đây, đặc biệt là các loại malt, cao hương, đường, gạo, bao bì nhãn mác… đều tăng từ 30% lên đến 70% tính đến thời điểm những tháng đầu năm 2008 và dự đoán vẫn còn tăng nhanh gấp 5 lần so với cùng kỳ. nhằm đối phó với tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu và đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ của người tiêu dùng thì công ty đã tiến hành ký kết các hợp đồng dài hạn từ nguồn cung ứng có uy tín nên vấn đề cung ứng không còn đáng lo ngại. Tuy giá bia tăng cao nhưng mức sản xuất bia vẫn không ngừng tăng trưởng mạnh do nhu cầu tiêu thụ của người tiêu dùng ngày càng tăng cao.  Các đổi thủ tiềm ẩn: Hiện nay có một số tên tuổi lớn nhảy vào thị trường và đang dần gây ra ảnh hưởng đối với thị trường bia trong nước. Đặc biệt là xuất hiện hiện tượng liên doanh giữa các công ty trong nước và các công ty nước ngoài như đã nói ở trên, đây là những đối thủ tiềm ẩn và sẽ gây ra mối nguy hiểm cho các doanh nghiệp bia trong nước. Đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO thì việc mở cửa đón nhận các dòng đầu tư từ nước ngoài là không tránh khỏi. Do đó nguy cơ các đối thủ mới, mạnh và có tiềm lực đang là vấn đề đặt ra cho các Doanh nghiệp trong nước, chuẩn bị một tâm lý vững chắc nhằm chống chọi lại những sự tấn công bất ngờ hay ồ ạt của đối thủ. Một ví dụ cụ thể, hiện nay trên thị trường có sự xuất hiện bia Zorok một cách khá ồ ạt và mạnh mẽ. Tầng suất xuất hiện càng dày đặc, đây là sản phẩm liên doanh giữa công ty Vinamilk Việt Nam và SABMiller( Singapore), với mức vồn đầu tư lên đến hơn 45 triệu USD với công suất lên đến 100 triệu lít năm, máy móc thiết bị hiện đạiu đại được nhập khẩu từ Đức và đặt nhà máy tại Bình Dương. Theo nhận xét của người tiêu dùng thì sản phẩm bia Zorok có thiết kế đẹp, theo tiêu chuẩn quốc tế, nồng độ tương đương với các loại bia khác. Tuy nhiên lại không có vị đắng của các loại bia truyền thống. 1.2.3. Hàng thay thế: Như đã trình bày ở trên, xu hướng tiêu dùng của người Việt Nam đang dần chuyển sang các loại thức uống có cồn nhẹ, do đó rượu là dòng sản phẩm quan trọng thứ 2, có định hướng tiếp tục đầu tư phát triển. Có hai công ty con trong TCT sản xuất dòng sản phẩm cồn rượu mạnh là công ty cổ phần(CTCP) Rượu Bình Tây và CTCP bia rượu Sài Gòn – Đồng Xuân. Tổng thị phần ước tính khoảng 9,9% trong đó các sản phẩm rượu Đồng Xuân đã tạo được một vị trí khá vững chắc trên thị trường, đặc biệt là khu vực miền Bắc, thị phần khá ổn định trong các năm gần đây, các nhãn hiệu nổi tiếng như Đồng Xuân Rượu Nếp (4,9%), Đồng Xuân Nếp Hòa Vang (2,3%), Rượu Bình Tây tiêu thụ nhiều ở miền Nam, thị phần trong các năm qua giảm nhẹ, thị phần hiện nay của nhãn hiệu Nàng Hương khoảng 1,8%, Nếp Hương 0,9%. (Nguồn: Euromonitor International, 2005). 1.2.3. Hoàn cảnh nội bộ:  Nguồn nhân lực: Lên đến hơn 1.600 n hân công, với tỉ lệ lao động có trình độ cao đẳng, đại học đạt 20%. Ban lãnh đạo Sabeco hầu hết đã có nhiều năm gắn bó lâu dài với Tổng Công ty. Đây là một lợi thế lớn của Sabeco vì đội ngũ lãnh đạo có trình độ, giàu kinh nghiệm và có uy tín trong ngành. Tuy nhiên, trong giai đoạn sắp tới khi thị trường bia được dự báo sẽ cạnh tranh sôi nổi hơn, Sabeco cần có đội ngũ nhân lực quản trị marketing năng động và mang tính đột phá.  Nghiên cứu và phát triển: Những nhà máy bia có công suất trên 100 triệu lít đều có thiết bị hiện đại, tiên tiến, được nhập khẩu từ các nước có nền công nghiệp phát triển mạnh như Đức, Mỹ, Ý... Các nhà máy bia có công suất trên 20 triệu lít cho đến nay cũng đã được đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị, tiếp thu trình độ công nghệ tiên tiến vào sản xuất. Các cơ sở còn lại với công suất thấp vẫn đang trong tình trạng thiết bị, công nghệ lạc hậu, yếu kém, không đạt yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm.  Marketing: Là một đặc thù ngành bia, sản phẩm được tiêu thụ tại hai nơi chính là tại nhà hoặc tại các quán ăn uống, trong đó, xu hướng tiêu thụ tại các quán ăn uống ngày càng gia tăng áp đảo. Nhận biết xu thế này, rất nhiều Công ty bia đã tổ chức đội ngũ nhân viên tiếp thị bia tại các điểm ăn uống nhằm đẩy mạnh tiêu thụ cũng như tạo thói quen tiêu dùng cho khách hàng cuối cùng. Sabeco chưa chú trọng đến hình thức này, điều này lí giải một phần nguyên nhân giảm thị phần bia Saigon tại các thành phố lớn.  Phân phối: Mạng lưới phân phối của Sabeco chủ yếu là hệ thống bán sỉ. Sản phẩm từ Công ty mẹ và các nhà máy địa phương được tiêu thụ thông qua công ty TNHH 1 Thành Viên TMDV Sabeco. Công ty này góp vốn (khoảng 60%) thành lập 8 cont ty cổ phần Thương Mại Sabeco chi phối các khu vực trên toàn quốc: miền Bắc, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ, miền Trung, Tây Nguyên, miền Đông, Sông Tiền và Sông Hậu nhằm phân phối hàng hóa đồng đều và thống nhất về giá cả. thị trường miền Bắc chưa được khai thác tốt, sản phẩm tiêu thụ mạnh nhất tại miền Nam. Có thể nói tại khu vực phía nam, phân phối là một thế mạnh của sabeco.  Sản xuất: Sabeco sản xuất bia tại 17 nhà máy trên toàn quốc. Trong đó, Công ty mẹ có 2 nhà máy: Bia Sài Gòn tại 187 Nguyễn Chí Thanh và Bia Sài Gòn – Củ Chi, TP. HCM, các nhà máy bia của các công ty con tại các tỉnh trọng điểm và thuê gia công tại một số nhà máy bia địa phương khác. Hầu hết các nhà máy này đã hoạt động hết công suất. Việc xây dựng nhà máy mới và đầu tư nâng công suất nhà máy hiện tại giúp sản lượng tăng trưởng đều đặn mỗi năm khoảng 17% (giai đoạn 2004 – 2007).  sản lượng cung ứng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường. Nước giải khát, nước khoáng – sản phẩm sản xuất từ công ty con, cạnh tranh khó khăn trên thị trường:CTCP Nước Giải Khát Chương Dương(đang niêm yết trên HOSE) được chuyển sang Sabeco quản lý từ năm 2004. Các sản phẩm của Công ty bao gồm nước ngọt có gaz, nước giải khát có cồn và một số thức uống khác mang nhãn hiệu Chương Dương. Dưới áp lực cạnh tranh của các Tập Đoàn Nước Giải Khát Đa Quốc Gia như Coca Cola, Pepsi và cả các công ty trong nước như Tribeco…thị phần của Chương Dương đang ngày càng bị thu hẹp. Hai sản phẩm còn trụ được là Sá xị Chương Dương và một số loại rượu nhẹ. Thực tế, các sản phẩm nước giải khát có thể tận dụng cực tốt hệ thống phân phối bia hiện tại của Sabeco nếu phân khúc này được chú ý và phát triển lên một quy mô tương xứng. 1.2.4. Phân tích SWOT:
Xem thêm

