DẠY VÀ HỌC CÓ HIỆU QUẢ PHÙ HỢP VỚI ĐẶC ĐIỂM LỨA TUỔI CỦA HỌC SINH Ở ĐỊA PHƯƠNG GIÚP CÁC EM TỰ TIN TRONG HỌC TẬP

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "DẠY VÀ HỌC CÓ HIỆU QUẢ PHÙ HỢP VỚI ĐẶC ĐIỂM LỨA TUỔI CỦA HỌC SINH Ở ĐỊA PHƯƠNG GIÚP CÁC EM TỰ TIN TRONG HỌC TẬP":

SKKN: Tổ chức hoạt động hình thành kiến thức từ thí nghiệm Vật lý theo nhóm ở lớp VNEN

SKKN: Tổ chức hoạt động hình thành kiến thức từ thí nghiệm Vật lý theo nhóm ở lớp VNEN

Trong đổi mới phương pháp dạy học, việc dạy học thí nghiệm theo nhóm cũng là một phương pháp dạy học tích cực, nhằm giúp học sinh hiểu sâu hơn kiến thức cơ bản của môn Vật lý. Việc thực hiện thí nghiệm Vật lý theo nhóm là rất phù hợp với đặc điểm tâm – sinh lí và khả năng nhận thức của học sinh, đồng thời tạo điều kiện rèn luyện cho học sinh các kỹ năng thực hành và thái độ ứng xử trong thực hành, cần thiết cho việc học tập Vật lý ở các cấp học trên. Nhằm tạo cho các em khả năng hợp tác trong quá trình học tập, rèn luyện các kỹ năng cơ bản để các em nâng cao chất lượng về học tập, do đó tôi đã chọn đề tài “Tổ chức hoạt động hình thành kiến thức từ thí nghiệm Vật lý theo nhóm ở lớp VNEN” để làm đề tài nghiên cứu.2) Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài: Mục tiêu của đề tài : Nhằm đề xuất các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả học tập, thí nghiệm theo nhóm trong học sinh ở trường THCS qua đó phát triển các kỹ năng dạy học hình thành kiến thức từ thí nghiệm theo nhóm và nhân rộng ở các lớp, qua đó giúp chia sẻ, tư duy sáng tạo, chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động, tự tin, góp phần nâng cao chất lượng học tập cho học sinh, đáp ứng yêu cầu học tập hiện nay trong thời kỳ hội nhập.Bản thân tôi cũng là một trong số nhiều giáo viên đang tham gia giảng dạy thí điểm mô hình trường học mới VNEN, với mô hình này việc dạy học hình thành kiến thức từ thí nghiệm theo nhóm rất thường xuyên được thao tác như một chìa khóa để đi đến thành công trong quá trình dạy học. Nhiệm vụ của đề tài : Với thực trạng trên và để đáp ứng yêu cầu về đổi mới PPDH cũng như vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Theo tôi, để thực hiện tốt phương pháp dạy học hình thành kiến thức từ thí nghiệm theo nhóm, giáo viên cần phải có các kĩ năng tổ chức sau: Kĩ năng chia nhóm. Kĩ năng giao nhiệm vụ. Kĩ năng tổ chức cho học sinh làm việc trong nhóm. Kĩ năng quan sát. Kĩ năng tổ chức cho học sinh trình bày kết quả học tập. Kĩ năng đánh giá kết quả học tập. Kĩ năng phản hồi.3) Đối tượng nghiên cứu: Học sinh học môn Khoa học tự nhiên 7. Giáo viên dạy môn Khoa học tự nhiên 7.4) Giới hạn phạm vi nghiên cứu:Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về “Tổ chức hoạt động hình thành kiến thức từ thí nghiệm theo nhóm ở lớp học VNEN ” nhằm mang lại hiệu quả cao trong dạy học thí nghiệm theo nhóm ở lớp 7A5,6 và các lớp học mô hình VNEN trường THCS Buôn Trấp – Huyện Krông Ana – Tỉnh Đăk Lăk trong năm học 2015 – 2016.5) Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng một số nhóm phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu Phương pháp quan sát Phương pháp điều tra phỏng vấn Phương pháp tổng kết kinh nghiệm Phương pháp thống kê toán học II. PHẦN NỘI DUNG1) Cơ sở lí luận: Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm, bởi vậy đòi hỏi giáo viên bộ môn phải sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học một cách hợp lí, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; phù hợp với nội dung, tính chất của bài học, đặc điểm và trình độ học sinh; phù hợp với thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương, nhất là tăng cường việc sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan trong quá trình dạy học. Trong dạy học Vật lý, giáo viên cần phát huy tính tích cực của học sinh bằng cách tạo hứng thú, kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh. Rèn luyện cho học sinh kĩ năng thực hành; rèn luyện khả năng sử dụng và diễn đạt ngôn ngữ Vật lý cho học sinh. Qua đó việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh sẽ được phát huy tối đa.2) Thực trạng:2.1. Thuận lợi – khó khăn: Thuận lợi: Ngày càng có nhiều em học sinh quan tâm, lựa chọn môn Vật lý là môn học ưa thích và cần thiết cho mình vì đây sẽ là cơ sở để các em trước mắt vượt qua các kì thi, góp phần định hướng nghề nghiệp cho các em sau này. Đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao nên đa số các gia đình đã có điều kiện để đầu tư cho con em mình học tập cũng như quan tâm đến việc học tập của con em mình tốt hơn. Đa số học sinh được trang bị đầy đủ tài liệu hướng dẫn học và đồ dùng học tập. Học sinh trong lớp và trường thích học mô hình trường học VNEN do các em mạnh dạn, có điều kiện trao đổi về kiến thức một cách tự tin. Bản thân giáo viên thích nghiên cứu sâu và dạy học thí nghiệm theo nhóm ở học sinh có hiệu quả. Thiết kế của bài học VNEN được xây dựng ba trong một, điều đó rất tiện cho giáo viên và học sinh trong hoạt động dạy và học. Mô hình dạy học của VNEN chuyển cơ bản từ hoạt động dạy của giáo viên sang hoạt động học của học sinh. Tức là chuyển từ phương pháp dạy truyền thống sang phương pháp học tích cực của học sinh. Khó khăn: Thiết bị dạy và học, đặc biệt là thiết bị thí nghiệm ở nhà trường còn thiếu, bị hư hỏng nhiều. Một lớp học với số lượng đông cũng là một trở ngại rất lớn cho dạy học thí nghiệm theo nhóm thành công. Nếu như giáo viên không kiểm soát cẩn thận tương tác trong nhóm, thì một vài học sinh có thể không hoạt động, hoặc có thể có học sinh làm thay công việc cho các bạn trong nhóm. Trong nhóm và giữa các nhóm có thể phát sinh tình trạng đối địch, ganh đua quá mức. Thường khó để đánh giá từng học sinh một cách công bằng và một vài em có thể cảm thấy không thoải mái với việc đánh giá dựa trên sự nỗ lực của nhóm và sự bình xét của các bạn.2.2. Thành công – Hạn chế:Dạy học thí nghiệm theo nhóm đã được coi là phương pháp dạy học hữu hiệu mang lại một số ích lợi như: Giáo viên thấy rõ tác dụng của dạy học thí nghiệm theo nhóm trong việc phát huy tính tích cực, chủ động tham gia của học sinh, mọi học sinh đều được trình bày ý kiến, tự tìm ra tri thức, nắm bài chắc hơn, hứng thú với học tập hơn. Phát triển những kĩ năng xã hội cho học sinh như biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của bạn, biết trình bày ý kiến của mình cho các bạn nghe và hiểu, biết thống nhất ý kiến. Học sinh có những kĩ năng làm việc theo nhóm hiệu quả. Các em đã biết nhanh chóng gia nhập vào nhóm, bầu nhóm trưởng, thư kí, điều hành và tham gia việc chung của cả nhóm. Bên cạnh những kết quả tích cực như trên, vẫn còn những tồn tại nhất định. Dạy học thí nghiệm theo nhóm nói riêng, dạy học nhóm nói chung chưa được sử dụng đồng đều ở tất cả các môn học; đôi khi còn đơn điệu trong việc sử dụng các hình thức tiến hành; nhiệm vụ giao cho nhóm còn đơn giản, ít phương án trả lời, không cần huy động nhiều kinh nghiệm của từng cá nhân. 2.3. Mặt mạnh mặt yếu.
Xem thêm

Đọc thêm

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SOẠN GIẢNG TRONG NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SOẠN GIẢNG TRONG NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC

A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1. Cơ sở khoa học: Để nâng cao chất lượng dạy học thì trước hết phải nâng cao được chất lượng giờ dạy Để nâng cao được chất lượng giờ dạy thì phải nâng cao được chất lượng soạn giảng. Đúng vậy, Thiết kế nội dung bài giảng (Soạn giáo án) và cách thức dạy học là một khâu đột phá quan trọng để đổi mới nội dung, phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Để việc dạy học có hiệu quả, người giáo viên bao giờ cũng dành một thời gian thích đáng để thiết kế bài. Khi thiết kế bài soạn muốn đạt kết quả giờ dạy tốt cần có sự đầu tư trí tuệ, huy động kiến thức kỹ năng sư phạm, trên cơ sở định hướng tích cực cơ bản của tài liệu hướng dẫn soạn giảng. Trong quá trình thiết kế bài học cần chú trọng đến nhiều khía cạnh tác động đến quá trình dạy học như: Đặc điểm lứa tuổi học sinh, nhu cầu, hứng thú, các phương tiện kỹ thuật đồ dùng trực quan, cơ sở vật chất trường lớp... Từ đó có định hướng rõ rệt để xác định những tiêu chí cụ thể cần đạt cũng như cách thức (sự lựa chọn phương pháp phù hợp) để đạt được mục tiêu bài dạy. Kết quả một giờ dạy không những phụ thuộc khá nhiều vào sự chuẩn bị bài dạy mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác nhau cũng như yếu tố chủ quan không thể tránh khỏi. Đó chính là phụ thuộc vào năng lực sư phạm, sự tự tin, tính sáng tạo trong sử lý các tình huống sư phạm... 2. Cơ sở thực tiễn: Trong một vài năm trở lại đây xu hướng đổi mới công tác soạn giảng ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách cần được mỗi thầy cô để tâm trí cao độ hơn nữa vào đầu tư cho công tác soạn giảng thiết kế giáo án phục vụ cho giảng dạy nâng cao hiệu quả phát huy tích tích cực và có tinh giáo dục toàn diện cao cho học sinh. Một trở ngại không nhỏ cản trở quá trình đổi mới việc soạn giáo án và thực thi giờ dạy trên lớp chính là do thói quen ngại đổi mới của một bộ phận không nhỏ giáo viên. Thực tế cho thấy nhiều giáo viên muốn giữ nề nếp soạn giáo án theo cách truyền thống mà ở đó giáo án chỉ là sự ghi chép lại nội dung đã có ở sách giáo khoa mà không đưa ra các phương pháp dạy học thích ứng với từng giai đoạn học tập của học sinh. Hơn nữa tình trạng một số giáo viên sử dụng giáo án điện tử chỉ coppy bài soạn trên mạng và chỉnh sửa qua loa đại khái ít đầu tư trí tuệ hoặc xem giáo án như sản phẩm đối phó mà không có sự quan tâm đến chất lượng hiệu quả của giờ dạy để rồi mỗi khi lên lớp họ dạy theo kỹ năng tự nhiên của bản thân chưa có sự đầu tư chuẩn bị chu đáo điều đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giờ dạy và chất lượng học sinh. Sự lựa chọn phương pháp giảng dạy cũng gặp nhiều khó khăn do thói quen dễ dãi trong soạn giảng, trình độ giáo viên còn nhiều bất cập. Hiện tượng thầy giảng trò nghe, trò chép vẫn là hiện tượng phổ biến, hiện tượng tổ chức các hoạt động phát huy tính tích cực của học sinh như: tổ chức hoạt động nhóm, tổ chức các trò chơi học tập, ... chỉ mang tính hình thức ít hiệu quả và không thường xuyên,... Từ đó chất lượng giờ giảng cho hiệu quả không cao, không phát huy mạnh được hứng thú cũng như óc sáng tạo, tích cực hoạt động của trò. Trên cơ sở như vậy đã đặt ra nhiệm vụ tìm ra những giải pháp nào để nâng cao chất lượng Thiết kế kế hoạch bài dạy là vấn đề cấp bách cần giải quyết, giúp cho anh chị em giáo viên ở trường Tiểu học đổi mới tư duy vào việc làm trong công tác soạn giảng của mình đem lại hiệu quả thiết thực phù hợp với trình độ nhận thức của tập thể giáo viên trong đơn vị nhằm từng bước nâng cao hiệu quả giáo dục.. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng soạn giảng ở trường tiểu học” để nghiên cứu, áp dụng vào công tác quản lý của đơn vị, mong góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp giáo dục trong nhà trường tiểu học.
Xem thêm

Đọc thêm

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH HỌC HỨNG THÚ VỚI PHÂN MÔN VẼ TRANH Ở BẬC THCS

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH HỌC HỨNG THÚ VỚI PHÂN MÔN VẼ TRANH Ở BẬC THCS

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH HỌC HỨNG THÚ VỚI PHÂN MÔN VẼ TRANH Ở BẬC THCS I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Theo qui luật phát triển của tự nhiên khi đời sống vật chất của xã hội được nâng cao thì nhu cầu về thẩm mỹ càng phát triển, chính vì thế trong chương trình giáo dục mới mục tiêu giáo dục đặt ra đó là phải làm sao để học sinh biết cảm nhận, biết tạo ra cái đẹp đã được đưa lên ngang hàng với các mục tiêu khác. Là một giáo viên dạy mĩ thuật, ngoài công tác giảng dạy tôi thấy mình cần phải có trách nhiệm hướng dẫn các học sinh của mình yêu thích, hứng thú khi học phân môn vẽ tranh đề tài. Vì vẽ tranh đề tài là phân môn học xuyên suốt từ lớp 6 đến lớp 9 ( khoảng 35 tiết).Vẽ tranh là môn học giúp học sinh cảm nhận về cái đẹp đồng thời giúp các em tạo ra cái đẹp, thông qua bố cục, đường nét, màu sắc., giúp các em hoàn thiện nhân cách. Muốn vậy, phải có sự hợp tác giữa thầy và trò; thầy hướng dẫn, phát hiện; trò đam mê, phát huy những năng khiếu vốn có của mình. Đối với học sinh bậc THCS học vẽ là một trò chơi có sức hấp dẫn, hầu như mọi học sinh đều thích. Nhưng không hẳn em nào cũng vẽ tốt, cũng cảm nhận hết được tính thẩm mỹ của bộ môn mỹ thuật. Một số trường học thiếu GV bộ môn hoặc GV kiêm nhiệm. Cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học có khi thiếu thốn. Vì thế để dạy tốt phân môn vẽ tranh đòi hỏi người giáo viên phải yêu nghề, mến trẻ, có sự nhạy bén và đặc biệt là phải có phương pháp phù hợp giúp các em nắm kiến thức, hình thành kỹ năng một cách hiệu quả nhất. Chính vì điều đó nên tôi xin đưa ra một vài kinh nghiệm giúp học sinh có hứng thú, yêu thích phân môn vẽ tranh ở bậc THCS. II.THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI CHỌN ĐỀ TÀI: 1.Thuận lợi: Cuộc sống càng phát triển thì nhu cầu tìm đến cái đẹp ngày càng cao. Các bậc phụ huynh ngày càng hướng con họ đến với thẩm mỹ,cảm nhận cái đẹp trong cuộc sống. Không những vậy mà còn tự thân làm ra các nét đẹp, dù ở mức độ đơn giản. Ngành Mỹ thuật luôn được xã hội quan tâm các câu lạc bộ mới ra đời phục vụ cho nhu cầu hoạt động mỹ thuật đa dạng như: • Câu lạc bộ sáng tác trẻ. • Câu lạc bộ thư pháp. • Các cuộc triển lãm Mỹ Thuật. • Câu lạc bộ nhiếp ảnh…. Gần đây bộ môn mĩ thuật được sự quan tâm đặc biệt của ngành giáo dục với mục tiêu tào đào tạo con người phát triển toàn diện luôn hướng tới chân thiện mĩ. Phân phối chương trình mới của BGD ĐT đã tạo đã đưa các tiết vẽ tranh phần lớn là 2 tiết đề tài đã tạo thuận lợi cho giáo viên trong việc hướng dẫn học sinh. Tất cả những yếu tố trên trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên dạy bộ môn mĩ thuật bậc THCS nói chung và phân môn vẽ tranh đề tài nói riêng. 2. Khó khăn: Cuộc sống của người dân còn gặp phải nhiều khó khăn, sự khác biệt giữa vùng miền còn thiếu thốn về vật chất, tinh thần thì việc quan tâm đến mỹ thuật chưa cao. Học sinh ở vùng sâu, vùng xa, ít có điều kiện tiếp xúc với mỹ thuật. Các phương tiện học tập, hoạ phẩm: Cọ, màu, giấy, chất liệu…….hạn chế nhiều. Các nhà văn hoá, các trung tâm sinh hoạt văn hoá cộng đồng chưa đủ sức hấp dẫn học sinh, các sân chơi mang tính nghệ thuật chưa nhiều. Một số nơi nhà trường còn thiếu đội ngũ có chuyên môn, hoặc dạy chéo ban nên việc bồi dưỡng, phát hiện tài năng hội hoạ ngay từ lứa tuổi thiếu niên còn hạn chế. Phòng học bộ môn còn thiếu, sĩ số học sinh trong một lớp quá đông. Mỹ thuật là môn học cần nhiều đồ dùng trực quan, tranh mẫu, phương tiện trình chiếu... nhưng đa số còn thiếu hoặc rất ít. Phần lớn GV phải tự làm, tự sưu tầm ảnh hưởng không ít đến hiệu quả giảng dạy.
Xem thêm

