NGÔN NGỮ CHÍNH THỨC CỦA VIỆT NAM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NGÔN NGỮ CHÍNH THỨC CỦA VIỆT NAM":

Phân tích thực trạng sản xuất và xuất khẩu lúa gạo việt nam sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU LÚA GẠO VIỆT NAM SAU KHI TRỞ THÀNH THÀNH VIÊN CHÍNH THỨC CỦA WTO

Phân tích thực trạng sản xuất và xuất khẩu lúa gạo việt nam sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO

24 Đọc thêm

Sự tri nhận ngôn ngữ biểu hiện thân thể con người trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XX và văn xuôi cuối thế kỉ XX

SỰ TRI NHẬN NGÔN NGỮ BIỂU HIỆN THÂN THỂ CON NGƯỜI TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XX VÀ VĂN XUÔI CUỐI THẾ KỈ XX

2.1. Lịch sử lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận và quá trình ứng dụng lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trong nghiên cứu ngôn ngữ 2.1.1. Trên thế giới Thời điểm ra đời chính thức của ngôn ngữ học tri nhận thường được tính là năm 1989, năm mà tại Duiburg (Đức) các nhà khoa học tham dự hội thảo đã thông qua và quyết định thành lập hội ngôn ngữ học tri nhận và sau đó bắt đầu ra tạp chí Cognitive Linguistics 23;15. Nhưng trong thực tế, ngôn ngữ học tri nhận đã manh nha từ thập niên 60 của thế kỉ XX. Hai tiền đề cơ bản và trực tiếp thúc đẩy ngôn ngữ học tri nhận hình thành là Ngữ pháp tạo sinh (Generative gramar) cuả nhà toán học, ngôn ngữ học Chomsky và những thành tựu của khoa học tri nhận (Cognitive Science) thế hệ 2 George Lakoff và một số vấn đề về lí luận ngôn ngữ học tri nhận – tạp chí ngôn ngữ 52007;6971. Vấn đề trọng tâm của ngôn ngữ học tri nhận xoay quanh thuật ngữ tri nhận (cognition). Nó chứa đựng hai nghĩa của những từ Latin kết hợp lại: cognitio có nghĩa là nhận thức và cogitatio có nghĩa là tư duy, suy nghĩ. Đó là tất cả những quá trình trong đó các dữ liệu cảm tính được cải biến khi truyền vào trong não dưới dạng những biểu tượng tinh thần để có thể lưu lại trong trí nhớ con người. Khoảng những năm 60 – 70 và đầu 80 thế kỉ trước, ban đầu các nghiên cứu chính tập trung ở nhóm học giả vùng ven biển phía tây nước Mĩ (Đại học California phân hiệu Berkely) chủ yếu khảo sát trên ngữ liệu Tiếng Anh. Bởi vậy, cho đến nay vẫn tồn tại cách hiểu ngôn ngữ học tri nhận theo nghĩa hẹp là ngữ nghĩa học tri nhận Mĩ của Lakoff và Johnson và ngữ pháp học tri nhận Mĩ (Langacker) và một số nghiên cứu khác của các học giả Châu Âu như Rudzka – Ostyn, Taylor, Geeraerts, Haiman… Tuy nhiên, càng ngày, ngôn ngữ học tri nhận càng mở rộng phạm vi và thu hút được sự quan tâm quả các nhà ngôn ngữ trên thế giới. Do đó, phạm vi ngữ liệu chuyển từ tiếng Anh sang ngữ liệu của các ngôn ngữ khác trên thế giới (trong đó có tiếng Việt) để cùng so sánh và đối chiếu. Điều đó làm cho ngôn ngữ học tri nhận được hiểu rộng hơn và số lượng công trình nghiên cứu cùng kết quả thu được phong phú hơn. Ngôn ngữ học tri nhận có hai hướng nghiên cứu chính, đó là: Ngữ nghĩa học tri nhận với các tác giả tiêu biểu như Lakoff, Johnson, Rosch, Fillmore, Fauconnier, Turner… và Ngữ pháp học tri nhận của nhóm tên tuổi như : Talmy, Langacker, Goldberg…
Xem thêm

92 Đọc thêm

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển dịch vụ giáo dục trong bối cảnh việt nam là thành viên chính thức của WTO

THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ GIÁO DỤC TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CHÍNH THỨC CỦA WTO

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển dịch vụ giáo dục trong bối cảnh việt nam là thành viên chính thức của WTO

18 Đọc thêm

Tự học ngữ pháp tiếng anh

TỰ HỌC NGỮ PHÁP TIẾNG ANH

Tiếng Anh và mức độ quan trọng đối với cuộc sống của học sinh, sinh viên Việt Nam. Khi nhắc tới tiếng Anh, người ta nghĩ ngay đó là ngôn ngữ toàn cầu: là ngôn ngữ chính thức của hơn 53 quốc gia và vùng lãnh thổ, là ngôn ngữ chính thức của EU và là ngôn ngữ thứ 3 được nhiều người sử dụng nhất chỉ sau tiếng Trung Quốc và Tây Ban Nha (các bạn cần chú ý là Trung quốc có số dân hơn 1 tỷ người). Các sự kiện quốc tế , các tổ chức toàn cầu,… cũng mặc định coi tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp.
Xem thêm

108 Đọc thêm

TỔNG QUAN về NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN QUỐC dân CHI NHÁNH HUỄ

TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC DÂN CHI NHÁNH HUỄ

Ngân hàng TMCP Quốc Dân – NCB được thành lập từ năm 1995 theo Giấy phép số 00057NH–CP ngày 18091995 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, khởi nguồn từ Ngân hàng TMCP nông thôn Sông Kiên. Ngày 18052006, NCB chính thức chuyển đổi mô hình hoạt động từ Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn thành Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, chuyển đổi trụ sở chính từ Kiên Giang về Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời chính thức sử dụng tên Ngân hàng TMCP Nam Việt – Navibank thay cho tên gọi Ngân hàng TMCP nông thôn Sông Kiên. Đến năm 2014, Navibank chính thức được đổi tên thành Ngân hàng TMCP Quốc Dân – NCB và tiến hành tái cấu trúc hệ thống, hướng đến sự chuẩn hóa và hoàn thiện các dịch vụ tài chính, đặt mục tiêu vào Top 10 ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam với tiêu chí trở thành “Ngân hàng bán lẻ hiệu quả nhất”. Để hoàn thành mục tiêu đó, NCB đã nỗ lực tập trung vào những yếu tố cốt lõi như: thay đổi cơ cấu tổ chức hướng đến việc tách bạch giữa các khối kinh doanh với các khối quản trị và hỗ trợ, cải tiến các quy định, quy trình, thay đổi cấu trúc kinh doanh, củng cố và nâng cao năng lực cán bộ nhân viên, tăng cường quản trị rủi ro,…
Xem thêm

23 Đọc thêm

QUẢN TRỊ ĐA VĂN HOÁ - KINH DOANH VỚI NGƯỜI HÀN QUỐC

QUẢN TRỊ ĐA VĂN HOÁ - KINH DOANH VỚI NGƯỜI HÀN QUỐC

Ở Hàn Quốc, ngôn ngữ chính thức là tiếng Hàn Quốc (tiếng Triều Tiên). Một số nhà ngôn ngữ học xếp ngôn ngữ này vào hệ ngôn ngữ Altai, một số khác thì cho rằng tiếng Hàn Quốc là một ngôn ngữ biệt lập (language isolate). Kể từ bậc tiểu học, người ta bắt đầu dạy tiếng Anh cho học sinh. Sau này tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật cũng trở thành ngoại ngữ chính. Các ngôn ngữ châu Âu như tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Tây Ban Nha ít phổ biến hơn. Khác với chữ viết của các nước vùng Đông Á, Hangeul - chữ viết chính của người Hàn Quốc – sử dụng một bảng chữ cái gồm 51 kí tự, 24 kí tự đơn và 27 kí tự kép. Những kí tự này được kết hợp theo âm tiết thành các chữ. Đối với những người không biết thì chữ Triều Tiên cũng phức tạp y như chữ Hán vậy. Nhưng thực ra người học có thể nắm được căn bản của loại chữ viết này chỉ sau 4 đến 5 tiếng đồng hồ. Vì lẽ đó mà chữ Hangeul được gọi là Atsim-Gul (chữ viết buổi sáng – trong một buổi sáng có thể học xong). Hanja, bộ chữ Hán của người Triều Tiên, có ý nghĩa tương tự như chữ La tinh ở các nước châu Âu. Giống như các ngôn ngữ ở Đông Á và Đông Nam Á, rất nhiều từ trong tiếng Hàn Quốc có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tuy nhiên việc loại bỏ đi các thanh âm trong tiếng Hán dẫn đến việc trong tiếng Hàn Quốc có rất nhiều từ đồng âm. Các từ này được phát âm giống nhau nhưng mang ý nghĩa khác nhau và chỉ phân biệt được ý nghĩa dựa vào ngữ cảnh. Vì vậy, để cho rõ nghĩa, trong các văn bản khoa học người ta thường ghi chú thích bằng chữ Hanja ở đằng sau những cụm từ quan trọng. Trên các tấm danh thiếp người ta cũng thường sử dụng chữ Hanja để giải thích ý nghĩa tên của họ.
Xem thêm

68 Đọc thêm

TIỂU LUẬN NHẬP MÔN TRUYỀN HÌNH NGÔN NGỮ TRUYỀN HÌNH

TIỂU LUẬN NHẬP MÔN TRUYỀN HÌNH NGÔN NGỮ TRUYỀN HÌNH

Mở đầu Ngôn ngữ học hiện nay quan tâm nhiều đến ngôn ngữ ứng dụng, trong đó việc sử dụng ngôn ngữ trên báo chí là vấn đề rất được công chúng quan tâm. Đặc biệt là trước thực trạng sử dụng ngôn ngữ thiếu chọn lọc, thiếu sáng tạo, thậm chí chưa tôn trọng ngôn ngữ tiếng Việt trên báo chí. Vấn đề này đã thu hút sự quan tâm của giới chuyên môn, của các nhà ngôn ngữ học và đông đảo các tầng lớp bạn đọc, khán giả. Ngôn ngữ ứng dụng trong các phương tiện thông tin đại chúng trong đó có ngôn ngữ truyền hình có một vị trí quan trọng, đặc biệt là đối với một đài truyền hình Quốc gia là Đài Truyền hình Việt Nam (THVN). Chính vì vậy, trong khuôn khổ của tiểu luận này, em xin phép được trình bày những hiểu biết của mình về những đặc điểm của ngôn ngữ truyền hình, cụ thể là qua các chương trình thời sự 19h trên đài truyền hình Việt Nam, thông qua việc nghiên cứu. khảo sát các chương trình thời sự được phát sóng trên đài THVN từ tháng 102012 – 52013. Trong quá trình viết bài không thể tránh khỏi sai sót, em hy vọng sẽ nhận được nhiều ý kiến góp ý để có thể hoàn thiện hơn các đề tài khác trong kỳ sau
Xem thêm