22 Đọc thêm

Hoàn thiện kênh phân phối migoikinhdo

Hoàn thiện kênh phân phối migoikinhdo

MỤC LỤC Phần 1: Giới thiệu chung 2 1.1. Giới thiệu công ty 2 1.2. Giới thiệu sản phẩm 3 1.3. Lợi thế cạnh tranh của công ty 4 1.4. Lợi thế cạnh tranh của sản phẩm 4 Phần 2: Xây dựng kênh phân phối 6 2.1. Kênh phân phối hiện tại ở Kinh Đô 6 2.2.1. Trong nước 6 2.2.2. kênh ngoài nước 7 2.2. Các dòng chảy trong kênh và sự quản lý các dòng chảy trong kênh. 7 2.2.3. Dòng chuyển quyền sở hữu (litle flow) 7 2.2.4. Dòng đàm phán 8 2.2.5. Dòng vật chất. 8 2.2.6. Dòng thanh toán. 8 2.2.7. Dòng thông tin 8 2.2.8. Dòng xúc tiến. 8 2.2.9. Dòng đặt hàng 9 2.2.10. Dòng chia sẻ rủi ro 9 2.2.11. Dòng tài chính 9 2.3. Xây dựng kênh phân phối cho Mì gói của Kinh Đô 9 2.3.1. Xây dựng kênh phân phối 9 2.3.2. Cải thiện kênh phân phối cũ 10 2.3.3. Tiếp tục mở rộng hệ thống phân phối: 11 Phần 3: Khuyến nghị 12 Danh mục hình ảnh, biểu đồ Hình 1. Logo Kinh đô 4 Hình 2. Các dòng sản phẩm của Kinh Đô 6 Hình 3. Kênh phân phối hiện tại của Kinh Đô 8 Hình 4. Hệ thống tập đòan Kinh Đô 11   Lời nói đầu Tập đoàn Kinh Đô là một hệ thống tích hợp và đồng bộ gồm các công ty hoạt động trong các lĩnh vực thực phẩm, bán lẻ, địa ốc và tài chính nhằm tạo dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người đồng thời không ngừng gia tăng giá trị cho cổ đông. Sự tin cậy, tầm nhìn, tính sáng tạo, sự năng động, niềm tự hào và sự phát triển không ngừng của đội ngũ nhân viên là những giá trị cốt lỗi làm nền tảng tạo ra những sản phẩm và dịch vụ, góp phần đưa Kinh Đô trở thành tên tuổi hàng đầu trên thị trường. Sử dụng những chiến lược quản lý rủi ro tinh vi như là một thành phần bắt buộc và quan trọng đi kèm với các giải pháp tài chính. Việc quản lý rủi ro hiệu quả làm cho cổ đông và đối tác an tâm với những khoản đầu tư của họ. Với sự thành công của các sản phẩm như bánh AFC, Cosy, Slide, bánh Trung thu,…hay các loại kẹo, kem, Merino, Celano,…thì sắp tới đây Mì ăn liền Kinh Đô sắp được tung ra thị trường với diện mạo, bao bì, và đem đến cho khách hàng một sản phẩm chất lượng nhất. Phần 1: Giới thiệu chung 1.1. Giới thiệu công ty Kinh Đô được thành lập từ năm 1993, trải qua 21 năm hình thành và phát triển, đến nay Kinh Đô đã trở thành một hệ thống các công ty trong ngành thực phẩm gồm: bánh kẹo, nước giải khát, kem và các sản phẩm từ Sữa. Định hướng chiến lược phát triển của Kinh Đô là Tập Đoàn Thực phẩm hàng đầu Việt Nam và hướng tới một Tập đoàn đa ngành: Thực phẩm, Bán lẻ, Địa ốc, Tài chính nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai. Hình 1. Logo Kinh đô TẬP ĐOÀN KINH ĐÔ Trụ sở chính: Địa chỉ: 141 Nguyễn Du, Bến Thành, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh, Việt nam Tel.: (84) (8) 38270838 Fax: (84) (8) 38270839 Email: infokinhdo.vn Website: www.kinhdo.vn Từ quy mô chỉ có 70 cán bộ công nhân viên khi mới thành lập đến nay Kinh Đô đã có tổng số nhân viên là 7.741 người. Tổng vốn điều lệ của Kinh Đô Group là 3.483,1 tỷ đồng. Tổng doanh thu đạt 3.471,5 tỷ đồng trong đó doanh thu ngành thực phẩm chiếm 99.2%, tổng lợi nhuận đạt 756,1 tỷ đồng. Các sản phẩm mang thương hiệu Kinh Đô đã có mặt rộng khắp các tỉnh thành thông qua hệ thống phân phối đa dạng trên toàn quốc gồm hơn 600 nhà phân phối, 31 Kinh Đô Bakery và 200.000 điểm bán lẻ cũng như các thống phân phối nhượng quyền với tốc độ tăng trưởng 30%năm. Thị trường xuất khẩu của Kinh Đô phát triển rộng khắp qua 35 nước, đặc biệt chinh phục các khách hàng khó tính nhất như Nhật, Mỹ, Pháp, Đức, Singapore... Với phương châm ngành thực phẩm làm nền tảng cho sự phát triển, trong những năm qua, Kinh Đô đã liên tục đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại, thực hiện các chiến lược sáp nhập, liên doanh liên kết và hợp tác như mua lại nhà máy kem Wall từ tập đoàn Unilever, mua lại Tribeco, Vinabico, đầu tư vào Nutifood, Eximbank... Đặc biệt năm 2010, Kinh Đô đã tiến hành việc sáp nhập Công ty CBTP Kinh Đô Miền Bắc (NKD) và Công ty Ki Do vào Công ty Cổ Phần Kinh Đô (KDC). Định hướng của Kinh Đô là thông qua công cụ MA, sẽ mở rộng quy mô ngành hàng thực phẩm với tham vọng là sẽ trở thành một tập đoàn thực phẩm có quy mô hàng đầu không chỉ ở Việt Nam mà còn có vị thế trong khu vực Đông Nam Á. Song song đó, với việc định hướng phát triển để trở thành một tập đoàn đa ngành, Kinh Đô cũng mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác như đầu tư kinh doanh bất động sản, tài chính và phát triển hệ thống bán lẻ. Theo đó, các lĩnh vực có mối tương quan hỗ trợ cho nhau, Công ty mẹ giữ vai trò chuyên về đầu tư tài chính, các công ty con hoạt động theo từng lĩnh vực với các ngành nghề cụ thể theo hướng phát triển chung của Tập Đoàn. 1.2. Giới thiệu sản phẩm Với hệ thống 5 công ty, 4 nhà máy sản xuất các loại như bánh Cookies, Cracker, Bông Lan, Bánh mì tuơi, kẹo, Sôcôla, Kem, Sữa và yoghurt. Thương hiệu Kinh Đô được nhiều người biết đến và là một trong 10 thương hiệu hàng đầu tại Việt Nam. Các sản phẩm mang thương hiệu Kinh Đô đã có mặt rộng khắp các tỉnh thành thông qua hệ thống phân phối đa dạng trên toàn quốc gồm 300 nhà phân phối và 200.000 điểm bán lẻ với tốc độ tăng trưởng 20%30%năm. Thị trường xuất khẩu của Kinh Đô cũng phát triển rộng khắp qua hơn 30 nước như Nhật, Mỹ, Singapore, Hàn Quốc, Myanmar, Thái Lan, Nam Phi, Đài Loan, Hongkong, Trung Quốc, Lào, Campuchia... Hiện nay công ty chế biến thực phẩm Kinh Đô Miền Bắc đang kinh doanh với 11 ngành hàng chính. Có thể chia các sản phẩm của Kinh Đô thành 2 loại chính. Loại 1: Bao gồm những sản phẩm thuộc các ngành Cracker, Cookie, Solite, kẹo cứng – kẹo mềm, bánh mì mặn – ngọt, snack là những ngành sản xuất với đơn hàng lớn, giá trị đơn vị thấp, đòi hỏi ít dịch vụ đi kèm. Những sản phẩm thuộc ngành 1 có thời gian sử dụng dài, không khắt khe trong khâu bảo quản sản phẩm. Loại 2: Bao những sản phẩm thuộc các ngành: Socola, kẹo Socola, bánh kem, bánh bông lan, kem đá kido’s, đặc biệt là bánh trung thu Kinh Đô là những ngành hàng đặc biệt của công ty bởi nó rất quan trọng trong dịch vụ sau bán hàng. Đối với các sản phẩm thuộc loại 2 thì khác hẳng so với những sản phẩm thuộc loại 1, đó là rất khắt khe trong các yêu cầu cất giữ, bảo quản sản phẩm, dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng khá nhiều và thường chỉ mang tính mùa vụ. Khách hàng mục tiêu chung cho tất cả các ngành hàng của công ty đó là những người ưa thích các sản phẩm ăn nhanh, là những người bận rộn, có cá tính năng động, trẻ trung. Khách hàng mục tiêu của công ty tập trung vào giới trẻ ở độ tuổi từ 1939 tuổi. Hình 2. Các dòng sản phẩm của Kinh Đô 1.3. Lợi thế cạnh tranh của công ty Hiện nay, tập đoàn Kinh Đô là nhà sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam. Kinh Đô cũng đang sở hữu một trong những thương hiệu nổi tiếng nhất Việt Nam. Lợi thế nổi bật của công ty so với các doanh nghiệp trong cùng ngành là: Sản phẩm của Kinh Đô đa dạng, nắm bắt tâm lý người tiêu dùng, giá cả hợp lý Công nghệ sản xuất của Kinh Đô vượt trội so với các doanh nghiệp cùng ngành Sản phẩm của Kinh Đô có sự đột phá về chất lượng, được cải tiến, thay đổi mẫu mã thường xuyên với ít nhất trên 40 sản phẩm mới mỗi năm. Một điểm khác biệt của Kinh Đô so với các doanh nghiệp khác là ngoài công nghệ hiện đại, Công ty rất chú trọng vào kỹ thuật chế biến sản phẩm, nhất là công thức pha chế phụ gia, nhờ đó mà các loại bánh kẹo của Kinh Đô có mùi vị hấp dẫn và riêng biệt. Đây chính là một lợi thế cạnh tranh lớn của Kinh Đô, ngay cả đối với những đối thủ trong ngành bánh kẹo có công nghệ tương đương. 1.4. Lợi thế cạnh tranh của sản phẩm Những sản phẩm hiện có của công ty vẫn còn mang nhiều tính thời vụ, doanh thu kém tại những thời gian bình thường của 1 năm. Kinh Đô muốn bán thêm những sản phẩm đáp ứng nhu cầu thường xuyên của khách hàng. Việc sở hữu một phạm vi rộng về nhóm hàng thực phẩm sẽ giúp Kinh Đô tận dụng tối đa mạng lưới phân phối đem về lợi ích kinh tế lớn hơn trong năm, ông Wong nhấn mạnh. Theo số liệu của IMF, tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm vừa qua đạt mức thấp nhất kể từ năm 1999. Theo nhận xét của ông Michel Tosto, trưởng bộ phận khách hàng tổ chức và môi giới công ty chứng khoán Bản Việt, Kinh Đô là một thương hiệu nội địa mạnh và khá phổ biến tại Việt Nam, điều này sẽ giúp cho việc tung ra sản phẩm mới có chi phí quảng cáo rẻ hơn so với các công ty khác trên thị trường.Cạnh tranh trong ngành công nghiệp thực phẩm Việt Nam sẽ tăng lên đáng kể khi chính phủ thương lượng để gia nhập vào hiệp định TPP với sự cạnh tranh đáng kể từ các nước Nhật Bản, Mỹ. Giám đốc tài chính của Kinh Đô cũng thừa nhận các tập đoàn đa quốc gia là một thách thức lớn đối với Kinh Đô. Ông Wong nhấn mạnh “Họ sẽ không dễ gì bỏ qua một thị trường tiềm năng lên tới 90 triệu người”. Theo giám đốc hãng tư vấn Baker McKenzie Việt Nam Fred Burke, khi những điều khoản trong hiệp định TPP có hiệu lực, thuế nhập khẩu các sản phẩm thực phẩm cạnh tranh với Kinh Đô sẽ có khả năng hạ xuống. Một trong những đối thủ lớn đối với dòng sản phẩm mới của Kinh Đô phải kể đến tập đoàn Masan, vốn đứng đầu thị trường nước mắm Việt Nam và Acecook đang dẫn đầu thị trường mì ăn liền. Kinh Đô sẽ tập trung vào hoạt động lõi là kinh doanh thực phẩm. Công ty sẽ không cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ tầm cỡ, mà sẽ chú tâm vào những phân khúc nhỏ hơn. Tuy nhiên, tại đây, KDC vẫn phải cạnh tranh với Acecook ở dòng sản phẩm mỳ Hảo Hảo và các đại gia ở phân khúc thấp là Miliket, Vifon... Đặc biệt, KDC đang gặp vấn đề về kênh phân phối. Dù sở hữu sẵn hệ thống phân phối bánh kẹo trên khắp cả nước, nhưng KDC không dễ gì để đưa sản phẩm mỳ gói vào mọi ngóc ngách của thị trường, nếu không mở kênh mới. Cùng với đó, nhân sự của KDC luôn biến động, tầm quản lý cấp trung luôn luôn thay đổi, khiến độ ổn định không được đảm bảo, làm việc thiếu chuyên nghiệp. Chính thế, nếu KDC muốn vươn lên chia sẻ thị phần với các doanh nghiệp nói trên, họ sẽ phải có một chiến lược marketing suất sắc, chuyên nghiệp và dài hơi. Như vậy, mục tiêu trong tương lai gần sẽ chiếm nhiều nhất là 5% thị trường mỳ gói. Phần 2: Xây dựng kênh phân phối 2.1. Kênh phân phối hiện tại ở Kinh Đô Hiện nay Kinh Đô Hiện nay Kinh Đô miền Bắc có 40 đại lý bán buôn và 195 nhà bán buôn, hơn 168.000 điểm bán lẻ do đó để đảm bảo sự thông suốt trong lan truyền thông tin từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng thì Kinh Đô chỉ xây dựng trên 1 khu vực thị trường về mặt địa lý 1 đại lý bán buôn và 5 nhà bán buôn theo cấu trúc ngũ giác đều. Kinh Đô nhận định với việc cấu trúc thành viên kênh như thế này thì rất dễ dàng cho việc quản lý và trao đổi thông tin từ 2 phía. 2.2.1. Trong nước Kinh Đô xây dựng kênh phân phối đa dạng và rộng khắp: Tiêu thụ sản phẩm là khâu quan trọng nhất của mỗi doanh nghiệp.Đối với mọi doanh nghiệp, sản phẩm dịch vụ hàng hóa của doanh nghiệp nhằm mục đích cuối cùng là tiêu thụ càng nhiều càng đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để tiêu thụ được hàng hóa của mình, mỗi doanh nghiệp đều sử dụng những phương thức phân phối hàng hóa sản phẩm cho phù hợp với đặc thù ngành nghề kinh doanh cũng như các đặc tính của sản phẩm mà doanh nghiệp muốn tiêu thụ. Công ty cổ phần Kinh Đô sử dụng kênh phân phối theo sơ đồ như sau: Hình 3. Kênh phân phối hiện tại của Kinh Đô  Kênh 1: Theo dòng kênh này sản phẩm của công ty đến tay người tiêu dùng một cách trực tiếp từ các cửa hàng Bakery của Kinh Đô. Kênh tiêu thụ này không những giúp công ty tiết kiệm được chi phí trung gian mà còn giúp công ty có điều Kinh Đô bakerySiêu thịĐại lýNgười tiêu dùng cuối cùngBán lẻ Công ty CP Kinh Đô kiện để tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Trong kênh này công ty có thể nhận được các phản hồi trực tiếp từ khách hàng. Được xây dựng từ năm 1999, hiện nay hệ thống này đã có 36 Bakery trên cả nước, trong những năm tới hệ thống Bakery có triển vọng phát triển mạnh nhờ việc công ty triển khai mô hình kinh doanh nhượng quyền.  Kênh 2: là kênh phân phối qua hệ thống siêu thị, công ty ký kết hợp đồng với các siêu thị để họ bày bán sản phẩm của công ty, hệ thống siêu thị có chức năng như người bán lẻ trong kênh phân phối.Kênh phân phối này tiêu thụ khoảng 10% doanh số của công ty.  Kênh 3: Đây là kênh có chiều dài lớn nhất trong hệ thống kênh phân phối của công ty, là kênh tiêu thụ chính của công ty, khối lượng sản phẩm lưu chuyển qua kênh này chiếm khoảng 85% tổng khối lượng sản phẩm tiêu thụ của công ty. Từ các đại lý này, sản phẩm của công ty tiếp tục thông qua các nhà bán lẻ để tới tay người tiêu dùng cuối cùng.Cho đến nay, hệ thống phân phối của Kinh Đô được coi là hoàn hảo nhất trong số các công ty sản xuất bánh kẹo tại thị trường Việt Nam. Đối với kênh phân phối truyền thống, Kinh Đô có 82 nhà phân phối và 65000 cửa hàng bán lẻ ở khu vực phía nam, công ty còn có lợi thế từ 26 hệ thống Bakery , ở khu vực phía bắc, công ty có 51 nhà phân phối, 15000 cửa hàng bán lẻ và 10 Bakery. Tổng cộng, Kinh Đô có 133 nhà phân phối, 80.000 cửa hàng bán lẻ và 36 Bakery. Đối với kênh phân phối hiện đại, Kinh Đô cung cấp sản phẩm trực tiếp cho 132 siêu thị. Ngoài các hình thức phân phối trên, Kinh Đô còn triển khai kế hoạch liên kết tiêu thụ sản phẩm với các doanh nghiệp tiêu dùng lớn, đối tác đầu tiên là Pepsi theo đó sản phẩm của Kinh Đô sẽ được bán độc quyền tại trên 200.000 điểm bán lẻ của Pepsi và ngược lại.Với việc hợp tác với một trong những công ty nước giải khát hàng đầu thế giới, không những giúp cho Kinh Đô gia tăng sản lượng tiêu thụ mà còn làm gia tăng giá trị thương hiệu khi thương hiệu của Kinh Đô sánh vai cùng với thương hiệu của Pepsi.Với mạng lưới phân phối trải khắp, các sản phẩm của Kinh Đô được bán rộng rãi hầu như ở mọi khu vực từ thành phố đến nông thôn, đưa Kinh Đô trở thành nhà sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam với thị phần gần 30%, đối với bánh trung thu, thị phần của công ty lên tới 70%.Hệ thống phân phối của Kinh Đô được coi là hoàn hảo nhất trong số các công ty sản xuất bánh kẹo tại thị trường Việt Nam. 2.2.2. kênh ngoài nước Ngày 24072005 là mốc đánh dấu đầu tiên cho hoạt động xuất khẩu bánh trung thu của Kinh Đô ra nước ngòai. Thị trường vẫn là Mỹ, Singapore, Campuchia, Malaysia và Đài Loan… 2.2. Các dòng chảy trong kênh và sự quản lý các dòng chảy trong kênh. 2.2.3. Dòng chuyển quyền sở hữu (litle flow) Sản phẩm được xuất xưởng và được chuyển về đại lý bán buôn của công ty. Sau đó công ty sẽ có yêu cầu đối với đại lý bán buôn cung cấp hàng hóa cho nhà bán buôn theo đơn đặt hàng của họ lên công ty. Sản phẩm từ nhà bán buôn cũng sẽ được phân bổ cho nhà bán lẻ theo đơn đặt hàng và chuyển đến tay người tiêu dùng cuối cùng. 2.2.4. Dòng đàm phán Giữa nhà sản xuất, đại lý phân phối và nhà bán buôn thương lượng với nhau về các điều khoản như điều kiện bán hàng, mức công nợ tối đa cho phép, mức tồn kho tối đa … thông qua hợp đồng nhà bán buôn. Trong hợp đồng này ngoài việc thảo thuận các vấn đề trên hai bên còn xem xét đến sự quản lý hệ thống nhà bán kẻ như thế nào? Giữa 4 nhà bán buôn và nhà bán lẻ 70% trong số đo mọi trách nhiệm hay vai trò phân phối được thực hiện qua cam kết không qua giấy tờ. Tuy nhiên có sự tham gia điều phối của ban kiểm soát. 2.2.5. Dòng vật chất. Sản phẩm từ nhà sản xuất sẽ được chuyển tiếp tới đại lý bán buôn qua đội ngũ vận tải của công ty. Từ đại lý bán buôn đến nhà bán buôn qua đội ngũ vận tải của đại lý bán buôn. Giữa nhà bán buôn với nhà bán lẻ thông qua sự thỏa thuận của hai bên để xem xét ai là người chịu trách nhiệm về việc vận chuyển hàng hóa. 2.2.6. Dòng thanh toán. Các đại lý bán buôn, nhà bán buôn, nhà bán lẻ hoàn toàn có thể tự do lựa chọn phương thức thanh toán cho nhà sản xuất có thể bằng chuyển khoản hoặc bằng tiền mặt cho kế toán viên của công ty. 2.2.7. Dòng thông tin Trong hệ thống kênh phân phối của Kinh Đô Miền Bắc, thông tin được truyền đi dưới 2 hình thức. Hình thức thứ nhất: Các thông tin về sản phẩm, đối thủ cạnh tranh, thông tin các chương trình xúc tiến sẽ được truyền trực tiếp từ nhà sản xuất đến đại lý bán buôn, nhà sản xuất đến nhà bán buôn, nhà sản xuất đến nhà bán lẻ và nhà sản xuất đến người tiêu dùng thông qua các chương trình quảng cáo, các event của nhà sản xuất hay các công văn chuyển đến các TVK. Hình thức thứ hai: Thông tin truyền đến đại lý bán buôn, rồi đến nhà bán buôn, tiếp đó đến nhà bán lẻ và cuối cùng đến người tiêu dùng. Hai hình thức này được công ty sử dụng kết hợp lẫn nhau, có tác dụng nhất định trong việc bảo đảm thông tin được truyền đi một cách chính xác và sự giám sát lẫn nhau giữa các thành viên trong kênh. Thông tin phản hồi từ phía khách hàng sẽ được công ty thu thập và phân tích sau mỗi tháng kinh doanh. 2.2.8. Dòng xúc tiến. Đối với dòng xúc tiến thì dòng này được thể hiện thông qua việc thiết kế bày bán cũng như hoạt động trưng bày sản phẩm của công ty: Kinh Đô sẽ hỗ trợ 100 % kinh phí cho nhà bán buôn và bán lẻ. Tuy nhiên các TVK phải dành 0,4 m2 không gian trưng bày cho một sản phẩm của Kinh Đô, nếu thành viên nào sai phạm sẽ bị phạt 150% lần giá trị đơn hàng mà thành viên mua trước đó. 5 Các hoạt động khác như các chương trình khuyến mãi, vật dụng trưng bày phục vụ quảng cáo tùy theo mức độ mà nhà sản xuất sẽ có hỗ trợ thích đáng. 2.2.9. Dòng đặt hàng Các đơn đặt hàng lớn của Kinh Đô hoàn toàn có thể được đáp ứng trong vòng 24 giờ trong phạm vi khu vực thị trường bán kính 150 km. 2.2.10. Dòng chia sẻ rủi ro Công ty không thu hồi sản phẩm quá hạn sử dụng mà chỉ cho ban kiểm soát kiểm tra và yêu cầu các thành viên kênh tiêu hủy số sản phẩm quá hạn đó. Công ty sẽ hỗ trợ phí cho công việc này đối với các thành viên trong kênh 5% giásản phẩm. 2.2.11. Dòng tài chính Kinh Đô sẽ hỗ trợ 15% chi phí lưu kho cho các thành viên trong kênh tính đến đại lý bán buôn và nhà bán buôn. 2.3. Xây dựng kênh phân phối cho Mì gói của Kinh Đô 2.3.1. Xây dựng kênh phân phối Năm 2010 đánh dấu một thập niên mới và Kinh Đô tiếp tục phát triển là một tập đòan Thực Phẩm hàng đầu Việt Nam và hướng tới một tập Đoàn hoạt động đa ngành: Thực phẩm, địa ốc, tài chính, bán lẻ.
Xem thêm

