6 LÀM RÕ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VĂN HÓA LÀ NỀN TẢNG TINH THẦN CỦA XÃ HỘI VỪA LÀ MỤC TIÊU VỪA LÀ ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "6 LÀM RÕ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VĂN HÓA LÀ NỀN TẢNG TINH THẦN CỦA XÃ HỘI VỪA LÀ MỤC TIÊU VỪA LÀ ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ":

Báo cáo thực tập: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý phong trào văn nghệ tại cơ sở

Báo cáo thực tập: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý phong trào văn nghệ tại cơ sở

Ở nông thôn vùng nông thôn miền núi các hoạt động văn hóa dân gian vấn đóng góp vai trò chủ đạo trong đời sống của người dân. Văn hóa dân gian thực sự là nguồn sữa mẹ nuôi sống đời sống văn hóa ở các thôn bản và cũng chính là cội nguồi của dân tộc. Vì vậy ngành văn hóa xác định nhiệm vụ trọng tâm của phong trào văn hóa văn nghệ của cơ sở và khởi nguồn định nguồn cho dòng chảy văn hóa dân gian phát triển. người dân vùng nông thôn miền núi khát khao sinh hoạt văn hóa cộng đồng, vì vậy nhu cầu sinh hoạt này mỗi thành viên, mỗi người dân tự hóa thân vừa là người thưởng thức vừa là người sáng tạo. Tập trung xây dựng các đội văn nghệ của các thôn bản và tổ chức các trò chơi dân gian. Khởi động và tổ chức các lễ hội truyền thống của từng làng, bản trên cơ sở giữ gìn và phát huy phong tục tập quán, bản sắc dân tộc. Tập trung xóa bỏ các hủ tục lạc hậu lựa chọn những giải pháp phù hợp với nhu cầu cuộc sống của nhân dân.Trong đó chú trọng các kênh truyền hình phát tiếng dân tộc như ở một số thôn, bản do điều kiện địa hình phức tạp, trình độ dân trí thấp nên chưa thành lập được đội văn hóa, văn nghệ cho thôn bane mình.Vì vậy chúng tôi cần phải tăng cường công tác nghiên cứu phát huy phong trào văn hóa, văn nghệ ở cở sở đối với vấn đề phát triển kinh tế xã hội và nhiệm vụ trọng yếu của người làm công tác quản lý văn hóa, trước hết đời hỏi sự cấp bách của cuộc sống càng cấp bách hơn khi trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nẩy sinh nhiều vấn đề mới, đòi hỏi phải có sự tham gia của người quản lý văn hóa, văn nghệ đáp ứng nhu cầu cuộc sống của nhân dân trong thôn, bản.1.1.2 Một số khái niệm, đặc điểm và vai trò cơ bản liên quan đến phong trào văn nghệ tại Xã Tà TổngHơn lúc nào hết văn hóa, văn nghệ là một bộ phận rất quan trọng trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Vì văn hóa, văn nghệ góp phần đác lực vào công cuộc xây dựng con người Việt Nam, lối sống lành mạnh nền đạo đức mới đời sống trí tuệ và tinh thần xã hội ngang tầng với ự nghiệp vĩ đại của nhân dân vì sự hưng thịnh và phùn vinh của tổ quốc. Trong sự nghiệp vĩ đại này xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm “ Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thức đẩy phát triển kinh tế xã hội”.Thật vậy văn hóa đối với mỗi chúng ta nhất thiết phải đi đôi với phát triển kinh tế, không chỉ tăng cường mà còn là phát trển, không chỉ nâng cao đời sống vật chất mà càn phải nâng cao cả đời sống tinh thần không phải chỉ lo tạo ra của cải lợi nhuận mà đánh mất con người, đánh mất những giá trị dân tộc và nhân văn. Văn hóa không chỉ đi đôi với kinh tế mà hơn thế nữa, văn hóa còn đóng góp một vai trò định hướng điều tiết sự phát triển kinh tế, phải tạo môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển kinh tế xã hội.Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ rõ: “ Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sác dân tộc xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển của xã hội”.Nền văn hóa tiên tiến đó là nền văn minh tinh thần ở trình độ cao, thể hiện những giá trị truyền thống của dân tộc hòa quyện làm một với tinh hoa của thế giới hiện đại, phát triển trên cơ sở mặt bằng dân trí cao và một nền khoa học công nghiệp đủ sức giải quyết các vấn đề của cuộc sống đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng tăng lên của toàn thể nhân dân.Một nền văn hóa tiên tiến phải là một nền văn hóa thấm nhuần nhưng tư tưởng yêu nước tiến bộ mà cốt lõi là chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu tất cả vì con người hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người.
Xem thêm

Đọc thêm

quan niệm xây dựng đảng

quan niệm xây dựng đảng

I Khái quát về văn hóa Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cùng với quá trình đặt trọng tâm vào đổi mới về kinh tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Quan điểm này đánh dấu sự phát triển tư duy lý luận của Đảng, đồng thời cũng là kết quả tổng kết thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội lần thứ VII (61991) đã xác định nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Như vậy, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm vụ trọng yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được bổ sung, phát triển đầy đủ và phong phú hơn trong các văn kiện của Đảng sau này. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã chỉ rõ: Nền văn hóa mà Đảng ta lãnh đạo toàn dân xây dựng là nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc. Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra nghị quyết riêng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định: Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội1. Tháng 72004, Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã ra Kết luận Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong những năm sắp tới. Đại hội lần thứ X của Đảng (42006) khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”2. Nhận thức toàn diện và sâu sắc về phương hướng, đặc trưng, nhiệm vụ và giải pháp để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những yêu cầu cấp thiết để tạo nên sự thống nhất và đồng thuận xã hội, tạo động lực cho việc triển khai các nghị quyết của Đảng về lĩnh vực văn hóa trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để chúng ta kế thừa những quan điểm và thành tựu lý luận này để xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam giai đoạn 2011 2020.
Xem thêm

Đọc thêm

Quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho sinh viên trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh

QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH – QUẢN TRỊ KINH DOANH

1. Lý do chọn đề tài Đất nước ta đang trong quá trình CNH, HĐH đất nước. Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trên con đường thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Trong quá trình đó con người là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại, như Nghị quyết đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xác định: “Con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển và là nhân tố quyết định mọi thắng lợi”. “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế. Nâng cao chất lượng giáo dục là vấn đề trọng tâm, then chốt trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị, giáo dục…của đất nước. Giáo dục Đại học nước ta hiện nay được Đảng và Nhà nước rất chú trọng và quan tâm. Một mặt cung ứng nguồn lực cần thiết cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, một mặt thúc đẩy tiến trình tiến tới văn hóa tri thức của nhân loại. Nâng cao và chuẩn hóa đào tạo quốc tế hóa trình độ đại học là nhiệm vụ trọng tâm, trong đó coi trọng công tác giáo dục phát triển toàn diện cho sinh viên. Hiện nay, đào tạo kỹ năng mềm cho thế hệ trẻ được rất nhiều cơ sở giáo dục, các trường Đại học, Cao đẳng ... chú trọng. Trong xu thế của một đất nước đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như Việt Nam thì vai trò của kỹ năng mềm càng trở thành vấn đề thiết yếu. Trong đó, kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc. Kỹ năng giao tiếp góp phần nâng cao chất lượng học tập nói riêng và hiệu quả công việc nói chung. SV trường cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh Hưng Yên có những đặc trưng riêng biệt với đặc thù của từng chuyên ngành đào tạo. Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng rất quan trọng, thiết yếu cần thiết để bổ sung thêm vào hệ thống các kỹ năng mà nhà trường đào tao cho sinh viên hiện nay. Chính từ nhận thức trên, với cương vị là giảng viên, ban chấp hành đoàn trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh nên tôi đã chọn vấn đề: “Quản lý giáo dục kỹ năng giao tiếp cho sinh viên trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh” làm đề tài nghiên cứu cho mình với mong muốn góp phần nâng cao khả năng thích ứng với cuộc sống của sinh viên nhà trường nói riêng và chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung, đáp ứng phần nào nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn mới.
Xem thêm

105 Đọc thêm

Luận án TS vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía bắc nước ta hiện nay