22 Đọc thêm

100 GOLDEN GRAMMAR RULES

100 GOLDEN GRAMMAR RULES

Tiếng Anh và mức độ quan trọng đối với cuộc sống của học sinh, sinh viên Việt Nam.Khi nhắc tới tiếng Anh, người ta nghĩ ngay đó là ngôn ngữ toàn cầu: là ngôn ngữ chính thức của hơn 53 quốc gia và vùng lãnh thổ, là ngôn ngữ chính thức của EU và là ngôn ngữ thứ 3 được nhiều người sử dụng nhất chỉ sau tiếng Trung Quốc và Tây Ban Nha (các bạn cần chú ý là Trung quốc có số dân hơn 1 tỷ người). Các sự kiện quốc tế , các tổ chức toàn cầu,… cũng mặc định coi tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp.
Xem thêm

12 Đọc thêm

LUẬN văn THẠC sĩ tái cơ cấu THỊ TRƯỜNG NHÀ ở TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội

LUẬN văn THẠC sĩ tái cơ cấu THỊ TRƯỜNG NHÀ ở TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội

Thị trường BĐS tại Việt Nam chính thức được hình thành từ năm 1993, sau khi Luật Đất đai cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Năm 1996, lần đầu tiên khái niệm “Thị trường BĐS” được chính thức đề cập trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Với sự ra đời của luật Đất đai 2003, Dự thảo Luật Kinh doanh BĐS, Luật Nhà ở, Luật Xây dựng và hàng loạt những văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành đã khẳng định sự tồn tại và phát triển của thị trường BĐS, trong đó chủ yếu là thị trường nhà ở của nước ta.
Xem thêm

Đọc thêm

QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG TA VỀ PHÁT TRIỂU KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG TA VỀ PHÁT TRIỂU KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương nhất quán của Đảng ta phù hợpvới xu thế khách quan và tiến trình phát triển đất nước. Phải làm cho toànĐảng, toàn dân, toàn quân ta nhận thức đúng đắn về vấn đề này. Phải khơidậy và phát huy cao độ tinh thần cách mạng, ý chí tự lực tự cường của mọitầng lớp nhân dân để chủ động và tích cực tận dụng cơ hội, đương đầu vớicạnh tranh, vượt qua thách thức. Kịp thời bổ sung, hoàn thiện hệ thống phápluật và thể chế kinh tế; hình thành nhanh và đồng bộ các yếu tố của nền kinhtế thị trường; phát huy tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; đẩy mạnhcải cách hành chính. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệpvà sản phẩm. Bổ sung nguồn lực và tăng cường chỉ đạo công cuộc phát triểnnông nghiệp, nông thôn; giải quyết tốt các vấn đề xã hội.Trong bối cảnh mở cửa, giao lưu, hợp tác khu vực và quốc tế ngàycàng mở rộng và có chiều sâu, nhất là khi Việt Nam đã chính thức trở thànhthành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), sự phát triển mạnh mẽvà có hiệu quả của thành phần kinh tế tư bản nhà nước trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa chẳng những giúp chúng ta đẩy nhanhtốc độ tăng trưởng kinh tế, rút ngắn quá trình khắc phục tình trạng kém pháttriển về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, mà còn tạothêm công ăn việc làm cho người lao động Việt Nam và góp phần cải thiệnđời sống của họ.Từ bối cảnh trong nước và quốc tế hiện thời, với xu hướng đa phươnghoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế, Việt Nam chúng ta hoàn toàn có đủ điềukiện và khả năng để phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thứcphong phú và đa dạng. Sử dụng kinh tế tư bản nhà nước với tư cách mộtthành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩađược cấu thành bởi các quan hệ kinh tế và hợp đồng kinh tế giữa một bên làNhà nước ta – đại biểu cho sở hữu toàn dân, cho lợi ích toàn xã hội, với mộtbên là các nhà tư bản hoàn toàn có thể đem lại cho chúng ta khả năng vừasử dụng có hiệu quả sự đầu tư của tư bản nước ngoài, vừa giữ được độc lập,tự chủ, thực hiện hợp tác bình đẳng, cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng độc lập
Xem thêm

15 Đọc thêm

Nhật Bản và mối quan hệ kinh tế với Việt Nam Thương Mại Quốc Tế

Nhật Bản và mối quan hệ kinh tế với Việt Nam Thương Mại Quốc Tế

NHẬT BẢN VÀ MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VỚI VIỆT NAMI. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI NHẬT BẢN1.Tổng quan về Nhật BảnThủ đô: Tokyo Diện tích: 377 915 km2 Dân số: 127,132 triệu người (tính đến tháng 92015) Ngôn ngữ : Tiếng Nhật Văn hóa kinh doanh: Người Nhật luôn đề cao tính kỷ luật và hiệu quả cao trong công việc, những yếu tố dưới đây làm nên sự thành công của họ. Con người: Có tinh thần cầu tiến và nhạy cảm với những thay đổi trên thế giới.Du lịch:2. Tình hình kinh tế chính trịxã hội2.1 Kinh tế2.2 Chính trị2.3 Văn hóa xã hội2.4 Đường lối đối ngoạiII. QUAN HỆ KINH TẾ VỚI VIỆT NAM1.HỢP TÁC THƯƠNG MẠICÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHÍNH CỦA VIỆT NAM SANG NHẬT BẢN VÀ THẾ GIỚI( NĂM 20122014) (bảng thống kê)CÁC MẶT HÀNG VIỆT NAM NHẬP KHẨU CHÍNH TỪ NHẬT BẢN VÀ THẾ GIỚI (Năm 20122014) (bảng thống kê)KIM NGẠCH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM NHẬT BẢN GIAI ĐOẠN 20072014 (bảng thống kê và biểu đồ)2. HỢP TÁC ĐẦU TƯCƠ CẤU VỐN ODA VÀ VỐN VAY ƯU ĐÃI KÝ KẾT THEO NHÀ TÀI TRỢ THỜI KỲ 20112015 (biểu đồ)Viện trợ chính thức (ODA) của Nhật Bản cho Việt Nam (bảng thống kê)III. HỢP TÁC TÀI CHÍNH VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ1. HỢP TÁC TÀI CHÍNH2. CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ GIỮA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢNIV. CÁC HIỆP ĐỊNH1. HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ VIỆT NAMNHẬT BẢN (VJEPA)BẢNG PHÂN TÁN SỐ DÒNG THUẾ ĐƯỢC XOÁ BỎ THUẾ QUAN THEO NGÀNH CỦA VIỆT NAM2. HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ TOÀN DIỆN ASEANNHẬT BẢN (AJCEP)3. HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (GỌI TẮT LÀ TPP)4. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ TOÀN DIỆN VỚI NHẬT BẢNa) Tích cựcNhững ưu đãi khác ngoài thuế quan mà phía Việt Nam được hưởng trong Hiệp định VJEPA và AJCEP: b) Tiêu cực
Xem thêm

