NỀN KTTT VÀ PHẠM TRÙ NỘI DUNG - HÌNH THỨC

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề " Nền KTTT và phạm trù nội dung - hình thức":

VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TRONG TRIẾT HỌC VÀO DẠY HỌC TOÁN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

VẬN DỤNG CẶP PHẠM TRÙ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TRONG TRIẾT HỌC VÀO DẠY HỌC TOÁN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Vận dụng cặp phạm trù nội dung và hình thức trong triết học vào dạy học toán ở trường phổ thông. Dùng làm tiểu luận triết học kết thúc môn đối với học viên cao học chuyên ngành Lý luận và giảng dạy bộ môn Toán (4 tín chỉ).1.Lý do chọn đề tàiTrong thời đại ngày nay không một ai có thể nghi ngờ về vai trò quan trọng của toán học trong đời sống xã hội cũng như trong sự phát triển của khoa học, kinh tế và kỹ thuật v.v… Vì vậy, việc sử dụng toán học như một công cụ không thể thiếu được trong nền kinh tế tri thức là một thực tế quá rõ ràng. Như vậy, vấn đề nhận thức đúng đắn nguồn gốc và bản chất của đối tượng toán học, tìm hiểu những khía cạnh triết học trong toán học trên cơ sở phân tích đối tượng của nó là vấn đề có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với sự phát triển của khoa học, mà còn cả trong thực tiễn xã hội.
Xem thêm

19 Đọc thêm

Nội dung, hình thức và bản chất, hiện tượng của các phạm trù

NỘI DUNG, HÌNH THỨC VÀ BẢN CHẤT, HIỆN TƯỢNG CỦA CÁC PHẠM TRÙ

Nội dung, hình thức và bản chất, hiện tượng của các phạm trù

39 Đọc thêm

Cặp phạm trù nội dung và hình thức và vấn đề vận dụng nó vào phát triển sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của tổng Công ty bảo việt trên thị trường Việt Nam

CẶP PHẠM TRÙ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC VÀ VẤN ĐỀ VẬN DỤNG NÓ VÀO PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ CỦA TỔNG CÔNG TY BẢO VIỆT TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

Trong lịch sử hơn 40 năm của ngành bảo hiểm Việt Nam, có lẽ có thời điểm nào sôi động như hiện nay, thị trường bảo hiểm đang đứng trước những bước ngoặt mới với nhiều thay đổi cả về quy mô lẫn chất lượng.
Việt Nam sắp gia nhập vào khối thị trường chung WTO và đương nhiên thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng chuẩn bị tham gia vào cuộc hội nhập lớn nay.
Trong thời điểm hiện nay theo thống kê của bộ tài chính ở Việt Nam đã và đang có sự xâm nhập mạnh mẽ từng ngày từng giờ số doanh nghiệp hoạt động trong ngành Bảo hiểm được thể hiện bằng các văn phòng đại diện của các Công ty bảo hiểm nươc ngoài tại Việt Nam.
Chỉ có 3 tháng vừa qua hàng loạt thông tin về những gương mặt mới của thị trường bảo hiểm Việt Nam luôn được cập nhập. Đáng chú ý là ngoài những tập đoàn lớn từ phương Mỹ, Châu Âu còn có sự góp mặt của các tập đoàn láng giềng trong khu vực.
Với việc chấp thuận về nguyên tắc cấp phép thành lập Công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn nước ngoài cho tập đoàn bảo hiểm ACE. Dự kiến tháng 5 tới tập đoàn ACE sẽ chính thức được cấp phép hoạt động. Kể đó là sự gia mắt của tập đoàn Marrh enc là tập đoàn môi giới bảo hiểm lớn nhất thế giới với 100% vốn của Mỹ. Sự gia mắt của tập đoàn Marrh được giới quan sát trong và ngoài nước coi là một tập đoàn mạnh và có kinh nghiệm hàng đầu trên thế giới hiện nay, ngoài ra với sự xâm nhập của các tập đoàn bảo hiểm của Pháp (Groupân, Prevoire) và hàng loạt các văn phòng đại diện hàng đầu của Singapore, Trung Quốc, và ngay cả trong nước “đại gia Vietcombank cũng đang có đề án phát triển tập đoàn tài chính trong đó có gắn đến lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.
Trong thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam hiện nay với sự cạnh tranh gay gắt của năm doanh nghiệp chính là Bảo hiểm nhân thọ, Prudential, Manulife AIA, Bảo Minh – GMG. Sự có mặt của các tập đoàn lớn này trong thị trường bảo hiểm nhân thọ đã tạo ra một mặt áp lực đáng kể cho bảo hiểm nhân thọ.
Thị trường tái hiểm nhân thọ cũng đang chững lại bởi năm 2004 bảo hiểm nhân thọ gặp nhiều trở ngại, do lãi suất ngân hàng, hệ số trượt giá tiếp tục tăng, hợp đồng bảo hiểm đã đến hạn hợp đồng. Nhưng với về thị trường Việt Nam gần đây, với nền kinh tế nước ta những năm gần đây có mức tăng trưởng khá cao, đời sống của nhân dân cải thiện nhu cầu của người dân, của các doanh nghiệp của nền kinh tế và đòi hỏi của xã hội được thụ hưởng các dịch vụ bảo hiểm ngày càng gia tăng, với yêu cầu ngày càng cao do đó thị trường bảo hiểm nhân thọ đang đứng trước những cơ hội, thách thức hết sức lớn trong thị trường Việt Nam, Công ty Bảo hiểm nhân thọ trực thuộc tổng Công ty bảo việt sẽ làm gì để có thể giữ vững được vị trí số một trong thị trường bảo hiểm nhân thọ?
Xem thêm

17 Đọc thêm

CHỦ NGHĨA DUY VẬT MÁC XÍT

CHỦ NGHĨA DUY VẬT MÁC XÍT

Bài thứ hai(Chương trình Trung cấp chính trị)TS. Nguyễn Văn LongI./ Quan điểm duy vật mác-xít về vậtchất1./ Vật chất là gì?Phạm trù cơ bản, nền tảng của chủ nghĩa duy vật,ra đời cách đây 2500 năm, nội dung phát triển quanhiều giai đọan- Duy vật cổ đại tìm một nguyên thể ban đầu nhưnước (Ta-lét ), khí ( A-na-xi-men), lửa (Hê-ra-clít ),nguyên tử (Lơ-síp, Đê-mô-crít )…- Thế kỷ XVII, XVIII đồng nhất vật chất với khốilượng của vật thểMác, Ăng-ghen kế thừa, phát triển quan niệm vật chấtnhưng chưa có điều kiện đưa ra định nghĩa đầy đủ- Đầu thế kỷ XX, cuộc cách mạng trong khoahọc tự nhiên: phát minh tia Rơn-ghen, phát hiệnhiện tượng phóng xạ, tìm ra điện tử (electron), đề rathuyết tương đối… đối lập với những quan điểmmáy móc, siêu hình về vật chất, các nhà duy tâmphủ nhận duy vậtLê-nin định nghĩa vật chấtlàlà một
Xem thêm

