BẢN CHẤT VÀ NỘI HÀM CỦA PHẠM TRÙ DÂN CHỦ

Tìm thấy 3,302 tài liệu liên quan tới từ khóa "BẢN CHẤT VÀ NỘI HÀM CỦA PHẠM TRÙ DÂN CHỦ":

Nội dung, hình thức và bản chất, hiện tượng của các phạm trù

NỘI DUNG, HÌNH THỨC VÀ BẢN CHẤT, HIỆN TƯỢNG CỦA CÁC PHẠM TRÙ

Nội dung, hình thức và bản chất, hiện tượng của các phạm trù

39 Đọc thêm

SLIDE PHẠM TRÙ BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG

SLIDE PHẠM TRÙ BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG

PHẠM TRÙ 5Bản chất và hiện tượngNhóm 51. Khái niệmPhạm trù bản chất: dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, nhữngPhạm trù hiện tượng: dùng để chỉ sự biểu hiện ra bên ngoài của nhữngmối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong, quy định sự tồn tạimặt, những mối liên hệ đó trong những điều kiện xác định.vận động và phát triển của sự vật hiện tượng đó.2. Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng2. Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượngSự đối lập3. Ý nghĩa phương pháp luận- Bản chất phản ánh tính tất yếu, tính quy luật nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải căn cứ vào bản chấtchứ không căn cứ vào hiện tượng thì mới có thể đánh giá một cách chính xác về sự vật, hiện tượng đó và mới cóthể cải tạo căn bản sự vật
Xem thêm

6 Đọc thêm

TIỂU LUẬN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

TIỂU LUẬN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Dân chủ là một phạm trù đa nghĩa với nhiều tầng bản chất và các hình thức khác nhau. Trong các thời đại lịch sử khác nhau, thì bản chất, trình độ phát triển của dân chủ cũng có những biến đổi khác nhau. Trình độ dân chủ bị chi phối bởi trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, dân trí và các nhân tố xã hội khác. Dân chủ là một thước đo, tiêu chí đánh giá trình độ văn minh của xã hội, trình độ giải phóng xã hội, giải phóng con người, phản ánh điều kiện, năng lực làm chủ xã hội của con người.
Xem thêm

24 Đọc thêm

Mon quyen luc chinh tri va cam quyen PHẠM TRÙ QUYỀN lực CHÍNH TRỊ

Mon quyen luc chinh tri va cam quyen PHẠM TRÙ QUYỀN lực CHÍNH TRỊ

A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Quyền lực và quyền lực chính trị là những phạm trù khá mới mẻ, tuy đã được triển khai nghiên cứu nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu tương đối sâu sắc và toàn diện về nó. Nhiều vấn đề xung quanh phạm trù quyền lực chính trị như: nguồn gốc, bản chất, xu thế vận động… vẫn chưa được làm rõ, sâu sắc. Đây là vấn đề mà khoa học chính trị phải giải quyết, lấy đó làm cơ sở để nghiên cứu chính trị ở cấp độ lý thuyết cũng như vấn đề thực tiễn. Vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất của chính trị là nắm quyền lực chính trị. Vấn đề này được nghiên cứu khá rộng rãi. Nó được đề cập tg các tư tưởng, các học thuyết chính trị, các học thuyết quản lý và các công trình nghiên cứu chính trị xã hội khác. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nghiên cứu về nó thực sự toàn diện sâu sắc lại quá ít. Trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” – J. Rutxô đã có phần bàn về vấn đề này. Ông đã đặt ra và lý giải các vấn đề như: “Công ước xã hội”, “Quyền lực tối cao”, “Chủ quyền tối cao”… Đặc biệt ông đã tách bạch và phân biệt “quyền” và “lực” khi lý giải về quyền lực. Tác giả Bertrand Russet có tác phẩm “Quyền lực” gây chấn động trong giới đọc giả, đặc biệt là các nhà nghiên cứu chính trị, các nhà đương quyền khi ông đưa ra ý kiến mới mẻ, táo bạo, vượt trước thời đại. Ông đề cập tới nhiều dạng quyền lực trong xã hội nhưng chưa tập trung làm rõ quyền lực chính trị. Alvin Toffler có tác phẩm “Thăng trầm quyền lực”, trong đó ông nêu lên các phương thức cơ bản để đạt được quyền lực. Các nhà kinh điển Mác, Ănghen, Lênin chưa có tác phẩm nào bàn riêng về quyền lực mặc dù các tác phẩm của các ông đã ngầm chứa đầy tư tưởng quyền lực và sử dụng quyền lực trong việc giải phóng con người, giải phóng giai cấp, quốc gia, dân tộc. Chính trị ra đời khi loài người phân chia giai cấp và xuất hiện Nhà nước. Nội dung cơ bản của chính trị là giành, giữ, sử dụng quyền lực Nhà nước, quyền điều hành, tổ chức và quản lý xã hội, bảo vệ lợi ích giai cấp mình. Chính vì vậy mà trong lịch sử nhân loại, quyền lực luôn là vấn đề trung tâm. Đã từ lâu khi mà con người ý thức được tầm quan trọng của quyền lực, loài người bỏ ra nhiều công sức phân tích, lý giải tìm hiểu về nó với mong muốn là tìm ra phương thức kiểm soát và sử dụng nó một cách hiệu quả nhất. Ở Việt Nam chính trị học là môn khoa học mới, nên các vấn đề về quyền lực và quyền lực chính trị cũng chưa được bàn tới. Tuy nhiên đã có một số công trình, bài viết về vấn đề này. Giáo sư Phạm Quang Ngọc có bài “Quyền lực – pháp luật số 41992. Công trình này đã khái quát vấn đề quyền lực và quyền lực chính trị cùng các nội dung nghiên cứu khác. Các tác giả cuốn “chính trị học đại cương” – NXB Chính trị quốc gia – 1999 do GS, TS Dương Xuân Ngọc chủ biên có bài về “Quyền lực” nhưng chủ yếu mổ xẻ phân tích khía cạnh quyền lực chính trị. GS Bùi Thanh Quất có bài suy nghĩ thêm về “quyền lực chính trị như một phạm trù khoa học” – Đăng trên Tạp trí Triết học tháng 101996. Trong bài này tác giả đã làm rõ các khái niệm liên quan tới quyền lực chính trị để từ đó làm rõ khái niệm quyền lực chính trị. Đây là công trình bước đầu mổ xẻ, phân tích đi sâu nghiên cứu nội dung phạm trù quyền lực chính trị. Tóm lại, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về quyền lực chính trị. Nhiều vấn đề như: Nguồn gốc, bản chất… vẫn còn nhiều điều phải bàn. Đây là những vấn đề mà khoa học chính trị phải giải quyết. Vì những lý do trên, em chọn đề tài: “Phạm trù quyền lực chính trị” làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần môn “Quyền lực chính trị” với mong muốn bước đầu tìm hiểu rõ nội dung xung quanh phạm trù này, đồng thời tạo cơ sở lý thuyết phục vụ nhiệm vụ chuyên môn của mình, nâng cao trình độ nhận thức.
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT

Vật chất là phạm trù xuất phát điểm của triết học. Đây là phạm trù có nội hàm rộng đến cùng cực. Việc nắm vững nội dung của phạm trù có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, làm cơ sở cho giải quyết các vấn đề khác có liên quan.

20 Đọc thêm

luận văn thạc sĩ Chất lượng thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã trên địa bàn tỉnh quảng trị

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHẤT LƯỢNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ

1. Tính cấp thiết của đề tàiDân chủ vừa là chế độ xã hội, một vấn đề chính trị mang bản chất giai cấp vừa là một trong những giá trị xã hội mang tính phổ biến, tính nhân loại to lớn. Chính vì vậy mà dân chủ đã đang và và luôn trở thành vấn đề thời sự thu hút mối quan tâm to lớn cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Quá trình phát triển của lịch sử chính trị nhân loại theo xu hướng tiến bộ cũng chính là quá trình phát triển của các nền dân chủ. Xã hội càng phát triển thì các nhu cầu về dân chủ và quyền con người càng trở thành đòi hỏi bức xúc. Việc mở rộng và phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay vừa là mục tiêu vừa là động lực, là tiền đề, điều kiện quan trọng, góp phần giải quyết hàng loạt những vấn đề quan trọng và cơ bản của đất nước. Đảng ta đã xác định
Xem thêm

124 Đọc thêm

LUẬN văn THẠC sĩ HOẠT ĐỘNG LÃNH đạo THỰC HIỆN dân CHỦ ở cơ sở của các ĐẢNG bộ xã, TỈNH bạc LIÊU HIỆN NAY

LUẬN văn THẠC sĩ HOẠT ĐỘNG LÃNH đạo THỰC HIỆN dân CHỦ ở cơ sở của các ĐẢNG bộ xã, TỈNH bạc LIÊU HIỆN NAY

Đảng ta đã khẳng định: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, là mục tiêu, đồng thời là động lực của sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng XHCN. Thực hiện dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động là động lực to lớn, có ý nghĩa và tầm quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Xem thêm

Đọc thêm

tiểu luận cao học ĐẢNG CỘNG sản TRONG hệ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

TIỂU LUẬN CAO HỌC ĐẢNG CỘNG SẢN TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

