ĐAU THƯƠNG ĐẾN CHẾT PHẦN 2 PRC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "ĐAU THƯƠNG ĐẾN CHẾT PHẦN 2 PRC":

Đề thi học kì 2 lớp 12 môn Văn tỉnh Hải Phòng năm 2015

Đề thi học kì 2 lớp 12 môn Văn tỉnh Hải Phòng năm 2015

SỞ GD&ĐT HẢI PHÒNG ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II NĂM HỌC 2014 – 2015   Môn: VĂN: Khối: 12 ĐỀ CHÍNH THỨC Ngày thi: 20/04/2015   Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm) Đọc đoạn văn sau đây và trả lời các câu hỏi: Ai kia ở chốn phồn hoa đỏ hội ồn ào, bụi bặm mong có dịp về nông thôn để được hít thở không khí trong lành, đắm mình vào dòng sông quê hương “soi tóc những hàng tre”, đang thật sự bị thất vọng. Sự “trong lành” ấy đang bị hủy hoại nghiêm trọng bởi chất thải công nghiệp, chất thải vô tội vạ của làng nghề, chất thải từ mạnh ai nấy được trong nuôi trồng thủy sản. Sông Cầu tiếp nhận thêm ít nhất 180000 tấn phân hóa học. 1500 tấn thuốc trừ sâu! Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy bị nước thải đô thị xối thẳng trực tiếp làm đen ngòm, nước sông đang bốc mùi! Sông Thị Vải trong lưu vực sông Đồng Nai đã có đoạn bị chết kéo dài sau khu vực hợp lưu suối Cá – Đồng Nai đến khu vực công nghiệp Mĩ Xuân… Rồi câu chuyện về “làng ung thư”, thảm họa đau thương ngày càng tăng của một cộng đồng do tác động trực tiếp của chất thải công nghiệp, nhưng cho đến nay vẫn chưa có kết luận thật rõ ràng: ai là thủ phạm của những cái chết đau thương . Đó là một ví dụ quá đau xót. Phải xem đây là nỗi đau không chỉ một làng, một địa phương mà là nỗi đau chung của những ai có lương tri vài đạo lí dân tộc máu chảy ruột mềm, thương người như thể thương thân, một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ. Làm sao có thể dửng dưng, vô cảm khi trên màn hình, những cư dân ở cái “làng ung thư” kia đang bị căn bệnh quái ác tấn công đang hiền lành và bất lực kêu cứu?                                     (Tương lai – Môi trường và phát triển.www.nguoi daibieu.com) Câu 1: Nội dung chính của đoạn văn trên là gì? (0,5 điểm) Câu 2: Đoạn văn trên có sự kết hợp giữa các phương thức biểu đạt nào (chỉ phương thức biểu đạt chính)? Nếu hiệu quả của việc kết hợp các phương  thức biểu đạt đó. (0,75 điểm) Câu 3: Anh chị hiểu cụm từ “bị chết” trong câu in đậm như thế nào? (0,25 điểm) Câu 4: Chỉ ra các thành ngữ, tục ngữ trong đoạn văn. Các thành ngữ, tục ngữ đó thể thiện đạo lý gì của dân tộc ta? (0,75 điểm) Câu 5: Hãy nêu hai giải pháp mà anh chị cho là hiệu quả để giải quyết vấn đề đặt ra từ đoạn văn trên. Trả lời trong khoảng 5 – 7 dòng (0,75 điểm) Phần II: Làm văn (7,0 điểm) Câu 1 (3,0 điểm)             Phải chăng có tiền mua tiên cũng được? Hày trình bày ý kiến của anh chị bằng một bài văn ngắn khoảng 600 từ . Câu 2 (4,0 điểm) Về các nhân vật trong truyện ngắn Vợ nhặt, tác giả Kim Lân khẳng định: “Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết  nhưng con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai”. Qua nhân vật người vợ nhặt trong tác phẩm, anh chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên.
Xem thêm

Đọc thêm

Chứng minh câu nói Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống

CHỨNG MINH CÂU NÓI NHỮNG NGƯỜI ĐÓI, HỌ KHÔNG NGHĨ ĐẾN CÁI CHẾT, MÀ NGHĨ ĐẾN CÁI SỐNG

Vợ nhặt" là tác phẩm ưu tú của nhà văn Kim Lân và cũng là một trong những thành tựu xuất sắc của nền vãn học cách mạng. Tác phẩm ra đời cách đây đã trên bốn mươi năm, viết về một giai đoạn đau thương trong lịch sử dân tộc: nạn đói năm 1945 – từ Quảng Trị đến Bắc Bộ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói; thế nhưng, tác phẩm không mang tính nhất thời và sẽ bất tử với thời gian bởi giá trị nhân văn cao cả, niềm tin không bao giờ tắt hướng về con người. Trong tác phẩm, niềm tin ấy được thể hiện ở chỗ: những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống. Như nhiều tác phẩm trước đó viết về nạn đói, ngòi bút Kim Lân chứa chan thương cảm trước những số phận lương thiện và cùng khổ. Ông không dành nhiều trang viết mô tả kĩ hiện thực tàn khốc lúc bấy giờ – người chết đói như ngả rạ – mà chủ tâm thể hiện vẻ đẹp tinh thần ẩn giấu trong cái bề ngoài xác xơ vì đói khát của những người nghèo khổ. Cốt truyện "Vợ nhặt" thật đơn giản: Một anh chàng nghèo khổ – tên Tràng độc thân, chỉ với mấy câu "hò chơi cho đỡ nhọc", đã có được cô "vợ nhặt" – đang sống dở, chết dở vì đói. Họ thành vợ thành chồng giữa cái cảnh "tối sầm lại vì đói khát”. Đêm tân hôn của họ âm thầm trong bóng tối, giữa tiếng than khóc tỉ tê của những nhà có người chết đói theo gió đưa lại. Bữa cơm cưới của đôi vợ chồng trẻ và người mẹ già chỉ có cháo loãng, muối hột, nhưng ăn uống rất ngon lành, trong hồi trống thúc thuế. Ba mẹ con vừa ăn cơm, vừa bàn chuyện Việt Minh phá kho thóc chia cho dân nghèo. "Trong óc Tràng, vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới". Ngay từ đầu, câu truyện đã hiện lên đượm màu sắc tang thương tử khí: "Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người". Thực không còn gì ảm đạm hơn bức tranh quê ấy. Trong khi trước đó không lâu, mỗi chiều Tràng đi làm về, “cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy lại xôn xao lên được một lúc" con bây giờ, cái đói đã đè nặng lên vai mỗi người; ngay cả bọn trẻ – những đứa bé hồn nhiên, vô tư nhất cũng mất đi sự tự nhiên, ngây thơ của mình, chúng ủ rũ, không buồn nhúc nhích… "Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều, người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa". Tràng dẫn người đàn bà này về làm vợ, xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái để tiếp nối sự sống. Giọng văn lúc này thật dồn nén và gây cảm xúc mạnh, mộc mạc mà lôi cuốn: "Mặt hắn có vẻ gì phởn phơ khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh". Đọc đến đây, ta không thể không nghĩ đến những trang bi kịch của Secxpia, Môlie hay Stăngđan. Tuy nhiên, bi kịch ở đây đã vượt lên sự thông thường vẫn có; nó cũng không phải là "hiện thân của sự ngu dốt" như Mác nói, mà trở nên sự cao cả "đẹp tươi lạ thường". Đó là biểu hiện cao nhất của sự chiến thắng, vượt lên trên thực tại chết chóc, đen tối để hướng tới sự sống, niềm tin, ánh sáng. Với chi tiết Tràng cùng vợ đi về nhà, chủ nghĩa nhân đạo trong văn học nước nhà cũng có thêm một tiêng nói mới, có sức mạnh. Chuyện lấy vợ của Tràng, trước hết là một chuyện lạ mà thi vị. Điều ấy đã khiến người dân ở xóm ngụ cư hết sức tò mò, từ bọn trẻ con cho đến tất cả người làng; "Họ bàn tán… Họ hiểu đôi phần, khuôn mặt họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên”. Từ trong sâu thẳm tâm hồn những người dân làng, le lói lên một chút niềm vui. Họ thú vị nghĩ tới chuyện Tràng có vợ. Có thể nói, trong phút chốc, khi Tràng cùng với cô "Vợ nhặt" đi về làng, cái chết, sự ảm đạm thâm u nơi xóm ngụ cư được đẩy sang một bên. Xóm ngụ cư đang ở trên miệng vực cái chết, bỗng hé lên một thoáng sống. Nhưng, niềm vui vừa đến, đã phải nhường chỗ chó sự âu lo. Dân làng lo thay cho Tràng: Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không. Tuy nhiên, đó không phái là nỗi lo tuyệt vọng, mà là lo cho cái sống. Sự chết chóc cứ ám ảnh, đe dọa sự sống, nhưng sự sống vẫn vượt lên cái chết. Khuôn mặt "rạng rỡ" của người dân làng, ánh mắt của họ thực ý nghĩa, nói với chúng ta bao điều. Ở bước đường cùng, người ta sinh ra liều lĩnh – điều đó thực đúng lắm thay! Hành động nhân đùa làm thật của cô gái theo chân Tràng về nhà, xét đến cùng, là một hành động liều lĩnh. Tràng gặp người đàn bà ấy tất cả chỉ có hai lần vào các dịp chở thác lên tỉnh. Với Tràng, chị ta chẳng để lại trong anh một ấn tượng gì. Bởi thế, lần thứ hai gặp lại, Tràng phải mất một thời gian mới nhận ra và cũng như nhiều nhân vật khác trong các sáng tác của Nam Cao, cái dạ dày chị đã chiến thắng khối óc và con tim: được Tràng đãi, chị ăn liền một chập bốn bát bánh đúc. Cái đói đã đẩy lùi ý thức nhân cách, sĩ diện. Quên cả thẹn thùng, người đàn bà không tên ấy cắm đầu ăn "không chuyện trò gì". Khi Tràng ngỏ lời, không cần suy nghĩ, chị cũng đi theo một cách dễ dàng, "vô tư lự". Thế mới hay, cái đói ghê gớm biết chừng nào. Và hai cái "liều" gặp nhau đã tạo nên một gia đình thời tao loạn. Điều đáng chú ý là ở đây, khi cùng người "Vợ nhặt" về nhà, Tràng bỏ ra hai hào để mua một chai dầu, điều này có nghĩa là anh đã thắp lên một ngọn lửa trong cuộc sông tăm tối của mình, đem lại chút ánh sáng cho gia đình cũng như dân làng. Điều này chi phối toàn bộ văn phẩm. Cũng từ cuộc "hôn nhân" của Tràng, những người đời mới thực sự không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống. Khi Tràng cùng vợ về nhà, cuộc sông trước mắt họ không kém phần thảm hại: căn nhà vắng teo, rúm ró; niêu bát, áo xống bừa bộn… Ôi, lấy vợ cưới chồng, yên bề gia thất!. Việc lớn một đời, hạnh phúc trăm năm! Vậy mà, họ bị bủa vây bởi sự nghèo đói chết chóc. Nhưng, sự sống là bất diệt, chẳng bao giờ chán nản. Trong cái chết, sự sống vẫn tồn tại, tìm chỗ sinh sôi nảy nở. Tất cả thật dữ dội, mà ý nghĩa thì lớn lao: sự sông luôn tồn tại, bất chấp cái chết… Việc hai người xa lạ bỗng gắn bó với nhau trong cơn đói kém, chứng tỏ quyết tâm nghĩ đến cái sống của hai người, đem lại cho họ – trước hết là Tràng một niềm vui lớn lao. Trong truyện ngắn, hơn hai mươi lần nhà văn nhắc đến niềm vui và nụ cười thường trực của Tràng, khi đã có vợ. Tình yêu của hai người, có sức cải biến thật lớn. “Trong một lúc, Tràng như quên hết những cảnh sông ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát đang đe dọa… Trong lòng hắn, lúc này chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông ấy…”. Đúng vậy. Niềm vui lớn nhất đời anh đã thành sự thực; có vợ. Cái "mới mẻ", "lạ lẫm" ấy là tinh thần trách nhiệm của một người chủ gia đình sẽ phải lèo lái con thuyền nhà – gia đình qua thời điểm khó khăn, vươn lên trên hoàn cảnh khắc nghiệt để xây dựng cuộc sống. Tràng bỏ sau lưng tất cả những tiếng hờ khóc, tiếng quạ kêu… Chỉ sau một đêm "nên vợ, nên chồng", Tràng thấy mình có sự đổi khác: "Trong người êm ái lửng lơ như người ở trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ như không phải…". Chuyện được "vợ nhặt" của Tràng ngỡ như đùa nhưng lại là sự thật; bao nhiêu sự sống, sinh khí trở lại với Tràng, với gia đình sau khi anh có vợ. Và cũng từ buổi "sáng hôm sau đó", dường như tất cả sự thực chết chóc không còn tồn tại nữa, Tràng chỉ nghĩ đến sự gây dựng cuộc sống, hướng về sự sống mà tạo lập hạnh phúc: "Tràng thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm ché mưa, che nắng. Một nguồn vui sướng, phân chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thây hắn có bổn phận phải lo cho vợ con sau này",.. Có thể nói, đó là biếu hiện cao nhất của tinh thần hướng về sự sống, quên đi cái chết đang bủa vây. Vợ Tràng là một nhân vật khá độc đáo. Chị không có tên, không tuổi, không đặc điểm nhận dạng và, quê quán. Tưởng rằng, khi chị theo Tràng đi về nhà, với sự chao chát, chỏng lỏng văn học Việt Nam lại có thêm một nhân vật "không bình thường”. Nhưng không, ngòi bút Kim Lân chưa bao giờ để nhân vật của mình tha hóa, biến chất đến độ ấy. Khi về đến nhà Tràng, con người thật của chị mới hiện lên đầy đủ. Chị cứ "ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng". Vì sao vậy? Cái thế ngồi rụt rè, chông chênh ấy cũng là cái thế của lòng chị, trăm mối ngổn ngang. Liệu chỗ ngồi ấy có phải là chỗ của chị không? Nhà này có phải chốn để chị dung thân? Và cũng như Tràng, sau một đêm làm vợ, chị đã thay đổi hẳn: "Trông chị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực…". Cái đói một khi được xua đi, thì sự tốt đẹp đúng như bản chất hiền trở lại với chị. Ấy cũng là lúc chị nghĩ đên sự sống, lo cho gia đình mình. Chị quét dọn sân nhà sạch sẽ, gánh nước đổ đầy ang… Có bàn tay săn sóc của chị, căn nhà trở nên gọn gàng, sáng sủa. Sự sống trở về với người với cảnh… Bà cụ Tứ càng để lại cho người đọc những thiện cảm tốt đẹp. Thấy con lấy vợ trong hoàn cảnh khó khăn, bà không khỏi bùi ngùi, thương xót: "Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái, mở mày mở mặt sau này. Còn mình thì…". Nhưng, bà thực sự vui mừng khi con trai đã yên bề giá thất: "Bà lão nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo, u ám của bà rạng rỡ hẳn lên…". Rồi trong bữa cơm, cả ba mẹ con đều quên đi hiện thực đau lòng để hướng đến một tương lai tươi đẹp hơn: "Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tin rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này, ngoảnh đi ngoảnh lại, chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…". "Nghĩ đến cái sống, không nghĩ đến cái chết là ở chỗ đấy. Bà cố gắng xua đi thực tại hãi hùng, để nhen nhóm niềm tin vào cuộc sống cho các con. Tuy nhiên, món chè cám đã nhắc họ về với thực tại. Chao ôi, chè cám! Phải đói đến một mức nào đó, người ta ăn cám mới cảm thấy ngon! Cuộc sống khắc nghiệt, đày đọa, bắt họ phải sống cuộc sống loài vật, nhưng nào có dập tắt được phần NGƯỜI đáng quí trong mỗi con người. Cái phần NGƯỜI ấy, sẽ giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn này. Sẽ là thiếu sót lớn nếu bỏ qua hình ảnh những người nông dân trên đê Sộp cùng nhau đi phá kho thóc, khi nói đến những kẻ hấp hối trong vòng tử địa vẫn hướng tới cuộc sống. Đó là hình ảnh không hề ngẫu nhiên chút nào, được nhà văn chuẩn bị từ trước. Nó là dấu hiệu của "bước đường cùng", không còn cách giành sự sống nào khác, phải vùng dậy đấu tranh, hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tràng thấy "ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ, khó hiểu" bởi anh chưa bắt được mạch nguồn cách mạng. Trước mắt người đọc lúc này, sự sống trở thành mục đích chung của mỗi người; họ đấu tranh, đoạn tuyệt dứt khoát với cái chết. Và chắc chắn, mẹ con Tràng sẽ tiếp nối dòng người kia, giành sự sống cho mình. "Vợ nhặt" là thành công xuất sắc của nền văn học cách mạng. Với truyện ngắn này, Kim Lân bày tỏ thiện cảm sâu sắc với những người nghèo khổ, nhưng giàu lòng nhân ái. Ông luôn khẳng định cái đói khát, chết chóc không thể giết chết niềm tin vào cuộc sống, Năm tháng qua đi, còn mãi với thời gian là chất nhân văn cao cả của một nghệ sĩ nhân đạo. Võ Thanh PTTH Hàm Rồng
Xem thêm

3 Đọc thêm

Images of War (Time Life - Vietnam Experience)

Images of War (Time Life - Vietnam Experience)

Chiến tranh Việt Nam đã gây ra cái chết của từ 2 đến 5 triệu người Việt (tùy từng nguồn khác nhau). Trong số các nước đồng minh của Việt Nam Cộng hòa, người Mỹ có số thương vong cao nhất với hơn 58.000 người chết và hơn 305.000 người bị thương (trong đó 153.000 bị thương nặng hoặc tàn phế). Vào khoảng từ 4.400 đến 5.000 binh sĩ Hàn Quốc bị chết; Úc có khoảng 500 chết và hơn 3.000 bị thương; New Zealand 38 chết và 187 bị thương; Thái Lan 351 chết và bị thương; còn Philippines vẫn chưa có con số thống kê cụ thể. Tổn thất trực tiếp và gián tiếp trong Chiến tranh Việt Nam được chia ra như sau:
Xem thêm

Đọc thêm

Đề thi học kì 2 lớp 12 môn Văn năm 2014 - THPT Trần Nhân Tông

Đề thi học kì 2 lớp 12 môn Văn năm 2014 - THPT Trần Nhân Tông

Đề thi học kì 2 môn Văn lớp 12 trường THPT Trần Nhân Tông năm 2014 I.Phần đọc hiểu: “Miếng đất dọc chân thành phía ngoài cửa Tây vốn là đất công. Ở giữa có con đường mòn nhỏ hẹp, cong queo do những người hay đi tắt dẵm mãi thành đường. Đó cũng lại là cái ranh giới tự nhiên giữa nghĩa địa những người chết chém hoặc chết tù, ở về phía tay trái, và nghĩa địa những người nghèo, ở phía tay phải. Cả hai nơi, mộ dày khít, lớp này lớp khác, như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ.                                                                           (Thuốc – Lỗ Tấn)        Ý nghĩa đoạn văn trên? (2 điểm) II. Phần làm văn: 1.Về việc lựa chọn môn thi tốt nghiệp THPT năm nay, báo lao động số ra ngày 20/3/2014 đưa tin: “ Sau hiện tượng 0% chọn môn lịch sử của trường THPT dân lập Lương Thế Vinh - Hà Nội, sơ bộ cho thấy tỉ lệ học sinh chọn  thi tốt nghiệp môn lịch sử thấp một cách đáng lo ngại, chỉ khoảng 2 đến 5% tổng số thí sinh dự thi” Dòng tin trên gợi cho anh chị suy nghĩ gì? (3 điểm) 2. Có ý kiến cho rằng: “Nhìn vào người đàn bà hàng chài trong Chiếc Thuyền Ngoài Xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, người ta mới biết thế nào là khổ đau, bất hạnh, nhưng cũng phải nhìn vào người đàn bà này để ta biết thế nào là cuộc sống, là niềm tin…” Nhận định trên có giống với cảm nhận của anh (chị) về nhân vật này? Hãy làm sáng tỏ. (5 điểm) Tuyensinh247.com sẽ liên tục cập nhật đề thi học kì 2 lớp 12 các môn học, các em thường xuyên theo dõi.
Xem thêm

Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Đọc kịch bản văn học

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : ĐỌC KỊCH BẢN VĂN HỌC

ĐỌC KỊCH BẢN VĂN HỌC I. NHỮNG YÊU CẦU VỀ ĐỌC KỊCH BẢN VĂN HỌC 1. Trong kịch có nhân vật, cốt truyện, lời trữ tình và đặc biệt là xung đột gay gắt. Vì thế, đọc kịch cần chú ý: phân tích cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, xung đột kịch. 2. Kịch ít lời kể, chủ yếu là lời thoại nên đọc kịch phải chú ý  đến lời thoại của nhân vật. Lời thoại biểu hiện xung đột kịch và tính cách nhân vật. Qua lời đối thoại (hoặc độc thoại), nhận vật bộc lộ tính cách và tâm trạng. Cùng với hành động, lời thoại của nhân vật cũng là nơi thể hiện tư tưởng của vở kịch. 3. Đọc kịch bản văn học cần phải đặc biệt chú ý đến ngôn ngữ kịch. Ngôn ngữ kịch biểu đạt hành động thực tế và hành động nội tâm của nhân vật. Ngôn ngữ thúc đẩy hành động, khắc sâu mâu thuẫn và xung đột giữa các nhân vật. Ngôn ngữ kịch có những đặc trưng riêng nên cần phải chú ý phân tích. 4. Lời thoại của nhân vật kịch chứa đựng nhiều cảm xúc, thường có tính chất triết lí và thể hiện rất rõ mức độ gay gắt của xung đột kịch. Khi phân tích cần chú ý đến đặc điểm này của lời thoại trong kịch. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Đoạn trích Vĩnh biệt Cửu trùng đài có 9 cảnh. Mỗi cảnh được phân biệt bởi sự thay đổi hoặc thêm, bớt nhân vật tham gia câu chuyện. Sự phân cảnh như vậy thể hiện được sự thay đổi (tăng hoặc giảm sự gay gắt của xung đột kịch). Trong đoạn trích, mỗi lớp kịch các nhân vật lại xuất hiện đông hơn, nhốn nháo hơn, xung đột kịch lại gay gắt thêm một bậc. Sự xuất hiện của các nhân vật mới cùng với hành động, lời thoại của họ đã đẩy xung đột dần tới cao trào. 2. Đọc đoạn trích hồi V kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét của Sếch-xpia. - Đoạn trích có một hồi, chia là ba cảnh: + Cảnh I: Rô-mê-ô và Ban-tơ-da đến hầm mộ. Rô-mê-ô bẩy cửa hầm mộ. + Cảnh II:  Pa-rix xuất hiện, Rô-mê-ô và Pa-rix đánh nhau, Pa-rix chết. + Cảnh III: Rô-mê-ô đưa Pa-rix vào hầm mộ, chàng uống thuộc độc và chết bên Giu-li-et. - Rô-mê-ô được người nhà báo tin Giu-li-ét chết, chàng tưởng Giu-li-ét chết thật nên đã đến hầm mộ nhà Ca-piu-lét để được chết bên người yêu. Xung đột xảy ra khi Pa-rix hiểu lầm Rô-mê-ô đến để trả thù. Họ đánh nhau và Rô-mê-ô giết chết Pa-rix. Xung đột được giải quyết mang đầy màu sắc bi kịch. Rô-mê-ô chết lại mở ra một tình huống mới cho hồi kịch sau. - Đoạn trích thuộc hồi gần cuối của vở kịch. Sau hàng loạt xung đột gay gắt xảy ra, tu sĩ Lô-rân phải để Giu-li-ét giả chết để Rô-mê-ô về đưa nàng đi trốn. Nhưng một tình huống mới lại xảy ra: người nhà của Rô-mê-ô lại đến báo tin Giu-li-ét chết trước người báo tin lành của tu sĩ. Chính tình huống này đã đẩy cao trào của vở kịch lên đỉnh điểm và dẫn đến kết cục bi thảm: Rô-mê-ô và Giu-li-ét cùng chết. 3. Trong đoạn trích này có cả đối thoại và độc thoại. Những đối thoại và độc thoại này đã thể hiện tính cách nhân vật. - Lời của Rô-mê-ô thể hiện tâm trạng đau đớn tột cùng. Tâm trạng ấy dẫn đến hành động tiếp theo của chàng. Hành động và lời nói thể hiện tình yêu tha thiết và say đắm của chàng đối với Giu-li-ét. Nó giải thích hàng động tự vẫn của chàng. Pa-rix xuất hiện bằng lời độc thoại, đoạn đọc thoại này cho thấy Pa-rix đã hiểu lầm Rômêô. Mâu thuẫn của hồi kịch bắt đầu xuất hiện. Lời của Pa-rix đối với Rômêô đã đẩy mâu thẫu đến cao trào và dẫn đến hành động của Rômêô. 4. Phân loại lời độc thoại và đối thoại trong đoạn kịch: Độc thoại: Lời thoại thứ 5( Rômêô), thứ 6 (Pa-rix), lời thoại cuối cùng (Rômêô). Đối thoại: các lời thoại còn lại Các đối thoại bộc lộ vấn đề và mâu thuẫn của các nhân vật. Các đoạn độc thoại thể hiện tâm trạng của nhân vật Độc thoại của Rômêô ở phần cuối đoạn trích là đoạn độc thoại giàu chất thơ. Nhân vật giãi bày tâm trạng của mình trước khi tự vẫn nên lời thoại thể hiện cảm xúc, những xúc động và nỗi đau của nhân vật.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phân tích nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

PHÂN TÍCH NHÂN VẬT MỊ TRONG TRUYỆN VỢ CHỒNG A PHỦ CỦA TÔ HOÀI

Sự đổi đời của Mị đã tô đậm giá trị nhân đạo của truyện Vợ chồng A Phủ Từ tủi nhục cay đắng của kiếp con dâu gạt nợ. Mị đã vùng dậy giành được tự do, hạnh phúc. Tô Hoài là nhà văn Hà Nội, sinh năm 1920, tự học mà thành tài. Khi bước vào tuổi“xưa nay hiếm”, ông đã có gần 200 tác phẩm. Trang văn xuôi của ông giàu chất thơ; ông viết hay về phong tục sinh hoạt, có tài tả cảnh với lối kể chuyện sinh động, hóm hỉnh, đậm đà. Ông viết thành công về truyện thiếu nhi, về đề tài miền núi. Dế Mèn phiêu lưu kí, Truyện Tây Bắc, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Miền Tây... là những tác phẩm đặc sắc của ông được bạn đọc gần xa yêu thích. Năm 1952, Tô Hoài theo bộ đội vào giải phóng Tây Bắc, một chuyến đi dài hơn nửa năm. Ông đã viết truyện Vợ chồng A Phủ, qua đó nói lên sự thống khổ của người Mèo ở Tây Bắc và sự vùng dậy của họ để giành lấy tự do, hạnh phúc, một lòng quyết tâm đi theo kháng chiến. Truyện gồm có hai phần:              +Phần 1: Mị và A Phủ ở Hồng Ngài;             +Phần 2: Mị và A Phủ ở khu du kích Phiềng Sa. Phần thứ nhất là cảm động nhất khi tác giả nói về bi kịch và sự vùng dậy của nhân vật Mị. 1.Cuộc đời của Mị đầy nước mắt. Khi Mị biết cuốc nương, thì mẹ Mị mất đã lâu rồi, bố Mị đã già. Món nợ truyền kiếp đang đè nặng lên tâm hồn Mị. Năm nào hai bố con Mị cũng phải trả nợ lãi một nương ngô cho thống lí Pá Tra. Mị làm nương giỏi, thổi sáo hay, nhiều chàng trai mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị. Hạnh phúc, tình yêu và tuổi xuân của Mị đã bị chà đạp. Mị đã bị A Sử, con trai Pá Tra bắt cóc đem về “cúng trình ma”. Mị trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí. Bố Mị chỉ còn biết khóc và cất lời than: ''Chao ôi! Thế là cha mẹ ăn bạc của nhà giàu từ kiếp trước, bây giờ người ta bắt bán con trừ nợ. Không thể làm thể nào khác được rồi!”. Mị là con dâu gạt nợ của nhà thống lí Pá Tra từ cái Tết ấy... Bố Mị đã già, lại càng cô đơn khi Mị trở thành con trâu, con ngựa nhà thống lí. Như hoa xuân chưa kịp nở đã bị héo tàn, Mị đau khổ quá chừng “Mặt buồn rười rượi”. Nơi Mị ở là một cái buồng “kín mít” chỉ có một ô cửa sổ bằng bàn tay, nhìn ra ngoài chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay nắng! Mị phải làm quần quật suốt đêm ngày, lúc hái củi, lúc bung ngô, lúc đi nương, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế! Đau khổ quá, Mị như kẻ vô cảm vô hồn, ngày “Càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Bao mùa xuân đã trôi qua, Mị tưởng mình cũng như con trâu con ngựa “chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi”. Như một linh hồn chết “Mị cúi mặt không nghĩ ngợi nữa". Hình ảnh Mị cúi mặt quay sợi đay bên tảng đá, đầy ám ảnh, gợi lên trong lòng ta nhiều thương xót mênh mông về một kiếp người oan khổ - con dâu gạt nợ!     2.Mị là một người con hiếu thảo, giàu đức hi sinh. Hàng tháng trời, đêm nào Mị cũng khóc. Mị không muốn làm kiếp con dâu gạt nợ. Mị phải ăn lá ngón để tự tử. Mị trốn về nhà, quỳ lạy bố “úp mật xuống đất, nức nở”. Mị chết nhưng nợ quan vẫn còn, bố đã già, đã ốm yếu quá rồi, lấy ai làm nương ngô giả được nợ? Mị không nỡ chết! Mị không thể chết! Thương bố đã già yếu. Mị chết thì bố Mị “còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ nữa". Quẳng nắm lá ngón xuống đất, Mị nghe bố nói, bưng mặt khóc, Mị đành trở lại nhà Thống lí, cam chịu mọi cay cực, đau khổ. Thương cha mà Mị nhận hết mọi đau khổ vào mình. Lòng hiếu thảo, đức hi sinh của người con gái vùng rẻo cao thật là đẹp, đáng quý trọng. 3.Cứ tường rằng “ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Nhưng Mị còn trẻ. Tết lai đến, ngoài đầu núi đã có ai đó “thổi sáo rủ bạn đi chơi”. Nghe tiếng vọng lại. Mi “Thiết tha bồi hồi”. Những đêm tình mùa xuân đã tới. Mị nhẩm thầm bài hát cùa người đang thối sáo: ... Ta không có con trai con gái Ta đi tìm người yêu Mị “nổi loạn” lén lấy hũ rượu “cứ uống ừng ực từng bát”. Mị say, ngồi lịm mặt... Mị nhớ lại thời con gái. Mị thấy lòng minh “phơi phới trở lại”, rồi nhiên “vui sướng như những đêm tết ngày trước”. Tiếng sáo, tiếng hát gọi bạn tình của trai gái làng Mèo đã “đánh thức” bao nỗi khát khao về tình yêu hạnh phúc của người phụ nữ bất hạnh này! Mị có ý thức mãnh liệt: “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi...”. Có biết bao người có chồng cũng đi chơi ngày tết. Mị cay đắng nghĩ đến thân phận mình: “A Sử với Mị không lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau”. Nước mắt Mị ứa ra. Nếu có nắm ngón trong tay. Mị sẽ ăn cho chết ngay! Tiếng sáo gọi bạn yêu lại làm lòng Mị bồi hồi: Anh ném pao, em không bắt Em không yêu, quả pao rơi rồi. Mị xắn mỡ bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Mị quấn lại tóc. Mị với tay cái váy hoa... những hành động ấy diễn ra ngay trước mặt thằng A Sử. Mị phải trả giá đau đớn. Thằng A Sử đã trói đứng Mị suốt đêm trong buồng bằng thúng sợi đay. Hắn còn quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị “không cúi, khởt nghiêng đầu được nữa”. Suốt đêm, Mị “lúc mê, lúc tỉnh”. Mị sợ quá, cựa quậy “xem mình còn sống hay chết”. Có lúc Mị “vùng bước đi” chập chờn theo tiếng sáo, nhưng chân tay đang bị trói “đau không cựa được”, “đau nhức”, “đau đứt từng mãnh thịt”. Nghe tiếng ngựa nhai cỏ, gãi chân, Mị đau khố thổn thức “nghĩ mình không bằng con ngựa”. Tô Hoài miêu tả tâm trạng, phân tích tâm lí của Mị một cách sâu sắc tinh tế qua tiếng sáo đêm tình mùa xuân. Mị khao khát tình yêu, khao khát hạnh phúc biết bao! MỊ có một sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Ông đã vạch trần bộ mặt ghê tởm của thẳng A Sử và chỉ rõ: việc bắt Mị làm con dâu gạt nợ là một tệ nạn xã hội vô cùng dã man. Hành động “nổi loạn” của Mị đã cho thấy không có uy quyền nào, con ma nào có thể làm lụi tàn được, vùi dập được nỗi khát khao tinh yêu, hạnh phúc trong lòng người phụ nữ trẻ, người con dâu gạt nợ. 4.Nhờ một chuyện tình cờ mà Mị được sống sót, không bị chết rũ xương trong buồng như người đàn bà nọ. Mị mỗi ngày một tê dại hẳn đi. Đêm mùa đông ở vùng núi Hồng Ngài dài và lạnh. Mị buồn chỉ chợp mắt được từng lúc, rồi lại thức sưởi âm suốt đêm. Mị sống trong tâm trạng cô đơn “chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa". Mị và A Phủ như hai số kiếp tiền định cùng trải qua bao gian khổ dập vùi. A Phủ, một kẻ tứ cố vô thân, vì tội đánh con quan mà bị đánh trói, bị làng bắt phạt vạ 100 đồng bạc trắng, trở thành người vay nợ, kẻ ở nợ, phải làm con trâu con ngựa cho nhà thống lí "đời này, đời con, đời cháu” của A Phủ cũng phải thế! Họa vô đơn chí! Rừng động, A Phủ đi chăn bò để hổ kéo về bắt mất một con. Thống lí Pá Tra mắng chửi A Phủ là “quân ăn cướp làm mất bò tao!” Pá Tra trói đứng A Phủ vào cọc bằng một cuộn dây mây trói đến chết nếu không bắt được hổ về! Bị trói đứng suốt mấy ngày đêm, hai hõm má của A Phủ đã “xám đen lại”. Nửa đêm, qua ánh lửa, Mị “lé mắt trông sang" kẻ chịu nạn rồi xúc động nghĩ: “cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”. Rồi Mị thương thân phận mình, thương người đàn bà ngày trước bị trói đến chết ở nhà này! Mị căm thù nguyền rủa cha con thống lí: “Chúng nó thật độc ác!”. Mị vừa lo vừa sợ phải thế mạng vào cái cọc ấy một khi A Phủ trốn thoát. Nghĩ thế, trong tình cảnh này “làm sao Mị cũng không thấy sợ...”. Bếp lửa tàn, nhà tối bưng, Mị như có thêm sức mạnh. Mị đã dùng dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây, cởi trói cho A Phủ. Một cảnh dữ dội,  khủng khiếp diễn ra. Như ra lệnh, Mị giục A Phủ: “Đi ngay!” rồi Mị nghẹn lại. A Phủ vùng chạy! Mị đứng lặng trong bóng tối, Mị băng đi nói thở trong hơi gió thốc lạnh buốt: “A Phủ cho tôi đi!... ở đây thì chết mất!”. A Phủ chi kịp nói với người đàn bà chê chồng vừa cắt dây trói cứu mình: “Đi với tôi!”. Mị và A Phủ   dìu đỡ nhau chạy trốn khỏi Hồng Ngài “cái đêm hôm ấy, đêm gì?”. Đó là cái đêm hãi hùng mà rất đáng nhớ đối với Mị và A Phủ. Hành động Mị cắt dây trói cứu A Phủ rồi cùng chạy trốn là một tình huống dữ dội phản ánh bước nhảy vọt về ý thức và tâm lí của nhân vật Mị. Mị vừa thương mình, vừa thương người, Mị căm thù cái ác đã chà đạp lên cuộc đời . Mị cắt dây trói cứu A Phủ cũng là cắt đứt sợi dây oan nghiệt đã biến người thành nô lệ súc vật nhục nhã, đau thương. Mị đã giành được tự do và hạnh phúc. Mị và A Phủ nên vợ nên chồng. Mị có một sức sống tiềm tàng kì lạ! Nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ là một thành công của Tô Hoài. Mị là một cô gái duyên dáng, hiếu thảo giàu tình thương và có một sức sống tiềm tàng mạnh mẽ. Tính cách Mị được miêu tả trong quá trình phát triển theo quy luật cuộc sống. Mị chỉ biết khóc, Mị ăn lá ngón... Mị lầm lũi... Mị khao khát hạnh phúc, tình yêu. Tâm hồn Mị được hồi sinh, được đánh thức cùng mùa xuân cùng tiếng sáo gọi bạn tình trong đêm tình mùa xuân. Mị bị trói, bị vùi dập. Mị đã vùng lên cắt dây trói cứu A Phủ rồi cùng chạy trốn. Đó là trang đời đầy máu và nước mắt của Mị, là bi kịch và sự vùng dậy của người con gái trong thân phận con dâu gạt nợ ở vùng rẻo cao ngày xưa. Cuộc đời của Mị đã từ đau thương, nô lệ trở thành con người hạnh phúc, tự do. Sự đổi đời của Mị đã tô đậm giá trị nhân đạo của truyện Vợ chồng A Phủ Từ tủi nhục cay đắng của kiếp con dâu gạt nợ. Mị đã vùng dậy giành được tự do, hạnh phúc. Cái hương vị cuộc đời ấy thật đáng quý và sáng giá biết bao Tô Hoài đã dành cho nhân vật Mị sự cảm thương sâu sắc đầy tình người. Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tại sao nam chết sớm hơn nữ?

TẠI SAO NAM CHẾT SỚM HƠN NỮ?

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Người cũng như thú, giống đực già nhanh và chết sớm hơn giống cái. Nghiên cứu mới nhất cho biết nguyên do là vì giống đực phải ganh đua căng thẳng chuyện tình dục! Đó là lí do khiến tuổi thọ nam giới thấp hơn nữ giới. Nhanh già và chết sớm vì "bạn tình" Tạp chí LiveScience cho hay, các khoa học so sánh loài thú theo chế độ một bạn đời (nhóm 1) với loài thú nhiều bạn đời (nhóm 2) trong đó một con đực se duyên với nhiều con mái. Họ nhận thấy, con đực thuộc nhóm 1 như loài chim vùng Bắc Âu, ít ganh đua giành mái hơn con đực trong nhóm 2, như chim blackbird ở Bắc Mỹ hay khỉ vùng nhiệt đới. Con đực thuộc nhóm 2 chóng già và chết sớm là vậy. Sau khi nghiên cứu khoảng 20 loài thú có xương sống, hai khoa học gia Tim Clutton-Brock và Katia Isvaran thuộc Đại học Cambridge (Anh) nhận thấy con đực thuộc nhóm 2 càng nhiều mái chừng nào, thì càng mau già và chết sớm hơn con mái chừng nấy. Cũng vì phái nam già nhanh và chết sớm hơn phái nữ, nên các nhà nghiên cứu gợi ý rằng "vào thời đại khi sinh lý loài người tiến hóa, có thể vào thời Đồ Đá, tiêu chuẩn của đời sống hôn nhân lúc đó là đa thê nhiều vợ, do đó phải tranh giành và... chết sớm". Tuy nhiên, hai khoa học gia nhấn mạnh rằng, điều đó không chứng minh cho tình trạng đa thê hay quan hệ "linh tinh" của phái nam thời nay. Giải thích tình trạng đa thê trong thế giới loài vật, nhà nghiên cứu Tim Clutton-Brock nói rằng, vì con đực muốn tinh trùng của mình đậu thai với nhiều trứng trong khi ngược lại con mái chỉ muốn trứng của mình đậu thai với tinh trùng của con khỏe nhất. Do vậy các con đực phải đấu tranh với nhau mới chen chân đến gần được bầy mái. Thông thường, con nào khỏe, thân hình vạm vỡ (tức lượng tinh trùng cao) hay chiếm được ưu thế trong việc ganh đua. Con mái chỉ cần chờ cho chiến tranh tàn lụi chỉ còn một anh hùng và chọn làm bạn tình.   Việc có nhiều bạn tình hơn nữ giới là điều khiến tuổi thọ của nam giới thấp hơn (Ảnh minh họa) Chuyển sang thế giới loài người thì theo Lão Tử và nhiều triết giáo khác, bảo tồn khí dục kéo dài tuổi thọ, phương Tây nghĩ ngược lại. Sinh hoạt tình dục làm nhả một số hormone vào cơ thể, gia tăng sự trìu mến và quyến luyến, đồng thời chống lại tình cảm cô đơn, trầm cảm. Như vậy, duy trì sinh hoạt tình dục lâu dài là một phương pháp thể dục, giảm stress, mang lại lợi ích tinh thần và xã hội. Theo tập sách The RealAge, khoái cảm càng nhiều (100 lần mỗi năm) có thể kéo dài tuổi thọ từ 3 đến 8 năm, chứng minh khoa học cho thấy phái nam có tỉ lệ đạt cực khoái nhiều giảm đến 50% nguy cơ chết trẻ. Nhiều lý do khác Nam giới mạnh hơn nữ giới nhưng tuổi thọ  nam giới thấp hơn, có thể chết sớm hơn nữ giới trung bình 7 năm, nguyên nhân không phải do sinh học nhưng là do khuôn mẫu về cách sống, theo một cuộc nghiên cứu tại Đại học Emory ở Atlanta, Mỹ. Nam giới dường như chết nhiều hơn do bạo lực hoặc do tai nạn và họ có vẻ như ít muốn được chăm sóc sức khỏe hơn khi cảm thấy không được khỏe. Jean Bonhomme, bác sĩ về sức khỏe cộng đồng tại Đại học Emory nói: "Nam giới đã được dạy cho biết phải kiềm chế đau đớn và không phản ứng lại các triệu chứng bệnh tật". Tạp chí USD Today khi trích dẫn cuộc nghiên cứu, viết: "Việc thay đổi tập tính về sức khỏe của nam giới gần như là điều cần phải hết sức khéo léo giống như việc thay đổi sinh học của họ". Bà Marianne Legato, trong cuốn "Why Men Die First", đã đưa ra một số lý do giải thích tại sao nam giới thường có cuộc sống ngắn hơn nữ giới. Thứ nhất, theo cuốn sách là do sự thiếu hụt về mặt cấu tạo sinh học. Trong khi tất cả các tế bào trong cơ thể nữ giới có tới 2 nhiễm sắc thể X, thì nam giới chỉ có 1 nhiễm sắc thể X và 1 nhiễm sắc thể Y. Nhiễm sắc thể này lại chỉ có kích thước bằng một nửa nhiễm sắc thể X. Do vậy, sự hoán đổi trong nhiễm sắc thể X nhiều hơn từ 3 đến 6 lần so với nhiễm sắc thể Y.   Việc thiếu sự chăm sóc thường xuyên cho cơ thể của nam giới khiến họ có tuổi thọ không cao như nữ giới (Ảnh minh họa) Hai nhiễm sắc thể X sẽ bổ sung cho nhau, giúp bảo vệ cơ thể nữ giới khỏi mọi nguy hại. Sự thiếu hụt này có thể là một phần trong lý do giải thích tại sao nam giới thường hay nhiễm phải những tật xấu, bệnh ung thư và nhiều vấn đề về sức khoẻ khác. Nguyên nhân thứ hai là những "đe doạ" ngay từ khi mới sinh. Khi một bé trai sinh ra, bé sẽ ở trong sự đe doạ của thần chết cao hơn từ 1,5 đến 2 lần so với một bé gái. Hệ thống miễn dịch yếu, sự phát triển phổi yếu, lượng máu đến bào thai không đủ chính là "những kẻ có tội" gây ra các bệnh ở bé trai sơ sinh như: xuất huyết não, cơ thể bị dị tật bẩm sinh, bệnh viêm phổi, và ống niệu bị nhiễm khuẩn. Nguyên nhân thứ ba, theo Marianne Legato là nam giới thường bị mắc chứng rối loạn. Một bài báo được đăng trên tờ tạp chí Y học Anh đã lưu ý rằng các chứng rối loạn, bao gồm khả năng đọc bị chậm, điếc, tâm thần, chứng hiếu động thái quá và thiếu tập trung (ADHD), mù, rối loạn các chức năng của cơ thể, sự vụng về, tật nói lắp, hội chứng nổi loạn  thường xảy ra ở nam giới và cao gấp 3 đến 4 lần ở nữ giới. Chính những biểu hiện này là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến sự tử vong ở nam giới trong cuộc sống thường nhật. Nam giới thường hay bị suy sụp, đây cũng là lý do khiến họ "chết yểu". Mặc dù là nữ giới thường có khả năng tự tử cao hơn khi gặp vấn đề về mặt tâm lý hay tinh thần nhưng thực tế tỷ lệ nam giới chết do tự sát lại cao gần gấp 4 lần nữ giới. Nam giới thường làm các công việc nguy hiểm hơn. Các công việc nguy hiểm như là thuỷ thủ, sỹ quan cảnh sát, công nhân xây dựng, thì thường là do nam giới đảm nhiệm. Cũng như thế, nam giới còn bị đe doạ mạng sống khi phải tham gia vào các xung đột quân sự. Do đó tuổi thọ nam giới thường thấp hơn.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Phân tích Biển đêm