Đọc thêm

XUẤT KHẨU TÔN ĐÔNG Á SANG THỊ TRƯỜNG MỸ

XUẤT KHẨU TÔN ĐÔNG Á SANG THỊ TRƯỜNG MỸ

MỤC LỤCPHẦN MỞ ĐẦU5CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ TÔN ĐÔNG Á61.1Qúa trình hình thành:61.2Lý do chọn Tôn Đông Á71.3Thị trường mục tiêu “Mỹ”.81.4Phương thức thâm nhập thị trường81.4.1Đặc điểm của thị trường Mỹ81.4.2Đặc điểm của sản phẩm151.4.3Đặc điểm của khách hàng151.4.4Tiềm lực của doanh nhiệp171.4.5Phương thức thâm nhập thị trường19CHƯƠNG 2:chiến lược marketing202.1Chiến lược sản phẩm202.1.1Đặc điểm sản phẩm202.1.2.Nhãn hiệu sản phẩm.242.1.3.Định vị sản phẩm.242.2Chiến lược giá252.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược giá.252.2.2Chiến lược định giá và các bước thiết lập giá quốc tế.252.2.3Các bước thiết lập giá quốc tế.262.2.4Giá sản phẩm292.3Chiến lược phân phối322.3.1Khái niệm322.3.2Yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phân phối quốc tế322.3.3Các thành viên tham gia vào kênh phân phối342.3.4Quản trị hệ thống phân phối quốc tế352.3.5Phân phối vật chất của sản phẩm quốc tế352.4Chiến lược xúc tiến.362.4.1Hệ thống nhận dạng thương hiệu.362.4.2Các công cụ xúc tiến.40 PHẦN MỞ ĐẦU Nền kinh tế của nước ta đang trên đà phát triển khi mà nước ta gia nhập vào các tổ chức lớn trong khu vực và trên thế giới như : gia nhập vào khối ASEAN năm 1995, tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN ( AFTA) năm 1996, ký Hiệp định song phương Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2000 và ký kết các hiệp đinh thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư song và đa phương khác. Đặc biệt năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), là mốc quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước , đánh dấu cho việc hội nhập ngày càng sâu rộng với thị trường quốc tế. Sự lớn mạnh của các tổ chức đã có những ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế vĩ mô. Khi là thành viên của các tổ chức này, Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức đặt ra của kinh tế toàn cầu, cùng với đó là nguy cơ khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới. Năm 2008, cả thế giới rơi vào một cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại suy thoái 19291933. Tuy nhiên, trong những năm gần đây nền kinh tễ Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực, ngày càng mở rộng thị trường ra quốc tế. Trong đó Mỹ là thị trường được nhiều doanh nghiệp chú ý nhất, vì vậy chúng em quyết định làm đề tài “ xuất khẩu Tôn Đông Á sang thị trường Mỹ”. CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ TÔN ĐÔNG Á1.1Qúa trình hình thành:Công ty Tôn Đông Á, được thành lập vào cuối năm 1998 và chính thức đi vào hoạt động vào đầu năm 1999. Vào đầu năm 2009, Tôn Đông Á đã bước sang một bước ngoặt lớn là chuyển đổi từ hình thức Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn sang Công ty Cổ phần để phù hợp với tình hình phát triển của Công ty và hòa nhập vào sự phát triển chung của đất nước và thế giới. Tôn Đông Á là đơn vị chuyên sản xuất Tôn mạ kẽm, Tôn mạ màu và Tôn mạ hợp kim nhôm kẽm (Tôn lạnh) phục vụ cho ngành xây dựng công nghiệp và dân dụng.Công ty có Nhà máy đầu tiên đặt tại Số 5, đường Số 5, khu Công nghiệp Sóng Thần 1, Phường Dĩ An, Thị Xã Dĩ An, Tỉnh Bình Dương với tổng diện tích nhà xưởng hơn 35.000m2. Nhà máy có 3 dây chuyền mạ màu và 1 dây chuyền mạ hợp kim nhôm kẽm công nghệ NOF với tổng công suất thiết bị 120.000 tấnnăm đã được cấp chứng chỉ ISO 9001 2008. Vào đầu năm 2006, dây chuyền mạ màu đầu tiên của Tôn Đông Á đã lắp đặt hoàn chỉnh theo công nghệ của Hàn Quốc và đưa vào hoạt động sản xuất. Đến năm 2009, Công ty Tôn Đông Á tiếp tục đưa dây chuyền mạ màu thứ 2, dây chuyền được thiết kế, lắp đặt, vận hành bởi chính đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Tôn Đông Á. Dây chuyền được thiết kế theo công nghệ tiên tiến, các thiết bị chính của dây chuyền được nhập khẩu từ các nước tiên tiến trên thế giới: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Châu Âu. Dây chuyền có thể sản xuất với dãy sản phẩm có độ dày từ 0.12 – 0.8 mm đạt tiêu chuẩn JIS G3321 : 2010 (Nhật Bản); BSEN 10346 : 2009 (Châu Âu); AS 1397 : 2011 (Úc); ASTM A792A792M – 10 (Mỹ). Vào quý 3 năm 2010, dây chuyền mạ hợp kim nhôm kẽm công nghệ NOF đã chính thức đi vào hoạt động để Tôn Đông Á có thể tham gia vào thị trường tôn mạ với các sản phẩm tôn lạnh, tôn lạnh màu chất lượng cao phục vụ tốt cho các nhu cầu xây dựng dân dụng và công nghiệp hiện nay và trong tương lai theo sư phát triển của đất nước. Vào đầu năm 2011 dây chuyền mạ màu thứ 3 ra đời để đáp ứng nhu cầu ngày một tăng cao của khách hàng. Việc ra đời 3 dây chuyền công nghệ mạ màu và dây chuyền mạ hợp kim nhôm kẽm công nghệ NOF đã đánh dấu một bước phát triển mới của Tôn Đông Á nhằm đáp ứng nhu cầu chất lượng sản phẩm ngày càng cao và đa dạng. Vào quý 4 năm 2014, Nhà máy Tôn Đông Á thứ 2 đặt tại Lô A3, KCN Đồng An 2, Phường Hòa Phú, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương chính thức đi vào hoạt động giai đoạn 1 sau hơn 1 năm khởi công xây dựng. 1.2Lý do chọn Tôn Đông ÁTôn Đông Á (TĐA) là một thương hiệu uy tín và chất lượng, đồng thời đang dần khẳng định thương hiệu trên thị trường quốc tế. TĐA đặt chiến lược trở thành một nhà sản xuất tôn mạ kẽm, mạ lạnh và mạ màu uy tín của cả trong nước và khu vực Đông Nam Á. Hướng tới phát triển bền vững, tối đa hóa giá trị cho khách hàng và các bên liên quan thông qua việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao. Chia sẻ các giá trị văn hóa doanh nghiệp mang đặc tính trung thực, uy tín, phát triển sự sáng tạo, học hỏi và nâng cao năng lực cá nhân, sự công minh chính trực trong hoạt động, phát triển vì cộng đồng. Tổng mức đầu tư dự án là 150.000.000 USD với các dây chuyền công nghệ tiên tiến đạt chuẩn Châu Âu như: Dây chuyền cán nguội (Cold rolling mill): Nhà cung cấp Danieli – Italia Dây chuyền tẩy rỉ (Push pull pickling line): Nhà cung cấp Tenova – Italia Hệ thống xử lý nước thải (Waste water system): Nhà cung cấp Kobelco Nhật Với hai nhà máy tại Sóng Thần 1 và Thủ Dầu Một, TDA hiện có 2 dây chuyền mạ nhôm kẽm với công nghệ lò ủ NOF, 3 dây chuyền mạ màu, 1 dây chuyền tẩy rỉ và 1 dây chuyền cán nguội; tất cả các dây chuyền được vận hành và quản lý bởi hệ thống quản lý của TDA được cấp chứng chỉ ISO 90012008. Đến nay, Công ty Cổ phần Tôn Đông Á đã xây dựng và phát triển một mạng lưới phân phối rộng khắp trải dài từ Bắc vào Nam và đã xuất khẩu ổn định vào các nước ASAN như: Lào, Campuchia, Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, các nước Châu Phi, Trung Đông. Với những đầu tư về công nghệ và ưu tiên về chất lượng thì TĐA đủ tự tin để đưa sản phẩm của mình vào thị trường Mỹ, thị trường khó tính và tiềm năng hàng đầu trên thế giới. 1.3Thị trường mục tiêu “Mỹ”.Mỹ là một cường quốc lớn, có nền kinh tế vững mạnh, cũng như là một thị trường tiềm năng, không riêng Việt Nam mà cũng như các quốc gia khác đều muốn giao thương với Mỹ. Chính vì vậy nếu Việt Nam chinh phục được thị trường Mỹ là hầu hết chinh phục được các thị trường khác trên thế giới.1.4Phương thức thâm nhập thị trường1.4.1Đặc điểm của thị trường Mỹ Sự nghiệp đổi mới kinh tế xã hội của đất nước trong những năm qua tiếp tục gặt hái được những thành tựu hết sức to lớn trên mọi lĩnh vực. Nền kinh tế của nước ta liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao và ổn định. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh. Các quan hệ kinh tế đối ngoại không ngừng mở rộng, phát triển, trong đó Hoa Kỳ trở thành một đối tác rất quan trọng và trở thành bạn hàng lớn của Việt Nam.Quy mô nhập khẩu của thị trưởng Hoa Kỳ, mỗi năm khoảng 1.800 tỷ USD với đầy đủ các chủng loại hàng hóa thuộc các phẩm cấp khác nhau, là thị trường có sức mua cao, mở ra nhiều cơ hội hợp tác kinh doanh cho các đối tác. Tuy nhiên đây cũng là thị trường có tính cạnh tranh gay gắt và nhạy cảm, và rất khắt khe, người tiêu dùng được bảo vệ bằng một hệ thống pháp luật vô cùng chặt chẽ. Với 50 bang, 50 Luật, đôi khi Luật của mỗi bang lại vượt cả quy định của Luật Liên bang. Vì vậy, để thâm nhập và khẳng định vị thế trên thị trường này, hơn bất cứ ở thị trường nào, các doanh nghiệp Việt Nam cần đặc biệt lưu ý tìm hiểu kỹ đối tác, luật lệ cũng như tập quán kinh doanh của thị trường này.+Khái quát về Mỹ Hoa Kỳ là một quốc gia Bắc Mỹ rộng lớn có diện tích 9.327.614 km2 với số dân 280 triệu người (năm 2000). Đây là một thị trường riêng lẻ lớn nhất thế giới, là nước tham gia và giữ vai trò chi phối hầu hết các tổ chức kinh tế quốc dân quan trọng trên thế giới như: Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế ( IMF), là đầu tàu của khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA)... Và ngay cả đối với ASEAN AFTA, Hoa Kỳ tuy không phải là thành viên song lại là một bên đối thoại quan trọng nhất của tổ chức này. Bởi vì trừ Brunei và Việt Nam, hiện nay Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của các nước thành viên ASEAN. Chính vì vậy, để có thể thâm nhập thành công vào một thị trường như vậy trước hết cần phải tìm hiểu về môi trường kinh doanh cũng như là hệ thống luật pháp của Mỹ để từ đó có cách tiếp cận phù hợp.+Đặc điểm về kinh tếNền kinh tế Mỹ là nền kinh tế thị trường, hoạt động theo cơ chế thị trường cạnh tranh có lịch sử phát triển hàng trăm năm nay. Hiện nay nó được coi là nền kinh tế lớn nhất thế giới với tổng giá trị sản phẩm quốc nội bình quân hàng năm trên 10.000 tỷ USD, chiếm trên 20% GDP toàn cầu và thương mại chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch thương mại quốc tế. Với GDP bình quân đầu người hàng năm 32.000 USD, có vai trò thống trị trên thế giới với hơn 24 nước gắn trực tiếp các đồng tiền của họ vào đồng USD, 55 nước neo giá vào đồng USD, các nước còn lại ở nhiều mức độ khác nhau vẫn sử dụng các hệ thống dựa vào chỉ tiêu biến động của đồng USD để tính toán giá trị đồng tiền của mình. Thị trường chứng khoán của Mỹ hàng năm chi phối khoảng 8.000 tỷ USD, trong khi đó các thị trường chứng khoán Nhật Bản chỉ vào khoảng 3.800 tỷ USD, thị trường EU khoảng 4 tỷ USD. Mọi sự biến động của đồng USD và hệ thống tài chính Mỹ đều có ảnh hưởng đáng kể đến sự biến động của nền tài chính quốc tế.Thị trường Mỹ vừa là nơi thuận lợi cho đầu tư nước ngoài lại vừa là nơi đầu tư ra nước ngoài hàng đầu thế giới. Năm 1997, Mỹ nhận khoảng 108 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài đồng thời đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 120 tỷ USD.Không những thế, Mỹ còn là nước đi đầu trong quá trình quốc tế hoá kinh tế toàn cầu và thúc đẩy tự do hoá thương mại phát triển bởi vì việc mở rộng sản xuất hàng hoá và dịch vụ để xuất khẩu ra thị trường toàn cầu là một trong những yếu tố cơ bản cho sự tăng trưởng kinh tế Mỹ. Mức độ phụ thuộc của nền kinh tế Mỹ vào mậu dịch quốc tế ngày càng tăng. Kim ngạch xuất khẩu đã tăng từ 14% GDP năm 1986 lên 25% năm 1998. Tuy vậy, Mỹ cũng là nước hay dùng tự do hoá thương mại để yêu cầu các quốc gia khác mở cửa thị trường của họ cho các công ty của mình nhưng lại tìm cách bảo vệ nền sản xuất trong nước thông qua hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường... Những năm gần đây, kinh tế Mỹ đạt được sự phục hồi và tăng trưởng vững chắc, đạt đỉnh cao nhất vào năm 1999 với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 4,5%. Trong năm 2001 vừa qua, mặc dù có nhiều biến động lớn xảy ra và có ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế nhất là sau sự kiện 1192001. Tuy nhiên, Mỹ vẫn tiếp tục là một nền kinh tế mạnh nhất, có ảnh hưởng lớn đến kinh tế toàn cầu.