Đọc thêm

Bài điều kiện về Truyện Kiều dành cho học viên Cao học Ngữ văn

BÀI ĐIỀU KIỆN VỀ TRUYỆN KIỀU DÀNH CHO HỌC VIÊN CAO HỌC NGỮ VĂN

Trong kho tàng văn học Việt Nam Truyện Kiều vốn được coi là tập đại thành về ngôn ngữ. Đọc Truyện Kiều, chúng ta thấy Nguyễn Du sử dụng khá nhiều ngôn ngữ dân gian, trong đó có thành ngữ. Thành ngữ được Nguyễn Du sử dụng rải rác khắp tác phẩm, trong cả ngôn ngữ trực tiếp, nửa trực tiếp, ngôn ngữ tự sự của tác giả. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, người viết chỉ đi vào khảo sát việc sử dụng thành ngữ trong ngôn ngữ xung quanh mối quan hệ của Thúy Kiều và Thúc Sinh.
Xem thêm

9 Đọc thêm

LUẬN VĂN HOÀN THIỆN QUY TRÌNH NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY CP XNK HÀNG KHÔNG

LUẬN VĂN HOÀN THIỆN QUY TRÌNH NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY CP XNK HÀNG KHÔNG

đơn vị hạch toán độc lập, đặc biệt là sau khi cổ phần hóa cuối năm 2005,những ưu đãi hạn chế hơn, tạo ra một số khó khăn nhất định cho hoạt độngcủa Công ty.Với Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/07/1998 và Nghị định số44/2001/NĐ-CP ngày 02/08/2001 về việc cho phép các doanh nghiệp được tựdo hóa trong việc đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu, các đơn vị trongnghành hàng không đã thực hiện các công việc nhập khẩu thiết bị, phụ tùng,trong đó có những đơn vị trước đây là bạn hàng rất lớn của ARIMEX nhưTrung tâm Quản lý bay dân dụng Việt Nam, các Cụm cảng hàng không MiềnBắc, Trung, Nam,... Do vậy hoạt động nhập khẩu ủy thác của ARIMEX bị thuhẹp đáng kể.Các chính sách thuế, luật doanh nghiệp tạo ra những khuôn khổ chohoạt động nhập khẩu của Công ty, nhất là các chính sách thuế liên quan đến23các hoạt động xuất nhập khẩu. Năm 2006, Việt Nam chính thức trở thànhthành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), vừa tạo ra những thuậnlợi, lại vừa tạo ra những khó khăn nhất định cho hoạt động nhập khẩu củaCông ty CP Xuất nhập khẩu Hàng không. Thuận lợi lớn nhất có thể kể đếnchính là sự thông thoáng hơn trong các chính sách thuế của Nhà nước về xuấtnhập khẩu, tạo điều kiện hạ chi phí nhập khẩu, tăng khả năng cạnh tranh. Rồicùng với đó, Công ty sẽ có nhiều hơn những cơ hội tiếp cận với những bạnhàng tiềm năng trên thế giới,... Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi đó thìCông ty cũng sẽ gặp phải những khó khăn không nhỏ mà có lẽ lớn nhất chínhlà việc sẽ có thêm nhiều đối thủ cạnh tranh hơn không những trong nước màthậm chí cả những doanh nghiệp nước ngoài.2.4.3. Tỷ giá hối đoáiVới bất kỳ hoạt động xuất nhập khẩu nào thì tỷ giá hối đoái có ảnhhưởng quyết định đến tính hiệu quả của hoạt động đó. Tỷ giá cao hay thấp sẽ
Xem thêm