PHÂN TÍCH BIỂN ĐÊM

Biển đêm Huygô Ôi! Biết bao thuyền viên, thuyền trưởng Buổi ra đi, vui sướng đường xa Cuối chân trời u ám, đã thành ma! Đã biến mất, đớn đau số phận Đêm không trăng, giữa biển không cùng, Chôn vùi thân giữa sóng muôn trùng! Biết bao đã chết rồi lái bạn Cơn cuồng phong cuốn sạch trong đời Ném tan tành trên mặt nước xa khơi! Còn ai biết nổi chìm kiếp ấy Mỗi sóng xô vồ cướp lấy mồi Một mảnh thuyền, một tấm thân trôi! Còn ai hay, hỡi người xấu số Giữa mênh mông, thi thể về đâu Trán anh va vào đá nhô đầu! Ôi! Biết bao mẹ cha hi vọng Ngày lại ngày trên bãi bờ quê Ngóng trông ai không thấy trở về! Tối đến, trên đống neo hoen gỉ Nhà nhà vui, bên lửa vây quanh Có khi người nhắc đến tên anh. Trong khúc hát, tiếng cười, câu chuyện, Giữa cái hôn của cả người yêu, Lúc anh nằm dưới đáy xanh rêu! Người lại hỏi: anh đâu rồi nhỉ Vua đảo nào, hay gặp chốn giàu sang? Rồi chẳng còn ai nhớ… dần tan Thân trong nước, tên trong trí nhớ… Thời gian qua dần phủ bóng đen Trên biển sâu và lòng lãng quên! Chẳng ai nhớ dáng hình anh nữa Người người lo thuyền lưới, đi cày Chỉ đêm đêm, giông bão gào lay Những người vợ bơ phờ mỏi mắt Kể về anh, khêu lớp tro tàn Của lòng đau và của lo than! Và đến lúc khép rồi nấm mộ Chẳng còn ai biết nữa tên anh! Hòn đá trong nghĩa địa vắng tanh Cả gốc liễu mùa thu trút lá Và cả người hành khất bên cầu Hát điệu buồn ai nhớ anh đâu! Ôi! Đâu hết những người thủy thủ Chìm trong đêm, bi thảm đời người Kinh hoàng bao lòng mẹ, biển ơi! Phải chăng lúc triều lên sóng vỗ Những tiếng người tuyệt bọng kêu la Mỗi chiều về, lại đến cùng ta! Tố Hữu dịch Phân tích Huygô (1802 - 1885) với 60 năm sáng tác đã để lại một sự nghiệp văn chương vô cùng đồ sộ: thơ, tiểu thuyết, kịch… Cảm hứng nhân đạo dào dạt trong thơ văn của ông. Trước khi qua đời ba ngày, đi vào cõi vĩnh hằng bất tử, ông còn ghi lại những dòng chữ như nhắn tin cùng mai hậu: “Yêu thương là hành động!” Huygô đã hướng tình yêu thương về phía những người nghèo khổ, những số phận bất hạnh bi thương trên cõi đời, khẳng định và ca ngợi những phẩm chất cao quý của họ, đồng thời căm giận lên án cái ác - nguyên nhân làm cho con người đau khổ. Nói đến Huygô là nói đến những “bình nguyên thơ” của ông với màu xanh trữ tình bất tuyệt trải dài trên 17 tập thơ với 15 vạn 3 ngàn 873 câu thơ. Những bài thơ như “Biển đêm”, “Mùa gieo hạt, buổi chiều”, “Tháng năm đầy hoa”, “Bài hát”,… của Huygô đã một thế kỷ nay được nhiều thế hệ học sinh Việt Nam yêu thích. Bài thơ “Biển đêm” rút trong tập thơ “Tia sáng và bóng tối” xuất bản năm 1840 - đó là tập thơ thứ tư trong vườn thơ ca của Huygô. Nhan đề bài thơ - tiếng Pháp là “Oceano nox”. Tố Hữu dịch là “Biển đêm”, một số người khác dịch là “Đêm đại dương”. Đại dương vốn là một không gian mênh mông, bao la, nơi chứa đựng bao điều bí mật đới với con người xưa nay, chứa chất bao huyền thoại. Khi mà khoa học chưa phát triển kì diệu như ngày nay, thì biển và đại dương trong màn đêm mịt mùng gợi lên trong lòng hàng triệu con người nhiều bí hiểm, huyền bí… Với nhan đề “Biển đêm”, “Đêm đại dương” thi phẩm đã đem đến cho ta một trường liên tưởng mênh mông về những bão tố, những vụ đắm tàu kinh hãi… Nhan đề bài thơ cho ta nhiều xúc động để tiếp cận những vần thơ. “Biển đêm” gồm 8 khổ thơ, mỗi khổ thơ có 6 dòng thơ, mỗi dòng thơ, câu thơ tiếng Pháp có từ 8-12 âm tiết, thể hiện một bút pháp vô cùng điêu luyện. Hai khổ thơ đầu nói lên số phận bi thảm của thủy thủ sau cơn bão tố. Bốn khổ thơ tiếp theo: nỗi thương nhớ chờ mong… của người thân thương đối với những thủy thủ bất hạnh. Hai khổ thơ cuối: sự quên lãng của thời gian và người đời… Mạch cảm xúc trữ tình được tuôn chảy theo dòng thời gian, tạo nên sự lắng đọng ngậm ngùi và tiếc thương, xót xa vô hạn đối với độc giả gần 200 năm nay. 1. Cơn cuồng phong cuốn sạch trang đời Mười hai câu thơ đầu nói lên tai họa trên biển đêm sau cơn bão tố. Bao thuyền viên và thủy thủ lên đường cho một chuyến đi xa và đi dài. Đó là những con người dũng cảm đáng yêu. Ngày lên đường với bao niềm vui và hăm hở, trẻ trung và yêu đời. “Ôi! Biết bao thuyền viên, thuyền trưởng Buổi ra đi, vui sướng đường xa” Tiếp theo là những hình ảnh diễn tả thảm họa đối với họ. Một đêm không trăng giữa đại dương mênh mông mịt mùng, nơi cuối chan trời xa lắc, dưới muôn ngàn lớp sóng cồn họ đã chết một cách thê thảm. Huygô đã sử dụng bút pháp tương phản giữa 2 câu đầu và 10 câu thơ tiếp theo, tương phản giữa niềm vui ngắn ngủi với thảm họa và cái chết bi thảm giữa đại dương bao la, vô tận, gợi nên bao xúc động và xót thương đối với các thuyền viên, thuyền trưởng: “Cuối chân trời u ám, đã thành ma! Đã biến mất, đớn đau số phận Đêm không trăng, giữa biển không cùng, Chôn vùi thân giữa sóng muôn trùng!” Thảm họa đến bất ngờ, họ đã “biến mất”, không một nấm mồ trên cõi nhân gian. Họ đã “vùi thân” dưới đáy đại dương và muôn trùng con sóng. Mọi cái chết đầu đau thương, nhưng cái chết đắm tàu trong bão tố của những người đi biển thật vô cùng bi thảm. Cuộc đời những thuyền viên, thuyền trưởng như một cuốn sách mỏng bị bão tố xé nát từng trang, ném tơi tả tan tành trên sóng cuộc trùng dương. Con thuyền của họ bị sóng gió đại dương xô đập, vỡ tan tành. Những con sóng được nhân hóa như đang vồ lấy, cướp lấy “mồi” - những nạn nhân và con tàu tội nghiệp. “Cơn cuồng phong cuốn sạch trong đời Ném tan tành trên mặt nước xa khơi! Còn ai biết nổi chìm kiếp ấy Mỗi sóng xô vồ cướp lấy mồi Một mảnh thuyền, một tấm thân trôi!” Mở đầu bài thơ là một tiếng kêu thương “Ôi!” (Oh!) và hàng loạt câu cảm thán cùng với điệp ngữ “biết bao nhiêu” vang lên 4 lần gợi lên ám ảnh không cùng về nỗi xót thương và sự hãi hùng đối với cái chết đau đớn của các thuyền viên, thuyền trưởng gặp thảm họa giữa biển đêm. (Combien de marins… Combien capitaines,… combien ont disparu…, combien de patrons morts,..). Tố Hữu dịch được từ “biết bao nhiêu” hai lần: “Ôi! Biết bao thuyền viên, thuyền trưởng… Biết bao đã chết rồi lái bạn…” 2. Còn ai hay, hỡi người xấu số… Năm tháng dần trôi qua… Trên các bến cảng, những con tàu khác vẫn ra đi, và những con tàu khác vẫn trở về cập bến. Nhưng cũng có biết bao cha già, mẹ yếu đợi chờ mỏi mòn những đứa con đi biển đã lâu ngày chưa trở về. Thật đau thương “Còn ai hay hỡi người xấu số…”. Dưới đâu các đại dương, thi thể (nắm xương tàn) vẫn bị sóng xô đẩy. Hai lần bị đau đớn: chết trong hãi hùng, nay “thi thể về đâu” và “trán anh va vào đá nhô đầu!”. Chết không một nấm mồ! Chết vẫn còn đau đớn: “Giữa mênh mông, thi thể về đâu Trán anh va vào đá nhô đầu!” Tưởng tượng là phẩm chất của thơ. Tưởng tượng càng phong phú bao nhiêu thì cảm xúc càng sâu lắng bấy nhiêu! Nghĩ về thịt nát xương tan của những thủy thủ, thuyền trưởng xấu số mà nhà thơ đau lòng, thương xót. Cha mẹ họ mòn mỏi đời chờ họ trên những phiến đã bờ đại dương, nay cũng đã chết cả rồi; chết trong sầu muộn, chết trong già yếu. Khổ ba nói về hai cái chết: chết thảm khốc của kẻ ra đi, và cái chết lặng lẽ âm thầm của mẹ cha trong sự đợi chờ vô vọng. Còn ai nữa để khóc thương cho những người đi biển xấu số? “Ôi! Biết bao mẹ cha hi vọng Ngày lại ngày trên bãi bờ quê Ngóng trông ai không thấy trở về!” Sự ám ảnh và nỗi lo âu của mẹ cha già yếu, chết mòn mỏi trong đợ chờ tuyệt vọng - Trong nguyên tác chưa được lột tả đầy đủ trong bản dịch thơ này. Mỗi tối đến, lúc lên đèn trong những mái nhà êm ấm nơi quê hương, trên những bến bờ xứ sở, cũng có người nhắc đến tên các anh - những người xấu số đi mãi chưa về. Người thân thương chỉ còn biết nhớ lại, gợi lại tiếng cưới, câu hát, chuyện phiêu lưu và nụ hôn thầm lén của người yêu xưa. Kỷ niệm càng chồng chất thì nỗi đau mất mát người thân yêu càng xót xa thương cảm: “Có khi người nhắc đến tên anh. Trong khúc hát, tiếng cười, câu chuyện, Giữa cái hôn của cả người yêu, Lúc anh nằm dưới đáy xanh rêu!” Thương nhớ rồi hy vọng. Mãi vẫn không thấy anh trở về. Cũng có người thầm nhắc, băn khoăn tự hỏi: hay các anh (Kẻ đắm tàu đã chết trên đại dương mịt mùng) đã trở thành vua hải đảo nào, hay đang sống trong cuộc đời giàu sáng mà nhạt tình quê hương? Dòng chảy thời gian trôi mãi…, trôi mãi. Năm tháng mờ xa dần: “Rồi chẳng ai còn nhớ… dần tan”. Câu thơ: “Thân trong nước, tên trong trí nhớ” là một câu thơ hay, cảm động. Hình ảnh cụ thể đặt trong thế sánh đôi: “Thân trong nước” (hình ảnh thể xác - một nắm xương tan) và “tên trong trí nhớ) (hình ảnh tinh thần). Tất cả đều rơi vào quên lãng. Các từ ngữ: “trí nhớ”, “thời gian”, “bóng đen”, “biển sâu”, “lòng lãng quên” được phối hợp trong một chỉnh thể ngôn ngữ để diễn tả nỗi đau lòng và thương cảm của nhà thơ trước sự khắc nghiệt của thời gian và sự quên lãng. Chẳng còn thấy ai nhớ đến những người đi biển xấu số. Câu thơ dịch khá hay: Rồi chẳng còn ai nhớ… dần tan Thân trong nước, tên trong trí nhớ… Thời gian qua dần phủ bóng đen Trên biển sâu và lòng lãng quên!” Sự lãng quên của người đời càng làm cho nỗi đau dồn tụ lại, nén chặt lại trong lòng người vợ góa - người cô phụ! Đã bao nhiêu đêm dài, bao năm tháng dằng dặc, nàng đợi chờ người chồng xấu số. Tuổi xuân đã trôi qua. Trong lúc người đời bận rộn với công việc làm ăn (chài lưới, cày ruộng…) “chẳng ai nhớ dáng hình anh nữa” thì chỉ có người vợ góa đau khổ “bơ phờ mỏi mắt” buồn tủi, đau xót thương nhớ người chồng thân yêu đi biệt mãi. Mọi kỉ niệm đẹp một thời bi phủ dưới “lớp tro tàn” của thời gian được người vợ nhắc lại trong nỗi đau tê tái: “Chỉ đêm đêm, giông bão gào lay Những người vợ bơ phờ mỏi mắt Kể về anh, khêu lớp tro tàn Của lòng đau và của lo than!” Hình ảnh “lớp tro tàn”, “lòng đau”, “lò than” cực tả nỗi đau khôn nguôi trong lòng người cô phụ. Đau trong nỗi đau cô đơn, chỉ mình nàng biết, chỉ mình nàng hay! Trong phần hai của bài thơ “Biển đêm”, tứ thơ vận động theo quy luật thời gian và dòng đời. Khổ 3, nói về sự nhớ thương của cha me… Khổ 4, người thân yêu nhắc lại những hình ảnh và kỉ niệm về những kẻ viễn du trên những con tàu đi mãi chưa về. Khổ 5, nói về sự quên lãng của người đời đối với các anh. Khổ 6 nói về thương nhớ, đau xót không nguôi của những người vợ goá trong những đêm dài. Có thể nói tiếng thơ của Huygô đã diễn tả một cách sâu sắc, cảm động nỗi đau trong 9 tầng sâu của lòng người - những người vợ có chồng đã chết thê thảm trong bão tố giữa mịt mùng biển đêm. 3. Phải chăng lúc triều lên sóng vỗ… Hai khổ cuối diễn tả nỗi lòng nhà thơ đối với những thủy thủ vĩnh viễ vùi xác dưới các đại dương. Thủ phát nghệ thuật tương phản được vận dụng thần tình để làm nổi bật tấm lòng nhân đạo bao la của tác giả. Sự lãng quên vĩnh viễn về số phận bi thảm của những người bị đắm tàu là qui luật khắc nghiệt của thời gian và sự bận rộn của cuộc đời. Sau khi những người vợ góa qua đời thì cảm thương thay, chẳng còn một ai nhắc đến tên các anh. Hòn đá, cây liễu, người hành khất và bài hát buồn… nào ai còn nhớ đến anh đâu! Cỏ cây… và lòng người đều quên lãng. Các thuyền viên, thuyền trưởng đều trở thành cô hồn giữa đại dương: “Hòn đá trong nghĩa địa vắng tanh Cả gốc liễu mùa thu trút lá Và cả người hành khất bên cầu Hát điệu buồn ai nhớ anh đâu!” Rồi nhà thơ xúc động cất lên lời than. Huygô như đang nhìn vào nơi đây sâu thẳm đại dương mà đau xót: Ôi! Đâu hết những người thủy thủ Chìm trong đêm, bi thảm đời người” Sóng thủy triều mỗi buổi chiều dâng lên như đang cùng nhà thơ đối thoại và chia sẻ với bao nỗi thương tâm. Sóng như một chứng nhân về thảm họa một đêm không trăng trên đại dương thuở nào đang thầm thì với nhà thơ. Chỉ có sóng - tượng trưng cho thiên nhiên vĩnh hằng, chiều chiều cùng với thủy triều dâng lên như những bài ca bất tận về những người đã khuất trên biển đêm. Sóng đại dương mãi mãi chia sẻ với nhà thơ nỗi đau lòng, thương cảm đối với những người bất hạnh vùi thân dưới đáy đại dương mịt mùng. Sóng đã được nhân hóa, sóng đang cùng nhà thơ cảm thương đau xót, kể lại nhưng câu chuyện đau lòng cho những người mẹ đang quỳ gối nguyện cầu. Vần thơ mang sắc điệu trữ tình rung lên như một tiếng lòng nức nở thể hiện đằm thắm, thiết tha chủ nghĩa nhân đạo bao la của Huygô: “Kinh hoàng bao lòng mẹ, biển ơi! Phải chăng lúc triều lên sóng vỗ Những tiếng người tuyệt bọng kêu la Mỗi chiều về, lại đến cùng ta!” Những người biết tiếng Pháp chút ít, mỗi lần đọc đến câu thơ cuối bài, rất lấy làm thú vị về âm điệu, nhạc điệu ngân rung được Huygô diễn tả một cách tinh tế qua các điệp thanh, các phụ âm “v” dồn dập như những làn sóng biển: “Que vous avez le soir quand vous venez vers nous!” “Biển đêm” là một bài thơ chứa chan tinh thần nhân đạo. Cái chết bi thảm của những thủy thủ trên đại dương để lại bao lỗi đau lòng thương nhớ không nguôi trong lòng người. Trong dòng chảy của cuộc đời và thời gian, dù họ có bị quên lãng đi trong lòng người, thì Huygô và ngàn năm sóng vỗ vẫn xót thương không cùng đối với họ. Huygô là nhà thơ tiêu biểu nhất của chủ nghĩa lãng mạn Pháp. Lấy “Biển đêm”, lấy màn đêm để lột tả thiên nhiên bí ẩn, hãi hùng, để diễn tả nỗi đau âm thầm, để nhà thơ chìm sâu trong suy tưởng để trầm ngâm hoặc đối thoại với lòng mình về nỗi đau nhân thế và số phận đau thương của con người, về cái chết và nỗi đau trên cõi đời, về cái mất và cái còn trong dòng chảy thời gian. Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong “Biển đêm” cho ta nhiều ám ảnh về nỗi thương đau. Phải chăng “Biển đêm” trong thơ Huygô cũng là “bể trầm luân” trong văn học cổ Việt Nam, trong thơ Nguyễn Du?
Xem thêm

4 Đọc thêm

Nguyên nhân nào dẫn đến cái chết bi thảm của Vũ Nương?

NGUYÊN NHÂN NÀO DẪN ĐẾN CÁI CHẾT BI THẢM CỦA VŨ NƯƠNG?