Đọc thêm

sáng kiến kinh nghiệm: giải pháp sử dụng tài liệu tham khảo vào dạy học lịch sử lớp 12

sáng kiến kinh nghiệm: giải pháp sử dụng tài liệu tham khảo vào dạy học lịch sử lớp 12

II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến a. Sự cần thiết của việc thực hiện sáng kiến: Xuất phát từ chủ trương đổi mới toàn diện giáo dục của Đảng và Nhà nước hiện nay: Định hướng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đã được xác định cụ thể trong Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (121996), trong Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009, được thể chế hóa trong các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong Nghị quyết số 29 NQTW của BCH trung ương 8 khóa XI nêu rõ: Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Có thể nói, cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy học môn Lịch sử nói riêng là hướng vào hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập, chống lại lối dạy đọc chép, thói quen học tập thụ động. Như vậy việc lựa chọn và sử dụng tài liệu trong hoạt động dạy học của giáo viên làm phong phú bài giảng, thu hút học sinh học tập cũng là một trong những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Xuất phát từ vai trò của việc sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học Lịch sử: Đặc trưng riêng biệt của bộ môn Lịch sử là học sinh không thể trực tiếp nhìn thấy những sự kiện đã qua, cho nên trong giai đoạn nhận thức cảm tính của mình các em không thể có cảm giác và tri giác về sự kiện. Vì vậy giáo viên phải tìm cách dạy như thế nào để cho học sinh cảm thấy thích học lịch sử và đạt được hiệu quả cao. Muốn cho học sinh hiểu và hứng thú hơn trong việc học lịch sử thì giáo viên phải sử dụng thêm những tài liệu ngoài sách giáo khoa như: Tư liệu lịch sử, Văn học, kiến thức liên môn... vào hoạt động dạy học lịch sử, giúp học sinh nắm được bản chất nhân vật, sự kiện lịch sử một cách cụ thể hơn qua đó khơi dậy lòng yêu mến môn Lịch sử, hình thành tri thức, năng lực cho học sinh. Đây là một biện pháp tối ưu cho phát triển giáo dục. Qua hơn mười năm đứng lớp, chúng tôi có điều kiện dự giờ nhiều đồng nghiệp ở các đơn vị khác nhau và rút ra được một số kinh nghiệm mà bản thân chúng tôi cho là rất quý giá: khi đưa thêm tài liệu tham khảo vào giảng dạy Lịch sử rất gây hứng thú cho học sinh trong việc tiếp thu bài. Điều này cũng đã được nhiều đồng nghiệp thừa nhận. Từ kinh nghiệm này, nhiều giáo viên đã bước đầu mạnh dạn đưa thêm tài liệu tham khảo vào trong bài giảng nhằm minh họa cho một số sự kiện Lịch sử. Những tiết học như vậy trở nên sinh động hẳn. Khi giáo viên bổ sung thêm tài liệu tham khảo cả lớp chăm chú lắng nghe và tỏ ra rất thích thú. Sau tiết học, nhiều em còn nhờ thầy, cô giáo đọc để chép vào sổ tay. Những tiết học như thế đã để lại trong lòng các em những ấn tượng lâu bền. Chắc chắn những sự kiện trong bài học Lịch sử sẽ lưu lại trong ký ức các em sâu hơn, lâu hơn. b. Mục đích của việc thực hiện sáng kiến Trên cơ sở khẳng định vai trò ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu tham khảo, sáng kiến nhằm đưa ra một số giải pháp giúp giáo viên thực hiện việc sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử để phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh. Giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử, giảm bớt số lượng học sinh yếu kém trong nhà trường và phát huy năng lực của học sinh khá giỏi nắm chắc kiến thức lịch sử, hiểu sâu sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử và để học sinh tin rằng Lịch sử là cái có thật đã xảy ra trong quá khứ. Từ đó, nâng cao hiệu quả của bộ môn. Đặc biệt là môn Lịch sử lớp 12. 3. Mô tả sáng kiến a. Mô tả giải pháp trước khi áp dụng sáng kiến Ưu điểm Về phía giáo viên: Trong quá trình giảng dạy môn Lịch sử, giáo viên đã đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh thông qua việc kết hợp các phương pháp dạy học và việc thực hiện các hoạt động tường thuật, miêu tả, nêu đặc điểm của nhân vật, địa điểm lịch sử. Kết hợp các đồ dùng, phương tiện dạy học khai thác trong bài học khá phù hợp. Giáo viên của đơn vị đã vận dụng các hình thức tổ chức dạy học cá nhân nhóm tương đối thành thạo. Từ đó giúp học sinh đã tiếp thu kiến thức cơ bản của lịch sử dân tộc và thế giới. Về phía học sinh: một bộ phận các em học sinh có sự chuẩn bị bài ở nhà như việc học bài cũ, đọc và nghiên cứu bài mới, đã biết tự tóm tắt nội dung bài và trả lời câu hỏi mỗi mục trong bài mới; khi đến lớp chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ, trả lời các câu hỏi và thực hiện các hình thức tổ chức giáo viên đưa ra. Về cơ bản các em đã biết cách học tập bộ môn Lịch sử. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên Trong thời kì hội nhập hiện nay tràn ngập trên thị trường rất nhiều sách tham khảo, nhiều nguồn tài liệu lịch sử trên mạng intơnét nhưng việc tìm được tài liệu chính thống có giá trị lịch sử và phù hợp với việc tham khảo và sử dụng trong chương trình lịch sử phổ thông là rất khó. Bởi lẽ tài liệu thì nhiều, nhưng nhiều tài liệu mỗi nguồn lại nói khác nhau. Nên việc lựa chọn và tìm tài liệu tham khảo chính thống để sử dụng là rất khó đối với giáo viên lịch sử, trong đó bản thân chúng tôi cũng gặp khó khăn này. Còn nhiều học sinh thiếu sự quan tâm tâm của gia đình. Phụ huynh còn coi việc giáo dục trong học tập là trách nhiệm của nhà trường, của ngành giáo dục. Họ chưa nhận thức được vai trò quan trọng của môn học trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay. Một số phụ huynh khác thì lại hướng cho con mình học theo các môn khoa học tự nhiên nhằm tìm kiếm cơ hội cao hơn, tốt hơn, dễ hơn để sau tốt nghiệp cấp trung học, thi vào đại học. Một số học sinh còn có thái độ xem nhẹ môn Lịch sử, các em thường xuyên không tự học ở nhà, trên lớp chưa tích cực tham gia vào bài học; một số em thì có phương pháp học tập chưa khoa học; hơn nữa môi trường sống của các em chủ yếu ở thôn bản xa, lại thêm điều kiện kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn, nên thường xuyên phải đi làm phụ giúp gia đình; không có điều kiện và thời gian học tập. Vì vậy các em còn thụ động trong việc học tập lịch sử.
Xem thêm

Đọc thêm

SKKN: Chỉ đạo thực hiện các phương pháp dạy học tích cực

SKKN: Chỉ đạo thực hiện các phương pháp dạy học tích cực

Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người. Con người sản xuất ra của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã hội, sáng tạo ra nền văn hoá mỗi thời đại. Các phương pháp dạy học tích cực đã được dùng ở nhiều nước, để chỉ những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Các phương pháp dạy học tích cực là sự kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp dạy học phù hợp với nội dung, trình độ nhận thức của học sinh và điều kiện thực tế để đạt được mục tiêu của bài học. Trong đó có những phương pháp dạy học quen thuộc như: dùng lời, trực quan, minh hoạ, vấn đáp, thảo luận nhóm, dạy học nêu và giải quyết vấn đề, trò chơi, động não thực hành, thí nghiệm và một số phương pháp có tên gọi mới hiện tại đang được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới như: Học theo góc, học theo hợp đồng, học theo dự án,… Trong xã hội hiện đại, với sự bùng nổ thông tin, sự phát triển như vũ bão của khoa học, kĩ thuật, công nghệ, thời gian trên lớp học không đủ để trang bị cho người học mọi tri thức và không thể nhồi nhét vào đầu óc người học quá nhiều kiến thức. Vì vậy cần phải dạy phương pháp học ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc học cao hơn thì càng phải được chú trọng. A.Kômenski đã viết “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách...hãy tìm ra phương pháp cho gíáo viên dạy ít hơn, học sinh hiểu nhiều hơn”. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta cũng được thể chế hoá trong luật giáo dục “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”
Xem thêm

Đọc thêm

SKKN Một số biện pháp giúp trẻ 5 6 tuổi học tốt môn tạo hình

SKKN Một số biện pháp giúp trẻ 5 6 tuổi học tốt môn tạo hình

I. PHẦN MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiTrẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình và toàn xã hội. Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân cách ở mỗi trẻ. Thông qua các hoạt động học tập, vui chơi ở trường mà khả năng nhận thức của mỗi trẻ cũng được nâng lên, trong đó, hoạt động tạo hình là một trong những bộ môn quan trọng mang tính nghệ thuật là phương tiện quan trọng góp phần trong việc giáo dục thẩm mỹ, đạo đức, trí tuệ, thể lực. Ngoài ra, hoạt động tạo hình là một hoạt động sáng tạo, giúp trẻ cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên trong cuộc sống, về thế giới xunh quanh trẻ, giúp trẻ thể hiện xúc cảm, tình cảm của mình. Khi tham gia hoạt động tạo hình sẽ kích thích, tạo sự hứng thú trong việc tiếp thu, lĩnh hội được nội dung của bài học, của hoạt động mà yêu cầu đặt ra.Ở lứa tuổi mầm non, trí tuởng tượng, sáng tạo, phát triển khả năng tri giác về hình dáng, cấu trúc, màu sắc của đồ vật còn nhiều hạn chế. Do đó, các sự vật hiện tượng các em chỉ có thể dễ nhớ thông qua các hoạt động khi có hình ảnh trực quan. Khi tham gia các hoạt động tạo hình, trẻ nhớ lại bằng hình tượng của đồ vật quen thuộc mà trước đó trẻ đã tri giác được. Với đặc điểm như vậy nên việc giáo dục qua hoạt động tạo hình ngay từ tuổi mẫu giáo là việc làm cần thiết và vô cùng quan trọng. Qua nhiều năm được phân công đứng lớp Mẫu giáo lớn. Là một trong những lứa tuổi cần phải chuẩn bị chu đáo một cách toàn diện về phát triển thẩm mĩ. Trên thực tế, hiệu quả đạt được ở các tiết tạo hình còn thấp, do trẻ không hứng thú với hoạt động, sản phẩm trẻ tạo ra còn ít và chưa thể hiện được sự sáng tạo. Đó là điều làm cho tôi và mỗi giáo viên đứng lớp rất trăn trở và mong muốn tìm được giải pháp, biện pháp để nâng cao chất lượng cho trẻ khi hoạt động nói chung cũng như hoạt động tạo hình nói riêng. Vì vậy tôi chọn đề tài “ Một số biện pháp giúp trẻ 5 6 tuổi học tốt môn tạo hình”2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tàiNghiên cứu, lựa chọn một số biện pháp phù hợp với học sinh để nâng cao chất lượng của hoạt động nói chung cũng như hoạt động tạo hình nói riêng.Thông qua việc nghiên cứu, khảo sát thực trạng, lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nhằm hình thành cho trẻ kĩ năng, kĩ xảo tiếp nhận và tạo ra những sản phẩm đẹp, sáng tạo. Giáo dục trẻ tình yêu cái đẹp của tạo hình và có những biện pháp nghiên cứu cụ thể, hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy trẻ mẫu giáo lớn. Từ đó có những biện pháp phù hợp để cải thiện thực trạng.3. Đối tượng nghiên cứuNghiên cứu thực trạng việc dạy và học hoạt động tạo hình; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tạo hình cho học sinh. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứuCác cháu Lớp lá 2, trường Mầm non Hoa Phượng 5. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu tài liệu Phương pháp điều tra, thực nghiệm Phương pháp kiểm tra, đánh giá Phương pháp đối chiếu, so sánh, tổng kết kinh nghiệm Phương pháp đàm thoại, phương pháp thực hành.II. PHẦN NỘI DUNG1.Cơ sở lý luậnMục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt, hình thành những yếu tố đầu tiên về nhân cách. Mục tiêu đó được thể hiện trong các môn học hàng ngày, hàng tuần ở trường Mầm non.Hoạt động tạo hình giúp trẻ phát triển khẳ năng quan sát, trí tưởng tượng sáng tạo, khẳ năng phối hợp giữa tay và mắt, hoàn thiện một số kĩ năng cơ bản trong các hoạt động (vẽ, nặn, cắt, xé dán). Giờ hoạt động tạo hình mang lại cho trẻ những cảm xúc thực sự, trẻ thích thú và hình thành ở trẻ những kĩ năng như: Tư thế ngồi ngay ngắn, kĩ năng cầm bút vẽ và tô màu tranh, kỹ năng nặn (lăn dọc, xoay tròn, ấn bẹp,..) kỹ năng vẽ, xé dán…Nó giúp trẻ hoàn thiện những sản phẩm nghệ thuật và phát triển các cơ ngón tay và bàn tay.
Xem thêm

Đọc thêm

sáng kiến SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức của GVCN lớp 8

sáng kiến SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức của GVCN lớp 8

ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CỦA GVCN LỚP 8 I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Lứa tuổi học sinh THCS được xem như là giai đoạn có vị trí đặc biệt và quan trọng trong thời kì phát triển phát triển của trẻ em vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành. Đây là giai đoạn rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách của các em. Trong lứa tuổi học sinh THCS thì học sinh lớp 8 là lứa tuổi có nhiều biến đổi mạnh mẽ nhất về tâm sinh lí và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khó bảo“, “tuổi khủng hoảng “, “tuổi bất trị’’...Vì vậy, bản thân tôi là giáo viên giảng dạy cũng là giáo viên làm công tác chủ nhiệm song song với việc dạy học, thì việc giáo dục đạo đức uốn nắn các em thành người tốt là một nhiều vụ rất quan trọng trong sự nghiệp trồng người của mình. Nhờ việc giáo dục đạo đức cho các em, từ đó hình thành nhân cách tốt, các em có ý thức trong học tập, ý thức trách nhiệm với bản thân và tập thể, từ đó nâng cao chất lương giáo dục học sinh. Như Bác Hồ đã từng dạy: “ có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”, khó chứ không phải không làm được, khác hẳn với vô dụng. Qua đó mới thấy tài tuy quan trọng nhưng đức còn cần thiết hơn bởi lẽ người có tài mà sống vị kỉ, chỉ dùng tài năng để phục vụ cho bản thân mình không thôi thì chẳng có ý nghĩa gì, thậm chí với lối sống cá nhân và làm việc như vậy có thể gây hại cho tập thể. Chính vì vậy, để đào tạo ra những con người có ích cho xã hội, có đầy đủ các phẩm chất cả đức lẫn tài là điều trăn trở của nhà giáo dục, đó là trách nhiệm của mỗi người giáo viên nói chung và giáo viên chủ nhiệm nói riêng. Sau đây, tôi xin được nêu một số kinh nghiệm trong việc giáo dục đạo đức học sinh lớp 8 nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh trong công tác chủ nhiệm của mình. II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI A.Cơ sở lý luận 1. Khái niệm Đạo đức là một hiện tượng xã hội phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của con người. Đạo đức là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của một tập hợp người nhất định về thế giới, về cách sống. Nhờ đó con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội. 2. Những nguyên tắc trong rèn luyện đạo đức Nguyên tắc thứ nhất : Muốn có đạo đức trước hết nói phải đi đôi với làm và luôn nêu gương về đạo đức. Nguyên tắc thứ hai: Để rèn luyện đạo đức là xây đi đôi với chống. Nguyên tắc thứ ba là: Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời. B. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài 1. Giáo viên quan tâm, tìm hiểu tâm sinh lí lứa tuổi và sự phát triển nhân cách của học sinh trung học cơ sở thông qua sách báo a) Sự hình thành tự ý thức của học sinh trung học cơ sở Do sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, đặc biệt do sự phát triển của các mối quan hệ xã hội và sự giao tiếp trong tập thể mà ở các em đã biểu hiện nhu cầu tự đánh giá nhu cầu so sánh mình với người khác. Ý nghĩa quyết định nhất để phát triển tự ý thức ở lứa tuổi này cuộc sống tập thể của các em, nơi mà nhiều mối quan hệ giá trị đúng đắn, mối quan hệ này sẽ hình thành ở các em lòng tự tin vào sự tự đánh giá của mình, là những yêu cầu ngày càng cao đối với hành vi, hoạt động của các em… cũng đồng thời giúp cho sự phát triển về mặc tự ý thức của các em. b) Sự hình thành đạo đức của học sinh trung học cơ sở Do sự mở rộng quan hệ xã hội, do sự phát triển mạnh mẽ của tự ý thức…mà trình độ đạo đức của các em được phát triển mạnh. Sự hình thành ý thức đạo đức nói chung, sự lĩnh hội tiêu chuẩn của hành vi đạo đức nói riêng là đặc điểm tâm lí quan trọng trong lứa tuổi thiếu niên. Do tự ý thức và trí tuệ đã phát triển, hành vi của thiếu niên bắt đầu chịu sự chỉ đạo của những nguyên tắc riêng, những quan điểm riêng của thiếu niên. Nhân cách của thiếu niên được hình thành phụ thuộc vào việc thiếu niên có được kinh nghiệm đạo đức như thế nào thực hiện đạo đức nào ? Những nghiên cứu tâm lí học cho thấy trình độ nhận thức đạo đức của thiếu niên là cao. Thiếu niên hiểu rõ những khái niệm đạo đức vừa sức đối với chúng… Nhưng cũng có cả những kinh nghiệm và khái niệm đạo đức hình thành một cách tự phát ngoài sự hướng dẫn của giáo dục, do ảnh hưởng của những sự kiện trong sách, phim, bạn bè xấu…Do vậy, các em có thể có những ngộ nhận hoặc hiểu phiến diện, không chính xác một số khái niệm đạo đức… Trong công tác giáo dục cần chú ý giúp các em hiểu được khái niệm đạo đức một cách chính xác… và tổ chức hành động để thiếu niên có được kinh nghiệm đạo đức đúng đắn… c) Sự hình thành tình cảm của học sinh trung học cơ sở Đặc điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, vui buồn chuyển hóa dễ dàng, tình cảm còn mang tính chất bồng bột, hăng say…Điều này do ảnh hưởng của sự phát dục và thay đổi một số cơ quan nội tạng gây nên. Nhiều khi còn do hoạt động thần kinh không cân bằng, hưng phấn mạnh hơn ức chế đã làm cho các em không tự kiềm chế nổi. Thiếu niên dễ có phản ứng mãnh liệt trước sự đánh giá, nhất là sự đánh giá thiếu công bằng của người lớn. Tâm trạng của thiếu niên thay đổi nhanh chóng, thất thường, có lúc đang vui nhưng chỉ là một cớ gì đó lại sinh ra buồn ngay hoặc đang lúc bực mình nhưng gặp điều gì thích thú lại tươi cười ngay. Do đó, nên thái độ của các em đối với những người xung quanh cũng có nhiều mâu thuẫn. Rõ ràng, cách biểu hiện xúc cảm của thiếu niên mang tính chất độc đáo. Đó là tính bồng bột, sôi nổi dễ bị kích động và dễ thay đổi. 2. Tìm hiểu tâm tư tình cảm của học sinh bằng cách thường xuyên quan tâm trò chuyện với học sinh. Trong một lớp học với khoảng gần 40 học sinh, cần phải chăm sóc từng học sinh là một giáo viên chủ nhiệm thì việc giáo dục đạo đức hết sức quan trọng.Có những em ở những lớp dưới học rất chăm ngoan, nhưng khi học lên lớp 8 lại trở nên ương bướng khó bảo
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC Tên môn học: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Số tín chỉ: 4 Mục tiêu môn học: Sau khi học xong môn học, người học cần nắm được: Mục tiêu kiến thức: Hiểu được những vấn đề tổng quan về PPDH cho HS KTTT, hướng tiếp cận PPDH trong dạy học cho HS KTTT, lựa chọn phương pháp dạy học cho HS KTTT Năm được những nội dung, phương pháp và cách tiến hành một giờ dạy cho học sinh KTTT ở trường phổ thông. Nắm được các phương pháp đặc thù được áp dụng trong quá trình dạy HS ở một số hội chứng đi kèm với KTTT. Nắm được phương pháp dạy các bộ môn học đường và các kĩ năng sống cho HS KTTT. Mục tiêu kĩ năng: Người học có khả năng lựa chọn, xác định các phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng HS KTTT. Người học vận dụng các phương pháp khác nhau trong quá trình dạy học cho HS KTTT Người học có khả năng dạy các môn học đường chức năng và các kĩ năng cuộc sống cơ bản cho trẻ KTTT. Người học có khả năng điều chỉnh việc thu xếp, bố trí trong lớp học cũng như điều chỉnh PPDH cho phù hợp khi làm việc với trẻ Tự kỉ, ADHD, Down, Bại não Tóm tắt nội dung môn học: Môn học cung cấp cho người học những kiến thức và kỹ năng liên quan đến phương pháp dạy học cho học sinh KTTT. Bao gồm, phương pháp dạy các kỹ năng đọc, viết, tính toán... và đặc biệt là phương pháp dạy kỹ năng sống cho học sinh KTTT, như kỹ năng xã hội, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự phục vụ. Các chiến lược và phương pháp dạy học cho học sinh có các dạng tật phổ biến đi kèm với KTTT. Trên cơ sở đó, giúp người học có thể xác định, lựa chọn những phương pháp phù hợp, tổ chức hiệu quả quá trình dạy học cho học sinh KTTT. Nội dung chi tiết môn học Chương 1. Tổng quan về phương pháp dạy học cho học sinh KTTT 1.1. Đặc điểm về mặt học tập ở trẻ KTTTT 1.2. Điều chỉnh PPDH thông thường cho phù hợp với HS KTTT 1.3. Sử dụng các PPDH chuyên biệt dạy HS KTTT Câu hỏi thảo luận: Câu 1. Hiện nay, hướng tiếp cận dạy học hướng vào người học đang là xu hướng phổ biến. Theo anh chị việc vận dụng các PPDH thông thường trong dạy học cho học sinh KTTT có cần theo hướng tiếp cận này hay không? Tại sao? Thực hành:
Xem thêm

Đọc thêm

Giải pháp giúp học sinh yếu học tốt toán 11

Giải pháp giúp học sinh yếu học tốt toán 11

MÔ TẢ SÁNG KIẾN Mã số: ………………………….. 1. Tên sáng kiến: Giải pháp giúp học sinh yếu học tốt toán 11. 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chất lượng chuyên môn giáo dục. 3. Mô tả bản chất của sáng kiến: 3.1. Tình trạng giải pháp đã biết: Hiện tượng học sinh yếu kém bộ môn toán trong trường THPT ở bất cứ địa phương nào, năm học nào, khối học nào cũng có. Nguyên nhân thì rất nhiều, có em do khả năng hạn chế của bản thân, có em do sự lười học lâu ngày mà thành hỏng kiến thức, có em do không đủ kiến thức, kĩ năng làm toán từ cấp THCS,… và còn nhiều nguyên nhân khác. Vậy làm thế nào để học sinh vừa lấy lại được kiến thức cơ bản ở lớp dưới, vừa hình thành những kĩ năng giải toán và cao hơn là đem lại sự tự tin cho các em trong học tập. Do đó, việc có phương pháp đúng đắn để giúp các em học sinh yếu học tốt toán 11 để nâng cao chất lượng học tập của bộ môn là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, nhiều giáo viên dạy toán thường gặp nhiều khó khăn khi dạy đối tượng học sinh yếu; Phương pháp giảng dạy hạn chế, kết quả giảng dạy chưa theo ý muốn, chưa đáp ứng yêu cầu chung của bộ môn và của trường. 3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến: Mục đích của giải pháp: Nhằm giúp cho giáo viên có phương pháp đúng để giúp học sinh yếu tiếp thu được và vận dụng tốt kiến thức để nâng cao chất lượng bộ môn. Nội dung giải pháp: Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm: Giáo viên có thể giúp học sinh yếu học tốt kiến thức của môn toán thông qua một số hoạt động rất bình thường, rất gần gũi với học sinh. Sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ: Sáng kiến kinh nghiệm này đã hệ thống các phương pháp có thể áp dụng trong tiết dạy nhằm rèn luyện cho học sinh yếu tính tự tin và chủ động, tạo hứng thú học tập của các em, từ đó giúp các em tiếp thu và vận dụng tốt kiến thức đã học. Cách thức thực hiện: Trao đổi với đồng nghiệp, áp dụng đúc rút kinh nghiệm qua quá trình giảng dạy. Các bước thực hiện của giải pháp mới: 3.2.1. Phân loại học sinh, giúp đỡ , động viên kịp thời 3.2.2. Nhắc lại một số kiến thức có liên quan để vận dụng vào bài học có hiệu quả 3.2.3. Kiến thức truyền thụ cho học sinh yếu, giáo viên cần phân tích thành từng dạng, mỗi dạng cần có các bước thực hiện cụ thể, rõ ràng để học sinh dễ nhớ, dễ vận dụng 3.2.4. Rèn luyện kĩ năng giải bài tập 3.2.5. Cho các em tự nhận xét, đánh giá kết quả bài làm của mình, của bạn để khắc sâu kiến thức đã học 3.2.6. Dùng những việc làm, những hình ảnh thực tế để lồng ghép vào bài học giúp các em có thể dễ nhớ kiến thức 3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp 3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp
Xem thêm