15 Đọc thêm

TIỂU LUẬN VỀ HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

TIỂU LUẬN VỀ HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬTKHOA LUẬT----------BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂMĐề tài: HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNGCỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂMGiảng viên hướng dẫn: Cô Bạch Thị Nhã Nam.Sinh viên thực hiện: Nhóm số 3Ngày 27 tháng 09 năm 2017LỜI NÓI ĐẦUBảo hiểm là một bộ phận của hệ thống các quan hệ tài chính; bảo hiểm bây giờ không cònlà một ngành kinh doanh mới mẻ trong nền kinh tế của bất kỳ một quốc gia nào. Cùng vớisự phát triển không ngừng của nền kinh tế- xã hội; bảo hiểm thương mại trên thế giới nóichung và Việt Nam nói riêng đang là một trong những ngành dịch vụ phát triển mạnh mẽcả về quy mô và phạm vi hoạt động. Nền kinh tế ngày càng phát triển; tri thức càng caothì con người lại càng thấy được lợi ích từ bảo hiểm. Các nước trên thế giới rất quan tâmphát triển ngành kinh doanh bảo hiểm vì ngành này không những mang lại lợi ích chongười tham gia bảo hiểm mà còn mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp bảo hiểm và Nhànước. Mọi người tham gia bảo hiểm ngày nay với mục đích bù đắp tài chính khi rủi rođược bảo hiểm xảy ra; đồng thời hạn chế rủi ro xảy ra chứ không thể ngăn chặn được rủiro.Thị trường bảo hiểm càng sôi động; cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp kinh doanhbảo hiểm trên các nghiệp vụ bảo hiểm thì tranh chấp nảy sinh ngày càng nhiều. Có rấtnhiều các tranh chấp xảy ra; trong các tranh chấp đó thì tranh chấp về hợp đồng bảo hiểmlà một trong những vấn đề cần phải quan tâm nhất không những vì hợp đồng là sự khụiđầu cho giao ước bảo hiểm; mà hợp đồng còn có tính pháp lý cao nhất trực tiếp ảnh
Xem thêm

41 Đọc thêm

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Năm 2010, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cho xuất bản cuốn “Tìmhiều chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam” của tác giả Trần Hồng Liên. Trongcuốn sách này, tác giả đã làm rõ các vấn đề như: Chức năng của Phật giáo đối vớivấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá, giúp người đọc hiểu rằng dù tác động trên bất cứ lĩnhvực nào thì tựu trung lại, Phật giáo cũng chỉ nhằm vào việc mang lại sự an vui, niềmhạnh phúc về cả vật chất và tinh thần cho con người.Trong tác phẩm: “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con ngườiViệt Nam hiện nay” do tác giả Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, HàNội, 1997; phần viết về Phật giáo, các tác giả đã tập trung vào khái niệm từ, bi, hỉ, xảcùng các giá trị tư tưởng của Phật giáo với tư tưởng của con người Việt Nam.Cuốn “Đạo đức học Phật giáo” của Hoà thượng Thích Minh Châu (chủ biên,1995), Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành là cuốn sách bao gồm nhiều bàiviết đã phản ánh những nội dung cơ bản về đạo đức Phật giáo và vai trò của nó trongviệc bảo tồn và phát huy truyền thống đạo đức dân tộc. Nhiều tác giả đã phân tích sâucơ sở và các phạm trù đạo đức Phật giáo, trong đó có các nội dung quan trọng như giới,hạnh, nguyện, thiện, ác…Tác giả Đặng Thị Lan với công trình “Đạo đức Phật giáo với đạo đức conngười Việt Nam”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2006 đã bàn đến những vấn đềtrọng tâm của đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối với việcxây dựng nền tảng đạo đức trong xã hội, cùng với những giải pháp nhằm phát huymặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của đạo đức Phật giáo, vận dụng nhữnggiá trị tốt đẹp của đạo đức Phật giáo trong việc hoàn thiện đạo đức, nhân cách conngười Việt Nam hiện nay.2.2. Những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng đạo đức Phật giáo đếnđạo đức con người Việt Nam và thanh niên Việt NamHướng nghiên cứu này có các tác phẩm chủ yếu sau: “Tìm về bản sắc vănhoá Việt Nam”của Trần Ngọc Thêm, Nxb T.p Hồ Chí Minh (1997); “Thiền học ViệtNam của Nguyễn Đăng Thục, Nxb Thuận Hoá (1997); Giá trị tinh thần truyềnthống của dân tộc Việt Nam” của Trần Văn Giàu, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Xem thêm

86 Đọc thêm

DẪN LUẬN NGÔN NGỮ_ CHƯƠNG IV: NGỮ PHÁP

DẪN LUẬN NGÔN NGỮ_ CHƯƠNG IV: NGỮ PHÁP

DẪN LUẬN NGÔN NGỮ_KHOA TIẾNG ANH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠICHƯƠNG IV: NGỮ PHÁPNỘI DUNGA. PHƯƠNG THỨC NGỮ PHÁPB. PHẠM TRÙ NGỮ PHÁPC. QUAN HỆ NGỮ PHÁPD. CÁC ĐƠN VỊ CÚ PHÁPPhương thức ngữ pháp là những biện pháp hình thức chung nhất thể hiện nghĩa ngữ pháp.Phương thức phụ giaPhương thức phụ gia là dùng phụ tố liên kết vào căn tố để thể hiện nghĩa ngữ pháp.

35 Đọc thêm

BÀI GIẢNG QUẢN LÝ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHƯƠNG 8 PGS TS NGUYỄN VĂN PHÚC

BÀI GIẢNG QUẢN LÝ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHƯƠNG 8 PGS TS NGUYỄN VĂN PHÚC

Điều kiện, bản chất, ý nghĩa của việc thương mại hoá công nghệ và sự hình thành thị trường công nghệ;
Mối quan hệ giữa thương mại hoá công nghệ và các hình thức hiệp tác phát triển, khai thác công nghệ;
Nội dung của quá trình thương mại hoá công nghệ;
Các hình thức thương mại hoá công nghệ và đặc điểm của quá trình thương mại hoá công nghệ;
Các hình thức hợp đồng thương mại về công nghệ.