LUẬN ÁN TS VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY

1. tính cấp bách của đề tài theo quan điểm duy vật lịch sử, sự vận động và phát triển của xã hội loài người, xét đến cùng, do sản xuất xã hội quyết định, trong đó lực lượng sản xuất là yếu tố giữ vai trò tiên quyết. vì vậy, để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, mọi con đường, mọi biện pháp đều phải dẫn đến thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới do đảng cộng sản việt nam khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, đã đạt được những thành tựu rất to lớn và rất quan trọng, thế và lực của đất nước đã đủ vững mạnh để chuyển sang một giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm mục tiêu đến năm 2020 đưa đất nước về cơ bản trở thành một nước công nghiệp, từng bước hiện thực hóa lý tưởng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh như tinh thần nghị quyết đại hội ix của đảng đã đề ra. vào giai đoạn mới, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức, lực lượng sản xuất của đất nước cần phải phát triển nhanh hơn so với trước đây. việc phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đồng thời từng bước cải tạo quan hệ sản xuất sao cho phù hợp trình độ phát triển mới của nó là một yêu cầu tất yếu khách quan với những khó khăn và thách thức rất lớn. chúng ta đang chú trọng phát triển các yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất như nguồn nhân lực, khoa học, kỹ thuật và công nghệ... nhằm tạo ra một chất lượng mới cho lực lượng sản xuất, và trên thực tế, những năm gần đây, chúng ta đã thu được những thắng lợi đáng kể. tuy nhiên, sự phát triển của các vùng, các khu vực trong nước vẫn chưa đồng đều và còn một khoảng cách tương đối lớn. khu vực miền núi mặc dù chiếm đến 34 diện tích tự nhiên cả nước, nhưng lại là vùng có các chỉ số phát triển thấp và rất thấp. trong giai đoạn cách mạng mới, mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ chỉ thực sự
Xem thêm

177 Đọc thêm

QUAN điểm của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM về đổi mới tiểu luận cao học

QUAN điểm của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM về đổi mới tiểu luận cao học

MỞ ĐẦU Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam. Văn học, nghệ thuật Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ. Phấn đấu sáng tác nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, có tác dụng to lớn xây dựng con người; vừa có tác dụng định hướng, vừa đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần ngày càng cao của nhân dân. Phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng, đồng thời với tập trung xây dựng, phát triển văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp. Trên cơ sở giữ gìn, phát triển, phát huy những giá trị của văn học, nghệ thuật dân tộc, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, đồng thời kiên quyết ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn áp đặt, xâm lăng văn hóa của các thế lực thù địch. Tài năng văn học, nghệ thuật và vốn quý của dân tộc. Chăm lo phát hiện, bồi dưỡng, quý trọng và phát huy các tài năng văn học, nghệ thuật là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của Đảng, Nhà nước và của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp. Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do sáng tạo, tạo điều kiện thuận lợi phát huy tính độc lập, khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo của văn nghệ sĩ. Văn nghệ sĩ, người chiến sĩ xây dựng và phát triển nền văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cần phát huy lòng yêu nước nồng nàn, gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao trách nhiệm công dân, sáng tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị phụng sự đất nước và dân tộc. Trên cơ sở đó, tiếp tục nghiên cứu, quán triệt quan điểm của Đảng về phát triển văn học, nghệ thuật trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết đối với mỗi tổ chức đảng, đảng viên. Và em lựa chọn chuyên đề nghiên cứu này để có nhận thức sâu sắc hơn về sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Trong quá trình nghiên cứu tổng hợp, vẫn còn có những hạn chế nhất định, em kính mong Cô giáo góp ý, chỉnh sửa để chuyên đề được hoàn thiện hơn. Em trân trọng cảm ơn Cô giáo.
Xem thêm

Đọc thêm

tiểu luận cao học QUAN điểm của ĐẢNG, NHÀ nước TA về PHÁT TRIỂN văn HOÁ TRONG GIAI đoạn mới

tiểu luận cao học QUAN điểm của ĐẢNG, NHÀ nước TA về PHÁT TRIỂN văn HOÁ TRONG GIAI đoạn mới

NỘI DUNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ TRONG GIAI ĐOẠN MỚI 1. Quan điểm cơ bản của Đảng về xây dựng, phát triển văn hoá trong giai đoạn mới 1.1 Phương hướng chung về phát triển văn hóa Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Đảng ta đã khẳng định nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1998) đưa ra đến nay vẫn là Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa ở nước ta, cần được kế thừa, bổ sung và phát huy trong thời kỳ mới. Văn kiện Đại hội X (2006) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” . Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua đã xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển” . Đảng ta đã xác định: “Phương hướng chung của sự nghiệp văn hoá nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh. xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” . Về phương hướng xây dựng và phát triển văn hóa hiện nay, chúng ta cần nhấn mạnh hai điểm sau: Thứ nhất, trong thời kỳ đổi mới hiện nay, chúng ta phải phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ tự cường để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Mặc dù đây là thời kỳ hoà bình và xây dựng đất nước nhưng không phải là thời kỳ nghỉ ngơi, hưởng lạc mà là thời kỳ mở ra một cuộc chiến đấu mới chống lại nghèo nàn, lạc hậu, đưa đất nước phát triển giàu mạnh. Trong cuộc chiến đấu quyết liệt này, chủ nghĩa yêu nước, sự thông minh và giàu năng lực sáng tạo của nhân dân, truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập, tự chủ, tự cường là cơ sở tạo nên sự thống nhất về ý chí, bản lĩnh của dân tộc trong quá trình đấu tranh gian khổ, vất vả, đầy thách thức để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, giáo dục truyền thống yêu nước, bổ sung những nội dung mới vào khái niệm yêu nước, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với tư tưởng cách mạng và tiến bộ của thời đại; giáo dục tinh thần tự hào, tự tin dân tộc, tin vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn; bồi dưỡng quyết tâm chính trị, xây dựng ý chí và bản lĩnh của cả dân tộc trong cuộc chiến đấu mới này là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân ta.
Xem thêm

Đọc thêm

tiểu luận cao học vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong quá trình đổi mới kinh tế ở thanh hóa hiện nay

tiểu luận cao học vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong quá trình đổi mới kinh tế ở thanh hóa hiện nay

I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, là cẩm nang giúp chúng ta tránh được những đánh giá phiến diện, sai lệch, giản đơn về sự vật, hiện tượng. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến còn là một trong những nội dung quan trọng của phép biện chứng duy vật mácxít. Nguyên lý này chỉ rõ tất cả các sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ. Vì vậy nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật có vai trò to lớn trong chỉ đạo hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người Phải quán triệt nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cũng như quán triệt quan điểm toàn diện để giúp chúng ta tránh đánh giá phiến diện, siêu hình, một chiều, nếu không sẽ dẫn đến cái nhìn chủ quan trong nhận thức. Vì tính cấp thiết đó mà nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến. Ngày nay khi đất nước đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế, trong bối cảnh có nhiều cơ hội và thách thức lớn. Thực tiễn đó đặt ra nhiều vấn đề mới đối với sự lãnh đạo của Đảng, trong đó vấn đề trọng tâm là đổi mới kinh tế, đây là nhiệm vụ then chốt để đảm bảo đưa nước ta sánh vai với các cường quốc trên thế giới. Trong đại hội IX Đảng đề ra mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001 2010) là: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất tinh thần của nhân dân tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được hình thành về cơ bản, vị thế của nước ta trên thị trường quốc tế được nâng cao”. Tiếp thu quan điểm của Đại hội IX, Đảng ủy Thanh Hóa đã không ngừng cố gắng để đẩy mạnh công cuộc xây dựng và phát triển nhằm đưa Thanh Hóa trở thành một trung tâm kinh tế văn hóa xã hội phía Bắc; phấn đấu lên đô thị loại II. Để thực hiện được điều này trong những năm tới thì một trong những vấn đề cần quan tâm giải quyết đó là phải có những phương hướng đúng trong quá trình đổi mới nền kinh tế của tỉnh để đề ra những chính sách, quan điểm, biện pháp phát triển kinh tế toàn diện. Thực tế sau những năm đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo, đã được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đạt được những thành tựa to lớn và có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua tốc độ phát triển kinh tế đồng đều và bền vững của tỉnh Thanh Hóa đã mang lại nhiều thành quả quan trọng. Điều này cho thấy sự đúng đắn, kịp thời, hợp lý của Đảng bộ và năng lực thực tiễn của tỉnh Thanh Hóa. Tỉnh đang dần từng bước khẳng định vị thế của mình trong sự phát triển chung của toàn quốc, trong thời kỳ hội nhập kinh tế. Sở dĩ đạt được những thành tựu như ngày nay là do sự nổ lực rất lớn của Đảng ủy và nhân dân Thanh Hóa, trong đó vấn đề nhìn nhận thực tế những khó khăn và thuận lợi của tỉnh trong sự đổi mới kinh tế đã tạo ra cơ sở lý luận vững chắc áp dụng vào thực tế. Việc vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin, để thấy được những thành tựu đạt được sau những năm đổi mới cũng như việc nghiên cứu nhằm định hướng những bước phát triển đi lên của tỉnh nhằm làm rõ tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin và chỉ ra sự vận dụng quan điểm toàn diện vào sự đổi mới kinh tế ở tỉnh Thanh Hóa là đúng đắn, hợp với sự vận động đi lên trong phát triển kinh tế xã hội của cả nước và thế giới. Những vấn đề nêu trên cũng là lí do tôi chọn đề tài: “Vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong quá trình đổi mới kinh tế ở Thanh Hóa hiện nay” làm khóa luận triết học của mình. Về mặt lý luận việc nghiên cứu đề tài phần nào giúp ta hiểu sâu sắc hơn lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin nói chung, nguyên lý mối liên hệ phổ biến của chủ nghĩa Mác Lênin nói riêng. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đổi mới kinh tế theo nguyên lý mối liên hệ phổ biến có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế, góp phần phát triển đất nước cũng như việc hoạch định những chính sách đối với các thành phần kinh tế ở tỉnh nhà
Xem thêm