1.1. Hệ thống chính trị1.1.1. Khái niệmHệ thống chính trị (HTCT) là một trong những phạm trù cơ bản và bao trùm của Khoa học chính trị. Cho đến nay, tuỳ thuộc vào cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn còn nhiều cách hiểu chưa hoàn toàn thống nhất về HTCT.Có cách tiếp cận từ góc độ cấu trúc quyền lực của nhân dân, xem HTCT là hình thức tổ chức dân chủ để thực hiện quyền lực của nhân dân; quan niệm khác lại tiếp cận từ góc độ cấu trúc quyền lực của giai cấp cầm quyền, cho rằng: HTCT là hệ thống quyền lực của giai cấp cầm quyền, hay gọi là hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền, nghĩa là HTCT chỉ bao gồm các tổ chức chính trị xã hội do giai cấp cầm quyền lập ra để bảo vệ quyền lực và lợi ích của chính giai cấp cầm quyền. Các tổ chức chính trị xã hội khác không do giai cấp cầm quyền tổ chức ra,
Xem thêm

35 Đọc thêm

BÀI THU HOẠCH: THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NGA TÂN, HUYỆN NGA SƠN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

BÀI THU HOẠCH: THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NGA TÂN, HUYỆN NGA SƠN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là dân chủ, theo đó dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Từ lâu, Đảng ta rất coi trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào dân, nên đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dân chủ hoá đời sống xã hội đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm. Đặc biệt là dân chủ hoá đời sống xã hội từ cơ sở. Vì vậy, ngày 18021998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị 30CTTW về xây dựng Quy chế dân chủ ở cơ sở. Để cụ thể hoá Chỉ thị, ngày 15051998, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 291998NĐCP về “ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn” nhằm phát huy sức sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội, tăng cường đoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể vững mạnh, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Qua quá trình triển khai thực hiện Quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở, thực tế cho thấy kết quả bước đầu là rất quan trọng. Tuy vậy, vẫn còn bộc lộ những thiếu sót, yếu kém như: quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực. Tệ quan liêu, cửa quyền, hách dịch, mệnh lệnh, tham nhũng, gây phiền hà cho dân vẫn còn khá phổ biến. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chưa đi vào thực chất.
Xem thêm

15 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC LIÊN HỆ VỚI MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA KHẢ NĂNG VÀ HIỆN THỰC LIÊN HỆ VỚI MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN

LỜI MỞ ĐẦU Triết học từ xa xưa đã được coi là khoa học về trí tuệ. Nó được xem là một bộ môn tổng hợp bao gồm mọi sự hiểu biết của con người về thế giới. Có những hiểu biết có tính chất chung khái quát. Có những hiểu biết có tính chất cụ thể về những lĩnh vực riêng mà ngày nay ta gọi là toán, lý, hóa, lịch sử… cũng vẫn được xem đó là triết học. Triết học Mác là một hệ thống triết học khoa học và cách mạng, chính vì vậy nó đã trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại mới. Triết học Mác đã kế thừa những tinh hoa, từ đó đưa ra những nguyên lý khoa học giúp con người nhân thức đúng và cải tạo thế giới. Sự ra đời triết học Mác tạo nên sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử phát triển triết học của nhân loại. C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa một cách có phê phán những thành tựu tư duy nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triết học triệt để, không điều hoà với chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình. Có thể nói triết học Mác – Lênin là phương pháp luận chứng duy nhất đúng đắn đối với khoa học tự nhiên và xã hội. Lênin viết: “Triết học của Mác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị, nó cung cấp cho loài người và nhất là cho giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại”. Một trong những nội dung quan trọng cần tìm hiểu của Triết học Mác –Lênin đó là về các cặp phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật. Phạm trù là loại khái niệm chung nhất phản ánh những mối liên hệ bản chất của sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan và tư duy. Đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng thì phạm trù được nghiên cứu với tính cách là những liên hệ đối lập biện chứng để tạo ra những cặp phạm trù. Ở bài tiểu luận này, em xin chọn chủ đề nghiên cứu về: “ Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực. Liên hệ với một số vấn đề thực tiễn”. Bài tiểu luận của em trong quá trình làm còn nhiều sai sót, mong nhận được sự góp ý của thầy cô để bài làm được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Đức Luận đã chỉ bảo, hướng dẫn giúp em hoàn thành bài tiểu luận này.
Xem thêm

14 Đọc thêm

VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TRONG TRIẾT HỌC VÀO DẠY HỌC TOÁN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TRONG TRIẾT HỌC VÀO DẠY HỌC TOÁN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Vận dụng cặp phạm trù nội dung và hình thức trong triết học vào dạy học toán ở trường phổ thông. Dùng làm tiểu luận triết học kết thúc môn đối với học viên cao học chuyên ngành Lý luận và giảng dạy bộ môn Toán (4 tín chỉ).1.Lý do chọn đề tàiTrong thời đại ngày nay không một ai có thể nghi ngờ về vai trò quan trọng của toán học trong đời sống xã hội cũng như trong sự phát triển của khoa học, kinh tế và kỹ thuật v.v… Vì vậy, việc sử dụng toán học như một công cụ không thể thiếu được trong nền kinh tế tri thức là một thực tế quá rõ ràng. Như vậy, vấn đề nhận thức đúng đắn nguồn gốc và bản chất của đối tượng toán học, tìm hiểu những khía cạnh triết học trong toán học trên cơ sở phân tích đối tượng của nó là vấn đề có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với sự phát triển của khoa học, mà còn cả trong thực tiễn xã hội.
Xem thêm