Ý NGHĨA CỦA VIỆC THƯƠNG MẠI HOÁ CÔNG NGHỆ
1 TÍNH CHẤT HÀNG HOÁ CỦA CÔNG NGHỆ
2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HÀNG HÓA CÔNG NGHỆ
3 CHU KỲ SỐNG CỦA HÀNG HÓA CÔNG NGHỆ
4 HỢP TÁC TRAO ĐỔI CÔNG NGHỆ
5 VAI TRÒ CỦA VIỆC THƯƠNG MẠI HÓA CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ KINH TẾ XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
II. NỘI DUNG VÀ CÁC HÌNH THỨC THƯƠNG MẠI HÓA CÔNG NGHỆ
1 NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA QUÁ TRÌNH THƯƠNG MẠI HÓA CÔNG NGHỆ
2 ĐẶC ĐIỂM CỦA QUÁ TRÌNH THƯƠNG MẠI HÓA CÔNG NGHỆ
3 NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN CẤU THÀNH QUÁ TRÌNH THƯƠNG MẠI HÓA CÔNG NGHỆ
4 CÁC HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI CÔNG NGHỆ
Xem thêm

16 Đọc thêm

LUẬN VĂN TIẾN SĨ TOÁN HỌC PHÂN LỚP ĐỐI ĐỒNG ĐIỀU CÁC ANN HÀM TỬ VÀ CÁC ANN PHẠM TRÙ BỆN

LUẬN VĂN TIẾN SĨ TOÁN HỌC PHÂN LỚP ĐỐI ĐỒNG ĐIỀU CÁC ANN HÀM TỬ VÀ CÁC ANN PHẠM TRÙ BỆN

3 (G, A)Lane về sự biểu diễn hàm quadratic bởi nhóm đối đồng điều aben Hab[13, 14]). Trước đó, trường hợp nhóm phạm trù đối xứng (hay phạm trù Picard)đã được phân lớp bởi H. X. Sính [55].Tình huống tổng quát hơn đối với các nhóm phạm trù Picard được đưa rabởi A. Fr¨ohlich và C. T. C. Wall với tên gọi nhóm phạm trù phân bậc [16] (saunày, A. Cegarra và E. Khmaladze gọi là phạm trù Picard phân bậc [10]). Cácđịnh lý phân lớp đồng luân cho các nhóm phạm trù phân bậc, các nhóm phạmtrù bện phân bậc, và trường hợp riêng của nó, các phạm trù Picard phân bậc đãđược trình bày theo thứ tự trong [17], [9], [10]. Từ mỗi phạm trù như vậy xuấthiện một 3-đối chu trình theo một nghĩa nào đó mà mỗi lớp tương đẳng của cácphạm trù cùng loại là tương ứng với một lớp đối đồng điều chiều 3.Các lớp phạm trù có hai cấu trúc monoidal đã thu hút được sự quan tâmcủa nhiều tác giả. Năm 1972, M. L. Laplaza [27] đã nghiên cứu về lớp phạm trùcó tính phân phối. Kết quả chính của [27] là chứng minh định lý khớp cho lớpphạm trù này. Sau đó, trong [16], A. Fr¨ohlich và C. T. C. Wall đã đưa ra kháiniệm phạm trù tựa vành với chủ ý là đưa ra một hệ tiên đề mới gọn hơn của M.L. Laplaza [27]. Hai khái niệm này là những hình thức hóa của phạm trù cácmôđun trên một vành giao hoán.Năm 1994, M. Kapranov và V. Voevodsky [25] đã bỏ đi những đòi hỏi trong hệtiên đề của M. L. Laplaza có liên quan đến ràng buộc giao hoán của phép nhânvà đưa ra tên gọi phạm trù vành cho lớp phạm trù này. Họ đã sử dụng phạm trùcủa các không gian vectơ trên một trường K , cùng với tích tenxơ và tổng trựctiếp để định nghĩa các 2-không gian vectơ trên K . Các phạm trù vành đã đượcsử dụng như một công cụ để nghiên cứu các phương trình Zamolodchikov [25].Để có được những mô tả về cấu trúc, cũng như để có thể phân lớp đối đồngđiều, N. T. Quang đã đưa ra khái niệm Ann-phạm trù [36], như một phạm trùhóa khái niệm vành, với những đòi hỏi về tính khả nghịch của các vật và của cácmũi tên của phạm trù nền, tương tự như trường hợp của nhóm phạm trù (xem
Xem thêm

57 Đọc thêm

bai giang môn tài chính tiền tệ

BAI GIANG MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN TỆ

Tiền tệ và tài chính là những phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất và lưu thông hành hóa. Nó có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, cũng như trên phạm vi quốc tế; đặc biệt trong nền kinh tế thị trường nền kinh tế được tiền tệ hóa cao độ.
Để thấy rõ vai trò đó, chương này cho phép chúng ta hiểu một cách cơ bản: Tiền tệ là gì? Tiếp đến là nhận thức được quá trình ra đời, phát triển và các chức năng của tiền tệ.
Đồng thời cũng cho thấy một cách khái quát về tiền tệ hiện nay được đo lường như thế nào? Và chúng ta biết được tài chính được biểu hiện thông qua những quan hệ kinh tế chủ yếu nào?
I. LỊCH SỨ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ
1. Khái quát quá trình phát triển của tiền tệ
Sự ra đời của tiền tệ gắn liền với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Trong thời kỳ đầu chế độ cộng sản nguyên thuỷ với công cụ lao động thô sơ người ta tự cung cấp cho nhau số sản phẩm ít ỏi thu về sau một ngày săn bắn, hái lượm. Khi đời sống cộng đồng phát triển ý thức phân công lao động được hình thành và với lượng sản phẩm dư thừa này đã làm nảy sinh quan hệ trao đổi giữa các thị tộc. Trong giai đoạn này trao đổi mang tính ngẫu nhiên và được thực hiện bằng cách trao đổi trực tiếp (HH). Đây là một bước tiến lớn để xã hội công xã thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp. Tuy nhiên, ở hình thức trao đổi này vì hai giai đoạn mua và bán cùng thống nhất trong một quá trình nên đôi bên mua và bán phải có nhu cầu phù hợp về hàng hoá như: người có thóc muốn đổi vải song ngược lại người có vải cũng đang cần có thóc. Như vậy, việc thực hiện giá trị hàng hoá phụ thuộc vào giá trị sử dụng của hàng hoá. Ngoài ra, trong hình thức trao đổi này người ta còn phải thoả thuận về tỷ lệ giá trị của hàng hoá, về số lượng hàng hoá...với những bất tiện của trao đổi hiện vật nêu trên, nên hình thức này chỉ phù hợp trong giai đoạn nền sản xuất còn sơ khai và quan hệ trao đổi chưa mở rộng. Cùng với việc cải tiến công cụ lao động và quá trình phân công lao động xã hội ngày một sâu hơn, nền sản xuất hàng hoá phát triển mạnh do đó quan hệ trao đổi không còn ngẫu nhiên, không chỉ dựa trên sự định giá giản đơn. Mặt khác, hàng hoá trên thị trường đã phong phú và đa dạng hơn đòi hỏi phạm vi trao đổi cần được mở rộng hơn. Để giải quyết khó khăn trên người ta đã đặt ra vật trung gian làm phương tiện trao đổi nghĩa là hai giai đoạn mua bán được tách thành hai quá trình độc lập.
H vật trung gian H
Có thể nói sự ra đời của vật trung gian trao đổi đánh dấu giai đoạn mở đầu cho sự xuất hiện của tiền tệ đồng thời là bước chuyển hoá từ nền kinh tế đổi chác sang nền kinh tế tiền tệ. Trải qua tiến trình phát triển, tiền tệ đã tồn tại dưới nhiều hình thức để đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của đời sống kinh tế.
Xem thêm

