BÀI 7 CON NGƯỜI NHÂN CÁCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI 2 TIẾT POT

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "BÀI 7 CON NGƯỜI NHÂN CÁCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI 2 TIẾT POT":

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI

Tịch cực hoá nhân tố con ngời là phát hiện, nh bộc lộ, hình thành và sử dụng tiềm năng sáng tạo của ngời lao động và phát huy nhân tố con ngời chính là chăm lo tạo ra những điều kiện cần[r]

18 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI

Tịch cực hoá nhân tố con ngời là phát hiện, nh bộc lộ, hình thành và sử dụng tiềm năng sáng tạo của ngời lao động và phát huy nhân tố con ngời chính là chăm lo tạo ra những điều kiện cần[r]

18 Đọc thêm

QUAN NIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC (ĐỨC VÀ TÀI) CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC NGÀY NAY

QUAN NIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC (ĐỨC VÀ TÀI) CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC NGÀY NAY

QUAN NIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC (ĐỨC VÀ TÀI) CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC NGÀY NAY

Giảng viên hướng dẫn: ThS. Lê Tuyết Ánh
Sinh viên thực hiện: Nhóm 7
• Lê Duy Phong (Nhóm trưởng)
• Huỳnh Thị Thùy Trang Thanh (Thư ký)
• Bùi Đăng Vương
• Lê Nam Phong
• Nguyễn Huỳnh Thanh Châu
• Vương Phong
• Lê Văn Thừa
• Nguyễn Trung Nhơn
• Hồ Tố Liên
• Nguyễn Thị Chi
• Trần Nhật Ý
• Trần Thị Vân Yên





I. Mở đầu
Kính thưa quý anh chị và các bạn
Trong xu thế hội nhập và phát triển của xã hội, người thầy, người giảng viên có một vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo những ra những kỹ sư, cử nhân không những giỏi chuyên môn mà còn có đạo đức tốt đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế, của xã hội. Chính vì mang trên mình một trọng trách rất lớn, nên người giảng viên luôn được xã hội đặt rất nhiều kỳ vọng từ năng lực chuyên môn đến phẩm chất đạo đức.Với mong muốn tìm hiểu những phẩm chất, những năng lực nào mà người giảng viên cần phải có, cũng như mối liên hệ giữa chúng ra sao trong xã hội hôm nay? Để từ đó chúng ta, những người đã là giảng viên hoặc sẽ trở thành giảng viên trong tương lai cần phấn đấu trao dồi, rèn luyện, chuẩn bị những hành trang cần thiết để làm tốt công việc mà chúng ta đam mê cũng như đáp ứng sự kỳ vọng của xã hội. Chình vì những lí do đó, được sự hỗ trợ của giảng viên, ThS. Lê Tuyết Ánh, nhóm 7 thực hiện tiểu luận “QUAN NIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC (ĐỨC VÀ TÀI) CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC NGÀY NAY”. Do thời gian và năng lực có hạn, cũng như đa phần thể hiện quan điểm cá nhân nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận những ý kiến đóng góp của quý anh chị và các bạn, để tiểu luận được hoàn thành tốt hơn.
II. Quan niệm về tài và đức.
Tài là gì?
Tài là tài năng, năng lực, kỹ năng kỹ xảo của con người trong lao động. Tài là kết quả của nhiều yếu tố : năng khiếu bẩm sinh, sự cần cù trong học tập, sự chăm chỉ rèn luyện trong lao động và cuộc sống. Tài biểu hiện trong lao động chân tay và lao động trí óc.
Đức là gì?
Đức là đạo đức, phẩm chất , nhân cách của một con người. Đức là kết quả của nhiều
Xem thêm

11 Đọc thêm

NGHỊ LUẬN XÃ HỘI ‘GẦN MỰC THÌ ĐEN.GẦN ĐÈN THÌ SÁNG’

NGHỊ LUẬN XÃ HỘI ‘GẦN MỰC THÌ ĐEN.GẦN ĐÈN THÌ SÁNG’

Từ xưa,trong cuộc sống lao động và chiến đấu của mình,nhân dân ta đã rút được biết bao bài học quý giá. Đó là những kinh nghiệm trong sản xuất,chiến đấu và cách ứng xử trong xã hội. Đó là cách nhìn nhận mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách của mỗi người. Câu tục ngữ “Gần mực thì đen,gần đen thì rạng” đã nói lên kinh nghiệm đó. Để nêu lên một bài học,một kinh nghiệm trong cuộc sống,ông cha ta thường mượn hình ảnh một sự vật có liên quan đến con người để thể hiện ý của mình.Mực màu đen,tượng trưng cho những cái xấu xa,những cái không tốt đẹp.Đèn là vật phát ra ánh sáng,soi tỏ mọi vật xung quanh,tượng trưng cho những cái tốt đẹp,sáng sủa.Từ hai hình ảnh tương phản nhau “mực và đèn”,câu tục ngữ đã đưa ra kết luận : “Gần mực thì đen,gần đèn thì rạng”. Đó là quy luật của sự vật.   Dựa vào thực tế cuộc sống của con người,ta thấy câu tục ngữ hoàn toàn đúng khi xét trong mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách mỗi người.Nhưng trong vài trường hợp đặc biệt,có thể gần mực mà không đen,gần đèn mà không rạng.Vì con người có khả năng vượt khỏi hoàn cảnh,chế ngự môi trường xung quanh. Trong thực tế,hai mặt khả năng này không loại trừ nhau mà chúng bổ sung cho nhau,giúp chúng ta hiểu một cách đầy đủ về mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách. Trong kho tàng văn học dân gian,nhân dân ta có câu tương tự : Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài Và : Thói thường gần mực thì đenAnh em bạn hữu phải nên chọn người. Những câu ca dao,tục ngữ đó đã khẳng định ảnh hưởng quyết định của môi trường xã hội đối với việc hình thành nhân cách.Trong thực tế cuộc sống,nhà trường làm công tác giáo dục tốt vì nhà trường đã chú ý đến quang cảnh sư phạm và xây dựng môi trường xã hội tốt.Ở gia đình cũng vậy, cha mẹ là những tấm gương sáng,anh chị em hòa thuận, thì gia đình sẽ có những người con ngoan. Ở lớp học cũng thế,lớp nào biết quan tâm xây dựng tập thể tốt,quan hệ giữa thầy và trò,bạn bè đúng đắn,thân ái đoàn kết, thì lớp đó có nhiều học sinh giỏi,đạo đức tốt.Gần gũi hơn,trong quan hệ bạn bè,nếu ta chơi với một người bạn tốt,chăm ngoan,học giỏi,thì chúng ta sẽ học tập được những đức tính tốt ấy và sẽ trở thành người tốt.Ngược lại,trong một gia đình,nếu cha mẹ không quan tâm đến con cái,anh em không nhường nhịn nhau,thì con cái trong gia đình cũng dễ lười biếng,ăn chơi,đua đòi. Ở những môi trường xã hội phức tạp càng dễ sinh ra những hành vi phạm pháp. Trong thực tế,khó mà tạo ra một môi trường hoàn toàn lành mạnh và tốt đẹp.Trong xã hội cũ cũng như trong xã hội chúng ta ngày nay,những yếu tố lành mạnh và chưa lành mạnh, tốt đẹp và xấu xa thường xen kẽ vào nhau để cùng tồn tại và phát triển. Có lúc, có nơi, cái chưa lành mạnh, cái chưa tốt đẹp lại lấn át cái đẹp, cái lành mạnh. Đó là lúc môi trường xã hội không thuận lợi cho việc hình thành nhân cách. Nhưng chính trong môi trường không thuận lợi ấy,vẫn có những con người có phẩm chất cao đẹp,có tình cảm đạo đức tốt đẹp,có những hành động cao cả.Chính trong môi trường không thuận lợi đó vẫn nở rộ những bông sen thơm ngát từ chốn bùn đen hôi tanh.Đó là những con người biết vượt lên trên mọi cám dỗ thấp hèn,làm được những việc có ích cho đất nước và cho chính bản thân mình. Ngày nay, trên đất nước ta còn nhiều hiện tượng tiêu cực,mặc dù chế độ ta về cơ bản là tốt đẹp. Do đó,bất cứ lúc nào, vẫn có những trường hợp gần mực mà không đen,gần đèn mà vẫn tối tăm. Sống trong môi trường tốt đẹp,nhưng chúng ta vẫn phải tiếp xúc với những hiện tượng không lành mạnh, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Câu tục ngữ là một lời khuyên bảo sâu sắc,đã mang đến cho chúng ta một bài học bổ ích,có cách nhìn đúng đắn về mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách của bản thân.Câu tục ngữ giúp chúng ta xác lập một thế đứng vững chắc trước những tác động tiêu cực ngoài xã hội và nếu bị rơi vào một hoàn cảnh không thuận lợi,đầy rẫy những tiêu cực thì chúng ta nên có quyết tâm vượt qua.Nó giúp chúng ta có tinh thần cảnh giác trước những tác động tiêu cực của môi trường xung quanh để luôn luôn “gần mực mã vẫn không đen” và chúng ta nên có ý chí quyết tâm trở thành một ngọn đèn luôn luôn tỏa sáng. loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nghị luận xã hội về “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” ”

NGHỊ LUẬN XÃ HỘI VỀ “GẦN MỰC THÌ ĐEN, GẦN ĐÈN THÌ RẠNG” ”

Mỗi một câu tục ngữ đều ẩn chứa trong đó một bài học mà người xưa đúc kết để lại, truyền dạy cho con cháu. “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” chính là kinh nghiệm từ cuộc sống của ông cha ta. Nó thể hiện mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách con người.

3 Đọc thêm

X ÂY DỰNG THANG ĐO ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘSTRESS TRONG CÔNG VIỆC CỦA GIÁO VIÊNMẦM NON

X ÂY DỰNG THANG ĐO ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘSTRESS TRONG CÔNG VIỆC CỦA GIÁO VIÊNMẦM NON

những luồng thông tin truyền dẫn giữa những thành viên. Mỗi gia đình tạo ra một mối liên
quan riêng tùy thuộc vào văn hóa xã hội, lịch sử và những tính chất riêng của gia đình đó.
Những mối liên quan này có thể linh hoạt hoặc cứng nhắc giữa các thành viên với nhau,
giữa các tiểu hệ thống bên trong gia đình, và giữa gia đình với các hệ thống lớn hơn bên
ngoài (làng xóm, phố phường…) mà ranh giới giữa gia đình và bên ngoài có thể trở nên
đóng kín hay mở rộng.
Gia đình là một giao diện (interface) giữa cá nhân và xã hội, là một thể chế thiết yếu làm
trung gian giữa mục tiêu sinh lý và văn hóa xã hội trong sự hình thành nhân cách của mỗi cá
nhân.
Sự ảnh hưởng lẫn nhau trong gia đình đi theo những vòng cung phản hồi của mối quan hệ
nhân quả mà trong đó những sự kiện đơn lẻ được quan niệm vừa là nguyên nhân, vừa là kết
quả, và có sự tác động hỗ tương giữa các sự kiện với nhau.
Xem thêm

20 Đọc thêm

Những tác động của cơ chế thị trường đến nhân cách con người – Tiểu luận

NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG ĐẾN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI – TIỂU LUẬN

A Nhân cách là gì?
Nghiên cứu về nhân cách và tính quy luật của sự hình thành nhân cách chúng ta thấy rằng:con người khi mới sinh ra chưa phải là một nhân cách,ở đó nó chỉ mang tiềm năng của một con người,của moọt cá nhân hình thành lên một nhân cách.còn nhân cách chỉ được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động xã hội,trong mối quan hệ nhiều chiều giữa cá nhân với gia đình và xã hội.
Vậy nhân cách là gì?
Nhân cách được hiểu toàn diện là đạo đức và tài năng, năng lực thể chất và năng lực tinh thần.Đó là sự thống nhất giữa mặy cá nhân với mặt xã hội ở trong mỗi con ngườicá nhâncụ thể là phẩm chất,xu hướng,khă năng,phong tháI,hành vi…bên trong,riêng biệt của mỗi cá nhân nói lên sự khác nhau giữa cá nhân này với cá nhân khác”không có nhân cách nào hoàn toàn giống nhân cách nào”.Nhân cách được hình thành và phát triển phụ vào 3 yếu tố:
Thứ nhất:Nhân cách phảidựa trên tiền đề sinh học và tư chất di truyền học.
Thứ hai:Môi trường xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách.Đó là môi trường gia đình,trường học và xã hội,môi trường này có thể tác độnh trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc hình thành và phát triển nhân cách.Quan hệ giữa cá nhân và môi trường xã hội là quan hệ biện chứng.
Thứ ba: Hạt nhân của nhân cách là thế giới quan cá nhân bao gồm toàn bộ quan điểm,ly luận,niềm tin…
Xem thêm

12 Đọc thêm

Tiểu luận môn Báo chí và Thông tin Đối ngoại BÀN VỀ TỰ DO BÁO CHÍ

TIỂU LUẬN MÔN BÁO CHÍ VÀ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI BÀN VỀ TỰ DO BÁO CHÍ

Chủ đề 6: BÀN VỀ TỰ DO BÁO CHÍ

I. KHÁI NIỆM VỀ TỰ DO VÀ TẤT YẾU
Đây là 2 phạm trù triết học. Để hiểu tự do và tất yếu một cách khoa học thì chúng ta phải dựa vào sự thừa nhận mối quan hệ qua lại một cách biện chứng hữu cơ giữa chúng.
1. Tự do là gì?
Có rất nhiều khái niệm về tự do được đưa ra từ trước đến nay.
Theo John Locke ( nhà chính trị học, triết học người Anh thế kỉ 17 ), “ Tự do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kì cản trở nào”.
 Đây là định nghĩa nguyên thủy nhất về tự do, và tự do ở đây mang tính bản năng. Tuy nhiên, định nghĩa này có những hạn chế nhất định, thể hiện ở chỗ nếu tự do chỉ thuần túy là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào thì sẽ có rất nhiều người nhân danh tự do để thỏa mãn những mong muốn hay tham vọng cá nhân của mình, phá hoại trật tự xã hội, và do đó, làm phương hại đến sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng.
Theo Spinoza ( nhà toán học, triết học người Hà Lan vào thế kỉ 17 ), “ tự do là sự nhận thức được tính tất yếu”
 Ông đã đề cập đến tự do trong mối quan hệ với cái tất yếu : con người càng nhận thức một cách chính xác, rõ ràng và toàn diện về cái tất yếu bao nhiêu thì càng tự do bấy nhiêu.
Chỉ đến triết học Mác – Lenin mới chỉ rõ một cách khoa học và thấu đáo về cặp phạm trù triết học này. Họ đề cập đến “ tự do tất yếu” trong mối quan hệ với “trách nhiệm”. Ăngghen chỉ rõ : “không thể bàn luận về đạo đức và quyền hạn nếu không bàn tới vấn đề về khả năng chịu trách nhiệm của con người, về mối quan hệ giữa tất yếu và tự do …” Con người càng nhận thức được trách nhiệm càng có tự do, và khi có tự do thì phải gắn liền với trách nhiệm.
Đây là mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau.
2. Cái tất yếu
Cái tất yếu được hiểu là các quy luật tự nhiên và xã hội
Xem thêm

16 Đọc thêm

Hướng dẫn bài : Luyện tập về lập luận phân tích

HƯỚNG DẪN BÀI : LUYỆN TẬP VỀ LẬP LUẬN PHÂN TÍCH

LUYỆN TẬP VỀ LẬP LUẬN PHÂN TÍCH I. KIẾN THỨC CƠ BẢN (Xem bài trước) II. DÀN BÀI GỢI Ý Đề 1 Viết đoạn văn bàn về được và mất ở đời. Mở đoạn: - Trong cuộc sống ai cũng mong “được” và chẳng ai muốn “mất”. - Nhưng trong cuộc sống, có những điều “được” “mất” là lâu dài thậm chí vĩnh viễn, lại có điều “được” là “mất”, “mất” là “được”. Thân đoạn: - “Được” tri thức, kinh nghiệm…là cái “được” lâu dài. - “Mất” tuổi trẻ, danh dự…là “mất” lâu dài, vĩnh viễn. - “Được” thành công mà sinh tự phụ là “mất”: mất chí tiến thủ, mất sự khiêm nhường… - “Mất” trong một số trường hợp mà giúp con người có thêm bài học quý, biết vươn lên…ấy là “được”. Kết đoạn:  “Được”, “mất” ở đời khôn lường, khó đoán, con người phải biết đâu là chân giá trị để trân trọng và nắm bắt. Đề 2  Viết đoạn văn bàn về tự ti, tự phụ và tự trọng. Mở đoạn:  Cùng là thái độ “Tự” ý thức về mình song bộ ba tự ti, tự phụ, tự trọng lại mang ba sắc thái khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Thân đoạn: - Tự ti là mặc cảm về bản thân mình, từ đó tự hạ thấp mình, khép kín; Tự phụ là thái độ kiêu căng, tự cho mình tài giỏi, từ đó coi thường người khác; Tự trọng là đánh giá đúng bản thân và người khác, luôn nỗ lực vươn lên để tự khẳng định mình. - Tự ti, tự phụ đều có nhiều tác hại hạn chế sự phát triển của cá nhân và tập thể. Chỉ có tự trọng mới giúp con người hoàn thiện nhân cách. Kết đoạn:  Mỗi cá nhân cần xây dựng cho mình lòng tự trọng. Đề 3 Viết đoạn văn phân tích mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể. Mở đoạn: - Giữa cái bộ phận và cái toàn thể luôn có mối quan hệ qua lại khăng khít, tác động lẫn nhau. - Xã hội loài người thể hiện rõ nhất mối quan hệ ấy. Thân đoạn: - Mỗi cá nhân đều có điểm mạnh và điểm yếu, song không thể tự mình làm tất cả mọi thứ. - Gắn với cộng đồng, các cá nhân tự bổ sung cho nhau, giúp nhau hoàn thiện. - Cá nhân mạnh thúc đẩy tập thể phát triển; tập thể phát triển tạo điều kiện cho cá nhân phát triển. Kết đoạn: - Con người phải biết gắn bó, hoà đồng, xây dựng tập thể.
Xem thêm

