NGUYÊN NHÂN BỆNH VIÊM MÀNG NÃO MỦ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NGUYÊN NHÂN BỆNH VIÊM MÀNG NÃO MỦ":

Bài giảng về viêm màng não mủ

BÀI GIẢNG VỀ VIÊM MÀNG NÃO MỦ

1. Liệt kê được tên và tần suất mắc các tác nhân gây viêm màng não mủ thường gặp.
2. Phân tích được các điều kiện làm dễ và các yếu tố nguy cơ gây viêm màng não mủ
3. Chẩn đoán xác định lâm sàng bệnh viêm màng não mủ
4. Phân biệt được các biến đổi dịch não tủy một số bệnh viêm màng não thường gặp
5. Sủ dụng kháng sinh đúng trong điều trị viêm màng não mủ
6. Hướng dẫn cách dự phòng một số bệnh viêm màng não mủ thông thường

31 Đọc thêm

Slide viêm màng não mủ

SLIDE VIÊM MÀNG NÃO MỦ

Tài liệu này dành cho sinh viên, giảng viên viên khối ngành y dược tham khảo và học tập để có những bài học bổ ích hơn, bổ trợ cho việc tìm kiếm tài liệu, giáo án, giáo trình, bài giảng các môn học khối ngành y dược

28 Đọc thêm

VIÊM MÀNG NÃO MỦ

VIÊM MÀNG NÃO MỦ

Mụn phỏng dạng Herpes.Ban xuất huyết hoại tử hình sao trong não mô cầu (hay gặp vào mùa đông xuân, dịch lẻ tẻ, có−−−∗−−−thể kèm đau sưng khớp).Mụn mủ, áp xe cơ trong viêm màng não do tụ cầu vàng.Viêm nhiễm đường hô hấp trên, viêm phổi, viêm xoang, viêm tai trong VMN do phế cầu.Viêm màng não do H.influenza thường diễn biến rất đột ngột ở trẻ nhỏ.Các triệu chứng khác:Suy hô hấp, tuần hoàn do ức chế trung tâm và rối loạn thần kinh thực vật.Mất nước và rối loạn nước điện giải.Các triệu chứng này thường là các dấu hiệu có tiên lượng xấu, thường đi kèm với hôn mê.3.1.2. Ở trẻ nhũ nhi:− Căn nguyên chủ yếu H.I (Hemophilus influenza).− Bệnh cảnh nhiễm khuẩn diễn biến rất cấp tính, có thể shock NK.− Toàn thân: hội chứng nhiễm khuẩn không rõ hoặc có thể sốt cao hoặc hạ nhiệt, có thể shocknhiễm khuẩn.− Triệu chứng cơ năng thường nặng: triệu chứng màng não: trẻ li bì, rên è è, bỏ bú, thóp phồng,nôn vọt, khó thở; chướng bụng, ỉa lỏng.− Các triệu chứng thực thể: nghèo nàn hơn, đôi khi có biểu hiện ngược với trẻ lớn: thường cổmềm (dấu hiệu Netter), thóp phồng hoặc căng.− Kèm theo rối loạn tri giác: mắt nhìn vô cảm, li bì hoặc hôn mê, co giật, liệt TK khu trú, giảm
Xem thêm

11 Đọc thêm

Đừng “đùa” với món tiết canh!

ĐỪNG “ĐÙA” VỚI MÓN TIẾT CANH!