102 Đọc thêm

Giới thiệu ngành tài chính công ty

GIỚI THIỆU NGÀNH TÀI CHÍNH CÔNG TY

Tổng quát ngành tài chính:Hiện trạng thách thức và cơ hội của ngành tài chínhMinh chứng cho sự thành công trong ngành tài chính.Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định. Sự ra đời: Sản xuất hàng hóa và tiền tệ là nhân tố mang tính khách quan có ý nghĩa quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính; và Nhà nước là nhân tố có ý nghĩa định hướng tạo điều kiện tạo ra hành lang pháp lý và điều tiết sự phát triển của tài chính.Hệ thống tài chính bao gồm: Tài chính công (gồm ngân sách nhà nước và các quỹ ngoài ngân sách) Tài chính doanh nghiệp Thị trường tài chính (gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn) Tài chính đối ngoại Tài chính hộ gia đình, cá nhân Tài chính trung gian bao gồm các tổ chức ngân hàng và phi ngân hàng
Xem thêm

13 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ BẢN NHÀ NƯỚC DỰA TRÊN LÝ LUẬN CỦA MAC-LÊNIN VÀ SỰ VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM

NGHIÊN CỨU KINH TẾ TƯ BẢN NHÀ NƯỚC DỰA TRÊN LÝ LUẬN CỦA MAC-LÊNIN VÀ SỰ VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thành phần kinh tế tư bản nhà nước là một nội dung của kinh tế chính trị Mác-Lênin. Nhưng trước đây chúng ta chỉ mới nghiên cứu nó trong khuôn khổ giáo trình nhằm trang bị lý luận kinh tế chính trị cho người đọc. Đến nay, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới ở nước ta, thành phần kinh tế tư bản nhà nước được coi là một vấn đề thực tiễn, một nội dung thiết thức trong quá trình phát triển kinh tế, một vấn đề chiến lược trong lãnh đạo quản lý.
Trong thức tế đã có không ít công trình nghiên cứu về kinh tế tư bản nhà nước, nhưng nhìn chung chủ yếu mới giới hạn trong việc chứng minh “tính tất yếu sử dụng kinh tế tế bản nhà nước”, coi kinh tế tư bản nhà nước là hình thức quá độ lên chủ nghiã xã hội. Vả lại, khi nói về kinh tế tư bản nhà nước một số tác giả thường chỉ phân tích về kinh tế, còn khi nói về định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ nói về chính trị, sự tách rời kinh tế với chính trị, tức là chưa thấy hết mối quan hệ biện chứng giữa thành phần kinh tế tư bản nhà nước với định hướng. chính trị, cũng có ý nghĩa là chưa giải quyết được rõ vấn đề lý luận chính sách.
Do đó, như Đảng ta đã từng nhấn mạnh, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn của nước ta cần phải gắn bó hơn, phải khái quát từ thực tiễn những vấn đề lý luận kinh tế tư bản nhà nước trong điều kiện Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đề xuất những chính sách phát triển thành phần kinh tế tư bản nhà nước trong giai đoạn hiện nay, đồng thời kiến nghị những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện các chính sách ấy. Đặc biệt, phải coi trọng tổng kết kinh nghiệm điển hình tiên tiến, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài để bảo đảm kinh tế phát triển mạnh, hiệu quả và bền vững.
2. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu kinh tế tư bản nhà nước dựa trên lý luận của Mac-Lênin và sự vận dụng ở Việt Nam.
Vào đầu thế kỷ XX, Lênnin dùng phạm trù “chủ nghĩa tư bản nhà nước” để chỉ một khái niệm mới phản ánh một hiện tượng kinh tế mới. Hiện tượng này ngày nay được dùng với phạm trù “kinh tế tư bản nhà nước” ở nước ta.
Trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước trước đây và ở nước ta hiện nay, khái niệm “chủ nghĩa tư bản nhà nước” được hiểu rất khác nhau. Tình trạng hiểu rất khác nhau này cũng đã xuất hiện ngay từ thời Lênin thực hiện chính sách kinh tế mới (NEP) chính vì vậy, Lênin đã giải thích nhiều lần khái niệm này, nhằm thống nhất nhận thức trong đảng và nhà nước về khái niệm chủ nghiã tư bản nhà nước trong xây dựng chủ nghiã xã hội.
- Xét về mặt quan hệ sản xuất: “Chủ nghĩa tư bản nhà nước không phải là tiền mà là quan hệ xã hội”. Đó là quan hệ kinh tế giữa nhà nước với tư nhân và tư bản tư nhân.
“Chủ nghĩa tư bản nhà nước là cái gì có tính chất tập trung, được tính toán, được kiểm soát và được xã hội hoá”.
Đó là “sự kiểm kê và kiểm soát của toàn dân đối với sản xuất và phân phối sản phẩm”.
Về bản chất tư bản nhà nước trong xây dựng chủ nghĩa xã hội: “không phải là chủ nghĩa tư bản nhà nước đấu tranh với chủ nghĩa xã hội, mà là giai cấp tiểu tư sản cộng với chủ nghĩa tư bản tư nhân cùng nhau đấu tranh chống lại cả chủ nghĩa tư bản nhà nước lẫn chủ nghĩa xã hội”. Sai lầm kéo dài của “những người cộng sản cánh tả” là cho rằng, chủ nghiã tư bản nhà nước đấu tranh chống chủ nghĩa xã hội.
- Xét về mặt trình độ lực lượng sản xuất: chủ nghĩa tư bản nhà nước thuộc về nền “đại sản xuất”, “nền sản xuất tiên tiến”, “nền sản xuất cơ khí hoá”. Lênin đã so sánh chủ nghĩa tư bản nhà nước với sản xuất nhỏ như sau: “nền đại sản xuất đối lập với nền sản xuất lạc hậu, nền sản xuất cơ khí hoá đối lập với nền sản xuất thủ công”.
- Xét về vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ cũng làm rõ thêm khái niệm trên:
Một là, chủ nghĩa tư bản nhà nước là nhân tố quan trọng liên kết ngay từ đầu giữa công nghiệp với nông nghiệp - cơ sở xuất phát và lâu dài của phát triển kinh tế thị trường. Theo Lênin, chủ nghĩa tư bản nhà nước là sự liên kết nền sản xuất nhỏ lại “vì sự phát triển đó có thể đẩy nhanh sự phát triển ngay tức khắc của nền nông nghiệp nông dân”. Sự “liên kết với nền kinh tế nông dân, thoả mãn những nhu cầu kinh tế cấp bách của họ, xây dựng khối liên minh kinh tế vững chắc, trước hết nâng cao các lực lượng sản xuất, khôi vực công nghiệp lớn”.