19 Đọc thêm

TIỂU LUẬN: PHẠM TRÙ THỰC TIỄN TRONG TRIẾT HỌC MÁC

TIỂU LUẬN: PHẠM TRÙ THỰC TIỄN TRONG TRIẾT HỌC MÁC

CHƯƠNG I: PHẠM TRÙ THỰC TIỄN TRONG TRIẾT HỌC MÁC I. Quan điểm Trong lịch sử triết học, các nhà triết học duy vật trước Mác không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, lý luận nên quan điểm của họ mang tính chất trực quan. Các nhà triết học duy tâm lại tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần, tư tưởng của thực tiễn, họ hiểu họat động thực tiễn như là hoạt động tinh thần, hoạt động của “ý niệm”, tư tưởng, tồn tại đâu đó ngoài con người, nói cách khác, họ gạt bỏ vai trò thực tiễn trong đời sống xã hội. Mac-Ăngghen, những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khắc phục những hạn chế trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước và đưa ra quan điểm đúng đắng, khoa học về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận, Mác- Ăngghen đã thực hiện bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng. II. Hoạt động của thực tiễn, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong triết học Mác Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của lý luận nhận thức Macxít nói riêng, chủ nghĩa Mac-Lênin nói chung. Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử- xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội là hình thức hoạt động đặc thù của con người. Thực tiễn là hoạt động được chủ thể tiến hành để đạt tới mục đích được đặt ra từ trước. Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu con vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người nhờ hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, và để làm chủ thế giới. Trong quá trình hoạt động thực tiễn con người đã tạo ra được một “thiên nhiên thứ hai” của mình, một thế giới của văn hóa tinh thần và vật chất, những điều kiện mới cho sự tồn tại và phát triển của con người vốn không có sẵn trong tự nhiên. Vì vậy, không có hoạt động thực tiễn, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được. Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên, chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới. Thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với hoạt động nhận thức. Trong mối quan hệ với nhận thức, vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở
Xem thêm

23 Đọc thêm

HOÀN THIỆN QUY CHẾ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ

HOÀN THIỆN QUY CHẾ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ

phủ về việc ban hành quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng và Thông tư liêntịch số 04/2006/ TTLT/KH&ĐT-UBTUMTTQVN-TC, ngày 04/12/2006 củaBộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vàBộ Tài chính.Do nội dung của việc thực hiện dân chủ ở cấp xã rất sâu, rộng, ngoàicác văn bản, quy định trên còn được quy định tản mạn ở nhiều văn bản, quyđịnh khác. Vì vậy bài viết, công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở chỗ: Tìm hiểuvà nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc triển khai thực hiệncác nội dung thực hiện dân chủ ở cấp xã như nội dung công khai để nhân dânbiết, nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp hoặc biểu quyết để cấp cóthẩm quyền quyết định, nội dung nhân dân tham gia ý kiến và nội dung nhândân giám sát. Đồng thời đánh giá về thực trạng hệ thống các văn bản, quyđịnh thực hiện dân chủ ở cấp xã và quan điểm, giải pháp hoàn thiện quy chếthực hiện dân chủ ở cấp xã trong giai đoạn hiện nay.3. Mục đích và nhiệm vụ của luận vănMục đích của luận văn là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luậnvề dân chủ ở cấp xã và đánh giá thực trạng các văn bản, quy định về thực hiệndân chủ ở cấp xã trong điều kiện hiện nay; luận văn đề xuất phương hướng vàcác giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện các văn bản, quy định về thực hiện dânchủ ở cấp xã hiện nay.Luận văn có nhiệm vụ:98- Tìm hiểu, phân tích một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tàinghiên cứu: Khái niệm, đặc điểm nền dân chủ, bản chất, vai trò của dân chủ ởcơ sở; khái niệm, nội dung, vai trò và tiêu chí hoàn thiện quy chế thực hiệndân chủ ở cấp xã;- Phân tích, đánh giá thực trạng thi hành các nội dung thực hiện dân chủ
Xem thêm

15 Đọc thêm

Hình thành hệ thống khái niệm cơ bản cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (1919 1945) lớp 12 THPT”, Chương trình chuẩn