Đọc thêm

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Bài 3 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM Gv: Lý Kim Cương I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 1. Tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (sinh viên tự nghiên cứu ) Trên cơ sở nghiên cứu các học thuyết MácLênin về chủ nghĩa xã hội: Học thuyết về hình thái kinh tếxã hội Học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Lý luận về cách mạng không ngừng  Hồ Chí Minh nhận thức được xu thế phát triển tất yếu của lịch sử: “Sớm hoặc muộn, các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội”. 2. Đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam a. Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở VN Tiếp cận thông qua nghiên cứu hình thái kinh tếxã hội  nhận thức quy luật phát triển của lịch sử xã hội loài người  hiểu về chủ nghĩa xã hội và thấy chủ nghĩa xã hội là một tất yếu lịch sử. Tiếp cận từ những đặc điểm lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc, đối chiếu với bản chất, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội: + Tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ khát vọng giải phóng dân tộc  Hồ Chí Minh thấy chủ nghĩa xã hội chính là con đường để giải phóng dân tộc ta: “chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, HN2000, t12, tr 474). + Tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ phương diện đạo đức  Hồ Chí Minh thấy chủ nghĩa xã hội là một xã hội đạo đức cao, một xã hội mà trong đó mỗi người biết vì mọi người. Do đó, chủ nghĩa xã hội đối lập với chủ nghĩa cá nhân, đồng thời chủ nghĩa xã hội tôn trọng con người và những lợi ích cá nhân chính đáng của con người. Người nói: “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t9, tr 291). “Không có chế độ xã hội nào tôn trọng con người, chú trọng xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t9, tr 291). + Tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ đặc điểm và truyền thống lịch sử, văn hóa của người Việt (tính cộng đồng, chế độ ruộng công làng xã, xã hội thuộc địa …)  Hồ Chí Minh thấy CNXH dễ thích ứng với châu Á hơn là ở châu Âu. Tóm lại, chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội tốt đẹp, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam: “Sớm hoặc muộn, các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội”. b. Bản chất và đặc trưng tổng quát của chủ nghĩa xã hội Bản chất của chủ nghĩa xã hội: chủ nghĩa xã hội là một xã hội giàu có, văn minh, công bằng, hạnh phúc Hồ Chí Minh: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội là làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho ai cũng có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời tươi vui, hạnh phúc”; “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh”… Đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: Chủ nghĩa xã hội là một chế độ chính trị do nhân dân làm chủ Địa vị của dân: dân là người chủ của đất nước. Quyền hạn, trách nhiệm của dân: dân làm chủ (về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội). nhà nước là một nhà nước của dân, do dân, vì dân; nhà nước phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội có nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của khoa học kỹ thuật + Khoa học – kỹ thuật phát triển  nâng cao năng suất lao động  nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân. + Chỉ khi khoa họckỹ thuật phát triển  phát triển nền sản xuất với quy mô lớn  đặt ra yêu cầu cải tạo quan hệ sản xuất và cũng là tiền đề hình thành quan hệ sản xuất XHCN. (Lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất ) Chủ nghĩa xã hội là một chế độ không còn người bóc lột người Thực hiện chế độ sở hữu xã hội về những tư liệu sản xuất chủ yếu Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động “Chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng… làm của chung, là ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất n hiên trừ những người già cả, đau yếu và trẻ em” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t8, tr 226). Chủ nghĩa xã hội là một xã hội phát triển cao về văn hóa, đạo đức Chủ nghĩa xã hội có hệ thống quan hệ xã hội lành mạnh, công bằng, bình đẳng, không còn áp bức, bóc lột, bất công, không còn sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc, giữa thành thị và nông thôn, con người được giải phóng, có điều kiện phát triển toàn diện, hài hòa trong sự phát triển của tự nhiên và xã hội. 3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam a. Về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Mục tiêu bao trùm, khái quát: Độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân. “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t10, tr 271); Mục tiêu cụ thể Về chính trị: xây dựng một chế độ chính trị thực sự do nhân dân lao động làm chủ; xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nhà nước phải phát huy quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân; đồng thời thực hiện chuyên chính với những ai chống lại lợi ích của đại đa số nhân dân, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa. Về kinh tế: xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có công nông nghiệp hiện đại, có khoa họckỹ thuật tiên tiến, nhằm không ngừng cải thiện đời sống nhân dân. + Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất + Xây dựng một cơ cấu kinh tế cân đối, hợp lý + Kết hợp hài hòa các lợi ích giữa cá nhân và tập thể (thông qua chế độ phân phối sản phẩm xã hội một các công bằng, hợp lý). Về văn hóaxã hội: xây dựng nền văn hóa mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, các chính sách xã hội được quan tâm thực hiện. b. Về động lực của chủ nghĩa xã hội ở VN Hệ thống động lực của chủ nghĩa xã hội rất phong phú, đa dạng, bao gồm: động lực vật chất, động lực tinh thần, động lực bên trong, động lực bên ngoài... Trong đó: + Con người là động lực quan trọng nhất có biện pháp để phát huy nhân tố con người Các biện pháp để phát huy nhân tố con người? (biện pháp để tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân? để phát huy sức mạnh cá nhân người lao động?) + Động lực chính trị: Tăng cường sức mạnh của hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trịxã hội) + Động lực kinh tế + Động lực văn hóa + Động lực bên ngoài Khắc phục các trở lực đối với chủ nghĩa xã hội: II. CON ĐƯỜNG, BIỆN PHÁP QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 1. Con đường quá độ lên CHủ NGHĨA XÃ HộI ở Việt Nam a. Thực chất, đặc điểm và loại hình của thời kỳ quá độ Theo Hồ Chí Minh, con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường quá độ gián tiếp, từ một xã hội tiền tư bản, nông nghiệp lạc hậu, sau khi giành độc lập sẽ tiến thẳng lên Chủ nghĩa xã hội. Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xác định định hướng xã hội chủ nghĩa, bỏ qua chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa; đồng thời tích cực chuẩn bị các tiền đề mọi mặt cho chủ nghĩa xã hội. Đặc điểm lớn nhất của Việt Nam trong thời kỳ quá độ là: từ môt nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên CNXH, không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. b. Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam: Nhiệm vụ lịch sử Xây dựng nền tảng vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, xây dựng các tiền đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho chủ nghĩa xã hội. Vừa cải tạo xã hội cũ, vừa xây dựng xã hội mới về mọi mặt, trong đó, xây dựng là trọng tâm. Tính chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: khó khăn, phức tạp, lâu dài. Nguyên nhân: Xóa bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới là một quá trình cải biến cách mạng đầy khó khăn, phức tạp. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một vấn đề mới, ta chưa có kinh nghiệm, phải vừa học, vừa làm. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội thường xuyên bị các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội chống đối, phá hoại. c.Quan điểm Hồ Chí Minh về nội dung xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam: + Trong lĩnh vực chính trị: tăng cường sức mạnh của hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận dân tộc thống nhất). + Nội dung kinh tế: Phát triển lực lượng sản xuất? Quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội? Cơ cấu kinh tế? + Trong lĩnh vực văn hóaxã hội? 2. Biện pháp Nguyên tắc phương pháp luận: + Xây dựng chủ nghĩa xã hội cần nắm chắc các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa MácLênin, kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm các nước trên thế giới, nhưng phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ, đổi mới, sáng tạo, tránh giáo điều, máy móc. + Luôn luôn xuất phát từ thực tiễn đất nước và tôn trọng quy luật khách quan để xác định bước đi, biện pháp, cách thức tiến lên chủ nghĩa xã hội. Về bước đi trong xây dựng chủ nghĩa xã hội: Từ đặc điểm của thời kỳ quá độ ở Việt Nam, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một quá trình lâu dài: + Phải làm dần dần, qua nhiều giai đoạn, nhiều bước, tuỳ điều kiện khách quan mà xác định mục tiêu của từng giai đoạn cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tếxã hội, với trình độ nhận thức của quần chúng, trình độ tổ chức và quản lý xã hội của cán bộ. + Tiến nhanh, tiến mạnh nhưng phải tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Cách thức: có mô hình, con đường riêng phù hợp với điều kiện thực tiễn. Biện pháp: + Dựa vào dân, lấy dân làm gốc + Sản xuất đi đôi với thực hành tiết kiệm + Xây dựng kế hoạch cân đối, tỉ mỉ, thiết thực + Vừa cải tạo xã hội cũ, vừa xây dựng xã hội mới, trong đó xây dựng là trọng tâm. KẾT LUẬN Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, cần chú ý giải quyết các vấn đề sau: 1. Trong quá trình đổi mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa MácLê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại sao phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội? Những vấn đề đặt ra trong mục tiêu định hướng xã hội chủ nghĩa? 2. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ các ngồn lực, trước hết là nguồn lực bên trong để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 3. Trong quá trình đổi mới, phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. 4. Xây dựng Đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy nhà nước, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, thực hiện cần kiệm để xây dựng chủ nghĩa xã hội. CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN 1. Làm rõ tính tất yếu khách quan, hợp quy luật của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh. 2. Trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về những đặc trưng bản chất, về bước đi và biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng ta đã vận dụng những quan điểm đó vào công cuộc đổi mới hiện nay như thế nào? 3. Phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Làm thế nào để phát huy động lực con người Việt Nam trong thời kỳ mới hiện nay (thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước)?
Xem thêm