2 Đọc thêm

TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY Ý THỨC XÃ HỘI – MỐI QUAN HỆ GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VỚI Ý THỨC XÃ HỘI

TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY Ý THỨC XÃ HỘI – MỐI QUAN HỆ GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI VỚI Ý THỨC XÃ HỘI

Bài 1: Ý thức xã hôi
1.2. Ý thức xã hội, mối quan hệ giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cuộc sống của con người cần có vật chất và tinh thần. Trong triết học gọi đời sống vật chất và tinh thần là tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Các yếu tố chính tạo thành tồn tại xã hội là phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số.
Vậy thì ý thức xã hội đại diện cho mặt đời sống tinh thần được hiểu như thế nào? kết cấu của nó ra sao? mối quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội như thế nào? Tất cả những câu hỏi đó tôi cùng các bạn sẽ giải đáp trong ngày hôm nay,chúng ta cùng tìm hiểu phần 2 của bài đó là: “Ý thức xã hội – mối quan hệ giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội”.
A. Muc đích và yêu cầu của bài giảng
1. Mục đích
Nêu được nội dung khái niệm ý thức xã hội.
Nhận biết được mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
2. Yêu cầu
Hiểu được nội dung các khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, từ đó chúng ta cần ủng hộ các chính sách môi trường, dân số của Nhà nước.
Biết tiếp thu các quan điểm tiến bộ, phê phán các hiện tượng ý thức, tư tưởng lạc hậu.
B. Kết cấu nội dung bài giảng
1. Ý thức xã hội
1.1. Định nghĩa
1.2. Kết cấu của ý thức xã hội
1.3. Tính giai cấp của ý thức xã hội
2. Mối quan hệ tồn tại xã hội với ý thức xã hội
2.1. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
2.2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
C. Phương pháp giảng và đồ dùng dạy học
Áp dụng một số phương pháp giảng dạy tích cực nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của người học, như:
Phương pháp thuyết trình (chủ yếu)
Phương pháp phỏng vấn nhanh
Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp nêu vấn đề nghiên cứu
Bên cạnh đó, còn sử dụng phương tiện dạy học hiện đại là: phần mềm trình chiếu Microsoft Office PowerPoint.
Đồ dùng dạy học gồm có: bảng, phấn, máy chiếu.
D. Tài liệu phục vụ soạn giảng
1. Giáo trình triết học Mác – Lê nin (dùng trong các trường đại học, cao đẳng), Bộ giáo dục và đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006
2. Giáo trình trung cấp lý luận chính trị môn triết học Mác – Lê nin, Nhà xuất bản lý luận chính trị, Hà Nội, 2004
E. Các bước lên lớp
Xem thêm

35 Đọc thêm

Nghị luận xã hội về vai trò của giáo dục

NGHỊ LUẬN XÃ HỘI VỀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC

Đề bài: Chị (anh) hãy phân tích câu nói của Bác Hồ “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên.” Từ đó rút ra kết luận cho bản thân. Bài làm Sinh thời Bác Hồ kính yêu của chúng ta luôn quan tâm tới công tác chăm sóc, bồi dưỡng, giáo dục. Cùng với việc nhấn mạnh đến vấn đề học tập của các thế hệ thanh, thiếu niên; Bác Hồ cũng đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục đạo đức. Bác đã từng nói: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “ hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Cũng trong bài thơ “Nửa đêm” ( Nhật ký trong tù ) Bác đã khẳng định: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Hai câu thơ đã thể hiện quan điểm của Bác về sự hình thành và phát triển nhân cách của con người dưới sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền và giáo dục. Từ đó, mỗi chúng ta cần rút ra những bài học cho bản thân về rèn luyện nhân cách. Câu nói trên chính là sự chiêm nghiệm của Bác về con người. Trước hết, Bác phủ nhận quan điểm cho rằng, đức tính con người là “tính sẵn”, là do tiền định. Hồ Chí Minh phủ định để rồi đi đến khẳng định: khi mới sinh ra con người ta vốn mang bản chất là tốt nhưng chỉ sau do ảnh hưởng phần nhiều của sự giáo dục và môi trường sống( vì bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội) cùng sự phấn đấu, rèn luyện của mỗi cá nhân mà hình thành những con người thiện, ác khác nhau. Như trong câu nói của người xưa trong Tam Tự Kinh: “Nhân chi sơ, tính bản thiện” nghĩa là con người sinh ra bản chất là tốt. Theo Hồ Chí Minh chính sự tác động, sự giáo dục của xã hội cùng với khả năng và sự tiếp nhận của mỗi cá nhân đã làm nên bản chất thiện hay ác của mỗi con người trong xã hội. Có thể nói đây cũng chính là quan điểm cơ bản của Người về bản chất quá trình xã hội hoá cá nhân. Đó là quá trình tương tác qua lại liên tục giữa một bên là xã hội và một bên là cá nhân. Người không hoàn toàn tuyệt đối hoá vai trò tác động của xã hội hay vai trò tiếp nhận của cá nhân trong quá trình này. Điều quan trọng tuỳ từng điều kiện cụ thể với từng cá nhân cụ thể mà vai trò đó được thể hiện ở các mức độ khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau. Khi nói về sự tác động của xã hội, Người đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò giáo dục của xã hội, nhất là với lớp người trẻ. Người cho rằng để mỗi con người trở thành một người thiện, một công dân tốt, có ích cho xã hội thì sự tác động của xã hội, đặc biệt là quá trình giáo dục có một ý nghĩa thật to lớn. Nội dung hai câu thơ trên đã thể hiện đầy đủ nhất những suy nghĩ của Người về vai trò của di truyền và vai trò giáo dục trong quá trình phát triển nhân cách. Kẻ hiền, người dữ trên đời đều không phải khi sinh ra đã là như thế, mà đó là kết quả trực tiếp của sự giáo dục trong xã hội: “Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Quan điểm này cũng hướng đến mục tiêu: nếu xã hội chúng ta muốn có nhiều người hiền tài, hạn chế những điều ác, thì xã hội cần quan tâm đến việc giáo dục, đến việc đào tạo thế hệ mai sau. Từ hai câu thơ này, ta thấy có một số vấn đề được thể hiện rõ nét: Thứ nhất, tác giả đưa ra vai trò của yếu tố di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách. Di truyền là sự tái tạo lại ở trẻ những thuộc tính sinh học nhất định của cha mẹ. Đó là sự truyền lại từ cha mẹ đến con những thuộc tinh và những đặc điểm sinh học nhất định đã được ghi lại trong chương trình của hệ thống gien. Di truyền đóng vai trò quan trọng là tiền đề vật chất tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển nhân cách. Di truyền có liên quan đến việc hình thành các năng lực hoạt động trong các lĩnh vực nhất định như kinh tế, khoa học, nghệ thuật, thể dục thể thao… Di truyền không quy định xu hướng phát triển nhân cách của các cá nhân, cũng như không giới hạn trình độ phát triển của nhân cách. Nhưng trong mỗi cá nhân con người đều có những năng lực tiềm ẩn. Làm thế nào để phát hiện, khơi dậy và phát huy những năng lực ấy? Đó là một trong những mục đích cao cả của giáo dục, của các nhà trường, các nhà giáo, vì con người và cho con người. Thứ hai, tác giả nêu bật giáo dục là yếu tố chủ đạo trong việc hình thành và phát triển nhân cách, bởi giáo dục có những đặc điểm và tính chất ưu việt của nó. Giáo dục là quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, thông qua hoạt động và quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội của loài người. Giáo dục là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về đạo đức, tư tưởng, hành vi nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, thái độ, hành vi, thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội. Câu ca dao : ” Con ơi muốn nên thân người , Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha .” thêm một lần nữa khẳng định quan điểm đúng đắn trên. Đứa con, một cá thể, muốn có nhân cách (nên thân người), nhất thiết phải được hưởng sự giáo dục của những thế hệ đi trước (lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha). Mẹ cha ở đây là đại biểu đại diện cho nền văn minh xã hội. Bởi vậy, giáo dục được xem là yếu tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất và sâu sắc nhất. Cũng chính vì thế, Sainte Vremod cũng đã từng nói: “Nếu được giáo dục chu đáo không con người nào không có cái tốt, cái tuyệt hảo” .Nhưng sự hình thành và phát triển nhân cách là kết quả phối hợp, cộng hưởng của nhiều nhân tố tác động. Yếu tố giáo dục chỉ có thể phát huy được tác dụng khi có sự hỗ trợ, phối hợp với các yếu tố khác. Vì vậy, giáo dục không phải là yếu tố vạn năng, là tất cả, mà chỉ là “phần nhiều”, phần chủ đạo trong các yếu tố trên. Ta biết rằng, hoạt động giáo dục có tính ưu việt cao. Tính ưu việt ấy thể hiện ở chỗ, nó không những không phủ nhận mà còn phát huy những lợi thế của các yếu tố bẩm sinh di truyền, của hoàn cảnh sống, bù đắp sự thiếu hụt và khiếm khuyết của các yếu tố trên, tạo điều kiện cho cá nhân thông qua các hoạt động giao lưu mà tự rèn luyện và giáo dục mình. Tuy nhiên, dù có tính ưu việt trội bật, yếu tố giáo dục vẫn không thể thay thế được các yếu tố khác. Bởi thế, ta càng thấy Bác dùng chữ “phần nhiều” thật chính xác. Mặt khác, quá trình hình thành và phát triển nhân cách thực chất là sự tác động qua lại giữa các nhân tố bên trong, bên ngoài, các nhân tố khách quan và chủ quan. Vì vậy, cần có sự nỗ lực, tích cực, tự giác, ý thức vươn lên tự hoàn thiện mình của mỗi cá nhân. Như Edison đã chỉ ra: “Thiên tài chỉ có 1/100 là linh cảm còn 99% là mồ hôi và nước mắt”. Hai câu thơ tuy ngắn gọn nhưng súc tích của Hồ Chủ Tịch trích“Nhật ký trong tù” cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị. Qua đó, đã làm sáng tỏ về vai trò của di truyền và giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Với tác động tích cực của môi trường bên ngoài trong đó giáo dục đóng vai trò quan trọng không nhỏ trong việc hình thành nhân cách con người. Nội dung hai câu thơ cũng phát họa lên bức tranh xã hội trong đó có cái đẹp ngày càng lấn át cái xấu; riêng con người luôn vươn lên, hoàn thiện, chiến thắng những thói hư, tật xấu trong chính bản thân mình để hướng đến giá trị “chân - thiện - mỹ - ích”, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp, nhân văn hơn. Từ hai câu thơ của Bác đã gợi lên nhiều điều suy nghĩ cho học sinh, sinh viên chúng em và đặc biệt với những nhà giáo dục của nước ta. Là những học sinh, sinh viên, thế hệ trẻ của đất nước, những chủ nhân tương lai vào thế kỷ 21 trong xu thế “toàn cầu hóa” trên tinh thần chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trước hết chúng em cần phải ý thức được tầm quan trọng của giáo dục đối với tương lai của chính bản thân mình và cho toàn xã hội. Giáo dục định hướng cho những tương lai của đất nước những hướng đi, những nhận thức đúng đắn, sáng suốt, những tri thức khoa học, xã hội,… để từ đó mỗi chúng em có những trang bị cần thiết cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh “Non sông VN có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc VN có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (Hồ Chí Minh ). Hơn nữa, tự bản thân cần phải chăm chỉ học tập, nâng cao ý thức tự học, vạch ra và thực hiện những kế hoạch phát triển bản thân, không ngừng học hỏi và trau dồi rèn luyện kiến thức chuyên môn, kĩ năng, kĩ xảo, nâng cao khả năng sáng tạo đồng thời rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỉ luật, kĩ năng sống, giúp đỡ bạn bè cùng nhau tiến bộ, tích cực tham gia các hoạt động xã hội nhằm nâng cao khả năng giao tiếp và mở rộng các mối quan hệ. Ngoài những yếu tố trên còn cần phải rèn luyện sức khỏe để trở thành con người khỏe mạnh, không ngại khó khăn có niềm tin hơn vào chính mình và cuộc sống. "Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”. Nhờ có câu nói này của Bác, bản thân em đã chăm chỉ rèn luyện sức khỏe và khả năng nhanh nhạy hơn trong trong học tập và nhận thức. Những điều đó giúp em phát triển toàn diện, có đức, có tài, chân-thiện-mĩ. Và sau này có thể trở thành một nhà giáo thì bản thân phải là tấm gương tốt ,xây dựng một môi trường giáo dục cần có sự kết hợp của giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội đồng thời không ngừng nâng cao khả năng, kĩ năng, tiếp cận khoa học kĩ thuật, rèn luyện phẩm chất một nhà giáo, quan tâm tới học sinh để có thể phát hiện ra những khả năng của học sinh để từ đó có phương pháp giáo dục sao cho hợp lí, tổ chức cho học sinh hoạt động và giao lưu, tạo điều kiện để học sinh phát triển trong tập thể và cùng với tập thể. Giáo dục là hoạt động suốt đời, vì thế trong bài nói chuyện tại lớp học chính trị các giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc tháng 9 năm 1958, Bác đã đưa ra“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Mỗi cá nhân đều phải tự rèn luyện bản thân, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để trở thành một con người phát triển toàn diện, một công dân có ích cho xã hội trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (Sưu tầm)
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phân tích tại sao nói nhóm tổ chức xã hội đã chi phối hoạt động hành vi của cá nhân