Đọc thêm

SKKN: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠYHỌC MÔN ĐỊA LÍ 7

SKKN: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠYHỌC MÔN ĐỊA LÍ 7

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÝ 7 I. PHẦN MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài Trong những năm giảng dạy tôi nhận thấy môn địa lí là một môn học rất khô khan, kiến thức trừu tượng, kiến thức rộng bao gồm cả tự nhiên– kinh tế xã hội, đặc biệt là địa lý lớp 7. Trong khi đó môn địa lý trong trường học rất nhiều học sinh tỏ ra thờ ơ xem nhẹ, học một cách đối phó. Do đó muốn giảng dạy đạt kết quả giáo viên cần vận dụng những phưong pháp phù hợp với đặc thù bộ môn . Và còn tuỳ thuộc vào của từng bài , từng đối tượng học sinh. Bản thân tôi đã được nhiều năm giảng dạy Địa lý 7 , tôi thấy thích thú bởi vì qua mỗi châu lục tôi được mở rộng thêm sự hiểu biết về tự nhiên, con người, sự thay đổi của các Châu lục trong thời đại phát triển. Như vậy nếu học sinh quan tâm đến bộ môn địa lí thì đây là môn học hay và mang tính sâu rộng, vậy làm sao để học sinh yêu thích môn học , làm sao biến những kiến thức trừu tượng, khô khan đó thành những kiến thức có ích , học sinh biết cách khai thác môn học một cách tốt nhất ? Từ những trăn trở trên tôi tìm ra những giải pháp tốt để nâng cao chất lượng và điều quan trọng là làm thế nào để học sinh cũng say mê môn học , để môn Địa lý không còn nặng nề, tẻ nhạt. Có như vậy mới nâng cao chất lượng của bộ môn đối với cả người dạy và người học.Từ những lý do trên tôi xin được mạnh dạn đóng góp một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lý lớp 7 2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Mục tiêu của đề tài là giúp cho việc dạy và học Địa lí có hiệu quả hơn thông qua các bài dạy . Đặc biệt là hướng dẫn học sinh nắm được các kiến thức trọng tâm thông qua bản đồ tranh ảnh, phương tiện dạy học. Các em sẽ biết tự hoàn thiện kiến thức trên cơ sở những tri thức mà giáo viên hướng dẫn truyền tải đến các em.3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng mà đề tài hướng tới nghiên cứu và áp dụng thực nghiệm là tất cả học sinh THCS khối 7, trong đó đặc biệt quan tâm nhiều đến các lớp có nhiều học sinh dân tộc, nhiều học sinh yếu kém.Trong phạm vi đề tài tôi mạnh dạn đưa ra các phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn địa lí 7 như sau:+ Sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy học + Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học phổ biến theo hướng phát huy tích cực , chủ động học tập của học sinh. + Tích cực sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề. + Nâng cao hiệu quả phương pháp dạy học tích cực. + Phối hợp các hình thức dạy học một cách linh hoạt. + Thường xuyên yêu cầu học sinh sưu tầm thông tin, tranh ảnh để minh họa cho bài học. + Đặc biệt chú ý đến đối tượng học sinh yếu.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu Đề tài xây dựng trong phạm vi trương trình địa lí khối 7 tại trường THCS Nguyễn Trãi năm học 2014 2015. Trong nội dung chương trình địa lí lớp 7 có nhiều nội dung và có nhiều phương pháp truyền thống và phương pháp mới tôi xin đưa ra một vài phương pháp tôi đã áp dụng qua các năm tại trường. 5. Phương pháp nghiên cứu Sử dụng giáo án điện tử. Nghiên cứu SGK bản đồ tranh ảnh, Atlat và các tài liệu liên quan. Thuyết trình. Vấn đáp. Thảo luận nhóm, tự nghiên cứu bài học dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Phương pháp thực nghiệm: Đối chiếu kết quả học tập của học sinh tại một số lớp trong nhà trường .II. PHẦN NỘI DUNG1.Cơ sở lí luận . Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học hiện có và thay vào đó là các phương pháp mới hiện đại, bởi các phương pháp hiện có như thuyết trình, giảng giải, ván đáp... vẫn rất cần thiết trong quá trình dạy học. Vấn đề là phải tìm ra cách vận dụng và phối hợp các PPDH một cách linh hoạt nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập. Cần kế thừa và phát huy những mặt tích cực các phương pháp dạy học truyền thống đồng thời phải học hỏi, vận dụng một số PPDH mới phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy học ở nứớc ta hiện nay. Để đạt được mục đích đó thì người giáo viên và học sinh cần phải thực hiện tốt các vấn đề sau:•Đối với giáo viên Muốn nâng cao chất lượng dạy học đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới không có nghĩa là bỏ hết phương pháp dạy học mới thay đổi hoàn phương pháp mới mà người giáo viên cần vận dụng một các linh hoạt sáng tạo giữa cũ và mới. Trước khi thực hiện bài dạy giáo viên cần dành thời gian cho việc nghiên cứu, chuẩn bị bài kĩ càng, vì môn địa lí nó chứa đựng nhiều kiến trong nhiều lĩnh vực và nhiều môn học. Nếu có thể lồng ghép kiên thức của các môn hộc thì hiệu quả mang lại sẽ cao hơn. Để tiết học thành công thì người giáo viên phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học kết hợp với việc sử dụng các phương tiện dạy học một cách phù hợp. Với sự quan tâm của nhà nước giaó dục ngày nay đã được đầu tư nhiều về cơ sở vật chất như phòng học thông minh, máy tính, máy chiếu, trong thời đại phát triển mạnh của công nghệ thông tin như hiện nay mỗi giáo viên nên vận dụng, ứng dụng các công cụ hổ trợ để bài dạy sinh động hơn. Để nâng cao chất lượng dạy học thì người giáo viên phải biết cách dẫn dắt học sinh giải quyết những tình huống có vấn đề, biết khơi dậy và kích thích trí tò mò, lòng ham muốn các kiến thức địa lí. Bên cạnh đó, trong quá trình dạy học cũng phải sử dụng nhiều phương tiện dạy học phù hợp với nội dung bài dạy, đồng thời hướng dẫn học sinh cách khai thác kiến thức từ các phương tiện học tập địa lí khác nhau như bản đồ, biểu đò, tranh ảnh, băng hình..., khuyến khích, động viên thành tích học tập của học sinh.•Đối với học sinh: Mục đích của giáo dục hiện nay là lấy học sinh làm trung tâm, học sinh là chủ thể, là trung tâm của hoạt động học. Học sinh trở thành con người toàn diện của xã hội. Đối với các môn học nói chung và môn địa lí nói riêng học sinh phải có sự đổi mới trong cách học, phải giác ngộ mục đích học tập, chủ động, sáng tạo, có ý thức trách nhiệm về hoạt động học tập của mình, phải biết tự học và học mọi nơi, mọi lúc khi cảm thấy cần thiết.Cần biết rõ mục đích, yêu cầu của giờ học, không chỉ về kiến thức mà còn cả về kĩ năng địa lí và những thao tác tư duy cần vận dụng như tư duy biện chứng, tư duy logic, nắm bắt được các sự vật hiện tượng, mối quan hệ nhân quả... Phải làm quen dần với cách độc lập suy nghĩ để chiếm lĩnh kiến thức bài học.Dành thời gian thích đáng để tự làm việc, nghiên cứu với SGK (kênh hình, kênh chữ), với tập bản đồ, qua các thông tin đại chúng như tranh ảnh, đài báo và các nguồn cung cấp kiến thức khác theo sự hướng dẫn của giáo viên, qua đó học sinh rèn luyện về kĩ năng và phương pháp học tập bộ môn Địa lí nhiều hơn.Học sinh biết cách làm việc theo nhóm, hợp tác với bạn để hoàn thành nhiệm vụ giáo viên giao cho, qua đó có cơ hội được thể hiện mình, được trình bày lại kết quả qua các phương tiện học tập.Khi nắm vững kiến thức địa lí sau này các em dễ dàng ứng dụng trong cuộc sống cũng hiểu biết và xã hội, về thế giới tốt hơn. Trên cơ sở lí luận trên là một giáo viên dạy môn Địa lí tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu và thực nghiệm trong quá trình giảng dạy đã rút ra được một số kinh nghiệm xin trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp để tìm ra phương pháp tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và giúp học sinh học tập môn Địa lí đạt kết quả cao nhất .2 Thực trạng 2.1 Thuận lợi – khó khăn Thuận lợi Trong nhiều năm liền tôi được phân công giảng dạy môn địa lí khối 7, qua các năm đối tượng học sinh học tập gần giống nhau, điều này giúp cho tôi mạnh dạn áp dụng các phương pháp đối mới giữa các năm.Bên cạnh đó nhà trường còn có nhều đồ dùng, công cụ hổ trợ cho việc giảng dạy nên có thể sử dụng các phương pháp dạy học như: sử dụng đồ dùng dạy học ở các tiết học hoặc sử dụng các tiết dạy giáo án điện tử giúp bài học sinh động hơn.Trường THCS Nguyễn Trãi có sự phân chia lựa chọn đối tượng học sinh ở lớp chon và lớp bình thường khá rõ ràng nên việc áp dụng các phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học dễ hơn. Khó khănTrong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy đặc thù của trường miền núi là có nhiều học sinh dân tộc thiếu số, việc tiếp thu bài học rất chậm, ghi chép chậm, thậm chí đọc còn rất chậm dẫn đến tình trạng chán học, học thụ động. Đối với học sinh khối 7, lứa tuổi này các em đang phát triển tâm sinh lí nên nhiều em có những thay đổi về tính cách dễ bi bạn bè lôi kéo đua đòi ham chơi không chịu khó học tập. Nhiều phụ huynh và học sinh lại có quan niệm coi môn học Địa lí là môn phụ không quan trọng nên không chú trọng đầu tư học. 2.2 Thành công – hạn chế Thành công Có rất nhiều em thấy hứng thú với môn đặc biệt là việc kết hợp các phương pháp giảng dạy sử dụng giáo án điện tử và đồ dùng dạy học để minh họa vì địa lí khối 7 chưa đựng rất nhiều điều mới lạ trên Thế giới. Việc sử dụng đồ dùng dạy học và các phương pháp mới sẽ lôi kéo được các em vào bài học.Đây cũng là một yếu tố thành công để cho đề tài nghiên cứu. Hạn chế Tuy nhiên việc sử dụng đồ dùng dạy học còn rất nhiều bất cập.Bản đồ địa 7 thường là 2 mảnh, với thiết kế bảng ghi như hiện nay rất khó để sử dụng.Việc lắp đặt máy chiếu chỉ có ở một số phòng học những phòng học thông thường khi dạy máy chiếu rất mất thời gian cho việc chuẩn bị. c. Mặt mạnh –mặt yếu Mặt mạnh Nhiều em học sinh trường Nguyễn Trãi có khả năng nhận thức nhanh đặc biệt là kiến thức địa lí lại rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày, nhiều em có điều kiện sẽ biết rất nhanh những thông tin mới của Thế giới bằng cách sử dụng các phương tiện ở nhà. Từ đó việc giảng dạy của giáo viên và việc tiếp thu bài học của các em sẽ tốt hơn. Mặt yếu Ở trường THCS Nguyễn Trãi cũng chiếm 14 là dân tộc thiểu số nên nhiều em khả năng tiếp thu còn chậm, chưa mạnh dạn thể hiện khả năng của mình điều đó gây 2.4 Các nguyên nhân và các yếu tố tác động Hiện nay đất nước ta đang từng bước đổi mới để tiếp cận Thế giới điều này đòi hỏi giáo dục phải thay đổi ở cách học và cách tư duy. trong những năm gần đây giáo dục đặc biệt quan tâm và có nhiều thay đổi nhằm tìm ra những biện pháp tối ưu nhất. điều này buộc người giáo viên phải tìm ra những phương pháp dạy học phù hợp nhất, người học cũng cần có nhận thức đúng đắn hơn, học tập tích cực hơn dựa trên sự hướng dẫn của giáo viên.
Xem thêm

Đọc thêm

Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở

Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở

Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Mấy năm trở lại đây các nhà giáo dục đã nói nhiều đến tình trạng dạy học Ngữ văn của học sinh phổ thông. Đã có nhiều hội thảo, đề xuất nhằm cải thiện tình hình. Nhƣng kết quả vẫn không mấy khả quan. Học sinh chán và không mặn mà với môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng. Việc học Ngữ văn của nhiều em là để đối phó với các bài kiểm tra trên lớp và qua các kì thi. Nói nhƣ Tiến sĩ Chu Văn Sơn: chƣa bao giờ giáo viên đƣợc trang bị nhiều phƣơng tiện, kĩ thuật dạy học nhƣ hiện nay nhƣng học sinh lại chán ghét học văn nhƣ bây giờ... Đặc biệt là với phân môn Tiếng Việt, một phân môn đƣợc coi là vừa “khô” vừa “khó”. Đó là một điều thật đáng buồn. Để biến những giờ Tiếng Việt thành những giờ học hấp dẫn, lôi cuốn, việc áp dụng các biện pháp nhằm tạo hứng thú cho họcsinh là rất quan trọng, góp phần khơi gợi niềm đam mê học tập ở các em. 1.2. Thực tế đi dạy ở phổ thông cho thấy: việc dạy và học Ngữ văn ở Trung học cơ sở (THCS) còn nặng về truyền thụ tri thức, bỏ qua nhiều điều bổ ích, thú vị. Đây lại là cấp học có tính chất nối giữa bậc Tiểu học với Trung học phổ thông (THPT) – nội dung kiến thức phần Tiếng Việt còn nhiều. Bản thân ngôn ngữ vốn rất phong phú, sinh độnggiống nhƣ cuộc sống vậy, giờ học mất đi phần máu thịt chỉ còn lại phần “xƣơng xẩu” sẽ rất nhàm chán, đơn điệu. Tiếng Việt của chúng ta giàu đẹp là thế lại không đƣợc học sinh chú ý, quan tâm. Công việc của những giáo viên đứng lớp là phải tạo ra đƣợc hứng thú học tập tiếng Việt ở các em, giúp cho việc học trở nên thiết thực và ý nghĩa. Để các em thấy đƣợc ngôn ngữ là công cụ kì diệu của loài ngƣời, nhờ nó mà xã hội tồn tại và phát triển. 1.3. Việc đổi mới dạy học Ngữ văn theo định hƣớng phát triển năng lực không chỉ giúp ngƣời học nắm bắt kiến thức một cách hiệu quả mà còn phải tạo ra niềm say mê học tập ở các em. Nếu học sinh hứng thú thì không chỉLuận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở 2 thành công với nhiệm vụ năm học mà còn có cơ hội thành công trong những năm học tiếp theo. Và cả giáo viên và phụ huynh sẽ rất “nhàn” vì đã tạo cho các em niềm say mê mang tính tự giác. Và môn Tiếng Việt không còn là một “áp lực” mà sẽ trở thành công cụ hữu ích phục vụ cho các môn học khác và trong cuộc sống của các em. 1.4. Ở Việt Nam hiện nay chƣa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề tạo hứng thú học tập Tiếng Việt cho học sinh THCS. Rải rác một số trang báo có đề cập tới hứng thú học tập Tiếng Việt của học sinh nhƣng chƣa mang tính hệ thống, chƣa có tính định hƣớng. Bởi vậy cần có những công trình nghiên cứu toàn diện về hứng thú học tập Tiếng Việt, giúp giáo viên THCS có thể vận dụng sáng tạo vào hoạt động bài giảng nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học. Vì những lí do mà trên chúng tôi chọn đề tài: “Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở”. 2. Lịch sử vấn đề Hứng thú và hứng thú học tập đã đƣợc các nhà tâm lí học, giáo dục học nhắc tới từ những năm đầu thế kỉ XX. E.K.Strong, một nhà giáo dục học ngƣời Mĩ coi hứng thú là tính tích cực của con ngƣời. Ông cho rằng: khi con ngƣời yêu thích một hoạt động nào đó sẽ có những hoạt động tích cực hƣớng vào hoạt động ấy. Các nhà tâm lí học, giáo dục học Xô Viết khẳng định: hứng thú của con ngƣời không phải là thuộc tính bẩm sinh, tự nhiên mà có. Đó là kết quả của sự nỗ lực cá nhân, của quá trình học tập và giáo dục… Hứng thú học tập chỉ là một biểu hiện nhỏ trong hứng thú nhận thức. Theo B.M.Cheplop, B.G.Anannhiep, A.N.Leeontiep… hứng thú học tập mang những đặc trƣng: sự lựa chọn, tính thống nhất giữa chủ quan - khách quan, sự kết hợp giữa tình cảm - lí trí… Chúng ta không thể phủ nhận rằng trong học tập cũng nhƣ trong công việc, có hứng thú, say mê sẽ có hiệu quả cao.Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở 3 Ở nƣớc ta, những năm gần đây việc nghiên cứu hứng thú và thái độ của ngƣời học đã và đang đƣợc quan tâm. Việc xuất hiện ngày càng nhiều các luận văn, luận án, bài báo… ở các môn học cho thấy sự ý thức ngày càng rõ vai trò của hứng thú trong việc dạy và học. Có thể kể đến một số công trình nhƣ sau: Bồi dưỡng hứng thú của học sinh đối với môn Tiếng Việt (Lê Xuân Thại), Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh để nâng cao chất lượng dạy học ở tiểu học (Lê Phƣơng Nga, Trần Ngọc Lan), Hứng thú và hứng thú học tập ở người học (Nguyễn Thị Thu Cúc), Một số biện pháp nhằm phát triển hứng thú cho học sinh THPT trong giờ dạy học văn (Đỗ Tiến Sĩ)… Đặc biệt là luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Lan: “Các biện pháp tạo hứng thú nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Việt ở Tiểu học” là một công trình nghiên cứu tiêu biểu về đề tài hứng thú, góp phần làm phong phú tính sinh động của việc dạy và học Tiếng Việt… Phần lớn các bài viết đều đề cập tới vấn đề: làm thế nào để học sinh thấy đƣợc cái hay, cái đẹp của tiếng Việt; sự kì diệu, lí thú của tiếng Việt trong việc biểu đạt tình cảm… Các tác giả chƣa đặt ra nhiệm vụ đi sâu tìm hiểu các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh. Nhìn chung các công trình nghiên cứu còn chƣa chú ý nhiều đến phân môn Tiếng Việt ở bậc THCS. Mặc dù đây lại là cấp học có ý nghĩa quan trọng đánh giá tinh thần tự giác, sự nỗ lực ở chính bản thân các em. Trƣớc thực tế trên, chúng tôi xác định luận văn sẽ tiếp thu những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trƣớc để xây dựng một cách toàn diện, có hệ thống các biện pháp tạo hứng thú học tập Tiếng Việt cho học sinh THCS nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy và học. 3. Mục đích nghiên cứu Luận văn có mục đích: tìm ra các biện pháp tạo hứng thú học tập ở học sinh, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở THCS.Luận văn: Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở 4 4. Giả thuyết khoa học Nếu đề xuất các biện pháp tạo hứng thú vào dạy học Tiếng Việt ở THCS, phù hợp với mục đích dạy học, phù hợp với tâm lí HS sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học Tiếng Việt. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Luận văn có nhiệm vụ xác lập cơ sở khoa học cho việc tạo hứng thú học tập cho học sinh THCS. - Đề xuất các biện pháp tạo hứng thú học tập. - Kiểm chứng tính khả thi thông qua thực nghiệm. 6. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các biện pháp tạo hứng thú học tập Tiếng Việt của học sinh THCS. - Phạm vi nghiên cứu: luận văn chỉ nghiên cứu nội dung dạy học của các giờ học Tiếng Việt ở trên lớp, không tính đến các biện pháp tạo hứng thú ngoài lớp học nhƣ gia đình, xã hội… 7.Các phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp tổng hợp: đƣợc thực hiện thông qua quá trình đọc, tìm tài liệu đặc biệt là những tài liệu về hứng thú học tập, ngữ liệu thú vị…Sau đó tổng hợp lại, đánh giá. - Phƣơng pháp quan sát: thông qua các tiết học, quan sát biểu hiện bên ngoài của học sinh khi có hứng thú trong giờ học tiếng Việt nhƣ hào hứng phát biểu, chờ đợi tới tiết học… - Phƣơng pháp thực nghiệm là phƣơng pháp thủ công trong quá trình thực hiện đề tài: đƣa các biện pháp tạo hứng thú vào một số giờ Tiếng Việt ở các lớp THCS; Tiến hành kiểm tra kết quả học tập của HS trƣớc và sau khi thực nghiệm. Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Luận văn Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở Trung học cơ sở
Xem thêm