HÌNH THÀNH HỆ THỐNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1919 1945) LỚP 12 THPT”, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Hình thành hệ thống khái niệm trong dạy học lịch sử ở trường THPT là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, do vậy đã có nhiều công trình và tài liệu khoa học trong và ngoài nước đề cập đến ở những mức độ khác nhau. Tài liệu nước ngoài • Tài liệu giáo dục học Trước hết cần phải kể đến đó là những công trình nghiên cứu của những tác gia kinh điển chủ nghĩa Mác Lênin, các ông đã đề cập một cách sâu sắc đến các vấn đề về nhận thức. Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ănghen đã khẳng định: “Những kết quả mà trong đó các tài liệu của kinh nghiệm được khái quát hoá lại, đó chính là khái niệm” 2; 14. Lênin đã phát triển quan điểm khoa học về khái niệm của Enghen lên một bước mới, đi sâu phân tích cấu trúc của khái niệm, khẳng định tầm quan trọng của khái niệm đối với quá trình nhận thức của con người: “Khái niệm là sản phẩm cao nhất của bộ não, là sản phẩm cao nhất của vật chất”39; 163. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin là cơ sở để tìm ra dấu hiệu bản chất, tính hiện thực khách quan đã được phản ánh trong hệ thống khái niệm, đặt nền móng cho việc nghiên cứu vấn đề khái niệm và hình thành khái niệm trong dạy học. Hai nhà giáo dục Liên Xô S.N. Vinơgorađốp và A.F. Kuzơmin, trong cuốn “Lôgích học” (1959) dành hai chương viết về khái niệm, tác giả đi sâu tìm hiểu bản chất của khái niệm, mối quan hệ giữa khái niệm và biểu tượng, từ ngữ, giữa nội hàm và ngoại diên khái niệm, đề ra những nguyên tắc phân loại và định nghĩa khái niệm. Hai ông cho rằng : “khái niệm là phản ánh của thế giới khách quan do hoạt động suy nghĩ của nhiều người sinh ra. Đặc trưng của khái niệm là tính cố định”55; 33. Sácđacốp trong cuốn “Tư duy của học sinh” đã đề cập đến vấn đề khái niệm và hình thành khái niệm, mối quan hệ giữa hình thành khái niệm với phát triển tư duy của học sinh trong dạy học. Theo tác giả, “học sinh lĩnh hội các khái niệm, quy luật và quy tắc trong quá trình hoạt động tư duy, mà quá trình này ngày càng được phát triển và hoàn thiện cùng với việc học”60; 9. Tác giả cho rằng “không phải mọi hình thức vốn có của tư duy đều có ý nghĩa ngang nhau. Một số thì đơn giản như so sánh, số khác lại rất phức tạp, như khái niệm”.58; 9. Alêchxeep trong cuốn Phát triển tư duy học sinh cho rằng: “Lĩnh hội một hệ thống tri thức nghĩa là lĩnh hội những khái niệm hợp thành một tri thức nào đó. Muốn vậy trước hết phải tìm hiểu nội dung của bản thân khái niệm vì không ai có thể lĩnh hội được khái niệm khi chúng chưa được sáng tỏ” 1; 23 Tác giả đề cập “nội hàm của khái niệm là một hệ thống những dấu hiệu khiến cho một đối tượng nào đó khác biệt với đối tượng khác…. Ngoại diên của khái niệm là toàn bộ những đối tượng được bao hàm trong khái niệm ấy”1; 24; “Học sinh lĩnh hội các khái niệm đơn giản tương đối dễ dàng, còn đối với những khái niệm phức tạp hơn và chung hơn thì đòi hỏi phải rèn luyện tư duy riêng tức là đòi hỏi phân tích, trừu tượng hoá và khái quát hoá. Việc lĩnh hội các khái niệm khoa học được kết thúc bằng cách dùng ngôn ngữ để diễn đạt các khái niệm đó”1; 56.
Xem thêm

116 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CHUYÊN NGÀNH SỰ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

TIỂU LUẬN CHUYÊN NGÀNH SỰ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

Xây dựng một xã hội tốt đẹp, không còn áp bức bóc lột, bất công; mọi người đều bình đẳng, được tự do phát triển toàn diện; đó là mơ ước của con người từ khi lịch sử xã hội xuất hiện giai cấp và nhà nước đến nay, nhất là khi CNTB ra đời và bộc lộ rõ bản chất bóc lột, xấu xa; thì mơ ước đó càng trở nên cháy bỏng. CNTB ra đời là một nấc thang phát triển tất yếu trong lịch sử, nó đã đem lại những thành tựu to lớn cho nhân loại, nhất là sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học công nghệ, và những tiến bộ về dân chủ
Xem thêm

27 Đọc thêm

Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết

PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI VÀ HỆ THỐNG HÓA LÝ THUYẾT

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn.Góp phần quan trọng vào kết quả nghiên cứu khoa học là việc áp dụng một cách hiệu quả các phương pháp trong nghiên cứu. Vì nó là phạm trù trung tâm của phương pháp luận nghiên cứu khoa học, nó không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn.Thực tế có nhiều nhóm phương pháp khác nhau, trong đó, phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết được sử dụng khá phổ biến và điển hình nhất.Nhằm giúp ta có được những kiến thức tổng quan và đầy đủ nhất về phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết, để từ đó có thể áp dụng hiệu quả trong công tác nghiên cứu khoa học của mình, nhóm chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết.
Xem thêm