+Đặc điểm về chính trị.Hệ thống chính trị của Mỹ hoạt động theo nguyên tắc tam quyền phân lập. Quyền lập pháp tối cao ở Mỹ được quốc hội thực hiện thông qua hai viện: Thượng viện và Hạ nghị viện. Chủ tịch Hạ nghị viện sẽ do các nghị sĩ bầu ra, còn chủ tịch Thượng nghị viện sẽ do Phó tổng thống đảm nhiệm mặc dù không tham gia trực tiếp vào các cuộc thảo luận của cơ quan này. Nhiệm kỳ của Thượng nghị viện là 6 năm và cứ 2 năm thì 13 số Thượng nghị sỹ sẽ được bầu lại. Nhiệm kỳ của các Hạ nghị sỹ, đồng thời của Hạ nghị viện là 2 năm. Công việc của hai viện phần lớn được tiến hành tại các uỷ ban. Hệ thống uỷ ban của hai viện được phát triển khá rộng rãi và các uỷ ban này đều chịu sự kiểm soát của Đảng có nhiều đại biểu hơn tại viện đó. Nói chung quyền lãnh đạo ở cả hai viện đều nằm trong tay các thành viên thuộc Đảng có ưu thế.Hệ thống luật pháp của Mỹ được phân chia thành hai cấp chính phủ: các Bang và Trung ương. Tuy các Bang là những đơn vị hình thành nên một hệ thống quốc gia thống nhất, nhưng các Bang cũng có những quyền khá rộng rãi và đầy đủ. Các Bang tự tổ chức Chính phủ Bang, chính quyền địa phương của mình và đưa ra các nguyên tắc để hệ thống này hoạt động. Các Bang thực hiện điều chỉnh thương mại của Bang, thiết lập ngân hàng... cùng với Chính phủ Trung ương. Toà án của Bang có quyền phán xét các cá nhân và trừng trị tội phạm.Trên lãnh thổ mỗi Bang tại Mỹ đều có hai chính phủ hoạt động: Chính phủ của Bang với các tổ chức chính quyền và toà án nhằm thực hiện luật pháp của Bang và chính quyền Trung ương với các tổ chức chính quyền và toà án thi hành luật pháp của liên bang. Nhà nước có quyền đặt ra tiêu chuẩn đo lường, cấp chứng nhận bản quyền, bằng phát minh, điều chỉnh thương mại giữa các bang với các nước... đồng thời cùng với chính quyền các Bang đưa ra các quy định về thuế, thành lập ngân hàng...Người đứng đầu chính quyền Trung ương là Tổng thống. Hiến pháp cho phép Tổng thống được quyền bổ nhiệm nhất định, tuy nhiên những quyết định bổ nhiệm vào các vị trí quan trọng phải được Thượng nghị viện thông qua. Tổng thống có quyền bổ nhiệm và bãi nhiệm các quan chức thuộc cơ quan Bang chủ yếu thông qua các cơ quan hành pháp, uy tín và năng lực chính trị của cá nhân Tổng thống. Phó tổng thống là người sẽ phụ trách nội các.Để hiến pháp có hiệu lực, quốc hội đã tạo ra một hệ thống toà án hoàn chỉnh. Chánh án toà án thuộc hệ thống pháp quyết của Tổng thống bổ nhiệm. Đứng đầu hệ thống này là toà án tối cao Mỹ với 9 thẩm phán có trụ sở ở Washington. Để hệ thống toà án liên bang và toà án Bang thực hiện tốt quyền phán quyết trên cùng một lãnh thổ, một hệ thống nguyên tắc đã được thiết lập. Theo đó, những vấn đề thuộc hiến pháp, luật pháp của liên bang sẽ được toà án tối cao Mỹ xem xét cuối cùng; việc vi phạm luật lệ của Bang sẽ do toà án của Bang xét xử. Hiến pháp của các Bang và liên bang nghiêm cấm việc xét xử một công dân hai lần vì cùng một tội. Tuy nhiên, trong trường hợp bên nguyên đưa đơn ra toà án Bang, bên bị đơn chuyển trường hợp đó lên toà án liên bang thì vụ án sẽ do toà án liên bang xét xử. Quyết định của toà án tối cao có tầm quan trọng hàng đầu đối với hệ thống luật của Mỹ.Các đảng phái chính trị của Mỹ có ảnh hưởng lớn trong các cuộc bầu cử ở cơ sở, Bang và toàn quốc. Từ năm 1960 đến nay, hai Đảng Cộng hoà và Dân chủ là hai Đảng duy nhất có khả năng giành thắng lợi trong bầu cử, sự khác biệt giữa các đảng là không lớn mặc dù các Đảng này có những nguyên tắc riêng. Mục đích ban đầu của hoạt động của các Đảng là giúp cho Chính phủ trình bày cho cử tri các vấn đề chính trị nảy sinh. Chức năng chủ yếu của các Đảng là đề cử và bầu cử Tổng thống. Hội nghị đề cử các ứng viên Tổng thống là cách thức chính để các Đảng trong cả nước thực hiện chức năng của mình.Một đặc điểm lớn về chính trị của Mỹ trong chính sách đối ngoại nói chung và chính sách kinh tế đối ngoại nói riêng là Mỹ thường hay sử dụng chính sách cấm vận và trừng phạt kinh tế để đạt được mục đích của mình. Theo thống kê thì kể từ năm chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1998 Mỹ đã áp đặt 115 lệnh trừng phạt, trong đó hơn một nửa được ban hành trong 4 năm cuối và 23 dân số thế giới đang phải chịu một hình thức trừng phạt nào đó do Mỹ áp đặt. Các lệnh trừng phạt, cấm vận này đã vi phạm những nguyên tắc cơ bản về thách thức có tiềm năng phá hoại tương lai của WTO.+Đặc điểm về luật pháp.Mỹ có hệ thống luật pháp chặt chẽ, chi tiết và phức tạp hàng đầu thế giới. Luật pháp được xem là một vũ khí thương mại lợi hại của Mỹ. Người ta nói rằng có hiểu biết về luật pháp xem như bạn đã đặt được một chân vào thị trường Mỹ.Đứng trên góc độ xâm nhập của các doanh nghiệp vào thị trường Mỹ, hệ thống luật pháp về kinh doanh của Mỹ có một số đặc điểm đáng chú ý sau đây:Khung luật cơ bản cho việc xuất khẩu sang Mỹ gồm luật thuế suất năm 1930, luật buôn bán năm 1974, hiệp định buôn bán 1979, luật tổng hợp về buôn bán và cạnh tranh năm 1988. Các luật này đặt ra nhằm điều tiết hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ; bảo vệ người tiêu dùng và nhà sản xuất khỏi hàng giả, hàng kém chất lượng; định hướng cho các hoạt động buôn bán; quy định về sự bảo trợ của Chính phủ với các chướng ngại kỹ thuật và các hình thức bán phá giá, trợ giá, các biện pháp trừng phạt thương mại.Về luật thuế, đáng chú ý là danh bạ thuế quan thống nhất HTS và chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập GSP. Trong đó GSP rất quan trọng với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Nội dung chính của chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập GSP là miễn thuế hoàn toàn hoặc ưu đãi mức thuế thấp cho những mặt hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển được Mỹ chấp thuận cho hưởng GSP. Đây là hệ thống ưu đãi của GSP thậm chí còn thấp hơn mức thuế ưu đãi tối huệ quốc MFN là chế độ ưu đãi với điều kiện có đi có lại giữa các nước thành viên WTO, các nước có hiệp định song phương với Mỹ.Về Hải quan, hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ được áp dụng thuế suất theo biểu quan Mỹ gồm 2 cột: cột 1 quy định thuế suất tối huệ quốc, cột 2 quy định thuế suất đầy đủ hoặc thuế suất pháp định áp dụng cho các nước không được hưởng quy chế tối huệ quốc. Sự khác biệt giữa hai cột thuế suất này thông thường là từ 25 lần. Cách xác định giá trị hàng hoá để thu thuế của Hải quan Mỹ hiện nay chủ yếu căn cứ theo hiệp định về cách tính trị giá tính thuế của Hải quan trong Hiệp định Tokyo của GATT (nay WTO) và luật về các hiệp định thương mại năm 1979. Phí thủ tục Hải quan được quy định trong Luật Hải quan và thương mại năm 1990. Ngoài ra, còn cần phải chú ý các quy định khác của Hải quan như nhãn mác phải ghi rõ nước xuất xứ và về chế độ hoàn thuế.Một vấn đề nữa mà các doanh nghiệp cần lưu ý về môi trường luật pháp của Mỹ và Luật thuế bù giá và Luật chống phá giá. Đây là hai đạo luật phổ biến nhất bảo hộ các ngành công nghiệp Mỹ chống lại hàng nhập khẩu. Cả hai luật này quy định rằng, phần thuế bổ sung sẽ được ấn định đối với hàng nhập khẩu nếu chúng bị phát hiện là được trao đổi không công bằng.+Đặc điểm về văn hóa và con người.Hoa Kỳ có thành phần xã hội đa dạng, gồm nhiều cộng đồng riêng biệt. Hầu hết người Mỹ có nguồn gốc từ châu Âu, các dân tộc thiểu số gồm người Mỹ bản xứ, Mỹ gốc Phi, Mỹ La Tinh, châu Á và người từ các đảo Thái Bình Dương. Các dân tộc này đã đem vào nước Mỹ những phong tục tập quán, ngôn ngữ, đức tin riêng của họ. Điều này tạo nên một môi trường văn hoá phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, nhìn chung văn hoá Mỹ chủ yếu thừa hưởng một số kinh nghiệm và địa danh của người bản xứ Indian, còn hầu hết các mặt như ngôn ngữ, thể chế, tôn giáo, văn học, kiến trúc, âm nhạc... đều có xuất xứ từ châu Âu nói chung và nước Anh, Tây Âu nói riêng.Có thể nói, chủ nghĩa thực dụng là nét tiêu biểu nhất của văn hoá Mỹ và lối sống Mỹ. Một số học giả nước ngoài đã nhận xét: Cái gắn bó của người Mỹ với nhau là quyền lợi chứ không phải là tư tưởng. Điều này thể hiện trong cách tính toán sòng phẳng đến chi li trong mọi việc với bất kỳ ai, từ người thân trong gia đình tới bạn hữu. Người Mỹ trọng sự chính xác, cách làm việc cẩn thận, tỉ mỉ, khoa học. Họ rất quý trọng thời gian, ở Mỹ có câu thành ngữ thời gian là tiền bạc. Chính vì vậy, họ đánh giá cao hiệu quả và năng suất làm việc của một người, có chế độ đãi ngộ thích đáng với đóng góp của người nào đó; đồng thời cũng có thói quen khai thác tối đa những người làm việc với họ. Người Mỹ thường đánh giá con người qua sự đóng góp vào sản xuất ra của cải vật chất, coi trọng trình độ chuyên môn và khả năng ra quyết định của cá nhân.Một đặc điểm lớn của lối sống Mỹ là tính cá nhân chủ nghĩa cao độ. Nó thể hiện ở chỗ người ta rất coi trọng tự do cá nhân, coi trọng dân chủ, họ chỉ quan tâm đến những gì có liên quan đến đời sống hàng ngày của họ. Trong kinh doanh, chủ nghĩa tự do cá nhân biểu hiện ở việc các cá nhân, doanh nghiệp được tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, chọn loại hình kinh doanh, loại hình đầu tư.Tôn giáo chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của người Mỹ. Ở Mỹ có tới 219 tôn giáo lớn nhỏ, song chỉ có 3 trụ cột chính là Kito tôn giáo chiếm 40%, Thiên chúa giáo 30%, Do Thái giáo 3,2%. Còn lại là đạo chính thống Phương Đông, Đạo Phật, Đạo Hồi... hoặc không đi theo tôn giáo nào. Tuy đa số dân chúng theo đạo nhưng tín ngưỡng ở Mỹ không được coi trọng bằng chủ nghĩa cá nhân, cho dù theo đạo nhưng đôi khi họ vẫn tán thành những đức tin trái ngược hoàn toàn với tôn giáo mà họ đang theo. Đây chính là thuận lợi đối với những doanh nghiệp muốn xâm nhập vào thị trường Mỹ, bởi vì các doanh nghiệp ít khi gặp phải trở ngại nào do yếu tố tín ngưỡng hay tôn giáo như các thị trường khác.Mỗi thị trường khác nhau sẽ có những chuẩn mực, kỹ thuật khác nhau nên phải đảm bảo sản phẩm đáp ứng những chi tiết khác biệt đó. Đối với quy trình sản xuất, dây chuyền sản xuất phải đảm bảo xuyên suốt để chất lượng sản phẩm đồng đều.Theo ông Bryan Phan, CEO của Công ty 4hrs, để sản phẩm vào được Mỹ thì chất lượng sản phẩm phải tốt và đồng nhất. Đối tác mua hàng ở Mỹ sẽ yêu cầu nhà cung cấp chứng minh chất lượng, khả năng tài chính của công ty và cần có 1 văn phòng tại địa phương để họ có thể nhanh chóng phản hồi về sản phẩm khi có lỗi. Do vậy, việc doanh nghiệp xuất khẩu hàng vào Mỹ nên làm là cần tìm một đơn vị đại diện tại đây. Thực tế cho thấy, sự thất bại của hầu hết các công ty mới thâm nhập thị trường Mỹ thời gian qua là do không thực hiện tốt dịch vụ khách hàng. Muốn có thị phần, doanh nghiệp phải có kênh phản hồi thông tin từ người sử dụng, qua đó tạo điều kiện cải thiện chất lượng sản phẩm ngày càng tốt hơn.
Xem thêm