PHÂN TÍCH TẠI SAO NÓI NHÓM TỔ CHỨC XÃ HỘI ĐÃ CHI PHỐI HOẠT ĐỘNG HÀNH VI CỦA CÁ NHÂN

Phân tích tại sao nói nhóm tổ chức xã hội đã chi phối hoạt động hành vi của cá nhânMỤC LỤCCâu 1: Phân tích tại sao nói nhóm tổ chức xã hội đã chi phối hoạt động hành vi của cá nhânI.KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI TỔ CHỨC XÃ HỘI1.Khái niệm tổ chức xã hội2.5 dấu hiệu đặc trưng cơ bản của tổ chức xã hội3.Phân loại tổ chức xã hộiII.TỔ CHỨC XÃ HỘI CHI PHỐI HOẠT ĐỘNG HÀNH VI CỦA CÁC CÁ NHÂN1.Tổ chức xã hội đã chi phối tòan diện đến hoạt động của các cá nhân2.Tổ chức xã hội đã chi phối đến tư tưởng , tác phong đạo đức của các thành viên .3.Tổ chức xã hội được xem như là một thể chế xã hội, một phương thức quản lý hay như một thuộc tính xã hội4.Đối với mỗi cá nhân trong xã hội, tổ chức xã hội là chỗ dựa cả về vật chất và tinh thần cho các thành viênCâu 2: Phân tích tại sao nói thiết chế xã hội đã chi phối hoạt động hành vi của cá nhânI.KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA THIẾT CHẾ XÃ HỘI1.Khái niệm thiết chế xã hội2.Các đặc trưng cơ bản của thiết chế xã hội3.Các loại thiết chế xã hộiII.THIẾT CHẾ XÃ HỘI CHI PHỐI CÁC HOẠT ĐỘNG VÀ HÀNH VI CỦA CÁC CÁ NHÂN1.Thiết chế xã hội quy đinh hành vi2.Thiết chế xã hội định hướng vai trò xã hội cá nhân.3.Thiết chế xã hội đem lại long tin, sự ổn định và kiên định cho các thành viên xã hội4.Thiết chế xã hội điều chỉnh và kiểm soát hành vi của các cá nhân DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO1.Giáo trình “ Xã hội học” nhà xuất bản đại học kinh tế quốc dân 20132.Trang web: tailieu.vn3.luanvan.net.vnCÂU 1: Phân tích tại sao nói nhóm tổ chức xã hội đã chi phối hoạt động hành vi của cá nhânI.KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI TỔ CHỨC XÃ HỘI1.Khái nhiệm tổ chức xã hộiTổ chức xã hội là một hệ thống các quan hệ, tập hợp liên kết các cá nhân nào đó để hoạt động xã hội , nhằm đạt được mục đích nhất định về quyền lợi và lợi ích xã hội. => Như vậy, khái niệm tổ chức xã hội của xã hội học nhấn mạnh đến hệ thống các quan hệ liên kết cá nhân chứ không phải dừng lại ở hình thức của một tập hợp các cá nhân nào đó và quan hệ ở đây là quan hệ xã hội.2.5 dấu hiệu đặc trưng cơ bản của tổ chức xã hội Tổ chức xã hội được lập ra có chủ định và các thành viên của nhóm đó ý thức được rằng nhóm của họ tồn tại để đạt được mục đích nhất định nào đóTổ chức xã hội phải có sự thể hiện cụ thể các quan hệ quyền lực xã hội , tức là có quan hệ lãnh đạo – phục tùng , có những cá nhân có khả năng điều chỉnh hành vi, thái độ của người khác thuộc nấc thang quyền lực thấp hơn Cùng với hệ thống các quan hệ quyền lực , tổ chức xã hội là một tập các vị thế và vai trò. Mỗi thành viên của một tổ chức có vị thế xác định trong nhóm. Họ đã là thành viên của tổ chức thì bao giờ họ cũng được trao những trách nhiệm và quyền hạn nhất định dù họ có là những người đứng thấp nhất trong thanh bậc quyền lực của tổ chức.Vai trò của thành viên và tổ chức xã hội được thực hiện theo yêu cầu mong đợi của tổ chức. Trong một tổ chức luôn có những quy tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa các vai trò để cho các hoạt động của tổ chức được thực hiện một cách nhịp nhàng hơn.Phần lớn các mục đích và các mối quan hệ của tổ chức đựợc chính thức công khai. Không chỉ lãnh đạo mà các thành viên thậm chí cả người ngoài tổ chức đều có thể biết đến mục đích và phần nhiều các hoạt động của tổ chức. Do vậy các thành viên thực hiện và giám sát sự thực hiện của các thành viên khác.3.Phân loại tổ chức xã hội Căn cứ vào mức độ hình thức hóa của tổ chức:+ Tổ chức chính thức: là tổ chức có quy tắc tổ chức chặt chẽ và được pháp luật thừa nhận ( có thể mang tư cách pháp nhân); có những chức năng rõ nét, thể hiện ở những nghĩa vụ,những quyền hạn của các thành viên , có những công cụ điều tiết trở thành các chuẩn mực hành vi của mỗi thành viên, có những mối liên hệ theo thứ bậc của các chức vụ cũng như liên hệ chức năng trong tổ chức + Tổ chức không chính thức : là tổ chức không có quy tắc chặt chẽ , không có sự thừa nhận của pháp luật . Tổ chức không chính thức hình thành một cách tự phát ở bên trong hay bên ngoài tổ chức chính thức.Căn cứ vào mục tiêu:+ Tổ chức xã hội có tổ chức : là tổ chức được thừa nhận của luật pháp, có tư cách pháp nhân hoạt động trong xã hội + Tổ chức không có tổ chức: còn gọi là tổ chức tự phát gồm có tổ chức liên hợp và tổ chức cư trú . Tổ chức liên hợp với mục tiêu chung trùng hợp với mục tiêu cá nhân , các chức năng điều tiết hình thành một cách tự phát theo những chuẩn mực và giá trị tập thể, ít hoặc không chính thức chịu sự chi phối của luật pháp. Tổ chức cư trú được hình thành từ những người những gia đình ở chung với nhau trên một địa điểm nhằm giải quyết những vấn đề có liên quan với sinh hoạt chung và những liên hệ xóm giềng ổn định.Những loại tổ chức này có liên quan mật thiết với nhau. Trong thực tế nhiều trường hợp còn lồng ghép vào nhau để tăng cường và bổ sung lẫn nhau trong hoạt động xã hội , ví dụ như các đoàn thể xã hội trong cơ quan.II.TỔ CHỨC XÃ HỘI CHI PHỐI HOẠT ĐỘNG HÀNH VI CỦA CÁC CÁ NHÂN1.Tổ chức xã hội đã chi phối tòan diện đến hoạt động của các cá nhânTổ chức xã hội đã tạo ra các hoạt động để thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân về lợi ích và bảo vệ lợi ích cho họ. Mỗi cá nhân tham gia tổ chức hoặc là với mục đích tạo ra lợi ích cho họ , hoặc là với mục đích bảo vệ lợi ích của họ hoặc là thỏa mãn nhu cầu nào đó của họ. Do vậy , họ hội tụ trong tổ chức và chấp nhận sự chi phối của tổ chức là để đạt được mục đích của mình.2.Tổ chức xã hội đã chi phối đến tư tưởng , tác phong đạo đức của các thành viên .Tổ chức xã hội thông qua duy trì kỷ luật lao động và kỷ luật sống, và qua đó tác động đến nhân cách của họ. Tổ chức xã hội đã tạo ra các hoạt động văn hóa xã hội để liên kết chặt chẽ các cá nhân trong truyền thống văn hóa , các hoạt động xã hội nhằm tạo ra sự đồng cảm xã hội, sự yêu thương đoàn kết đùm bọc lẫn nhau và sự bình an ổn định của mỗi thành viên ,3.Tổ chức xã hội được xem như là một thể chế xã hội, một phương thức quản lý hay như một thuộc tính xã hội.Hình thức của tổ chức xã hội luôn luôn thay đổi cùng với những thay đổi khách quan của hoàn cảnh xã hội và sự thay đổi chủ quan của bản thân con người. Hướng chủ yếu của sự thay đổi về tổ chức là quá trình dân chủ hóa tổ chức .Mọi xã hội dân chủ đều là xã hội có tổ chức , không thể có dân chủ ở một xã hội vô tổ chức , vô chính phủ.4.Đối với mỗi cá nhân trong xã hội, tổ chức xã hội là chỗ dựa cả về vật chất và tinh thần cho các thành viênTổ chức xã hội là cầu nối giữa các cá nhân và xã hội , là nơi các cá nhân thể hiện các giá trị xã hội của mình . Tổ chức xã hội trong chừng mực nhất định đã tạo ra các đối trọng xã hội nhằm cân bằng các mối quan hệ xã hội cho các thành viên.CÂU 2: Phân tích tại sao nói thiết chế xã hội đã chi phối hoạt động hành vi của cá nhânI.KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA THIẾT CHẾ XÃ HỘI1.Khái niệm thiết chế xã hộiThiết chế xã hội là hình thức cộng đồng và hình thức tổ chức con người trong quá trình tiến hành các hoạt động xã hội. Thiết chế xã hội chính là các rang buộc được mọi cá nhân nhóm cộng đồng và toàn thể xã hội chấp nhận và tuân thủ.Thực chất của thiết chế xã hội chính là hệ thống các quy định xã hội tạo thành khuôn mẫu chuẩn mực cho hành động xã hội. Thiết chế xã hội là phương thức tổ chức và nguyên tắc vận hành xã hội nhằm duy trì và bảo vệ các giá trị, chuẩn mực xã hội để thực hiện thành công các mục tiêu xã hội qua các bước phát triển xã hội Mục tiêu của thiết chế xã hội là duy trì bảo vệ các giá trị chuẩn mực xã hội theo thời gian đã được kiểm chứng và thừa nhận; nó biểu hiện nhu cầu và mong muốn chung của đại bộ phận các tầng lớp trong xã hội => là một tập hợp bền vững của các giá trị chuẩn mực, vị thế, vai trò và nhóm vận động xung quanh một nhu cầu cơ bản của xã hội. 2.Các đặc trưng cơ bản của thiết chế xã hộiMột là các thiết chế xã hội phải thể hiện được các giá trị xã hội cơ bản được các thành viên xã hội thừa nhận Hai là các quan hệ được thiết lập trong thiết chế phải tương đối bền vững để các khuôn mẫu hành vi được hình thành trong thiết chế trở thành một phần truyền thống văn hóa của một cộng đồng xã hội.Ba là mỗi một thiết chế xã hội có tính độc lập tương đối , có tầm bao quát phạm vi hoạt động nhất đinh và trở thành vị trí trung tâm trong phạm vi đó.Bốn là mục tiêu của một thiết chế xã hội được đại đa số các thành viên của xã hội thừa nhận, cho dù thành viên đó có tham gia trực tiếp hay không vào thiết chế đó.Năm là mặc dù các thiết chế xã hội có tính độc lập tương đối , nhưng giữa chúng có mối quan hệ tương tác với nhau rất chặt chẽ. Khi có một sự thay đổi về cơ cấu tổ chức hay khuôn mẫu hành vi của một thiết chế nào đó, có thể kéo theo sự thay đổi của một thiết chế ở lĩnh vực khác. Các đặc trưng trên đây được biểu hiện một cách chi tiết , cụ thể ở những đơn vị nhỏ nhất của thiết chế gọi là các thành tố của một thiết chế xã hội .3.Các loại thiết chế xã hộiThiết chế gia đình: là hệ thống các quy định của xã hội nhằm ổn định và tiêu chuẩn hóa quan hệ tính giao nam nữ để duy trì nòi giống của con người và xác lập trách nhiệm xã hội của các cá nhân để xây dựng gia đình hạnh phúc Thiết chế giáo dục: là hệ thống quy định của xã hội nhằm thiết lập nền giáo dục xã hội để nâng cao dân trí , thiết lập nhân cách và năng lực lao động cho công dân. Thiết chế giáo dục có vai trò rất lớn trong xã hội. Một mặt nó quyết định đến chất lượng công dân trong tương lai, mặt khác nó tham gia vào quá trình xã hội hóa các cá nhân tạo nhân cách tốt cho họ. Do đó , bất kỳ nước nào cũng coi giáo dục như là thiết chế cơ bản , là nền tảng cho giáo dục.Thiết chế tôn giáo: là hệ thống giáo lý tôn giáo nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của cộng động dân cư được biểu hiện bằng tín ngưỡng và hình thức thờ phụng mà con người đang thực hiện Thiết chế kinh tế: là hệ thống quy xã hội hình thành nền kinh tế quốc dân để thỏa mãn nhu cầu của đời sống xã hội . Thiết chế kinh tế nhằm đáp ứng các nhu cầu thích nghi của tổ chức xã hội đối với môi trường và thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người về các sản phẩm và dịch vụ.Thiết chế chính trị : là hệ thống quyền lực xã hội nhằm điều hành hoạt động xã hội theo định hướng thống nhất và duy trì trật tự trị an xã hội. Thiết chế chính trị xuất hiện chủ yếu để giải quyết các xung đột bên trong và bên ngòai xã hội. Thiết chế nghi lễ: cần thiết để đáp ứng các nhu cầu liên kết và kiểm soát các quan hệ xã hội của con người thông qua các thủ tục , biểu tượng, ký hiệu, nghi thức… không có nghi lễ thì khó duy trì được những cơ cấu những tổ chức có quy mô lớn. Mức độ tập trung quyền lực xã hội càng cao thì mức độ bất bình đẳng về nghi lễ càng lớn.II.THIẾT CHẾ XÃ HỘI CHI PHỐI CÁC HOẠT ĐỘNG VÀ HÀNH VI CỦA CÁC CÁ NHÂN1.Thiết chế xã hội quy đinh hành viCác thiết chế xã hội đã tạo ra hệ thống các khuôn mẫu chuẩn cho các cá nhân hoạt động với các kiểu hành vi xã hội chấp nhận trong nhiều trạng thái xã hội khác nhau .Thông qua quá trình xã hội hóa , đồng thời với sự hoạt động của các thiết chế xã hội , các cá nhân tiếp nhận các khuôn mẫu hành vi và thực hiện các khuôn mẫu đó theo các tình huống cụ thể.Thiết chế xã hội vốn là những mô hình hành vi được đa số thừa nhận là chuẩn mực và thực hiện theo , do đó các cá nhân sẽ không mất thời gian để suy tính đắn đo xem cách thức hành động đó đúng hay sai để thực hiện hay không thực hiện. Nói cách khác thiết chế xã hội đã đơn giản hóa tác phong hành động , lề lối tư duy của cá nhân.Thiết chế xã hội cũng là một tập hợp các vai trò đã được chuẩn hóa đó chính là các vai trò mà mọi cá nhân cần phải học tập để thực hiện thông qua quá trình xã hội hóa . Nghĩa là thiết chế cung cấp cho cá nhân những vai trò có sẵn2.Thiết chế xã hội định hướng vai trò xã hội cá nhân.Các thiết chế xã hội xác định phần lớn các vai trò cá nhân theo yêu cầu của xã hội để cá nhân nhận biết trong quá trình của xã hội hóa. Thực chất của vai trò này là các thước đo xã hội quy định để đánh giá giá trị xã hội của các cá nhân và tổ chức đã cống hiến cho xã hội. Từ đó các cá nhân có thể lựa chọn vai trò nào đối với mình là phù hợp , có thể biết được sự mong đợi của vai trò trước khi cá nhân đó thể hiện. 3.Thiết chế xã hội đem lại long tin, sự ổn định và kiên định cho các thành viên xã hộiThiết chế xã hội đã hướng hành động xã hội vào sự củng cố , xây dựng và phát triển cộng đồng vững mạnh vì sự phồn vinh hạnh phúc chung của mọi người.Thiết chế xã hội đã duy trì được sự ổn định và phát triển xã hội, do vậy đã hướng nhận thức của các thành viên tới các thiết chế xã hội như là một sự chấp nhận các giá trị , chuẩn mực xã hội và khuôn mẫu hành vi , nhằm củng cố nhận thức và thống nhất hành động của mọi người trong xã hội, hướng vào xây dựng xã hội vững mạnhNhìn chung cá nhân ít khi hành động ngược lại các thiết chế , bởi lẽ cung cách tư duy và phong cách hành động đã được thiết chế hóa có ý nghĩa quan trọng đối với con người 4.Thiết chế xã hội điều chỉnh và kiểm soát hành vi của các cá nhân Thiết chế xã hội là căn cứ để phân định cái đúng cái sai , phải trái trong xã hội. Do đó , nó đã điều chỉnh và kiểm soát hành vi xã hội của các cá nhân , các nhóm để chúng phù hợp với mong đợi của xã hội Các cá nhân coi thiết chế xã hội là chuẩn mực cho cuộc sống và hường vào đó mà điều chỉnh hành động của mình phù hợp với yêu cầu của xã hội.Mặt khác , các cá nhân sử dụng thiết chế xã hội như là các khuôn mẫu chuẩn cho hành động để giám sát hành động của người khác và yêu cầu họ tuân thủ theo.Trường hợp thiết chế xã hội thực hiện chức năng điều hào và kiểm soát hoạt động xã hội không đúng cách thức có thể dẫn đến các tác động tiêu cực đối với xã hội – khi sự điều hòa và đặc biệt là sự kiểm soát của thiết chế quá mạnh mẽ triệt tiêu mọi sự sáng tạo của cá nhân , đồng thời thiết chế sẽ mang tính bảo thủ . Tính bảo thủ này được thể hiện ở chỗ nó cố gắng duy trì những khuôn mẫu, tác phong đã lạc hậu, lỗi thời. => Các thiết chế này sẽ cản trở sự tiến bộ của xã hộiNhưng khi thiết chế kiểm soát và điều chỉnh các quan hệ xã hội quá yếu thì sẽ dẫn tới tính trạng các cá nhân , nhóm xã hội không thực hiện tốt vai trò thậm chí trốn tránh trách nhiệm của mình. => kết quả là hoạt động từng phần hoặc hoạt động toàn xã hội sẽ bị đình trệ. Giữa các thiết chế đôi khi xảy ra sự di chuyển chức năng . Sự di chuyển đó xảy ra khi xuất hiện một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau: Thiết chế không đáp ứng được nhu cầu ; các thiết chế đều có khả năng đáp ứng được yêu cầu nhưng một trong số đó nổi trội hơn , có khả năng đáp ứng ở mức cao hơn so với các thiết chế khác.
Xem thêm

11 Đọc thêm

TẠO DỰNG NIỀM TIN VÀ TRÁCH NHIỆM CỘNG ĐỒNG THÔNG QUA MỘT MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHÓM HỌC SINH, SINH VIÊN TÌNH NGUYỆN NHÓM THÁNG MƯỜI

TẠO DỰNG NIỀM TIN VÀ TRÁCH NHIỆM CỘNG ĐỒNG THÔNG QUA MỘT MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHÓM HỌC SINH, SINH VIÊN TÌNH NGUYỆN NHÓM THÁNG MƯỜI

1 Từ xưa đến nay, con người luôn là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội. Mối quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội về bản chất xuất phát từ quan hệ tình cảm, sự tương quan về ý thức. Trong đó, niềm tin luôn là một phương thức, là nền tảng để người ta có thể dựa vào nhau, thấu hiểu nhau và yêu thương nhau.
2 Thế nhưng, trong xã hội hiện đại ngày nay, khi các yếu tố vật chất phát triển ảnh hưởng rất lớn đến đời sống con người, cùng với ý thức cá nhân, cá tính của mỗi con người ngày càng rõ rệt hơn, mối quan hệ cộng đồng cũng vì thế mà mờ nhạt hơn. Con người dần dần sống thu vào “thế giới riêng” của chính mình, chỉ quan tâm đến bản thân mình mà quên đi mất những giá trị cộng đồng. Một bộ phận có xu hướng sống “ảo”, thờ ơ với nhau, vô trách nhiệm với cộng đồng,… Khi xa cách nhau, không thấu hiểu lẫn nhau, thì con người dần dần mất niềm tin vào nhau, sống dè chừng và cảnh giác hơn
Xem thêm

32 Đọc thêm

Vai trò của hoại động và giao tiếp trong quá trình hình thành năng lực thiết kế thời trang

VAI TRÒ CỦA HOẠI ĐỘNG VÀ GIAO TIẾP TRONG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NĂNG LỰC THIẾT KẾ THỜI TRANG