Đọc thêm

Thành báo cáo dự giờ giảng dạy

Thành báo cáo dự giờ giảng dạy

PHẦN MỞ ĐẦU Mở đầu bài báo cáo này cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu trường THPT Ninh Châu và các thầy cô giáo đã tận tình giúp đỡ em, truyền đạt cho em những kinh nghiệm mới, những bài học mới và quý giá trong thời gian em thực tập tại trường, đó là hành trang giúp chúng em vững bước trong tương lai, giúp em có thêm tự tin và nhiệt huyết với sự nghiệp “trồng người” của mình. Từ xa xưa ông cha ta đã dạy rằng “Học đi đôi với hành”, ngoài việc cung cấp cho người học những kiến thức mới thì người dạy còn phải tạo điều kiện cho họ được luyện tập, thực hành thêm nhằm củng cố kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho người học. Chính vì lẽ đó mà hằng năm nhà trường Sư phạm nói chung và trường ĐH Quảng Bình nói riêng tổ chức kì thực tập Sư phạm dành cho toàn thể sinh viên năm cuối thực tập tại các trường Phổ thông. Đây là cơ hội để các giáo sinh viên chúng em thể hiện những gì đã tiếp thu được qua các năm học ở trường ĐH Quảng Bình về mọi mặt nói chung và rèn luyện tay nghề nói riêng. Không chỉ vậy, còn giúp trường ĐH Quảng Bình đánh giá được chất lượng đào tạo của mình có hiệu quả như thế nào? Và đáp ứng được yêu cầu thực tế ở ngoài trường phổ thông ra sao? Thực tập sư phạm là hoạt động có vai trò, ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình rèn luyện kĩ năng giáo dục cho sinh viên. Quả thực, đúng là như vậy, sau thời gian ba năm học tập tại trường sư phạm, chúng em thực sự đã trở thành những giáo viên thực thụ qua hai tháng thực tập của mình. Đợt thực tập của chúng em được bắt đầu từ ngày 15022016 10042016, địa điểm đó là trường THPT Ninh Châu ngôi trường có lịch sử, truyền thống hiếu học lâu đời. Bước đầu của quá trình kiến tập còn nhiều bỡ ngỡ, tuy nhiên, được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo Hiệu trưởng Từ Xuân Hóa, P.Hiệu trưởng gồm cô Lê Thị Thanh Thủy và cô Trương Thị Ngọc Lưu, thầy giáo hướng dẫn chuyên môn Lê Thanh Thủy, cô giáo chủ nhiệm Hoàng Thị Minh Châu cùng toàn thể thầy cô giáo trong nhà trường đã cho em thêm phần tự tin khi đến với môi trường giáo dục với nhiều khó khăn và thử thách, tuy nhiên cũng đầy tiếng cười và niềm tự hào. Đây cũng là cơ hội để bản thân em có thể vận dụng những kiến thức đã được học vào thực tiễn. Qua hai tháng tham gia thực tập đợt II tại trường THPT Ninh Châu bản thân em đã được các thầy cô trong trường hướng dẫn rất tận tình. Chúng em đã được làm quen với công tác chủ nhiệm, giảng dạy và đã học được rất nhiều điều bổ ích. Bên cạnh đó, em còn hiểu thêm tình hình kinh tế, văn hóa ở địa phương. Đó là nền tảng quan trọng để sau này chúng em trở thành người thầy giáo, cô giáo, có đầy đủ kiến thức, kĩ năng, nhân cách và phẩm chất phù hợp với thời đại, xứng đáng là những người ươm mầm xanh cho đất nước. Đối với sinh viên sư phạm ngoài việc học tập, rèn luyện về chuyên môn nghiệp vụ của mình chúng em còn phải tham gia vào các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, tích luỹ kinh nghiệm kiến thức….Vì vậy, mà đợt thực tập sư phạm chính là thời gian quan trọng và quý báu nhất để em tiếp cận với các em học sinh ở độ tuổi trung học, cùng hòa mình, thâm nhập vào cuộc sống của các em, xâm nhập thực tế để hiểu tâm tư tình cảm của các em, để biết được các em là lứa tuổi đang lớn, đang trưởng thành. Báo cáo thu hoạch giúp sinh viên thực tập sư phạm nâng cao nhận thức về vai trò giáo dục trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nắm vững những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của người giáo viên trên cơ sở đó phấn đấu trở thành giáo viên giỏi. Tạo điều kiện cho sinh viên sư phạm chủ động, sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức đã học và rèn luyện các kĩ năng giáo dục và dạy học trong thực tế nhà trường, từ đó hình thành năng lực sư phạm. Trong thời gian thực tập sư phạm ở mái trường THPT Ninh Châu sự quan tâm ân cần sự giúp đỡ của BGH nhà trường, của các thầy, các cô đã cho chúng em bài học đường đời đầu tiên trên con đường giáo dục mà việc chở đò qua thời gian rất âm thầm lặng lẽ là niềm tự hào của mỗi giáo viên. Một lần nữa em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy, các cô, những người đã giúp đỡ chúng em qua 8 tuần thực tập vừa qua. Xin gửi lời chúc chân thành nhất và lời chúc sức khỏe tới thầy cô và gia đình, chúc thầy cô hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, chúc trường THPT Ninh Châu ngày càng vững bước tiến lên. Em xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI THAM LUẬN VỀ MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 3 THEO CHƯƠNG TRÌNH TRƯỜNG TIỂU HỌC MỚI VNEN.

BÀI THAM LUẬN VỀ MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 3 THEO CHƯƠNG TRÌNH TRƯỜNG TIỂU HỌC MỚI VNEN.