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Lâu nay, không ít người xem tiết canh là món khoái khẩu nhưng lại quên rằng nó rất dễ nhiễm liên cầu khuẩn lợn, nguy cơ tử vong cao hoặc sẽ để lại di chứng nặng nề nếu bệnh nhân may mắn thoát khỏi tử thần. Đồng Nai có ca đầu tiên Mới đây, Bệnh viện (BV) Bệnh nhiệt đới TP HCM đã tiếp nhận cấp cứu một bệnh nhân ở tỉnh Đồng Nai bị nhiễm liên cầu khuẩn lợn sau khi ăn tiết canh. Trước đó, ông N.V.T (ngụ huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai) cùng bà con hàng xóm làm thịt heo ăn, trong đó có món tiết canh. Sau 9 ngày, ông T. bỗng phát bệnh và được đưa đến cấp cứu tại BV Đa khoa khu vực Định Quán (Đồng Nai) trong tình trạng nôn ói, tiêu chảy, đau đầu, sốt, mệt mỏi toàn thân, rối loạn tri giác. Sau khi làm xét nghiệm chẩn đoán, các bác sĩ (BS) phát hiện ông bị nhiễm trùng máu nặng nên chuyển thẳng lên BV Bệnh nhiệt đới TP HCM để điều trị. Tại đây, các bác sĩ BV Bệnh nhiệt đới xác định bệnh nhân bị viêm màng não mủ do nhiễm liên cầu khuẩn lợn Streptococcus suis - loại vi khuẩn gây bệnh cho cả heo và người. Qua nhiều tuần điều trị, sức khỏe ông T. đã hồi phục. Theo BS Cao Trọng Ngưỡng, Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng Đồng Nai, đây là ca nhiễm liên cầu khuẩn lợn trên người đầu tiên ghi nhận tại địa phương này. Không may mắn như ông T., thời gian gần đây ở một số tỉnh - thành miền Bắc đã liên tục xảy ra nhiều trường hợp tử vong mà nguyên nhân được xác định là do ăn tiết canh heo bị nhiễm khuẩn liên cầu.   Người nhiễm liên cầu khuẩn lợn ngoài nguy cơ tử vong còn có thể bị điếc, bị mất chân tay... Tại BV Bệnh nhiệt đới TP HCM, trung bình mỗi năm tiếp nhận khoảng 30-40 trường hợp nhiễm liên cầu khuẩn lợn. Riêng từ đầu năm đến nay, số người nhiễm bệnh được BV tiếp nhận điều trị là 10 trường hợp. Theo các BS, bệnh này thường khởi phát 10 ngày sau khi ăn tiết canh bị nhiễm khuẩn. Đây là loại bệnh nhiễm khuẩn rất nguy hiểm, có thể gây tử vong bởi liên cầu khuẩn lợn gây nhiễm trùng huyết, viêm màng não mủ, suy đa phủ tạng. Thống kê của chương trình quản lý kháng sinh (AMS) của BV Bệnh nhiệt đới trung ương cho thấy gần 70% số ca viêm màng não mủ trong năm 2014 là do liên cầu khuẩn lợn gây ra. Hãy cứu mình trước khi quá muộn! Nhiều người vẫn quan niệm rằng ăn tiết canh động vật vừa ngon vừa bổ dưỡng lại có thể chữa bệnh. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, thực tế không như nhiều người nghĩ, thậm chí món ăn kiểu này còn gây ra tác dụng ngược, có nguy cơ nhiễm các bệnh chết người khác như cúm A/H5N1, tiêu chảy, tả lị... TS-BS Nguyễn Hoan Phú, Khoa Nhiễm Việt - Anh BV Bệnh nhiệt đới TP HCM, cho biết bệnh liên cầu khuẩn lợn là do vi khuẩn ở heo xâm nhập cơ thể con người qua các vết thương, vết lở niêm mạc chân răng. Loại vi khuẩn này thường trú sẵn trong cổ họng, đường tiêu hóa, đường hô hấp, bộ phận sinh dục heo. Khi mắc bệnh, hệ miễn dịch của nó suy giảm, loại vi khuẩn liên cầu này bộc phát mạnh và sẽ lây qua người tiếp xúc trực tiếp không an toàn như giết mổ, ăn uống chưa chín, nhất là ăn tiết canh... Theo BS Hồ Đặng Trung Nghĩa, Bộ môn Nhiễm Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch (TP HCM), người mắc bệnh liên cầu khuẩn lợn đa số ở độ tuổi 40-60, trong đó 80% là nam giới. Bệnh khởi phát cấp tính với các triệu chứng sốt cao, mệt mỏi, đau đầu, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy. Trường hợp nhiễm trùng huyết sẽ gây hoại tử lan rộng ở mặt, ngực, chân, tay, hoại tử đầu chi… Tại miền Nam, nghiên cứu trên 100 bệnh nhân mắc bệnh thì 70% có ăn lòng heo, tiết canh. Giới chuyên môn cho rằng bệnh nhiễm liên cầu khuẩn lợn nguy hiểm như vậy nhưng không phải vô phương cứu chữa nếu mọi người luôn có ý thức chủ động phòng ngừa trong việc ăn uống, sinh hoạt. “Món này dù ngon miệng, khó bỏ nhưng rất dễ gây bệnh khi ăn vào, nếu không tử vong cũng để lại di chứng thần kinh như mất trí nhớ, ngớ ngẩn, liệt người, mất chân tay. Tốt nhất hãy tự cứu mình bằng cách bỏ ngay thói quen ăn tiết canh trước khi quá muộn” - một chuyên gia cảnh báo.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Viêm tai giữa ở trẻ: Bệnh nguy hiểm khó lường