Đọc thêm

Tuyển tập 150 tiểu luận triết học p1 (Đề 01 đến 10)

TUYỂN TẬP 150 TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC P1 (ĐỀ 01 ĐẾN 10)

DANH SÁCH TIỂU LUẬNĐỀ 01. Bản sắc dân tộc trong nền KT mởĐỀ 02. Đấu tranh giai cấpĐỀ 03. Công pháp và tư pháp trong hiến pháp TBCNĐỀ 04. LLSX và các quan hệ SXĐỀ 05. Lý luận của chủ nghĩa Mác con người và vấn đề con người trong sự nghiệp CNH HĐH đất nướcĐỀ 06. Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con ngườiĐỀ 07. Lý luận nhận thức, vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người cho sự phát triển của KT VN trước và sau mười năm đổi mới đến nayĐỀ 08. Lý luận thực tiễn và sự vận dụng của chủ nghĩa Mác về con người vào quá trình đổi mới ở VNĐỀ 09. Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình XD nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở VNĐỀ 10. Máy móc đạt công nghiệp và vai trò của nó đối với VN ĐỀ 01. Tiểu luận về bản sắc dân tộc trong nền kinh tế mởMỤC LỤCA. Đặt vấn đề B . Giải quyết vấn đề Chương I. Quan niệm về bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở .I . Bản sắc văn hoá dân tộc là gì ? II . Bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở Chương II: Tại sao phải đưa ra vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở .I . Tính tất yếu của việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc .II . Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc . Chương III : Bản sắc dân tộc trong quá trình phát triển của đất nước.I . Vai trò của bản sắc văn hoá dân tộc trong nền kinh tế thị trường II . Phát huy nội lực văn hóa trong quá trình phát triển . III . Toàn cầu hoá và bản sắc văn hoá dân tộc . Chương IV : Một số giải pháp nhằm phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ phát triển .I . Một số giải pháp trước mắt để xây dựng một nền văn hóa tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc .II . Biện pháp khắc phục những mặt tiêu cực trong đời sống văn hoá xã hội của đất nước.C. Kết thúc vấn đề A. Đặt vấn đề Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước , nền văn hoá Việt Nam đã hình thành và phát triển . Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ , kiên cường , nhân dân ta đã xây đắp nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn vản sắc của dân tộc , chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam . Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước . Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hoá ấy mà dù có nhiều thời kỳ bị đô hộ , dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy bản sắc của mình , chẳng những không bị đồng hoá , mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập cho dân tộc , lấy sức ta mà giải phóng cho ta . Phát huy truyền thống văn hoá dân tộc , dưới sự lãnh đạo của Đảng , là nhân lên sức mạnh của nhân dân ta để vượt qua khó khăn , thử thách , xây dựng và phát triển kinh tế xã hội , giữ vững quốc phòng , an ninh , mở rộng quan hệ đối ngoại , tạo ra thế và lực mới cho đất nước ta đI vào thế kỷ XXI . Công cuộc đổi mới toàn diện , đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước , xây dựng chủ nghĩa xã hội , thực hiện thắng lợi mục tiêu “ dân giàu , nước mạnh , xã hội công bằng văn minh” , đòi hỏi chúng ta phảI xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc , xây dựng nền tảng tinh thần của dân tộc ta , coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội . Đảng và Nhà nước ta đang tiến tới xây dựng một nền kinh tế mở ,hội nhập với Thế giới . Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đại biến chuyển nhanh chóng , đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá , sự hội nhập khu vực và thế giới với một tốc độ rất nhanh , từ đó nảy sinh nhu cầu mở rộng giao lưu giữa các nền văn hoá . Trong khi chú trọng giữ gìn , phát huy các truyền thống văn hoá tinh thần tốt đẹp của dân tộc , văn hóa Việt Nam cần từng bước mở rộng giao lưu quốc tế , tiếp thụ những tinh hoa văn hoá thế giới .......................
Xem thêm

213 Đọc thêm

khoá luận tốt nghiệp Đảng bộ huyện như xuân, tỉnh thanh hoá lãnh đạo thực hiện cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

khoá luận tốt nghiệp Đảng bộ huyện như xuân, tỉnh thanh hoá lãnh đạo thực hiện cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Văn hoá theo nghĩa rộng bao gồm hệ tư tưởng, đạo đức, lối sống, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, văn học nghệ thuật, thông tin đại chúng, các thiết chế văn hoá và giao lưu văn hoá với nước ngoài. Theo nghĩa rộng này, văn hoá bao quát và có những tác động không nhỏ đến mọi lĩnh vực của đời sống con người. Đó là kết quả của quá trình hướng tới cái chân thiện mỹ của con người. Văn hoá là nền tảng tinh thần, là mục tiêu và là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người. Văn hoá đóng vai trò quan trọng với sự phát triển của xã hội. Xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Xem thêm