Hai là, chủ nghĩa tư bản nhà nước là hình thức kinh tế không thể thiếu cho kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản chuyển hoá, phát triển thuận lợi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Hệ thống hoá cách giải thích của Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước, đồng thời có liên hệ đến thực tiễn hiện nay, có thể tóm tắt khái niệm kinh tế tư bản nhà nước mà nước ta đang dùng như sau:
Kinh tế tư bản nhà nước là hình thức liên kết kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư nhân với nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đó là hình thức kinh tế hiện đại để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là hình thức kinh tế hợp nội lực với ngoại lực trong thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập.
3.Mục đích nghiên cứu đề tài.
Sau mười mấy năm chuyển đổi cơ cấu kinh tế, hiện nay công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta đang chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn hình thành cơ cấu và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của thực tiễn cho thấy: bối cảnh quốc tế và điều kiện trong nước của giai đoạn mới sẽ ngày càng khác nhiều so với giai đoạn đã qua. Những vấn đề kinh tế - xã hội đặt ra ở mức độ cao hơn khó hơn và phức tạp hơn, đòi hỏi tư duy lý luận và năng lực tổ chức thực tiến chuyển lên trình độ mới.
Một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng là sử dụng cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, trong đó có thành phần kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước, thành phần kinh tế tư bản nhà nước vào phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong chương này chỉ phân tích những vấn đề lý luận của kinh tế tư bản nhà nước làm cơ sở cho phân tích về chính sách và giải pháp ở các chương sau.
4.Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được nghiên cứu bằng 3 chương:
Chương 1: Lý luận của Mác - Lênin về thành phần kinh tế tư bản nhà nước
Chương 2: Vận dụng và phát triển lý luận kinh tế tư bản nhà nước trong điều kiện nước ta.
Chương 3: Những giải pháp thực hiện chính sách phát triển kinh tế tư bản nhà nước ở Việt Nam.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA MÁC - LÊNIN
1. Kinh tế tư bản nhà nước:
Vào đầu thế kỷ thứ 20 Lênin dùng phạm trù “chủ nghĩa tư bản nhà nước” để chỉ một khái niệm mới phản ảnh một hiện tượng kinh tế mới. Hiện tượng này ngày nay được dùng với phạm trù “kinh tế tư bản nhà nước” ở nước ta.
Trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước trước đây và ở nước ta hiện nay, khái niệm “chủ nghĩa tư bản nhà nước” được hiểu rất khác nhau tình trạng hiểu rất khác nhau này cũng đã xuất hiện ngay từ thời Lênin thực hiện chính sách kinh tế mới (NEP). Chính vì vậy, Lênin đã phải giải thích nhiều lần khái niệm này, nhằm thống nhất nhận thức trong Đảng và Nhà nước về khái niệm chủ nghĩa tư bản nhà nước trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Lênin đã tiếp cận khái niệm này nhiều góc độ.
1.1. Xét về mặt quan hệ sản xuất:
“Chủ nghĩa tư bản nhà nước không phải là tiền mà là quan hệ xã hội”. Đó là quan hệ kinh tế giữa nhà nước với tư nhân và tư bản tư nhân.
“Chủ nghĩa tư bản nhà nước là cái gì có tính chất tập trung, được tính toán, được kiểm soát và được xã hội hoá”.
Đó là “Sự kiểm kê và kiểm soát của toàn dân đối với sản xuất và phân phối sản phẩm”.
Về bản chất của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Không phải là chủ nghĩa tư bản nhà nước đấu tranh với chủ nghĩa xã hội, mà là giai cấp tiểu tư sản cộng với chủ nghĩa tư bản nhà nước lẫn chủ nghĩa xã hội”.
1.2. Xét về mặt trình độ lực lượng sản xuất:
Chủ nghĩa tư bản nhà nước thuộc về nền “đại sản xuất”, “nền sản xuất tiên tiến”, “nền sản xuất cơ khí hoá”. Lênin đã so sánh chủ nghĩa tư bản nhà nước với sản xuất nhỏ như sau: “Nền đại sản xuất đối lập với nền tiểu sản xuất, nền sản xuất tiên tiến đối lập với nền sản xuất lạc hậu, nền sản xuất cơ khí hoá đối lập với nền sản xuất thủ công”.
1.3. Xét về vai trò chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ:
- Chủ nghĩa tư bản nhà nước là nhân tố quan trọng liên kết ngay từ đầu giũ công nghiệp với nông nghiệp - cơ sở xuất phát và lâu dài của phát triển kinh tế thị trường. Theo Lênin, chủ nghĩa tư bản nhà nước là sự liên hợp nền sản xuất nhỏ lại “vì sự phát triển đó có thể đẩy nhanh sự phát triển ngay tức khắc của nền nông nghiệp nông dân”. Sự “liên kết với nền kinh tế nông dân, thoả mãn những nhu cầu kinh tế cấp bách của họ, xây dựng khối liên minh kinh tế vững chắc, trước hết nâng cao các lưc lượng sản xuất, khôi phục công nghiệp lớn”.
- Chủ nghĩa tư bản nhà nước là hình thức kinh tế không thể thiếu giúp cho kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản chuyển hoá, phát triển thuận lợi theo con đường xã hội chủ nghĩa.
2. Lý luận của Lê nin về kinh tế tư bản nhà nước:
Sau cách mạng Tháng Mười và nội chiến kết thúc, vấn đề lý luận, chiến lược lớn nhất của Đảng Cộng sản Liên Xô là con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phát triển thấp như nước Nga, nên việc tìm tòi giải quyết vấn đề rất không đơn giản, bởi vì:
- Chủ nghĩa Mác phản ánh quy luật vận động của chủ nghiã tư bản tất yếu dẫn tới chủ nghĩa xã hội, thông qua sự phủ định biện chứng về kinh tế chính trị. Còn con đường từ nền kinh tế lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, Mác mới nêu một vài dự báo. Di sản quý bau nhất của Mác là để lại phương pháp luận cho người sau tìm tòi, sáng tạo.
Xem thêm