VIÊM TAI GIỮA Ở TRẺ: BỆNH NGUY HIỂM KHÓ LƯỜNG

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Viêm tai giữa thường gặp ở trẻ từ 6 tháng tới 3 tuổi. Trẻ thường mắc viêm tai giữa do viêm VA lan vào vòi nhĩ, làm cho vòi nhĩ bị viêm và tắc lại. Ở trẻ em, vòi nhĩ ngắn hơn, khẩu kính lớn hơn ở người lớn nên vi khuẩn và các chất xuất tiết ở mũi họng rất dễ lan lên tai giữa. Đặc biệt, hệ thống niêm mạc đường hô hấp (niêm mạc mũi họng, niêm mạc hòm tai, niêm mạc khí phế quản...) ở trẻ rất nhạy cảm, rất dễ phản ứng với những kích thích bằng hiện tượng xuất tiết dịch, làm cho dịch ứ đọng nhiều trong hòm tai, gây viêm. Điều nguy hiểm là viêm tai giữa cấp ở trẻ nhỏ có thể gây thủng màng nhĩ, làm tiêu xương... ảnh hưởng đến sức nghe của trẻ và dẫn đến rối loạn ngôn ngữ. Nếu không được điều trị triệt để, bệnh có thể gây các biến chứng nhiễm trùng sọ não rất nguy hiểm như viêm màng não, áp xe não, viêm tắc tĩnh mạch bên hoặc gây liệt dây thần kinh mặt (dây số 7).   Điều nguy hiểm là viêm tai giữa cấp ở trẻ nhỏ có thể gây thủng màng nhĩ, làm tiêu xương...  (Ảnh minh họa) Ở giai đoạn đầu, biểu hiện của bệnh viêm tai giữa không rõ rệt, trẻ không sốt, không đau tai, rất ít khi có ù tai, không chảy dịch ở tai. Triệu chứng duy nhất là trẻ bị nghễnh ngãng nên các bà mẹ thường hay bỏ qua và cho rằng trẻ thiếu tập trung. Khi chuyển sang giai đoạn mạn tính mới có hiện tượng chảy mủ tai. Vì vậy, ngay từ giai đoạn ủ bệnh (trẻ sốt, thường là sốt cao 39-40oC, quấy khóc nhiều, trẻ bé thường bỏ bú, kém ăn, nôn trớ, đi ngoài, co giật, lấy tay dụi vào tai...), người lớn cần đưa trẻ đi khám và điều trị. Nếu được phát hiện sớm, thầy thuốc sẽ chủ động chích rạch dẫn lưu hoặc sau khi vỡ mủ được điều trị cẩn thận thì bệnh sẽ khỏi sau 1-2 tuần, không để lại di chứng. Hiện nay, với kỹ thuật nội soi, các thầy thuốc sẽ dùng kính hiển vi điện tử để chích một lỗ nhỏ ở màng nhĩ và đặt vào đó một ống thông nhỏ. Ống thông khí xuyên qua màng nhĩ nhằm hút sạch dịch nhầy quánh trong hòm nhĩ ra ngoài và lưu ống thông khí tại chỗ để dịch có thể tự chảy ra ngoài. Để phòng bệnh viêm tai giữa cho trẻ, người lớn phải giữ gìn vệ sinh mũi họng hằng ngày cho bé sạch sẽ, hạn chế tối đa trẻ bị viêm mũi họng. Khi trẻ nôn trớ, không nên đặt trẻ nằm đầu thấp vì chất nôn dễ tràn vào tai giữa. Khi gội đầu cho trẻ, không nên hạ thấp đầu quá, nước sẽ chảy vào tai giữa, gây viêm. Nếu trẻ bị viêm mũi họng và viêm VA thì phải điều trị dứt điểm, đúng cách vì đó là nguyên nhân gây viêm tai giữa. Trong nhiều trường hợp, nếu viêm VA quá nặng phải tiến hành nạo VA, khi có chỉ định của bác sĩ. Khi nghi ngờ trẻ bị viêm tai giữa, các bậc cha mẹ cần đưa trẻ đi khám tại chuyên khoa tai mũi họng ở các bệnh viện có uy tín. Tuyệt đối không được tự ý điều trị cho trẻ. Lưu ý, viêm tai giữa là một bệnh dễ tái phát, vì thế, trẻ cần được theo dõi thường xuyên ở các cơ sở y tế chuyên khoa.
Xem thêm