Đọc thêm

QLNN DOI VOI DOANH NGHIEP CO VON FDI TAI DA NANG

QLNN DOI VOI DOANH NGHIEP CO VON FDI TAI DA NANG

Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ đại hội, từ Đại hội VI lịch sử đại hội mở ra thời kỳ đổi mới, đến nay đã luôn kiên trì và không ngừng phát triển đường lối đối ngoại đổi mới, trong đó có đối ngoại về kinh tế. Quan điểm chủ đạo của chính sách kinh tế đối ngoại nước ta được Đảng ta khẳng định là: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và các tranh chấp bằng thương lượng”. Riêng về kinh tế, Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ: “mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại chủ động, tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế”. Đại hội IX tiếp tục khẳng định: “Phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững”. Nghị quyết 7 của Bộ Chính trị khóa IX một lần nữa khẳng định: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng XHCN bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”. Từ những quan điểm chỉ đạo của Đảng, ta nhận thấy việc hội nhập kinh tế quốc tế là điều tất yếu khách quan. Hơn nữa, việc hội nhập kinh tế quốc tế sẽ thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội của một quốc gia đi lên, và quan trọng là sẽ có nhiều cơ hội thu hút đầu tư từ nước ngoài đổ vào, đặc biệt là những nước còn chậm phát triển. Việt Nam ngoài những thuận lợi đáng kể về mặt vị trí địa lý, tự nhiên, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thì việc là thành viên của ASEAN, APEC và WTO thì việc hội nhập kinh tế quốc tế và thu hút đầu tư là cần thiết. Qua thực tiễn 15 năm đổi mới, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng ta đã xác định nền kinh tế nước ta gồm 5 thành phần: Kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đà Nẵng là thành phố nằm ở trung độ của đất nước, nằm trên trục đường chính Bắc Nam về đường bộ (Quốc lộ 1A), đường biển và đường hàng không. Bên cạnh đó là một tiềm năng du lịch đáng kể với danh lam thắng cảnh hùng vĩ, những bãi biển đẹp mơ mộng quyến rũ, gần kề với những di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng như Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn… Tháng 9 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm 5 tỉnh và thành phố: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định nhằm phát huy tiềm năng, vị trí địa lý và các lợi thế so sánh của vùng, từng bước phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thành một trong những vùng phát triển năng động của cả nước. Trong đó, Đà Nẵng được xác định là thành phố đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên; để làm được điều đó Đà Nẵng phải phát triển nhanh và mạnh và bền vững về mọi mặt. Tất nhiên, điều này phụ thuộc rất lớn vào con người, cơ sở vật chất và trình độ khoa học công nghệ của thành phố, nhưng một yếu tố quan trọng không thể thiếu đó là nguồn vốn để phát triển. Có thể nói trong thời gian qua Đà Nẵng đã thu hút được rất nhiều lượng vốn đầu tư, đặc biệt là từ nước ngoài. Đầu tư nước ngoài sẽ giúp thành phố Đà Nẵng bổ sung vốn đầu tư, tiếp nhận công nghệ, kỹ thuật cao, tiên tiến, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo nguồn thu cho ngân sách và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chính nhờ nguồn vốn phong phú này và sự nổ lực của ban lãnh đạo cũng như toàn dân thành phố cùng với những tiềm năng phong phú mà Đà Nẵng đã có sự chuyển mình rất đáng kể trong thời gian qua. Và từ đó việc thu hút đầu tư nước ngoài đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển KT XH của thành phố Đà Nẵng. Hơn nữa, hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm cho tình hình kinh tế có sự chuyển biến mạnh mẽ với sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, giữa các thành phần kinh tế; giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Tuy nhiên, trong hoạt động thu hút và quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn còn những hạn chế, yếu kém; trong đó công tác QLNN cũng là một nguyên nhân quan trọng. Là một đứa con được sinh ra và lớn lên tại Đà Nẵng, SVTT cũng mong muốn đóng góp chút sức mình vào công cuộc đổi mới của thành phố. Chính vì thế SVTT chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là “Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” nhằm tìm ra các nguyên nhân gây ra tình trạng hạn chế, yếu kém của công tác QLNN và một số giải pháp để khắc phục tình trạng trên, từ đó sẽ tạo nên động lực lớn cho việc thu hút FDI và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố trong tương lai.
Xem thêm

99 Đọc thêm

Một số giải pháp nhằm phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ phát triển

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ PHÁT TRIỂN

Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước , nền văn hoá Việt Nam đã hình thành và phát triển . Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ , kiên cường , nhân dân ta đã xây đắp nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn vản sắc của dân tộc , chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam . Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước . Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hoá ấy mà dù có nhiều thời kỳ bị đô hộ , dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy bản sắc của mình , chẳng những không bị đồng hoá , mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập cho dân tộc , lấy sức ta mà giải phóng cho ta . Phát huy truyền thống văn hoá dân tộc , dưới sự lãnh đạo của Đảng , là nhân lên sức mạnh của nhân dân ta để vượt qua khó khăn , thử thách , xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội , giữ vững quốc phòng , an ninh , mở rộng quan hệ đối ngoại , tạo ra thế và lực mới cho đất nước ta đI vào thế kỷ XXI . Công cuộc đổi mới toàn diện , đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước , xây dựng chủ nghĩa xã hội , thực hiện thắng lợi mục tiêu “ dân giàu , nước mạnh , xã hội công bằng văn minh” , đòi hỏi chúng ta phảI xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc , xây dựng nền tảng tinh thần của dân tộc ta , coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội . Đảng và Nhà nước ta đang tiến tới xây dựng một nền kinh tế mở ,hội nhập với Thế giới . Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đại biến chuyển nhanh chóng , đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá , sự hội nhập khu vực và thế giới với một tốc độ rất nhanh , từ đó nảy sinh nhu cầu mở rộng giao lưu giữa các nền văn hoá . Trong khi chú trọng giữ gìn , phát huy các truyền thống văn hoá tinh thần tốt đẹp của dân tộc , văn hóa Việt Nam cần từng bước mở rộng giao lưu quốc tế , tiếp thụ những tinh hoa văn hoá thế giới và thời đại . Nền văn của chúng ta sẽ đa dạng hơn , phong phú hơn , tiên tiến hơn nhờ hấp thụ được những yếu tố lành mạnh của văn hoá thế giới . Trong nền kinh tế mở như nước ta hiện nay luôn luôn có sự trao đổi giao lưu với thế giới trên mọi lĩnh vực , trong đó có lĩnh vực văn hoá . Chúng ta không thể tránh khỏi việc du nhập những phong tục tập quán của các nước , các dân tộc trên thế giới . Tuy nhiên , không vì thế mà chúng ta quên đi truyền thống của đân tộc mình , cái gốc của mình . Việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở là hết sức cần thiết . ĐIều đó giúp chúng ta hoà nhập chứ không hoà tan , không bị mất đi cái gốc của mình. Chúng ta một mặt tiếp thu những nét tinh hoa trong văn hoá của các nước , một mặt giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc để làm cho đời sống tinh thần của chúng ta ngày càng phong phú hơn.
Xem thêm

26 Đọc thêm

bản sắc văn hoá dân tộc việt nam

BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC VIỆT NAM

Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước , nền văn hoá Việt Nam đã hình thành và phát triển . Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ , kiên cường , nhân dân ta đã xây đắp nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn vản sắc của dân tộc , chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam . Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước . Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hoá ấy mà dù có nhiều thời kỳ bị đô hộ , dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy bản sắc của mình , chẳng những không bị đồng hoá , mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập cho dân tộc , lấy sức ta mà giải phóng cho ta . Phát huy truyền thống văn hoá dân tộc , dưới sự lãnh đạo của Đảng , là nhân lên sức mạnh của nhân dân ta để vượt qua khó khăn , thử thách , xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội , giữ vững quốc phòng , an ninh , mở rộng quan hệ đối ngoại , tạo ra thế và lực mới cho đất nước ta đI vào thế kỷ XXI . Công cuộc đổi mới toàn diện , đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước , xây dựng chủ nghĩa xã hội , thực hiện thắng lợi mục tiêu “ dân giàu , nước mạnh , xã hội công bằng văn minh” , đòi hỏi chúng ta phảI xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc , xây dựng nền tảng tinh thần của dân tộc ta , coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội . Đảng và Nhà nước ta đang tiến tới xây dựng một nền kinh tế mở ,hội nhập với Thế giới . Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đại biến chuyển nhanh chóng , đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá , sự hội nhập khu vực và thế giới với một tốc độ rất nhanh , từ đó nảy sinh nhu cầu mở rộng giao lưu giữa các nền văn hoá . Trong khi chú trọng giữ gìn , phát huy các truyền thống văn hoá tinh thần tốt đẹp của dân tộc , văn hóa Việt Nam cần từng bước mở rộng giao lưu quốc tế , tiếp thụ những tinh hoa văn hoá thế giới và thời đại . Nền văn của chúng ta sẽ đa dạng hơn , phong phú hơn , tiên tiến hơn nhờ hấp thụ được những yếu tố lành mạnh của văn hoá thế giới . Trong nền kinh tế mở như nước ta hiện nay luôn luôn có sự trao đổi giao lưu với thế giới trên mọi lĩnh vực , trong đó có lĩnh vực văn hoá . Chúng ta không thể tránh khỏi việc du nhập những phong tục tập quán của các nước , các dân tộc trên thế giới . Tuy nhiên , không vì thế mà chúng ta quên đi truyền thống của đân tộc mình , cái gốc của mình . Việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong thời kỳ nền kinh tế mở là hết sức cần thiết . ĐIều đó giúp chúng ta hoà nhập chứ không hoà tan , không bị mất đi cái gốc của mình. Chúng ta một mặt tiếp thu những nét tinh hoa trong văn hoá của các nước , một mặt giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc để làm cho đời sống tinh thần của chúng ta ngày càng phong phú hơn.
Xem thêm