61 Đọc thêm

LUẬN VĂN CAO HỌC NGUYỄN BỈNH KHIÊM

LUẬN VĂN CAO HỌC NGUYỄN BỈNH KHIÊM

1. Lý do chọn đề tài:
Nền văn học dân tộc ta hiện có nhiều thể loại, trong đó thơ chiếm vị trí khá quan trọng.
Muốn hiểu đúng, hiểu sâu nội dung, ý nghĩa của thơ, chúng ta không thể không lưu ý đến
hình thức diễn đạt. Nội dung và hình thức luôn luôn gắn chặt với nhau. Hình thức nào cũng
có quá trình phát sinh, phát triển và biến hóa theo từng chặng đường lịch sử. Trong kho tàng
thơ ca hiện có của ta, một bộ phận khá lớn được sáng tác theo các thể thơ nhập ngoại : một số
bằng chữ Hán, một số bằng chữ Nôm và về sau một số bằng chữ Quốc ngữ. Khi tiếp nhận,
độc giả ngày nay, có thể không biết rõ tình hình đó. Bởi, về mặt hình thức, các nhà thơ của ta,
khi sử dụng các thể thơ ấy, đã không ngừng Việt hóa nó đi. Hơn nữa, hiện thực được phản
ánh trong đó, nói như Trường Chinh đều chan chứa tâm hồn và tính cách của người Việt
Nam
Xem thêm

89 Đọc thêm

Đề tài thảo luận:phân tích 2 thuộc tính của hàng hóa và vận dụng lý luận về 2 thuộc tính hàng hóa để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:PHÂN TÍCH 2 THUỘC TÍNH CỦA HÀNG HÓA VÀ VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ 2 THUỘC TÍNH HÀNG HÓA ĐỂ ĐƯA RA CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CHO HÀNG HÓA

Đề tài thảo luận:phân tích 2 thuộc tính của hàng hóa và vận dụng lý luận về 2 thuộc tính hàng hóa để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa
1. 1 Mục lục A. Lời mở đầu.......................................................................................................................... 2 B. Nội dung.................................................................................................................................3 I. Khái niệm hàng hóa và hai thuộc tính cơ bản của nó........................................................... 3 1. Khái niệm hàng hóa ........................................................................................................... 3 2. Hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa ........................................................................................ 3 a. Giá trị sử dụng................................................................................................................... 3 b. Giá trị............................................................................................................................... 4 c. Mối quan hệ giữa giá trị và gia trị sử dụng:.......................................................................... 5 II. Giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam...................................... 6 1. Đặc điểm hàng hóa Việt Nam hiện nay ............................................................................ 6 2. Thực trạng hàng hóa Việt Nam hiện nay ......................................................................... 8 3. Giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam................................ 12 a. Tăng sức cạnh tranh của hàng hóa................................................................................. 12 b. Vĩ Mô:........................................................................................................................ 13 c. Vi Mô ......................................................................................................................... 13 d. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh về giá của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.............................................................................................................................. 13 Giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp ................................ 14 Giải pháp nhằm tăng mức độ phức tạp trong lao động .................................................... 14 Chính sách của nhà nước.............................................................................................. 15 Một số giải pháp khác .................................................................................................. 16 C. KẾT LUẬN......................................................................................................................... 17
2. 2 A. Lời mở đầu Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của lịch sử loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”, xoá bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội. Với những thuộc tính của mình hàng hoá giữ một vai trò quan trọng trong sản xuất và lưu thông hàng hoá là một “tế bào kinh tế” của xã hội tư bản. “ Có nền kinh tế hàng hoá thì tất nhiên tồn tại cạnh tranh cạnh tranh là quy luật bắt buộc của nền kinh tế hàng hoá” vì vậy việc nghiên cứu về hai thuộc tính của hàng hóa và vận dụng lý thuyết về hai thuộc tính hàng hóa để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa là một việc quan trong có ý nghĩa lí luận và thực tiễn đối với quá trình cạnh tranh. Đặc biệt việc nắm vững những lí luận về lượng giá trị của hàng hoá có vai trò quan trọng góp phàn vận dụng một cách hiệu quả vào quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện nay nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Trong quá trình nghiên cứu do kiến thức, khả năng còn hạn hẹp chúng em không thể tránh khỏi những sai sót, chúng em kính mong cô và các bạn sẽ gúp đỡ chúng em có được sự hiểu biết đầy đủ nhất. Chúng em xin chân thành cảm ơn.
3. 3 B. Nội dung I. Khái niệm hàng hóa và hai thuộc tính cơ bản của nó 1. Khái niệm hàng hóa Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá. Trong nền sản xuất hàng hoá tồn tại một phạm trù lịch sử đó chính là hàng hoá. Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán. Có rất nhiều tiêu thức để phân chia các loại hàng hoá như: hàng hoá thông thường, hàng hoá đặc biệt, hàng hoá hữu hình, hàng hoá vô hình, hàng hoá tư nhân, hàng hoá công cộng… - Dạng hữu hình như: sắt, thép, lương thực, thực phẩm…. - Dạng vô hình như những dịch vụ thương mại, vận tải hay dịch vụ của giáo viên, bác sĩ, nghệ sĩ… Hàng hoá có thể cho một cá nhân sử dụng hoặc nhiều người cùng sử dụng. Từ khái niệm trên cho thấy: Hàng hoá là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện khi có nền sản xuất hàng hoá, đồng thời sản phẩm lao động mang hình thái hàng hoá khi nó là đối tượng mua bán trên thị trường. Karl Marx định nghĩa hàng hoá trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thoả mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó. Để đồ vật trở thành hàng hoá cần phải có: - Tính hữu dụng đối với người dùng - Giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động. - Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm. 2. Hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa a. Giá trị sử dụng – Khái niệm: Giá trị sử dụng là công dụng hay tính có ích của vật nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Ví dụ: gạo để ăn, áo để mặc, máy móc sx, điện thắp sáng,… - Đặc điểm;
4. 4 + Số lượng giá trị sử dụng của một hàng hóa không phải ngay một lúc đã phát hiện ra được hết, mà nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học kĩ thuật. Với ý nghĩa này, giá trị sử dụng được xem có tính lịch sử cụ thể, phụ thuộc vào sự phát triển của KH-KT +Gía trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định giúp thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Với ý nghĩa này, giá trị sử dụng là 1 phạm trù vĩnh viễn. +Gía trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng, nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức xã hội của của cải đó như thế nào. Điều này nói lên ý nghĩa quan trọng của tiêu dùng đói với sản xuất. +Gía trị sử dụng của hàng hóa là giá trị là giá trị sử dụng của xã hội vì giá trị sử dụng của hàng hóa không phải là giá trị sử dụng của người sản xuất trực tiếp mà là cho một người khác, cho xã hội thông qua trao đổi. mua bán. Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn quan tâm đến nhu cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng nhu cầu của xã hội thì hàng hóa của họ mới bán được +Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng. Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng đều là hàng hóa. Chẳng hạn như không khí rất cần cho cuộc sống nhưng không phải là hàng hóa. Như vậy, trong kinh tế hàng hóa, vật mang giá trị sử dụng đồng thời cũng là vật mang giá trị trao đổi do lao động cụ thể làm ra. b. Giá trị Muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi. giá trị trao đổi là môt quan hệ về số lượng, là tỉ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác. VD:1m vải = 5kg thóc. Tức 1m vải có giá trị trao đổi = 5kg thóc Hai hàng hóa khác nhau có thể trao đổi được với nhau thì giữa chúng phải có 1 cơ sở chung nào đó. Cái chung đó là: cả vải và thóc đều là sản phẩm của lao động, đều có 1 lượng lao động kết tinh trong đó. Chính vì thế mà nó trao đổi được với nhau. Vì vậy người ta trao đổi hàng hóa cho nhau chẳng qua là trao đổi lao động hao phí của mình ẩn dấu trong hàng hóa đó. Từ trên ta rút ra kết luận: giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. - Gía trị hàng hóa là biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa. - Gía trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hóa
5. 5 - Gía trị là nội dung là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện cuả giá trị, Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa. c. Mối quan hệ giữa giá trị và giatrị sử dụng: Giữa hai thuộc tính của hàng hóa luôn có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Trong đó, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài. Khi trao đổi sản phẩm cho nhau, những người sản xuất ngầm so sánh lao động ẩn giấu trong hàng hoá với nhau. Thực chất của quan hệ trao đổi là người ta trao đổi lượng lao động hao phí của mình chứa
Xem thêm