Đọc thêm

Báo cáo định giá lần đầu Xi măng Hà Tiên (HSX:HT1)

Báo cáo định giá lần đầu Xi măng Hà Tiên (HSX:HT1)

Chúng tôi tiến hành định giá lần đầu cổ phiếu HT1CTCP Xi măng VICEM Hà Tiên, niêm yết trên sàn HSX. Sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền và phương pháp so sánh, chúng tôi xác định giá mục tiêu là 13.460 đồngcp (4% so với giá đóng cửa ngày 06032020). Do đó, chúng tôi khuyến nghị BÁN đối với cổ phiếu HT1 cho mục tiêu ngắn và trung hạn dựa trên các cơ sở:► Dư địa tăng trưởng thấp cho năm 2020. Chúng tôi ước tính dư địa tăng trưởng năm 2020 và trong giai đoạn tới của HT1 gặp nhiều hạn chế từ sụt giảm nhu cầu vật liệu xây dựng miền Nam do (1) đầu tư cơ sở hạ tầng tăng trưởng chậm và (2) chính phủ thắt chặt quản lý cấp phép đối với hoạt động xây dựng bất động sản nhà ở. (xem thêm)► Áp lực cạnh tranh gia tăng từ: (1) Đối thủ mở rộng quy mô sản xuất ở các thị trường chủ lực của HT1. Trong năm 2020, các đối thủ An Phú và FICO Tây Ninh sẽ đưa hai nhà máy mới vào hoạt động tại thị trường tiêu thụ chủ lực của HT1 là TP HCM và Bình Dương, với tổng công suất 3,3 triệu tấn xi măngnăm (48% công suất hiện tại của HT1). Ngoài ra, đối thủ khác tại thị trường miền Nam của HT1 cũng đang có kế hoạch sớm mở rộng dây chuyền sản xuất tại khu vực trong giai đoạn tới (xem thêm). (2) Triển vọng thị trường xuất khẩu toàn ngành suy giảm. Gần đây, việc áp thuế ở một số thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam như Phillipines và Bangladesh đang gây sụt giảm sản lượng xuất khẩu của nhiều doanh nghiệp trong ngành. Tình trạng này nếu kéo dài có thể gia tăng áp lực cạnh tranh trong nước, ảnh hưởng tới các doanh nghiệp có tiêu thụ chính ở nội địa như HT1. (xem thêm)► Các dự án đầu tư chưa có triển vọng tích cực: (1) Nhiều dự án mở rộng năng lực sản xuất chưa thể thực hiện. Do hầu hết các nhà máy và trạm nghiền đã hoạt động hết công suất, HT1 đang có kế hoạch đầu tư mới dây chuyền sản xuất trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, phần lớn kế hoạch chưa được triển khai hoặc chưa khả thi để thực hiện do hạn chế về nguồn vốn và cấp phép quy hoạch, gây khó khăn cho việc mở rộng năng lực sản xuất (xem thêm) (2) Các dự án đầu tư ngoài ngành tiếp tục bị trì hoãn. Hai dự án đầu tư ngoài ngành của HT1 là (1) Dự án khu phức hợp VICEM đang vướng mắc về Luật sử dụng tài sản công (số 1672017 NĐCP) và (2) Dự án BOT Phú Hữu chưa được UBND TPHCM phê duyệt lại quy hoạch hoạt động. Chúng tôi đánh giá các dự án ngoài ngành này tiếp tục bị trì hoãn và chưa thể thu hồi vốn trong thời gian tới. (xem thêm)
Xem thêm

Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ NGẪU NHIÊN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG CHO VIỆC SẴN LÒNG TRẢ THỰC PHẨM HỮU CƠ (THỰC PHẨM XANH) Ở ARGENTINA

ĐÁNH GIÁ NGẪU NHIÊN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG CHO VIỆC SẴN LÒNG TRẢ THỰC PHẨM HỮU CƠ (THỰC PHẨM XANH) Ở ARGENTINA

ĐÁNH GIÁ NGẪU NHIÊN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG CHO VIỆC SẴN LÒNG TRẢ THỰC PHẨM HỮU CƠ (THỰC PHẨM XANH) Ở ARGENTINA Tóm tắt: Trong suốt những năm qua, nông nghiệp hữu cơ đã mở rộng và phát triển một cách đáng kể trong số những thứ khác, để sự quan tâm lớn hơn thể hiện bởi người tiêu dùng nhận thức được mối quan tâm về an toàn thực phẩm liên quan đến rủi ro chất lượng thực sự hoặc cảm nhận về thực phẩm. Bài viết này nhằm mục tiêu ước tính sự sẵn lòng chi trả tiền của người tiêu dùng cho các sản phẩm thực phẩm hữu cơ có sẵn trên thị trường trong nước Argentina, nhằm cung cấp một số thông tin hữu ích để đạt được sự ủng hộ và phác thảo các chiến lược để thúc đẩy sản xuất thực phẩm hữu cơ, tiếp thị, quy định, và ghi nhãn các chương trình của các sản phẩm thực phẩm hữu cơ. Một mô hình hồi quy Logistic nhị thức được ước tính với dữ liệu từ một cuộc khảo sát tiến hành tiêu thụ thực phẩm tại thành phố Buenos Aires, Argentina, trong tháng tư năm 2005. Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên được chọn để tính sự sẵn lòng trả (WTP) của họ cho năm sản phẩm được lựa chọn hữu cơ: Sữa thông thường, rau, bột mì nguyên chất, gà tươi sống và các loại thảo mộc thơm. Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho các sản phẩm này mặc dù giá đóng một vai trò quan trọng, thiếu những cửa hàng sẵn có và một hệ thống quản lý chất lượng đáng tin cậy để giảm thiểu rủi ro tiêu dùng hạn chế các sản phẩm hữu cơ trong đất nước này. I. GIỚI THIỆU Trong suốt những năm qua, nông nghiệp hữu cơ đã trải qua một sự mở rộng đáng kể do trong số những thứ khác, với những lợi ích lớn hơn cho thấy người tiêu dùng nhận thức về các vấn đề an toàn thực phẩm liên quan đến rủi ro thực sự hoặc cảm nhận chất lượng . Tại Argentina, những yếu tố quan trọng như điều kiện sinh thái nông nghiệp rất tốt, yêu cầu về lao động, và tăng triển vọng xuất khẩu đối với các loại thực phẩm khác biệt có thể chuyển đổi sản xuất hữu cơ thành một hoạt động mang lại lợi nhuận cho nông dân và các nhà phân phối và bán lẻ, do đó cải thiện sự phát triển của nền kinh tế trong khu vực Khi mua thực phẩm, người tiêu dùng có những lựa chọn của họ dựa trên giá cả và chất lượng. Sự lựa chọn như vậy là đúng bởi các thông tin có sẵn cho họ. Tại thị trường trong nước Argentina, nhiều người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho sản phẩm lành mạnh, hữu cơ bởi vì chúng làm tăng mức độ tiện ích của họ bằng cách giảm rủi ro sức khỏe được nhận thức. Thông tin về các thuộc tính chất lượng của sản phẩm thực phẩm, ví dụ, các thuộc tính an toàn; tiện ích; địa điểm và cách thức sản xuất sản phẩm, mối quan tâm về môi trường là hoàn hảo cho người tiêu dùng, nhà sản xuất, nhà quản lý của chính phủ và các nhà nghiên cứu. Điều này đặc biệt đúng khi các thuộc tính quá trình sản xuất không thể dễ dàng quan sát thấy hoặc thử nghiệm, và ảnh hưởng sức khỏe của sản phẩm rất khó để xác định một khi nó đã được tiêu thụ. Mặc dù sản phẩm an toàn vẫn là một phần nhỏ trong chi tiêu thực phẩm của Argentina, tuy nhiên chúng được coi là một phân khúc thị trường tiềm năng tăng trưởng rất lớn. Những hạn chế chính đối với tăng trưởng nhu cầu trong nước là thiếu thông tin có sẵn cho người tiêu dùng; giá thực phẩm hữu cơ cao hơn những thực phẩm thông thường; và các nguồn cung hướng tới thị trường nội địa rất thất thường. Hầu như mục tiêu chính của các sản phẩm hữu cơ là thị trường nước ngoài”. Trong năm 2006, có đến 96% tổng sản phẩm hữu cơ của Argentina được xuất ra thị trường nước ngoài. Thị trường trong nước chiếm rất ít chỉ còn lại 4%
Xem thêm