68 Đọc thêm

TIỂU LUẬN: TỪ THUẦN VIỆT VÀ TỪ VAY MƯỢN TRONG TIẾNG VIỆT

TIỂU LUẬN: TỪ THUẦN VIỆT VÀ TỪ VAY MƯỢN TRONG TIẾNG VIỆT

vải, mưa, đồng, móc, nụ, gà, chuột, đâm...- Tương ứng với các ngôn ngữ nhóm Việt Mường đồng thời với nhóm Bru-VânKiều:Trời, trăng, đêm, bụng, ruột, kéo, bốc, ngáy, khạc, củi, hột, rắn, khô...1 Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nhà xuấtbản Giáo dục, H., 1997, trang 213–219.5- Tương ứng với nhóm ngôn ngữ Mon-Khmer ở Tây Nguyên Việt Nam:Trời, mây, mưa, sấm, sét, bàn chân, đầu gối, da, óc, thịt, mỡ, bố, mẹ, mày, nó,nuốt, cắn, nói, kêu, còi, mặc, nhắm, bếp, chổi, đọi...- Tương ứng với nhóm Việt-Mường và các ngôn ngữ Mon-Khmer khác:Sao, gió, sông, đất, nước, lửa, đá, người, tóc, mặt, mắt, mũi, răng, lưỡi, cổ,lưng, tay, chân, máu, xương, cằm, đít, con, cháu...- Tương ứng với nhóm Việt Mường và Tày Thái:Bão, bể, bát, dao, gạo, ngà voi, than, phân, cày, đen, gạo, giặt...- Tương ứng Việt – Indonesia:Bố, ba, bu, mẹ, bác, ông, cụ, đất, trâu, sông, cái, cây, núi, đồng, mất, nghe,đèn, đêm, trắng, tuổi, ăn, cướp, bướm, sáng, rất, nấu, này/ni, là, rằng, ngày...Các ví dụ trên đây chứng tỏ rằng cội rễ của từ vựng tiếng Việt hết sức phứctạp. Chúng gồm nhiều nguồn đan xen, chồng chéo, thậm chí phủ lấp lên nhau.Nghiên cứu chúng sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc khảo cứu nguồngốc tiếng Việt nói chung.Cùng với sự du nhập truyền bá của đạo giáo, đặc biệt là văn hóa Công giáo,văn hóa Việt Nam cũng được làm giàu thêm bởi những yếu tố văn hóa phươngTây, và đặc biệt thành công trong vấn đề chữ viết. Khi truyền đạo cho người ViệtNam, khó khăn đầu tiên mà các giáo sĩ (các vị linh mục) vấp phải là sự khác biệtvề ngôn ngữ và văn tự; các giáo sĩ có thể học tiếng Việt được, nhưng học chữ
Xem thêm

22 Đọc thêm

TIỂU LUẬN XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VN CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI VN HỘI NHẬP WTO

TIỂU LUẬN XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VN CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI VN HỘI NHẬP WTO

Nguồn : Tổng cục Thống kêHiện nay, sản phẩm của ngành dệt may Việt Nam đã có mặt ở trên 100 nớc vàvùng lãnh thổ tại hầu khắp các châu lục với gần 30 nớc ở thời điểm năm 1990.Năm 2005 đánh dấu một bớc ngoặt trong sự phát triển của ngành Dệt- May ViệtNam. Đây là năm đầu tiên thực hiện việc bãi bỏ chế độ hạn ngạch giữa các thànhviên thuộc Tổ chức thơng mại thế giới ( WTO ) và cũng là năm cuối cùng cácsản phẩm dệt may Việt Nam đợc hởng chế độ bảo hộ mậu dịch trớc khi chúng tahội nhập hoàn toàn vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN ( AFTA ) năm 2006.Cộng thêm việc EU và Canada đã xoá bỏ han ngạch cho Việt Nam từ 1/1/2005nh với 148 thành viên khác đã khiến Việt Nam gặp nhiều khó khăn hơn trongcuộc cạnh tranh với các sản phẩm dệt may của các nớc trên thế giới. Đặc biệt từngày 7/11/2006 khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, với việc bãi bỏ chế độhạn ngạch , các nớc là thành viên của WTO có thể xuất khẩu không hạn chế sangcác thị trờng lớn nhất thế giới nh Mỹ, EU, Nhật Bản và Canada, điều đó sẽ dẫntới cán cân trong cuộc chiến trên thị trờng xuất khẩu dệt may thế giới sẽ nghiênghẳn về những nớc có lợi thế về nguồn nguyên liệu và nhân công rẻ nh TrungQuốc hay ấn Độ bởi vì hạn ngạch vừa là yếu tố hạn chế nhng đồng thời nó cũngbảo vệ cho các nhà xuất khẩu hàng dệt may thông qua việc giới hạn lợng hàngdệt may tối đa mà mỗi quốc gia có thể xuất khẩu vào các thị trờng kể trên. Do đó,cũng nh các nớc khác, Dệt May Việt Nam sẽ phải cạnh tranh gay gắt với nhữngthị trờng khổng lồ Trung, ấn.Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia quốc tế, hiện nay Việt Nam đã thiếtlập khá ổn định sự có mặt của mình trên thị trờng dệt may toàn càu. Ngành công21nghiệp dệt may của Việt Nam đã có sức cạnh tranh. Do vậy, vẫn có nhiều cơ hộiđể vơn lên giành vị trí thứ hai sau Trung Quốc vì các nớc nhập khẩu sẽ đa dạnghoá nguồn hàng chứ không chịu lệ thuộc vào nguồn cung cấp duy nhất từ Trung
Xem thêm

35 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Khái quát lịch sử tiếng việt