1 Đọc thêm

NẮNG NÓNG TRỞ LẠI BỆNH VIÊM MÀNG NÃO TĂNG ĐỘTBIẾN

NẮNG NÓNG TRỞ LẠI BỆNH VIÊM MÀNG NÃO TĂNG ĐỘTBIẾN

Nắng nóng trở lại, bệnh viêm màng não tăng độtbiếnThS.BS Nguyễn Thành Nam, Trưởng khoa Nhi (Bệnh viện Bạch Mai) chobiết, hiện đang có khoảng gần 20 bệnh nhân mắc các thể viêm màng não virus(viêm màng não nước trong), viêm màng não mủ đang nằm điều trị tại khoa.Hai tuần nay, số bệnh nhân nhập viện, điều trị bệnh tăng đột biến. Ngày nào khoacũng tiếp nhận bệnh nhân mắc viêm màng não, cá biệt có ngày 2 - 3 trường hợpvào viện.Thông tin từ Khoa Nhi cho biết, từ đầu mùa hè đến nay, số bệnh nhân điều trị cácbệnh viêm màng não đến hàng trăm ca. Theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, nguyênTrưởng khoa Nhi, đây đang là thời điểm dịch bệnh này hoành hành, vì thế các bácsĩ chỉ cần nghĩ đến trường hợp viêm màng não mủ thì phải lập tức cho bệnh nhânchọc dịch não tủy để chẩn đoán chính xác. BS Dũng cho hay, việc xét nghiệmchẩn đoán bằng dịch não tủy là vô cùng quan trọng, là “tiêu chuẩn vàng” khẳngđịnh bệnh lý để bác sĩ đưa ra phác đồ điều trị kịp thời. Nhất là trong thời điểm hiệnnay, viêm màng não nước trong và viêm màng não mủ đang song hành với triệuchứng hoàn toàn giống nhau (sốt, đau đầu, nôn trớ), nếu không có xét nghiệm chọcdịch não tủy thì không khẳng định được em bé mắc viêm màng não thể gì. Theođó, khi bị viêm màng não nước trong, các bác sĩ thường chỉ dùng thuốc điều trịgiảm triệu chứng. Còn với viêm màng não mủ thì bắt buộc phải sử dụng khángsinh cực tốt, liều cao gấp đôi bình thường để thuốc thấm qua màng não tiêu diệt vikhuẩn, ngăn vi khuẩn đi sâu vào não, gây di chứng tổn thương não cho trẻ.ThS.BS Nguyễn Thành Nam khuyến cáo, khi trẻ có bất cứ triệu chứng nào giốngnhư cảm cúm, viêm đường hô hấp thông thường như sốt, sổ mũi, đặc biệt là kêuđau đầu và nôn, sốt cao, sốt dài ngày không hạ; Triệu chứng buồn nôn, nôn khôngliên quan đến bữa ăn; Sốt, đau đầu không rõ nguyên nhân thì cần đưa ngay tớibệnh viện để được theo dõi, chẩn đoán và điều trị sớm, giảm nguy cơ biến chứngnguy hiểm cho bé. Đặc biệt, cha mẹ không tự ý cho con dùng kháng sinh ngay khithấy con sốt, ho, tiêu chảy, bởi việc dùng kháng sinh sớm, trước khi đến viện cóthể khiến bác sĩ chẩn đoán bệnh khó khăn hơn.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Trắc nghiệm về tai mũi họng có đáp án hay

TRẮC NGHIỆM VỀ TAI MŨI HỌNG CÓ ĐÁP ÁN HAY

1. Biến chứng nào sau đây không phải do vai trò lò viêm thuộc TMH:
A. Viêm cầu thận cấp
B. Viêm màng não mủ
C. Thấp khớp cấp
D. Viêm nội tâm mạc bán cấp
E. Viêm cầu thận mạn
2. Một bệnh nhân viêm màng não mủ đang điều trị ở khoa lây nhiễm có viêm tai. Viêm tai nào sau đây có nguy cơ nhất gây ra biến chứng viêm màng não mủ này
A. Viêm tai giữa mạn
B. Viêm tai xương chũm mạn
C. Viêm tai xương cũm mạn có cholestesatoma
D. Viêm tai xương chũm mạn tính hồi viêm
E. Viêm tai giữa xuất tiết màng nhĩ đóng kín
Xem thêm