Nguyên nhân nào dẫn đến cái chết bi thảm của Vũ Nương ? Tác dụng chi tiết tưởng tượng kì ảo ? Chỗ nào trong tác phẩm có chi tiết tưởng tượng kì ảo ? Cái bóng trong tác phẩm có ý nghĩa gì ?Tác phẩm này thuộc thể loại nào? Truyền kì, mạn lục là gì? Giải 1,Nguyên nhân dẫn đến cái chết của Vũ Nương -Đó là kết quả thảm khốc của chiến tranh( dù là chính nghĩa hay phi nghĩa). Nếu không có chiến tranh sảy ra thì trương Sinh ko phải đi lính và ko có sự việc đáng tiếc này sảy ra -Đó chính là lời nói ngây thơ của bé Đản khi kể chuyện vs người cha về chiếc bóng oan nghiêt. Đây chính là mấu chốt để dẫn tới nguyên nhân cho sự hiểu lầm về con người Vũ nương -Đó Là Trương Sinh, một con người bảo thủ, độc quyền, đa nghi là nguyên nhân tiếp theo để dẫn đến cái chết của Vũ Nương. -Tất cả điều trên nhìn chung đều là do xã hội pk bất công. Trọng nam khinh nữ, nam quyền nên số phận của người phụ nữ luôn bị người đàn ông nắm giữ 2,Tác dụng của chi tiết tưởng tượng kì ảo(kái này thì mh chưa rõ,để xem lại đã) 3,Chỗ nào trong tác phẩm có chi tiết tưởng tượng kì ảo ? -Đoạn Phan Lang được Linh Phi cứu khi chạy loạn và gặp lại Vũ Nương dưới thủy cung.Cảnh Vũ Nương trở về 4,Cái bóng trong tác phẩm có ý nghĩa gì ? -Đối với Vũ Nương:Trong những ngày xa chồng,vì thương nhớ chồng,vì ko muốn con nhỏ thiếu vắng tình cảm của cha nên Vũ Nương đã chỉ bóng của mh và nói là cha của bé Đản -Đối với bé Đản:Mới 3 tuổi,còn ngây thơ chưa hiểu biết hết những điều phức tạp nên đã tin là có một người cha đêm nào cũng đến,mẹ đi cũng đi,mẹ ngồi cũng ngồi,nhưng nín thin thít và ko bao giờ bế nó -Đối với Truong Sinh:lời nói của bé Đản về ng cha khác đã làm nảy sinh sự nghi ngờ vợ ko chung thủy,nảy sinh thái độ ghen tuông và lấy đó là = chứng để về mắng nhiếc và đánh đuổi vợ đi.để VN phải tìm đến cái chết đầy oan nghiệt *Cái bóng là nút tháo gỡ mọi hiểu lầm của TS về VNchỗ này bạn có thể thêm 1 số chí tiết chứng minh vào{mình ngại đánh}) 5,Tác phẩm thuộc thể loại truyền kì *Truyền kì mạn lục là ghe chép tản mạn những điều kì lạ vẫn được lưu truyền(cái này có trong sgk rùi,bạn có thể xem lại .
Xem thêm

1 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : LUYỆN TẬP VẬN DỤNG CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU VĂN BẢN THUYẾT MINH

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : LUYỆN TẬP VẬN DỤNG CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU VĂN BẢN THUYẾT MINH

LUYỆN TẬP VẬN DỤNG CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU VĂN BẢN THUYẾT MINH 1. Phân tích hình thức kết cấu của văn bản Chu Văn An – nhà sư phạm mẫu mực: - Đối tượng thuyết minh của bài văn là gì? - Bài văn được kết cấu như thế nào? - Hình thức kết cấu của bài văn có phù hợp với đối tượng không? Gợi ý: - Đối tượng thuyết minh: Nhân vật lịch sử – Chu Văn An. - Hình thức kết cấu: Bài văn có bố cục 3 phần. Phần 1 (từ Chu Văn An tên tự là… đến …Canh Tuất (1370)) giới thiệu tên tuổi, quê quán của Chu Văn An. Phần 2 (từ Chu Văn An từ hồi còn trẻ… cho đến Sau ông mất tại đó) giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Chu Văn An. Phần 3 (từ Theo thư tịch  cũ… cho đến hết) giới thiệu về ảnh hưởng, vị trí lịch sử của Chu Văn An sau khi chết. - Kết cấu của văn bản được sắp xếp theo trình tự thời gian. Đây cũng là hình thức kết cấu điển hình cho bài văn thuyết minh về một nhân vật lịch sử (hay nhà chính trị, nhà văn hoá, nhà văn,…). 2. Phân tích hình thức kết cấu của văn bản Ra-ma-ya-na: - Đối tượng thuyết minh của bài văn là gì? - Bài văn được kết cấu như thế nào? Gợi ý: - Đối tượng thuyết minh: Tác phẩm văn học – sử thi Ấn Độ Ra-ma-ya-na. - Hình thức kết cấu: Văn bản có bố cục 3 phần. Phần 1 (từ đầu cho đến …gây xúc động cho người đọc) giới thiệu về lai lịch, quy mô của tác phẩm. Phần 2 (từ Truyện kể rằng… cho đến …là Vi-snu – Thần Bảo vệ của vũ trụ) giới thiệu tóm tắt nội dung truyện. Phần 3 (phần còn lại) giới thiệu về giá trị và sức ảnh hưởng của tác phẩm. Bài văn này được kết cấu theo trình tự thời gian và trình tự lô gích. 3. Khi thuyết minh về một tác gia văn học, có thể tổ chức bài văn theo hình thức kết cấu nào? Gợi ý: Có thể tổ chức bài văn theo bố cục 3 phần với hình thức kết cấu sau: - Mở bài: Giới thiệu tác gia văn học và nêu nhận định chung về vị trí, thành tựu văn học của tác gia đó. - Thân bài: + Giới thiệu sơ lược về tiểu sử (năm sinh, quê quán, gia đình, những dấu mốc nổi bật trong cuộc đời,…); + Giới thiệu sự nghiệp sáng tác (các tác phẩm chính, đánh giá khái quát,…); + Giới thiệu vị trí, ảnh hưởng, những đóng góp chủ yếu của tác gia đối với văn hoá, văn học dân tộc. - Kết bài: Khẳng định về đóng góp, vị trí của tác gia trong lịch sử văn học. 4. Khi thuyết minh về một tác phẩm văn học, có thể tổ chức bài văn theo hình thức kết cấu như thế nào? Gợi ý: Có thể tổ chức bài văn thuyết minh về một tác phẩm văn học theo hình thức kết cấu như sau: - Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác phẩm (nhan đề, tên tác giả, xuất xứ,…). - Thân bài: + Giới thiệu về vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp văn học của nhà văn (nhà thơ); + Giới thiệu những nét nổi bật về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm; - Kết bài: Đánh giá chung về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Em đã chứng kiến cảnh bão lụt ở quê mình hoặc xem cảnh đó trên truyền hình, hãy tả lại trận bão lụt khủng khiếp đó

EM ĐÃ CHỨNG KIẾN CẢNH BÃO LỤT Ở QUÊ MÌNH HOẶC XEM CẢNH ĐÓ TRÊN TRUYỀN HÌNH, HÃY TẢ LẠI TRẬN BÃO LỤT KHỦNG KHIẾP ĐÓ

Em đã chứng kiến cảnh bão lụt ở quê mình hoặc xem cảnh đó trên truyền hình, hãy tả lại trận bão lụt khủng khiếp đó  Sóng thần ở Inđônêxia hay cơn bão khủng khiếp Catrina vừa đổ bộ vào nước Mỹ tuần này rõ ràng là những minh chứng không gì thuyết phục hơn cho điều ấy. Một biển nước mênh mông với bao điều đáng sợ chiếm trọn mười phút mục dự báo thời tiết của đài truyền hình. Cơn bão dù đã được dự báo trước nhưng người dân Mỹ vẫn phải hứng trọn một lần nổi giận của thần biển Pôdây đông. Cả một thành phố công nghiệp chìm trong mênh mông biển nước. Thuyền cứu hộ chạy ầm ầm trong thành phố như chạy giữa mặt sông. Lác đác đây đó còn lại một vài ngôi nhà nổi lên phần nóc hoặc trần. Trên đó không biết có bao nhiêu người đang gào khóc dơ tay cầu cứu. Tình cảnh trông đến thảm thương. Chẳng ai có thể ngờ được ở nước Mỹ lại có những cảnh tượng đau lòng như vậy. Nước trong thành phố bắt đầu chuyển màu đen. Nó bị ô nhiễm nặng bởi bao nhiêu thứ trong đó có không ít xác người. Cả thành phố ngột ngạt trong cảnh không điện, không thức ăn, nước uống, không thuốc men. Tình cảnh gợi những căn bệnh hiểm nghèo dễ dàng lấn đến trong nay mai. Cả thành phố vẫn đang kêu cứu còn nước thì chưa hề có dấu hiệu rút đi. Cả nước Mỹ đang ở tình trạng vô cùng khẩn cấp. Cũng may mấy ngày sau,. Nước rút và nhờ có sự nỗ lực của tất cả mọi người đặc biệt là của quân đội, cảnh sát và những tình nguyện viên, nhiều người dân đã được cứu ra khỏi vùng nguy hiểm. Tuy phải chen chúc trong những trại tập trung nhưng họ vẫn còn may mắn hơn bao người chết đói, chết rét hay bị bão lũ cuốn đi. Ôi! Còn thiệt hại về vật chất thì không thể nào kể nổi. Nhà thì đổ, ô tô bị nước cuốn trôi, đường dây điện đứt? nước rút đi nhưng cả thành phố vẫn ngập trong bùn đất đen nhánh và nhão nhoét. Hết bão nhưng bây giờ mới là lúc bệnh tật hoành hành. Đấy là còn chưa kể nỗi đau thê thảm của bao gia đình mất người thân. Phải có đến hơn một nửa số gia đình trong trận bão phải chịu cảnh “tan đàn xẻ nghé”. Sự mất mát đau thương ngày một lớn thêm không thể lấy gì bù đắp. Dù cả thế giới đang nỗ lực hết mình với tinh thần tương thân tương ái nhưng so với những mất mát đã qua sự bù đắp ấy chẳng thấm tháp gì. Dù chỉ được nhìn thấy qua màn ảnh nhỏ nhưng tôi có thể cảm nhận hậu quả trận bão thật là to lớn. Cả thế giới đang hướng về nước Mỹ bằng một sự cảm thông nhưng qua đó, quốc gia nào cũng phải giật mình. Thiên nhiên không phải dễ gì nắm bắt và điều tiết được dù quốc gia ấy có thế lực kinh tế lớn đến cỡ nào. loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

PHÂN TÍCH SỨC SỐNG TIỀM TÀNG CỦA NHÂN VẬT MỊ TRONG VỢ CHỒNG A PHỦ CỦA TÔ HOÀI THỂ HIỆN TRONG CẢNH NGỘ KHI CÔ BỊ BẮT LÀM CON DÂU GẠT NỢ NHÀ THỐNG LÍ PÁ TRA ĐẾN KHI TRỐN KHỎI HỒNG NGÀI.

PHÂN TÍCH SỨC SỐNG TIỀM TÀNG CỦA NHÂN VẬT MỊ TRONG VỢ CHỒNG A PHỦ CỦA TÔ HOÀI THỂ HIỆN TRONG CẢNH NGỘ KHI CÔ BỊ BẮT LÀM CON DÂU GẠT NỢ NHÀ THỐNG LÍ PÁ TRA ĐẾN KHI TRỐN KHỎI HỒNG NGÀI.

Vợ chồng A Phủ là một trong ba truyện ngắn của tập truyện Truyện Tây Bắc được Tô Hoài sáng tác trong những ngày tham gia chiến dịch giải phóng Tây Bắc 1952. Mị là một trong những hình tượng nhân vật thành công tiêu biểu trong văn xuôi của Tô Hoài thời kì 1945 - 1975 viết về đề tài miền núi. 1.Giới thiệu chung tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và nhân vật Mị: -  Vợ chồng A Phủ là một trong ba truyện ngắn của tập truyện Truyện Tây Bắc được Tô Hoài sáng tác trong những ngày tham gia chiến dịch giải phóng Tây Bắc 1952. - Mị là một trong những hình tượng nhân vật thành công tiêu biểu trong văn xuôi của Tô Hoài thời kì 1945 - 1975 viết về đề tài miền núi. 2.Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị: -  Nhân vật Mị là hiện thân của số phận đau thương nhưng vẫn tiềm tàng sức sống và đã thức tỉnh. - Không chấp nhận làm con dâu gạt nợ nhà thống Lí, Mị có ý định tự tử, cô muốn dùng cái chết để phản đối số phận tủi nhục của mình. - Vì thương cha, vì không chịu nhục không trả được món nợ truyền kiếp, Mị đã phải sống câm lặng trơ gan như tảng đá trước cửa cạnh chuồng ngựa nhà thống lí, sống lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Mị thấy cuộc đời mình còn thua con trâu, con ngựa vì “con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái trong nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày". Mị lại ở trong một cái buồng "kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra đến bao giờ chết thì thôi". Nhưng không vì thế mà sức sống trong con người Mị bị thui chột, mà vẫn tiềm ẩn đâu đó, chỉ chực chờ có cơ hội là bùng lên và bùng lên mãnh liệt. - Khi mùa xuân về, như quy luật vạn vật hồi sinh, sức trẻ trong Mị bừng trỗi dậy, Mị khêu đèn lên cho sáng căn buồng của mình, cô lén lấy hũ rượu uống ừng ực từng bát. Mị bồi hồi nghe tiếng sáo, Mị vẫn thấy mình còn trẻ, Mị muốn đi chơi. Dù bị A sử trói chân tay không cựa quậy được, Mị vẫn lắng tai nghe tiếng sáo và thả hồn theo những cuộc chơi. - Cảm thấy số phận A Phủ gần kề cái chết, Mị đã cắt dây cứu A Phủ và cùng A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài. Hành động giải phóng này là tất yếu của sức sống tiềm tàng trong nhân vật Mị vượt qua chế độ phong kiến tàn bạo, lạc hậu đang chà đạp đời sống vật chất và tinh thần người nông dân miền núi. Trích: loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Bệnh chết nhanh cây hồ tiêu

Bệnh chết nhanh cây hồ tiêu

Nội dung: Lời nói đầu: Triệu chứng bệnhNguyên nhân gây bệnhĐặc điểm phát sinh phát triển bệnhBiện pháp phòng trừKết luậnTài liệu tham khảo1.Lời nói đầu:+ Từ xưa đến nay nói đến cây hồ tiêu trước hết là nói đến bệnh hại ,đó là vấn đề lớn nhất với người trồng tiêu, trong đó lưu ý nhất vẫn là bệnh thối gốc, chết dây hay còn gọi là bệnh chết nhanh + Có tên gọi như vậy là vì từ khi thấy cây tiêu “ủ rũ”, dây héo, xuống lá bắt đầu chuyển vàng, rụng nhiều lá chỉ để lại dây, cành trơ trọi (các triệu chứng như trên chỉ diễn ra trong vòng từ 7 – 10 ngày) sau đó cây tiêu chết rất nhanh trong vòng vài tuần lễ. 2. Triệu chứng bênh: Bệnh có thể xâm nhập và gây hại ở tất cả các bộ phận của cây từ thân, lá, hoa, trái cho đến cổ rễ và rễ. Nhưng nguy hiểm nhất và cho cây tiêu bị chết hàng loạt là khi tấn công vào phần cổ rễ và rễ.Triệu chứng là cây tiêu đang tươi tốt thì đột ngột bị héo rũ, khô đen rất nhanh, hoặc xuất hiện một ít lá bị vàng úa, thân thối đen ,sau đó các lá tiếp tục bị vàng hoặc thâm đen lây lan dần lên trên, cây tiêu héo rũ rất nhanh, có khi lá héo rũ trên cây đến sáng sớm có thể thấy cây tiêu tươi trở lại do ướt sương vào ban đêm. Sau đó các đốt thân cũng biến màu thâm đen và rụng. Hiện tượng rụng lá và đốt thường bắt đầu từ ngọn trở xuống. Bệnh xâm nhiễm vào cây tiêu bắt đầu ở vùng cổ rễ(ngang mặt đất) hoặc phần bên dưới mặt đất làm thối cổ rễ , sau đó phần hư thối này lan dần lên trên và cây tiêu biểu hiện các triệu chứng đã nêu,thân bắt đầu xì mủ,thâm đen các đốt . Bênh tiến triển rất nhanh từ khi phát hiện thấy lá tiêu hơi rũ xuống cho đến khi lá rụng ào ạt có khi chỉ 27 ngày và đến khi tiêu chết hoàn toàn có thể trong vòng 12 tuần. Nguyên nhân chính do nấm Phytophthora palmivora gây ra. Nấm Phytophthora palmivora là nấm thủy sinh nên chúng ưa thích và rất cần sự ẩm ướt để sinh sản, phát triển và gây hại. Bệnh phát triển, lây lan mạnh trong mùa mưa, nhiệt độ không khí thích hợp từ 15 đến  30ºC, đặc biệt vào thời gian mưa nhiều, mưa dầm, ẩm độ cao.  Khi cây bị nhiễm bệnh ngoài Phytophthora còn có một số chủng nấm như Fusarium, Pythyum, Rhizoctoniasolanii,…và nhiều loại khuẩn có hại khác  cùng đồng loạt gây hại cho cây.  Đặc biệt cây lây lan ngầm qua sự tiếp giáp của hai lớp rễ giữa cây bị bệnh và cây không bị bệnh, mặt khác khi cây trưởng thành thường bộ rễ ăn rất xa, có thể rễ của cây bị bệnh lại nằm ngay trong gốc của cây khác và ngược lại, chúng ta thường biết khi cây bị chết nhanh thì toàn bộ bộ rễ của cây đều bị thối nhũn, nguyên nhân gây bệnh cũng từ đây. Do vậy ta cần đào rãnh sâu để cách ly khu vực bệnh, nên đào sâu để cho các mạch rễ đứt và không có sự tiếp giáp với nhau. Qua đó ta phân lô, khoanh vùng để có hướng điều trị phù hợp cho tùng khu vực bệnh.biện pháp phòng trừKhông trồng tiêu trên các vườn cà phê, vườn tiêu vừa bị tuyến trùng phải nhổ bỏ, nếu muốn trồng lại thì phải tiến hành cày xới, thu gom rễ, phơi đất, sau đó luân canh ít nhất 23 vụ màu. Để diệt mầm tuyến trùng còn sót lại trong đấtXử lý hom tiêu ngay khi cắt và ươm bầu bằng các loại thuốc trị nấmHố trồng tiêu cần xử lý bằng các loại thuốc trị nấm và phải chuẩn bị trước 1015 ngày trước khi trồng tiêuChọn các giống tiêu có khả năng sinh trưởng khỏe mạnh và kháng bệnh tốt như: Giống tiêu Vĩnh Linh, Giống tiêu trâu, Giống tiêu ghépTạo môi trường thông thoáng cho vườn tiêu nhất là vào mùa mưa. Đối với cây trụ sống làm trụ tiêu cần rong tỉa mạnh đầu mùa mưaKhi trồng tiêu tốt nhất không nên tạo bồn, đồng thời cần phải có rãnh thoát nước ở giữa các hàng tiêu, tránh hiện tượng đọng nước ở gốc tiêu tạo điều kiện sinh sôi các loại nấmTủ gốc trong mùa khô cũng không nên tủ vào sát gốc mà cách gốc 2030cm, tưới nước vừa đủ, hạn chế tưới tràn làm bệnh lây lan nhanh hơn
Xem thêm

Đọc thêm

Cuộc đời và tính cách người nông dân trong xã hội cũ qua đoạn trích Tức nước vỡ bờ và truyện Lão Hạc

CUỘC ĐỜI VÀ TÍNH CÁCH NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG XÃ HỘI CŨ QUA ĐOẠN TRÍCH TỨC NƯỚC VỠ BỜ VÀ TRUYỆN LÃO HẠC