BÀI THAM LUẬN VỀ MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 3 THEO CHƯƠNG TRÌNH TRƯỜNG TH MỚI VNEN. Môn Tiếng Việt theo chương trình trường tiểu học mới VNEN có một vị trí quan trọng trong giáo dục ở Tiểu học, điều đó được thể hiện ở thời lượng giảng dạy trong từng khối lớp và nó làm công cụ để học các môn học khác. PHẦN MỞ ĐẦU 1.Cơ sở lý luận Môn Tiếng Việt theo chương trình trường tiểu học mới VNEN có một vị trí quan trọng trong giáo dục ở Tiểu học, điều đó được thể hiện ở thời lượng giảng dạy trong từng khối lớp và nó làm công cụ để học các môn học khác. Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học là: Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt ( nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt theo chương trình trường tiểu học mới VNEN góp phần rèn luyện cho HS các thao tác của tư duy. Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 2. Cơ sở thực tiễn: Trong thực tế không ít các em học sinh và ngay cả người lớn trong giao tiếp, trong các văn phòng vẫn còn hiện tượng sai lỗi chính tả, sử dụng câu chưa đúng kết cấu ngữ pháp, chưa đảm bảo liên kết câu, liên kết ý, đoạn.....Nhiều em học sinh ngại giao tiếp, nhút nhát, sợ học môn Tiếng Việt, kết quả học môn Tiếng Việt thường đạt thấp hơn môn Toán. Bởi người ta thường nói: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Môn Tiếng Việt rất phức tạp, nó đa dạng và phong phú, cùng một vấn đề nhưng mỗi người hiểu theo một cách khác nhau. Hơn nữa một số phụ huynh ít quan tâm đến dạy Tiếng Việt cho con em mình, coi nhẹ môn Tiếng Việt mà chỉ quan tâm đến rèn Toán cho các em. Mặt khác một số giáo viên việc nắm bắt đổi mới phương pháp còn hạn chế, tay nghề còn non yếu, ngại đi học để nâng cao trình độ. Vì vậy một phần nào nó làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh. Tiếng Việt là bản sắc của dân tộc, việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt là trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam. Trong đó phải kể đến vai trò quan trọng của môn Tiếng Việt, chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 có thay đổi về nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng loại bỏ những nội dung không cần thiết, bổ sung thêm những nội dung cần thiết bảo đảm kiến thức cơ bản, cập nhật với tiến bộ khoa học công nghệ, góp phần khắc phục những tồn tại, đồng thời làm thay đổi quan điểm coi nhẹ môn Tiếng Việt, trả lại đúng vị trí, tầm quan trọng của nó trong hệ thống các môn học ở nhà trường, ngoài xã hội. Triển khai thực hiện chương trình SGK môn Tiếng Việt theo chương trình trường tiểu học mới VNEN lớp 3 thì đội ngũ giáo viên là yếu tố hàng đầu, quyết định chất lượng giáo dục. Chính vì vậy là người trực tiếp giảng dạy lớp 3 của trường, tôi đã chọn đề tài này với hy vọng góp phần nâng cao chất lượng dạy môn Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình trường tiểu học mới VNEN. PHẦN NỘI DUNG I . TÌM HIỂU CHƯƠNG TRÌNH SGK MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 3 THEO CHƯƠNG TRÌNH TRƯỜNG TH MỚI VNEN. Chương trình sách thử nghiệm môn Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình trường tiểu học mới VNEN được biên soạn theo định hướng đổi mới chương trình SGK phổ thông, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, đặc biệt chú trọng mục tiêu giáo dục toàn diện, không lạc hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Phải đảm bảo các yêu cầu về tính thống nhất, hệ thống và liên thông trong mỗi môn học, giữa các môn học, giữa các cấp bậc học và phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta nói chung và của đơn vị Trường TH Lương Nghĩa 3 nói riêng. 1. Quan điểm biên soạn sách thử nghiệm môn Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình trường tiểu học mới VNEN: ) Quan điểm giao tiếp: Để thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học sinh học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Sách thử nghiệm Tiếng Việt lớp 3 lấy nguyên tắc học sinh tự học và tự lĩnh hội kiến thức làm định hướng cơ bản. Quan điểm được thể hiện trên cả 2 phương diện: nội dung và phương pháp dạy học. + Về nội dung: Thông qua các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn, Tập viết được gôm chung lại thành một bài lớn. Sách thử nghiệm Tiếng Việt 3 tạo ra những môi trường giao tiếp có chọn lọc để học sinh mở rộng vốn từ theo định hướng, trang bị những tri thức nền tảng và các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp. + Về phương pháp dạy học: Các kỹ năng nói trên được dạy thông qua nhiều bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên. ) Quan điểm tích hợp Tích hợp là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học hay một bài tập nhiều mảng kiến thức và kỹ năng liên quan đến nhau, nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học, có thể thực hiện tích hợp theo chiều ngang và chiều dọc. + Tích hợp theo chiều ngang: Là tích hợp kiến thức Tiếng Việt theo mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy. + Tích hợp theo chiều dọc: Là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kỹ năng mới, những kiến thức và kỹ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm. ) Quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh: Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình của sách thử nghiệm Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình trường tiểu học mới VNEN là đổi mới phương pháp dạy và học chuyển từ phương pháp truyền thụ sang phương pháp tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, trong đó thầy cô đóng vai trò là người tổ chức hoạt động của học sinh. Mỗi học sinh đều được hoạt động, bộc lộ mình và được phát triển. 2. Mục tiêu của chương trình sách thử nghiệm này là: Chú trọng mục tiêu chuẩn bị cho học sinh học lên bậc Trung học cơ sở. Điều đó dẫn đến những đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học. Chương trình mới chú ý đến phương pháp dạy học nhằm thúc đẩy quá trình tự học của học sinh, tạo cho học sinh những cơ bản ban đầu kỹ năng và thói quen tự học để có thể học tập lên và học tập suốt đời. 3. Về nội dung: Loại bỏ những nội dung không thiết thực, bổ sung nhiều nội dung học tập thiết thực đối với học sinh, bởi nó hướng tới các vấn đề mà học sinh thường gặp trong đời sống. Ví dụ: Có nhiều bài học nói, viết, đọc trong môn Tiếng Việt gắn với việc sử dụng Tiếng Việt trong đời sống thường nhật của học sinh như: viết đơn, viết thư, nhắn tin, gọi điện thoại, lập chương trình hoạt động... Thời lượng dành cho thực hành và luyện tập chiếm tỷ lệ cao, trình tự sắp xếp các phân môn cũng thay đổi. 4. Về phương pháp giảng dạy: Quan tâm tới việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh trong dạy học: nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh như quan sát, phát hiện, phân tích, tổng hợp, khái quát, làm thử và tự đánh giá kết quả. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh học tập cá nhân, học tập theo nhóm nhỏ, theo lớp. Nhưng chương trình sách thử nghiệm này chủ yếu là hoạt động nhóm. Tăng cường sử dụng đồ dùng học tập để không khí học tập sôi nổi phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học. 5. Chương trình sách thử nghiệm Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình trường tiểu học mới VNEN: Học 35 tuần năm, mỗi tuần là 1 bài trong đó có các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn, Tập viết được chen lẫn vào nhau Thực hiện triển khai dạy sách thử nghiệm Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình trường tiểu học mới VNEN chỉ mới trong năm học này. GV đã được nghiên cứu chương trình sách thử nghiệm, được tập huấn về phương pháp giảng dạy do bộ giáo dục mở, rồi sở giáo dục Hậu Giang triển khai cho các huyện, thị và huyện Long Mỹ có hai trường được dạy thử nghiệm đó là: Trường TH Lương Nghĩa 3 và Trường TH Thuận Hưng 2, được tập soạn và lên lớp mẫu, dự giờ, rút kinh nghiệm tại trường trong năm học này. GV đã nắm được đặc điểm nội dung chương trình sách thử nghiệm, nắm đựoc phương pháp giảng dạy đặc trưng của từng phân môn vận dụng vào giảng dạy ở từng khối lớp 2 và lớp 3. Xong việc vận dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy và lựa chọn hình thức tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh cũng như việc lựa chọn kiến thức trọng tâm để khắc sâu cho các em và rèn kỹ năng theo phân môn cho học sinh còn lúng túng và hạn chế. Do đó dẫn đến kết quả học tập môn Tiếng Việt còn rất thấp. Là người trực tiếp giảng dạy lớp 3, tôi rất trăn trở băn khoăn suy nghĩ tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình trường tiểu học mới VNEN: II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP Qua việc nghiên cứu thực trạng về cơ sở vật chất,về chương trình sách thử nghiệm môn Tiếng Việt lớp 3 và quá trình triển khai dạy tại trường, công tác dạy học môn Tiếng Việt lớp 3 có những thuận lợi và khó khăn sau: ) Những thuận lợi: Đã có đủ phòng học cho tất cả các lớp học 2 buổi ngày. Trang trí các phòng học đã đúng quy định, đã có những đồ dùng do công ty thiết bị giáo dục cấp phát, có tương đối đủ sách cho HS. Có đội ngũ giáo viên nhiệt tình, đoàn kết, tâm huyết với nghề nghiệp. BGH chỉ đạo chặt chẽ các hoạt động dạy và học trong nhà trường, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác và cùng với giáo viên tìm tòi, giải quyết những vướng mắc trong giảng dạy, vận động và tuyên truyền được hội phụ huynh học sinh, chính quyền cùng tham gia công tác giáo dục. ) Những khó khăn: Nhà trường cò thiếu các phòng chức năng, bàn ghế trong các phòng học chưa đảm bảo theo chuẩn. Sách đưa về trường còn chậm chưa đúng tiến độ chương trình thực học và sách chưa đủ cho mỗi học sinh phải có một bộ. Cơ cấu GV chưa đồng bộ, trình độ chuyên môn của GV không đồng đều dẫn đến việc đổi mới phương pháp dạy còn nhiều hạn chế, nhất là việc cập nhật khoa học công nghệ thông tin trong giảng dạy như việc sử dụng giáo án điện tử... Mặt khác chương trình sách thử nghiệm môn Tiếng Việt lớp3 có rất nhiều thay đổi về nội dung, về cấu trúc của bài học một số phân môn (LTVC, Tập làm văn, dạy âm vần mới), về phương pháp giảng dạy, điều đó dẫn đến sự phối hợp, hỗ trợ của phụ huynh học sinh đối với con em mình về mặt hướng học ở nhà cũng hạn chế. Từ những điều trên tôi thấy việc giảng dạy chương trình sách thử nghiệm Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình trường tiểu học mới VNEN của một số giáo viên còn gặp nhiều khó khăn cả về kiến thức kỹ năng, cả về phương pháp giảng dạy. Là người trực tiếp giảng dạy các lớp 3 tôi đã thực hiện một số giải pháp sau: 1. Thường xuyên quan tâm trao đổi với giáo viên trong khối về nhận thức tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức. Đó chính là bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, chấp hành pháp luật của Nhà nước, quy định của ngành; yêu nghề mến trẻ, thương yêu, tôn trọng đối xử công bằng với học sinh, có tinh thần trách nhiệm trong công tác, có ý thức tổ chức kỷ luật, có lối sống lành mạnh, có tinh thần hợp tác, có tinh thần tự học phấn đấu nâng cao trình độ chính trị,chuyên môn nghiệp vụ. Trước kia, chúng ta thường đánh giá GV ở các lĩnh vực kiến thức và kỹ năng sư phạm. Nhưng đối với GV tiểu học là bậc giáo dục nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Do vậy đội ngũ GV vừa là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục tiểu học vừa có vị trí vai trò to lớn. Vì mỗi lời nói, cử chỉ, cuộc sống lao động sư phạm của họ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách của mỗi học sinh. Trường tiểu học gắn liền với cộng đồng, do vậy hoạt động của giáo viên tiểu học trong và ngoài nhà trường có tác dụng to lớn đến sinh hoạt văn hoá và đời sống ở địa phương Giáo viên tiểu học phải thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, thì giảng dạy giáo dục mới đạt hiệu quả. 2. BGH Sắp xếp đội ngũ giáo viên, triển các quy định chuyên môn, lập kế hoạch sinh hoạt chuyên đề cho tổ, khối ) Sắp xếp đội ngũ giáo viên: Dựa trên tình hình thực tế đội ngũ giáo viên trong trường mà BGH đã bố trí, sắp xếp đội ngũ giáo viên đảm bảo nguyên tắc đúng người, đúng việc, luôn quan tâm đến các mặt ( trình độ nghiệp vụ tay nghề, sức khoẻ, ý thức công việc, hoàn cảnh gia đình) để thấy mặt mạnh, yếu của từng người. Từ đó bố trí tay nghề cho phù hợp. Căn cứ vào đặc điểm của trường và tay nghề của đội ngũ giáo viên, BGH lập danh sách giáo viên đã có chứng chỉ ở từng khối lớp, đảm nhiệm công tác chủ nhiệm chính ở đúng khối lớp mình đã có chứng chỉ ( thông thường BGH phân giáo viên dạy chuyên theo khối ). Chọn các đồng chí có tay nghề vững vàng, nhiệt tình, năng động. Phân công họ đảm nhận các chức vụ khối trưởng, tổ trưởng chuyên môn để làm nòng cốt cho việc triển khai các hoạt động trong nhà trường. Việc phân công như trên các đồng chí khá giỏi có điều kiện phát huy năng lực của mình, còn các đồng chí trung bình có điều kiện học hỏi đồng nghiệp để nâng cao tay nghề. ) Tổ chức cho giáo viên học tập quy chế chuyên môn Ngay từ đầu năm học BGH đã triển khai cho giáo viên học tập quy định về chuyên môn của phòng giáo dục, của Sở giáo dục để giúp giáo viên thực hiện đúng nhiệm vụ của mình. Đặc biệt là tổ chức thảo luận kỹ các quy định về soạn giảng, chấm, đánh giá xếp loại học sinh, cách ghi các loại hồ sơ, sổ sách của giáo viên, vở học sinh. ) Lập kế hoạch sinh hoạt chuyên đề cho tổ khối Trước tiên là hiệu phó chuyên môn xây dựng thời khoá biểu buổi sáng, buổi chiều cho từng khối lớp sao cho các tiết học đảm bảo thời lượng, sắp xếp khoa học, tránh gây ức chế nhàm chán cho người dạy, người học. Sau đó là lập kế hoạch chuyên đề cho tổ khối sao cho phù hợp với lịch sinh hoạt của huyện, của cụm. Mỗi lần sinh hoạt chuyên đề hiệu phó chuyên môn định hướng để giáo viên tự chọn bài khó, sau đó cùng thảo luận thống nhất lên lớp dạy (hoặc giáo viên tự áp dụng vào dạy ở lớp mình). Sau đó rút kinh nghiệm ưu điểm , tồn tại, hướng khắc phục. Thông qua việc sinh hoạt chuyên đề ở tổ, khối giáo viên đã từng bước tháo gỡ được những khó khăn của bản thân về nội dung phương pháp giảng dạy, đồng thời được học tập đồng nghiệp, được trao đổi giao lưu với đồng nghiệp, dựa vào những tiết mẫu đó vận dụng vào các bài học của mình. 3. Giúp giáo viên nắm vững nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình trường tiểu học mới VNEN: Ngay từ đầu tháng 9 BGH lập kế hoạch cho giáo viên sinh hoạt chuyên môn: nghiên cứu thảo luận để có những hiểu biết căn bản đầy đủ những yêu cầu về: Mục tiêu của môn Tiếng Việt. Nội dung chương trình Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình trường tiểu học mới VNEN Phương pháp giảng dạy đặc trưng của từng phân môn đảm bảo nguyên tắc phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. Quy trình lên lớp của từng dạng bài cụ thể. Cách đánh giá kết quả học tập của học sinh Soạn giáo án, lên lớp dự giờ, rút kinh nghiệm, thống nhất phương pháp. Thông qua những hoạt động đó giúp giáo viên nắm vững được mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy của môn Tiếng Việt, mức độ kiến thức kỹ năng của từng môn, từng lớp. Ví dụ: Lớp 1: Phần học âm vần mới thì yêu cầu hướng dẫn viết bảng con khác với hướng dẫn viết vở. Phần luyện nói là rèn kỹ năng giao tiếp thành câu phù hợp với lứa tuổi, đúng chủ đề không áp đặt nặng nề để học sinh giao tiếp vui vẻ thoải mái. Lớp 2,3: Tập làm văn cũng đi từ việc dạy giao tiếp một số tình huống đơn giản đến việc nói và viết một số đoạn văn. Mặt khác giáo viên cũng nắm được quy trình của từng dạng bài để giúp GV xác định được những bước đi cơ bản đảm bảo cho các tiết dạy hợp lý cả về thời gian và lượng kiến thức kỹ năng cần truyền đạt. Ví dụ: Tập làm văn lớp 3 (nghe kể ): Giáo viên phải nắm vững quy trình của tiết tập làm văn ( nghekể ), không lạc sang phân môn kể chuyện. Yêu cầu đối với giáo viên đứng lớp là phải xác định đúng mục đích yêu cầu của từng bài học đảm bảo nhẹ nhàng, lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp để tổ chức cho học sinh được hoạt động một cách tự nhiên không gò ép và thông qua các hoạt động của mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên học sinh tự lĩnh hội kiến thức, hình thành và rèn luyện được kỹ năng. Và như vậy hoạt động dạy học chắc chắn sẽ đạt được chất lượng tốt và có hiệu quả thực sự. 4. BGH kiểm tra thường xuyên, đột xuất, kiểm tra hồ sơ sổ sách giáo viên, dự giờ thăm lớp, kiểm tra toàn diện. Kiểm tra việc soạn giảng của giáo viên để nắm bắt được việc thực hiện nội dung, chương trình, định hướng bài dạy xem đã đúng với yêu cầu của bài chưa. Vì chính nó giúp giáo viên chủ động và đạt hiệu quả của bài dạy. Thực hiện thường xuyên có báo trước và không báo trước. Dự giờ thăm lớp thường xuyên ( có báo trước và không báo trước ) để đánh giá tay nghề của giáo viên về mặt kiến thức và kỹ năng, phương pháp giảng dạy và kết quả học tập của học sinh. Kiểm tra toàn diện giáo viên để nắm bắt được toàn bộ hoạt động giảng dạy giáo dục của thầy, trò. Sau mỗi việc làm BGH đều tổ chức rút kinh nghiệm riêng cá nhân, chung cả khối, tổ để làm rõ những điểm đã làm được, những điểm còn tồn tại và cùng thảo luận, thống nhất biện pháp giải quyết. 5. BGH Tạo điều kiện để giáo viên được tự học, tự bồi dưỡng năng cao trình độ nghiệp vụ tay nghề đáp ứng với yêu cầu giảng dạy. Dạy chương trình sách thử nghiệm Tiếng Việt lớp 3 đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức Tiếng Việt chắc chắn và phong phú. Các bài học không chỉ là những văn bản cũ mà còn có những loại văn bản xã hội thông thường khác phục vụ việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp hàng ngày cho học sinh ( viết thư, nhắn tin, gọi điện thoại, bưu thiếp...). Nên giáo viên phải có hiểu biết về văn bản đó mới dạy được học sinh những kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp càng đa dạng, phong phú và thể hiện ra những hiện tượng ngôn ngữ cụ thể cho học sinh. Trong tiết dạy, giáo viên phải nắm chắc kiến thức mới mong xử lý được các tình huống xảy ra nhanh nhạy và rút ra kết luận đúng đắn. Ví dụ: BT 3: Đặt câu hỏi cho các bộ phận câu được in đậm: c) Hai chị em thán phục nhìn chú Lí. (LTVC Lớp 3 TV 3 tr. 45) Học sinh đưa ra đáp án: Hai chị em như thế nào nhìn chú Lí ? Giáo viên phải xử lý tình huống đó như sau: Đây là cách đặt và trả lời câu hỏi cho bộ phận phụ ngữ chỉ đặc điểm của trạng thái, cụm từ như thế nào đặt ở cuối câu hỏi. Vậy đáp án đúng là: Hai chị em nhìn chú Lí như thế nào Giáo viên chỉ có kiến thức thôi chưa đủ mà còn có kỹ năng sư phạm vì phương pháp dạy học mới là khả năng lựa chọn tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. Tạo điều kiện cho học sinh tích cực tham gia các hoạt động học tập để chủ động chiếm lĩnh kiến thức kỹ năng. Để giáo viên có kiến thức, có phương pháp giảng dạy, tôi đã xây dựng để cử giáo viên đi học Đại học tại chức, các lớp tập huấn về đổi mới phương pháp giảng dạy, các lớp bồi dưỡng về công nghệ thông tin... Tổ chức các buổi thảo luận về nội dung các chuyên san giáo dục Tiểu học, Toán tuổi thơ. Lập kế hoạch và chỉ đạo công tác tự học bồi dưỡng thường xuyên các chu kỳ. Mở các chuyên đề hội thảo để nhân rộng các cá nhân điển hình ra toàn trường. BGH Bố trí sắp xếp cho giáo viên có thời gian đi dự giờ đồng nghiệp trong trường, trong cụm và đặc biệt là dự các tiết thi giáo viên giỏi cơ sở, giỏi huyện, giỏi tỉnh. Phát động các phong trào thi đua dạy tốt để khơi dậy tinh thần sôi nổi trong giảng dạy giáo viên. Tạo điều kiện để giáo viên thể hiện mình và học tập đồng nghiệp, giúp cho giáo viên tự tin hơn. Xây dựng thành tiêu chí thi đua và đánh giá xếp loại giáo viên. 6. Phát huy tính năng động, sáng tạo trong phương pháp dạy học. Mỗi phương pháp dạy học dù hiện đại, tiên tiến đến đâu cũng không thể phù hợp cho tất cả các bài học. Phương pháp đặc trưng bộ môn thường được áp dụng là định hướng quan trọng trong tiết dạy nhưng áp dụng nó cần sự biến hoá vận dụng theo điều kiện hỗ trợ và năng lực của người thầy giáo. Sự năng động, sáng tạo thể hiện ở việc kết hợp giữa GV tự nghiên cứu nắm chắc ý đồ Sách thử nghiệm và sự lựa chọn phương pháp dạy học. Mỗi bài học được thiết kế trong Sách thử nghiệm, người biên soạn đã gửi vào đó một phương pháp dạy học, một quy trình thực hiện nó nhưng cũng không mang tính áp đặt đối với giáo viên. Với 1 giờ dạy ở 2 lớp, cùng môn, cùng đề bài,cùng thời gian nhưng 2 GV đã tiến hành theo hai cách khác nhau và hiệu quả giờ học cũng hoàn toàn khác nhau. Như vậy, đã có một khoảng trống sáng tạo trong sử dụng phương pháp dạy học. Khoảng trống này đòi hỏi người thầy phải đầu tư suy nghĩ vận dụng một cách sáng tạo, đó chính là sự đổi mới phương pháp dạy học mà tất cả GV đều thực hiện và không ai giống ai, không tiết dạy nào giống tiết dạy nào. 7. Sử dụng phương tiện thiết bị dạy học hiện đại Với chức năng đa dạng phong phú, công nghệ thông tin đã thâm nhập vào tất cả các mặt trong đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục đào tạo. ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học đã được thực hiện thành công ở tất cả các bậc học.ở Tiểu học, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học áp dụng cho tất cả các phân môn, tất cả các khối lớp với các mức độ khác nhau; giải quyết những yêu cầu và nội dung khó, phức tạp của bài dạy mà khả năng của người thầy và phương tiện dạy học chưa thực hiện đầy đủ ( màu sắc, âm thanh, hình ảnh động, mô tả quy trình); biết kết hợp hợp lí giữa phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại; biết lựa chọn thích hợp các yếu tố dữ kiện trong nội dung bài học để đưa vào thiết kế bài soạn trên máy vi tính; biết xác định rõ máy tính không thể thay thế người thầy, GV không thể thoát li phấn trắng bảng đen dù chức năng máy tính rất hiện đại. Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học giúp giáo viên lên lớp nhẹ nhàng, chủ động về nội dung và thời gian tiết dạy, giờ học hấp dẫn, HS hứng thú học tập, hiệu quả giờ dạy cao, đỡ tốn nhiều thời gian trong khâu soạn bài và chuẩn bị bài giảng. 8 . Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. Chất lượng giáo dục đội ngũ giáo viên quyết định song muốn triển khai được các hoạt động dạy học đạt hiệu quả thì cần phải có nhiều yếu tố khác nữa. Trước tiên phải kể đến cơ sở vật chất nhà trường và trang thiết bị dạy học. Thực hiện chủ trương của Đảng : xã hội hoá giáo dục, nhà trường đã phối hợp với chính quyền địa phương, đoàn thể, phụ huynh học sinh, các lực lượng giáo dục khác để từng bước hoàn thiện các phòng học và các phòng chức năng còn thiếu so với quy định của trường chuẩn quốc gia và không ngừng nâng cao chất lượng trang trí nội thất các phòng học, phòng chức năng, mua sắm trang thiết bị dạy học, xây dựng phòng vi tính để ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lí và giảng dạy, tạo điều kiện mở rộng nâng cao trình độ cho giáo viên và học sinh. III – KẾT QUẢ Việc thực hiện các giải pháp trên qua 2 năm học gần đây cùng với lòng nhiệt tình, yêu nghề, tinh thần đoàn kết nội bộ, tinh thần vượt khó, trình độ nghiệp vụ tay nghề của các đc giáo viên, kết quả học tập của học sinh từng bước được nâng cao, giáo viên và học sinh cũng tự tin, hứng thú hơn khi dạy học môn Tiếng Việt. ) Kết quả dự giờ thường xuyên (môn Tiếng Việt lớp 3) (tính đến hết tháng 112012) NĂM HỌC TỔNG SỐ TIẾT GIỎI KHÁ ĐẠT YÊU CẦU 2012 2013 10 3 30% 5 50% 2 20% ) Kết quả kiểm tra toàn diện GV (dạy lớp 3) (tính đến hết tháng 11 2012 ) NĂM HỌC TỔNG SỐ TIẾT GIỎI KHÁ ĐẠT YÊU CẦU 2012 2013 3 1 33,3% 2 66,7% 0 Kết quả trên đây đã phần nào đánh giá thực chất sự nỗ lực của công tác chỉ đạo chuyên môn của BGH và sự phấn đấu vươn lên của đội ngũ giáo viên và các em học sinh cùng với sự giúp đỡ của Phòng giáo dục, của chính quyền địa phương và các lực lượng thực hiện công tác dạy và học. PHẦN KẾT LUẬN Đất nước đang bước vào giai đoạn hết sức quan trọng, có tính quyết định giai đoạn đổi mới giáo dục phổ thông. Để thực hiện được mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH... Vì vậy đất nước, xã hội và ngành giáo dục đào tạo cần có những người thầy có đầy đủ những phẩm chất đạo đức, những kiến thức và kỹ năng sư phạm phù hợp với chủ trương chuẩn hoá hiện đại hoá nền giáo dục. Để thực hiện đổi mới chương trình Sách thử nghiệm môn Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình trường tiểu học mới VNEN đạt hiệu quả và từng bước khắc phục tình trạng sử dụng Tiếng Việt còn chưa đúng trong giao tiếp của một số người và hiện tượng không hứng thú khi học môn Tiếng Việt và đảm bảo giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ. Thì đội ngũ giáo viên dạy môn Tiếng Việt là yếu tố quyết định. Để nâng cao chất lượng giáo viên giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình trường tiểu học mới VNEN trên cơ sở phân tích tình hình đặc điểm nhà trường về cơ sở vật chất, về cơ cấu đội ngũ giáo viên, tìm hiểu về đặc điểm chương trình và thực tế giảng dạy ở trường trong năm nay và những năm tiếp theo của chương trình trường tiểu học mới VNEN. BGH đã thực hiện một số giải pháp sau: Thường xuyên quan tâm bồi dưỡng cho giáo viên về phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị. Sắp xếp đội ngũ giáo viên, triển khai các quy định chuyên môn, lập kế hoạch sinh hoạt chuyên đề cho tổ, khối. Giúp giáo viên nắm vững nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình trường tiểu học mới VNEN: Làm tốt công tác kiểm tra thường xuyên, đột xuất, kiểm tra toàn diện giáo viên, Tạo điều kiện để giáo viên tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ nghiệp vụ tay nghề đáp ứng với yêu cầu giảng dạy. Phát huy tính năng động, sáng tạo trong phương pháp giảng dạy. Sử dụng phương tiện thiết bị dạy học hiện đại. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. Chăm lo đời sống tinh thần, vật chất cho đội ngũ giáo viên. Trên đây là một số biện pháp của bản thân nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo viên giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 3 theo chương trình trường tiểu học mới VNEN. Vì năng lực của bản thân có hạn nên tôi rất mong được sự góp ý giúp đỡ của cấp trên và đồng nghiệp để bản thân có nhiều biện pháp dạy học đạt kết quả tốt hơn. Tôi xin chân thành cám ơn Lương Nghĩa, ngày 30 11 2012 Người tham luận HỒ MINH LÝ
Xem thêm