84 Đọc thêm

BẢN TIN Y HỌC CHỨNG CỨ SỐ 2 CHUYÊN ĐỀ

BẢN TIN Y HỌC CHỨNG CỨ SỐ 2 CHUYÊN ĐỀ

Chữ S thứ 5 - hệ thống: các hướng dẫn lâm sàng xây dựng trêncơ sở YHCC. Nguồn tài liệu bao gồm các guildeline của Hoa Kỳ(http://www.guideline.gov), Anh (http://www.elmmb.nhs.uk)...Câu 4: Bơm kháng sinh trực tiếp vào não thất kết hợp kháng sinh tónhmạch ở trẻ sơ sinh có hiệu quả tốt hơn chỉ dùng kháng sinh đường tónhmạch không?Câu 5: Kháng sinh Ceftriaxone liều duy nhất và chia 2 liều/ngày có tácdụng tương đương hay không?Câu 6: Thời gian sử dụng kháng sinh trong viêm màng não mủ?Câu 7: Có nên điều trò dự phòng trên những trẻ sống cùng nhà với trẻbò viêm màng não mủ?Bằng Chứng Y Học Chứng Cứ1. Corticoid có lợi trên bệnh nhân viêm màng não mủ không?Corticoid giúp làm giảm tỉ lệ biến chứng về thính lực và các biếnchứng thần kinh nhưng không làm giảm tỉ lệ tử vong chung trên bệnhnhân viêm màng não mủ.Phân tích tổng hợp 24 nghiên cứu RCT (4041 bệnh nhân viêmmàng não mủ với các tác nhân Hemophilus influenzae, Neisseriameningitidis, Streptococcus pneumoniae) cho thấy corticoid làm giảmrõ tỉ lệ biến chứng nghiêm trọng về thính lực (RR 0.67, 95% CI 0.51 –0.88), giảm tỉ lệ biến chứng thần kinh (RR 0.83, 95% CI 0.69 – 1.0).Tuy nhiên corticoid không làm giảm tỉ lệ tử vong chung (RR 0.74, 95%CI 0.53 – 1.05). Khi phân chia theo nhóm tác nhân gây bệnh, corticoidlàm giảm tỉ lệ tử vong trên bệnh nhân viêm màng não do Streptococcus pneumoniae (RR 0.84, 95% CI 0.72 – 0.98).Khảo sát các tác dụng phụ gây ra do corticoid, bao gồm xuấthuyết tiêu hóa, viêm khớp, nhiễm nấm, nhiễm herpes cho thấy khôngcó sự khác biệt có ý nghóa giữa nhóm có và không sử dụng corticoid.
Xem thêm