Vai trò của hoạt động và giao tiếp trong quá trình hình thành năng lực thiết kế thời trang1.Lý do chọn đề tàiCác bạn trẻ ngày nay đang đổ xô tìm đến các trung tâm đào tạo và rèn luyện những kỹ năng cơ bản trong đó có kỹ năng hoạt động và giao tiếp. Hành trang cho bạn trẻ bước vào công việc, áp lực cuộc sống chính là những kỹ năng giao tiếp với đồng nghiệp bạn bè trong cuộc sống. Những nhà quản lý, những nhà kinh doanh trong quan hệ với đồng nghiệp, với đối tác thì kỹ năng giao tiếp, đầm phán là rất quan trọng. Tưởng như đơn giản, nhưng để có được những kỹ năng hoàn hảo đó không phải là dễ. Cần phải hiểu được bản chất và tầm quan trọng của các kỹ năng là điều trước tiên. Ông cha ta cùng từng nói: Sự ăn cho ta cái lực, sự ở cho ta cái trí và sự bang giao cho ta cái nghiệp. Không chỉ vậy, 1 trong 3 yêu cầu hàng đầu của nhà tuyển dụng ngày nay đó là giao tiếp tốt. Hiện nay, những người đi học nhận thấy, việc các bạn trẻ có điều kiện giao tiếp và tiếp xúc với môi trường thực tế còn quá ít. Việc quá chú trọng vào chuyên môn học tập của mình khiến tính năng động trong môi trường giao tiếp còn yếu, rất nhiều các bạn trẻ không biết cách bắt đầu một câu chuyện dù là đơn giản nhất. Không biết ứng xử và thể hiện thế mạnh của mình khi đứng trước nhà tuyển dụng. Có nhiều thất bại trong kinh doanh mà nguyên nhân nhiều là ở khâu giao tiếp. Bản thần em là sinh viên ngành thiết kế thời trang, em cũng nhận ra được tầm quan trọng và vai trò của hoạt động, giao tiếp trong quá trình học tập hiện nay và trong công việc tương lai. Vậy nên , em xin chọn đề tài : “Vai trò của hoạt động và giao tiếp trong quá trình hình thành năng lực thiết kế thời trang”2.Mục đích nghiên cứuNhằm tìm hiêu về vai trò của hoạt động giao tiếp trong quá trình hình thành năng lực thiết kế thời trang để trên cơ sở đó áp dụng vào thực tế đưa ra các biện pháp rèn luyện cho bản thânHệ thống hóa các quan điểm lý luận về hoạt động và giao tiếp Tìm hiểu về vai trò của hoạt động và giao tiếp trong thực tiễn Đề ra các biện pháp để rèn luyện bản thânB.NỘI DUNGChương I. Cơ sở lý luận1. Hoạt động1.1. Khái niệm hoạt độngCó nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động, tùy thuộc theo các góc độ xem xét mà những cách hiểu về hoạt động khác nhau : Dưới góc độ triết học : Hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể. Trong mối quan hệ đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực khách quan. Ở góc độ này, hoạt động được xem là quá trình mà trong đó có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực là chủ thể và khách thể. Dưới góc độ sinh lý : Hoạt động là toàn bộ sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp khi tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của cá nhân và xã hội. Dưới góc độ cấu trúc hoạt động : Hoạt động là toàn bộ hành động được thống nhất theo mục đích chung nhằm thực hiện một chức năng xã hội nào đó. Dưới góc độ tâm lý học : Xuất phát từ quan điểm cho rằng cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động, giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau, hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới.Theo đó, hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người (chủ thể) với thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người. Trong mối quan hệ đó, có hai quá trình diễn ra : Quá trình đối tượng hóa (còn gọi là quá trình xuất tâm) : Là quá trình chuyển năng lực từ con người vào trong đối tượng, ghi dấu vết của con người vào sản phẩm lao động. Đây là quá trình xuất tâm, tâm lý của con người (chủ thể) được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm. Nhờ vậy, chúng ta mới có thể tìm hiểu được tâm lý con người thông qua hoạt động của họ. Quá trình chủ thế hóa (còn gọi là quá trình nhập tâm) : Là quá trình con người phản ánh những thuộc tính của đối tượng, của công cụ lao động, phương tiện lao động, trong quá trình sử dụng để tạo ra và làm phong phú tâm lý, ý thức của bản thân mình thông qua quá trình chiếm lĩnh thế giới. Đây chính là quá trình chiếm lĩnh, lĩnh hội thế giới, là quá trình nhập tâm. Vì thế, người ta có thể nói tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan, nội dung tâm lý do thế giới khách quan quy định.Như vậy, trong hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý, ý thức của mình, hay nói khác đi, tâm lý, ý thức, nhân cách của con người được bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động của họ.Hoạt động của con người bao gồm các quá trình con người tác động vào khách thể (sự vật, hiện tượng, tri thức,…) gọi chung là quá trình bên ngoài và quá trình tinh thần, trí tuệ hóa sự vật, hiện tượng, gọi chung là quá trình bên trong. Nghĩa là, trong hoạt động bao gồm cả hành vi lẫn tâm lý, cả công việc chân tay lẫn công việc trí óc. 1.2. Đặc điểm của hoạt động Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng, đối tượng của hoạt động là cái con người tác động vào nhằm thay đổi hoặc chiếm lĩnh nó; Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích, mục đích của hoạt động là làm biến đổi thế giới (khách thể) và biến đổi bản thân con người (chủ thể); Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể, chủ thể là con người có ý thức tác động vào khách thể đối tượng của hoạt động, chủ thể hoạt động có thể do một hay nhiều người thực hiện; Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp. Con người tác động đến khách thể qua hình ảnh tâm lý ở trong đầu óc, qua việc sử dụng các công cụ lao động và ngôn ngữ.1.3. Các loại hoạt động Về phương diện cá thể :+ Hoạt động vui chơi : Là hình thức phản ánh đời sống sinh hoạt của người lớn ở trẻ em, là con đường để các em nhận thức thế giới.+ Hoạt động học tập : Là hoạt động có ý thức nhằm tiếp nhận tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.+ Hoạt động lao động : Là hoạt động có ý thức nhằm tạo ra những giá trị vật chất và giá trị tinh thần để thỏa mãn nhu cầu cá nhân và xã hội.+ Hoạt động xã hội Về phương diện sản phẩm :+ Hoạt động thực tiễn : Là hoạt động hướng vào vật thể tạo ra sản phẩm vật chất.+ Hoạt động lý luận : Là hoạt động diễn ra với các hình ảnh, biểu tượng, khái niệm,…nhằm tạo ra sản phẩm tinh thần. Về phương diện đối tượng của hoạt động :+ Hoạt động nhận thức : Là hoạt động tinh thần, phản ánh thế giới khách quan nhưng không làm biến đổi các vật thể thực, quan hệ thực,…Ví dụ, hoạt động học tập, hoạt động nghiên cứu khoa học.+ Hoạt động biến đổi : Là những hoạt động hướng tới làm thay đổi hiện thực (thế giới tự nhiên, xã hội và con người). Đó là những hoạt động lao động, hoạt động chính trị xã hội, hoạt động giáo dục,…+ Hoạt động định hướng giá trị : Là một loại hoạt động tinh thần, xác định ý nghĩa của thực tại với bản thân chủ thể, tạo ra phương hướng của hoạt động. Ví dụ, hoạt động xây dựng thang giá trị, hoạt động đánh giá, chọn lọc,…+ Hoạt động giao lưu (giao tiếp) : Là hoạt động thiết lập và vận hành mối quan hệ người – người.Tóm lại, con người có nhiều hoạt động. Mọi sự phân loại hoạt động chỉ có tính chất tương đối và các loại hoạt động của con người có quan hệ gắn bó, mật thiết với nhau.1.4. Cấu trúc của hoạt động Có nhiều cách phân chia cấu trúc của hoạt động. Nhưng tóm lại, theo Leonchiev, cấu trúc vĩ mô của hoạt động gồm 6 thành tố và có mối quan hệ biện chứng với nhau :+ Phía chủ thể gồm 3 thành tố : Hoạt động, hành động và thao tác để tạo nên mặt kỹ thuật của hoạt động (gọi là đơn vị thao tác của hoạt động).+ Phía khách thể gồm 3 thành tố : Động cơ, mục đích, phương tiện để tạo nên mặt nội dung của hoạt động (gọi là đơn vị nội dung đối tượng của hoạt động). Sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng, giữa đơn vị thao tác và đơn vị nội dung đối tượng của hoạt động tạo ra sản phẩm của hoạt động (cả về phía khách thể, cả về phía chủ thể, gọi là sản phẩm kép). Trong cấu trúc này, cần nhấn mạnh tính độc lập tương đối và sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các thành tố, đặc biệt là yếu tố hành động – mục đích :+ Thứ nhất, một động cơ có thể được cụ thể hóa trong nhiều mục đích. Ngược lại, một mục đích có thể được thể hiện bở nhiều động cơ khác nhau. Do đó, một hoạt động được thực hiện bởi nhiều hành động khác nhau, và một hành động có thể tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau.+ Thứ hai, một hoạt động sau khi đã thực hiện được động cơ thì trở thành một hành động cho hoạt động khác.+ Thứ ba, để đạt một mục đích, ta cần phải thực hiện một hành động. Mục đích đó có thể phát triển theo hai hướng :(a) Trở thành động cơ (khi mà mục đích không chỉ có chức năng hướng dẫn mà còn có cả chức năng kích thích, thúc đẩy), lúc này hành động biến thành hoạt động.(b) Trở thành phương tiện (khi mà mục đích đã được thực hiện và hành động kết thúc), lúc này hành động trở thành thao tác và có thể tham gia vào nhiều hành động khác nhau. Việc phát hiện ra cấu trúc của hoạt động và mối liên hệ biện chứng giữa các thành tố của nó có ý nghĩa rất lớn : Về mặt lý luận, các nhà tâm lý học đã tìm ra sự thống nhất giữa cái khách quan và cái chủ quan, giữa đối tượng và chủ thể, đồng thời cũng khẳng định rằng, trong hoạt động bao giờ cũng chưa đựng nội dung tâm lý và tâm lý vận hành phát triển trong vận động. Về mặt thực tiễn, vận dụng cách hiểu về cơ cấu hoạt động được mô tả ở trên vào giáo dục cho ta thấy : hoạt động của học sinh là hoạt động có tổ chức, bắt đầu từ bên ngoài một cách vật chất có thể kiểm soát được. Do vây, giáo dục, về bản chất là hiện liên tục tổ chức, điều khiển, điều chỉnh hoạt động của học sinh.Mặt khác, nội dung tâm lý, nhân cách học sinh có nguồn gốc từ bên ngoài, được hình thành từ chính quá trình biến hình thức bên ngoài (nội dung đối tượng) thành hình thức bên trong. Quá trình đó chính là hoạt động của học sinh với tư cách là chủ thể của hoạt động có đối tượng. Vì vậy, trong giáo dục, dạy học phải chú trọng phát huy tính chủ thể của học sinh mà đặc trưng là tính tự giác, tích cực hoạt động.2. Giao tiếp2.1. Khái niệm giao tiếpGiao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi thông tin, biểu cảm, kích thích hành động và định hướng giá trị.Nói cách khác, giao tiếp là quá trình xác lập mối quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác.Giao tiếp vừa mang tính chất xã hội, vừa mang tính chất cá nhân. Tính chất xã hội của giao tiếp được thể hiện ở chỗ, nó được nảy sinh, hình thành và phát triển trong xã hội và được sử dụng các phương tiện do con người làm ra, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tính cá nhân thể hiện ở nội dung, phạm vi, nhu cầu, phong cách, kỹ năng,…giao tiếp của mỗi người là khác nhau.2.2 Chức năng của giao tiếp Chức năng thông tin: Qua giao tiếp, con người trao đổi, truyền đạt tri thức, kinh nghiệm với nhau. Mỗi cá nhân vừa là nguồn phát thông tin vừa là nơi tiếp nhận thông tin. Thu thập và xử lý thông tin là con đường quan trọng để phát triển nhân cách. Chức năng cảm xúc : Giao tiếp không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn tạo ra những ấn tượng, những cảm xúc mới giữa các chủ thể. Vì vậy, giao tiếp là một trong những con đường hình thành nên tình cảm con người. Chức năng nhận thức lẫn nhau và đánh giá lẫn nhau : Trong giao tiếp, mỗi chủ thể tự bộc lộ quan điểm, tư tưởng, thái độ, thói quen,…của mình, do đó các chủ thể có thể nhận thức được về nhau làm cơ sở đánh gí lẫn nhau. Điều này quan trọng hơn là trên cơ sở so sánh với người khác và ý kiến đánh giá của người khác, mỗi chủ thể có thể tự đánh giá được về bản thân mình. Chức năng điều điều hành vi: Trên cơ sở nhận thức lẫn nhau, đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá được bản thân, trong giao tiếp, mỗi chủ thể có khả năng tự điều chỉnh hành vi của mình, cũng như có thể tác động đến động cơ, mục đích, quá trình ra quyết định và hành động của chủ thể khác. Chức năng phối hợp hoạt động: Nhờ có quá trình giao tiếp, con người có thể phối hợp hoạt động để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ nào đó nhằm đạt tới mục tiêu chung. Đây là một chức năng giao tiếp phục vụ các nhu cầu chung của xã hội hay của một nhóm người.Bên cạnh đó cũng có thể phân loại chức năng giao tiếp thành : Chức năng tâm lý xã hội: Là nhu cầu của mọi xã hội loài người, đó là nhu cầu được tiếp xúc, trao đổi tâm tư, tình cảm giữa con người với con người,… Chức năng giáo dục và phát triển nhân cách : Thông qua giao tiếp, con người tiếp thu các chuẩn mực xã hội từ người khác; có khả năng tự nhận xét, đánh giá người khác; đồng thời cũng có khả năng tự đánh giá, điều chỉnh nhận thức và hành vi của bản thân.Tóm lại, giao tiếp là quá trình quan hệ, tác động qua lại giữa con người và con người, trong đó con người trao đổi thông tin, cảm xúc, nhận thức, đánh giá, điều chỉnh hành vi lẫn nhau, đồng thời tự điều chỉnh hành vi của mình.2.2. Phân loại giao tiếp Căn cứ vào khoảng cách giao tiếp:+ Giao tiếp trực tiếp : Đối mặt với nhau; Sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt; Kết quả giao tiếp biết được ngay.+ Giao tiếp gián tiếp : Thực hiện thông qua người thứ 3 hoặc các vật trung gian (thư từ, điện tín,…); Kết quả giao tiếp không biết được ngay. Căn cứ vào thành phần những người tham gia vào giao tiếp :+ Giao tiếp giữa cá nhân với các cá nhân khác;+ Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm (giáo viên – học sinh của một lớp);+ Giao tiếp giữa nhóm này với nhóm khác. Căn cứ vào quy cách giao tiếp :+ Giao tiếp chính thức, là giao tiếp giữa hai hay một số người đang thể hiện chức trách nhất định ở một cơ quan hay công xưởng. Giao tiếp diễn ra theo một quy định, thể chế, chức trách. Các chủ thể phải tuân thủ một số yêu cầu xác định. Ví dụ, giao tiếp giữa giáo viên và học sinh, giao tiếp giữa các nguyên thủ quốc gia với nhau,…+ Giao tiếp không chính thức, là giap tiếp giữa hai một nhóm người dựa vào những hiểu biết về nhân cách của nhau. Không bị ràng buộc bởi các nghi thức, mà chủ dựa vào sự tự nguyện, tự giác, phụ thuộc nhu cầu, hứng thú, cảm xúc,…của chủ thể. Ví dụ, giao tiếp giữa các cá nhân trên một chuyến xe, hay cùng nhau xem đá bóng,… Căn cứ vào phương tiện giao tiếp :+ Giao tiếp phi ngôn ngữ : Thể hiện qua tư thế, điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, tướng mạo, trang điểm, quần áo,…Sự kết hợp giữa các động tác khác nhau có thể thể hiện sắc thái tâm lý khác nhau.+ Giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) : Đây là hình thức giao tiếp đặc trưng của con người bằng cách sử dụng những tín hiệu chung là từ và ngữ.+ Giao tiếp vật chất : Giao tiếp thông qua hành động với vật thể. Chương II. Cơ sở thực tiễn1.Vai trò của hoạt động và giao tiếp trong quá trình hình thành và phát triển tâm lý của mỗi cá nhân1.1Vai trò của hoạt động Hoạt động đóng vai trò quyết định đến sự hình thành và phát triển tâm lý và nhân cách cá nhân thông qua hai quá trình:Quá trình đối tượng hóa: chủ thể chuyển năng lực và phẩm chất tâm lý của mình tạo thành sản phẩm. Từ đó, tâm lý người được bộc lộ, khách quan hóa trong quá trình tạo ra sản phẩm, hay còn đươc gọi là quá trình xuất tâm.Ví dụ: Khi thuyết trình một môn học nào đó thì người thuyết trình phải sử dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm của mình về môn học đó để thuyết trình. Trong khi thuyết trình thì mỗi người lại có tâm lý khác nhau: người thì rất tự tin, nói to, mạch lạc, rõ ràng, logic; người thì run, lo sợ, nói nhỏ, không mạch lạc. Cho nên phụ thuộc vào tâm lý của mỗi người mà bài thuyết trình đó sẽ đạt yêu cầu hay không đạt yêu cầu.Quá trình chủ thể hóa: Thông qua các hoạt động đó, con người, tiếp thu lấy tri thức, đúc rút được kinh nghiệm nhờ quá trình tác động vào đối tượng, hay còn được gọi là quá trình nhập tâm.Ví dụ: Sau lần thuyết trình lần đầu tiên thì cá nhân đó đã rút ra được rất nhiều kinh nghiệm cho bản thân, và đã biết làm thế nào để có một bài thuyết trình đạt hiệu quả tốt. Nếu lần sau có cơ hội được thuyết trình thì sẽ phải chuẩn bị một tâm lý tốt, đó là: phải tư tin, nói to, rõ ràng, mạch lạc, logic, phải làm chủ được mình trước mọi người,… Hoạt động quyết định đến sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách cá nhân. Sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách cá nhân phụ thuộc vào hoạt động chủ đạo của từng thời kỳ.Ví dụ:• Giai đoạn tuổi nhà trẻ (12 tuổi) hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồ vật: trẻ bắt trước các hành động sử dụng đồ vật, nhờ đó khám phá, tìm hiểu sự vật xung quanh.• Giai đoạn trưởng thành (1825 tuổi) hoạt động chủ đạo là lao động và học tập. Cần tổ chức nhiều hoạt động đa dạng và phong phú trong cuộc sống và công tác. Cần tạo môi trường thuận lợi để con người hoạt động.1.2. Vai trò của giao tiếpGiao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội. Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người. Nếu không có giao tiếp với người khác thì con người không thể phát triển, cảm thấy cô đơn và có khi trở thành bệnh hoạn. Nếu không có giao tiếp thì không có sự tồn tại xã hội, vì xã hội luôn là một cộng đồng người có sự ràng buộc, liên kết với nhau. Qua giao tiếp chúng ta có thể xác định được các mức độ nhu cầu, tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm…của đối tượng giao tiếp, nhờ đó mà chủ thể giao tiếp đáp ứng kịp thời, phù hợp với mục đích và nhiệm vụ giao tiếp. Từ đó tạo thành các hình thức giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với nhóm, giữa nhóm với nhóm hoặc giữa nhóm với cộng đồng.Ví dụ: Khi một con người sinh ra được chó sói nuôi, thì người đó sẽ có nhiều lông, không đi thẳng mà đi bằng 4 chân, ăn thịt sống, sẽ sợ người, sống ở trong hang và có những hành động, cách cư xử giống như tập tính của chó sói.Giao tiếp là nhu cầu sớm nhất của con người từ khi tồn tại đến khi mất đi. Từ khi con người mới sinh ra đã có nhu cầu giao tiếp, nhằm thỏa mãn những nhu cầu của bản thân. Ở đâu có sự tồn tại của con người thì ở đó có sự giao tiếp giữa con người với con người, giao tiếp là cơ chế bên trong của sự tồn tại và phát triển con người. Để tham gia vào các quan hệ xã hội, giao tiếp với người khác thì con người phải có một cái tên, và phải có phương tiện để giao tiếp. Lớn lên con người phải có nghề nghiệp, mà nghề nghiệp do xã hội sinh ra và quy định. Việc đào tạo, chuẩn bị tri thức cho nghề nghiệp phải tuân theo một quy định cụ thể, khoa học… không học tập tiếp xúc với mọi người thì sẽ không có nghề nghiệp theo đúng nghĩa của nó, hơn nữa muốn hành nghề phải có nghệ thuật giao tiếp với mọi người thì mới thành đạt trong cuộc sống. Trong quá trình lao động con người không thể tránh được các mối quan hệ với nhau. Đó là một phương tiện quan trọng để giao tiếp và một đặc trưng quan trọng của con người là tiếng nói và ngôn ngữ. Giao tiếp giúp con người truyền đạt kinh nghiệm, thuyết phục, kích thích đối tượng giao tiếp hoạt động, giải quyết các vấn đề trong học tập, sản xuất kinh doanh, thỏa mãn những nhu cầu hứng thú, cảm xúc tạo ra. Qua giao tiếp giúp con người hiểu biết lẫn nhau, liên hệ với nhau và làm việc cùng nhau.Ví dụ: Từ khi một đứa trẻ vừa mới sinh ra đã có nhu cầu giao tiếp với ba mẹ và mọi người để được thỏa mãn nhu cầu an toàn, bảo vệ, chăm sóc và được vui chơi,…Thông qua giao tiếp con người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội, đạo đức, chuẩn mực xã hội. Trong quá trình giao tiếp thì cá nhân điều chỉnh, điều khiển hành vi của mình cho phù hợp với các chuẩn mực xã hội, quan hệ xã hội, phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực. Cùng với hoạt động giao tiếp con người tiếp thu nền văn hóa, xã hội, lịch sử biến những kinh nghiệm đó thành vốn sống. Kinh nghiệm của bản thân hình thành và phát triển trong đời sống tâm lý. Đồng thời góp phần vào sự phát triển của xã hội. Nhiều nhà tâm lý học đã khẳng định, nếu không có sự giao tiếp giữa con người thì một đứa trẻ không thể phát triển tâm lý, nhân cách và ý thức tốt được. Nếu con người trong xã hội mà không giao tiếp với nhau thì sẽ không có một xã hội tiến bộ, con người tiến bộ. Nếu cá nhân không giao tiếp với xã hội thì cá nhân đó sẽ không biết phải làm những gì để cho phù hợp với chuẩn mực xã hội, cá nhân đó sẽ rơi vào tình trạng cô đơn, cô lập về tinh thần và đời sống sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi giao tiếp với mọi người thì họ truyền đạt cho nhau những tư tưởng, tình cảm, thấu hiểu và có điều kiện tiếp thu được những tinh hoa văn hóa nhân loại,biết cách ứng xử như thế nào là phù hợp với chuẩn mực xã hội.Ví dụ: Khi gặp người lớn tuổi hơn mình thì phải chào hỏi, phải xưng hô cho đúng mực, phải biết tôn trọng tất cả mọi người, dù họ là ai đi chăng nữa, phải luôn luôn thể hiện mình là người có văn hóa, đạo đức.Thông qua giao tiếp con người hình thành năng lực tự ý thức. Trong quá trình giao tiếp, con người nhận thức đánh giá bản thân mình trên cơ sở nhận thức đánh giá người khác. Theo cách này họ có xu hướng tìm kiếm ở người khác để xem ý kiến của mình có đúng không, thừa nhận không. Trên cơ sở đó họ có sự tự điều chỉnh, điều khiển hành vi của mình theo hướng tăng cường hoặc giảm bớt sự thích ứng lẫn nhau. Tự ý thức là điều kiện trở thành chủ thể hành động độc lập, chủ thể xã hội. Thông qua giao tiếp thì cá nhân tự điều chỉnh, điều khiển hành vi theo mục đích tự giác. Thông qua giao tiếp thì cá nhân có khả năng tự giáo dục và tự hoàn thiện mình. Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội tâm, tâm hồn, những diễn biến tâm lý, giá trị tinh thần của bản thân, vị thế và các quan hệ xã hội. Khi một cá nhân đã tự ý thức đươc thì khi ra xã hội họ thựờng nhìn nhận và so sánh mình với người khác xem họ hơn người khác ở điểm nào và yếu hơn ở điểm nào, để nỗ lực và phấn đấu, phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt yếu kém. Nếu không giao tiếp cá nhân đó sẽ không biết những gì mình làm có được xã hội chấp nhận không, có đúng với những gì mà xã hội đang cần duy trì và phát huy hay không. Nếu con người khi sinh ra mà bị bỏ rơi, mà được động vật nuôi thìnhững cử chỉ và hành động của bản thân con người đó sẽ giống như cử chỉ và hành động của con vật mà đã nuôi bản thân con người đó.Ví dụ:• Khi tham gia vào các hoạt động xã hội thì cá nhân nhận thức mình nên làm những gì và không nên làm những việc gì như: nên giúp đỡ những người gặp hoàn cảnh khó khăn, tham gia vào các hoạt động tình nguyện, không được tham gia các tệ nạn xã hội, chỉ đươc phép tuyên truyền mọi người về tác hại của chúng đối với bản thân, gia đình và xã hội.• Hoặc khi tham dự một đám tang thì mọi người ý thức được rằng phải ăn mặc lịch sự, không nên cười đùa. Bên cạnh đó phải tỏ lòng thương tiết đối với người đã khuất và gia đình họ.=> Kết luận Giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách cá nhân. Cần phải rèn luyện các kỹ năng giao tiếp.“Sự phát triển của một các nhân phụ thuộc vào sự phát triển của các cá nhân khác mà nó giao tiếp trực tiếp và gián tiếp”.2.Vai trò của hoạt động và giao tiếp trong quá trình hình thành năng lực thiết kế thời trangTrước tiên ta phải hiểu được: Thiết kế thời trang là một ngành mang nhiều tính sáng tạo , là nơi bạn có thể tự do thể hiện phong cách, gu thẩm mỹ, cái nhìn của bản thân mà không cần phải viết ra giấy hay nói thành lời.Kỹ năng giao tiếp trong ngành thiết kế thời trang: Nếu là con người sống với thời trang, hãy là một người năng động, nhanh nhạy và có khả năng giao tiếp tốt. Kỹ năng giao tiếp là một phần không thể thiếu trong tất cả mọi công việc nói chung cũng như trong ngành thiết kế thời trang nói riêng. Đặc biệt , đối với ngành thiết kế thì càng cần phải trau dồi những kiến thức cơ bản về kỹ năng hoạt động và giao tiếp.Khi làm việc trong ngành thiết kế thời trang, bạn sẽ có cơ hội làm việc với rất nhiều nhà tạo mẫu, thiết kế vải, phụ kiện…. khi đó nếu bạn không chuẩn bị kỹ năng giao tiếp tốt thì khả năng giao dịch đàm phán của bạn sẽ không tốt, nên sẽ khó hoàn thành công việc một cách hiệu quảKhi hoạt động trong ngành, bạn cần phải có khả năng tự quảng bá cho các mẫu thiết kế của mình và biết cách thương lượng với khách hàng. Tự vận hành công việc của một nhà thiết kế tự do cả về mặt tài chính và quản lý. Vậy để làm được điều đó thì khả năng giao tiếp và quan hệ với mọi người của bạn phải thực sự tốt.3.Biện pháp để rèn luyện kỹ năng hoạt động và giao tiếp đối với mỗi sinh viên hiện nayTrong thời đại hiện nay, kinh tế – xã hội đang phát triển mạnh và hội nhập với thế giới toàn cầu thì việc sinh viên trang bị cho bản thân kiến thức chuyên môn vững vàng là điều cần phải làm nhưng liệu rằng kiến thức chuyên môn thật tốt có mang lại thành công cho mỗi sinh viên khi ra trường? Bên cạnh những sinh viên ý thức được tầm quan trọng của giao tiếp và luôn rèn luyện, học hỏi, thậm chí tham gia các khóa đào tạo bên ngoài trường về kỹ năng giao tiếp thì một bộ phận không nhỏ sinh viên hầu như chưa chú tâm để rèn luyện kỹ năng giao tiếp, chưa chuẩn bị cho mình hành trang trong cuộc sống hằng ngày và sau khi rời giảng đường đại học.Chính việc không ý thức về tầm quan trọng của giao tiếp đã khiến cho kỹ năng giao tiếp của sinh viên còn yếu, rất nhiều các bạn trẻ không biết cách bắt đầu một câu chuyện dù là đơn giản nhất, không biết ứng xử và thể hiện thế mạnh của mình khi đứng trước nhà tuyển dụng hay viết một lá đơn xin việc như thế nào. Từ đó, chính các bạn đã không trình bày được ý tưởng, kinh nghiệm, cũng như năng lực,…một cách hiệu quả trước người khác. Vậy kỹ năng giao tiếp có thực sự cần thiết, quan trọng đối với mỗi sinh viên và làm thế nào để phát triển kỹ năng giao tiếp?Ngôn ngữ cơ thể Con người có liên hệ với người khác bằng nhiều cách khác nhau và không nhất thiết phải luôn trực tiếp. Thông thường, bạn có thể biết điều người kia đang cố nói thông qua ngôn ngữ cơ thểNói ra suy nghĩỞ những thời điểm khác, trừ phi bạn là người có khả năng đọc suy nghĩ của người khác, bạn cũng có thể bỏ qua những thông tin then chốt và khiến tình huống từ xấu thành tồi tệ. Nếu bạn nghĩ có một vấn đề nào đó ảnh hưởng tới mối quan hệ thì nên nói ra.Đào sâuTrong một mối quan hệ, giao tiếp rõ ràng rất cần thiết để tiến hành mọi việc. Mối ràng buộc giữa hai bạn có thể nhanh chóng trở nên gay gắt, trừ phi bạn chia sẻ những suy nghĩ và cảm xúc nội tâm. Nếu không biết rõ cái gì đang khiến hai bạn khó chịu, cả hai rất dễ hiểu nhầm, thậm chí là oán giận lẫn nhau.Đừng bao giờ giữ riêng vấn đề chung nào cho riêng mình, hãy cởi mở, chia sẻ cho dù có thể làm hai bạn cãi nhau một chút. Chỉ đến khi nào vấn đề được giải quyết, bạn mới vui vẻ và thoải mái. Và cũng không có cách nào xử lý trừ phi bạn cho người kia biết đó là vấn đề cần quan tâm.Rành mạch, dễ hiểuTrên sách báo, nói chuyện cởi mở có vẻ là một ý thức chung. Thực tế, nó thường không dễ dàng để thể hiện điều bạn thực sự muốn nói. Tất cả những sự phức tạp, rắc rối có thể được đá bung từ một nỗi sợ hãi phản ứng xấu tới việc chọn sai thời điểm để nói ra. Bất kể trường hợp nào, bạn cũng cần vượt qua mọi trở ngại để đảm bảo hai bạn đều cùng một điểm xuất phát của vấn đề. Dưới đây là những kỹ năng cần có để giúp bạn trở thành một người giao tiếp tốt:Kỹ năng quan sát và kỹ năng lắng ngheTheo ông Brian Steel, khi giao tiếp với ai đó thuộc nền văn hóa khác, việc đầu tiên bạn cần thực hiện đó là thể hiện khả năng quan sát của mình. Hãy quan sát ngôn ngữ cơ thể của họ, cách họ cư xử, giao tiếp với bạn và cố gắng sử dụng ngôn ngữ cơ thể, cách ứng xử cho phù hợp. Mối quan hệ sẽ dần được thiết lập khi giữa bạn và đối tượng có sự đồng điệu.Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng một người bình thường chỉ nhớ được khoảng 25% đến 50% những gì họ nghe thấy. Điều đó có nghĩa là khi bạn nói chuyện với sếp, với đồng nghiệp hay khách hàng, họ chỉ có thể nhớ chưa đầy một nửa những gì đã nghe.Không phải là chúng ta có trí nhớ kém mà đúng hơn là đa số chúng ta thường không lắng nghe. Thêm vào đó, sự đa dạng văn hóa trong giao tiếp ngày nay càng khiến cho việc lắng nghe trở nên khó khăn hơnTôn trọng những điểm khác nhauKhi giao tiếp với một đối tượng, bạn cần phải tôn trọng sự khác biệt. Tôn trọng sự khác biệt không chỉ là tôn trọng nền văn hóa khác mà cả sự tôn trọng cá nhân. Vì trong cùng một đất nước nhưng mỗi người sẽ có một cách ứng xử riêng biệt. Họ có thể giao tiếp với bạn bằng chính bản sắc cá nhân, tín ngưỡng của họ.Gặp nhau ở điểm giữaThỏa hiệp là điều cốt yếu khi cần đàm phán cách thức giải quyết vấn đề trong bất cứ mối quan hệ nào. Một đôi tai biết lắng nghe và tôn trọng quan điểm của đối tác tình cảm sẽ giúp bạn giữ được cuộc nói chuyện với người ấy. Linh hoạt, mềm dẻo là yếu tố cần để giúp hai bạn tìm gặp nhau ở điểm giữa của lối đi tìm giải phápXem xét lại quyết địnhĐặt cách giải quyết của bạn vào thực tế rồi xem mọi việc diễn ra thế nào. Hãy quan sát thật ký để điều chỉnh nếu cần thiết. Với thực hành cộng với kinh nghiệm, bạn sẽ nhận thấy những kỹ năng cơ bản trong giao tiếp đôi lứa sẽ trở thành bản tính thứ hai. Từ việc chọn một bộ phim vào tối thứ Sáu để cảm thấy bạn có vẻ cần nhiều không gian cho sự lãng mạn được thăng hoa, nó đồng nghĩa với việc bạn có trách nhiệm đối với bất kỳ tình huống nào và cùng nhau tìm kiếm kết quả tích cực.C.PHẦN KẾT LUẬN Thông qua việc tìm hiểu: “ Vai trò của hoạt động và giao tiếp trong quá trình hình thành năng lực thiết kế thời trang” , em nhận thấy rằng hoạt động và giao tiếp có vai trò rât quan trọng trong cuộc sống của con người.Đối với riêng cá nhân em, là sinh viên năm……. Trường……….. môi trường đòi hỏi cần có sự năng động ham học hỏi , hình thành kỹ năng làm việc nhóm, thì hoạt động giao tiếp sẽ góp phần quan trọng trong thành công của em . Muốn trở thành người thành đạt và làm đúng nghề mình theo học thì em còn phải cố gắng rất nhiều , cần phải rèn luyện kỹ năng hoạt động giao tiếp ngay từ bây giờ để có hành trang tốt cho tương lai sau này.D.TÀI LIỆU THAM KHẢOGiáo trình tâm lý học đại cương NXB CAND .Chủ biên: Thạc sĩ Đặng Thanh Nga Giáo trình tâm lý học NXB CAND. Giáo trình tâm lý học đại cương NXB Đại học Sư phạm HN. Chủ biên Nguyễn Quang Uẩn Giáo trình Tâm lí học Đại cương NXB: Đại học Sư phạm Hà Nội. Chủ biên : Nguyễn Xuân Thức
Xem thêm