18 Đọc thêm

Luận văn thạc sĩ báo chí học cách thức sản xuất chương trình truyền hình thực tế của các đài phát thanh truyền hình ở miền tây nam bộ

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC CÁCH THỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ CỦA CÁC ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH Ở MIỀN TÂY NAM BỘ

1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí phát triển. Sản xuất các chương trình truyền hình không chỉ còn dành riêng cho các đài truyền hình. Chính vì vậy mà các đài truyền hình ngày càng phải thay đổi hình thức cũng như nội dung chương trình nhằm thu hút khán giả. Sản xuất các chương trình truyền hình thực tế đang là xu hướng phát triển của các đài truyền hình và các đài truyền hình của các tỉnh miền Tây Nam bộ cũng đang đi theo hướng đó nhằm tăng sự cạnh tranh của mình.
Truyền hình thực tế là một phạm trù còn mới mẽ tại Việt Nam. Hiện tại khi nhắc đến truyền hình thực tế, công chúng nghĩ đến các chương trình giải trí game show nhiều hơn là các chương trình mang tính trải nghiệm. Một số đài truyền hình đã xây dựng các chương trình truyền hình thực tế mang tính chính luận trải nghiệm có nội dung liên quan đến các lĩnh vực chính trị, xã hội, du lịch, khám phá…
Xem thêm

145 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT

Vật chất là phạm trù xuất phát điểm của triết học. Đây là phạm trù có nội hàm rộng đến cùng cực. Việc nắm vững nội dung của phạm trù có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, làm cơ sở cho giải quyết các vấn đề khác có liên quan.

20 Đọc thêm

BỘ CÂU HỎI ÔN THI VẤN ĐÁP MÔN QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ

BỘ CÂU HỎI ÔN THI VẤN ĐÁP MÔN QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ

MÔN QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
Câu 1: trình bày khái niệm và chủ thể của QHKTQT
Trả lời:
Khái niệm QHKTQT: là tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của các nền kinh tế xét trên phạm vi toàn thế giới. Qhkt đối ngoại là những mối quan hệ về kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ của một nền kinh tế với bên ngoài.
Các chủ thể của QHKTQT:
• Loại thứ nhất: các quốc gia, các vùng lãnh thổ, các nền kinh tế. Các chủ thể này được phân chia theo trình độ phát triển kinh tế gồm có các nền kinh tế phát triển, các nền kinh tế đang phát triển và các nền kinh tế kém phát triển. Số lượng chủ thể này là trên 200 QG.
• loại thứ hai: các tổ chức quốc tế, các liên kết quốc tế. Đây là các chủ thể của qhktqt được hình thành và phát triển c=do quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay.
• Loại thứ ba: các tập đoàn, các công ty xuyên qg, các hãng, các doanh nghiệp. Đây là chủ thể đông đảo nhất trong nền kinh tế thế giới.
Câu 2:trình bày khái niệm và các hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế?
Trả lời:
Khái niệm quan hệ kinh tế quốc tế: xét đối tượng khách thể, qhktqt là tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của nền kinh tế xét trên phạm vi toàn thế giới. Qhkt đối ngoại là những mối quan hệ về kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ của một nền kinh tế bên ngoài.
Các hình thức của QHKTQT:
 Thương mại quốc tế: là hình thức của qhktqt, trong đó diễn ra sự mua bán trao đổi hàng hóa, dịch vụ hoặc các tài sản trí tuệ giữa các chủ thể của quan hệ ktqt. Thương mại quốc tế ngày nay đã phát triển thêm nhiều hình thức đa dạng như tmqt về dịch vụ, tmqt liên quan đến đầu tư, tmqt liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.
 Đầu tư quốc tế: là một hình thức của qhktqt trong đó diễn ra sự di chuyển các phương tiện đầu tư giữa các chủ thể của qhktqt để tiến hành kinh doanh và các hoạt động khác nhằm thu lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế xã hội. Phương tiện đầu tư có thể là vàng bạc, tiền, đá quý, hiện vật, tài sản vô hình.
 Di chuyển quốc tế về hàng hóa sức lao động: là hình thức của qhktqt, trong đó diễn ra sự trao đổi, mua bán giữa các chủ thể của qhktqt về một loại hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa sức lao động.
 QHQT về khoa học công nghệ: là hình thức của qhktqt, trong đó diễn ra việc trao đổi giữa các chủ thể qhktqt về những tiến bộ, những thành tựu của khoa học công nghệ.
 QHKT về tiền tệ: là hình thức của qhktqt, trong đó diễn ra sự di chuyển tiền tệ và các chứng từ có giá giữa các chủ thể. Quan hệ quốc tế tiền tệ thông qua: mua bán trao đổi trong thương mại quốc tế; đầu tư quốc tế, các hoạt động tín dụng viện trợ,…
Câu3: Trình bày nội dung, ưu điểm, nhược điểm của chiến lược đóng cửa kinh tế?
Xem thêm

44 Đọc thêm

PHẠM TRÙ LỄ TRONG NHO GIÁO SƠ KỲ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