8 Đọc thêm

BENH HOC LAO NXB Y HOC 5919

BENH HOC LAO NXB Y HOC 5919

3.2.2.1. Thuyết ngoại sinh: Các tác giả theo trờng phái này cho rằng bệnh laolà do vi khuẩn xâm nhập từ bên ngoài vào (lây từ bệnh nhân). Để bảo vệ choquan điểm của mình, ngời ta đã chứng minh là các nốt vôi (di tích của thời kỳnhiễm lao) không còn vi khuẩn lao. Thờng sau 5 năm các tổn thơng tiênphát không còn khả năng tái triển nữa.3.2.2.2. Thuyết nội sinh: Ngợc lại với quan điểm trên đây, thuyết vi khuẩnnội sinh cho rằng bệnh lao ở ngời lớn là do vi khuẩn từ tổn thơng thời kỳnhiễm lao tái phát trở lại.3.2.2.3. Thuyết nguồn gốc vi khuẩn cả nội sinh và ngoại sinh: Giả thuyết nàycho rằng vi khuẩn có thể tái phát từ tổn thơng cũ và cũng có thể xâm nhập từbên ngoài vào gây bệnh lao. ở các nớc phát triển, bệnh lao ít (ít nguồn lây)thì vi khuẩn nội sinh là chính. Còn ở các nớc đang phát triển (trong đó cónớc ta) bệnh lao còn nặng nề (nguồn lây nhiều), thì vi khuẩn xâm nhập từbên ngoài vào gây bệnh là chủ yếu.3.3. Một số yếu tố thuận lợi dễ mắc bệnh lao3.3.1. Nguồn lây: Những ngời tiếp xúc với nguồn lây nhất là nguồn lâychính dễ có nguy cơ bị bệnh. Trẻ em càng nhỏ tiếp xúc với nguồn lây càng dễ bịbệnh hơn.3.3.2. Trẻ em cha tiêm phòng lao bằng vaccin BCG: Tuy còn có ý kiếnkhác nhau về khả năng bảo vệ của vaccin BCG, nhng hầu nh các công trìnhđều đánh giá là tiêm vaccin BCG giúp cho trẻ em tránh đợc các thể lao nặngnh lao kê, lao màng não... Cần chú ý đến kỹ thuật tiêm và chất lợng củaBCG mới đạt đợc hiệu quả mong muốn.3.3.3. Một số bệnh tạo điều kiện thuận lợi dễ mắc bệnh lao:3.3.3.1. Trẻ em: Suy dinh dỡng, còi xơng, giảm sức đề kháng của cơ thể (saubệnh do virus) là điều kiện thuận lợi mắc bệnh lao.3.3.3.2. Ngời lớn: Một số bệnh tạo điều kiện cho bệnh lao dễ phát sinh và pháttriển là bệnh đái tháo đờng, bệnh bụi phổi, bệnh loét dạ dày - tá tràng ...3.3.3.3. Đại dịch HIV/AIDS là một trong những nguyên nhân làm cho bệnhlao quay trở lại. HIV đã tấn công vào tế bào TCD4, là tế bào Nhạc trởng
Xem thêm