19 Đọc thêm

Tiểu luận về phân loại thực vật Một số mối quan hệ cộng sinh

TIỂU LUẬN VỀ PHÂN LOẠI THỰC VẬT MỘT SỐ MỐI QUAN HỆ CỘNG SINH

Phần 1: MỞ ĐẦU


I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong cuộc sống hằng ngày của mỗi con người chúng ta có rất nhiều mối quan hệ khác nhau, chúng ta không thể sống mà không có những mối quan hệ đó, từ những mối quan hệ thân thuộc như: quan hệ gia đình hay là quan hệ giữa những người thân với nhau, quan hệ bạn bè, cho đến những quan hệ khác như quan hệ hợp tác làm ăn hay là quan hệ cạnh tranh…. Những mối quan hệ này sẽ làm cho cuộc sống của con người trở nên phong phú hơn và làm cho con người có thể phát triển và tồn tại được trong xã hội.

Vậy trong thế giới tự nhiên các loài sinh vật có mối quan hệ với nhau giống như con người hay không? Câu trả lời là “Có” : Mối quan hệ giữa các loài sinh vật rất phong phú và đa dạng. Chúng không những có những mối quan hệ như con người và còn có thêm những mối quan hệ khác nữa. Với mỗi loài sinh vật khác nhau thì đều có những mối quan hệ khác nhau. Ví dụ như mối quan hệ giữa hai loài động vật với nhau, hai loài này sẽ cạnh tranh để giành thức ăn và nơi ở hay là mối quan hệ ký sinh vật chủ của cá loài vi sinh vật hoặc là mối quan hệ ức chế cảm nhiễm của các loài thực vật, loài thực vật này có thể tiết ra chất ức chế làm cho các loài thực vật xung quanh nó không thể phát triển, hoặc là mối quan hệ hội sinh giữa hai loài sinh vật nhưng chỉ một bên có lợi cần thiết,còn bên kia không có lợi và cũng không có hại gì ….Tóm lại trong sinh giới có rất nhiều mối quan hệ khác nhau.

Và trong những mối quan hệ đó mối quan hệ nào có hại, mối quan hệ nào có lợi,nếu có lợi thì có lợi cho một bên hay là cả hai bên và có lơi như thế nào. Đó chính là lý do mà tôi tìm hiểu đề tài” Mối quan hệ cộng sinh và vai trò của mối quan hệ này trong sản xuất nông nghiệp” vì mối quan hệ này là mối quan hệ có lợi cho cả hai bên.