Đọc thêm

HỆ THỐNG NHÀ CAO TẦNG KHUNG THÉP VÀ THÉP BÊ TÔNG LIÊN HỢP CỦA CÔNG TY COWAELMIC VÀ CÔNG TY ZAMIL STEEL

HỆ THỐNG NHÀ CAO TẦNG KHUNG THÉP VÀ THÉP BÊ TÔNG LIÊN HỢP CỦA CÔNG TY COWAELMIC VÀ CÔNG TY ZAMIL STEEL

đoàn Zamil Steel. Ngoài ra với hệ thống gồm 19 văn phòng bán hàng khu vực và văn10phòng liên lạc tại các nước Đông Nam Á, Thượng Hải và Úc đã tạo nên một mạnglưới bán hàng và các dịch vụ sau bán hàng của ZSV.2. CHIẾN LƯỢC MARKETING CỦA ZAMIL STEEL:Công ty Zamil Steel Việt Nam với mong muốn Trở thành nhà sản xuất, cungcấp dịch vụ và giải pháp sáng tạo và đáng tin cậy nhất trong lĩnh vực thép toàn cầu.Cung cấp các sản phẩm thép chất lượng cao, cùng với các dịch vụ và giải pháp về thépcho khách hàng trên toàn thế giới. Áp dụng công nghệ tiên tiến trong một môi trườnglàm việc chuyên nghiệp, liên tục đổi mới, tuân theo những chuẩn mực cao nhất về đạođức kinh doanh và trách nhiệm xã hội, tạo nên nhiều giá trị gia tăng cho khách hàng vàduy trì lợi nhuận đầu tư bền vững cho các cổ đông.Để thực hiện mục tiêu đó, công ty Zamil Steel cũng đã lập một chiến lược chomình. Marketing hỗn hợp bao gồm tất cả những gì mà công ty có thể vận dụng để tácđộng lên nhu cầu về sản phẩm của mình. Chương trình cụ thể tập trung vào 4 nhómsau:2.1 Sản phẩm:Zamil Steel là nhà sản xuất hàng đầu cấu kiện thép và nhà thép với sản phẩmđa dạng. Các sản phẩm hàng đầu của Zamil Steel bao gồm: Nhà thép tiền chế, hệ thépdầm bụng rỗng, thép kết cấu (tòa nhà thương mại cỡ trung cho đến các nhà côngnghiệp nặng như: nhà máy điện, nhà máy hóa dầu, nhà máy thép, tòa nhà cao tầng,v.v…), hệ thống mái lợp.- Đối tượng: Nhà cao tầng kết cấu khung thép.- Chỉ tiêu sản phẩm: Thỏa mãn nhu cầu của khách hàng- Chất lượng sản phẩm:+ Đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của khách hang.+ Sản phẩm tốt được bắt đầu từ nguyên liệu tốt nên có những tiêu chí và tiến trình
Xem thêm

17 Đọc thêm

Thực trạng công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động tại Nhà máy Thuốc lá Thăng Long - Hà Nội

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KHUYẾN KHÍCH VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI NHÀ MÁY THUỐC LÁ THĂNG LONG - HÀ NỘI

Đã hơn 10 năm kinh tế Việt Nam chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Từ một nền kinh tế vận hành trong vỏ bọc bao cấp khép kín, tự cung tự cấp bước vào thời mở cửa cạnh tranh khốc liệt, đầy những biến động và không ít rủi ro, các doanh nghiệp Việt Nam đã thật sự đặt mình vào một cuộc chiến mang tính sinh tồn. Chưa bao giờ vấn đề "miếng cơm manh áo", vận mệnh của doanh nghiệp lại bấp bênh, "ngàn cân treo sợi tóc" như bây giờ. Bởi vậy, các doanh nghiệp, một mặt vừa phải cải tiến hoàn thiện bộ máy tổ chức, đầu tư công nghệ sản xuất tiên tiến hiện đại, sáng tạo mẫu mã, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành để có thể cạnh tranh, chiếm được một chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Mặt khác, phải duy trì để đứng vững, từ đó phát triển không chỉ ở thị trường trong nước mà còn hướng ra thị trường quốc tế, hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu. Đó là một thách thức không nhỏ đòi hỏi các tổ chức, doanh nghiệp phải có những chính sách, những cách nhìn mang tính chiến lược, đúng đắn và hiệu quả. Cần phải công nhận rằng, chúng ta đang sống trong thời đại của công nghệ thông tin, của khoa học kỹ thuật đã phát triển đến đỉnh cao, đã đạt tới sự tinh tế, hoàn hảo. Nhưng không thể không khẳng định rằng, dù cho khoa học kỹ thuật có phát triển đến đâu, máy móc thiết bị có tinh vi hiện đại đến mấy chăng nữa thì con người vẫn là yếu tố then chốt, chủ đạo và quan trọng nhất của mọi quá trình, mọi hoạt động. Vấn đề là ở chỗ quản lý và sử dụng như thế nào để tạo và gia tăng động lực làm việc cho người lao động, từ đó phát huy tối đa năng suất, sự nhiệt tình cũng như chất lượng lao động. Đó là một bài toán không dễ giải đáp, huấn giải được nó, chỉ có cách hướng sự quan tâm về phía người lao động. Các cấp quản trị phải xây dựng và thực hiện một cách tốt nhất các chương trình khuyến khích vật chất và tinh thần, giúp người lao động ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, gắn bó và phấn đấu hết mình vì tổ chức, doanh nghiệp. Khi đó, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới có thể "thuận buồm xuôi dòng". Tôi quyết định chọn đề tài trên để qua quá trình thực tập tại Nhà máy Thuốc lá Thăng Long Hà Nội, nghiên cứu thực tế sản xuất cũng như tài liệu thống kê…, thấy rõ thực trạng của công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động tại nhà máy, những điểm mạnh cần biểu dương và những điểm yếu cần khắc phục. Từ đó, đề suất một số giải pháp giúp củng cố và hoàn thiện công tác trên nhằm đem lại hiệu quả tích cực hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy. Chuyên đề tập trung đi sâu phân tích thực trạng công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động tại Nhà máy Thuốc lá Thăng Long Hà Nội - một đơn vị sản xuất và kinh doanh có hiệu quả trong cả nước, kết hợp với việc đưa ra những giải pháp đề xuất để hoàn thiện công tác này. Chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 phần: Phần I: Lý luận về công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động. Phần II: Thực trạng công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động tại Nhà máy Thuốc lá Thăng Long - Hà Nội. Phần III: Một số giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác khuyến khích vật chất và tinh thần cho người lao động tại Nhà máy Thuốc lá Thăng Long - Hà Nội. Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc Nhà Máy Thuốc lá Thăng Long; ông Đặng Ngọc Phi - Chủ tịch công đoàn nhà máy; ông Nguyễn Văn Hán - Trưởng phòng tổ chức bảo vệ, cùng các cán bộ, chuyên viên phòng tổ chức bảo vệ, các phòng ban đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được thực tập, nghiên cứu cũng như đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo trong quá trình tôi thực tập tại Nhà máy. Đồng thời, em cũng gửi tới cô giáo, tiến sĩ Phạm Thị Liên lời biết ơn sâu sắc về những hướng dẫn chỉ bảo tận tình của cô trong quá trình em thực tập và làm chuyên đề tốt nghiệp cũng như trong suốt thời gian học tập. Em cũng gửi lời cám ơn tới ban lãnh đạo nhà trường, các thầy cô giáo, những người đã tận tình dạy bảo, quan tâm và giúp đỡ em trong suốt bốn năm ngồi ở giảng đường trường Đại học Công đoàn. Chuyên đề tốt nghiệp chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong nhận được sự chỉ bảo góp ý của cô giáo cũng như quý Nhà máy.
Xem thêm

87 Đọc thêm

CÔNG NGHỆ LÊN MEN THẠCH DỪA

CÔNG NGHỆ LÊN MEN THẠCH DỪA

CÔNG NGHỆ LÊN MEN THẠCH DỪA.Hiện nay trên thế giới những nước trồng dừa và sản xuất các sản phẩm từ dừa nhiều nhất như: Philippin, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Việt Nam…vấn đề đang được quan tâm là lượng nước dừa hằng năm thải ra từ các nhà máy cơm dừa nạo sấy là rất lớn và đó là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Việc tận dụng nước dừa già vào sản xuất là nhu cầu cấp thiết để giải quyết vấn đề môi trường và làm tăng giá trị sử dụng của dừa. Trong số các thành tựu đạt được, thì vấn đề sử dụng nước dừa già để sản xuất thạch dừa là một hướng giải quyết hiệu quả và có nhiều triển vọng. Thạch dừa (Nata de coco) là một loại sản phẩm truyền thống của Philippines, được du nhập và phổ biến ở Việt Nam hơn 15 năm nay, được tạo thành bởi sự lên men vi khuẩn Acetobacter xylinum trong môi trường nước dừa già. Thạch dừa là sản phẩm trắng trong như thạch agar, hơi dai, có bản chất hoá học là polysaccharide nên không có giá trị dinh dưỡng cao, nhưng có đặc tính kích thích nhu động ruột làm cho việc điều hoà bài tiết được tốt hơn.
Xem thêm

17 Đọc thêm

Luận văn hoàn thiện công tác phân phối sản phẩm tại công ty TNHH Đức Anh

Luận văn hoàn thiện công tác phân phối sản phẩm tại công ty TNHH Đức Anh

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh diễn ra rất gay gắt nên việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh là một quá trình hết sức khó khăn. Do đó, để lựa chọn một ngành nghề và đưa ra các chính sách, chiến lược kinh doanh thích hợp làm cho ngành đó phát triển dễ mang lại lợi nhuận và việc làm là một vấn đề khó khăn không phải riêng với một doanh nghiệp nào. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải sản xuất những mặt hàng có chất lượng cao với mẫu mã đa dạng, phong phú. Bên cạnh đó, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển, mức sống người dân được nâng lên và đương nhiên những người làm công việc kinh doanh cũng nhờ đó mà phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Ngày nay, những nhà kinh doanh không chỉ quan tâm đến số lượng hay chất lượng sản phẩm sản xuất ra, mà còn phải chú ý đến các yếu tố đầu ra của sản phẩm. Thật vậy, trong kinh doanh hiện nay một doanh nghiệp muốn tồn tại lâu dài phải nắm được kiến thức sâu và rộng về tình hình thị trường, không những chỉ nắm chắc chủng loại hàng hóa của doanh nghiệp mình mà còn phải tìm hiểu và xem xét các đối thủ cạnh tranh để có biện pháp đối phó phù hợp. Công ty TNHH Đức Anh cũng không nằm ngoài điều đó. Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất bao bì, để tồn tại và phát triển đồng thời đối phó với những khó khăn cạnh tranh khốc liệt của thị trường, công ty đã cố gắng nỗ lực rất nhiều trong việc vận dụng Marketing mix vào hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là chiến lược phân phối. Như vậy, việc nghiên cứu và thiết lập một hệ thống phân phối phù hợp với hoạt động kinh doanh là việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với công ty. Tầm quan trọng của hoạt động phân phối đó là sự sống còn của các doanh nghiệp thương mại, giúp doanh nghiệp thành công khi vận dụng tốt chiến lược phân phối vào hoạt động kinh doanh của mình. Bất kì doanh nghiệp nào cũng mong muốn thị trường của mình ngày càng được mở rộng, vì vậy ngoài những nỗ lực về sản phẩm, giá cả, xúc tiến hỗn hợp thì cần phải hình thành được hệ thống phân phối phù hợp và có tính cạnh tranh cao trên thị trường, để nó phát huy hết tác dụng nhằm mang lại kết quả kinh doanh tốt nhất cho doanh nghiệp. Trong quá trình tìm hiểu về công ty TNHH Đức Anh là công ty chuyên cung cấp và phân phối các sản phẩm bao bì cho thị trường trong nước và khu vực, nhận thấy mục đích của công ty là sản xuất sản phẩm chất lượng tốt, đẩy mạnh tiêu thụ và mang lại lợi nhuận cao nên hoạt động phân phối là vấn đề chủ yếu của công ty. Tuy nhiên, từ khi thành lập cho đến nay dù công ty đã nỗ lực rất nhiều vẫn chưa đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động này. Vì vậy em muốn vận dụng lý thuyết hoạt động phân phối để thực hiện đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phân phối sản phẩm tại công ty TNHH Đức Anh”. Được sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn Thạc sĩ Nguyễn Thị Hạnh cùng sự giúp đỡ của các cán bộ nhân viên trong công ty TNHH Đức Anh, em đã hoàn thiện bài khóa luận tốt nghiệp. Dù đã có những cố gắng, nỗ lực trong việc hoàn thành đề tài nhưng do thời gian, kiến thức và trình độ có hạn nên bài viết của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong nhận được ý kiến đóng góp từ các thầy cô giáo và các bạn để đề tài của em mang tính thiết thực và hoàn thiện hơn.
Xem thêm

Đọc thêm

Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản của khu vực Đồng bằng sông cửu long

Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản của khu vực Đồng bằng sông cửu long

Hiện nay trên thế giới xu thế toàn cầu hóa ngày càng được nhiều quốc gia chú trọng. Đặc biệt là việc gia nhập vào các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới. Việt Nam cũng vậy, cũng bị ảnh hưởng không nhỏ bởi xu hướng toàn cầu này. Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO, tổ chức thương mại lớn nhất thế giới. Trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang ngày càng mở rộng cánh cửa giao thương với các quốc gia trên thế giới thông gia hoạt động xuất nhập khẩu, mỗi nước đều có những lợi thể so sánh riêng của mình thì thủy sản cũng được coi là thế mạnh của Việt Nam và khu vực đồng bằng sông Cửu Long là nền tảng quyết định thế mạnh đó. Và thực tế cũng đã cho thấy, hoạt động sản xuất và xuất khẩu thủy sản khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã và đang chứng minh được vai trò và tầm quan trọng của mình đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Trong các nước xuất khẩu thủy sản trên thế giới, Việt Nam được coi là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng thủy sản nhanh nhất, với tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 20122014 đạt 16%năm, trong đó khu vực ĐBSCL giữ vai trò quyết định. Hiện nay, thủy sản Việt Nam ngày càng được đánh giá cao trên thị trường quốc tế. Cả nước có khoảng hơn 700 nhà máy chế biến thủy sản quy mô công nghiệp, trong đó khu vực ĐBSCL có khoảng 300 doanh nghiệp lớn nhỏ. Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng nhiều mặt hàng thủy sản vẫn có được chỗ đứng riêng cho mình và duy trì tốc độ tăng trưởng. Thủy sản Việt Nam luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, ngành thủy sản cũng đang đứng trước nhiều khó khăn. Thị trường xuất khẩu thủy sản thế giới vẫn đang phải đối mặt với nền kinh tế toàn cầu chưa hoàn toàn thoát khỏi khủng hoảng. Tiêu dùng giảm, xu hướng tiết kiệm gia tăng, những rào cản kỹ thuật từ phía nhà nhập khẩu, đặc biệt là luật mới: Luật IUU (Quy định về hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định) bắt đầu có hiệu lực từ 112010.
Xem thêm