26 Đọc thêm

tìm hiểu đường lối xây dựng phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội của đảng ta hiện nay

TÌM HIỂU ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA VÀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA ĐẢNG TA HIỆN NAY

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập tại trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM cơ sở Thanh Hóa. Ban giám hiệu nhà trường, Khoa cơ bản, các thầy cô bên khoa nhất là cô TRẦN THỊ HƯƠNG đã dạy và hướng dẫn em, tạo điều kiện liên hệ cho em, sinh viên của trường có được một môi trường tìm hiểu những kiến thức sâu rộng, em xin được cảm ơn các thầy cô bên Thư viện đã cho em mượn, tham khảo những tài liệu để em học tập và làm bài tiểu luận này. Tuy đã có rất nhiều cố gắng và nổ lực trong quá trình làm bài tiểu luận, xong không thể tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình tìm hiểu,trình bày và đánh giá. Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô cùng tất cả các bạn đọc. Em xin chân thành cảm ơn MỞ ĐẦU Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, bên cạnh những chủ trương, đường lối xây dựng hệ thống chính trị và phát triển kinh tế xã hội, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng nền văn hoá Việt Nam vừa mang tính dân tộc, vừa hiện đại, mang tính chất xã hội chủ nghĩa. Văn hoá luôn được xác định là một mục tiêu, thậm chí là mục tiêu bao trùm của sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời là động lực, nền tảng vững chắc nhất của cách mạng. văn hoá là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, vậy nên em muốn “tìm hiểu đường lối xây dựng phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội của đảng ta hiện nay” và có thể truyền tải được cho tất cả mọi người biết. MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN ………………………………………………………………………. 1 MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………..2 NỘI DUNG . ………………………………………………………………………….3 PHẦN I: QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA ……………………………………..3 I. THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI ………………………………………………….3 II. TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI . ………………………………………………...7 PHẦN II: QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ CHỦ TRƯƠNG GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI ………………………………………………………….....13 I. THỜI KỲ ĐỔI MỚI …………………………………………………………..13 II. TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI …………………………………………………15 KẾT LUẬN …………………………………………………………………………19 LỜI NHẬN XÉT CỦA GVHD ………………………………………………….…. 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………...………………….. 21
Xem thêm

22 Đọc thêm

Tóm tắt luận văn: Bảo tồn và phát huy giá trị hát Quan làng của dân tộc Tày ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang hiện nay

Tóm tắt luận văn: Bảo tồn và phát huy giá trị hát Quan làng của dân tộc Tày ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang hiện nay

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hát Quan làng là một lĩnh vực sinh hoạt văn hóa và là nền tảng sinh hoạt tinh thần của dân tộc Tày. Hát Quan làng phản ánh trình độ phát triển trong sinh hoạt cộng đồng và trong lễ cưới của dân tộc Tày. Hát Quan làng có giá trị về văn hoá học, mỹ học, triết học và được hình thành trong lịch sử lâu dài của cộng đồng dân tộc Tày. Hát Quan làng được đúc kết từ kinh nghiệm sống và lưu truyền qua nhiều thế hệ, gắn bó máu thịt với con người tạo nên đặc thù của dân tộc Tày. Giá trị hát Quan làng thể hiện bản sắc, làm nên diện mạo, cốt cách dân tộc Tày và cái đẹp thẩm mỹ về con người trong lễ cưới. Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn và phát huy bản sắc hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày là cần thiết và cấp bách. Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế xã hội và sự chuyển đổi của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN, đã và đang tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần của xã hội. Nhiều vấn đề đặt ra đối với xây dựng và giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế, văn hoá xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi… Vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày nói riêng đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Về nguyên tắc, muốn giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc, thì mỗi quốc gia, mỗi dân tộc phải biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, ngược lại phải biết bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, vừa phải sử dụng những thành quả kinh tế, chính trị, giáo dục và đặc biệt là áp dụng những thành quả của khoa học công nghệ hiện đại cho việc đẩy mạnh sáng tạo các giá trị văn hóa mới. Bởi vì, chỉ có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc mới đảm bảo cho một quốc gia, một dân tộc có sự phát triển bền vững. Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc lại có giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa riêng. Vì thế việc kế thừa, bảo tồn và phát huy giá trị hát Quan làng của dân tộc Tày có ý nghĩa rất quan trọng cho sự phát triển văn hóa của người Tày nói riêng và văn hóa chung của cả nước cũng như xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kỳ hội nhập với thế giới. Từ năm 2009, Nhà nước đã quyết định lấy ngày 19 4 hàng năm làm Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức về việc gìn giữ và phát huy truyền thống văn hóa, tôn vinh những nét văn hóa đặc sắc của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền trong 54 dân tộc anh em. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã làm cho các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam ngày càng gần gũi, gắn kết bên nhau thành một khối đại đoàn kết dân tộc không gì lay chuyển nổi, cùng chung sức bảo vệ và xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, Đảng ta đề cao vai trò bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc và coi bản sắc dân tộc là một trong những yếu tố không thể thiếu trong việc hoạch định chính sách kinh tế xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển. Chính vì thế, cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tại hội nghị Trung ương 4, khóa VII (1993), Đảng ta đã xác định “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” Đảng ta luôn chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy bản sắc các dân tộc thiểu số nhất là các dân tộc sống ở các vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện sinh sống gặp rất nhiều khó khăn. Nghị định 22 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ sở mỗi dân tộc phát huy bản sắc văn hóa của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác và góp phần phát triển văn hóa chung của cả nước, tạo ra sự phong phú đa dạng trong nền văn minh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” 7, tr51. Đến Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn và phát triển kinh tế xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội...” 17, tr.75. Bảo tồn và phát huy hát giá trị hát Quan làng trong lễ cưới của người Tày nói riêng và phát triển hoàn thiện con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay nói chung, Nghị quyết Trung ương 9, khoá XI một lần nữa nhấn mạnh: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học... Việc bảo tồn, phát huy giá trị hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày có ý nghĩa rất quan trọng. Bảo tồn và phát huy hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày không những nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào vùng dân tộc Tày ở tỉnh Tuyên Quang, mà còn tạo động lực mới trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng trong bối cảnh hiện nay. Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã và đang tiếp nối những giá trị văn hoá tốt đẹp, làm nên sức sống trường tồn đưa đất nước vượt qua bao thăng trầm, hiện nay nước ta đang ở giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã và đang đặt ra những thách thức và cơ hội cho phát triển văn hóa dân tộc trong đó có bảo tồn và phát huy giá trị hát Quan làng trong lễ cưới của dân dân tộc Tày. Những vấn đề nảy sinh do sự thay đổi cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội và sự biến đổi của cơ chế quản lý, quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế… đang tác động sâu sắc đến sự biến đổi văn hóa của từng vùng miền trên cả nước nói chung, trong địa bàn có người Tày sinh sống nói riêng. Hơn bao giờ hết, việc bảo tồn và phát huy hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày trong bối cảnh hiện nay được đặt ra hết sức cấp thiết. Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc của đất nước, nơi có 22 dân tộc anh em cùng sinh sống. Với bề dày lịch sử hình thành và văn hóa tộc người, hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày là một bộ phận, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam. Với số dân đứng thứ hai sau người Kinh ở Tuyên Quang, cộng đồng dân tộc Tày có từ lâu đời với đời sống tâm linh phong phú đã hình thành nền văn hóa chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc, nhất là hát Quan làng trong lễ cưới của người Tày. Song, những giá trị truyền thống của dân tộc này có nguy cơ mai một do chịu sự tác động bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường, những hạn chế của việc thực hiện chính sách định cư, quy hoạch phát triển kinh tế… Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy gịữ gìn hát Quan làng trong lễ cưới của dân tộc Tày ở Huyện Yên Sơn Tỉnh Tuyên Quang là nhiệm vụ cấp thiết nhằm góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Với nhận thức bước đầu như trên, em lựa chọn vấn đề “Bảo tồn và phát huy giá trị hát Quan làng của dân tộc Tày ở huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần nâng cao nhận thức lý luận và năng lực thực tiễn trong công tác của bản thân.
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ“Bản sắc dân tộc trong nền kinh tế mở”