Phần 2: NỘI DUNG

I. Khái niệm.
Quan hệ cộng sinh là quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa hai hay nhiều loài, trong đó tất cả các loài đều có lợi.Trong cộng sinh mỗi loài chỉ có thể sống, phát triển, sinh sản … hiệu quả dựa vào sự hợp tác của bên kia.
II.Một số mối quan hệ cộng sinh.
II.1. Sự cộng sinh giữa thực vật ,nấm và vi sinh vật
II.1.1.Sự cộng sinh giữa tảo,vi khuẩn và nấm tạo thành cơ thể địa y.
Địa y là một thể cộng sinh giữa tảo và nấm hoặc giữa vi khuẩn lam và nấm chung sống với nhau thành một cơ thể thống nhất có những đặc tính hình thái, sinh lý, sinh thái riêng.
Trong đó tảo thường là Tảo lam hoặc Tảo lục đơn bào; Nấm thường là những nấm sợi, đại đa số thuộc lớp Nấm túi, chỉ có một số ít trường hợp là Nấm đảm; Tảo lam (khuẩn lam) thường là những loài có khả năng cố định nitơ.
Trong tập thể cộng sinh này, nấm làm nhiệm vụ cung cấp nước và các muối vô cơ để tảo, khuẩn lam quang hợp, tạo thành chất hữu cơ dùng cho tập thể, mặt khác nấm lại bảo vệ cho tảo khỏi bị khô.
Nhờ hình thức cộng sinh đặc biệt đó mà địa y sống được trong mọi điều kiện khác nhau, từ các vùng cực Trái đất đến các vùng sa mạc nóng bỏng. Tuy nhiên, trong điều kiện bất lợi, như khô hạn kéo dài thì sự quang hợp và các hoạt động dinh dưỡng khác bị ngừng trệ, làm cho sự sinh trưởng của địa y rất chậm chạp, yếu ớt, mỗi năm chỉ lớn lên từ vài đến vài chục milimét.
Trong tự nhiên ta thường gặp địa y trên thân cây, trên các tảng đá dưới dạng những lớp da, những vảy hay những búi sợi có màu xanh xám hay nâu xám
Xem thêm

15 Đọc thêm

Văn hóa ứng xử ở trường học của sinh viên hà nội hiện nay (khảo sát trên địa bàn quận cầu giấy, hà nội)

VĂN HÓA ỨNG XỬ Ở TRƯỜNG HỌC CỦA SINH VIÊN HÀ NỘI HIỆN NAY (KHẢO SÁT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, HÀ NỘI)

PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1. Thao tác hóa các khái niệm liên quan
1.1 Khái niệm “ứng xử”
Từ lâu vấn đề ứng xử trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên cà con người với chính mình đã được nhiều khoa học nghiên cứu, nhất là tâm lí học, giáo dục học và xã hội học
Theo Nhà giáo nhân dân Trịnh Trúc Lâm – một nhà giá dục học “ứng xử trong xã hội được hiểu là cách hành động của các vai trò xã hội nào đó trước một chủ thể xã hội khác cũng có một vị trí xã hội. Như vậy, ứng xử là cách hành động của các vai trò xã hội với nhau, giữa các cá nhân với nhau và sau nữa là cách hành động của chủ thể đối với chính bản thân mình, với đồ vật, với môi trường tự nhiên”.(tr 6, 1). Như vậy ứng xử theo quan điểm này, được đặt trong cả mối quan hệ xã hội và mối quan hệ với thế giới tự nhiên. Nhà tâm lí học, giáo dục học Ngô Công Hoàn cũng đưa ra khái niệm ứng xử khi bàn luận về các mối quan hệ người với người “ứng xử là phản ứng, hành vi của con người nảy sinh trong quá trình giáo tiếp do những rung cảm cá nhân kích thích, nhằm lĩnh hội, truyên đạt những tri thức, vốn sống kinh nghiệm của cá nhân, xã hội trong những tình huống nhất định” (tr14, 3).
Theo PGS.TS tâm lí học Lê Thị Bừng, “ứng xử là từ ghép của hai từ ứng và xử. .”ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định. Nó thể hiện ở chỗ con người không những chủ động trong giao tiếp mà còn chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi cử chỉ cách nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất.
Có thể thấy, khái niệm về “ứng xử” trong tâm lí học và giáo dục học chủ yếu khai thác khái niệm ứng xử ở những mối quan hệ giao tiếp.
Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Hồ Hải Thụy, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Đức Dương, từ góc độ xã hội học đã đưa ra cách phân biệt ứng xử với hành vi một cách đơn giản “ứng xử là thái độ, hành vi, lời nói trong tình huống nhất định, và hành vi được xem như là những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài của một người trong hoàn cảnh cụ thể”. Như vậy, theo quan điểm này, thì khái niệm ứng xử có nội hàm rộng hơn khái niệm hành vi, và hành vi chính là thước đo quan trọng của ứng xử.
Xem thêm

57 Đọc thêm

Phân tích xu hướng trong cấu trúc nhân cách

PHÂN TÍCH XU HƯỚNG TRONG CẤU TRÚC NHÂN CÁCH

Phân tích xu hướng trong cấu trúc nhân cách. Liên hệ trong đời sống thực tiễn
Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tâm lý học đại cương
Trong xã hội việt nam hiện nay mỗi khi đánh giá về một con người thường chủ yếu nói về nhân cách. Nhân cách là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa con người với con người từ những chuyện bình thường, mối quan hệ gia đình, kết giao đến mối quan hệ xã hội, công tác, kinh doanh. Nhân cách thể hiện qua cách ứng xử của con người đối với người khác cũng như đối với sự việc trong cuộc sống, đồng thời nhân cách thể hiện trình độ văn hóa, nhân tính và nguyên tắc sống của con người. Con người là một thực thể xã hội, vì vậy chất lượng mối quan hệ xã hội có ảnh hưởng quyết định đối với chất lượng cuộc sống.

Nhân cách được định hình bởi hệ thống những phẩm giá thể hiện qua các mối quan hệ của con người xuất phát từ tâm lý, tình cảm, nhân sinh quan, nhận thức về bản thân và xã hội. Nhân cách là đặc trưng của từng cá nhân, là bản chất thực của con người. Phía trước mọi người, trong cuộc đời, luôn có nhiều con đường. Người thiếu nhân cách sẽ mất phương hướng khi chọn con đường chính đáng cho mình.Thế nên bạn có biết rằng nhân cách là rất quan trọng hay không, và chính xu hướng trong cấu trúc của nhân cách chính là một gia vị không thể thiếu tạo nên nhân cách hoàn chỉnh và toàn diện của một con người.Để giúp mọi người hiểu rõ hơn về nhân cách cũng như xu hướng của nhân cách tôi sẽ di tìm hiểu vấn đề: Phân tích xu hướng trong cấu trúc nhân cách. Liên hệ trong đời sống thực tiễn.

B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I.Các khái niệm cơ bản và một số đánh giá liên quan

1.Khái niệm nhân cách

Nhân cách là tổ hợp các thuộc tính tâm sinh lý của cá nhân thể hiện bản sắc và giá trị xã hội của cá nhân.

Như vậy có thể thấy rằng: nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là nội dung và tính chất bên trong của mỗi cá nhân. Bởi vậy, nếu cá nhân là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa cá thể với giống loài thì nhân cách là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa các cá nhân. Cá nhân là phương thức biểu hiện của giống loài, còn nhân cách vừa là nội dung, vừa là cách thức biểu hiện của mỗi cá nhân riêng biệt.

Nhân cách biểu hiện thế giới cái tôi của mỗi cá nhân, là sự tổng hợp của các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tạo nên đặc trưng riêng về di truyền, về sinh lý thần kinh, về hoàn cảnh sống của cá nhân theo cách riêng của mình. Mỗi cá nhân tiếp thu những giá trị phổ biến của văn hoá xã hội, từ đó, thông qua sự lọc bỏ, tự tiếp nhận của bản thân để hình thành các giá trị định hướng của nhân cách. Các giá trị như lý tưởng, niềm tin, quan hệ lợi ích, nhận thức và hành động được mỗi cá nhân lựa chọn để xác lập hành vi cụ thể, hình thành nhân cách trong quan hệ xã hội.

Mặt khác Nhân cách không phải là bẩm sinh, sẵn có mà được hình thành và phát triển phụ thuộc vào ba yếu tố sau đây:

Thứ nhất, nhân cách phải dựa trên tiền đề sinh học và tư chất di truyền học, một cá thể sống phát triển cao nhất của giới hữu sinh.

Thứ hai, môi trường xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của nhân cách thông qua sự tác động biện chứng của gia đình, nhà trường và xã hội đối với mỗi cá nhân.

Thứ ba, hạt nhân của nhân cách là thế giới quan cá nhân, bao gồm toàn bộ các yếu tố như quan điểm, lý luận, niềm tin, định hướng giá trị...

2. xu hướng

Xu hướng của nhân cách là hệ thống động cơ quy định tính tích cực và sự lựa chọn thái độ của con người trong quá trình hoạt động.

Từ khái niệm trên ta có thể đánh giá: Xu hướng của nhân cách thường được biểu hiện qua: nhu cầu, hứng thú, lý tưởng,
thế giới quan, niềm tin. Có thể nói rằng xu hướng chính là chiều hướng phát triển của nhân cách con người, các thành phần trong xu hướng nhân cách như: nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin là các thành phần trong hệ thống động cơ của nhân cách, chúng là động lực của hành vi, của hoạt động.

II. Quan điểm về cấu trúc nhân cách và xu hướng trong cấu trúc nhân cách và mỗi liên hệ thực tiễn cuộc sống.

1.Một số quan điểm về cấu trúc nhân cách

Quan điểm của Sigmund FreudS.Freud cho rằng, tảng bằng tâm trí của con người gồm 3 cấp bậc: ý thức, tiền ý thức và vô thức. Trong 3 cấp độ ấy, 3 thành phần cơ bản của nhân cách là: cái Ấy (Id), cái Tôi (Ego) và cái Siêu Tôi (Super Ego) tồn tại, đấu tranh và chế ước lẫn nhau. Nhân cách của một người tùy thuộc vào yếu tố nào thắng thế trong cuộc đấu tranh giữa 3 yếu tố trên.

Quan điểm của C.G.Jung và E. Kretschmer: Nhân cách con người có mối liên hệ mật thiết với các đặc điểm sinh học, thể tạng và đặc điểm của hệ thần kinh. E. Kretschmer cho rằng, các thành phần cấu tạo nên cơ thể có mối quan hệ và quy định các thành phần tâm lý của nhân cách.

Thuyết siêu đẳng và bù trừ của Alfred AdlerAlferd Adler cho rằng, mong muốn “siêu đẳng” của con người hướng đến sự “siêu đẳng” là yếu tố quyết định đến nhân cách của con người. Tuy nhiên, mong muốn này khó thực hiện được do sự khiếm khuyết về mặt cơ thể và do điều kiện sống không thuận lợi nên con người có cảm giác thiếu hoàn thiện. Bù trừ là cách giúp con người vượt qua cảm giác đó.

Cấu trúc nhân cách theo các nhà tâm lý học của Nga.

+ Quan điểm của B.G.AnanhievNhân cách bao gồm 4 thành phần: quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý, thuộc tính tâm lý và sự hình thành động cơ (bao gồm nhu cầu và tâm thế.

Đó là những quan điểm về cấu trúc của nhân cách, tuy nhiên tôi thừa nhận cấu trúc của nhân cách theo quan điểm của đa số các nhà tâm lí học việt Nam đó là: Nhân cách được cấu trúc bao gồm 4 thuộc tính: Xu hướng, năng lực, tính cách và khí chất. Xu hướng thể hiện chiều hướng phát triển của nhân cách; tính cách biểu hiện đạo đức, cốt cách làm người; năng lực thể hiện khả năng của con người và khí chất thể hiện hành vi của con người.

Khí chất: Khí chất (tính khí) là thuộc tính tâm lý của cá nhân quy định cường độ, tốc độ, nhịp độ của các hoạt động và thể hiện qua sắc thái hành vi của cá nhân.

Khí chất chỉ là biểu hiện độc đáo bề ngoài của các hoạt động tâm lý của cá nhân chứ không quyết định đến nội dung của các hoạt động tâm lý

Năng lực: Năng lực là hệ thống các đặc điểm tâm sinh lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu củamột hoạt động cụ thể, đảm bảo cho hoạt động đó mang lại hiệu quả.Năng lực bao gồm năng lực chung và năng lực riêng. Năng lực chung có ở tất cảmọi người như: năng lực quan sát, cảm giác, tri giác, tư duy…Năng lực riêng là năng lựcchỉ có ở một số người. Năng lực chuyên môn cũng là một loại năng lực riêng.

Tính cách: Tính cách là hệ thống thái độ của cá nhân đối với hiện thực xung quanh và đối vớibản thân mình được thể hiện trong hành vi, cử chỉ. Tính cách bao gồm nhiều nét tínhcách. Trong đời sống, những nét tính cách tốt thường được gọi là “nết”, “lòng”, “tinh thần”, những nét tính cách xấu được gọi là “thói”, “tật.

2. Xu hướng trong cấu trúc nhân cách và mỗi liên hệ với thực tiễn cuộc sống

Các yếu tố cấu thành xu hướng bao gồm: nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin.

Nhu cầu: Nhu cầu là sự thể hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển.

Đặc điểm của nhu cầu:

+ Thứ 1 : Nhu cầu rất phong phú và đa dạng: Tại một thời điểm có rất nhiều nhu cầu tác động đến con người. Tuy nhiên, có những nhu cầu mang tính cấp bách, cần phải được thỏa mãn trước được gọi là nhu cầu nổi trội. Con người có khuynh hướng thỏa mãn những nhu cầu nổi trội trước.

+ Thứ 2: Nhu cầu của con người bao giờ cũng có đối tượng: Khi cá nhân xuất hiện trạng thái thiếu thiếu hụt thì nhu cầu được nảy sinh. Nhu cầu khiến cá nhân tìm kiếm, hướng đến những đối tượng có thể thỏa mãn được nhu cầu cho bản thân mình. Nhu cầu gặp đúng đối tượng thì nảy sinh động cơ. Động cơ là yếu tố thúc đẩy cá nhân tác động vào đối tượng để thỏa mãn nhu cầu.

+ Thứ 3: Nhu cầu có tính chu kỳ và cường độ tăng dần: Chu kỳ của nhu cầu bắt đầu từ trạng thái thiếu hụt làm nảy sinh nhu cầu, nhu cầu gặp đúng đối tượng nảy sinh động cơ thúc đẩy chủ thể tác động vào đối tượng để thỏa mãn nhu cầu. Sau khi thỏa mãn được nhu cầu thì chu kỳ của một loại nhu cầu kết thúc nhưng lại nảy sinh những nhu cầu khác với cường độ cao hơn chu kỳ trước đó.

+ Thứ 4: Nhu cầu của con người chịu sự chi phối của ý thức và có bản chất xã hội: Nhu cầu của con người khác nhu cầu con vật. Khi có nhu cầu, con vật tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu mà không cần quan tâm đến đối tượng đó là ai (kể cả cha, mẹ, anh, chị, em…). Với con người thì khác, khi thỏa mãn nhu cầu con người cũng phải tuân theo những nguyên tắc của cá nhân và những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Con người biết những đối tượng nào có thể tác động để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, đối tượng nào không thể tác động và đối tượng nào không được phép tác động. Con người nhận thức được hệ quả của việc thỏa mãn nhu cầu, biết sắp xếp, tiết chế nhu cầu cho phù hợp với bản thân, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phù hợp với yêu cầu của xã hội.

+ Thứ 5: Nhu cầu có mối liên hệ mật thiết với cảm xúc: Nhu cầu được thỏa mãn hay không thỏa mãn cũng đều nảy sinh cảm xúc. Nhu cầu được thỏa mãn sẽ nảy sinh cảm xúctích cực (dương tính), ngược lại nhu cầu không được thỏa mãn sẽ nảy sinh cảm xúc tiêu cực (âm tính).

+ Thứ 6: Nhu cầu chi phối đời sống tâm lý của con người: Nhu cầu là cơ sở, là tiền đề, là nguyên nhân nảy sinh phần lớn các hiện tượng tâm lý người. Nhu cầu là một trong những nội dung được nhiều nhà tâm lý học quan tâm, nghiên cứu. Vì thế, việc phân loại nhu cầu cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Theo cách phân chia thông thường thì nhu cầu có 2 loại: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Abraham Masslownhà tâm lý học nhân văn của Mỹ cho rằng, nhu cầu của con người bao gồm 5 thứ bậc khác nhau giống như một chiếc thang. Vì thế, muốn đi lên đỉnh chiếc thang thì phải bắt đầu từ chân thang, muốn thỏa mãn nhu cầu bậc cao thì trước hết phải thỏa mãn được những nhu cầu ở bậc thấp.

+ Thứ 7: Nội dung của nhu cầu: phụ thuộc vào trạng thái thiếu hụt, điều kiện và phương pháp thỏa mãn nhu cầu.

Tóm lại Nhu cầu không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với cá nhân mà còn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Ở cấp độ cá nhân, việc nhận biết nhu cầu của con người có thể tạo điều kiện thuận lợi để hiện thực hóa những nhu cầu chính đáng. Ở cấp độ xã hội, chúng ta cần nhận biết những nhu cầu đã, đang và sắp bảo hòa, những nhu cầu nào đang và sắp nảy sinh để tạo điều kiện cho việc sản xuất, trao đổi và lưu thông hàng hóa.

Liên hệ thực tế nhu cầu tâm lí của con người ví dụ thực tế ngành y.

Con người thích nghi với môi trường thông qua các ứng xử để thoả mãn nhu cầu nhiều mặt của mình.
Nhu cầu cơ bản đó rất đa dạng, đại cương có thể thuộc 3 loại:
+ Nhu cầu vật chất.
+ Nhu cầu tình cảm.
+ Nhu cầu xã hội.

3 loại nhu cầu trên được thoả mãn một cách thích đáng, làm cho con người hài lòng, đưa đến những ứng xử thích hợp, lành mạnh, làm cho con người có sức khoẻ cơ thể và tâm thần. Trái lại, có thể đưa đến không hài lòng, bất mãn đưa đến những ứng xử không thích hợp, ốm yếu, không thích ứng hoặc bị rối nhiễu.

Nhu cầu vật chất: của con người liên quan chặt chẽ với hoạt động của cơ thể để sống, còn gọi là nhu cầu sơ đẳng hay sinh lý, bẩm sinh, ăn uống, nuôi dưỡng kể cả nhu cầu nước, ôxy bài tiết: nhu cầu mặc, nhu cầu có nhà ở, một chỗ núp để cơ thể được ấm áp, được bảo vệ; nhu cầu hoạt động và nghỉ ngơi và hoạt động tình dục...