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT I – KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Việt Nam là một quốc gia nhiều dân tộc, có nhiều ngôn ngữ khác nhau. Tiếng Việt, là ngôn ngữ của dân tộc Việt, đóng vai trò một ngôn ngữ có tính phổ thông, dùng làm công cụ giao tiếp chung. Tiếng Việt giữ vị thế một ngôn ngữ quốc gia. 2. Tiếng Việt, có nguồn gốc rất cổ xưa. Cùng với dân tộc Việt, tiếng Việt có nguồn gốc bản địa rất đậm nét, xuất hiện và trưởng thành từ rất sớm trên lưu vực sông Hồng và sông Mã. 3. Tiếng Việt thuộc họ Nam Á. Trong họ Nam Á, tiếng Việt có quan hệ họ hàng gần gũi với tiếng Mường và mối quan hệ tương đối xa hơn đối với nhóm tiếng Môn – Khmer. Ngoài họ Nam Á, tiếng Việt cũng có mối quan hệ tiếp xúc lâu đời với các ngôn ngữ thuộc nhóm Tày – Thái và nhóm Mã Lai - Đa Đảo. Tiếng Việt đã có quá trình phát triển riêng đầy sức sống, trong sự gắn bó với xã hội người Việt, với sự trưởng thành mạnh mẽ của tinh thần dân tộc tự cường và tự chủ. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Hãy tìm hiểu về cư dân vùng anh (chị) đang sống: - Những cư dân đó thuộc những dân tộc nào? - Hàng ngày, cư dân vùng anh (chị) đang sống dùng ngôn ngữ nào để giao tiếp với nhau? 2. Trong đời sống xã hội Việt Nam ngày nay, tiếng Việt có vai trò gì? Gợi ý: - Vai trò một ngôn ngữ có tính chất phổ thông, dùng làm công cụ giao tiếp chung; - Từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay, tiếng Việt giữ vai trò của một ngôn ngữ văn hoá phát triển toàn diện được dùng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội Việt Nam. 3. Trình bày về quan hệ họ hàng của tiếng Việt. Gợi ý: - Thuộc họ Nam Á; - Trong họ Nam Á, có quan hệ họ hàng gần gũi với tiếng Mường; xa hơn với nhóm tiếng Môn – Khmer; - Ngoài họ Nam Á, có quan hệ tiếp xúc với nhóm tiếng Tày – Thái, nhóm Mã Lai - Đa Đảo. Tiếng Việt đã có quá trình phát triển riêng đầy sức sống, trong sự gắn bó với xã hội người Việt, với sự trưởng thành mạnh mẽ của tinh thần dân tộc tự cường và tự chủ. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Hãy tìm hiểu về cư dân vùng anh (chị) đang sống: - Những cư dân đó thuộc những dân tộc nào? - Hàng ngày, cư dân vùng anh (chị) đang sống dùng ngôn ngữ nào để giao tiếp với nhau? 2. Trong đời sống xã hội Việt Nam ngày nay, tiếng Việt có vai trò gì? Gợi ý: - Vai trò một ngôn ngữ có tính chất phổ thông, dùng làm công cụ giao tiếp chung; - Từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay, tiếng Việt giữ vai trò của một ngôn ngữ văn hoá phát triển toàn diện được dùng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội Việt Nam. 3. Trình bày về quan hệ họ hàng của tiếng Việt. Gợi ý: - Thuộc họ Nam Á; - Trong họ Nam Á, có quan hệ họ hàng gần gũi với tiếng Mường; xa hơn với nhóm tiếng Môn – Khmer; - Ngoài họ Nam Á, có quan hệ tiếp xúc với nhóm tiếng Tày – Thái, nhóm Mã Lai - Đa Đảo. Nguồn : wWw.SoanBai.Com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đặc điểm ngôn ngữ phỏng vấn báo in (trên tư liệu khảo sát báo Thanh niên từ năm 2013 đến nay

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ PHỎNG VẤN BÁO IN (TRÊN TƯ LIỆU KHẢO SÁT BÁO THANH NIÊN TỪ NĂM 2013 ĐẾN NAY