147 Đọc thêm

ÁO NGỰC CHẬT, NHIỀU CHỊ EM BỊ LAO VÚ

ÁO NGỰC CHẬT, NHIỀU CHỊ EM BỊ LAO VÚ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Nguyên nhân là do những lúc khó chịu, họ vô tình đưa tay lên gãi, làm xước, tổn thương ngực và vi khuẩn lao xâm nhập qua con đường này. Chị N.T.V., nhân viên tư vấn bảo hiểm, nói gia đình chị không ai bị bệnh lao nhưng mới đây chị bị viêm tuyến vú, đến Bệnh viện Ung bướu TPHCM khám thì được giới thiệu sang Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, và tại đây kết quả xét nghiệm, chụp X-quang cho thấy chị bị lao tuyến vú. Quá gò ép vòng 1   Không giấu giếm, chị N.T.V. cho biết do vòng một khiêm tốn, chị thường mặc những áo nịt ngực có chức năng nâng, độn ngực. “Tôi không biết vì sao mình lại bị lao vú nhưng một thời gian dài tôi đã mặc áo ngực chật, có chức năng nâng ngực và rất nhiều lần nóng bức, ngứa, tôi lấy tay gãi mà chẳng nghĩ ngợi gì”, chị N.T.V. thổ lộ. Thầy thuốc ưu tú, bác sĩ Trần Đình Thanh, Trưởng Khoa Ung bướu Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, giải thích trang phục quá chặt, bó ép vòng 1, gây nóng bức, ngứa, gãi làm trầy xước da khiến vi trùng lao vô tình có ở tay đi thẳng đến vết thương trên da tuyến vú là một trong ba nguyên nhân dẫn đến lao tuyến vú (đường lây trực tiếp).   Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch cũng từng phát hiện một bệnh nhân nam bị lao tuyến vú do xuất phát từ lao phổi, màng phổi rò vào tuyến vú.   Một nguyên nhân khác là do người ta hít phải vi trùng lao trong không khí vào phổi nhưng chưa thể gây bệnh và trở thành vi trùng lao nội tại trong cơ thể, nằm chờ đến khi nào cơ thể bị mất cân bằng, suy giảm miễn dịch thì vi trùng tấn công.   Khi vi trùng lao nội tại này tới cơ quan nào sẽ gây lao ở cơ quan đó, ví dụ như tới hạch gây lao hạch, tới não gây lao màng não, tới vú thì gây lao vú (đây là cơ chế lây theo đường máu).    (Ảnh minh họa) Nguyên nhân còn lại do bản thân người bệnh đang bị lao phổi, lao xương sườn, từ những ổ lao này vi trùng lao xâm lấn trực tiếp ra mô vú hoặc hạch qua đường rò mủ (đường lây kế cận). Cũng theo bác sĩ Thanh, trong số các bệnh nhân đã được ông khám và điều trị, gần 60% bệnh nhân có thói quen mặc áo ngực chật, nâng ngực.   Nguy cơ ung thư   Mới đây PGS.TS Nguyễn Thị Thu Ba, bộ môn lao và bệnh phổi ĐH Y dược TPHCM, báo cáo có đến 47 trường hợp bệnh nhân lao vú được chẩn đoán xác định và điều trị tại đây.   Riêng thống kê của bác sĩ Thanh thì từ năm 2002 đến nay, ông đã và đang điều trị khoảng 500 bệnh nhân bị lao vú. Do ảnh hưởng thẩm mỹ nên khi bị lao vú, nhiều chị em hoang mang, mất tự tin. Đặc biệt, nếu bị áp-xe tái diễn nhiều lần phải chọc thoát mủ dẫn lưu hay gây tình trạng rò mủ ra da, một số trường hợp đường rò ngóc ngách quá nhiều phải cắt lọc đường rò, đôi khi phải cắt bỏ một phần tuyến vú, gây mất thẩm mỹ cho người bệnh.   Ngoài vấn đề thẩm mỹ, lao vú còn có thể dẫn đến nhiều tình huống nguy hiểm khác. “Nếu lao vú để lâu không điều trị hoặc điều trị không đúng cách có thể rò ngược trở vào lồng ngực, gây lao ở lao màng phổi, lao phổi, thậm chí vi trùng lao vào đường máu và có thể gây lao màng não.   Một số kháng sinh thường dùng cũng ảnh hưởng đến vi trùng lao, việc điều trị không tốt sẽ gây ra lao kháng thuốc, rất nguy hiểm. Do đó, phải phát hiện sớm để kịp thời điều trị và điều trị đúng” - bác sĩ Thanh khuyến cáo.   Các tổn thương lành tính tại vú như viêm nhiễm lâu ngày, tái diễn áp-xe nhiều lần tại vú như lao vú cũng là một yếu tố có nguy cơ phát triển ung thư vú (tuy rất ít).   Theo bác sĩ Thanh, khi phát hiện u vú, chị em nên đến một cơ sở khám có chuyên khoa về tuyến vú như Bệnh viện Ung bướu, Bệnh viện Phụ sản... Nếu tại đó chẩn đoán không phải ung thư mà viêm vú thì nên dè chừng lao tuyến vú.   Việc điều trị lao vú cũng như điều trị lao thông thường theo chương trình chống lao quốc gia là tám tháng khỏi bệnh, tuy nhiên lao ngoài phổi (trong đó có lao màng não, lao xương, lao vú…) thường phức tạp, rất có thể bác sĩ phải điều trị từ chín tháng đến một năm tùy từng trường hợp.   Khi khám và điều trị cho nhiều bệnh nhân bị lao vú, bác sĩ Thanh đều khuyên họ không nên mặc áo ngực trong khi còn tổn thương ở vú, hoặc nếu dùng nên mặc áo ngực thoáng, mát, kích cỡ vừa phải, không gây gò bó cho vòng 1. Với những trường hợp vú bị áp-xe nhiều và rò mủ thì nên để ngực trần.   Với nguyên nhân vi trùng lao xâm nhập qua tuyến vú như trên, bệnh nhân có thể phòng, tránh bằng cách không mặc những loại áo ngực quá gò bó, gây nóng bức và nên vệ sinh tay sạch sẽ trước khi chạm vào vòng 1.   Ngoài ra, nên tầm soát cơ chế lây từ gia đình, như nhà có người thân bị lao phổi, những bệnh lao khác hoặc tầm soát từ chính bản thân có bị lao hay không.
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ PHÂN TỬ CỦA GIUN PHỔI CHUỘT Angiostrongylus cantonensis Ở BẮC NINH VÀ HƯNG YÊN

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ PHÂN TỬ CỦA GIUN PHỔI CHUỘT ANGIOSTRONGYLUS CANTONENSIS Ở BẮC NINH VÀ HƯNG YÊN

Loài giun tròn Angiostrongylus cantonensis, ký sinh ở phổi của vật chủ tự nhiên là các loài chuột, nhưng có khả năng gây bệnh viêm màng não tăng bạch cầu ái toan (Angiostrongyliasis) ở người khi ăn phải ấu trùng cảm nhiễm tuổi 3 (L3) từ vật chủ trung gian là các loài ốc. Ở Việt Nam, nhiều ca bệnh Angiostrongyliasis ở người đã được ghi nhận