Bài 1 Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đã sinh ra những tác giả và tác phẩm để đời.Riêng mảng đề tài về người nông dân,chúng ta phải xếp lên nhóm đầu Lão Hạc của Nam Cao và Tắt đèn của Ngô Tất Tố.Hai tác phẩm tuy chỉ là những truyện ngắn nhưng sức khái quát của chúng không hề nhỏ.Đọc tác phẩm,người ta thấy cả không khí ngột ngạt mà người nông dân Việt Nam trước Cách Mạng tháng Tám phải chịu đựng.Và ở giữa cái guồng quay tàn nhẫn ấy,có những con người,những thân phận đang cố chới với thoát khỏi dòng đời một cách đầy tuyệt vọng. Với Tắt đèn và Lão hạc,cả Ngô Tất Tố và Nam Cao đều trở về với nông thôn.Nhưng nếu như người ta cứ tưởng nông thôn Việt Nam từ xưa đến nay yên bình sau những lũy tre lành thì hình ảnh cái vùng quê kiểu ấy biến mất hoàn toàn trên những trang văn của Ngô Tất Tố lẫn Nam Cao.Ở Tắt đèn và Lão Hạc,sau cái cổng làng đầy rêu mốc là một nông thôn dữ dội như một bãi chiến trường và kỳ thực ở đó người nông dân dù muốn hay không cũng đang bị biến thành những “chiến binh số phận”. Chỉ với mấy chục trang văn,hai tác giả đã cho bạn đọc một hình dung khá trọn vẹn về người nông dân Việt Nam trước Cách Mạng.Đó là những con người đang dần nghẹn thở vì sự bóc lột của thực dân và phong kiến theo mọi cách khác nhau.Cuộc sống của họ tủi nhục,đau buồn khiến họ lúc nào cũng có thể nghĩ cái chết có khi còn dễ chịu hơn nhiều. Ta hãy sống với cuộc đời của Lão Hạc.Một lão nông dân nghèo,chỉ cần nghe qua tiểu sử cũng đủ thấy bao điều bất hạnh.Vợ lão chết sớm để lại cho lão một cậu con trai với mấy sào vườn-thành quả bòn mót suốt cuộc đời của người đàn bà xấu số.Nhưng có vẻ như nhà lão Hạc còn khá khẩm hơn nhiều gia đình khacd.Mọi chuyện chỉ nảy sinh khi con lão đến tuổi lập gia đình.Nhà gái thách cưới cao,nhà lão thì nghèo quá.Kết quả là thằng con lão đành nhìn cô người yêu lấy chồng sang cửa giàu hơn.Nó quẫn chí,ngay mấy hôm sau xin đi đồn điền.Lão Hạc đau lòng lắm nhưng tất cả cũng vì nghèo nên đành ngậm đắng nuốt cay.Con lão bỏ đi lão con chó với mảnh vườn nhưng cái vườn của lão lúc nào cũng bị người ta dòm ngó đòi cướp mất.Lại thêm làng mất vê sợi,lão lại ốm đau luôn.Trăm cái bất hạnh,trăm cái lo lắng đổ xuống cái túi đang dần nhẵn thín của lão nông nghèo.lão không thể nào chống lại,lão đành chấp nhận “chết mòn” rồi “chết hẳn” trong đau đớn,xót xa.Một cái chết đầy bi kịch. Bài 2 Từ xưa đến nay nói đến tình người , ta nói ngay đến “Lão Hạc” . T/p này được coi là truyện ngắn xuất sắc của văn học hiện thực phê phán thời kỳ 1930-1945 . Đó là 1 truyện ngắn chứa chan tình người, lay động bao nỗi xót thương khi t/giả kể về cuộc đời cô đơn , bất hạnh và cái chết đau đớn của 1 lão nông dân nghèo khổ . Nv lão Hạc đã khắc hạo vào lòng người đọc 1 cách sâu đậm về hình ảnh 1 lão nông dân đáng kính với phẩm chất của con người đôn hậu , giàu lòng tự trọng và rất mực thương con Cuộc đời lão hạc là 1 chuỗi những đau khổ bất hạnh, 1 kiếp người chua chát và cay đắng từ khi sinh ra cho đến khi ra đi về cõi vĩnh hằng . Góa vợ từ khi còn trẻ, 1 mình lão gà trống nuôi con trong cảnh đói nghèo, lam lũ những mong con khôn lớn.,trưởng thành làm chỗ nương tựa lúc ốm đau, khi tuổi già . Nhưng niềm hạnh phúc ấy đã ko đến với lão . Vì ko đủ tiền cưới vợ, anh con trai phẫn chí đăng tên đi phu làm đồn điền cao su . Cảnh chia lìa của cha con lão Hạc ko hẹn ngày sum họp. lão hạc mất vợ nay lại thêm nỗi đau mất con Cảnh khốn khó về vật chất hòa trong nỗi đau về tinh thần thành dòng lệ chảy trong trái tim chờ đợi khắc khoải của người cha . Nhưng cuộc đời dường như vẫn chưa buông tha lão . Bất hạnh rồi bất hạnh cứ liên tiếp giáng xuống đầu người cha khốn khổ ấy . Kiệt sức vì lam lũ lầm than , vì mòn mỏi chờ đợi. Lão ốm nặng, Sau trận ốm đó lão ốm đi rất nhiều ,ko thể làm được những việc nặng . Làng mất nghề sợi , đàn bà rỗi rãi nhiều, có việc gì nhẹ họ đều tranh hết. Lão hạc rơi vào cảnh bần cùng hóa hoàn toàn . Lão sống vật vờ với con ốc, con trai , củ khoai, củ ráy , sung luộc …. Những thứ cũng chẳng dễ gì kiếm được với 1 lão già đã cạn kiệt sức lực Cùng đường sống, lão hạc tìm đường đến cái chết, lấy cái chết để tự giải thoát cho mình. Lão đã ăn bả chó để tự tử. Lão chết đau đớn thê thảm “đầu tóc rũ rượi, mắt long sòng sọc, mồm tru tréo bọt mép sùi ra . Vật vã đến 2 giờ đồng hồ rồi mới chết ”. Cái chết thật dữ dội ! số phận 1 con người , 1 kiếp người như lão hạc thật đau thương Với ngòi bút nhân đạo tha thiết, NC đã nói lên bao tình thương nỗi xót xa con người đau khổ , bế tắc phải tìm đến cái chết như lão . Chí Phèo tự sát bằng lưỡi dao , Lang Rận thắt cổ chết và lão Hạc cũng quyên sinh bằng bả chó ! Lão Hạc từng hỏi ông giáo : “nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho sướng ? ” . Câu hỏi ấy thể hiện nỗi đau khổ tột cùng của 1 con người lão hạc sống nghèo khổ về vật chất nhưng rất giàu tình cảm . Tình yêu thương con nồng nàn sâu sắc của lão là câu chuyện cảm động về tình cha con . Nhìn con đau khổ vì ko có tiền cưới vợ , lão hạc khổ tâm vô cùng . Lão thấy mình như có lỗi với con và day dứt mãi . Khi con phẫn chí đăng trốn đi làm đồn điền cao su ; trái tim người cha thật sự tan nát . Nỗi thương nhớ con thường trực trong người cha đã biến thành sự khắc khoải ngóng trông : “Thằng cháu nhà tôi dễ đến hơn 1 năm nay chẳng có giấy má gì ông giáo ạ ” . Ta đọc được trong âu nói tình cảm ấm áp của người cha . Thương nhớ con lão dồn tình cảm âu yếm cậu vàng – kỉ vật của người con để lại . Cái tên cậu vàng đã chứa đựng tất cả tình cảm quý mến và thân thiết đối với 1 con vật – một kỉ vật . ko phải bất cứ người nào cũng có thể yêu thương con vật như vậy . Những cơn mưa bão liên miên , hoa màu trong vườn đều bị phá sạch , việc làm chẳng còn , nếu cứ tiếp tục như vậy thì sẽ ăn vào số tiền chắt chiu dành dụm cho con . Đặt lên bàn cân mà tính, suất ăn của con chó cũng = lão, vậy thì tốn quá . Giữa số tiền dành dụm cho con và con chó – người bạn tâm tình , lão sẽ chọn ai đây ? Để đi đến quyết định , lão đã phải dằn vặt đau khổ , lão suy nghĩ nhiều, nhiều lắm mới dũng cảm bán con chó . Cuộc lựa chọn khó khăn tàn khốc diễn ra trong nước mắt . Nhưng nếu ko bán con chó, lão sẽ chết và số tiền dành dụm cho con cũng chẳng còn . Lão bán chó đâu phải để ăn mà để lo tương lai cho đứa con . Hình ảnh lão hạc “miệng méo xệch , khóc hu hu” khi nghĩ rằng mình đã lừa 1 con chó là hiện thân của tấm lòng cao cả Bao nhiêu tình yêu thương con lão dồn cả vào việc quyết giữ = được mảnh vườn cho con . Khi đã hết đường sinh nhai, lão có thể bán vườn đi, nhưng lão ko làm thế, lão thà chết chứ nhất định ko chịu bán đi 1 sáo . Thậm chí trước lúc chết lão còn tìm nơi nhờ cậy gửi gắm mảnh vườn ấy … Cuộc đời lão hạc thật bi thương . Nhưng giữa cuộc đời khốn khó, lão hạc vẫn ý thức được nhân phẩm của mình . Lòng tự trọng của 1 người ko cho phép lão nhận sự giúp đỡ của ông giáo mà lão biết chẳng sung sướng gì hơn lão , càng ko cho phép lão phiền lụy đến bà con lối xóm . Ý thức được điều đó 1 cách sâu sắc , lão hạc đã nhịn ăn để dành tiền làm ma chay cho mình . Ta nhận thấy ở lão 1 triết lí sống cao đẹp biết dường nào .. Dưới 1 xã hội đen tối ngột ngạt , ko ít người đã đánh mất nhân phẩm , hoặc tha háo biến chất . Ta cũng dễ dàng tìm thấy họ qua 1 loạt sáng tác của NC. Nhưng khác với họ , dù nghèo đến đâu , lão hạc vẫn sống trong sạch và lương thiện . Chính nv ông giáo đã nx về lão : “ Binh Tư là 1 người láng giềng khác của tôi . Hắn là nghề ăn trộm nên vốn ko ưa gì lão hạc bởi vì lão lương thiện quá . ” Hết kế sinh nhai lão có thể chọn con đường theo Binh Tư nhưng lão ko làm như thế . Lão thà chết chứ nhất định ko bán linh hồn cho quỷ sứ . 1 cách sống và xử thế thật đáng trân trọng , phù hợp với đạo lý “thác trong hơn sống đục” của nhân dân ta Cuộc đời của lão hạc đầy nước mắt , nhiều đau khổ và bất lực ; sống thì âm thầm nghèo đói cô đơn ; chết thì quằn quại đau đớn . Tuy thế , lão hạc lại có phẩm chất tốt đẹp như hiền lành chất phác , vị tha, nhân hậu , trong sạch và tự trọng …. lão hạc là 1 điển hình và người nông dân VN trong xã hội cũ, được NC miêu tả chân thực với biết bao trân trọng, xót thương, thấm đượm 1 tinh thần nhân đạo thống thiết.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều các bệnh tăng sinh lympho phần phụ nhãn cầu (FULL TEXT)

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG, KẾT QUẢ ĐIỀU CÁC BỆNH TĂNG SINH LYMPHO PHẦN PHỤ NHÃN CẦU (FULL TEXT)

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư nói chung trong đó có các bệnh tăng sinh lympho là một vấn đề “nóng” của sức khỏe người Việt nam hiện nay. Bệnh tăng sinh lympho gồm 2 nhóm bệnh lý: u lympho và tăng sản lympho. Theo nghiên cứu của bệnh viện K thì u lympho đứng hàng thứ 5 về tỷ lệ mắc, đứng hàng thứ 6 trong các nguyên nhân gây chết do ung thư [1]. U lympho phần phụ nhãn cầu ở thể tiên phát chiếm tới 42% trong các loại u phần phụ nhãn cầu, tỷ lệ mù lòa khoảng từ 2- 4%, tỷ lệ chết sau 5 năm khoảng 25% [2]. Ngược lại chỉ có từ 5% đến 8% bệnh nhân bị u lympho không Hodgkin toàn thân rồi sau đó lan tràn đến phần phụ nhãn cầu (u thứ phát) [3]. Tăng sản lympho (TSLP) có khi còn được gọi là tăng sản lympho phản ứng (reactive lymphohyperplasia) hoặc tăng sản lympho không điển hình (atypical lymphohyperplasia) hay giả u lympho (pseudolymphoma), chiếm khoảng 20% trong tổng số các trường hợp rối loạn tăng sinh lympho [4]. Hình thái tổn thương này chỉ chẩn đoán được nhờ xét nghiệm giải phẫu - mô bệnh học. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại đại như PET CT, MRI giúp bệnh nhân được chẩn đoán ngày càng sớm. Xét nghiệm nhuộm hóa mô miễn dịch, phản ứng chuỗi men polymerase (PCR), miễn dịch tế bào và miễn dịch phân tử... giúp cho y học ngày càng tiếp cận sâu và rộng với bản chất của khối u. Thuốc men, hóa chất, phương pháp chiếu xạ mới liên tục ra đời. Tuy nhiên điều trị nhóm bệnh lý này vẫn còn nhiều hạn chế. Bệnh tăng sinh lympho dù ở vị trí nào trên cơ thể cũng gây những tổn hại về thẩm mỹ, chức năng, thậm chí là sinh mạng. Phần phụ nhãn cầu là vị trí hay gặp của u lympho không Hodgkin, chỉ sau các hạch bạch huyết vùng đầu mặt cổ. Khi hạch chưa to, tình trạng toàn thân còn tốt bệnh nhân sẽ chọn khám mắt là việc đầu tiên. Hỏi bệnh, thăm khám, làm các xét nghiệm bổ sung sau đó phẫu thuật sinh thiết hoặc phẫu thuật cắt bỏ u có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho việc chẩn đoán xác định, phân loại mô bệnh học, định hướng và lựa chọn phương pháp điều trị, theo dõi và tiên lượng bệnh nhân. Phẫu thuật sinh thiết u hoặc phẫu thuật cắt bỏ u kết hợp mục đích sinh là phẫu thuật bắt buộc và phổ biến giúp cho các bác sĩ nhãn khoa xác định bản chất khối u, phân độ ác tính, lựa chọn phương pháp điều trị. Việc điều trị chuyên khoa khối u nếu có bằng hóa trị, xạ trị hay cả hai cũng phải dựa trên những bằng chứng lâm sàng và giải phẫu mô bệnh học của chuyên ngành mắt. Hơn nữa, điều trị bổ sung của chuyên khoa mắt bằng thuốc men cũng như phẫu thuật cũng giúp cải thiện thẩm mỹ, giải quyết các biến chứng do khối u gây nên: chèn ép thị thần kinh, hở mi, tăng nhãn áp… Để đóng góp vào vốn hiểu biết tổng thể về bệnh tăng sinh lympho phần phụ nhãn cầu trên các phương diện: lâm sàng, các xét nghiệm cận lâm sàng, các phương pháp điều trị, kết quả, biến chứng … nhóm nghiên cứu tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều các bệnh tăng sinh lympho phần phụ nhãn cầu”. Đề tài có các mục tiêu sau đây: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng các bệnh tăng sinh lympho phần phụ nhãn cầu. 2. Nhận xét kết quả điều trị các thể bệnh tăng sinh lympho phần phụ nhãn cầu.
Xem thêm

167 Đọc thêm

Soạn bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi

SOẠN BÀI ĐẤT NƯỚC CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI

-------------- bài khác I.GIỚI THIỆU : 1.Tác giả : - Nguyễn Đình Thi (Sinh năm 1924 tại Luông Phabăng-Lào ) - Quê quán : Hà Nội - Tham tham gia Hội Văn hoá cứu quốc khá sớm .Nguyễn đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên Cứu Quốc, 1943 tham gia Văn Hóa Cứu Quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại Hội Tân Trào, vào Ủy Ban Giải Phóng Dân Tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc Hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường Trực Quốc Hội, khóa I. - Từng giữ chức Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam .. - Là một nghệ sỹ đa tài . Không những là nhà thơ, nhà văn, ông còn là một nhà biên soạn kịch, là nhạc sỹ với nhiều ca khúc nổi tiến . Nhận giải thưởng HCM đợt đầu (1991 ) 2. Hoàn cảnh sáng tác : Tác phẩm viết trong khoảng thời gian từ 1948 -> 1955 . Bài thơ là sự tổng hợp của những sáng tác Sáng mát trong như sáng năm xưa (48 ), Đêm mít tinh (49 ) và Đất nước (55) . Đây là thời gian ông trải nghiệm , trưởng thành cùng Đất Nước trong kháng chiến chống Pháp lần 2 … II. BỐ CỤC :Bài chia làm hai phần : Đoạn 1 ( 5 khổ thơ đầu ) : Cảm nhận của tác giả về Quê hương Đất Nước Đoạn 2 ( Phần còn lại ) : Cảm nhận của tác giả về đất nước đau thương , anh dũng, quật cường . Tuy gồm nhiều khổ thơ nhưng toàn bài thơ thống nhất với nhau, chung một cảm hứng chủ đạo về Đất Nước ( Tên bài ) III. PHÂN TÍCH : 1. Đoạn 1: Cảm hứng cùa tác giả về mùa thu quê hương đất nước . a) 3 khổ đầu : Cảm xúc về mùa thu đất nước * Khổ 1: - Nhịp thơ nhẹ nhàng, êm dịu - Hình ảnh thơ chọn lọc, gợi cảm : “Sáng mát trong” “gió thổi ……….hương cốm mới” -> Cảm xúc dạt dào trước mùa thu đẹp của ĐN -> Mùa thu gợi nhớ HN đã xa * Khổ 2 : Hoài niệm về mùa thu HN : - Cảnh “Sáng chớm lanh ” (đầu thu) “những phố dài xao xàc hơi may” “thềm nắng lá rơi đầy" => Diễn tả trạng thái giao mùa dưới cái nhìn của nhà thơ (không gian, thời gian , cảnh vật, con người : mùa thu đẹp nhưng buồn (Vì đất nước có chiến tranh - Hình ảnh người ra đi : “đầu không ngoảnh lại” “sau lưng thềm nắng lá rơi đầy" => Người ra đi có vẻ cương quyết nhưng lòng còn quyến luyến. Đây là tâm trạng chung của TN bấy giờ : lý trí và tình cảm chưa hòa quyện với nhau => Mùa thu rong hoài niệm của nhà thơ : có cái gì buồn trong thời khắc chuyển mùa và thời khắc chia xa. * Khổ 3 : Cảm xúc về mùa thu kháng chiến - Cảnh thu VB : “núi đồi” , “rừng tre phấp phới” “áo mới ” -> cảnh thu mới mẻ, tươi đẹp, không gian rộng rãi tươi sáng - Tâm trạng : “vui, nghe”…”nói cươì thiết tha” -> phấn khởi , tin yêu -> Tâm trạng của nhà thơ hòa nhập vào niềm vui của cuộc đời và đất nước đổi thay * Khổ 4 : - Điệp từ : “đây” “những ” + liệt kê hình ảnh -> Gợi lên một đất nước giàu đẹp, mênh mông, rộng lớn. - Điệp ngữ :”của chúng ta” + âm hưởng rắn rõi, hào hùng -> khẳng định ý thức làm chủ đất nước và và niềm tự hào chính đáng của dân tộc. => Đoạn thơ mang cảm hứng sử thi tác giả nhân danh dân tộc, cộng đồng khẳng định quyền độc lập tự chủ của ĐN * Khổ 5 : - Nhịp thơ chậm, giọng thơ trầm lắng, suy tưởng. - “Nước những người chưa bao giờ khuất” -> truyền thống buất khuất của dân tộc. - “Đêm rì rầm …… ……..ngày xưa vọng nói về ” -> Không khí thiêng liêng, trang trọng -> Tiếng nói của lịch sử, của cha ông nhắc nhở con cháu mai sau. -> Mang cảm xúc của tác giả trở về quá khứ xa xăm đầy tự hào, có sự gặp gở giữa truyền thống và hiện tại. Sơ kết : Đoạn thơ thể hiện cảm xúc của tác giả về mùa thu ĐN và niềm tự hào về TQVN giàu đẹp, có truyền thống anh hùng buất khuất. 2. Đoạn 2 : Phần còn lại : ĐN trong kháng chiến a) Đất nước đau thương : “Những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều ” -> Ngôn ngữ tạo hình từ một ấn tượng có thật tác giả nâng thành biểu tượng ĐN đau thương, quằn quại trong chiến tranh - “Những đêm dài hành quân ….. Bỗng …….nhớ mắt người yêu ” -> Tình yêu đôi lứa và tình yêu ĐN, cái riêng và cái chung hòa nhập vào nhau trong tâm hồn người chiến sĩ . - “Bát cơm chan đầy nước mắt Đứa đè cổ đứa lột da ” -> Bạo lực hung tàn của kẻ thù. b) Đất nước anh hùng trong kháng chiến : * 3 khổ : “Từ……. Thương nhà ” - Đau thương trong chiến đấu > < ngời lên nét mặt quê hương - Gốc lúa bờ tre h.h > < bật lên ….căm hờn -> Hình ảnh có tính biểu tượng của một ĐN quật khởi khái quátsự chuyển biếntrong nhận thức của ND - Xiềng xích > < trời đầy chim - súng đạn > < lòng dân yêu nước thương nhà -> Bạo lực kẻ thù không thể hủy diệt được tình yêu cuộc sống hòa bình, lòng yêu nước thương nòi của ND * 2 khổ thơ : “Khói …..bình minh ” - Nhịp thơ càng lúc càng dồn dập sôi nổi - “Khói nhà máy cuộn lên …….” - “Kèn gọi quân văng vẳng……” -> Khí thế lớn mạnh của cuộc kháng chiến - Hình ảnh người chiến sĩ : “Ôm đất nước …..người áo vải….. thành những anh hùng ” -> người dân bình thường mà vĩ đại -> con người mới trong kháng chiến - “Ngày …… đêm ………… hy sinh ” > < ….. nghĩ trời đất mới – lòng bát ngát bình minh -> Sự chịu đựng gian khổ, hy sinh nhưng đầy lạc quan tin tưởng . -> Tác giả khắc họa hình ảnh con người VN kiên cường, dũng cảm trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. * Khổ cuối : Hình ảnh Đất Nước Việt Nam - Câu thơ 6 chữ – âm điệu dồn dập sôi nổi hoành tráng -> khí thế từ chiến thắng ĐBP - Hình ảnh : “Nước VN từ máu lửa ” - “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” => Hình ảnh tả thực và biểu tượng ĐNVN đứng lên từ những đau thương. Bức tranh hoành tráng mang tính sử thi. SK : Đây là đoạn thơ có tính chính luận thể hiện những cảm xúc của tác giả về ĐNVN đau thương nhưng buất khuất, anh hùng và chiến thắng vẻ vang trong kháng chiến chống Pháp. III. CHỦ ĐỀ : Bài thơ thể hiện tinh thần yêu nước, niềm tự hào sâu sắc về truyền thống anh hùng buất khuất của ĐN. IV. TỔNG KẾT : - Nội dung : Bài thơ thể hiên những cảm xúc sâu lắng tinh tế của tác giả vế ĐN trong kháng chiến chống Pháp đau thương nhưng anh dũng, kiên cường và chiến thắng vẻ vang. - Nghệ thuật : Bài thơ thể hiện phong cách thơ của NĐT : + Hình ảnh, ngôn từ có sức khái quát cao + Có sự kết hợp giữa cảm xúc và suy tưởng + Nhà thơ chú ý điển tả sâu sắc, tinh tế tiếng nói nội tâm của nhân vật trữ tình.
Xem thêm