2.Mục đích nghiên cứuVới mục đích khảo sát, phân tích các cuộc hội thoại phỏng vấn trên báo Thanh niên nhằm tìm hiểu sâu hơn về đặc điểm ngôn ngữ phỏng vấn báo chí mà đặc biệt là báo in. Từ đó, có thể một phần nào đó giúp các nhà báo khi tham gia hoạt động phỏng vấn trên báo in tránh được những câu hỏi mang tính chất đe dọa thể diện cao, cũng như việc áp dụng những câu hỏi có sức gợi mở khai thác được nhiều thông tin từ phía ĐTGT. Nói cách, nhằm phát huy những mặt tích cực trong cách sử dụng ngôn ngữ khi phỏng vấn trên báo in, và hạn chế mặt tiêu cực của thể loại phỏng vấn nói chung, và phỏng vấn báo in nói riêng trong giai đoạn hiện nay.3.Lịch sử nghiên cứuỞ góc độ ngôn ngữ, phỏng vấn thực chất là cuộc trao đáp giữa người phỏng vấn và nhân vật đươc phỏng vấn. Chính vì vậy, để hiểu rõ ngôn ngữ phỏng vấn chúng tôi phải nghiên cứu những vấn đề liên quan đến ngôn ngữ hội thoại.Trong lịch sử ngôn ngữ học, ngôn ngữ hội thoại, ngôn ngữ lời nói đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu: N. Chomsky, J.Austin, J. Fillmore, H.P. Grice, S.C. Dik... trong đó H.P.Grice là tác giả có những đóng góp lớn đối với việc nghiên cứu lí thuyết hội thoại hơn cả. Trong tác phẩm “Logic and conversation” ông đã nghiên cứu nguyên lí cộng tác hội thoại, tương tác hội thoại, lôgic với hội thoại cũng như phân chia các phương diện liên kết hội thoại. Chính những lí thuyết này cùng với những nghiên cứu về hội thoại của các tác giả khác đã đặt cơ sở lí thuyết cho những nghiên cứu về hội thoại của các nhà Việt ngữ học.Ở Việt Nam, có thể kể đến Đỗ Hữu Châu với Đại cương ngôn ngữ học.Tập 2: Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, 2001; Cơ sở ngữ dụng học, NXB Đại học Sư phạm, 2003; Nguyễn Đức Dân với Ngữ dụng học, Tập 1, NXB Giáo dục, 1998; Cao Xuân Hạo với Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Tập 1, NXB Khoa học Xã hội; Đỗ Thị Kim Liên với Ngữ nghĩa lời hội thoại, NXB Giáo dục, 1999; Giáo trình Ngữ dụng học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; Nguyễn Thị Quy với Vị từ hành động và các tham tố của nó, NXB Khoa học Xã hội, 1995 v.v... và một số tác giả khác như Hoàng Phê, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Hiệp, Lê Đông đã công bố những công trình có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề hội thoại. Các công trình đã đề cập một cách hệ thống các vấn đề có tính chất cập nhật của lí thuyết hội thoại: sự quy chiếu và chỉ xuất khi nói, lập luận, quy tắc hội thoại, ý nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn và nghĩa tình thái.Nhìn chung, các công trình trên đã xây dựng nền tảng lí luận cơ bản, vững chắc về lí thuyết hội thoại: vận động hội thoại, các quy tắc hội thoại, thương lượng hội thoại, cấu trúc hội thoại, ngữ pháp hội thoại, ngữ nghĩa hội thoại... Trên cơ sở những tri thức nền đó, các nhà ngôn ngữ học về sau có thể liên hệ, mở rộng, áp dụng nghiên cứu lí thuyết hội thoại trong thực tiễn đời sống và báo chíĐối với báo in, báo in chính thức ra đời từ giữa thế kỉ XVI. Là một loại hình báo chí ra đời sớm, có lịch sử phát triển lâu đời so với phát thanh và truyền hình nhưng hiện nay những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo in lại khá nhỏ bé.Trên thế giới, phỏng vấn hay phỏng vấn trên báo in thường được các nhà nghiên cứu quan tâm đề cập dưới góc độ thể loại báo chí và các thao tác nghề nghiệp khi thực hiện phỏng vấn. Có thể kể ra đây các công trình như: Giao tiếp trên truyền hình – Trước ống kính và sau ống kính camera của tác giả X.A.Muratoop; Nghệ thuật phỏng vấn các nhà lãnh đạo của tác giả Samy Cohen.Ở Việt Nam, ngôn ngữ phỏng vấn báo chí gần đây đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu như tác giả Vũ Quang Hào Ngôn ngữ báo chí, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 15, Đinh Văn Hường Các thể loại báo chí thông tấn, NXB Đại học Quốc gia, 2006 42; Nguyễn Đức Dân với cuốn: Ngôn ngữ báo chí – Những vấn đề cơ bản, NXB Giáo dục, 2007 9.Bên cạnh đó, là sự xuất hiện của một số luận án và công trình nghiên cứu có vấn đề liên quan như: Vũ Thị Bảo Thơ với đề tài: Bước đầu tìm hiểu tham thoại cặp thoại trong phỏng vấn báo chí trên ngữ liệu báo in, (2006) 21. Ở đề tài của mình, tác giả phần nào đó đề cập đến ngôn ngữ phỏng vấn của báo chí, nhưng chủ yếu dưới dạng các hình thức giao tiếp thông qua các cấu trúc giao tiếp tham thoại và cặp thoại mà chưa đề cập đến ngôn ngữ khi phỏng vấn của báo in. Luận án Thạc sĩ Lịch sự và sự vi phạm nguyên tắc lịch sự trong phỏng vấn báo chí,(2007) 41, Thạc sĩ Phạm Thị Tuyết Minh dẫn dắt và hướng đến các nguyên tắc lịch sự và các chiến lược giao tiếp làm tăng tính lịch sự khi phỏng vấn báo chí. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tác giả chưa đi vào đặc điểm ngôn ngữ cúa báo in một cách chi tiết, cụ thể.Tác giả Vương Thị Huyền: Ngôn ngữ của người dẫn chương trình trò chơi truyền hình, (2012), Luận văn Thạc sĩ Truyền thông đại chúng ĐHKHXHNV Hà Nội 19; Hoàng Lê Thúy Ngọc: Khảo sát ngôn ngữ truyền hình ở Thừa Thiên Huế, (2012), Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, ĐHKHXNNV Hà Nội 25; Nguyễn Thị Bích Hà với cuốn: Tìm hiểu phương thức thể hiện lời nói trên song của Đài truyền hình Việt Nam,(1994, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền 14. Ba công trình nghiên cứu cả ba tác giả đều đề cập đến ngôn ngữ báo chí của truyền hình, và đưa ra các phát ngôn khi tham gia phỏng vấn trên truyền hình.Nhìn chung, các công trình kể trên đều thiên về nghiên cứu ngôn ngữ truyền hình. Trong khi đó, ngôn ngữ báo in nói chung cũng như ngôn ngữ phỏng vấn trên báo in lại ít được quan tâm. Chính vì vậy, việc nghiên cứu ngôn ngữ phỏng vấn trên báo in cần thiết phải được đặt ra nhằm hướng tới xác lập những quy chuẩn về ngôn ngữ phỏng vấn cho các nhà báo khi tác nghiệp.
Xem thêm

83 Đọc thêm

Khái quát lịch sử Tiếng Việt

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT

– KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Việt Nam là một quốc gia nhiều dân tộc, có nhiều ngôn ngữ khác nhau. Tiếng Việt, là ngôn ngữ của dân tộc Việt, đóng vai trò một ngôn ngữ có tính phổ thông, dùng làm công cụ giao tiếp chung. Tiếng Việt giữ vị thế một ngôn ngữ quốc gia. 2. Tiếng Việt, có nguồn gốc rất cổ xưa. Cùng với dân tộc Việt, tiếng Việt có nguồn gốc bản địa rất đậm nét, xuất hiện và trưởng thành từ rất sớm trên lưu vực sông Hồng và sông Mã. 3. Tiếng Việt thuộc họ Nam Á. Trong họ Nam Á, tiếng Việt có quan hệ họ hàng gần gũi với tiếng Mường và mối quan hệ tương đối xa hơn đối với nhóm tiếng Môn – Khmer. Ngoài họ Nam Á, tiếng Việt cũng có mối quan hệ tiếp xúc lâu đời với các ngôn ngữ thuộc nhóm Tày – Thái và nhóm Mã Lai – Đa Đảo. Tiếng Việt đã có quá trình phát triển riêng đầy sức sống, trong sự gắn bó với xã hội người Việt, với sự trưởng thành mạnh mẽ của tinh thần dân tộc tự cường và tự chủ. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Hãy tìm hiểu về cư dân vùng anh (chị) đang sống: - Những cư dân đó thuộc những dân tộc nào? - Hàng ngày, cư dân vùng anh (chị) đang sống dùng ngôn ngữ nào để giao tiếp với nhau? 2. Trong đời sống xã hội Việt Nam ngày nay, tiếng Việt có vai trò gì? Gợi ý: - Vai trò một ngôn ngữ có tính chất phổ thông, dùng làm công cụ giao tiếp chung; - Từ Cách mạng tháng Tám (1945) đến nay, tiếng Việt giữ vai trò của một ngôn ngữ văn hoá phát triển toàn diện được dùng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội Việt Nam. 3. Trình bày về quan hệ họ hàng của tiếng Việt. Gợi ý: - Thuộc họ Nam Á; - Trong họ Nam Á, có quan hệ họ hàng gần gũi với tiếng Mường; xa hơn với nhóm tiếng Môn – Khmer; - Ngoài họ Nam Á, có quan hệ tiếp xúc với nhóm tiếng Tày – Thái, nhóm Mã Lai – Đa Đảo.  loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