7 Đọc thêm

Bài giảng về bệnh quai bị

BÀI GIẢNG VỀ BỆNH QUAI BỊ

Là một bệnh nhiễm virus toàn thân cấp tính đặc trưng bởi viêm các tuyến nước bọt, nhất là tuyến mang tai
Có thể kèm theo viêm tinh hoàn, viêm màng não, viêm tuỵ…
Là một bệnh nhiễm virus toàn thân cấp tính đặc trưng bởi viêm các tuyến nước bọt, nhất là tuyến mang tai
Có thể kèm theo viêm tinh hoàn, viêm màng não, viêm tuỵ…

20 Đọc thêm

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG THỦNG NHÃN CẦU NGHI NGỜ VIÊM MỦ NỘI NHÃN

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG THỦNG NHÃN CẦU NGHI NGỜ VIÊM MỦ NỘI NHÃN

Phác đồ điều trị vết thương thủng nhãn cầu nghi ngờ viêm mủ nội nhãn Phác đồ điều trị vết thương thủng nhãn cầu nghi ngờ viêm mủ nội nhãn Phác đồ điều trị vết thương thủng nhãn cầu nghi ngờ viêm mủ nội nhãn Phác đồ điều trị vết thương thủng nhãn cầu nghi ngờ viêm mủ nội nhãn Phác đồ điều trị vết thương thủng nhãn cầu nghi ngờ viêm mủ nội nhãn Phác đồ điều trị vết thương thủng nhãn cầu nghi ngờ viêm mủ nội nhãn Phác đồ điều trị vết thương thủng nhãn cầu nghi ngờ viêm mủ nội nhãn Phác đồ điều trị vết thương thủng nhãn cầu nghi ngờ viêm mủ nội nhãn Phác đồ điều trị vết thương thủng nhãn cầu nghi ngờ viêm mủ nội nhãn Phác đồ điều trị vết thương thủng nhãn cầu nghi ngờ viêm mủ nội nhãn Phác đồ điều trị vết thương thủng nhãn cầu nghi ngờ viêm mủ nội nhãn
Xem thêm

3 Đọc thêm

Bệnh cúm: Nguyên nhân dịch tễ học, triệu chứng: lâm sàng và cận lâm sàng, tiến triển và biến chứng, chẩn đoán, điều trị

BỆNH CÚM: NGUYÊN NHÂN DỊCH TỄ HỌC, TRIỆU CHỨNG: LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG, TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG, CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ

Bệnh cúm là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây theo đường hô hấp, có khả năng gây dịch lớn do virus cúm gây nên, bệnh biểu hiện bằng triệu chứng viêm long đường hô hấp.Nguyên nhân: Virus cúm hình cầu hay hình sợi, kích thước từ 80 130Nm, nhân có ARN. Dựa vào tính kháng nguyên người ta chia làm 4 tupe: A, B , C, D. Virus cúm có sức đề kháng kém dễ bị biến dị hay phát sinh thành chủng mớiTriệu chứng: Lâm sàng và cận câm sàngTiến triển: thông thường bệnh diễn biến nhanh, sốt 4 5 ngày, các triệu chứng viêm xuất tiết kéo dài hơn và thời kỳ lại sức thường kéo dài tới vài tuần.Biến chứng+ Não, màng não: hôn mê, co giật, liệt hoặc li bì, mê sảng, có hội chứng màng não+ Xuất huyết: nôn ra máu, đái ra máu+ Phù phổi cấp: khó thở, tím tái, ho ra bọt màu hồng.Điều trị thể thông thườngCách li bệnh nhân: cho bệnh nhân nằm riêng, che thêm màn gió, người bệnh phải đeo khẩu trang, không được tiếp xúc với người khỏeCho bệnh nhân nghỉ ngơi, tránh lạnhNhỏ mũi: bằng Ephedrin 3%Hạ sốt: APC, AspirinVitaminThể nặng có biến chứngBù nước và điện giảiTrợ timThở oxyKháng sinhPhòng bệnh: rất khó phòngNhỏ mũi bằng dầu Gomenol 3%, nước tỏiGiảm tập trung đông người trong vụ dịchPhát hiện và cách ly người bệnh
Xem thêm

4 Đọc thêm