19 Đọc thêm

TIỂU LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ

TIỂU LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ

1. Lý do chọn đề tài Bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là dân chủ, theo đó dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta xây dựng. Từ lâu, Đảng ta rất coi trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào dân, nên đã đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dân chủ hoá đời sống xã hội đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm. Đặc biệt là dân chủ hoá đời sống xã hội từ cơ sở. Chính vì vậy mà ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 30 CT/TW về xây dựng QCDC ở cơ sở. Tiếp đó, ngày 15/05/1998, để cụ thể hoá Chỉ thị này, Thủ tướng Chính phủ ra nghị định 29 NĐ/CP về ban hành “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã”. Sau này là Pháp lệnh 34/2007 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về vấn đề dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy sức sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, tăng cường đoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể vững mạnh, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Qua quá trình triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở, thực tế đã cho thấy kết quả bước đầu là rất quan trọng. Tuy vậy, vẫn còn bộc lộ những thiếu sót, yếu kém như: quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực. Tệ quan liêu, cửa quyền, hách dịch, mệnh lệnh, tham nhũng, gây phiền hà cho dân vẫn còn khá phổ biến và nghiêm trọng mà chưa đẩy lùi được. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chậm đi vào cuộc sống. Để không ngừng tăng cường việc thực hiện QCDC ở cơ sở và góp phần xem xét, đánh giá vấn đề một cách khách quan, khoa học, việc đi sâu nghiên cứu, tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện trên phạm vi toàn quốc hay từng địa phương cụ thể đều có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Với tầm quan trọng trên, tác giả mạnh dạn chọn vấn đề “Thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã Tảo Dương Văn - Thực trạng và giải pháp” để làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, nhằm vận dụng kiến thức đã học làm rõ hơn vấn đề thực hiện QCDC ở cơ sở trên một địa bàn xã cụ thể. 2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài - Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã Tảo Dương Văn (Ứng Hoà – Hà Nội). - Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã Tảo Dương Văn (Ứng Hoà – Hà Nội) giai đoạn 2007 – 2012. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài + Phân tích, làm rõ ý nghĩa của việc thực hiện quy chế dân chủ là cơ sở, mục tiêu, động lực của quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội trên địa bàn xã. + Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã Tảo Dương Văn. + Vạch ra những nguyên nhân làm hạn chế việc thực hiện quy chế dân chủ, cũng như đề xuất những phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã Tảo Dương Văn hiện nay. 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu với sự vận dụng tổng hợp các phương pháp lôgích và lịch sử, so sánh và tổng hợp cùng với phương pháp điều tra xã hội học. 5. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm ba chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở. Chương 2: Thực trạng thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã Tảo Dương Văn và những vấn đề đặt ra. Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã Tảo Dương Văn.
Xem thêm