16 Đọc thêm

Phương pháp gây hứng thú học sinh trong mỗi tiết học tiếng anh lớp 6

Phương pháp gây hứng thú học sinh trong mỗi tiết học tiếng anh lớp 6

A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng vấn đề: Chúng ta đã biết, tiếng Anh là một môn học khá khó đối với học sinh, đặc biệt là học sinh đầu cấp. Vì vậy, làm thế nào để gây được hứng thú cho học sinh trong giờ học ngoại ngữ luôn là câu hỏi lớn mà tất cả giáo viên dạy ngoại ngữ đều muốn tìm ra câu trả lời. Thực tế cho thấy ở một số tiết học, nếu người thầy áp dụng phương pháp dạy học truyền thống thì chỉ có thiểu số học sinh suy nghĩ và làm việc tích cực, số học sinh còn lại cũng chỉ ghi bài và lắng nghe một cách thụ động, máy móc mà không hiểu được nội dung bài học, dẫn đến hiệu quả học tập thấp. Hơn nữa, lớp học rất ồn vì học sinh không chú ý vào bài học. Để khắc phục tình trạng trên, mỗi giáo viên phải tự chọn ra cho mình phương pháp dạy phù hợp thông qua một quá trình tìm tòi, thử nghiệm và kinh nghiệm giảng dạy thực tế của bản thân trên cơ sở hiểu biết về lý luận dạy học. 2. Lý do chọn đề tài: Việc dạy và học ngoại ngữ nói chung, tiếng Anh nói riêng ở nhà trường phổ thông hiện nay đang được quan tâm đúng mức và phát triển sâu rộng trong cả nước. Nhu cầu học tập và khả năng lĩnh hội kiến thức của người học ngày càng cao đòi hỏi người giáo viên không ngừng tự bồi dưỡng, nâng cao khả năng chuyên môn, nghiệp vụ và tư duy sáng tạo trong việc truyền đạt kiến thức cho học sinh. Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh là lẽ đương nhiên, góp phần làm cho người học thêm phấn khởi và càng yêu thích môn học. Ở trường THCS, giáo viên dạy tiếng Anh cho học sinh cùng với các môn học khác trên cơ sở trang bị cho các em hệ thống những kiến thức cần thiết nhằm đào tạo đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề cao, có kỹ năng thực hành, năng động và sáng tạo, ... Việc hình thành và rèn luyện các kỹ năng cho học sinh giáo viên không chỉ chú ý vào việc truyền thụ kiến thức trong sách giáo khoa, sử dụng các phương tiện dạy học mà phải quan tâm đến việc tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học, đề cao và phát huy tốt vai trò tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức bằng chính hoạt động của mình. Qua nhiều năm được phân công trực tiếp giảng dạy môn tiếng Anh lớp 6, bản thân tôi đã đúc kết được một số kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy. Trong số đó, “Phương pháp gây hứng thú học sinh trong mỗi tiết học tiếng Anh lớp 6” là đề tài tôi luôn quan tâm. 3. Mục đích nghiên cứu Giúp các em học sinh hiểu được sự cần thiết và tầm quan trọng của Tiếng Anh, tạo sự hứng thú thích học môn Tiếng Anh đồng thời phát huy tính tích cực của học sinh, giúp các em tự giác chủ động và sáng tạo, chiếm lĩnh làm chủ kiến thức với phương châm “Học thật, kiểm tra thật, chất lượng thật” 4. Đối tượng nghiên cứu Khách thể :Học sinh đại trà lớp 6 Trường THCS Bình Minh 5.Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu : Các tiết học Tiếng Anh lớp 6 tại trường THCS Thời gian nghiên cứu đề tài này được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: từ 61020012 – giữa HKI. Giai đoan 2: từ giữa HKI – cuối HKI. Giai đoạn 3: từ đầu HKII – giữa HKII. 6.Phương pháp nghiên cứu: Đọc tài liệu: Nghiên cứu thu tập các tài liệu có liên quan đến đề tài. Nhờ đó, định hướng được nội dung của đề tài, hiểu rõ vấn đề nghiên cứu và giải quyết vần đề với những tư liệu tương đối chính xác. Điều tra: a.Dự giờ: Qua dự giờ các đồng nghiệp trong và ngoài trường b.Thực nghiệm: thực nghiệm của bản thân qua các bài dạy trên lớp, áp dụng một số thủ thuật trong mỗi tiết dạy và tự đánh giá hiệu quả của các thủ thuật đó. c.Đàm thoại: Qua các cuộc họp tổ, thảo luận về những vấn đề khó trong phương pháp giảng dạy tiếng Anh d.Kiểm tra: qua kết quả kiểm tra chất lượng học sinh, giáo viên tự nhận xét đánh giá hiệu quả của việc sử dụng thủ thuật dạy học và đề ra những giải pháp phù hợp hơn. B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I. Cơ sở lý luận và thực tiễn: Theo điều 5 của Luật Giáo dục (2005) “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.” Với mục tiêu giáo dục phổ thông là: “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc.” Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số 162006QĐ BGDĐT ngày 05052006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục đào tạo cũng đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh.” Qua nhiều năm dạy tiếng Anh ở trường THCS theo phương pháp mới, bản thân tôi nhận thấy rằng phần lớn học sinh chúng ta chưa xác định được phương pháp học ngoại ngữ. Việc vận dụng tiếng Anh ở mức đơn giản còn nhiều hạn chế, các em không dám nói bằng tiếng Anh, giao tiếp với bạn bè không dám sử dụng tiếng Anh; giáo viên giới thiệu hoặc hỏi sử dụng tiếng Anh các em không dám trả lời. Hơn nữa, trong quá trình học các em còn yếu về kỹ năng làm bài kiểm tra, viết sai chính tả, ngữ pháp còn lúng túng. Nhiều em chưa biết cách viết từ bằng tiếng Anh, có em viết ngay từ phiên âm bằng tiếng Việt. II. Giải quyết vấn đề: Trong quá trình học, học sinh sẽ đạt được kết quả cao nếu như các em xác định được động cơ học tập của mình. Đối với học sinh THCS, động cơ học tập sẽ có được khi các em cảm thấy có hứng thú đối với môn học và thấy được sự tiến bộ của mình qua mỗi tiết học. Khi ấy, trách nhiệm của người giáo viên là rất lớn, họ phải có nhiều tâm huyết với nghề mới có thể đáp ứng được nhu cầu chính đáng của học sinh. Sau đây, tôi sẽ trình bày một vài phương pháp gây hứng thú học sinh mà tôi tâm đắc và thường hay áp dụng. a. Phương pháp gây hứng thú học sinh thông qua đồ dùng trực quan: Theo tôi, các phương tiện dạy học như băng, đĩa và các phương tiện trực quan như tranh, ảnh, đồ vật thật, … đều có thể gây hứng thú cho học sinh trong học tập. Trong đó, việc sử dụng đồ dùng trực quan là phương pháp gây hứng thú cho học sinh hiệu quả nhất trong giảng dạy ngoại ngữ vì phương tiện trực quan đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ý nghĩa, giúp học sinh liên tưởng được ý nghĩa của ngôn ngữ một cách trực tiếp, dễ dàng, dễ khắc sâu mà không cần phiên dịch. Với các chủ đề gần gũi, sát thực với cuộc sống thường ngày của bộ sách giáo khoa, giáo viên có thể giới thiệu từ mới hay tình huống thông qua các phương tiện trực quan như hình ảnh hay đồ vật thật. Ví dụ: Khi dạy Unit 9 – THE BODY (A1) – English 6, để giới thiệu từ mới: head, shoulder, arm, …, giáo viên có thể lần lượt chỉ vào các bộ phận cơ thể của mình và giới thiệu bằng tiếng Anh, rồi yêu cầu học sinh quan sát và lĩnh hội. Phương pháp này cho các em hứng thú học tập và sự tập trung cao vì các từ vựng mà giáo viên giới thiệu là những từ rất gần gũi đối với các em. (hình 1) Giáo viên có thể kiểm tra nhanh khả năng lĩnh hội của học sinh bằng cách đọc các số đếm được ghi chú và yêu cầu các em nhắc lại bằng tiếng Anh các từ vựng chỉ bộ phận cơ thể tương ứng. (hình 1) Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có sẵn đồ vật thật ở trường nên giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh để thay thế. Ví dụ: Khi dạy Unit 9 THE BODY (A3) English 6, ngoài hình ảnh trong sách giáo khoa, ta có thể sưu tầm thêm các hình ảnh ngộ nghĩnh theo từng cặp từ dễ phân biệt, in ra giấy A4 và giới thiệu cho học sinh. Với những hình ảnh trên, rõ ràng học sinh sẽ rất hứng thú và hiểu ngay nội dung người thầy cần truyền đạt. Hoặc ở một tình huống khác, ví dụ khi dạy Unit 9 B. Faces English 6, để dạy các từ chỉ màu sắc như: đỏ, vàng, tím, …, ta có thể sưu tầm các hình ảnh về màu sắc, in ra giấy A4 (có thể tô màu hoặc in màu thì quá tốt) và giới thiệu cho học sinh. Ở hình 3, các em có thể nhận biết được các màu; hình 4 các em đính màu cụ thể lên sơ đồ tư duy theo sự hướng dẫn của giáo viên.
Xem thêm

Đọc thêm

SK KN TOAN 9 TIẾP TUYẾN SONG SONG

SK KN TOAN 9 TIẾP TUYẾN SONG SONG

Giải pháp nâng cao chất lượng cho HS lớp 9 khi ôn thi vào lớp 10. Đây là bài viết nhằm hệ thóng hóa kiến thức về tiếp tuyến đơi với đường tròn.Qua nhiều năm giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi và dạy ôn thi vào lớp 10 với bộ môn Toán tôi nhận ra rằng nếu học sinh chỉ học tập với nội dung SGK hiện nay cùng với cách dạy học truyền thống thì học sinh chưa hiểu sâu về kiến thức, đặc biệt là việc khai thác tìm tòi mở rộng, đánh giá các bài tập có nội dung tương tự để giải quyết ... là rất yếu. Các em hầu như chỉ biết giải 1 bài tập đơn lẻ và từ đó dẫn đến học yếu, kiến thức còn hổng, lười học, lười suy nghĩ, lười tư duy trong quá trình học tập, ngay cả các em có tư chất tốt đôi khi làm bài tập còn rập khuôn, máy móc và từ đó làm mất đi tính tích cực, độc lập, sáng tạo của bản thân , năng lực cá nhân không được phát huy hết, chưa tích cực chủ động chiếm lĩnh kiến thức nên hiệu quả học tập chưa cao. Vì vậy việc chuyên sâu một vấn đề nào đó, liên hệ được các bài toán với nhau, phát triển một bài toán sẽ giúp cho học sinh khắc sâu được kiến thức, quan trọng hơn là nâng cao được tư duy cho các em làm cho các em có hứng thú hơn khi học toán. Trước thực trạng trên đòi hỏi phải có các giải pháp trong phương pháp dạy và học sao cho phù hợp và có hiệu quả. Đó là dạy học theo chủ đề.
Xem thêm

Đọc thêm

Kinh nghiệm rèn đọc cho học sinh lớp 3 (Đề tài chiến sĩ thi đua cấp cơ sở giáo viên tiểu học)

Kinh nghiệm rèn đọc cho học sinh lớp 3 (Đề tài chiến sĩ thi đua cấp cơ sở giáo viên tiểu học)

Kinh nghiệm rèn đọc cho học sinh lớp 3 Kinh nghiệm rèn đọc cho học sinh lớp 3 Kinh nghiệm rèn đọc cho học sinh lớp 3 Kinh nghiệm rèn đọc cho học sinh lớp 3 Việc nghiên cứu để tìm ra một số biện pháp hướng dẫn học sinh rèn đọc nhằm nâng cao chất lượng dạy và học nó trở thành một yêu cầu bức xúc đối với người giáo viên và nó trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với người học. Rèn đọc tốt làm cho học sinh đọc đúng, đọc diễn cảm các bài tập đọc, bài thơ, bài văn, các em hiểu đúng nội dung từng bài. Từ đó học sinh chiếm lĩnh được ngôn ngữ dùng trong giao tiếp và học tập. Đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, các em không chỉ được thức tỉnh về nhận thức, mà còn rung động về tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khối dạy năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như bồi dưỡng thêm tâm hồn. Học sinh đọc tốt sẽ giúp các em có những hiểu biết rộng hơn, các em dễ dàng tiếp thu được những cái văn minh của nhân loại, hướng cho các em tới lòng yêu cái thiện, yêu cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách lô gic. Như vậy, vấn đề “dạy” và học có một ý nghĩa to lớn vì nó bao gồm các nhiệm vụ: Giáo dưỡng, giáo dục và phát triển đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc để tự học, học cả đời. Qua nghiên cứu giúp cho các giáo viên có sự nhìn nhận đúng hơn, sâu hơn về tầm quan trọng của việc rèn đọc. Từ đó giáo viên biết lựa chọn tìm ra những biện pháp tốt nhất, những phương pháp phù hợp với đặc trưng của phân môn hướng dẫn học sinh đọc tốt hơn để nâng cao hiệu quả giờ tập đọc. Thông qua kết quả điều tra khảo sát đầu năm, tìm hiểu đúc kết của các đồng nghiệp bản thân tôi nghiên cứu về kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3 để giúp học sinh học tốt hơn môn tập đọc. Qua đó nâng cao năng lực đọc cho học sinh.
Xem thêm

Đọc thêm

Thực trạng kĩ thuật quản lý hành vi học sinh trong môi trường lớp học của giáo viên trường Bắc Lương Sơn

Thực trạng kĩ thuật quản lý hành vi học sinh trong môi trường lớp học của giáo viên trường Bắc Lương Sơn

Giáo dục là cách hiệu quả để nâng cao dân trí cho mỗi cá nhân nói riêng và cho cả cộng đồng nói chung. Giáo viên là người định hướng, tác động tới nhận thức, hành vi và thái độ của HS nhằm hình thành ở người học những năng lực và những phẩm chất đạo đức theo mục đích giáo dục. Quản lý lớp học, quản lý những hành vi của HS diễn ra trong môi trường lớp học có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi người GV. Nếu không quản lý HV lớp học thì GV không thể tiến hành được hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục trong nhà trường. Thực tế, hiện nay thực trạng quản lý HV lớp học của GV vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề. Theo quan sát của chúng tôi ở một số trường THPT cho thấy GV thường quản lý HS bằng cách cảnh cáo phê bình, trách mắng, hiếm khi sử dụng khen thưởng hay chú ý đến HV phù hợp mà chủ yếu GV sử dụng các biện pháp không phù hợp như quát mắng, sỉ nhục… Điều này có thể ảnh hưởng đến tâm sinh lý của HS làm cho HS mất tự tin và có thể dễ vi phạm kỉ luật trong lớp học, trốn tránh, sợ lên lớp, sợ học… Đặc biệt, HS THPT là lứa tuổi mới lớn, suy nghĩ còn bồng bột, thích được thể hiện, chứng tỏ bản thân nên dễ dẫn đến những hành vi sai phạm, có những cảm xúc chưa phù hợp trong lớp học. Điều này làm cho GV quản lý lớp thường cảm thấy bức xúc, khó chịu. Kĩ thuật quản lý hành vi lớp học nhằm giúp GV làm việc hiệu quả hơn với HS. Mục đích GV sử dụng các kĩ thuật quản lý hành vi vào quản lí lớp học giúp HS hiểu được mong muốn của GV, gia tăng những hành vi, cách thể hiện cảm xúc phù hợp trong lớp học, từ đó giúp GV cảm thấy vui vẻ, thoải mái, tự tin và hiệu quả trong dạy học và giáo dục HS. Hiện nay đã có nhều tác giả nghiên cứu về quản lý HV lớp học và các biện pháp quản lý HV cho HS có vấn đề đặc biệt như tự kỉ, tăng động giảm chú ý, chậm phát triển trí tuệ..., các tác giả đã xây dựng và làm rõ được các biện pháp để quản lý lớp học hiệu quả. Song chưa có nghiên cứu cụ thể nào ở một trường THPT. Vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi nhằm tìm hiểu thực trạng GV sử dụng các kỹ thuật quản lý HV, mức độ hiệu quả của các kỹ thuật đấy. Từ đó chúng tôi có thể đưa ra được những kỹ thuật chi tiết, cụ thể để quản lý HV lớp học, tăng cường HV phù hợp ở HS và hạn chế những HV chưa phù hợp của HS. Một phần nào đó, giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy và hoạt động học trong nhà trường. Bản thân tôi có nhiều điều kiện được tiếp cận và học tập tại trường THPT Bắc Lương Sơn, Thạch Thất, Hà Nội, tôi nhận ra rằng, đây là một ngôi trường có nhiều thành tích trong giảng dạy và là một mô hình tốt để có thể khảo sát cho bài nghiên cứu khoa học của mình. Chính vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng sử dụng kỹ thuật quản lý hành vi học sinh trong môi trường lớp học của giáo viên trường THPT Bắc Lương Sơn, Thạch Thất, Hà Nội”
Xem thêm