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ“BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG NỀN KINH TẾ MỞ”

Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước , nền văn hoá Việt Nam đã hình thành và phát triển . Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ, kiên cường , nhân dân ta đã xây đắp nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn vản sắc của dân tộc, chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam. Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước. Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hoá ấy mà dù có nhiều thời kỳ bị đô hộ , dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy bản sắc của mình, chẳng những không bị đồng hoá, mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập cho dân tộc , lấy sức ta mà giải phóng cho ta. Phát huy truyền thống văn hoá dân tộc , dưới sự lãnh đạo của Đảng , là nhân lên sức mạnh của nhân dân ta để vượt qua khó khăn , thử thách , xây dựng và phát triển kinh tế xã hội , giữ vững quốc phòng , an ninh , mở rộng quan hệ đối ngoại , tạo ra thế và lực mới cho đất nước ta đI vào thế kỷ XXI . Công cuộc đổi mới toàn diện , đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước , xây dựng chủ nghĩa xã hội , thực hiện thắng lợi mục tiêu “ dân giàu , nước mạnh , xã hội công bằng văn minh” , đòi hỏi chúng ta phảI xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến , đậm đà bản sắc dân tộc , xây dựng nền tảng tinh thần của dân tộc ta , coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội . Đảng và Nhà nước ta đang tiến tới xây dựng một nền kinh tế mở ,hội nhập với Thế giới . Chúng ta đang sống trong một thế giới hiện đại biến chuyển nhanh chóng , đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá , sự hội nhập khu vực và thế giới với một tốc độ rất nhanh , từ đó nảy sinh nhu cầu mở rộng giao lưu giữa các nền văn hoá . Trong khi chú trọng giữ gìn , phát huy các truyền thống văn hoá tinh thần tốt đẹp của dân tộc , văn hóa Việt Nam cần từng bước mở rộng giao lưu quốc tế , tiếp thụ những tinh hoa văn hoá thế giới và thời đại . Nền văn của chúng ta sẽ đa dạng hơn , phong phú hơn , tiên tiến hơn nhờ hấp thụ được những yếu tố lành mạnh của văn hoá thế giới .
Xem thêm

43 Đọc thêm

Đời sống văn hóa ở huyện yên mỹ, tỉnh hưng yên

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN

Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa có lịch sử lâu đời, nhiều thành tựu, nội dung phong phú và giá trị nhân văn sâu sắc. Suốt trong tiến trình lịch sử, nền văn hóa đó đã trở thành nền tảng tinh thần, động lực đưa dân tộc Việt Nam vượt qua tất cả những khó khăn, thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, của các thế lực ngoại xâm để tồn tại, phát triển và có vị trí xứng đáng ở khu vực và trên thế giới. Trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới lĩnh vực văn hóa, xây dựng và phát triển văn hóa. Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nhiệm vụ và hoạt động xây dựng đời sống văn hóa luôn được Đảng và Nhà nước ta chú trọng. Từ Đại hội VII (1991) của Đảng, văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Nhiệm vụ trung tâm của văn hóa, văn nghệ nước ta là góp phần xây dựng con người Việt Nam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vững vàng, ngang tầm sự nghiệp đổi mới, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh 11, tr. 53. Xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội. Chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế xã hội bền vững 12, tr.55. Đảng nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo về xây dựng đời sống văn hóa: Làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, từng bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội 12, tr. 54,55. Sơ kết 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (2004) của Đảng chỉ rõ: trong xây dựng và phát triển văn hóa có nhiều nhiệm vụ, trong đó có 3 nhiệm vụ trọng tâm: Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa; nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam theo 5 đức tính như Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã nêu; Xây dựng đời sống văn hóa, nhất là đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư... Văn kiện Đại hội XI (2011) của Đảng khẳng định: Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. 13, tr.98 99. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 2020 được thông qua tại Đại hội XI của Đảng nêu 12 định hướng lớn, trong đó có định hướng: Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động lực phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế. 13, tr.126. Đời sống văn hóa là một thành tố của văn hóa. Đó là nơi khơi nguồn sáng tạo, đồng thời là nơi hưởng thụ các giá trị văn hóa của nhân dân. Đời sống văn hóa là nơi bảo tồn và phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, phong phú của văn hóa các dân tộc... Đời sống văn hóa vững mạnh là nền tảng, bước đi ban đầu để thực hiện thành công đường lối văn hóa của Đảng, là một trong những cơ sở, điều kiện, nguồn lực phát triển kinh tế xã hội. Là một huyện của tỉnh Hưng Yên, Yên Mỹ có phong trào xây dựng đời sống văn hóa, làng văn hóa, gia đình văn hóa từ khá sớm. Qua hơn mười năm (huyện được tái lập năm 1999) xây dựng và phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nghị quyết Đại hội X, XI của Đảng, đời sống văn hóa trên địa bàn huyện có nhiều đổi mới, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của huyện. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, đời sống văn hóa ở huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên cũng còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại cần phải có sự đánh giá khách quan, có hướng và giải pháp tiếp tục phát triển, nâng cao chất lượng. Từ những lý do trên học viên đã lựa chọn đề tài luận văn Cao học là : Đời sống văn hóa ở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Đây là một vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn.
Xem thêm

133 Đọc thêm

tính định hướng trong tư tưởng chỉ đạo của đảng và giải pháp tăng cường tính định hướng đối với hoạt động văn hóa văn nghệ tiểu luận cao học

tính định hướng trong tư tưởng chỉ đạo của đảng và giải pháp tăng cường tính định hướng đối với hoạt động văn hóa văn nghệ tiểu luận cao học

Tính cấp thiết của đề tài. Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tếxã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Văn học, nghệ thuật là bộ phận trọng yếu của nền văn hoá dân tộc, thể hiện khát vọng của nhân dân về chânthiệnmỹ. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là mục tiêu của sự phát triển. mọi sự phát triển đều do con người quyết định mà văn hóa thể hiện trình độ vun trồng ngày càng cao, càng toàn diện con người và xã hội, làm cho con người và xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ. Con người tồn tại, không chỉ cần những sản phẩm vật chất mà còn có nhu cầu hưởng thụ sản phẩm văn hóa tinh thần, con người và xã hội loài người càng phát triển thì nhu cầu văn hóa tinh thần đòi hỏi ngày càng cao. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn hiện nay đang là một xu thế tất yếu khách quan đòi hỏi chúng ta phải chủ động, tích cực và sang tạo. Hội nhập quốc tế đã mở ra những cánh cửa rộng lớn đưa nước ta hòa nhập cùng với quốc gia phát triển trên thế giới. Tuy nhiên nó cũng đặt ra những thách thức, những khó khan cho chúng ta trong quá trình hội nhập.Việc du nhập lối sống phương tây bị chà trộn cùng với lề nếp phông tục của dân tộc. Sự thâm nhập của văn hóa độc hại, của sự lai căng văn hóa, của lối sống thực dụng và những tiêu cực khác của kinh tế thị trường…, đã và đang ảnh hưởng, làm băng hoại những giá trị văn hóa truyền thống, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của đất nước… Công tác văn hóa văn nghệ phải được nâng cao chất lượng. Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tếxã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Văn học, nghệ thuật là bộ phận trọng yếu của nền văn hoá dân tộc, thể hiện khát vọng của nhân dân về chânthiệnmỹ. Mỗi hoạt động văn hóa văn nghệ phải tính đến hiệu quả xã hội, tác động tốt đến tư tưởng tâm lý tình cảm, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ thẩm mỹ của nhân dân. Quan tâm đáp ứng nhu cầu, thị hiếu lành mạnh của các tầng lớp xã hội và các lứa tuổi. Nhận thức rõ được vai trò vô cùng to lớn trong công tác định hướng, lãnh đạo, kiểm tra, quản lý các hoạt động văn hóa văn nghệ ; Đảng và Nhà nước những năm qua đã lien tục tiến hành các biện pháp cũng như đề ra nhiều chủ trương nhằm đảm bảo tính định hướng của đảng đối với hoạt động văn hóa văn nghệ. Công tác định hướng hoạt động văn hóa văn nghệ trong cả nước nói chung và tại tỉnh Thái Bình nói riêng những năm qua bước đầu đã đạt được một số kết quả đáng kể. Cùng với những thành tựu phát triển về kinh tế thì hoạt động văn hóa văn nghệ đã góp phần to lớn cho việc thúc đẩy quá trình phát triển đất nước trong thồi kỳ hội nhập.
Xem thêm