Đọc thêm

THU HOẠCH THỰC TẬP TỐT NGHIỆP HOẠT ĐỘNG KINH DOANH MẶT HÀNG BÊ TÔNG CỦA CÔNG TY TNHH BÊ TÔNG TRÀ MY

THU HOẠCH THỰC TẬP TỐT NGHIỆP HOẠT ĐỘNG KINH DOANH MẶT HÀNG BÊ TÔNG CỦA CÔNG TY TNHH BÊ TÔNG TRÀ MY

Tại công ty có lực lượng lao động trẻ tuổi đầy nhiệt huyết (trên 86% nhânviên công ty dưới 45 tuổi), đây là thuận lợi lớn cho lĩnh vực phát triển nhân sự,15đào tạo đội ngũ quản trị kế cận. Những vị trí quan trọng như trưởng phòng cácphòng bàn và vị trí trong Ban giám đốc có tuổi trên 45, nhiều kinh nghiệm tronglĩnh vực quản lý hoạt động của công ty.Công ty tổ chức làm việc 8 giờ/ngày và 44 giờ/tuần, công ty cũng có thểhoà thuận và yêu cầu cán bộ công nhân viên tăng ca trong những dịp đặc biệtnhằm đảm bảo nhân lực phục vụ sản xuất theo kế hoạch của công ty. Tuỳ theokết quả kinh doanh hàng năm mà công ty có chế độ thưởng định kì vào các ngàylễ 30/4, 02/09, tết dương lịch và tết nguyên đán hàng năm, ngoài ra công ty cònthường xuyên khen thưởng đột xuất cho các cá nhân có ý tưởng sáng tạo nhằmkhuyến khích cán bộ công nhân viên làm việc hết mình, hiệu quả hơn, tuỳ vàogiá trị hay hiệu quả mang lại mà công ty sẽ có chính sách khen thưởng kịp thời.Cơ cấu tổ chức của công ty theo mô hình tổ chức chức năng đã giúp chocác thành viên trong công ty phát huy tốt trình độ chuyên môn của mình, từ đógiúp công ty nhanh chóng nắm bắt được nhu cầu, những thay đổi của thị trường,cũng như trong kinh doanh, từ đó có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh cóhiệu quả hơn. Nhìn chung, số lượng và cơ cấu nhân sự như hiện nay đã đáp ứngvề cơ bản yêu cầu công việc. Tuy nhiên, vào những lúc cao điểm, khối lượngcông việc nhiều dẫn đến một nhân viên có thể phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ.1.3. Đánh giá chung về tình hình hoạt động của Công ty giai đoạn 20122014Nhìn vào bảng số liệu về tình hình doanh thu, chí phí và lợi nhuận trướcthuế ta thấy doanh thu của công ty có xu hướng tăng dần qua các năm. Cụ thểnăm 2012 doanh thu là 32.764,2 triệu đồng, sang năm 2013 doanh thu tăng lên38.204,6 triệu tương ứng tăng hơn 16%. Tuy nhiên, cũng trong thời gian này,chi phí của đơn vị cũng tăng. Nếu như năm 2012 chi phí là 30.156,3 triệu thì
Xem thêm

40 Đọc thêm

SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM VỚI CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN KHU VỰC MỸ LATINH SAU CHIẾN TRANH LẠNH

SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM VỚI CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN KHU VỰC MỸ LATINH SAU CHIẾN TRANH LẠNH

Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam với cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của các nước đang pháttriển khu vực Mỹ Latinh sau chiến tranh lạnhTổng quanNghiên cứu về sự nghiệp đổi mới ở nước ta và cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của các nướcđang phát triển khu vực Mỹ La tinh sau chiến tranh lạnh là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học, đềcập đến vấn đề này có thể kể đến những công trình: Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình lãnhđạo sự nghiệp đổi mới đất nước (2008), Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội; Đảng Cộng sản Việt Nam(2005), “Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 – 2006)”, NxbChính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Trọng Phúc (2005), “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đổi mới”,Tạp chí Lịch sử Đảng (01); Nguyễn Phú Trọng (2008), “Đổi mới và phát triển ở Việt Nam một số vấnđề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Hoàng Chí Bảo (1993), “Chủ nghĩa xã hộihiện thực – khủng hoảng, đổi mới và xu hướng phát triển”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; NguyễnHoàng Giáp (2006), “Sự phối hợp hoạt động của Đảng Cộng sản và cánh tả trên thế giới hiện nay”,Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Hoàng Giáp – Nguyễn Thị Quế (2007), “Phong trào cộng sảnquốc tế trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Cộng sản (21); Nguyễn Hoàng Giáp – Nguyễn Thị Quế(11/2004), “Phong trào cộng sản ở các nước tư bản phát triển trước các vấn đề lý luận chính trị đặtra trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh”, Tạp chí Lý luận Chính trị; Thái Văn Long (2007), “Phong tràocộng sản và công nhân quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Tạp chí Cộng sản (10); Trương Khắc Lôi,Tự Lập Bình (1997), “Lịch sử, hiện trạng và tương lai của chủ nghĩa xã hội”, Nxb Chính trị Quốc gia,Hà Nội (sách biên dịch); Trình Mưu, Nguyễn Thế Lực, Nguyễn Hoàng Giáp (2005), “Quá trình triểnkhai thực hiện chính sách đối ngoại của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia,Hà Nội; Trình Mưu (2005), “Đóng góp của Đảng Cộng sản Việt Nam với phong trào cộng sản quốctế”, Tạp chí Lý luận Chính trị (02); Nguyễn Xuân Phách (1999), “Phong trào cộng sản và công nhânquốc tế từ 1991 đến nay”, Đề tài cấp Bộ; Phong trào công nhân quốc tế - những vấn đề lịch sử và lýluận, tập 1 và tập 2 (2004), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (Sách biên dịch); Nguyễn Thị Quế(2005), “Phong trào cộng sản ở một số nước liên minh châu Âu, thời kỳ sau chiến tranh lạnh”, NxbChính trị Quốc gia, Hà Nội.Ngoài ra còn có nhiều công trình khác nghiên cứu những vấn đề có liên quan. Tuy nhiên vấn đề Sựnghiệp đổi mới ở Việt Nam với cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của các nước đang phát triểnkhu vực Mỹ la tinh sau chiến tranh lạnh chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu.Tính cấp thiết
Xem thêm

4 Đọc thêm

BÀI THUYẾT TRÌNH QUẢNG CÁO TIẾP THỊ GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY THỜI TRANG KING FASHION

BÀI THUYẾT TRÌNH QUẢNG CÁO TIẾP THỊ GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY THỜI TRANG KING FASHION

Hiện nay để đưa sản phẩm hay tên tuổi của mình ra ngoài thị trường, đến với được với công chúng, với khách hàng tiềm năng, các doanh nghiệp, các công ty sử dụng rất nhiều những phương tiện truyền thông khác nhau, tùy vào từng sản phẩm của mình mà họ chọn phương tiện,công cụ truyền thông nào sao cho phù hợp,thuận tiện nhất đối với sản phẩm của công ty hay là doanh nghiệp đó. Dưới đây là sự phân tích,nghiên cứu và đánh giá các phương tiện truyền thông mà công ty thời trang King fashion đã sữ dụng với bộ sưu tập thời trang mới “ Hương sắc thời trang” cho mùa hè năm 2013.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Thương mại và Dịch vụ Bình Liêu

Hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Thương mại và Dịch vụ Bình Liêu

Để kế toán, đặc biệt là kế toán tiêu thụ sản phẩm phát huy hết vai trò và chức năng của nó, cần phải biết tổ chức công tác này một cách hợp lý, khoa học và thường xuyên được hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu và điều kiện của từng doanh nghiệp. Mặt khác chúng ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới trong xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá, vừa hợp tác vừa cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế cần trang bị cho mình lợi thế cạnh tranh để tồn tại và phát triển đó là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ở trong nước với nhau và sự canh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp ngoài nước, nơi cạnh tranh xảy ra trên thị trường trong nước và cả trên thị trường ngoài nước Do đó sự cần thiết phải tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm để giúp cho doanh nghiệp phát huy hết khả năng tiềm tàng là một nhu cầu cấp bách. Vì nếu như doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm thì cho dù sản phẩm đó có tốt thế nào đi nữa hay doanh nghiệp có quy mô sản xuất hiện đại và lớn thế nào đi chăng nữa thì cũng không thể tồn tại trên thị trường được.
Xem thêm

Đọc thêm

NHỮNG BIỆN PHÁP CHỦ YẾU NHẰM GÓP PHẦN ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TIÊU THỤ VÀ TĂNG DOANH THU CỦA CÔNG TY CP BIA SGNT

NHỮNG BIỆN PHÁP CHỦ YẾU NHẰM GÓP PHẦN ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TIÊU THỤ VÀ TĂNG DOANH THU CỦA CÔNG TY CP BIA SGNT

CHƯƠNG II TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM VÀ DOANH THU BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BIA SÀI GÒN NGHỆ TĨNH. 2.1. ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH CHUNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BIA SG NT. 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty. Công ty cổ phần Bia Nghệ An, tiền thân là một phân xưởng của nhà máy ép dầu Vinh phân xưởng nước ngọt. Phân xưởng nước ngọt thuộc Liên hiệp xí nghiệp Thành phố Vinh, được bắt đầu xây dựng năm 1976. Năm 1978, phân xưởng đưa vào hoạt động và mang tên Nhà máy ép dầu nước ngọt Vinh. Đến năm 1984, Nhà máy ép dầu nước ngọt Vinh được chia thành Nhà máy nước ngọt Vinh và nhà máy ép dầu Vinh. Năm 1986, do việc sản xuất nước ngọt không đem lại hiệu quả, dây chuyền công nghệ cũ và lạc hậu, sau một thời gian nghiên cứu phân tích đặc điểm khí hậu địa bàn hoạt động cũng như khả năng sản xuất của mình, Công ty đã quyết định sản xuất bia. Năm 1987, Nhà máy đổi tên thành Nhà máy bia nước ngọt Vinh. Năm 1990, đổi tên thành Nhà máy bia Nghệ Tĩnh. Ngày 30 tháng 11 năm 1992, Nhà máy đổi tên thành Nhà máy Bia Nghệ An. Với quyết tâm cao của tập thể lãnh đạo, cán bộ, nhân viên của Công ty, qua thời gian ngắn học tập, xem xét thiết bị công nghệ sản xuất của Nhà máy Bia Hà Nội, Nhà máy đã lắp đặt và sản xuất thành công trên dây chuyền sản xuất cổ điển với công suất 3 triệu lítnăm. Vào thời điểm này, Nhà máy đã có bia bán với sản phẩm chính là bia hơi và bia chai SOLAVINA. Tuy nhiên, do nhu cầu thị trường ngày càng tăng, mặt khác nhiều loại bia, nhất là Bia ngoại tràn ngập trên thị trường buộc Nhà máy phải có dây chuyền sản xuất đồng bộ, có như vậy mới có thể tồn tại và đứng vững trong cạnh tranh. Trước khó khăn đó, Nhà máy đã mạnh dạn vay vốn ngân hàng để nhập dây chuyền tự động của Đan Mạch. Ngày 5 tháng 2 năm 1994, Nhà máy đã cho xuất xưởng sản phẩm đầu tiên trên dây chuyền công nghệ mới Bia VIDA (Vinh DENMARK). Nhà máy đã vay tiếp 1.408.000 USD của Ngân hàng Ngoại thương để đầu tư mua sắm dây chuyền sản xuất, tăng công suất của dây chuyền lên 6 triệu lítnăm, giữ nguyên dây chuyền cũ để sản xuất bia hơi.
Xem thêm

Đọc thêm

Giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước trong Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU)

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC TRONG LIÊN MINH THUẾ QUAN MIỀN NAM CHÂU PHI (SACU)