Con người sống trong xã hội, nên nhu cầu vật chất được thoả mãn thông qua tác động với người khác chủ yếu là những người có ý nghĩa (ở đứa bé, được mẹ cho ăn, tắm rửa, bế bồng, vuốt ve ôm ấp). Nhu cầu vật chất được thoả mãn như thế nào, ảnh hưởng mạnh mẽ đến tương lai của bé. Nếu nhu cầu của bé được đáp ứng nhất quán với sự tôn trọng, bé hài lòng, trẻ sẽ phát triển ý thức tôn trọng bản thân, tôn trọng người khác và thế giới trong đó nó sống. Đó là trẻ đã học tập được cách ứng xử thông qua việc được mẹ thoả mãn nhu cầu ăn. Trái lại nếu không khí bữa ăn căng thẳng, thiếu đầm ấm làm cho trẻ trải nghiệm các cảm giác bất an, không thích thú, không hài lòng có thể đưa đến về sau phát triển thói quen nuốt chửng mau để mau chấm dứt cảm giác khó chịu hoặc phản ứng lại thành ợ, nôn, trớ...

Nhu cầu tình cảm. Phổ biến nhất là nhu cầu được yêu, và được yêu người khác, được tán thành, được thừa nhận, được coi trọng và kính trọng: nhu cầu thấy mình là xứng đáng, được người khác muốn, cần, nhu cầu được làm việc, sáng tạo.

Cũng như đối với nhu cầu vật chất các nhu cầu trên, ngay từ bé được thoả mãn thông qua mối tương tác quan hệ giữa mẹ và con. Nếu bé được bố mẹ thương yêu thoải mái, thẳng thắn, bé phát triển cảm giác mình thật sự có giá trị, có phẩm giá, tự tôn đi đến yêu thương người khác. Nếu bé cảm thấy mình được đối xử như một người quan trọng đi đến coi trọng quyền lợi người khác. Nếu bé được giúp đỡ để giải quyết các vấn đề trong môi trường sẽ phát triển cảm giác sức mạnh và an toàn. Nếu khả năng làm việc được thừa nhận, khuyến khích, phát triển cảm giác đầy đủ, toàn vẹn.

Mỗi chúng ta đều có nhu cầu làm việc, biểu hiện năng lực, năng suất và sự sáng tạo của chúng ta. Nhu cầu này bắt đầu từ lúc bé kém hứng thú trong hoạt động chỉ để vui chơi mà muốn dùng một dụng thật sự có hiệu quả. Lớn dần lên, trẻ học đua tranh để thành một người lớn có đóng góp. Nếu không tìm thấy hài lòng trong việc làm, có thể trải nghiệm cảm giác hèn kém, thất vọng rồi bỏ cuộc. Vậy ngay từ bé, người lớn trong gia đình, nhất là người mẹ không lỡ cơ hội để động viên giúp đỡ khuyến khích, có khi ban thưởng các việc làm thành công của trẻ sự hài lòng, có hứng thú đầu tư sức lực và tâm tư vào công việc.

Các nhu cầu xã hội:

Nảy sinh từ trong nền văn hoá, trong xã hội mà người đó là thành viên. Phổ biến là nhu cầu đồng nhất hoá, theo hình ảnh của bố mẹ và các thành viên trong gia đình, đồng nhất hoá với bạn cùng lứa ở tuổi thanh thiếu niên, thuộc về một đoàn thể, một nhóm nào, chấp nhận một số giá trị từ cách mặc quần áo, đầu tóc, nói năng... nếu không, có thể bị cách biệt, xa lánh trong quan hệ. Từ lúc còn rất bé, người mẹ trong khi thoả mãn nhu cầu vật chất, ăn uống, vệ sinh, bế bồng, cũng là người thầy dạy cho bé phong tục tập quán quan trọng trong gia đình, họ hàng, trong xã hội, hành trang đi vào cuộc sống lao động của người lớn. Được khuyến khích sống trong xã hội, con người có nhu cầu được học tập, giáo dục để chuẩn bị, ban thưởng vì thành tích học tập làm cho bé cảm thấy an toàn, hứng thú để phát triển mở rộng nhu cầu học tập, nắm thêm kiến thức, càng cảm thấy vững vàng hơn. Nếu thường xuyên bị chế diễu, bị mắng trong học tập dẫn đến mất can đảm, có thể có quan niệm sai về kiến thức, giáo dục, đi đến sợ hãi, khinh hoặc ghen tỵ với những người kkhác thành công hơn mình…..

Hứng thú: Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong đời sống vừa có khả năng mang lại khoái cảm.

Như vậy có thể kết luận:

Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng có ý nghĩa quan trọng

với cá nhân và mang lại những rung cảm tích cực cho cá nhân trong quá trình hoạt động. Cũng như nhu cầu, hứng thú cũng là yếu tố thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân hành động. Cá nhân có hứng thú đồng nghĩa với cá nhân đó có thể tập trung chú ý, vui vẻ, say mê và sáng tạo trong hoạt động

Vai trò của hứng thú

Hứng thú đem lại cảm giác khoan khoái, dễ chịu hay thoải mái khi hoạt động lao động.

Hứng thú làm tăng hiệu quả hoạt động nhận thức, hoạt động trí tuệ;

Hứng thú làm tăng sức làm việc;

Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động sáng tạo

Liên hệ thực tiễn: Tầm quan trọng của hứng thú đối với các hoạt động sống và hoạt động học. Sự hứng thú thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê của chủ thể hoạt động. Sự hứng thú gắn liền với tình cảm của con người, nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực vào hoạt động đó. Trong bất cứ công việc gì, nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực và sáng tạo hơn vào hành động đó. Ngược lại nếu không có hứng thú, dù là hành động gì cũng sẽ không đem lại kết quả cao. Đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi không có hứng thú sẽ làm mất đi động cơ học, kết quả học tập sẽ không cao, thậm chí xuất hiện cảm xúc tiêu cực.

Lý tưởng: Lý tưởng là một mục tiêu cao đẹp, một hình ảnh mẫu mực, tương đối hoàn chỉnh, có sức lôi cuốn con người vươn tới nó.

Lý tưởng là biểu hiện và biểu hiện tập trung nhất của xu hướng cá nhân, vì lý tưởng xác định mục đích sống của cá nhân, mục tiêu và chiều hướng phát triển của cá nhân.

Lý tưởng là động lực thúc đẩy, điều khiển toàn bộ hoạt động của con người.

Lý tưởng được xây dựng từ nhận thức đầy đủ cộng với tình cảm, cộng với ý chí mạnh mẽ do đó tạo cho con người có một sức mạnh phi thường vượt qua mọi khó khă trở ngại, thậm chí không sợ hy sinh để đạt tới mục đích.

Thực tiễn cuộc sống cho thấy: Lý tưởng trực tiếp chi phối sự hình thành, phát triển tâm lý của cá nhân.Lý tưởng là biểu hiện tập trung nhất của xu hướng, có chức năng xác định mục tiêu, chiều hướng phát triển của cá nhân. Khi xác định được lý tưởng, con người chủ động hơn, ý chí kiên cường hơn, dám xả thân, hi sinh vì lý tưởng mình đã chọn. Con người sống không có lý tưởng đồng nghĩa với việc chưa xác định được mục tiêu của cuộc đời nên dễ gục ngã khi đối diện với khó khăn, dễ thay đổi khi ngoại cảnh tác động và dễ mất phương hướng khi phải lựa chọn.

Thế giới quan: Thế giới quan là hệ thống quan điểm của cá nhân về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình trong thế giới. Thế giới quan xác định phương hướng hành động của con người và tạo động lực cho con người.

Thực tiễn thế giới quan trong cuộc sống: Thế giới quan đóng vai trò nhân tố sống động của ý thức cá nhân, giữ vai trò chỉ dẫn cách thức tư duy và hành động của cá nhân. Nó đồng thời cũng thể hiện lý luận và khái quát hóa các quan điểm và hoạt động của nhóm xã hội. Mỗi cá nhân cũng luôn mong muốn tiếp nhận những thế giới quan khác, làm phong phú thế giới quan cho mình, góp phần điều chỉnh định hướng cuộc sống.

Xuất phát từ lập trường, biện giải thế giới quan đúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết vấn đề đúng đắn do cuộc sống đặt ra. Ngược lại, xuất phát từ lập trường sai lầm, con người khó có thể tránh khỏi hành động sai lầm.

Khi giải quyết những vấn đề cụ thể của thực tiễn, sớm muộn người ta vấp phải những vấn đề chung, cần đến sự đóng góp của thế giới quan làm cơ sở định hướng giải quyết vấn đề cụ thể. “Một tập hợp những sự kiện mới càng rối rắm bao nhiêu, các tư tưởng mới càng nhiều hình nhiều vẻ bao nhiêu thì nhu cầu phải có một thế giới quan liên kết lại càng cảm thấy trở nên bức thiết bấy nhiêu” (M. Plank).

Niềm tin:

Niềm tin là một phẩm chất của thế giới quan, là kết tinh của hệ thống quan điểm, tri thức, rung cảm, ý chí của cá nhân. Niềm tin sẽ hình thành chân lý của cá nhân. Cá nhân hành động theo niềm tin, vì niềm tin cá nhân có thể làm mọi việc, khắc phục mọi trở ngại.Niềm tin là một phẩm chất của thế giới quan, là kết tinh của hệ thống quan điểm, tri thức, rung cảm, ý chí của cá nhân. Niềm tin sẽ hình thành chân lý của cá nhân. Cuộc sống của mỗi chúng ta luôn cần đến niềm tin và lòng tốt. Một trong những điều nguy hiểm nhất ở con người là đánh mất niềm tin nơi con người và cuộc sống, mất niềm tin nơi những giá trị đạo đức tốt đẹp của cuộc sống. Khi mất niềm tin vào cuộc sống, chúng ta sẽ bị giảm sút ít nhiều nghị lực vươn lên trong cuộc sống, đánh mất ý nghĩa cuộc sống của chính bản thân mình.

C.KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Nhân cách con người là thứ quý giá nhất,vì thế mỗi chung ta phải tự biết hoàn thiện nhân cách sao cho phù hợp. Nhân cách con người được cấu trúc bởi nhiều bộ phận như: năng lực, tính cách,khí chất và một thứ gia vị không thể thiếu đó là xu hướng.Chính xu hướng là cái bản sắc, và độc đáo nhất tạo nên một chiều hướng phát triển của nhân cách muốn thay đổi nhân cách thì trước tiên phải thay đổi xu hướng, đó là thứ gia vị đâm đà nhất mà trong thực tiễn cuộc sống không thể bỏ qua.Vậy nên mỗi chúng ta nên đổi mới xu hướng hay chính là nhân cách theo sự phát triển của thời đại và những chuẩn mực xã hội, hãy tự đánh giá chính mình.

Hoàn thiện nhân cách con người là một tiến trình lâu dài, đòi hỏi ý chí phấn đấu mãnh liệt và bền bỉ. Trong cuộc đấu tranh với chính mình để lọai bỏ thói hư, tật xấu và tập cho mình có những đức tính tốt việc đầu tiên cần làm là bảng đánh giá chính mình. Ta đã hài lòng với tư cách của mình chưa?

+ Điều gì khiến ta thấy ta chưa tốt? Lên danh sách, chọn cái nổi cộm và hạ quyế tâm để sừa sai
+ Hãy chọn cho mình một bảng giá trị để mình yêu quí. Một nhân vật mẫu để noi theo.
+ Hàng ngày chọn một giờ nhất định để xem mình tiến hay lùi tới đâu trong cuộc chiến này
+ Vận dụng người thân, bạn bè tin tưởng yểm trợ tâm lý cho bạn.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền đến sự hình thành và phát triển nhân cách

VAI TRÒ CỦA YẾU TỐ BẨM SINH DI TRUYỀN ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH

VAI TRÒ CỦA YẾU TỐ BẨM SINH DI TRUYỀN ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH Bài tập học kỳ Tâm lý học đại cươngChuyên mục Bài tập học kỳ, Tâm lý học đại cươngNhân cách là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa con người với con người từ những chuyện bình thường, mối quan hệ gia đình, kết giao đến mối quan hệ xã hội, công tác, kinh doanh. Nhân cách thể hiện qua cách ứng xử của con người đối với người khác cũng như đối với sự việc trong cuộc sống, đồng thời nhân cách thể hiện trình độ văn hóa, nhân tính và nguyên tắc sống của con người. Con người là một thực thể xã hội, vì vậy chất lượng mối quan hệ xã hội có ảnh hưởng quyết định đối với chất lượng cuộc sống.Nhân cách được định hình bởi hệ thống những phẩm giá thể hiện qua các mối quan hệ của con người xuất phát từ tâm lý, tình cảm, nhân sinh quan, nhận thức về bản thân và xã hội. Nhân cách là đặc trưng của từng cá nhân, là bản chất thực của con người. Có nhiều yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách, trong đó có yếu tố di truyền – bẩm sinh, yếu tố này đóng vai trò là cái đầu tiền, cái tiền đề cho nhân cách ở mỗi người.NỘI DUNGI VAI TRÒ CỦA YẾU TỐ BẨM SINH DI TRUYỀN ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH1 Nhân cách1.1 Khái niệm nhân cáchCho đến nay có rất nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau về nhân cách, một số khái niệm thường gặp:Quan điểm thứ nhất thì nhân cách là toàn bộ những thuộc tính đặc biệt mà một cá thể có được trong hệ thống các quan hệ xã hội, trên cơ sở hoạt động và giao lưu nhằm chiếm lĩnh các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần. Những thuộc tính đó bao hàm các thuộc tính về trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, vật chất.Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô, nhân cách được thể hiện ở hai mặt: thứ nhất là con người với tư cách là chủ thể của các mối quan hệ và hoạt động có ý thức, thứ hai là một hệ thống giá trị có ý nghĩa xã hội đặc trưng cho cá thể trở thành một nhân cách.Mặc dù các quan điểm, định nghĩa trên có khác nhau nhưng nhìn chung có sự thống nhất khi xem xét nhân cách, đó là:Những phẩm chất và năng lực có giá trị đối với cá nhân và xã hội được hình thành và phát triển bằng hai con đường chủ yếu là hoạt động và giao lưu.Mỗi cá nhân có một nhân cách riêng bao gồm hai mặt: mặt tự nhiên và mặt xã hội, trong đó mặt xã hội có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, thể hiện đặc thù về nhân cách của mỗi con người.Nhân cách là tổng hợp những phẩm chất, năng lực không thành bất biến của cá nhân mà nó thường xuyên vận động, biến đổi theo chuẩn mực, giá trị xã hội.1.2 Đặc điểm của nhân cáchTính thống nhất của nhân cách: nhân cách là một cấu trúc tâm lý, tức là một chỉnh thể thông nhất các thuộc tính, đặc điểm tâm lý xã hội, thông nhất giữa phẩm chất và năng lực, giữa đức và tài.Tính thống nhất của nhân cách còn thể hiện ở sự thống nhất giữa ba cấp độ: cấp độ bên trong cá nhân, cấp độ liên cá nhân, cấp đọ siêu cá nhân. Đó chính là sự thống nhất giữa tâm lý, ý thức với hoạt động giao tiếp của nhân cách.Thứ hai là tính ổn định của nhân cách: là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn định và bền vững. Nhân cách là tập hợp những thuộc tính tâm lý tạo thành bộ mặt tâm lý xã hội của cá nhân, phần nào nói lên bản chất xã hội của họ. Vì thế các đặc điểm nhân cách cũng như cấu trúc nhân cách khó hình thành và cũng khó mất điThứ ba: tính tích cực của nhân cách được biểu hiện trước tiên ở việc xác định một cách tự giác mục đích hoạt động, tiếp đó là sự chủ động tự giác thực hiện các hoạt động, giao tiếp nhằm hiện thực hóa mục đích. Ở đây, nhân cách bộc lộ khả năng tự điều chỉnh và chịu sự điều chỉnh của xã hội, đâu cũng là biểu hiện tích cực của nhân cách. Tùy theo mức độ và loại hình hoạt động mà mục đích của nó được nhân cách xác định là nhận thức hay cải tạo thế giới, nhận thức hay cải tạo chính bản thân mình. Giá trị đích thực của nhân cách, chức năng xã hội và cốt cách làm người của cá nhân thể hiện rõ nét tính tích cực của nhân cách. Tính tích cực của nhân cách cũng biểu hiện rõ trong quá trình thỏa mãm các nhu cầu của nó. Không chỉ thỏa mãn với các đối tượng có sẵn, con người luôn luôn tạo ra các đối tượng mới, các phương thức thỏa mãn mới những nhu cầu ngày càng cao của họ. Quá trình đó luôn là quá trình hoạt động có mục đích tự giác, trong đó con người làm chủ được những hình thức hoạt động của mình.Thứ tư là tính giao lưu của nhân cách. Nhân cách chỉ có thể hình thành, phát triển, tồn tại và thể hiện trong hoạt động và trong mối quan hệ giao lưu với những nhân cách khác. Nhu cầu giao lưu (giao tiếp) được xem như là một nhu cầu bẩm sinh của con người. Thông qua quan hệ giao tiếp với người khác, con người gia nhập các quan hệ xã hội, lĩnh hội các chuẩn mực đạo đức và hệ thống giá trị xã hội. Đồng thời, cũng qua giao tiếp mà con người được đánh giá, được nhìn nhận theo quan hệ xã hội. Điều quan trọng là qua giao tiếp, con người đóng góp các giá tị nhân cách của mình cho người khác, cho xã hội.1.3 Sự phát triển nhân cáchCon người từ khi mới sinh ra chưa có sự định hình về nhân cách. Dần dần theo thời gian, tác động của quá trình sống, tất yếu mỗi con người phải hoạt động, giao lưu thông qua học tập, lao động, vui chơi, giải trí… ngày càng tích lũy được những kinh nghiệm mà nhân loại tích lũy được trong các loại hoạt động, từ đó biến thành vốn sống của cá nhân. Đó chính là quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người. Sự phát triển đó được biểu hiện qua các dấu hiệu sau: sự phát triển về mặt thể chất (tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng, cơ bắp, sự hoàn thiện các chức năng giác quan; sự phát triển về mặt tâm lý thể hiện sự biến đổi cơ bản trong quá trình nhận thức, xúc cảm, tình cảm, nhu cầu, ý chí…; sự phát triển về mặt xã hội thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong các mối quan hệ vơi người xung quanh, ở tính tích cực nhận thức tham gia vào các hoạt động cải biến, phát triển xã hội.Như vậy, sự phát triển nhân cách là một quá trình cải biến toàn bộ các sức mạnh về vật chất và tinh thần cả về lượng và chất; có tính đến đặc điểm của mỗi lứa tuổi. Sự tăng trưởng về lượng và sự biến đổi về chất không chỉ diễn ra đối với các mặt thể chất, tâm lý và xã hội do quá trình hoạt động, giao lưu trong cuộc sống cá nhân , do tác động của hiện thực xung quanh và còn diễn ra với cả những mầm mống, dấu hiệu được di truyền hay có từ khi mới sinh. 2 Yếu tố bẩm sinh – di truyền 2.1 Thế nào là yếu tố bẩm sinh – di truyềnTrong đời sống, chúng ta dễ dàng nhận thấy người châu Âu da trắng, mắt xanh, người châu Phi da đen, tóc xoăn, người châu Á thường da vàng, mắt nâu – đen thì con cái của họ khi mới sinh ra giống bố mẹ. Đây là sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc trưng sinh học nhất định của nòi giống, được ghi lại trong chương trình gen độc đáo bởi hệ thống gen goi là di truyền. Gen là vật mang mã di truyền những đặc điểm sinh học của giống loài trong quá trình tồn tại và phát triển theo con đường tiến hóa tự nhiên. Như vậy, di truyền là sự tái tạo ở trẻ những thuộc tính sinh học nhất định ghi lại trong cấu trúc gen. Di truyền những đặc trưng sinh học của cha mẹ truyền lại cho con cái không phải chỉ biểu hiện một cách hiện hữu khi đứa bé đó mới sinh ra mà có thể có những mầm mống, tư chất sau một thời gian mới bộc lộ thành dấu hiệu của một số năng khiếu như: hôi họa, thơ ca, toán học…hoặc thiểu năng trong một số lĩnh vực của cuộc sống.Bẩm sinh là những thuộc tính, những dặc điểm sinh học có ngay khi đứa trẻ mới sinh.3 Vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền đến sự hình thành và phát triển nhân cách. Theo quan niệm của dân gian, mỗi người sinh ra đều thừa hưởng những tố chất về thể chất cũng như nhân cách của cha mẹ, vì thế từ xa xưa các cụ đã có câu “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”, ta thường thấy ở những gia đình có cha mẹ là người tài giỏi, con cái của họ cũng tài giỏi. Có thể nói ngày từ xưa, cha ông ta đã nhìn ra vai trò của yếu tố bẩm sinh – di truyền trong sự phát triển nhân cách của con người. Ngày nay, điều đó đã được khoa học chứng minh. Vào thời cận đại, Mác đã nói “Con người là một thực thể sinh học – xã hội”, về sự tồn tại, con người bỏ xa thế giới động vật trong sự tiến hóa nhưng như vậy không có nghĩa là con người đã lột bỏ hết cái gọi là tự nhiên – sinh học. Khi nói đến mặt sinh học, nó vẫn luôn tồn tại hiện hữu trong mỗi cá nhân giống như cơ thể con người là một thực thể sinh học, có cấu tạo và hoạt động theo những quy luật để nó có thể thống nhất và hòa nhập với tự nhiên các thực thể khác, con người chỉ bị nhịp sống xã hội làm quên đi cái tự nhiên – sinh học trong con người.Và vì khác với động vật, con người luôn tồn tại trong một xã hội nên con người tồn tại mặt xã hội nhưng ta không thể phủ nhận vai trò của các yếu tố sinh học tác động đến cuộc sống của chúng ta. Một cơ thể hoàn hảo là sự kết hợp giữa yếu tố xã hội và yếu tố sinh học, con người là thực thể hòa quyện giữa hai yếu tố, thiếu yếu tố xã hội, con người sẽ không khác gì các loại động vật khác, thiếu yếu tố sinh học, con người không thể tồn tại như một thực thể sống. Vấn đề này đã được tranh cãi suốt thời gian dài trước sự phát triển của khoa học, đặc biệt là sinh vật học và khoa học xã hội nhân văn với các quan điểm khác nhau. Theo “chủ nghĩa sinh vật học xã hội” dựa trên quan niệm của chủ nghĩa tự nhiên khi cho rằng “tất cả những gì của con người do bẩm sinh mà có, không thể bị thay đổi do các điều kiện xã hội”, theo họ “sự phát triển của bộ não, sự chuyên trách của bộ não, tốc độ và tính khuynh hướng của quá trình giáo dục con người được hình thành trên trái đất, chủ yếu bằng con đường di truyền.”Những người theo chủ nghĩa xã hội lại nhận định rằng, các hành vi của con người đều do tư tưởng, ý thức xã hội tạo nên, đồng thời họ phủ nhận mối liên hệ khách quan giữa hành vi con người với những điều kiện vật chất của sản xuất và tái sản xuất con người với tự nhiên.Như ta đã nói ở trên thì quan điểm của triết học Macxit cho rằng, trong con người, yếu tố sinh học và xã hội không đối lập mà thống nhất nhau. Điều này đã được khoa học ngày nay chứng minh là đúng.Như vậy, có thể khẳng định yếu tố bẩm sinh – di truyền đóng vai trò quan trọng, nó đóng vai trò như là tiền đề vật chất cho sự phát triển nhân cách cá nhân. Trong quá trình sống, con người còn chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác và chúng tác động đến sự hình thành nhân cách mỗi người. Tuy vậy, các yếu tố đó chỉ đóng vai trò phát triển thêm chứ không có tính quyết định.Sức sống, năng lực tiềm tàng ở mỗi người là khác nhau, nó có vai trò như là nguồn năng lượng cực kì quan trọng cho sự phát triển của cá nhân, chi phối và để lại dấu ấn rõ nét trong nhân cách con người, một ví dụ như sau: hai đứa trẻ cùng sinh ra trong cùng một khoảng thời gian, với điều kiện gia đình là như nhau. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, đứa trẻ được sinh ra trong gia đình có bố mẹ đều làm trong làng giải trí lại có thể nói năng nhanh nhẹn, năng động, hoạt bát và dễ hòa đồng hơn do đó nó có nhiều bạn bạn bè, làm quen nhanh khi môi trường sống thay đổi hơn đứa trẻ có bố mẹ làm bác sĩ, điều đó cho thấy vai trò tiền đề vật chất của yếu tố di truyền – bẩm sinh cho sự phát triển của trẻ.Lý luận và thực tiễn cho thấy mầm mống, tư chất, năng khiếu để phát triển thành năng lực, phẩm chất của cá nhân về một lĩnh vực nào đó có trong con người từ khi mới sinh ra, mang bản chất di truyền, kế thừa từ các thế hệ trước. Ví dụ như thiên tài Anxtanh, Anhxtanh có mẹ bà Pauline Koch, đã tỏ ra có óc thẩm mỹ ngoài bản tính cần cù, tế nhị, bà hay khôi hài và yêu thích âm nhạc nên ngoài là một thiên tài về vật lý, toán học Anhxtanh còn là một người rất có tài vĩ cầm hay cha của Ga – li – lê là một nhà toán học và chúng ta đều biết sau này ông cũng trở thành một nhà toán học, nhà vật lý học nổi tiếng. Theo một nghiên cứu của Mỹ cách đây 2 thế kỷ có một nhà bác học đã tài tên Jonathan Edwards – nhà thần học, triết học, nhà thuyết giáo nổi tiếng trong đạo tin lành, người ta tính được con cháu của ông hiện nay đã đến đời thứ 7, 8 trong số đó có 13 người là hiệu trưởng trường đại học, bác sĩ có hơn 60 người, mục sư hàng trăm người, nhà văn hơn 80 người, phó tổng thống 1 người, thượng hạ viện hơn 20 người… Có thể nói đây là một dòng họ cực kỳ danh giá. Ngược lại, một người đàn ông nghiện rượu tên là Marks Juke, nay con cháu ông cũng đến đời thứ 7, thứ 8 tuy nhiên số người nghèo khổ, thiếu ăn hoen 300 người, phạm tội và tử hình 7 người, trộm cắp 63 người, tàn phế và nghiện rượu hơn 400 người…Thực tế đã cho thấy rằng có rất nhiều ví dụ chứng minh sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền – bẩm sinh đến sự phát triển của cá nhân. Từ xưa đến nay có nhiều gia đình có cùng một ngành nghề, nhất là trong lĩnh vực nghệ thuật như gia đình nhạc sĩ “Trần Tiến”, hay như gia đình của Diva Thanh Lam, Hà Trần, gia đình nữ diễn viên Lê Khanh…xuất phát từ đó mà dân gian có câu “lấy vợ xem tong, lấy chồng xem giống”. Ngay trong việc trăm năm của con người, như các cụ xưa khi kén rể, kén dâu thường xem xét các đời trước đó, suy nghĩ đó vẫn còn hiện hành trong các cô gái thời hiện đại khi kén chồng tương lai. Cuối cùng, nhân cách tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách nói riêng, sự phát triển của cá nhân nói chung. Di truyền tạo ra sự khác biệt ở mỗi cá thể người, trước hết ở các loại hình khí chất, các kiểu hoạt động thần kinh, sau cùng với các yếu tố khác tạo nên những đặc điểm riêng không chỉ về mặt sinh học mà cả về tính cách, năng lực của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, nếu chúng ta đề cao quá vai trò của yếu tố di truyền, phủ nhận khả năng biến đổi bản chất con người, hạ thấp vai trò của giáo dục đến sự hình thành nhân cách là một sai lầm vì những đứa trẻ sinh ra mặc dù không được thừa hưởng khả năng bẩm sinh nhưng nếu được giáo dục đúng cách ở môi trường lành mạnh thì đứa trẻ đó hoàn toàn có thể thành đạt, ngược lại những đứa trẻ dinh ra trong gia đình đã có truyền thống về năng khiếu, năng lực nhưng lại không được giáo dục đúng cách thì tài năng cũng sẽ tự nhiên bị thui chột.Mặc dù khẳng định vai trò to lớn của yếu tố sinh học đối với sự phát triển của cá nhân nhưng khoa học cũng khẳng định: những đặc điếm sinh học chỉ tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhân cách nới riêng và sự phát triển cá nhân nói chung. Do đó, khoa học giáo dục phủ nhận quan điểm trong dân gian cho rằng “cha mẹ sinh con, trời sinh tính”, chỉ đề cao vai trò của di truyền – bẩm sinh.II LIÊN HỆ THỰC TIỄNTrong cuộc sống, có rất nhiều trường hợp cho thấy yếu tố bẩm sinh, di truyền có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách. Có thể lấy một ví dụ cụ thể về gia đình của NSND Trần Tiến – NSND Lê Mai, họ là cặp vợ chồng “trai tài, gái sắc”, không chỉ có vậy, ba cô con gái của họ NSND Lê Mai, NSND Lê Khanh, NSND Lê Vy, họ đều là những người thành công trong sự nghiệp nghệ thuật. Hay như gia đình của Diva Thanh Lam, người được coi là nữ hoàng nhạc nhẹ của Việt Nam, sinh ra trong một gia đình “con nhà nòi”, bố là nhạc sĩ Thuận Yến, mẹ là NSUT Thanh Hương, Thanh Lam thừa hưởng cả khiếu âm nhạc trời phú của cha và nhan sắc mặn mà của mẹ, Thanh Lam đã sớm đi theo con đường nghệ thuật. Thanh Lam đã đi biểu diễn từ khi còn nhỏ, khi cô đứng trên sân khấu, giọng hát đầy truyền cảm và nội lực của cô đã giúp tất cả những khán thính giả cũng như những người làm chuyên môn dễ dàng nhận ra rằng đó là một giọng hát bẩm sinh. Thanh Lam kết hôn lần thứ hai với nhạc sĩ Quốc Trung, họ đã có hai người con là Thiện Thanh và Đăng Quang, cả hai đều được thừa hưởng năng khiếu nghệ thuật từ gia đình nên sớm bộc lộ khả năng nghệ thuật cua mình. Đây là gia đình cho thấy rõ nhất sự tác động của yếu tố di truyền – bẩm sinh đến sự phát triển của cá nhân.Trong y học, người ta biết áp dụng yếu tố bẩm sinh – di truyền vào việc nuôi cấy thai nhi cho những cặp đôi có vợ vô sinh hoặc chồng vô sinh, vợ k có khả năng sinh đẻ… Người ta cho nuôi cấy trong ống nghiệm với sự kết hợp của các cặp tinh trùng – trứng mà không phải là của bố mẹ. Việc lựa chọn tinh trùng trứng là của các ông bố, bà mẹ muốn có con cái với nhiều sự chọn lựa khác nhau. Ở một số nơi, người ta có những ngân hàng tinh trùng – trứng đã được mua hay được hiến tặng để kinh doanh do ứng dụng vai trò của yếu tố bẩm sinh – di truyền. Việc lựa chọn tinh trùng – trứng từ những ngân hàng đó phải mất phí, họ có đầy đủ thông tin về người hiến tặng tinh trùng – trứng để làm chỉ tiêu cho việc xác định giá cả.Hiện nay, khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, các nhà khoa học trên thế giới đã tìm ra được phương pháp can thiệp vào mã di truyền của hệ thống gen nhằm nâng cao kết quả chữa trị những bệnh hiểm nghèo của con người. Song họ vô cùng lo ngại rằng, nếu các phương pháp can thiệp vào di truyền, sinh học nhằm mục đích chính trị thì sẽ vô cùng nguyhiểm, ngược lại với chủ nghĩa nhân văn thì hậu quả sẽ vê cùng ghê ghớm.Trong quá trình giáo dục thế hệ trẻ, chúng ta cần quan tâm đúng mức yếu tố di truyền – bẩm sinh, đó là những mầm mống, tư chất sinh học có vai trò tiền đề phát triển một số phẩm chất, năng lực của nhân cách. Tất nhiên, nếu chúng ta quá coi nhẹ hay tuyệt đối hóa thì cũng sẽ phạm phải sai lầm khi phân tích, so sánh, đánh giá vị trí, vai trò, tác động của môi trường, hoàn cảnh và của giáo dục đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách.Thực tế đã cho thấy rằng, ở nước ta hiện nay vẫn còn khá khó khăn, sự phân hóa giàu nghèo theo các vùng miền còn lớn. Ở những vùng núi, có rất nhiều trẻ em, ngay từ nhỏ sinh ra đã có những tư chất, năng khiếu bẩm sinh về âm nhạc, hội họa, thể thao, toán học… nhưng do điều kiện, hoàn cảnh sống những đứa trẻ đó không có đủ điều kiện, cơ hội để phát huy tài năng của mình, do vậy những năng khiếu đó bị thui chột dần. Nếu những đứa trẻ đó được giáo dục từ sớm, được sống trong môi trường thuận lợi, chắc chắn các em sẽ phát huy được tài năng và trở thành những người tài giỏi. Do đó, Nhà nước cần phải có những biện pháp, tạo điều kiện tốt nhất cũng như phải quan tâm hơn đến các em nhỏ ở những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn để giúp các em phát triển được năng khiếu của mình, để trở thành những công dân có ích cho gia đình và xã hội.KẾT LUẬNCó thể thấy rằng, nhân cách con người không tự nhiên sinh ra mà nó được hình thành và phát triển trong suốt cuộc đời của mỗi người trong đó các yếu tố giáo dục, hoạt động, giao tiếp giữ vai trò quyết định và tạo thành những con đường cơ bản nhất, còn yếu tố bẩm sinh đóng vai trò là tiền đề vật chất để hình thành nhân cách. Các yếu tố này phải được xây dựng theo một hướng nhất định nhằm hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người.
Xem thêm

12 Đọc thêm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỚI GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO CÁN BỘ, LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỚI GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO CÁN BỘ, LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ HIỆN NAY

Trong xã hội mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội xét đến cùng bị quy định bởi quan hệ lợi ích xã hội. Tuỳ theo trình độ phát triển của xã hội mà lợi ích cá nhân phù hợp ít hay nhiều với lợi ích xã hội. Để điều hoà mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội cần có sự tham gia của đạo đức. Đạo đức giữ vai trò điều chỉnh động cơ, hành vi của mỗi cá nhân trong xã hội không đối lập với lợi ích của các cá nhân khác và của cả xã hội. Tuy nhiên, thực tế lịch sử cho thấy, không phải chế độ xã hội nào cũng xuất hiện những tư tưởng đạo đức đúng đắn nhằm giải quyết hài hoà mối quan hệ đó. Mỗi chế độ xã hội có những quan niệm đạo đức riêng của nó để giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội. Trong các xã hội cũ, đạo đức của giai cấp bóc lột là nhằm bảo vệ lợi ích của những kẻ cầm quyền thống trị xã hội. Đạo đức đó đề cao tuyệt đối cái cá nhân, đạt lợi ích cá nhân lên trên hết. Chủ nghĩa cá nhân, do đó đã trở thành nguyên tắc đạo đức chủ đạo giữ vai trò chi phối đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân. Trong xã hội XHCN, đạo đức mới giữ vai trò bảo vệ lợi ích của toàn thể nhân dân lao động, nó đề cao cá nhân và lợi ích cá nhân nhưng không tách rời với tập thể, xã hội, giữa cá nhân và xã hội có mối quan hệ hài hoà thống nhất. Đạo đức đó luôn hướng con người hành động vì lợi ích chung, đặt lợi ích chung lên trên hết trước hết
Xem thêm

150 Đọc thêm

Giáo án lịch sử lớp 12 full

GIÁO ÁN LỊCH SỬ LỚP 12 FULL

Bài 1
Tiết 1 : CÔNG DÂN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
(2 tiết)
I. Mục tiêu bài học
Học xong bài này, học sinh cần đạt được:
1. Về kiến thức
Nêu được thế nào là sản xuất của cải vật chất và vai trò của sản xuất của cải vật chất đối với đời sống xã hội.
Nêu được các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và mối quan hệ giữa chúng.
Nêu được thế nào là phát triển kinh tế và ý nghĩa của phát triển kinh tế đối với cá nhân, gia đình và xã hội.
2. Về kỹ năng
Biết tham gia xây dựng kinh tế gia đình phù hợp với khả năng của bản thân.
3. Về thái độ
Tích cực tham gia kinh tế gia đình và địa phương.
Tích cực học tập để nâng cao chất lượng lao động của bản thân, góp phần xây dựng kinh tế đất nước.
Xem thêm

77 Đọc thêm