báo cáo kiến tập tại bảo TÀNG LỊCH sử QUỐC GIA

BÁO CÁO KIẾN TẬP TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA

I. TỔNG QUAN VỀ BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA1. Lịch sử hình thành và phát triển của cơ quan. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia được thành lập trên cơ sở sát nhập giữa Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Đây là các bảo tàng thuộc hệ thống bảo tàng quốc gia Việt Nam được ra đời từ rất sớm.Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là một trong những bảo tàng được thành lập sớm nhất trên cơ sở kế thừa cơ sở vật chất của Bảo tàng Loui Finô (Louis Finot) một bảo tàng thuộc Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, xây dựng năm 1926, khánh thành năm 1932. Năm 1958, Chính phủ Việt Nam chính thức tiếp quản công trình văn hóa này và xúc tiến nghiên cứu, sưu tầm, bổ sung tài liệu hiện vật, chuyển đổi nội dung từ bảo tàng nghệ thuật thành bảo tàng lịch sử. Ngày 391958 BTLSVN chính thức mở cửa đón khách tham quan.Kiến trúc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam nguyên là Sở Thương chính Đông Dương do người Pháp xây dựng năm 1917. Hệ thống trưng bày của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam được các cán bộ bảo tàng đầu tiên của Việt Nam xây dựng và đi vào hoạt động phục vụ công chúng từ ngày 611959. Hệ thống trưng bày chính của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia được coi như cuốn sử sống của dân tộc Việt Nam từ thời Tiền sử (cách ngày nay khoảng 30 40 vạn năm) đến ngày nay. Với diện tích trưng bày gần 4.000 m2, với khoảng 10.000 tư liệu hiện vật, hệ thống trưng bày chính của bảo tàng được thể hiện theo nguyên tắc trưng bày niên biểu, lấy sự phong phú của sưu tập hiện vật làm ngôn ngữ biểu đạt chính, kết hợp giữa trưng bày phản ánh giai đoạn và sự kiện lịch sử với trưng bày sưu tập theo hướng trưng bày mở, tạo điều kiện để có thể cập nhật những tư liệu hiện vật mới do công tác nghiên cứu sưu tầm đem lại, làm cho diện mạo trưng bày luôn mới mẻ, hấp dẫn người xem. Cùng mục đích ấy, bảo tàng thường xuyên tổ chức các cuộc trưng bày chuyên đề và với hệ thống màn hình ti vi, màn hình cảm ứng hiện đại với hình ảnh phong phú, sống động, những dữ liệu khoa học chân xác ngày càng thỏa mãn nhu cầu khách tham quan, các nhà nghiên cứu khi đến bảo tàng.Hệ thống kho cơ sở của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện lưu giữ hơn 150.000 tiêu bản hiện vật, gồm nhiều chất liệu, nhiều sưu tập, hiện vật quý hiếm: Sưu tập hiện vật thuộc các nền văn hóa Núi Đọ, Hòa Bình Bắc Sơn, Sưu tập văn hóa Đông Sơn, Sưu tập gốm men cổ Việt Nam, Sưu tập điêu khắc đá Chămpa, Sưu tập đồ đồng thời Lê Nguyễn, sưu tập hiện vật về các nhân vật cách mạng giai đoạn 1920 1945, giai đoạn 1945 1954, sưu tập hiện vật về Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, sưu tập hiện vật về Cách mạng Tháng Tám, sưu tập báo chí cách mạng, sưu tập truyền đơn bí mật, sưu tập cờ, sưu tập huân huy chương, sưu tập tặng phẩm của nhân dân Việt Nam và thế giới tặng Chủ tịch Hổ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước, sưu tập vũ khí tự tạo, sưu tập các kỷ vật của các Anh hùng, liệt sĩ,…
Xem thêm

29 Đọc thêm

TOEIC 600 WORDS

TOEIC 600 WORDS

Tiếng Anh và mức độ quan trọng đối với cuộc sống của học sinh, sinh viên Việt Nam.Khi nhắc tới tiếng Anh, người ta nghĩ ngay đó là ngôn ngữ toàn cầu: là ngôn ngữ chính thức của hơn 53 quốc gia và vùng lãnh thổ, là ngôn ngữ chính thức của EU và là ngôn ngữ thứ 3 được nhiều người sử dụng nhất chỉ sau tiếng Trung Quốc và Tây Ban Nha (các bạn cần chú ý là Trung quốc có số dân hơn 1 tỷ người). Các sự kiện quốc tế , các tổ chức toàn cầu,… cũng mặc định coi tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp.
Xem thêm

28 Đọc thêm

Cùng chủ đề