4 Đọc thêm

Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người có tính chất côn đồ

Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người có tính chất côn đồ

Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người có tính chất côn đồ a) Định tội danh đối với hành vi phạm tội của H: Tóm tắt lại đề bài, ngày 04 tháng 05 năm 2008 K và P có mâu thuẫn và đánh nhau, H là con của K, thấy bố mình bị đánh nên đã sử dụng chiếc đục của thợ mộc xông vào nhằm P đâm bừa một nhát trúng sườn phải. Nhát đâm sâu 9 cm và làm P thủng gan, chảy máu trong. P chết trên đường đi cấp cứu. Tội danh của H là tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người có tính chất côn đồ (Khoản 3, Điều 104, BLHS). Khoản 3 Điều 104 Bộ Luật Hình sự 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định: “Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.” Em định tội danh này cho H vì những lí do sau: Thứ nhất, mục đích của H ko phải là giết P, mà chỉ là để bảo vệ ông bố, thể hiện bởi các cụm từ thấy bố mình bị đánh và đâm bừa. Nếu H có chủ đích giết P, thì hành vi của H phải mang tính mục đích hơn, tức là phải chọn vị trí đâm sao cho nhát đâm của mình có thể giết chết được P như đâm vào đầu, vào tim, vào động mạch cổ hay đùi…,chứ ko phải là đâm bừa như đề bài đã nêu. Và nếu H muốn giết P thì H đã có thể đâm P nhiều nhát chứ không chỉ có “một nhát”. Theo đó, có thể thấy H chỉ muốn P bị thương để bảo vệ bố mình. Do động cơ và mục đích của H không phải là tước đoạt tính mạng của P, mà chỉ là gây thương tích cho P để cứu bố mình, nên xét về lí, hành vi của H chỉ bị xử theo khoản 3 điều 104. Đây là trường hợp người phạm tội chỉ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của nạn nhân, nhưng chẳng may nạn nhân bị chết, cái chết của nạn nhân là ngoài ý muốn của người phạm tội. Thương tích dẫn đến chết người, trước hết phải là thương tật nặng làm cho nạn nhân chết vì thương tích này, tức là giữa cái chết của nạn nhân và thương tích của người phạm tội gây ra cho nạn nhân phải có mối quan hệ nhân quả. Ở đây, cái chết của P là do H gây ra. Thứ hai, luận theo ý ở trên, H bị khép vào tội cố ý gây thương tích có tính chất côn đồ. Tính chất côn đồ là tính hung hãn, coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác một cách cao độ của người có hành vi phạm tội. Với tính chất như vậy, tình tiết có tính chất côn đồ làm cho hành vi phạm tội có tính chất nguy hiểm khác hẳn so với trường hợp phạm tội thông thường. Đặc biệt, tình tiết này còn được quy định là một trong những dấu hiệu định tội thay thế cho mức độ gây thương tích của tội cố ý gây thương tích. Tính chất côn đồ trong hành vi của H thể hiện ở chỗ, H đã sử dụng một vật sắc, nhọn (chiếc đục của thợ mộc) để đâm P và nhát đâm này rất sâu – 9cm, thể hiện sự mạnh mẽ trong việc đâm P của H. Điều này cho thấy sự hung hãn của H và việc H coi thường sức khỏe của P. Một số người cho rằng H đang ở trong trạng thái bị kích động mạnh, nhưng theo em, việc hai nhà mâu thuẫn và có xô xát dẫn tới đánh nhau không đến mức nghiêm trọng tới mức khiến H bị kích động mạnh. Căn cứ theo thực tiễn và khoa học, nếu nạn nhân có hành vi trái pháp luật chưa đến mức nghiêm trọng thì không thể đưa người phạm tội vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được. b) Phản bác ý kiến (các ý kiến) nêu ra sau đây mà mình không cho là đúng Có hai ý kiến khác nhau về vấn đề tội danh của H: 1. H phạm tội giết người. (Điều 93 BLHS) 2. H phạm tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người (Khoản 3, Điều 104, BLHS) Em không đồng tình với ý kiến thứ nhất là H phạm tội giết người. Khi xét H phạm tội giết người hay tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người thì phải xét mục đích và lỗi của H. Trong các trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích có tình tiết định khung hình phạt tăng nặng, trường hợp cố ý gây thương tích dẫn đến chết người đòi hỏi cần chú ý đặc biệt, vì dễ có sự nhầm lẫn trường hợp này với trường hợp phạm tội giết người. Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người là trường hợp cố ý gây thương tích cho người khác nhưng do bị thương mà người này chết và lỗi của người phạm tội đối với hậu quả chết người chỉ là lỗi vô ý. Lỗi vô ý vì quá tự tin – người phạm tội tin hậu quả chết người không xảy ra hoặc lỗi vô ý vì cẩu thả người phạm tội không thấy trước hậu quả này mặc dù có thể thấy. Còn ở tội giết người, lỗi của chủ thể đối với hậu quả chết người là cố ý – chủ thể mong muốn hoặc chấp nhận hậu quả này. Theo hai ý em phân tích ở câu a thì có thể thấy việc H đâm P không có mục đích giết chết P mà chỉ có mục đích làm P bị thương để bảo vệ bố mình. H thấy bố bị đánh nên đã sử dụng chiếc đục “đâm bừa một nhát” trúng sườn phải của P khiến P thủng gan, chảy máu trong và chết. Như vậy, H không cố ý giết chết P mà chỉ vô ý làm P chết. Nếu H cố ý giết chết P thì H sẽ đâm có chủ đích và có thể là nhiều nhát vào những chổ hiểm để dễ dàng giết P. Lỗi này là vô ý vì cẩu thả người phạm tội không thấy trước hậu quả này mặc dù có thể thấy. c) Giả sử P chết là do sự lơ là, tắc trách của bác sĩ thì tội danh của H có thay đổi không? Tại sao? (2đ) Trường hợp không được coi là cố ý gây thương tích dẫn đến chết người khi nạn nhân chỉ bị thương tích nhẹ, nhưng vì những lí do khách quan khác nhau nên nạn nhân bị chết. Tuy nhiên, dù P chết do sự lơ là, tắc trách của bác sĩ thì tội danh của H cũng sẽ không có sự thay đổi. Vì thương tích mà H gây ra cho P được xác định là thương tích nặng nghĩa là loại thương tích mà nếu không được cứu chữa kịp thời thì nạn nhân sẽ bị thiệt mạng hoặc bị tổn hại nặng đến sức khoẻ. Nhát đâm vào sườn phải sâu 9cm khiến P thủng gan và chảy máu trong. Chính vết thương này khiến P chết.
Xem thêm