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài luận án Mở rộng, đa dạng hóa quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các đối tác là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Chiến lược Phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra định hướng: “Đa dạng hóa thị trường ngoài nước, khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định thương mại tự do và thị trường tiềm năng, tăng nhanh xuất khẩu…”[6]. Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030 được ban hành tại Quyết định số 2471/QĐ-TTg ngày 28/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ đã đề ra mục tiêu: “Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa bình quân 11–12%/năm trong thời kỳ 2011–2020, trong đó giai đoạn 2011–2015 tăng trưởng bình quân 12%/năm; giai đoạn 2016–2020 tăng trưởng bình quân 11%/năm”[51]. Để thực hiện được mục tiêu đó, Chiến lược đã đề ra định hướng phát triển thị trường, trong đó nhấn mạnh cần phải “đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; củng cố và mở rộng thị phần hàng hóa Việt Nam tại thị trường truyền thống; tạo bước đột phá mở rộng các thị trường xuất khẩu mới có tiềm năng”[51]. Đối với thị trường Châu Phi, Chiến lược đề ra định hướng tới năm 2020 sẽ chiếm tỷ trọng khoảng 5% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Để thực hiện, cụ thể hóa các chủ trương, sách lược của Đảng và Nhà nước ta trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay thế giới có nhiều biến động, Việt Nam phải giảm sự lệ thuộc vào một số ít thị trường, tích cực mở rộng thị trường xuất khẩu, trong đó chú trọng các thị trường mới như thị trường Châu Phi. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh, giành giật thị trường đang diễn ra gay gắt đòi hỏi phải có những nghiên cứu thường xuyên cập nhật, chi tiết về thị trường Châu Phi. Châu Phi là một thị trường rộng lớn với 55 quốc gia. Mỗi quốc gia, khu vực thị trường đều mang những đặc điểm thị trường có tính đặc thù riêng, vì vậy rất cần phải có những nghiên cứu chi tiết, chuyên sâu từng thị trường và khu vực thị trường. Trong số các tổ chức kinh tế khu vực của Châu Phi, Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU) là tổ chức kinh tế khu vực thành công nhất của châu Phi và là đầu tầu tăng trưởng kinh tế của cả châu lục. SACU được thành lập từ năm 1910 và là Liên minh thuế quan được thành lập sớm nhất trên thế giới. Hiện nay khối liên minh này bao gồm 5 quốc gia thành viên đó là Nam Phi, Bostwana, Lesotho, Namibia và Swaziland. Thị trường các nước SACU được đánh giá có nhiều tiềm năng do kinh tế tăng trưởng khá ổn định, có nhu cầu hàng hóa lớn và đa dạng, chủ yếu là sản phẩm chất lượng vừa phải, giá rẻ. Bên cạnh đó, tình hình chính trị của các nước khu vực SACU khá ổn định; việc Mỹ, EU và một số nước cho phép nhiều sản phẩm các nước khu vực SACU tiếp cận tương đối tự do và thuận lợi hơn thị trường của họ cũng như nhiều chính sách thu hút đầu tư nước ngoài khá hấp dẫn đã giúp thị trường các nước khu vực SACU ngày càng giành được sự quan tâm chú ý của nhiều nước trên thế giới. Các nước SACU là một khu vực thị trường còn khá mới lạ đối với các doanh nghiệp nước ta. Trao đổi thương mại với các nước khu vực này vẫn còn hạn chế. Năm 2014, trao đổi thương mại hai chiều mới đạt mức 1,014 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 814 triệu USD và nhập khẩu đạt 200 triệu USD. Một trong những nguyên nhân chính khiến cho trao đổi thương mại giữa Việt Nam và các nước SACU còn hạn chế đó các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp chưa thực sự có nhiều giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy, phát triển quan hệ thương mại với các nước này. Bởi vậy, việc nghiên cứu đề tài Giải pháp phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước trong Liên minh thuế quan miền Nam châu Phi (SACU) một cách có hệ thống sẽ góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu hoạch định chính sách và giải pháp vĩ mô và vi mô nhằm thúc đẩy trao đổi thương mại của nước ta sang các nước SACU đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đây cũng chính là lý do cho việc lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu của luận án là nghiên cứu xác lập các quan điểm, định hướng phát triển và các giải pháp về thể chế và thực thể kinh doanh thương mại trong phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU. * Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án tập trung thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau: - Tổng quan các công trình khoa học đã thực hiện liên quan đến việc phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước SACU, những vấn đề đã được nghiên cứu, xác định những vấn đề chưa được nghiên cứu, hoặc nghiên cứu chưa sâu để tập trung nghiên cứu. - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quan hệ thương mại quốc tế nói chung và quan hệ thương mại giữa một quốc gia với các nước trong một liên minh thuế quan.
Xem thêm

146 Đọc thêm

Báo cáo thực tập: THỰC TRẠNG MỘT SỐ PHẦN HÀNH KẾ TOÁN CHỦ YẾU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN LẠNH VIỆT NAM

Báo cáo thực tập: THỰC TRẠNG MỘT SỐ PHẦN HÀNH KẾ TOÁN CHỦ YẾU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN LẠNH VIỆT NAM

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường, khoa học công nghệ cũng có những bước phát triển vượt bậc, nó dần dần được áp dụng rộng rãi trên mọi phương diện. Từ một ngành kinh tế với trình độ công nghệ lạc hậu dẫn đến năng suất lao động thấp, con người chưa có điều kiện để tiếp cận nhiều với máy móc, thiết bị hiện đại. Do đó để khẳng định vị thế trong nền kinh tế, khoa học công nghệ là ngành không thể thiếu để hỗ trợ cho các ngành nghề kinh tế khác và trong lĩnh vực cuộc sống của chúng ta. Sản phẩm của khoa học công nghệ không chỉ đơn thuần là những máy móc, thiết bị có giá trị cao, thời gian sử dụng lâu dài, có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế mà còn là những công trình có tính thẩm mỹ cao thể hiện phong cách, lối sống của dân tộc đồng thời có ý nghĩa quan trọng về văn hoá xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế như hiện nay muốn tồn tại và phát triển được trong môi trường cạnh tranh các doanh nghiệp phải luôn luôn làm tốt tất cả các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ khâu thu mua nguyên vật liệu đến khi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Làm thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất là câu hỏi đối với tất cả các doanh nghiệp. Có như vậy doanh nghiệp mới đảm bảo có lãi, cải thiện đời sống người lao động, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước, tăng tích luỹ và thực hiện tái sản xuất mở rộng. Hiện nay, trước sự hội nhập về kinh tế thế giới và khu vực, sự đổi mới trong lĩnh vực kinh tế nói chung và lĩnh vực kế toán, kiểm toán nói riêng đang ngày một hoàn thiện. Việc tổ chức tốt công tác hạch toán, kế toán không những giúp cho các nhà quản lý biết được tình hình thực tế của doanh nghiệp mình mà còn đưa ra những thông tin kinh tế kịp thời, chính xác giúp cho bộ phận quản lý có những quyết định đúng đắn, nhanh chóng phục vụ cho sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả
Xem thêm

Đọc thêm

Chuyên đề đánh giá hoạt động quan hệ công chúng tại công ty cổ phần vital

Chuyên đề đánh giá hoạt động quan hệ công chúng tại công ty cổ phần vital

1.1. Quá trình hình thành và phát trỉển của công ty Vỉtal Năm 1996, được sự chấp thuận của UBND Tỉnh Thái Bình, Công ty cổ phàn Yital thành viên của tập đoàn Bitexco đã đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất nước khoáng hiện đại bậc nhất Việt Nam với dây chuyền công nghệ, thiết bị của Italia với sự kiểm soát chất lượng sản phẩm của các chuyên gia đến từ FDT Italy. Nhà máy nước khoáng Vital khai thác tại nguồn nước khoáng thiên nhiên Đông Cơ Tiền Hải Thái Bình, với công suất 30.000.000 lítnăm, chính thức đi vào hoạt động tháng 52007. Khi mới thành lập, công ty gặp không ít khó khăn với vấn đề vay vốn, sử dụng vốn, xâm nhập thị trường đầy biến động trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn châu Á. Với chiến lược, chính sách phát triển nhạy bén với thị trường, cho đến nay Vital là thương hiệu nước khoáng xuất hiện trên toàn quốc và đạt được những thành quả nhất định. Năm 2009 là mốc thời điểm đánh dấu bước chuyển mình rất lớn của Vital khi những nỗ lực của Vital được chính thức công nhận trên khắp các phương tiện thông tin đại chúng.
Xem thêm

Đọc thêm

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM SỨ VỆ SINH TẠI TỔNG CÔNG TY VIGLACERA

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM SỨ VỆ SINH TẠI TỔNG CÔNG TY VIGLACERA

1.Tính cấp thiết của đề tàiNền kinh tế Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng trên mọi lĩnh vực kinh tế; xã hội; đối ngoại,…đặc biệt là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước.Từ chỗ các doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò độc tôn trong sản xuất kinh doanh theo mệnh lệnh hành chính ,không có cạnh tranh và hạch toán kinh tế chỉ là hình thức sang phát triển mọi loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường các doanh nghiệp phải tự hạch toán, tự lo mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh theo hướng thị trường.Ngày nay môi trường kinh doanh có sự ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động kinh doanh của công ty, nó luôn thay đổi, phá vỡ sự cứng nhắc của các kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp.Vấn đề đặt ra là phải hoạch định và triển khai một công cụ kế hoạch hữu hiệu đủ linh hoạt ứng phó với những thay đổi của môi trường kinh doanh.Đặc biệt trong xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới thì mình muốn tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp không những phải đủ sức cạnh tranh trên thị trường nội địa mà phải có khả năng vươn ra thị trường quốc tế.Vậy làm thế nào để có ưu thế cạnh tranh hơn đối thủ cạnh tranh và cạnh tranh được với các đối thủ khi họ có lợi thế cạnh tranh dài hạn ? Không chỉ với các doanh nghiệp Việt Nam mà cả đối với các công ty lớn trên thế giới trong suốt quá trình đặt tình huống và tìm giải pháp, có một câu hỏi luôn được đặt ra đó là làm sao doanh nghiệp có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa một bên là khả năng có hạn của mình và đòi hỏi vô hạn của thị trường không chỉ bây giờ mà cả cho tương lai.Giải quyết được mâu thuẫn ấy là mục tiêu của hoạch định chiến lược kinh doanh.Trong chiến lược chung của toàn doanh nghiệp, chiến lược về sản phẩm có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng nó là cơ sở để xây dựng và thực hiện các chiến lược và kế hoạch khác như: chiến lược đầu tư và phát triển, chiến lược giá, chiến lược phân phối và các hoạt động xúc tiến hồn hợp…Tổng công ty Viglacera là một trong các doanh nghiệp nhà nước chuyên sản xuất kinh doanh các loại sứ vệ sinh.Trong những năm qua,tổng công ty đã phát huy các nhân tố nội lực để vượt qua các thử thách của thời kì chuyển đổi,phát triển sản xuất kinh doanh ngày càng có hiệu quả.Một trong những mục tiêu của tổng công ty là trở thành một trong những doanh nghiệp sản xuất sứ vệ sinh lớn nhất tại Việt Nam đặt ra cho tổng công ty nhiệm vụ phải nhanh chóng xây dựng cho mình một chiến lược phát triển toàn diện và trong đó quan tâm đặc biệt tới chiến lược sản phẩm.Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, ngành sản xuất sứ vệ sinh đã có những bước phát triển mạnh mẽ.Đặc biệt là kể từ khi tham gia WTO thì các công ty trong và ngoài nước đã có sự đầu tư rõ nét cho sản phẩm của mình trên thị trường làm cho mức độ cạnh tranh của các sản phẩm càng trở nên gay gắt.Để tồn tại trong bối cảnh đó buộc các công ty phải tạo cho mình những chỗ đứng nhất định trong thị trường.Chiến lược sản phẩm là một vũ khí lợi hại của các công ty bởi nó đảm bảo cho công ty phát triển ổn định, đúng hướng và có hiệu quả.Nó là yếu tố vô cùng quan trọng đối với những công ty luôn chú ý tới việc phát triển công ty thông qua doanh thu bán sản phẩm.Do vậy đối với tổng công ty Viglacera hiện đang đứng trước một sức ép từ các đối thủ trong và ngoài nước thì việc nghiên cứu và phát triển chiến lược sản phẩm của công ty là rất cần thiết và cấp bách.Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu và phân tích chiến lược phát triển sản phẩm đổi với hoạt động kinh doanh của công ty tôi quyết định chọn đề tài:“Chiến lược phát triển sản phẩm sứ vệ sinh tại tổng công ty Viglacera”.
Xem thêm

103 Đọc thêm

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP HUỲNH QUANG TRƯỜNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP HUỲNH QUANG TRƯỜNG

1.1. Khái quátchung về hoạt động xuất khẩu1.1.1. Khái niệmXuất khẩu được thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đốingoại xuất hiện rất lâu đời và là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế mỗi quốc gia pháttriển.Nó không phải là hoạt động buôn bán riêng lẽ mà là cả một hệ thống các quanhệ mua bán phức tạp có tổ chức cả bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩyhàng hóa phát triển chuyển đổi cơ cấu ổn định và từng bước nâng cao đời sống nhândân.Mục đích chủ yếu của hoạt động xuất khẩu là khai thác được lợi thế của các quốcgia trong phân công lao động quốc tế. Hoạt động xuất khẩu diễn ra liên tục, diễn ratrên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện với nhiều loại hàng hóa khác nhau từ xuấtkhẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liêu sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ cao. Tấtcả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu đem lại lợi nhuận cho quốc gia nói chungvà các doanh nghiệp tham gia nói riêng.Phạm vị hoạt động xuất khẩu rất rộng về không gian và thời gian: nó có thể diễnra trong thời gian rất ngắn song nó cũng có thể kéo dài hàng năm; nó có thể đượctiến hành trên phạm vi một quốc gia (trường hợp một bên là khu vực nội địa, bênkia là khu vực hải quan riêng theo qui định pháp luật của quốc gia đó) hay nhiềuquốc gia.Theo điều 27 luật thương mại (2005), xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa đượcđưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt năm trên lãnh thổViệt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. [5,tr.27]1.1.2. Vai tròĐối với nền kinh tế thế giớiHoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu ngày nay rất được chú trọng, nó trở thànhmột hoạt động rất cần thiết đối với mọi quốc gia.Mỗi quốc gia muốn phát triển đượcphải tham gia vào hoạt động này.Bởi vì mỗi quốc gia khác nhau về điều kiện tựnhiên có thể có điều kiện thuận lợi về mặt này nhưng lại khó khăn về mặt hàngkhác. Vì vậy để tạo sự cân bằng trong phát triển, các quốc gia trên tiến hành xuấtkhẩu những mặt hàng mà mình có lợi thế và nhập những mặt hàng mà mình không
Xem thêm

111 Đọc thêm

Cùng chủ đề