32 Đọc thêm

Câu hỏi ôn tập CN MacLenin có đáp án

CÂU HỎI ÔN TẬP CN MACLENIN CÓ ĐÁP ÁN

Câu 2: Định nghĩa vật chất của Lênin? Ý nghĩa phương pháp luận?Lênin đã định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin: Toàn tập, t.18, Nxb. Tiến bộ, M., 1980, tr.151).1. Định nghĩa vật chất của Lênin+ “Vật chất là một phạm trù triết học”. Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày.+ Thuộc tính cơ bản của vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Đó cũng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất.+ “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Điều đó khẳng định “thực tại khách quan” (vật chất) là cái có trước (tính thứ nhất), còn “cảm giác” (ý thức) là cái có sau (Tính thức hai). Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức.+ “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”. Điều đó nói lên “thực tại khách quan” (vật chất) được biểu hiện thông qua các dạn cụ thể, bằng “cảm giác” (ý thức) con người có thể nhận thức được và “thực tại khách quan” (vật chất) chính là nguồn gốc, nội dung khách quan của “cảm giác” (ý thức).Định nghĩa của Lênin về chật chất đã giải quyết được cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học theo lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng.2. Định nghĩa vật chất của Lênin có ý nghĩa1. Chống lại tất cả các loại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về phạm trù vật chất như: (Đối chiếu với các quan điểm duy tâm đã học ).2. Đấu tranh khắc phục triệt để tính chất trực quan, siêu hình, máy móc và những biến tướng của nó trong quan niệm về chất chất của các nhà triết học tư sản hiện đại. Do đó, định nghĩa này cũng đã giải quyết được sự khủng hoảng trong quan điểm về vật chất của các nhà triết học và khoa học theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình3. Khẳng định thế giới vật chất khách quan là vô cùng, vô tận, luôn vận động và phát triển không ngừng, nên đã có tác động cổ vũ, động viên các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất, tìm ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới và những quy luật vận động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại.3. Ý nghĩa phương pháp luận.– Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người; vì vậy con người phải tôn trọng tính khách quan, đồng thời phát huy tính năng động, chủ quan của mình. Nếu không tôn trọng tính khách quan sẽ dễ dẫn đến bệnh chủ quan.– Ý có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công khi phản ánh đúng đắn, sâu sắc thế giới khách quan. Ngược lại, ý thức, tư tưởng có thể làm cho con người hoạt động sai và thất bại khi con người phản ánh sai thế giới khách quan. Nếu quá coi trọng tính khách quan sẽ dễ dẫn đến bệnh bi quan.=> Vì vậy, phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức đồng thời khắc phụ bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động. ỷ lại hoặc bênh chủ quan duy ý chí.– Đảng ta đã chỉ rõ: Mọi đường lối chủ chương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan Đối với hoạt động thực tiễn của bản thân:– Phát huy năng động, sáng tạo của ý thức trong quá trình học tập và công tác– Chống bệnh chủ quan duy ý chí, có thái độ tích cực trong học tập và công tác.Câu 3: Nguồn gốc và bản chất của ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận?Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử – xã hội. Để hiểu được nguồn gốc và bản chất của ý thức cần phải xem xét trên cả hai mặt tự nhiên và xã hội.I. Nguồn gốc của ý thức1. Nguồn gốc tự nhiên (Thuộc tính phản ánh của vật chất và sự ra đời của ý thức)– Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất. Đó là năng lực giữa lại, tái hiện của hệ thống vật chất này, những đặc điểm của hộ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại.– Cùng với sự tiến hoá của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất.– Ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao của bộ não con người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người.2. Nguồn gốc xã hội (Vai trò của lao động và ngôn ngữ trong sự hình thành và phát triển của ý thức)– Lao động là hoạt động đặc thù của con người, làm cho con người khác với tất cả các động vật khác.+ Trong lao động, con người đã biết chế tạo ra các công cụ và sử dụng các công cụ để tạo ra của cải vật chất.+ Lao động của con người là hành động có mục đích – tác động vào thế giới vật chất khách quan làm biến đổi thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu của con người.+ Trong quá trình lao động, bộ não người phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người cùng ngày càng phát triển.– Lao động sản xuất còn là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ.+ Trong lao động, con người tất yếu có những quan hệ với nhau và có nhu cầu cần trao đổi kinh nghiệm. Từ đó nảy sinh sự “cần thiết phải nói với nhau một cái gì đấy”. Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và phát triển cùng với lao động.+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái “vỏ vật chất” của tư duy, là phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, phản ánh một cách khái quát sự vật, tổng kết kinh nghiêm thực tiễn và trao đổi chung giữa các thế hệ. Chính vì vậy, Ăngghen coi: lao động và ngôn ngữ là “hai sức kích thích chủ yếu” biến bộ não của con vật thành bộ não con người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý thức.Lao động và ngôn ngữ, đó chính là nguồn gốc xã hội quyết định sự hình thành và phát triển ý thức.II. Bản chất của ý thứcTrong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là một thực thể độc lập, là thực tại duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý thức đến mức coi ý thức sinh ra vật chất chứ không phải là sự phản ánh của vật chất.Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não con người thông qua thực tiễn, nên bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất.– Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Điều đó có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan quy định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, là hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý, vật chất như chủ nghĩa duy vật tầm thường quan niệm.– Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, cùng có nghĩa là ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo thế giới.+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định. Nhu cầu đó đòi hỏi chủ thể phản ánh phải hiệu được cái được phản ánh. Trên cơ sở đó hình thành nên hình ảnh tinh thần và những hình ảnh đó ngày càng phản ánh đúng đắn hơn hiện thực khách quan, Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở phản ánh.+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì phản ánh đó bao giờ cũng dự trên hoạt động thực tiễn và là sản phẩn của các quan hệ xã hội. Là sản phẩm của các quan hệ xã hội, bản chất của ý thức là có tính xã hội.Quan điểm trên của triết học Mác về nguồn gốc và bản chất của ý thức hoàn toàn đối lập vớichủ nghĩa duy tâm coi ý thức, tư duy là cái có trước, sinh ra vật chất và chủ nghĩa duy vật tầm thường coi ý tức là một dạng vật chất hoặc coi ý thức là sự phản ánh giản đơn, thụ động về thế giới vật chất.III Ý nghĩa phương pháp luận1. Do ý thức chỉ là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan. Cần phải chống bệnh chủ quan duy ý chí.2. Do ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo hiện thực, nên cần chống tư tưởng thụ động và chủ nghĩa giáo điều xa rời thực tiễnCâu 4: Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận?1. Phạm trù vật chất và phạm trù ý thứcLênin đã định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại trong lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin: Toàn tập, t.18, Nxb. Tiến bộ, M., 1980, tr.151).Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử – xã hội. Để hiểu được nguồn gốc và bản chất của ý thức cần phải xem xét trên cả hai mặt tự nhiên và xã hội.2. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thứca) Vật chất quyết định ý thức:– Vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất sinh ra ý thức, ý thức là chức năng của óc con người – dạng vật chất có tổ chức cao nhất của thế giới vật chất– Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc con người. Thế giới vật chất là nguồn gốc khách quan của ý thức.b) Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất:– Ý thức có thể thức đẩy hoặc kìm hãm với một mức độ nhất định sự biến đổi của những điều kiện vật chất.– Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người. Con người dựa trên các tri thức về những quy luật khách quan mà đề ra mục tiêu, phương hướng thực hiện; xác định các phương pháp và bằng ý chí thực hiện mục tiêu ấy.Sự tác động của ý thức đối với vật chất dù có đến mức độ nào đi chăng nữa thì nó vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giới vật chất.c) Biểu hiện của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và ý thức xã hội có tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội. Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để xem xét các mối quan hệ khác nhau như: chủ thể và khách thể, lý luận và thực tiễn, điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan v.v..3. Ý nghĩa phương pháp luận– Vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh vật chất, cho nên trong nhận thức phải bảo đảm nguyên tắc “tính khách quan của sự xem xét” và trong hoạt động thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan.– Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của con người, cho nên cần phải phát huy tính tích cực của ý thức đối với vật chất bằng cách nâng cao năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận dụng chung trong hoạt động thực tiễn của con người.
Xem thêm