Đọc thêm

Một số bất cập trong các quy định của bộ luật dặn về thừa kế theo di chúc

Một số bất cập trong các quy định của bộ luật dặn về thừa kế theo di chúc

Một số bất cập trong các quy định của bộ luật dân sự về thừa kế theo di chúc Bài tập học kỳ Luật Dân sự 1 Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Dân sự 1 Ra đời trong thời kỳ đổi mới của đất nước, với nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, đến nay, bộ luật này đã phát huy tích cực vai trò của nó trong việc quản lí đất nước. tuy nhiên, với tình hình xã hội ngày càng phát triển, đời sống không ngừng được nâng cao, nhu cầu về mọi mặt của con người ngày càng lớn, các mối quan hệ xã hội phát sinh ngày càng đa dạng và phức tạp,… thì những quy định của bộ luật không thể dự liệu hết các trường hợp xảy ra trong thực tế, không thể đáp ứng hết các yêu cầu ngày càng cao của con người; có nhiều quy định còn chung chung, dễ dẫn đến những cách hiểu khác nhau, gây khó khăn, mâu thuẫn trong quá trình áp dụng. Riêng trong lĩnh vực về thừa kế, các tranh chấp về thừa kế có xu hướng ngày càng tăng với tính chất ngày càng phức tạp.Sự áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cấp tòa án, sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế của các cá nhân là những yếu tố làm cho tranh chấp về thừa kế theo di chúc ngày một tăng đồng thời làm cho các vụ kiện tranh chấp về thừa kế bị kéo dài, không dứt điểm. trên khía cạnh khác, cũng do luật về thừa kế chưa quy định cụ thể cũng như chưa thể dự liệu hết các trường hợp có thể sảy ra trên thực tế nên còn gây lung túng cho việc áp dụng. để làm rõ vấn đề này, em xin chọn đề tài: “một số bất cập trong các quy định của bộ luật dân sự về thừa kế theo di chúc” để nghiên cứu, làm rõ trong bài tập lớp lần này của mình.   NỘI DUNG 1. Một số vấn đề lí luận. 1.1 Thừa kế và một số quy định chungvề thừa kế. 1.1.1 Thừa kế và quyền thừa kế. Ngay từ khi Nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ thừa kế đã tồn tại như một yếu tố khách quan. Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người. Quan hệ thừa kế là một quan hệ pháp luật xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Khi có tư hữu, nhà nước ra đời, quyền thừa kế được pháp luật quy định, bảo vệ.Mỗi nhà nước khác nhau có hệ thống những quy phạm pháp luật về thừa kế khác nhau.Pháp luật thừa kế thể hiện rõ bản chất giai cấp. Quyền thừa kế với tư cách là một chế định pháp luật, luôn gắn liền với một nhà nước nhất định. 1.1.2 Quy định chung về thừa kế. Các quy định chung về thừa kế được quy định tại các điều từ Điều 631 đến Điều 645 BLDS 2005 về một số vấn đề cơ bản như: quyền thừa kế của cá nhân( Điều 631); quyền bình đảng về thừa kế của cá nhân (Điều 632); thời điểm, địa điểm mở thừa kế (Điều 633);di sản(Điều 634); người thừa kế(Điều 635); thời điểm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người thừa kế( Điều 636); thựa hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại(Điều 637); người quản lí tài sản (Điều 638); nghĩa vụ của người quản lí tài sản(Điều 639); quyền của người quản lí tài sản(Điều 640); việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm(Điều 641); từ chối nhận tài sản(Điều 642); người không được quyền hưởng tài sản(Điều 643); tài sản không có người nhận thừa kế thuộc nhà nước(Điều 644); thời hiệu khởi kiện về thừa kế(Điều 645). 1.2 Di chúc. 1.2.1 Định nghĩa di chúc. Theo quy định tại điều 646 BLDS 2005 thì: “ Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. 1.2.2 Đặc điểm của di chúc. Với định nghĩa trên, ta có thể thấy một số đặc điểm cơ bản của di chúc như: Thứ nhất: di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải của bất cứ chủ thể nào khác:Di chúc là hành vi pháp lí đơn phương của người lập di chúc qua việc lập di chúc, cá nhân đó làm xác lập một giao dịch dân sự về thừa kế theo đó, họ sẽ định đoạt phần tài sản của mình cho những người khác mà không cần biết những người đó có đồng ý nhận di sản của mình hay không. Ngoài ra, di chúc chung của vợ chồng cũng vậy, cho dù nó là sự thể hiện ý chí chung của vợ chồng, nhưng nó vẫn chỉ là thể hiện ý chí đơn phương trong giao dịch dân sự. Hai là: mục đích của việc lập di chú là nhằm chuyển tài sản là di sản của mình cho người khác đã được xác định trong di chúc: Để được coi là một căn cứ để chuyển dịch tài sản của mình sau khi chết cho những người còn sống thì di chúc không thể thiếu nội dung này. Với nội dung này thì di chúc thật sự trở thành một phương tiện để người để lại di sản thừa kế, quyền sở hữu của mộ người đối với thành quả lao động của mình mới được chuyển dịch từ đời này sang đời khác và đặc biệt ngay cả khi họ chết thì quyền định đoạt đối với tài sản của mình vẫn được pháp luật bảo vệ. Thứ ba: Di chúc là giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực sau khi người để lại di chúc chết: Xuất phát từ việc di chúc chỉ là ý chí đơn phương của người lập ra nó nên người lập di chúc luôn có quyền tự mình thay đổi nội dung đã định đoạt trong di chúc hoặc có quyền hủy bỏ di chúc. Vì vậy, dù người lập di chúc đã lập xong di chúc nhưng vẫn còn sống thì những người thừa kế theo di chúc vẫn không có bất kì một quyền nào đối với tài sản của người lập di chúc, và họ cũng không chắc chắn có được hưởng di sản đó hay không. Mặt khác, pháp luật cũng cho phép nếu sự định đoạt trong di chúc đã lập không còn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện tại thì người lập di chúc vẫn có quyền sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ di chúc. Vì vậy, để một di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật thì đòi hỏi người lập di chúc đã chết. 1.3 Thừa kế theo di chúc. Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong di chúc. Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế( có thể là cá nhân, tổ chức và đặc biệt cũng có thể là nhà nước) và phân định tài sản, quyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa vụ tài sản,… Vấn đề thừa kế theo di chúc đã được quy định cụ thể từ Điều 646 đến Điều 673 trong BLDS 2005. 2. Những bất cập trong các quy định của BLDS về thừa kế theo di chúc. 2.1 Về cấu trúc các quy định của BLDS về thừa kế theo di chúc. Đọc qua các điều luật trên có thể nhận thấy nhiều bất hợp lí về trình tự xắp xếp của các điều: rõ ràng điều 650 quy định về các loại di chúc bằng văn bản, điều 651 quy định về di chúc miệng, các điều từ 655đến 657 lại cụ thể hóa các loại di chúc quy định trong điều 650. Một minh chứng khác: tại điều 653 có tên là: “nội dung của di chúc bằng văn bản” nhưng tại khoản 2 điều này lại quy định về hình thức của di chúc: “ Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng kí hiệu,…”. Như vậy đã có sự sáo trộn, không thống nhất trong việc xắp xếp giữa các điều; chưa có sự tách biệt giữa hình thức và nội dung.Điều này dễ gây sự ngắt quãng, khó hiểu cho người đọc. 2.2 Về khái niệm di chúc. Điều 646 quy định về di chúc: “di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết Bất cập ở đây là về mặt từ ngữ: tại điều 646 có dùng từ “người khác”, vậy có thể hiểu đối tượng nhận di sản ở đây chỉ có thể là người. trong khi tại điều 635 về người thừa kế thì có quy định đối tượng hưởng thừa kế còn có cơ quan, tổ chức còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Hai điều này liệu có mâu thuẫn với nhau? Mặt khác quy định “chuyển tài sản” chưa cụ thể vì với quy định như vậy sẽ được hiểu là người thừa kế di sản sẽ có toàn quyền định đoạt đối với tài sản (như bán tặng cho, tiêu dùng,…) sau khi người để lại di sản chết. Tuy nhiên nhiều khi người lập di chúc lại không muốn giao hẳn quyền sở hữu cho người thừa kế ví dụ như những trường hợp người để lại kỉ vật, bất động sản có giá trị lâu dài mà họ muốn tài sản của mình được lưu truyền, phát triển từ đời này sang đời khác thì họ có được phép hạn chế quyền của người hưởng di sản hay không? Về phía người hưởng di sản cũng không ít trường hợp sử dụng di sản một cách hoang phí, trái với ý nguyện của người lập di chúc. Với những phân tích trên, thiết nghĩ nên ghi nhận cho người lập di chúc có quyền lựa chọn hình thức giao dịch, có thể là chuyển quyền sở hữu hay chỉ chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản hay tiếp tục sử dụng tài sản,… theo ý chí của người chết. 2.3 Về chủ thể lập di chúc: Điều 647 BLDS quy định: “Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình” (khoản 1). “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý”(khoản 2). Quy định trên là căn cứ để xác định chủ thể lập di chúc. chủ thể lập di chúc là người định đoạt tài sản của mình thông qua hành vi của chính mình, vì vậy điều kiện về độ tuổi và năng lực trí tuệ của người lập di chúc là những điều kiện tiên quyết trong việc xác định giá trị pháp lí của di chúc. Tuy nhiên, xét trên nhiều phương diện thì Điều 647 vẫn còn điểm bất cập: Quy định tại khoản 1 điều này chưa bao quát hết cũng như chưa có sự thống nhất với những quy định về chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự nói chung và chủ thể trong giao dịch dân sự nói riêng. Theo quy định thì người đã thành niên (trừ trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự) có quyền lập di chúc, nhưng lại không quy định những người bị hạn chếNLHVDS theo Điều 23 BLDS thì có được lập di chúc hay không, hay khi lập di chúc có cần sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật hay không?. Điều 23 BLDS quy dịnh: “người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”. tại khản 2 điều này cũng quy định: “… giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của ngườibị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày”. Như vậy, nếu theo quy định tại khoản 1 Điều 647 BLDS thì những người bị hạn chế NLHVDS quy định tại khoản 2 Điều 23 có quyền lập di chúc như một người có NLHVDS đầy đủ hay không? Quy định tại khoản 2 Điều 647 không những chưa chặt chẽ mà còn thiếu nội dung quan trọng: ở đây chỉ quy định độ tuổi mà không quy định về NLHVDS của người ở độ tuổi từ 15 đến chưa đủ 18 tuổi. Mặt khác, trong quy định về việc cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý cho những đối tượng này lập di chúc cũng có những điểm cần xem xét: Thứ nhất: Thời điểm mà cha, mẹ, người giám hộ cho họ lập di chúc là khi nào, trước khi họ lập di chúc, sau khi hay trong khi họ đang lập di chúc? hay cả ba thời điểm trên đều có giá trị pháp lí? Thứ hai: Hình thức đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ được thể hiện như thế nào? Việc đồng ý cần phải có văn bản riêng hay chỉ cần có bút tích của họ trên bản di chúc? Và chỉ cần kí vào cuối bản di chúc hay phải kí trên từng trang của bản di chúc đó? Thứ ba: Sự đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ cho phép cá nhân ở độ tuổi này lập di chúc thì có hay không vi phạm quy định tại Điều 654 BLDS về người làm chứng việc lập di chúc? nếu có thì bản di chúc không có giá trị pháp lí. Còn nếu không thì địa vị pháp lí của cha, mẹ hoặc người giám hộ có mâu thuẫn với quy định tại Điều 654 BLDS,vì tại điều này quy định những trường hợp không thể làm chứng cho việc lập di chúc bao gồm: “1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc,; 2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự”. Nếu sự đồng ý của cha, mẹ, người giám hộ trên không thể được hiểu theo nghĩa họ là những người làm chứng. Vì người làm chứng là “người thụ động” cong người cho phép là “người chủ động” cũng không đủ tính thuyết phục. Vì cha, mẹ là người thừa kế theo pháp luật của con (Điều 676 BLDS). Nếu hiểu theo hướng trên thì di chúc của người con thuộc độ tuổi từ đủ mười lăm đến chưa đủ mười tám tuổi được lập ra không có giá trị. Nhưng phải hiểu theo hướng nào thì pháp luật chưa dự liệu. 2.4 Về quyền chỉ định người thừa kế thay thế của người lập di chúc. Với tư cách là chủ sở hữu tài sản, người lập di chúc có quyền định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế sau khi chết.nhưng trong trường hợp tại (sau) thời điểm mở thừa kế, một trong số những người được hưởng di sản từ chối quyền hưởng di sản, thì theo pháp luật, phần tài sản của người đó sẽ được chia cho các hàng thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên,theo ý chí của người để lại di chúc trước khi chết lại không muốn để lại di sản cho người trong hàng thừa kế này. Như vậy sẽ vi phạm đến ý chí của người để lại di sản. Nhưng trong BLDS hiện nay không có quy định nào về người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế khác thay thế người thừa kế được chỉ định là người thừa kế trước đó đã từ chối quyền hưởng, không có quyền hưởng hoặc chết trước hay cùng thời điểm với người để lại di sản. Như vậy, pháp luật nên có quy định mở rộng quyền tự định đoạt của người lập di chúc trong việc chỉ định người thừa kế thay thế người thừa kế được chỉ định trước nhằm đảm bảo hơn nữa quyền tự dịnh đoạt của người lập di chúc được thức hiện theo ý nguyện của mình. 2.5 Về người làm chứng cho việc lập di chúc. Điều 654 Bộ luật dân sự quy định: “Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;3. Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.” Như vậy, ngoài những người không được làm chứng di chúc quy định ở khoản 1, khoản 2 thì ở khoản 3, Điều 654 Bộ luật Dân sự mới chỉ đề cập đến người chưa thành niên (Điều 18) và người chưa đủ sáu tuổi (Điều 21). Nếu quy định như vậy thì trong số những người không được làm chứng di chúc chúng ta thấy thiếu một số các chủ thể khác mà các chủ thể này đóng vai trò rất quan trọng trong các giao dịch dân sự đó là các chủ thể được quy định tại Điều 22 (Người mất năng lực hành vi dân sự), Điều 23 (Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự) của Bộ luật Dân sự và người không biết chữ. Vậy khi một người đã trưởng thành nhưng họ lại bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, hoặc khi họ nghiện ma túy ,hay một người không biết đọc, không biết viết (ngoại trừ biết viết tên của mình) thì việc họ đứng ra làm chứng cho di chúc có thực sự khách quan hay không?Hiện tại, theo BLDS2005 thì những người không được làm chứng di chúc không bao gồm những chủ thể được quy định tại Điều 22, Điều 23 BLDS và người không biết chữ. Điều này đồng nghĩa với việc các chủ thể này có thể làm chứng di chúc được vì luật không quy định.Nhưng để những người như thế này mà làm chứng di chúc thì liệu di chúc có giá trị pháp lí hay không?Điều này cần thiết để các nhà lập pháp xem xét lại. 2.6 Về năng lực của người lập di chúc. Điều kiện để di chúc hợp pháp được quy định tại Điều 653 BLDS. Tại Mục akhoản 1 điều này có quy định: “Người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép”. Vậy căn cứ nào để xác định một người là trong trạng thái là minh mẫn, sáng suốt?cũng rất khó để xác định việc họ có bị đe dọa, cưỡng ép trong khi lập di chúc hay không.Điều này chưa được quy định cụ thể dẫn đến những trường hợp tranh chấp di sản thừa kế trên thực tế. Ví dụ trường hợp ông A có hai người con là B và C đều đã trưởng thành và có đầy đủ khả năng lao động. trước khi chết, ông đã lập di chúc để lại toàn bộ di sản cho C. sau đó, B đưa ra kết quả của bệnh viện xác nhận ông A bị chứng rối loạn tâm lí đã được cấp từ ba tháng trước và yêu cầu vô hiệu di chúc để chia lại di sản. vậy trong trường hợp này cần giải quyết như thế nào, làm thế nào để xác định được trong thời gian lập di chúc ông A là hoàn toàn minh mẫn? Trường hợp khác, khi con người đến tuổi già hoặc gặp hoạn nạn có thể dẫn đến cái chết (tai nạn, đau ốm lâu ngày…) họ sẽ lập di chúc phân chia tài sản để tránh tranh chấp sau này. Nhưng tại K3652 BLDS quy định “…người bị hạn chế về thể chất hoặc không biết viết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực”.như vậy trong tình huống một người đau ốm, sức khỏe yếu tuy nhiên vẫn minh mẫnvà tự mình có thể lập di chúc viết tay nhưng không có người làm chứng và không được công chứng thì di chúc vô hiệu. Quy định trên mâu thuẫn với Đ 655 BLDS di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì người lập di chúc phải tự viết tay và kí vào bản di chúc trường hợp này di chúc không công chứng, chứng thực nhưng vẫn có hiệu lực pháp luật. Như vậy, pháp luật có hay không nên quy định về tình trạng thể chất của người lập di chúc; và nếu có thì cần quy định thế nào để phù hợp với thực tiễn và dự liệu được các trường hợp có thể xảy ra. 2.7 Di chúc miệng. Về di chúc miệng đã được quy định tại Đ 651 và Đ 652 BLDS. Theo đó: “trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bênh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng” ( khoản 1 điều 651). “Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ.Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”. (khoản 5 điều 652). Ở đây có hai vấn đề ở chỗ: Thứ nhất: trường hợp di chúc miệng có người làm chứng nhưng sau năm ngày chưa được công chứng thì di chúc không có hiệu lực pháp luật. Như vậy có làm mất đi tính định đoạt của người lập di chúc đối với tài sản của mìnhvà người được hưởng di sản theo di chúc đó có chịu thiệt hay không. Mặt khác, hiện nay trong cuộc sống, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, việc người đang hấp hối, trong cơn nguy kịch mới để lại lời chăn chối cho con cháu về việc phân chia tài sản của mình sau khi chết, lúc này ở đây chỉ có những người là con cháu có quan hệ thân thiết, gần gũi. Trong trường hợp đó, cùng với nhiều lí do khác mà không thể tìm đủ hai người làm chứng với đủ những điều kiện mà pháp luật quy định, như vậy, lời chăn chối của họ cũng được coi là một di chúc miệng nhưng lại không dược pháp luật thừa nhận. việc này rất dễ dẫn đén những tranh chấp về sau của những người thừa kế. Thứ hai: luật quy định: “… người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ”. Vậy việc cùng kí tên, điểm chỉ ở đây phải được hiểu như thế nào? Chỉ cần có hai chữ kí của hai người làm chứng được thể hiện trên bản di chúc là được hay hai người đó phải kí ở cùng một thời điểm, nếu họ kí ở hai thời diểm khác nhau thì di chúc có hiệu lực không. Việc này vẫn chưa được quy định cụ thể. Một bất cập khác trong quy định này đó là về thời hiệu phát sinh hiệu lực của di chúc miệng: theo quy định của pháp luật nói chung thì thời điểm phát sinh hiệu lực là thời điểm mở thừa kế tức thời điểm người để lại di chúc chết. nhưng trong trường hợp di chúc miệng quy định: “…người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”. vậy nếu trong trường hợp trong 5 ngày đó người lập di chúc miệng chết mà những người làm chứng chưa lập di chúc thành văn bản tức chưa hoàn thành thủ tục của một di chúc miệng thì di chúc đó có được công nhận không, và thời điểm mở thừa kế là khi nào? Tính từ thời điểm người đó chết hay sau khi bản di chúc được chứng thực, công chứng? vấn đề này hiện chưa được quy định cụ thể nên dễ gây ra nhiều cách hiểu khác nhau gây khó khăn cho việc áp dụng cũng như dễ gây tranh chấp giữa những người thừa kế. 2.8 Di chúc chung vợ chồng. Trong BLDS 2005 đã cho phép vợ chồng được lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung của hai vợ chồng. Và trên thực tế, việc lập di chúc chung của vợ chồng ngày càng phổ biến nhằm bảo toàn tài sản cho con cháu của mình. Xong xoay quanh vấn đề này còn nảy sinh khá nhiều vướng mắc pháp lí chưa có hướng giải quyết. Thứ nhất: về hình thức di chúc chung vợ chồng: theo điều 655 BLDS 2005 quy định về di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì yêu cầu người lập di chúc phải tự viết tay và kí vào bản di chúc. Vậy trong trường hợp di chúc chung vợ chồng thì phải do cả hai vợ chồng cùng viết, hay mỗi người viết một phần của di chúc rồi cùng kí tên vào di chúc. Hay di chúc chỉ do người vợ hoặc người chồng viết còn người kia chỉ kí tên, điểm chỉ vào từng trang của di chúc thì có hợp pháp hay không? Hoặc mỗi người viết một đoạn nói về nội dung định đoạt tài sản của mình sau đó cùng kí tên vào di chúc … ?đây cũng là vấn đề chưa được pháp luật quy định rõ. Thứ hai: về sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung vợ chồng. Điều 664 quy định về sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung vợ chồng. theo đó: vợ chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào; khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia, nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung, di chúc liên quan đến phần tài sản củamình. Với quy định này, nếu một bên vợ hoặc chồng vì lý do nào đó mà bắt buộc phải sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung đã lập nhưng không được sự đồng ý của người kia, thì việc sửa đổi, bổ sung đó sẽ không được pháp luật chấp nhận. Thiết nghĩ, quy định này đã xâm phạm quyền tự do định đoạt tài sản của người lập di chúc, xâm phạm tới những lợi ích chính đáng của cá nhân khi cấm họ đưa ra những quyết định cá nhân nhằm bảo đảm lợi ích cho mình. Mặt khác, quy định của khoản 2 Điều 664 BLDS cũng thiếu nhất quán vì không cho phép một bên tự ý sửa đổi, bổ sung di chúc khi vợ chồng còn sống nhưng lại cho phép một bên còn sống có quyền sửa đổi, bổ sung phần di chúc liên quan đến phần tài sản của mình khi một bên vợ hoặc chồng đã chết. Điều này được nhiều chuyên gia cho là vướng mắc lớn nhất bởi lẽ khi vợ hoặc chồng chết trước thì người còn lại cũng như người thừa kế theo di chúc không thể định đoạt di sản như bán, thế chấp… Có việc này bởi di chúc chung của vợ chồng chủ yếu định đoạt nhà, đất. Nhà, đất là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, chưa phân định phần nào là sở hữu của mỗi người nên khi một người chết trước thì không thể công chứng việc mua bán phần tài sản thuộc sở hữu của người còn sống được. Mặt khác, theo luật di chúc chung chỉ có hiệu lực sau khi cả vợ chồng cùng chết hoặc người sau cùng chết. Do vậy, khi một trong hai người vẫn còn sống thì chưa thể làm thủ tục khai nhận thừa kế hoặc thỏa thuận phân chia di sản. điều này ảnh hưởng đến lợi ích của người còn sống cũng như những người trong diện thừa kế. Chẳng hạn trường hợp của ông V.T.H ở TP Tân An (Long An): Vợ chồng ông lập di chúc để lại căn nhà đang ở cho người con gái sống độc thân. Năm 2006, vợ ông H. bệnh nặng qua đời. Hai năm sau, ông H. bị tai biến, nằm liệt tại chỗ. Việc chữa trị, chăm sóc ông rất tốn kém trong khi chỉ một tay người con gái bươn chải. Nợ nần chồng chất, ông H. và con bàn nhau bán nhà trả nợ, còn lại mua một căn nhà nhỏ để cha con sống và có dư một ít tiền làm vốn cho người con mua bán sinh nhai.Sau đó, người con đem hồ sơ nhà đất và tờ di chúc ra phòng công chứng khai nhận di sản thì bị từ chối. Theo phòng công chứng, đây là di chúc chung của vợ chồng nên khi ông H. còn sống thì di chúc chưa có hiệu lực. Ông H. muốn thay đổi nội dung di chúc nhằm có thể tự bán phần một nửa căn nhà của ông nên nhờ cậy một luật sư tư vấn miễn phí. Tuy nhiên, luật sư cho biết một nửa căn nhà của ông gắn liền với phần tài sản của người vợ đã mất, mặt khác theo luật, khi sửa đổi di chúc chung của vợ chồng thì không được làm thay đổi bản chất nội dung của di chúc. Nghĩa là dù ông H. có định đoạt lại nửa căn nhà phần ông thế nào thì cũng không thể thay đổi, hủy bỏ việc cho người con gái căn nhà đó được. tình thế này khiếp cha con ông H mắc dù có tài sản mà phải sống trong cảnh khó khăn. Thứ ba: về thời hiệu mở thừa kế. Theo phân tích của một vị thẩm phánTòa Dân sự TAND TP.HCM cho rằng: Thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Như vậy hết 10 năm mà một trong hai người lập di chúc vẫn còn sống thì thời hiệu khởi kiện xin chia thừa kế đối với phần di sản của người chết trước cũng không còn. Giả sử nếu di chúc chung đó không hợp pháp mà những người thừa kế không biết để khởi kiện kịp thời thì đến khi người lập di chúc sau cùng chết, thời hiệu khởi kiện không còn thì quyền lợi của người thừa kế coi như bị bỏ lửng… lúc này quyền lợi của người được hưởng thừa kế sẽ được pháp luật bảo vệ thế nào cũng chưa được quy định rõ. 2.9 Về di sản dùng vào việc thờ cúng, di tặng. Thờ cúng là phong tục từ xa xưa của người dân Việt Nam và đến giờ vẫn được tôn trong.Vấn đề di sản dùng vào việc thờ cúng được quy định tại điều 670 BLDS 2005.Tuy nhiêu, vấn đề này vẫn còn nhiều điểm cần làm rõ. Thứ nhất: ngay tại khoản 1 Điều 670 quy định: “… người lập di chúc có thể để lại một phần di sản vào việc thờ cúng…” nhưng lại không quy định rõ một phần là bao nhiêu, nó được xác định trên cơ sở nào, một phần đó có thể được ghi trong di chúc xong nếu không nói rõ là bao nhiêu phần thì thì lấy căn cứ nào để phân định? do pháp luật phân định hay do thỏa thuận giữa những người thừa kế?... đó là những vấn đề mà Luật cần quy định rõ ràng hơn. Thứ hai: điểm khác biệt của di sản dùng vào việc thờ cúng là sau khi người chết để lại di sản, di sản dùng vào việc thờ cúng sẽ không thuộc quyền sở hữu của bất kì người thừa kế nào, mặt khác, điều 670 cũng đã quy định “trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lí để thực hiện việc thờ cúng…” như vậy, di sản dùng vào việc thờ cúng cũng không thuộc quyền sỏ hữu của người quản lí, người này chỉ có nghĩa vụ quản lí để dùng vào việc thờ cúng. Vậy ví dụ như diện tích nhà và đất ở được dùng vào việc thờ cúng sẽ xác định là cấp cho ai? thủ tục giấy tờ như thế nào? Giấy tờ đó gọi là gì… như vậy, BLDS, Luật nhà ở và Luật Đất đai cần quy định thống nhất về vấn đề này. Thứ ba: trường hợp người để lại di sản thờ cúng đồng thời cũng để lại nghĩa vụ tài sản thì phần di sản dùng để chia thừa kế hay phần di sản dùng vào việc thờ cúng sẽ được dùng để thanh toán nghĩa vụ? thêm nữa, phần di sản dùng vào việc thờ cúng sẽ được tính theo tỉ lệ của phần tài sản trước khi thực hiện nghĩa vụ hay sau khi đã thanh toán hết nghĩa vụ? nếu sau khi thanh toán nghĩa vụ mà không còn di sản để dùng thờ cúng nữa thì sẽ giải quyết như thế nào? Quy định của pháp luật hiện nay là chưa rõ ràng có thể dẫn đến tình trạng người lập di chúc lạm dụng quyền của mình để lại phần lớn di sản thờ cúng thì quyền lợi của những người có liên quan sẽ bị ảnh hưởng. Thứ tư: theo quy định của pháp luật thì: “trong trường hợp tất cả người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì di sản dùng để thờ cúng sẽ được về người đang quản lí hợp pháp di sản trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật”, Điều này là chưa hợp lí vì người quản lí di sản có thể được chỉ đinh trong di chúc mà không phải người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. và nếu xét trong mối liên quan với thời hiệu khởi kiện về thừa kế và điều 247 BLDS về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì thời gian quản lí hợp pháp là bao lâu để di sản thờ cúng thuộc về họ? Điểm bất cập nữa ở đây là việc chưa có quy định nào của pháp luật về loại di sản thờ cúng đã được lập sẵn từ đời trước sau đó chuyển giao cho người hiện tại đang lập di chúc quản lí. Nếu người này không lập di chúc để truyền lại di sản thờ cúng đó cho con cháu thì sẽ dận đến hai cách xác định khác nhau hoặc vẫn coi là di sản thờ cúng, hoặc sẽ được chia theo pháp luật vì đó là tài sản không được định đoạt trước trong di chúc. Bên cạnh đó cũng không quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người quản lí di sản thờ cúng, vì thế không có cơ sở để xác định việc một người có vi phạm nghĩa vụ thờ cúng hay không ( ví dụ trong viecj tổ chức cúng dỗ, hương hỏa, chăm lo phần mộ hay sử dụng di sản thờ cúng vào mục dích cá nhân…) các nội dung này hiện chưa được đề cập trong BLDS dẫn đến thiếu căn cứ áp dụng khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến di sản thờ cúng. Về di tặng, Điều 671 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 đã quy định: “1. Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc. 2. Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này”. Như vậy quy định này không quy định người được hưởng di sản di tặng phải chịu bất cứ một nghĩa vụ gì là không hợp lí vì có thể bị người lập di chúc lợi dụng để tẩu tán tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thanh toán một cách hợp pháp hay di tặng một khối tài sản lớn nhằm tránh cho người thừa kế di sản khỏi những nghĩa vụ phải thanh toán. Quy định này còn tạo ra sự bất bình đẳng giữa các chủ thể được hưởng di sản theo di chúc: người thừa kế thì phải chịu nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản được nhận còn người được di tặng thì lại không phải chịu nghĩa vụ đối với phần được di tặng. Nếu di chúc để lại di sản dùng vào việc thờ cúng, di tặng và cả nghĩa vụ thanh toán thì phải căn cứ vào ý nghĩa thiêng liêng của di sản dùng vào việc thờ cúng , để di sản thờ cúng đúng nghĩa là sự tiếp nối, lưu truyền cho hậu thế thì không nên trừ vào phần di sản thờ cúng mà nên lấy từ phần di tặng để thanh toán nghĩa vụ. 2.10 Về nội dung của di chúc. Điều 646 quy định sự thể hiện ý chí của người lập di chúc nhằm chuyển tài sản của mình sang người khác sau khi chết nhưng tại thời điểm lập di chúc có một số trường hợp tài sản chưa thuộc quyền sở hữu của người lập di chúc hoặc là tài sản người lập di chúc sẽ có sau khi chết ( ví dụ như quyền sử dụng đất đang trong thời gian hoàn tất thủ tục giấy chứng nhận, tài sản mà người lập di chúc đang tranh chấp mà sau đó được bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án xác định là của người đó,…) thì di chúc có được công nhận hay không? Thực tế những tranh chấp hợp đồng do người lập di chúc giao kết nhưng đang thưc hiện họ đã không may qua đời mà không có thỏa thuận từ đầu là người thừa kế sẽ được tiếp tục thay thế. 2.11 Về giải thích nội dung di chúc. Theo phân tích ở trên, di chúc là hành vi pháp lí đơn phương thể hiện ý chí định đoạt tài sải của người để lai di sản cho chủ thể khác. Do nhiều yếu tố tác động, không phải lúc nào ý chí đích thực và sự thể hiện ra bên ngoài cũng rành mạch dễ hiểu. vì thế cần có sự giải thích nội dung di chúc để đảm bảo ý nguyện của người để lại tài sản. Theo điều 673 về giải thích nội dung di chúc thì người công bố di chúc cùng với những người thừa kế theo di chúc có quyền “ giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết” và nếu không thống nhất thì có quyền coi như không có di chúc. quy định như vậy liệu có quá suy diện chủ quan vì nhiều nguiowf giữ bí mật về di chúc đến khi họ qua đời mới công bố thì không ai có thể biết ý nguyện đích thực trước đây của họ, và ý nguyện “ trước đây” của người để lại di chúc được tính từ mốc thời gian nào. Mặt khác, quy định này làm cho nội dung di chúc dễ bị phủ nhận một cách dễ dàng. Bên cạnh đó, quy định những người thừa kế theo di chúc có quyền giải thích nội dung di chúc vẫn có điểm không thỏa đáng. Bởi lẽ việc giải thích nội dung di chúc là một việc khó, đòi hỏi người giải thích phải có hiểu biết pháp luật, có kiến thức văn hoă xã hội mới có thể giải thích được mà không vi phạm các quy định của pháp luật. nhưng theo điều này thì luật đã trao quyền cho người công bố di chúc và những người thừa kế mà không đòi hỏi ở họ bất kì điều kiện nào . Như vậy tức là người chưa thành niện, người bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự,… đều thuộc diện mà điều luật quy định là có quyền giải thích di chúc? điều này phải chăng là bất hợp lí 3. Giải pháp hoàn thiện. Như vậy, qua nhưng nghiên cứu trên đã thấy được phần nào những bất cập trong quy đinh của pháp luật hiện hành về vấn đề thừa kế theo di chúc. vì vậy , cần có những giải pháp cụ thể để hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này. Với tư cách là một sinh viên chưa có nhiều nghiên cứu, đánh giá sâu sắc về vấn đề này nên chưa thể có cách đánh giá chính xác cũng như đưa ra những giải pháp thiết thực cho những vấn đề đã nêu ở trên. Xong, qua những tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân về những bất cập trên , em xin đưa ra một số những ý kiến góp ý của các chuyên gia, những người nghiên cứu có kinh nghiệm cũng như kiến thức chuyên ngành đã đóng góp cho vấn đề trên. Thứ nhất: về vấn đề chủ thể lập di chúc: theo ý kiến của TS. Phùng Trung Tập đề xuất thì nên: Sửa khoản 2 Điều 647 BLDS: “ngời từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý bằng văn bản hoặc có bút tích của cha, mẹ hoặc người giám hộ vào cuối bản di chúc của người ở độ tuổi này lập ra”. “sự đồng ý của cha, mẹ hoặc của ngươi giám hộ cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi lập di chúc được thực hiện trước khi, trong khi hoặc sau khi di chúc được lập ra đều có giá trị pháp lí”. Bổ sung khoản 3 Đều 647 BLDS: “Quy định tại khoản 2 điều này không được áp dụng đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 23 của Bộ luật này”. Thứ hai: về người làm chứng cho việc lập di chúc: Pháp luật nên quy định điều kiện của người làm chứng cho việc lạp di chúc phải là người có đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc các hàng thừa kế theo pháp luật; không có quyền lợi liên quan đến nội dung di chúc. người viết hộ di chúc phải từ đủ 18 tuổi trở lên và cần ghi rõ tên tuổi, địa chỉ, lí do viết hộ di chúc. Trong trường hợp đặc biệt, người thừa kế theo pháp luật và người viết hộ di chúc đồng thời có thể là người làm chứng cho việc lập di chúc nếu di chúc không ghi nhận quyền lợi cho họ và không có tranh chấp về vấn đề này. Người có thẩm quyền công chứng, chứng thực di chúc đồng thời là người làm chứng cho việc lập di chúc nếu di chúc được lập tại cơ quan công chứng. Yêu cầu chung đối với nười làm chứng cho việc lập di chúc là phải có lời xác nhận về tình trạng sức khỏe, tinh thần của người lập di chúc là minh mẫn, sáng suốt, xác nhận nội dung di chúc đã được ghi chép đúng với ý nguyện của người lập di chúc và ghi rõ ngày, giờ, địa điểm làm chứng, họ tên, địa chỉ người làm chứng. Thứ ba: về di chúc chung vợ chồng: với những bất cập đã nêu trên luật nên có những thay đổi bổ sung theo hướng: Về hình thức: Hình thức của di chúc chung vợ chồng được thực hiện bằng văn bản, di chúc chung vợ chồng do vợ hoặc chồng viết còn người kia chỉ kí tên, điểm chỉ vào từng trang của di chúc thì di chúc vẫn được coi là có hiệu lực pháp luật. Về sửa đổi, bổ sung di chúc chung của vợ chồng: Trong trường hợp này, di chúc do nhiều người cùng lập, nó khác với di chúc do một cá nhân lập do đó sẽ có rất nhiều vấn đề nảy sinh. Theo quy định chung thì người lập di chúc có thể lập di chúc qua hình thức di chúc miệng hoặc di chúc bằng văn bản. Song trên thực tế cho thấy, các hình thức và thủ tục để lập di chúc cá nhân không phải lúc nào cũng áp dụng phù hợp cho di chúc chung vợ chồng. Do đó, di chúc chung vợ chồng cần được quy dịnh thành một chế định riêng chứ không thể áp dụng chung với di chúc do cá nhân lập. Vấn đề này chưa được quy định trong BLDS 2005, đây là một thiếu sót cần được khắc phục. Vì vậy, pháp luật nên quy định hình thức riêng cho di chúc chung của vợ chồng, chứ không thể áp dụng như di chúc của cá nhân lập…. Thứtư: về di sản dùng vào việc thờ cúng, di tặng: Vấn đề này cần cần sửa đổi, bổ sung quy định tài đoạn cuối Khoản 1 Điều 670 BLDS 2005 theo hướng quy định rõ: sau khi hết thời hiệu quy định tại Điều 247 về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì di sản đó thuộc về người đang quản lí hợp pháp di sản, không nhất thiết phải là người thuộc diện thừa ké theo pháp luật vì di sản đó có thể được giao cho một người bất kì quản lí. Nếu không có người nhận thì di sản dó thuộc về Nahd nước. nên cho phép trong mọi trường hợp người lập di chúc được để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng, với tỉ lệ tương thích với klhoois tài sản và nghĩa vụ họ để lại. Vậy có thể bổ sung diều 670 BLDS như sau: “Người lập di chúc có quyền để lại di sản dùng vào việc thờ cúng; nếu di chúc không phân định rõ phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì những người thừa kế có quyền thỏa thuận hoặc do tòa án xác định song không được vượt quá một suất thừa ké theo pháp luật”. Có thể thấy, mặc dù người được di tặng và người thừa kế theo di chúc có sự khác nhau về tư cách thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại nhưng họ đều được hưởng một phần tài sản của người lập di chúc. Vậy, pháp luật có nên quy định về điều kiện của người được di tặng: trong trường hợp người được di tặng có những hành vi bất xứng như những người thừa kế khác theo quy định tại Điều 643 thì vẫn được hưởng di tặng hay bị Tòa án tước quyền đó? Vấn đề này theo TS. Nguyễn Văn Tuyết đã phân tích trong luận án tiến sĩ của mình thì người được di tặng là người hưởng một phần di sản theo di chúc, vì thế nêu có các hành vi theo quy định tại Khoản 1 Điều 643 họ cũng bị tước quyền hưởng di tặng. Mặt khác, để đảm bảo quyền lợi cho người thứ ba trong một số giao dịch cũng như đảm bảo công bằng cho những người thừa kế thì pháp luật nên chăng cần quy định người được di tặng, tặng cho cũng phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản di người chết để lại. Thứ năm: Về nội dung di chúc: với những bất cập trên, theo quan điểm của TS.Trương Thị Huệ cho rằng tài sản của người chết phát sinh sau thời điểm mở thừa kế cũng được xác định là di sản thừa kế vì tài sản này phát sinh từ những quan hệ pháp luật mà người để lại di sản xác lập khi còn sống. Thứ sáu: Về vấn đề giải thích nội dung di chúc: Luật cần thu hẹp phạm vi những người có đủ khả năng có thể giải thích di chúc. theo đó, nên quy định điều kiện về độ tuổi, NLHVDS cũng như khả năng hiểu biết của người có quyền giải thích nội dung di chúc. theo đó, có ý kiến kiến nghị cho rằng cần sửa đổi Điều 673 BLDS như sau: “Khi di chúc có những vấn đề dẫn đến những cách hiểu không thống nhất thì những người thừa kế có đủ NLHVDS có quyền cùng nhau giải thích nội dung di chúc, nếu không thống nhất được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”. KẾT LUẬN Quan hệ thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kì sơ khai và phát triển song song cùng xã hội loài người, quyền thừa kế là một cơ bản của công dân được pháp luật của các quốc gia ghi nhận. Hiện nay ở nước ta, các chế định về thừa kế nói chung và vấn đề thừa kế theo di chúc nói riêng đã được quy định khá rõ trong BLDS 2005. Xong với nhu cầu phát triển ngày càng cao cũng như những quan hệ xã hội phát sinh ngày càng phức tạp thì đòi hỏi những chế định này cần được hoàn thiện hơn nữa để có thể điều chỉnh hết những tình huống phát sinh trong thực tế. Trên đây là những nghiên cứu của em về vấn đề thừa kế theo di chúc, những bất cập của nó cũng như một số ý kiến giải pháp hoàn thiện. bài viết không tránh khỏi những sai sót, rất mong thầy cô góp ý để bài làm được hoàn thiện hơn.
Xem thêm