PHẠM TRÙ LỄ TRONG NHO GIÁO SƠ KỲ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Lý do chọn đề tài
Nho giáo xuất hiện ở Trung Quốc cách đây khoảng 2500 năm, là hệ tư tưởng thống trị của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Với tư cách một học thuyết đạo đức, Nho giáo đặc biệt quan tâm đến việc giải quyết mối quan hệ giữa con người với con người. Những phạm trù đạo đức cơ bản mà Nho giáo xây dựng là: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trung, Hiếu, Tín... Đây được coi là những phạm trù trung tâm để giải quyết các mối quan hệ xã hội.
Lễ là một trong những nội dung chủ yếu trong quan niệm về chính trị xã hội, luân lý đạo đức của Nho giáo. Lễ được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, có nội dung biến đổi cùng với sự biến đổi, phát triển của Nho giáo. Song, dù được hiểu theo khía cạnh nào thì Lễ cũng có một vị trí và ý nghĩa quan trọng trong hệ thống những phạm trù đạo đức của Nho giáo với mục đích bình ổn xã hội.
Trong quá trình du nhập vào Việt Nam, tư tưởng của Nho giáo từ chỗ đi theo gót chân của kẻ xâm lược dần dần đã hòa nhập vào đời sống cộng đồng, biến đổi để thích nghi với văn hóa bản địa. Tư tưởng Nho giáo, trong đó có tư tưởng về Lễ, đã sớm chiếm một vị trí quan trọng trong nền giáo dục phong kiến và đời sống tinh thần của người Việt Nam. Từ Lễ trong nền giáo dục phong kiến đến Lễ trong nền giáo dục hiện đại đã có rất nhiều biến đổi nhưng ở bất kỳ thời đại nào, Lễ cũng có giá trị cần phải được bảo tồn và phát huy.
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nền giáo dục Việt Nam đã có bước chuyển quan trọng và đạt được nhiều thành tựu nhất định. Tuy nhiên, quá trình đó cũng đưa đến một số thay đổi tiêu cực trong các quan hệ xã hội. Là nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, sinh viên Việt Nam hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực, những giá trị đạt được từ nền giáo dục, từ việc kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc thì một bộ phận không nhỏ cũng đang có những biểu hiện tiêu cực về đạo đức, lối sống.
Với những giá trị đã được thẩm định, phát triển qua thực tiễn nhiều thế kỷ cùng sự tiếp biến linh hoạt để đưa vào Lễ giá trị mới của thời đại, ngày nay Lễ vẫn có một ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay.
Từ những vấn đề có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Phạm trù Lễ trong Nho giáo sơ kỳ và ý nghĩa của nó với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn cao học.
Xem thêm

88 Đọc thêm

THUC TRANG VA CHINH SACH KIEM CHE LAM PHAT TAI VIET NAM GIAI DOAN 1986 2010 0074

THUC TRANG VA CHINH SACH KIEM CHE LAM PHAT TAI VIET NAM GIAI DOAN 1986 2010 0074

Trong nền kinh tế thị trường hoạt động đầy sôi nổi và cạnh tranh gay gắt thì để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên “thương trường”, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề kinh tế mới. Và một trong những vấn đề nổi cộm ấy là lạm phát. Lạm phát là một phạm trù kinh tế khách quan, là vấn đề của mọi thời đại, mọi nền kinh tế thị trường.Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế thị trường thì còn lạm phát. Người ta chỉ có thể kiềm chế lạm phát ở một mức độ sao cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế mà ít gây ảnh hưởng, tác hại. Một khi lạm phát cao xuất hiện thì tổn thất về kinh tế cũng như xã hội là rất lớn. Mỗi giai đoạn khi lạm phát xuất hiện với hình thức và dáng vẻ khác nhau thì lại có nhiều câu hỏi tranh luận đặt ra: bản chất của lạm phát là gì? Các hình thức biểu hiện của nó ra sao? Nó có tác động nghiêm trọng như thế nào đối với nền kinh tế? Thực trạng của vấn đề lạm phát ở Việt Nam hiện nay đang diễn biến như thế nào? Chúng ta phải làm gì để điều tiết nền kinh tế và kiềm chế lạm phát? Hiệu quả của chính sách kiềm chế lạm phát ra sao?
Xem thêm

45 Đọc thêm

tóm tắt tài liệu đầy đủ cụ thể nguyên lý chủ nghĩa mác lenin 2 ôn thi cuối kỳ

TÓM TẮT TÀI LIỆU ĐẦY ĐỦ CỤ THỂ NGUYÊN LÝ CHỦ NGHĨA MÁC LENIN 2 ÔN THI CUỐI KỲ

a) Đặc trưng của sản xuất hàng hoá
•Sản xuất hàng hoá là sản xuất để trao đổi, mua-bán.
•Lao động của người sản xuất hàng hoá vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã hội
b) Ưu thế của sản xuất hàng hoá
•Khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật, của từng người, từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, tưng địa phương
•Ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển
•Kích thích năng xuất lao động do cạnh tranh ...
•Trong nền sản xuất hàng hoá, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước
II. HÀNG HOÁ
1. Hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá
a) Khái niệm hàng hoá: là sản phẩm của lao động, thỏa mãn nhu cầu của con người , dùng để trao đổi mua bán trên thị trường.
b) Hai thuộc tính của hàng hoá
- Giá trị sử dụng của hàng hoá: + là công dụng của vật phẩm , thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
+ là công dụng của vật phẩm do thuộc tính tự nhiên của nó quyết định,nó
Không phụ thuộc vào chế độ nào do đó là là phạm trù vĩnh viễn .
+ trong nền kinh tế hang hóa giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.
- Giá trị của hàng hoá: + là do lao động xã hội của người sản xuất hang hóa kết tinh trong hang hóa đó.
+ giá trị của hang hóa là nội dung là cơ sở của giá trị trao đổi,còn giá trị trao đổi là
hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị
+ giá trị hang hóa là 1 phạm trù lịch sử vì nó chỉ tồn tại trong nền sản xuất
hàng hóa.
2. Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá
Hai thuộc tính trên của hàng hóa do tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá quy định. C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá, đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
a)Lao động cụ thể: +là lao động có ích dưới 1 hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định . mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, phương pháp riêng , đối tượng riêng, phương tiện riêng, và kết quả riêng.
+ lao động cụ thể tạo ra giá trị sửu dụng
+ lao động cụ thể là phạm trù vĩnh viễn
b)Lao động trừu tượng:+ là lao động của người sản xuất hang hóa nó không kể đến hình thức cụ thể của nó như thế nào mà chỉ tính sự tiêu hao sức lực nói chung của người sản xuất hàng hóa
+ lao động trừu tượng tao ra giá trị của hàng hóa.
+ lao động trừu tượng là phammj trù lịch sử.
c) sự thống nhất và mâu thuẫn của 2 thuộc tính trên( giá trị sử dung và giá trị).
* thống nhất: chúng cùng tồn tại trong hang hóa, một hàng hóa phải có 2 thuộc tính này, nếu thiếu 1 trong 2 thuộc tính này thì không phải là hàng hóa.
* mâu thuẫn: + về mặt giá trị sử dụng thì hàng hóa khác nhau về chất , còn về mặt giá trị thì hàng hóa giống nhau về chất
+ giá trị sử dụng được thực hiện trong quá trình tiêu dung, còn giá trị được thực hiện trong quá trình lưu thông.
Xem thêm

20 Đọc thêm