Đọc thêm

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY VÀ HỌC TOÁN HÌNH HỌC 8 Ơ TRƯỜNG THCS

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY VÀ HỌC TOÁN HÌNH HỌC 8 Ơ TRƯỜNG THCS

Hơn nữa việc học Toán lớp 8 làm các em sẽ rất sợ bởi các kiến thức tương đốinặng và còn liên quan mật thiết các kiến thức lớp dưới hơn nữa khối bài tập vận dụngmang tính thực hành cao đòi hỏi sự chính xác và khả năng vận dụng tốt. Vậy ngoài ápdụng các phương pháp dạy học tích cực còn sự kết hợp các phương pháp khéo léo củagiáo viên ta cần phải tạo sự lồng ghép, đan xen, sinh động các kiến thức các biện phápliên quan còn giúp các em khám phá những điều hay, bổ ích mang tính giáo dục cao thìmới tạo được hứng thú hơn cho các em. Các em sẽ yêu thích môn học hơn vì các emkhông chỉ học kiến thức mà còn học cả kỹ năng cơ bản, kỹ năng xử lý, kỹ năng nhận biết,kỹ năng phát triển… nhằm trao dồi nhân cách đang phát triển của mình.2.2/ Nội dung và biện pháp thực hiện:Biện pháp 1: Áp dụng các phương pháp dạy học tích cực phương pháp đặt và giảiquyết vấn đề :Ý nghĩa biện pháp: Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề là phương pháp dạyhọc tích cực được sự dụng rỗng rải nhất áp dụng phù hợp cho đặc, Cụ thể giáo viên làngười tạo ra tình huống có vấn đề do đó giáo viên phải biết vận dụng và kết hợp các câuhỏi tình huống một cách hài hòa, nhịp nhàng, giúp tiết học có hiệu quả cao, học sinh tiếpnhận kiến thức một cách nhẹ nhàng, không căng thẳng, từ đó tạo cho học sinh có sự tòmò khám phá và hứng thú khi học toán, không còn sợ học môn toán nữa mà cảm thấymôn toán là môn khoa học rất hay rất thực tế. Từ đó các em có ý thức và trách nhiệm vớimôn toán, đó là điều đầu tiên giúp dạyhọc toán có hiệu quả.Cách thực hiện: Trước hết giáo viên xác định được vấn đề đặt ra đối với học sinh là gì ?tuỳ theo mức độ học tập của học sinh để đề ra hoạt động học tập phù hợp.Ví dụ 1: Sau khi dạy khái niệm: ‘‘Đường trung bình của hình thang’’giáo viên có thểcho học sinh dự đoán tính chất của nó nhờ tính chất đường trung bình của tam giác: Cóthể đặt vấn đề như sau để lôi cuốn học sinh đi tìm kiến thức mới bằng câu hỏi:” Độ dàiđường trung bình của tam giác bằng một nửa cạnh đáy. Vậy độ dài đường trung bình củahình thang được tính như thế nào?”MN là đường trung bình của ∆ ABC
Xem thêm

14 Đọc thêm

BÁO CÁO SÁNG KIẾN Đề tài: TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH THỂ DỤC TIỂU HỌC.

BÁO CÁO SÁNG KIẾN Đề tài: TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH THỂ DỤC TIỂU HỌC.

BÁO CÁO SÁNG KIẾN: TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH THỂ DỤC TIỂU HỌC. Họ và tên: Đỗ Hải Đăng. Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Kim Đồng I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tên sáng kiến: TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH THỂ DỤC TIỂU HỌC. 2. Sự cần thiết (lý do nghiên cứu): Trò chơi là hoạt động rất quen thuộc gần gũi với con người. Bất cứ ai trong cuộc đời cũng từng tham gia các trò chơi. Cũng như lao động, học tập, trò chơi là một loại hình hoạt động sống của con người. Trò chơi có ý nghĩa đặc biệt đối với lứa tuổi trẻ em. Trò chơi tạo tất cả những điều kiện để trẻ em tự thể hiện nhu cầu tự nhiên về hoạt động, tạo ra ở trẻ em một số những rung động thực tế và quan trọng trong cuộc sống. Trong khi chơi, trẻ phản ánh hiện thực xung quanh, đồng thời thể hiện thái độ nhất định đối với nội dung của môn học. Cùng với học, chơi là nhu cầu không thể thiếu được của học sinh Tiểu học. Dù không phải là hoạt động chủ đạo, song vui chơi vẫn giữ một vai trò rất quan trọng trong hoạt động sống, vẫn có một ý nghĩa lớn lao với trẻ. Lý luận và thực tiễn đã chứng tỏ rằng: Nếu biết tổ chức vui chơi một cách hợp lí, đúng đắn thì đều mang lại hiệu quả về giáo dục. Qua các trò chơi, các em không những được phát triển về mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ mà còn được hình thành và phát triển được khả năng vận động của bản thân. Chính vì vậy, tổ chức trò chơi được sử dụng như là một phương pháp quan trọng để giảng dạy tốt môn thể dục. Với mục tiêu cung cấp cho học sinh những kĩ năng vận động cơ bản. Vậy mà việc dạy và học môn Thể dục hiện nay còn phần nào coi nhẹ, cứng nhắc. Trong giờ học, một số giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình, giảng giải. Hình thức tổ chức dạy học trong các hoạt động còn đơn điệu. Sau giờ học, học sinh không biết vận dụng kiến thức được học vào thực tế. Chẳng hạn, sau khi học bài Đá cầu thì các em không biết áp dụng những kĩ thuật đã học vào vui chơi đa số các em dùng tay để tâng cầu. Trước tình hình thực tế của nhà trường, khi nói đến giờ thể dục thì đa số học sinh ham thích học, ham thích luyện tập. Bên cạnh đó trong một lớp học vẫn còn bộ phận nhỏ học sinh do điều kiện sống của các em hay sự phát triển tâm sinh lí của các em còn chậm chưa phù hợp với kiến thức nội dung bài học hay tác phong chậm chạm chưa nhạy bén, chưa linh hoạt, ý thức tự tin trong học tập còn hạn chế dẫn đến sự tiếp thu bài học còn thụ động khi thực hiện các trò chơi. Do đó trò chơi không mang tính hấp dẫn, lôi cuốn, đúng luật chơi. Với những suy nghĩ và trăn trở là làm thế nào để giúp học sinh học tốt môn Thể dục nhất là tham gia tích cực trò chơi, tôi mạnh dạn áp dụng những kinh nghiệm của bản thân vào giảng dạy ở năm học 2016 – 2017. Tôi thấy đã có nhiều kết quả khả quan. Học sinh nắm chắc được kiến thức đã học, biết vận dụng tốt vào thực tế cuộc sống. Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài viết này tôi xin được chia sẻ một số kinh nghiệm “Tổ chức trò chơi trong chương trình thể dục tiểu học”. II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN. Để tổ chức tốt một giờ học, ngoài việc nắm mục tiêu bài học, tôi chủ động áp dụng hình thức tích cực hóa học sinh bằng các phương pháp trò chơi và tích cực tham gia vào quá trình nhận xét, đánh giá. Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên phải có sự chuẩn bị trước bài dạy, thiết bị, đồ dùng dạy học kể cả việc tập trước các động tác kĩ thuật mới đạt được kết quả mong muốn…Trong quá trình giảng dạy, qua những lần thành công và thất bại tôi đã rút ra kinh nghiệm và đưa ra một số biện pháp sau: 1. Sử dụng tốt phương pháp giảng dạy của môn Thể dục: Chúng ta đã biết kết quả cuối cùng của giờ học là học sinh phải có được những kiến thức ban đầu về môn thể dục và kĩ năng vận động của các động tác. Từ đó từng bước hình thành cho học sinh kĩ năng hoạt động đánh giá đối với những động tác trong môn Thể dục. Bước đầu hình thành thái độ có trách nhiệm đối với những động tác của mình. Trong các giờ học thể dục ngoài các phương pháp đặc trưng của môn học nhờ phương pháp trực quan, tôi thường chú trọng đến phương pháp tổ chức trò chơi học tập cho học sinh. Mục đích tổ chức trò chơi có thể là khởi động, giới thiệu bài; có thể là học sinh tìm hiểu, phát hiện nội dung bài học, củng cố kiến thức cho học sinh. Tuy nhiên để việc tổ chức cho học sinh chơi đạt hiệu quả giáo dục cao thì không phải là việc làm dễ thực hiện. Ở bài viết này tôi xin đề cập đến ba vấn đề cơ bản: Thứ nhất là: Chủ động khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất trang thiết bị day học. Thứ nhất là: Khắc phục khó khăn từ phía học sinh. Thứ nhất là: Khăn phục những khó khăn từ phía giáo viên. 2Biện pháp thực hiện: 2.1 Khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học: Điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học là yếu tố quan trọng. Nó có tác dụng phụ trợ đắc lực cho người giáo viên khi tiến hành tổ chức trò chơi học tập môn Thể dục. Ở trò chơi “Đua ngựa”, nếu nhà trường không có mô hình thì giáo viên có thể dùng giấy bìa cứng để làm mô hình đầu ngựa và dùng cây gỗ làm thân ngựa… hoặc trò chơi “Ném bóng trúng đích”, thì ta có thể dùng rổ và vòng tròn sắt làm rổ và lưới…hoặc trò chơi “Bịt mắt bắt dê” chung ta có thể tận dụng khăn tay hoặc mảnh vải để cho học sinh thực hiện trò chơi. Hằng ngày giáo viện, học sinh có thể sưu tầm thêm tranh ảnh của một số trò chơi dân gian để áp dụng vào buổi học. Tóm lại, tùy từng điều kiện hoàn cảnh mà người giáo viên có thể linh hoạt, củ động, sáng tạo tổ chức trò chơi cho học sinh sao cho đạt hiệu quả và yêu cầu giáo dục. 2.2 Giải pháp khắc phục những vướng mắt từ phía học sinh: Theo phương pháp dạy học mới thì học sinh là người chủ động lính hội kiến thức dựa trên sự hướng dẫn của giáo viên. Tuy nhiên, đa số học sinh ở trường là trẻ em vùng nông thôn nên các em ít khi được tiếp cận vào các hoạt động vui chơi. Khi tổ chức trò chơi cho học sinh, tôi thấy các em còn rất nhút nhát, thiếu tự tin. Tôi thường xuyên gần gũi trò chuyện với các em và đặc biệt quan tâm đến hai đối tượng hoc sinh: Một là học sinh có cá tính mạnh. Đối với học sinh có cá tính mạnh thì bên cạnh những việc nêu lên những điểm tốt của học sinh nay là nhanh nhẹn, hoạt bát, hăng hái trong các hoạt động thì giáo viên phải rèn luyện cho học sinh thói quen hoạt động có nề nếp, trật tự. Thường xuyên gặp gỡ, cởi mở để các em gần gũi, tìm cơ hội tôi nhắc khéo để các em dần điều chỉnh hành vi của mình. Khen ngợi khi em có sự tiến bộ. Hai là học sinh còn e dè nhút nhát trong các hoạt động. Ở những học sinh này, tôi thường xuyên quan tâm, thường xuyên ưu tiên cho các em tham gia vào các trò chơi. Trước hết nhằm tạo khả năng linh hoạt và rèn cho các em tính mạnh dạn. Tạo cơ hội để các em phát biểu, khen ngợi động viên các em. Như vậy, khi tổ chức trò chơi trong môn thể dục, người giáo viên cần phải động viên, khuyến khích tạo điều kiện cho tất cả mọi đối tượng học sinh đều được tham gia chơi. Lựa chọn trò chơi, lựa chọn các yêu cầu phù hợp, vừa sức với từng đối tượng học sinh sao cho sau trò chơi mỗi học sinh đều được học, đều nhận được ở đó những kiến thức, những nội dung mang ý nghĩa giáo dục. 2.3 Cách lựa chọn tổ chức trò chơi môn thể dục: 2.3.1. Lựa chọn xem nên tổ chức trò chơi vào lúc nào trong tiết dạy: Trong giờ học thể dục với đặc trưng của môn học, người giáo viên có thể tổ chức bất cứ lúc nào có thể là khởi động, sau khi tập một vài động tác, có thể là hoàn thành các bài tập, hoặc là phần củng cố cho học sinh. Tuy nhiên, thường thì chúng ta lựa chọn tổ chức trò chơi ở hai thời điểm: một là sau khi khởi động để tạo thêm hứng thú cho học sinh khi tập luyện, hai là ở phần củng cố bài học nhằn giúp các em thả lỏng sau khi tập luyện mệt mỏi và nhằm giúp các em khắc sâu kiến thức. Nếu giáo viên chuyển sang một hình thức học tập mới (trò chơi) thì các em sẽ được chuyển từ trạng thái “căng thẳng” sang một trạng thái “hứng phấn” phù hợp với đặc điểm tam sinh lí của trẻ em.
Xem thêm

Đọc thêm

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GD HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH LỚP 12

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GD HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH LỚP 12

Đề tài: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động GD Hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 của TrườngTHPT U Minh Thượng hiện naycác em, nhưng để các em có hoạt động hiệu quả trong nghề sau này thì đó là vấn đềkhó. Chính vì thế hoạt động giáo dục Hướng nghiệp đã được Bộ Giáo dục và Đàotạo đưa vào chương trình học chính khoá để giúp các em định hướng trong việc lựachọn nghề trong tương lai cho phù hợp.II- Lý do chọn đề tài:Chọn nghề là hướng đi cho cả cuộc đời, vì vậy, trước khi quyết định lựachọn một nghề cho xã hội thì học sinh cần phải có tri thức về nghề đó ( hay phảinhận thức về nghề) rồi mới có quyết định chọn nghề. Nhận thức là một thànhphần không thể thiếu được trong lựa chọn nghề, nếu học sinh nhận thức đầy đủđúng đắn về những yêu cầu của nghề, về những phẩm chất mà nghề yếu cầu đốivới cá nhân thì họ có sự lựa chọn nghề phù hợp với nguyện vọng của mình và xãhội, từ đó sẽ tích cực hoạt động để vươn tới chiếm lĩnh nghề một cách thiết thực.Hàng năm Trường THPT U Minh Thượng có hơn một trăm học sinh tốt nghiệpphổ thông trung học, những học sinh này đều mong muốn tìm cho mình mộtnghề ổn định nhưng chọn nghề nào trong cơ chế thị trường hiện nay đã ảnhhưởng rất nhiều đến suy nghĩ của học sinh. Vốn hiểu biết thực của học sinh vềnghề giúp các em lựa chọn đúng đắn một nghề phù hợp với mình và nghề đó cótồn tại lâu dài hay không? Việc lựa chọn nghề của các em chịu ảnh hưởng củanhững yếu tố nào và khả năng đáp ứng của họ ra sao? Và sao khi lựa chọn nghềcác em có thoả mãn không? Bản thân vừa làm công tác công tác chuyên mônvừa phụ trách hoạt động giáo dục Hướng nghiệp cho học sinh khối 12 củatrường thời gian qua. Trong những tiết dạy theo từng chủ đề tôi giới thiệu, phátphiếu thăm dò, phân tích đặc điểm của một số ngành, nghề phù hợp với nhu cầuthực tế địa phương và từng bước giúp các em trả lời được những câu hỏi trên,chọn ngành học vừa phù hợp với sức học, vừa với khả năng tài chính của gia
Xem thêm

10 Đọc thêm

Cùng chủ đề