Đọc thêm

Tiểu luận tốt nghiệp: Thực trạng và giải pháp Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa ở phường Dịch Vọng Hậu

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN MINH, GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở PHƯỜNG DỊCH VỌNG HẬU

Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng ngàn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cờng dựng nớc và giữ nớc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả của sự giao lu và tiếp thu tinh hoa văn hoá của các nớc trên thế giới để không ngừng hoàn thiện và phát triển. Trong công cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nớc, với đờng lối đúng đắn và sáng suốt của Đảng ta, văn hoá Việt Nam tiếp tục đợc phát huy và đã góp phần làm nên những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc với xu thế hội nhập quốc tế, Đảng ta đã đề ra phơng hớng, chiến lợc cùng các nhiệm vụ và giải pháp để lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xác định văn hoá vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội.Nghị quyết Trung ơng 5 Khoá VIII đã xác định quan điểm chỉ đạo cơ bản: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động “ lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội”, đề ra phơng hớng Làm cho văn hoá thâm sâu“ vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng ngời vào từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân c, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con ngời tạo ra trên đất nớc ta đời sống tinh thần cao đẹp, trìnhđộ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng văn minh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa xã hội . ” Chăm lo văn hoá là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế xã hội bền vững. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hoá, vì mục tiêu xã hội công bằng văn minh, con ngời phát triển toàn diện
Xem thêm

34 Đọc thêm

Phát huy vai trò văn hóa bản địa đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh lâm đồng trong giai đoạn hiện nay

PHÁT HUY VAI TRÒ VĂN HÓA BẢN ĐỊA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở TỈNH LÂM ĐỒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Văn hoá là sản phẩm của con người, của cộng đồng người, gắn liền với cuộc sống của con người và sự phát triển của xã hội, được xác định bao gồm tất cả các giá trị vật chất và tinh thần, tính cách và lối sống, truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng xã hội. Nó tồn tại qua thời gian và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thấm sâu vào lối sống của cộng đồng dân cư và trở thành bản sắc riêng của mỗi dân tộc, quốc gia. Là quốc gia đa dân tộc thống nhất “nền văn hoá Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái riêng. Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc…” 20, tr.57. Những năm gần đây, vấn đề văn hóa nói chung và văn hóa các DTTS nói riêng được sự quan tâm nhiều của xã hội. Nhận thức về vai trò quyết định của văn hóa đối với sự phát triển ở nước ta cũng được nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó. Ngay từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên. Nó vừa là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, vừa là một trong những mục tiêu của chúng ta. Nhằm bổ sung và hòan thiện tư tưởng được nêu trong Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa VIII, Đảng ta đã đề ra chính sách văn hóa trong kinh tế “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội 20, tr.55. Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển trở thành vấn đề được quan tâm, nhận thức và vận dụng vào thực tiễn đổi mới ở nước ta. Cùng với phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, Đảng ta nhấn mạnh phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Xét về mặt lý luận, kinh tế xã hội phát triển, đời sống của người dân được nâng cao đó là tiền đề, điều kiện cho phát triển văn hóa, đồng thời hoạt động văn hóa lại có tác động trở lại để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững. Để phát huy có hiệu quả hơn vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế xã hội và xử lý đúng đắn sự tác động qua lại giữa kinh tế và văn hóa, Đảng ta trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội X, XI chỉ rõ phải gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn nữa giữa văn hóa và kinh tế. Trong tính đa dạng thống nhất của nền văn hóa Việt Nam, văn hóa bản địa các DTTS ở Lâm Đồng do những đặc điểm về điều kiện địa lý, kinh tế xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, mang những nét đặc trưng riêng có, những đặc điểm khác biệt. Những yếu tố văn hóa đặc trưng của các tộc người bản địa trở thành những tiềm năng đặc biệt, những nguồn tài nguyên quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội ở Lâm Đồng. Đặc biệt là tiềm năng kinh tế, du lịch từ nguồn tài nguyên văn hóa bản địa. Đó là niềm tự hào của các tộc người bản địa ở Nam Tây Nguyên cần được các nhà khoa học nghiên cứu để phát huy, phát triển. Tuy vậy, văn hóa bản địa các DTTS bản địa Lâm Đồng trong những năm qua chưa được quan tâm đúng mức, chưa phát huy được vai trò động lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Nhiều yếu tố văn hóa đang ngày càng mai một, thậm chí một số loại hình, lĩnh vực có nguy cơ mất hẳn, có những yếu tố đã trở nên lạc hậu, lỗi thời không còn phù hợp, có những yếu tố mang tính chất hiện đại. Sự tác động của cơ chế thị trường và ảnh hưởng của các tôn giáo mới, một mặt làm cho văn hóa bản địa các dân tộc đang có những biến đổi, đã có những nét văn hóa riêng bị phai nhạt, bị đồng hóa, mất đi bản sắc riêng, một mặt làm cho văn hóa bản địa có biểu hiện lai căng, hoặc biến các di sản văn hóa truyền thống của cư dân bản địa Lâm Đồng thành những sản phẩm lạc hậu, không phù hợp với cuộc sống hiện tại, cơ cấu xã hội và quan hệ giữa các thành viên trong buôn làng nay đã có nhiều biến đổi lớn, làm cho sinh hoạt cộng đồng ít gắn bó hơn, không còn tác dụng nuôi dưỡng nền văn hóa truyền thống và ảnh hưởng đến củng cố khối đoàn kết dân tộc. Do vậy, để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, trong xu thế mở cửa, hội nhập kinh tế và giao lưu văn hóa, cần phát phát huy các giá trị văn hóa với những bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc để làm phong phú nền văn hóa chung của cả nước góp phần nâng cao tính thống nhất đa dạng của văn hóa Việt, đấu tranh chống các khuynh hướng lợi dụng văn hóa để chia rẽ, phá họai khối đại đoàn kết các dân tộc. Lâm Đồng hiện vẫn còn là tỉnh nghèo, quy mô nền kinh tế nhỏ; chưa khai thác và phát huy tốt tiềm năng và lợi thế của tỉnh; chưa phát huy được vai trò động lực của văn hóa đối với sự phát triển. Thời gian qua, những yếu tố văn hóa bản địa Lâm Đồng mới chỉ được khai thác phục vụ cho yêu cầu trước mắt, chứ chưa chú ý tới việc nghiên cứu, nhằm khẳng định và bảo tồn cũng như đề ra các giải pháp phát huy các giá trị văn hóa phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội, nhất là phục vụ cho phát triển kinh tế du lịch ở địa phương. Giữ gìn, bào tồn và phát huy các giá trị văn hóa địa các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng là một trong những nhân tố quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân bản địa ở nam Tây Nguyên, làm cho nền tảng tinh thần của xã hội ngày càng vững chắc góp phần phát triển kinh tế xã hội. Xuất phát từ tầm quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển, để đánh giá đúng vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số Lâm đồng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, phát hiện ra những xu hướng biến đổi và đưa ra những giải pháp thích hợp, tích cực cho việc bảo tồn và phát huy vai trò của văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số, biến các giá trị văn hóa của các dân tộc bản địa Lâm Đồng thành tài sản văn hóa góp phần phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, học viên đã chọn đề tài “Phát huy vai trò văn hóa bản địa đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay”.
Xem thêm

145 Đọc thêm

Cùng chủ đề