Đọc thêm

VẺ ĐẸP CỦA HÌNH TƯỢNG CÁC NHÂN VẬT TNÚ, CỤ MẾT, DÍT, BÉ HENG

VẺ ĐẸP CỦA HÌNH TƯỢNG CÁC NHÂN VẬT TNÚ, CỤ MẾT, DÍT, BÉ HENG

Ta hãy phân tích vẻ đẹp của hình tượng các nhân vật nổi bật lên trong bối ành hùng vĩ của Rừng xà nu: Tnú, cụ Mết, Dít và bé Heng DÀN BÀI I. MỞ BÀI    - Về các tác phẩm Đất nước đứng lên và Rừng xà nu, sách Văn học 12, tập Một, đã nhận định rằng: “Có thể coi đây là những bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên, là bức tranh chân thực sinh động về hai cuộc chiến tranh nhân dân chống Pháp và chống Mĩ”. Tác giả Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc) thật sự đã khắc họa được những nhân vật anh hùng gắn bó thành một tập thể anh hùng vừa mang dấu ấn của thời đại, vừa đậm đà dáng nét Tây Nguyên.           Ta hãy phân tích vẻ đẹp của hình tượng các nhân vật nổi bật lên trong bối ành hùng vĩ của Rừng xà nu: Tnú, cụ Mết, Dít và bé Heng. II. THÂN BÀI    1. Nhân vật Tnú    Được tác giả khắc họa bằng những nét tính cách độc đáo, giàu chất sử thi.    a) Trước hết Tnú rất gắn bó với cách mạng. Từ nhỏ Tnú đã từng nuôi giấu cán bộ và hoàn thành xuất sấc công tác giao liên. Khi bị giặc bắt, Tnú dũng cảm chịu đựng những đòn tra tấn của giặc. Sau khi vượt ngục, anh cùng cụ Mết tiếp tục lãnh đạo dân làng Xô-man mài giáo, mài rựa chiến đấu chống kẻ thù.    b) Tnú tha thiết thương yêu bản làng. Sau ba năm chiến đấu trở về làng, anh nhớ rõ từng hàng cây, từng con đường, từng dòng suối, bồi hồi xúc động khi nghe tiếng chày chuyên cần, rộn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xa xưa, của Mai, của Dít, từ ngày lọt lòng anh đã nghe tiếng chày ấy rồi.    - Anh yêu thương vợ con tha thiết. Chứng kiến cảnh kẻ thù man rợ dùng chày sắt đập chết mẹ con Mai, nỗi đau thương của Tnú dâng lên tột đỉnh. Anh lao vào lũ giặc với mội tiếng thét dữ dội và anh dang hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai.    c) Càng đau thương, Tnú càng căm thù giặc. Vợ con bị giết, lòng căm hận biến đôi mắt Tnú thành hai cục lửa lớn.    - Khi bị giặc bắt, mười đầu ngón tay Tnú bị đốt cháy, anh không kêu lên một tiếng nào (...) Răng anh đã cắt nát môi anh rồi.    Yêu thương, căm thù biến thành hành động. Tnú thét lên một tiếng... Chính nỗi đau xé lòng của Tnú đã khiến cho anh và đồng bào anh dứt khoát đứng lên tiêu diệt cả một tiểu đội giặc hung ác. Riêng Tnú ra đi lực lượng để quyết tiêu diệt mọi kẻ thù tàn ác để bảo vệ bản làng, giải phóng quê hương. Chính trong thực tế chiến đấu mà nhân vật vươn lên nhận thức đó, hiểu biết sâu sắc về kẻ thù và nâng lòng căm thù cá nhân lên thành căm thù chung của cả dân tộc.    2. Nhân vật cụ Mết    a) Cụ Mết tiêu biểu cho truyền thống của làng Xô-man. Lịch sử chiến đấu của làng, qua lời kể của cụ Mết, thấm sâu vào tim óc các thế hệ. Cụ là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, là pho sử sống của làng.    b) Tấm lòng cụ Mết đối với cách mạng trước sau như một. Cụ đã từng nói: “Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn”. Trong những năm đen tối, cụ cùng dân làng Xô-man, từ thanh niên, ông già bà già, đến lũ trẻ đi nuôi và gác cho cán bộ: năm năm chưa hề có một cán bộ bị giặc bắt hay giết trong rừng làng này.    c) Cụ Mết là linh hồn của làng Xô-man. Chính cụ đã lãnh đạo dân làng đồng khởi. Hình ảnh ông cụ mắt sáng và xếch ngược, ngực căng như một cây xà nu lớn, cất tiếng nói vang vang như một mệnh lệnh thôi thúc họ vùng lên tiêu diệt kẻ thù... thật rực rỡ như trong một trang sử thi anh hùng. “Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên !"...    Từ ngày ấy, làng Xô-man trở thành làng chiến đấu. Đó là phần đóng góp không nhỏ của cụ Mết vào công cuộc giải phóng quê hương bản làng.    3. Nhân vật Dít    a) Dít là nhân vật tiêu biểu cho những cô gái Tây Nguyên thời chống Mĩ, trưởng thành từ những đau thương và quật khởi của dân làng. Trong thời gian dân làng Xô-man chuẩn bị chiến đấu, rồi bị địch bao vây, cụ Mết và Tnú dẫn đám thanh niên vào rừng. Chỉ có con Dít nhỏ, lanh lẹn, cứ sẩm tối lại bò theo máng nước đem gạo ra rừng cho cụ Mết, Tnú và thanh niên. Khi bị giặc bắt, Dít bị chúng bắn dọa, đạn chỉ sượt qua tai, sém lóc, cày đầy quanh hai chân nhỏ... đôi mắt nó thì vẫn nhìn bọn giặc bình thản...    - Ngày Mai bị giặc đánh chết và Tnú ra đi, trong khi mọi người, cả cụ già, đều khóc vì cái chết của Mai và Dít vẫn lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh. Tất cả chi tiết trên thể hiện tính cách kiên cường, sức chịu đựng phi phường của Dít, biết dồn nén đau thương để nung nấu lòng căm thù. Như những người con đã khuất của làng Xô-man, Dít căm thù trên cơ sở nhận thức rõ bản chất của kẻ thù, để quyết tâm chiến đâu tiêu diệt chúng.    b) Dít rất giàu tình cảm thương yêu: Khi Tnú về thăm làng, Dít đã là bí thư chi bộ vừa là chính trị viên xã đội. Như ngày nào, đôi mắt Dít vẫn mở to, bình thản, trong suốt khi gặp lại Tnú. Dù trong lòng rất vui mừng, Dít vẫn thực hiện trách nhiệm kiểm tra giấy về phép của anh. Rồi từ chỗ gọi Tnú là đồng chí, Dít chuyển sang gọi là anh, xưng em thật tự nhiên, như người em gái nhỏ của Mai và Tnú ngày xưa và tỏ bày tỏ tình thân thiết: “Sao anh về có một đêm thôi? (...). Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi”.    5. Nhân vật bé Heng    a) Ngày Tnú ra đi lực lượng, bé Heng mới đứng ngang bụng anh, chưa biết mang củi, chí mới đeo cái xà-lét nhỏ xíu theo người lớn ra rẫy. Ngày Tnú về phép, bé Heng trưởng thành, với cách ăn mặc và trang bị ra vẻ một người lính, một chiến sĩ du kích của bản làng. Làng Xô-man giờ đây trở thành làng chiến đấu và con đường vào làng phải qua hai cái dốc chằng chịt hầm chông, hố chông ngăn chặn địch. Bé Heng đã góp phần không nhỏ vòa việc thiết lập những công sự này, nên tỏ ra rất hãnh diện.    b) Nếu cụ Mết xứng đáng với hình ảnh cây xà nu đại thụ giữa rừng xà nu bạt ngàn xanh thẫm, thì bé Heng tượng trưng cho cây xà nu mới lớn ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời, sẽ phát triển đến đâu, chưa ai lường được.    III. KẾT BÀI    Nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Trung Thành mang những nét độc đáo đượm khí vị Tây Nguyên anh hùng. Nếu rừng xà nu tượng trưng cho các thế hệ dân tộc Tây Nguyên kiên cường, thì các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít, bé Heng là hình ảnh những lớp cây xà nu đại diện cho các thế hệ nối tiếp nhau dân làng Xô-man, được khắc họa thật sinh động.    - Qua Rừng xà nu, ta hiểu biết và mến yêu thêm đất nước và con người Tây Nguyên. Họ đã đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp chiến đâu chung để giải phóng dân tộc. Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

MẪU PHƯƠNG ÁN ĐIỀU TRA DÂN SỐ

MẪU PHƯƠNG ÁN ĐIỀU TRA DÂN SỐ

Phương án điều tra dân số tỉnh Thái Nguyên 20151. Mục đích, yêu cầu điều traThứ nhất,thu thập số liệu về dân số trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên phục vụ công tác nghiên cứu, phân tích, giám sát, dự báo và thực hiện mục tiêu phát triển về con người, quá trình phát triển dân số làm cơ sở để đánh giá các chương trình về dân số, qua đó đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, xây dựng chính sách, lập kế hoạch dân số phục vụ cho việc lập Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong các thời kỳ điều tra tiếp theo. Thứ hai, cung cấp số liệu, bổ sung về quy mô dân số tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở để năm sau có thể rà soát, hiệu chỉnh số liệu dân số hàng năm, bổ sung kho dữ liệu dân số của Tổng cục Thống kê nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, phân tích và dự báo quá trình phát triển dân số những lần kiểm tra tiếp theo sau cuộc điều tra vừa diễn ra.Thứ ba, cung cấp dàn mẫu cho các cuộc điều tra thống kê đối với hộ dân cư trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. 2.Xác định đối tượng và đơn vị điều tra Đối tượng điều tra:Đối tượng điều tra bao gồm: nhân khẩu thường trú trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, không bao gồm những người đang sống trong khu vực quản lý riêng của quân đội và công an. Chủ hộ (hoặc người am hiểu về các thành viên trong hộ khi chủ hộ đi vắng) là người cung cấp thông tin chính đối với các câu hỏi trong phiếu điều tra. Đối với những thông tin mà chủ hộ không nắm chắc, điều tra viên cần phỏng vấn trực tiếp các nhân khẩu thực tế thường trú của hộ. Đối tượng cung cấp thông tin là nhân khẩu thực tế của các hộ gia đình. Đơn vị điều tra:Đơn vị điều tra trong điều tra dân số là hộ gia đình hoặc hộ tập thể thuộc tỉnh Thái Nguyên. Hộ dân cư bao gồm một người hoặc một nhóm người ở chung và ăn chung, có thể có hoặc không có quan hệ ruột thịt, hôn nhân, nuôi dưỡng; có hoặc không có quỹ thu chi chung. Hộ bao gồm cả các hộ quân đội và công an đang sống trong khu dân cư của xã, phường, thị trấn.3. Nội dung điều traNgoài thông tin định danh, nội dung điều tra bao gồm 5 phần chính sau:a. Phần 1: Một số thông tin về các thành viên của hộ:Họ và tên: Quan hệ với chủ hộ;Giới tính;Tháng, năm sinh hoặc tuổi tròn theo dương lịch;Dân tộc, tôn giáo;Đối với dân số từ 1 tuổi trở lên: nơi thực tế thường trú cách đây 1 năm;Đối với dân số từ 5 tuổi trở lên: nơi thực tế thường trú cách đây 5 năm, tình hình đi học hiện nay, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất đạt được, lớp học phổ thông cao nhất và tổng số năm đã học các bậc đào tạo nghề, chuyên nghiệp, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ, tình trạng biết đọc và biết viết. Đối với dân số từ 15 tuổi trở lên: tình trạng hôn nhân, tuổi kết hôn lần đầu.b. Phần 2: Thông tin về lịch sử sinh của phụ nữ từ 1549 tuổi:Số con đã sinh, số con hiện còn sống, số con đã chết chia theo giới tính;Tháng, năm sinh theo dương lịch và số con trai, số con gái của lần sinh gần nhất;Giới tính của tối đa 5 lần sinh (từ người con đầu đến người con thứ 5);c. Phần 3: Thông tin về người chết của hộ:Số người chết;Giới tính, thời gian và tuổi của người chết;Nguyên nhân chết, nơi chết và tình hình tử vongd. Phần 4: Thông tin về các sự kiện chết của hộ trong 5 năm qua:Số người đã chết trong 5 năm qua chia theo giới tính; Trong đó: số bé trai và số bé gái đã chết (chỉ tính số bé sinh từ ngày112010 đến hết ngày 31122014). 4. Phiếu điều tra Nội dung điều tra được bố trí trên 02 loại phiếu điều tra (PĐT), được thiết kế thành từng tập phiếu riêng biệt; cụ thể như sau:Phiếu thu thập thông tin dân số cấp huyện (sau đây gọi tắt là phiếu ngắn) được thiết kế trên 01 trang khổ A3 (gồm 04 trang khổ A4), gồm các câu hỏi về: thông tin về các thành viên của hộ (một số câu hỏi về dân số); thông tin về các sự kiện chết của hộ trong 5 năm qua .Phiếu thu thập thông tin dân số cấp tỉnh (sau đây gọi tắt là phiếu dài) được thiết kế trên 12 trang khổ A4, gồm các câu hỏi về: thông tin về các thành viên của hộ (các câu hỏi về dân số); thông tin về lịch sử sinh của phụ nữ từ 1549 tuổi; thông tin về người chết của hộ.Mỗi loại phiếu đều có trang bìa gồm thông tin định danh và một số chỉ tiêu dùng cho công tác tổng hợp nhanh.5. Thời điểm điều tra, thời gian điều tra và thời điểm kết thúc điều tra.Thời điểm điều traThời điểm điều tra tại tỉnh Thái Nguyên từ 0 giờ ngày 01 tháng 1 năm 2015.Thời gian điều traThời gian điều tra tại địa bàn khoảng 15 ngày (bao gồm cả thời gian di chuyển), bắt đầu từ 7 giờ sáng ngày 01 tháng 1 năm 2015 và kết thúc chậm nhất vào ngày 15 tháng 1năm 2015.6. Quy định sẵn mẫu điều tra và bản giải thích cách ghi biểuMỗi Huyện trong tỉnh sau khi loại bỏ các địa bàn đặc thù sẽ là dàn mẫu riêng để chọn địa bàn điều tra. Tổng số có 7 dàn mẫuHuyện ( trừ 2 Thành phố lớn không được chọn vào mẫu điều tra).Trong phạm vi tỉnh Thái Nguyên, mẫu của ĐT DS 2015là mẫu hệ thống phân tầng và có 2 mẫu riêng biệt với quy mô khác nhau để phục vụ cho việc thu thập thông tin của 2 loại bao gồm phiếu ngắn và phiếu dài.7.Quy định về kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra. Kế hoạch điều tra gồm các vấn đề sau:+Thành lập ban chỉ đạo:+Ban chỉ đạo:+Nhiệm vụ các cấp+Lực lượng điều tra: phân chia địa bàn và tập huấn cán bộ điều tra+phương pháp điều tra : điều tra trực tiếp ,phỏng vấn trực tiếp.+Mục đích điều tra  Thu thập số liệu điều tra về dân số ở trên phạm vi tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở để đánh giá các chương trình về dân số  Cung cấp các số liệu về quy mô dân số  Bổ sung các dữ liệu dân số nhằm phục vụ công tác nghiên cứu,phân tích và dự báo quá trình tăng dân số Cung cấp dàn mẫu cho các cuộc điều tra thống kê +Tiến hành điều tra thí điểm để rút kinh nghiệm cho cán bộ điều tra, hoàn thiện phiếu điều tra và toàn bộ phương án điều tra.+ Chuẩn bị các điều kiện về tài chính và vật chất. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập Tự do Hạnh phúcPhiếu điều tra dân số tỉnh Thái NguyênPhiếu số:……………….Ngày phỏng vấn: ...........20…Địa điểm phỏng vấn:…………………………………………………………………Họ tên người phỏng vấn:…………………………………………………………….Họ tên người được phỏng vấn:………………………………………………………I. thông tin dân số1.Họ và tên chủ hộ:………………………………….Tuổi:………………………2. Giới tính: Nam:  Nữ:  3. Họ và tên những người thường trú tại hộ, bắt đầu từ chủ hộ: .......................................................................................................................................... .......................................................................................................................................... 4.Bạn có quan hệ như thế nào với chủ hộ1.Chủ hộ 2.Vợchồng 3.Con đẻ  4.Bốmẹ  5.Cháu nộingoại 6.Quan hệ khác:....................................... 5. Bạn thuộc dân tộc nào ?1. Kinh 2. Dân tộc khác Tên dân tộc:………………………6.Bạn có theo đạo, tôn giáo nào không? NẾU CÓ: Đó là đạo, tôn giáo gì?1.Có Tên tôn giáo:……………………..2.Không 7.Cách đây 5 năm (vào ngày 112000), bạn thực tế thường trú ở đâu?1.Cùng xãphường 2 Xãphường khác trong huyện 3.Huyệnquận khác trong tỉnh  4. Tên huyệntỉnh thành phố khác……………………5.Ở nước ngoài …………………..8. Hiện nay bạn đang đi học, đã thôi học hay chưa bao giờ đi học?1.Đang đi học 2. Đã thôi học 3.Chưa từng đi học   8.18.1.Hiện nay, bạn có biết đọc và biết viết không?1.Có 2.Không 9. Tình trạng hôn nhân hiện nay của bạn là gì?1.Chưa vợchồng 2.Đã có vợchồng  3.Góa 4.Đã ly thân 5.Đã ly hôn 10. Trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất mà bạn đã được đào tạo là gì?CMKT CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT , CN CHUYÊN NGHIỆP1.Chưa đào tạo CMKT2.Trung cấp CN 3.Cao đẳng 4.Đại học  5.Thạc sỹ 6.Tiến sỹ 11. Bây giờ, tôi hỏi về việc làm trong 10 ngày qua: Trong 10 ngày qua, bạn có làm một công việc gì để tạo ra thu nhập không?1.Có   122.Không  12. Trong 10 ngày qua, bạn đã làm công việc gì là chính và giữ chức vụ gì (nếu có)?……………………………………………………………………………………………..13. Với công việc trên, bạn là lao động gia đình, làm công ăn lương hay giữ vai trò khác?1.Lao động gia đình 2.Làm công ăn lương 3.Khác…………………..14. Tên cơ quan hoặc đơn vị nơi bạn làm công việc trên và cấp trên trực tiếp (néu có) là gì?……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………15. Công việc của bạn có khó khăn gì khi . . . . không? NẾU CÓ: ở mức độ nào:bình thường, khó khăn, rất khó khăn? a) Lương thấp ? b)Giờ làm việc ? c)Công việc không ổn định ? d)Xa nhà ?e) khác:…………………Bình thườngKhó khănRất khó khănabcdeIIThông tin về lịch sử sinh của phụ nữ từ 1549 tuổi:16. NẾU LÀ PHỤ NỮ SINH TỪ 11965 ĐẾN 12000 (TỪ 15 ĐẾN 49 TUỔI) CÂU 1617. Chị đã sinh con bao giờ chưa?1.Chưa từng 2. Đã từng 16.116.1 Có người con nào do chị sinh ra nhưng đã chết không? 1. Có  16.22. Không 16.2 Số con đã mất:………………………….18. Lần gần đây nhất chị sinh con là khi nào?Ngày…..tháng…..năm 20….19. Số con trai con gái của chị?Con trai :……Con gái :…….III Thông tin người mất20. Từ ngày 01 Tết Giáp Ngọ (vào 31012014 theo dương lịch) đến 0 giờ ngày 1 tháng 1 năm 2015, trong hộ ta có ai hay cháu nhỏ nào bị chết không?1. Có  2.Không   21. Xin bạn cho biết tên của từng người đã mất trong nhà?……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………22. Khi chết TÊN đã bao nhiêu tuổi theo dương lịch?…………………………………………………………………………………………………23. TÊN chết vì nguyên nhân gì?1. Bệnh tật 2. Tai nạn giao thông 3. Tai nạn lao động 4.Khác:………………..
Xem thêm

8 Đọc thêm

Cùng chủ đề