33 Đọc thêm

hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở xã ở việt nam hiện nay tiểu luận cao học

HOÀN THIỆN QUY CHẾ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở XÃ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TIỂU LUẬN CAO HỌC

1. Tính cấp thiết của đề tài: Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ra đời đánh dấu một bước chuyển biến vô cùng trọng đại của dân tộc ta. Nó đập tan ách thống trị thực dân tàn bạo, xoá bỏ chế độ phong kiến lỗi thời đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhân dân được làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi dân chủ là một nội dung quan trọng. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực để nhân dân ta vượt qua khó khăn, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng, vừa là bản chất và đặc trưng của chế độ mới. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (121986) đã khẳng định: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, đó nền nếp hàng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước của mình. Trong quá trình xây dựng đất nước, quyền dân chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng, nhân dân thực hiện quyền làm chủ đất nước trước hết và chủ yếu thông qua các cơ quan dân cử. Trong những năm 80 90 của thế kỷ XX tình hình vi phạm quyền dân chủ, tệ quan liêu tham nhũng diễn ra trầm trọng dẫn đến tình trạng khiếu kiện tập thể, sự phản ứng mạnh mẽ của nhân dân, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền. Ngày 18021998, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 30CTTƯ về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Cụ thể hoá một bước Chỉ thị này, ngày 1551998, Chính phủ ra Nghị định số 29NDCP về thực hiện dân chủ ở xã. Đây là những văn bản quan trọng do Đảng và Nhà nước ban hành nhằm tiếp tục phát huy quyền làm chủ của nhân dân, từng bước đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, chuyên quyền độc đoán, hống hách, xa rời quần chúng, tạo động lực mạnh mẽ trong nhân dân, góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới xây dựng đất nước theo định hướng XHCN. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã, ngoài những mặt tích cực đạt được đã bộc lộ những điểm chưa hoàn chỉnh như: Tính dân chủ hoá, công khai hoá trong việc cung cấp những thông tin có liên quan trực tiếp đến đời sống hằng ngày của nhân dân ở cơ sở còn hạn chế. Việc thực hiện chế độ lấy ý kiến nhân dân trước khi ban hành chủ trương chính sách của chính quyền còn mang tính hình thức, kém hiệu quả, chưa quy định rõ ràng trách nhiệm của chính quyền trong việc thực hiện Quy chế dân chủ. Còn thiếu các phương thức cụ thể để thực hiện phương châm Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra một nội dung quan trọng của việc thực hiện quyền dân chủ ở cấp xã. Trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước. Việc triển khai nghiên cứu đề tài: Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã ở Việt Nam hiện nay là việc làm cần thiết có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn đáp ứng yêu cầu bức xúc hiện nay là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân.
Xem thêm

23 Đọc thêm

Bài thu hoạch quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã nga hải

Bài thu hoạch quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn xã nga hải

Như chúng ta đã biết bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là dân chủ, theo đó dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Từ lâu, Đảng ta rất coi trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc nên đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dân chủ hoá đời sống xã hội đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm. Đặc biệt là dân chủ hoá đời sống xã hội ở cơ sở.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề