NLXH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ TẬP THỂ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NLXH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ TẬP THỂ":

Từ nhan đề và ý nghĩa vở kịch: “Tôi và chúng ta” của tác giả Lư¬u Quang Vũ, hãy viết bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong cuộc sống ngày nay.

TỪ NHAN ĐỀ VÀ Ý NGHĨA VỞ KỊCH: “TÔI VÀ CHÚNG TA” CỦA TÁC GIẢ LƯ¬U QUANG VŨ, HÃY VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN NÊU SUY NGHĨ CỦA EM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ TẬP THỂ TRONG CUỘC SỐNG NGÀY NAY.

Đề bài: Từ nhan đề và ý nghĩa vở kịch: “Tôi và chúng ta” của tác giả Lư¬u Quang Vũ, hãy viết bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong cuộc sống ngày nay. Dàn ý phần thân bài: +Trình bày những hiểu biết khái quát về nhan đề và ý nghĩa vở kịch “Tôi và chúng ta” của Lưu Quang Vũ. Vở kịch phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt để thay đổi tổ chức, lề lối hoạt động sản xuất ở xí nghiệp Thắng Lợi. Một bên là tư tưởng bảo thủ khư khư giữ lấy nguyên tắc, quy chế cứng nhắc, lạc hậu với một bên là tinh thần giám nghĩ giám làm, khát khao đổi mới vì lợi ích của tập thể. Qua nhan đề, cùng với xung đột của hai phía, tác giả khẳng định không có thứ chủ nghĩa tập thể chung chung. Cái ta được hình thành từ nhiều cái tôi cụ thể. Cái tôi vì tập thể, vì cái chung, cái tôi phải được hoà trong cái ta nhưng cần có tiếng nói riêng và đúng đắn theo những quan điểm tiến bộ của thời đại. + Trình bày những hiểu biết về cái TÔI và cái TA. Tôi là số ít, là một cá nhân với những suy nghĩ và cuộc sống riêng. Ta vừa là số ít vừa là số nhiều nhưng được hiểu ở đây là chỉ số nhiều, chỉ tập thể của nhiều cái tôi cùng tham gia. Giữa Tôi và Ta phải có mối quan hệ nhất định: trong tôi có ta, trong ta có tôi. Có tập thể khi có nhiều cá nhân cùng tham gia, trong tập thể có tiếng nói cá nhân. Một tập thể mạnh khi có nhiều cá nhân xuất sắc, một tổ chức ổn định thì đời sống cá nhân cũng ổn định, vững vàng… + Những biểu hiện cụ thể của mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong cuộc sống hiện nay: Trong nhiều tổ chức, nhiều tập thể vẫn có những cá nhân hết lòng cống hiến sức khoẻ, năng lực, tâm huyết để dựng xây cơ quan, đơn vị mình công tác. Họ có thể là những lãnh đạo của cơ quan, họ cũng có thể là các nhân viên, bảo vệ, là các bạn cán bộ lớp, các thành viên trong lớp… Đơn vị đó vì vậy mà không ngừng lớn mạnh góp thêm vào việc xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, phong trào của nhà trường… (Dẫn chứng minh hoạ, có thể trong các văn bản đã học) Nhưng trước những biến động và đổi thay không ngừng của nền kinh tế thị trường, nhu cầu cuộc sống cá nhân ngày một khác đã trở thành khá phổ biến những quan niệm cho rằng tr¬ước hết phải vì cuộc sống của chính mình, vì lợi ích của riệng mình. Vì vậy trước tập thể nhiều cá nhân đã không đóng góp hết mình và dựa dẫm ỉ lại vào số đông theo suy nghĩ “Nước nổi thì bèo nổi”. Họ tìm cách để thu vào túi mình những nguồn lợi lớn nhất để ổn định cuộc sống gia đình và hưởng thụ, họ thờ ơ trước những thay đổi của đơn vị mình, thờ ơ trước những khó khăn của mọi người xung quanh. Họ không giám đấu tranh trước những cái sai, cái xấu, bàng quan và vô ưu vì sợ liên luỵ đến mình, ảnh hưởng đến danh tiếng, chức sắc, thu nhập… Có thể nói mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong cuộc sống ngày nay có phần xấu đi, dường như mọi người chỉ còn làm việc theo trách nhiệm và làm vừa đủ, vừa đúng thậm chí chưa hoàn thành công việc của mình…(Dẫn chứng ở tập thể lớp, ở địa phương hoặc ở một cơ quan đơn vị mà em biết). + Trước hiện trạng đó mỗi cá nhân chúng ta cần phải làm gì? Xác định lại quan điểm đúng đắn về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, nêu cao tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, tinh thần trách nhiệm của mỗi người trong tổ chức, đơn vị mình công tác và sinh hoạt. Tập thể phải bảo vệ quyền lợi của mỗi cá nhân, bênh vực cá nhân, động viên, khích lệ họ v¬ợt lên mọi hoàn cảnh để có nhiều đóng góp vì lợi ích chung… + Liên hệ mở rộng đến những quan điểm của người xưa: “Một cây làm chẳng lên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể còn được hiểu rộng ra là sự hợp tác và hữu nghị không chỉ trong nước mà còn trên phạm vi quốc tế. Trong cơ chế hoà nhập ngày nay cá nhân nói riêng, đơn vị, cơ quan, tỉnh thành, quốc gia cần kịp thời nắm bắt cơ hội hoà nhập nhưng trong sự hoà nhập đó không có sự hoà tan, trong cái riêng có những cái chung và ngược lại. Tất cả vì tinh thần đoàn kết, hoà bình cùng phát triển và tiến bộ… (Sưu tầm)
Xem thêm

2 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC ĐẠI LƯỢNG

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC ĐẠI LƯỢNG

kVÍ DỤ 2: ðốt cháy hồn tồn a mol một anđehit X (mạch hở) tạo ra b mol CO2 và c mol H2O (biết b =a + c). Trong phản ứng tráng gương, một phân tử X chỉ cho 2 electron. X thuộc dãy đồng đẳng anđehitA. no, đơn chức.B. khơng no có hai nối đơi, đơn chức.C. khơng no có một nối đơi, đơn chức.D. no, hai chức.HƯỚNG DẪN GIẢITrong phản ứng tráng gương một anđehit X chỉ cho 2e → X là anđehit đơn chức bởi vì:+1+3RCHO → RCOONH 4trong đó: C+1 − 2e → C+3.ðặt cơng thức phân tử của anđehit đơn chức X là CxHyO ta có phương trìnhThS. LƯU HUỲNH VẠN LONG (Giảng viên Trường ðH Thủ Dầu Một- Bình Dương)-1-“CHUN: Bồi dưỡng kiến thức – Luyện thi TN THPT – Cð & ðH mơn HĨA HỌC”ðể tìm hiểu và đăng ký học, hãy liên lạc đến SðT: 0986.616.225 (T.Long). Email: Vanlongtdm@gmail.comPHƯƠNG PHÁP MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC ĐẠI LƯNGWebsite: www.hoahoc.edu.vn
Xem thêm

9 Đọc thêm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỚI GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO CÁN BỘ, LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỚI GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO CÁN BỘ, LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ HIỆN NAY

Trong xã hội mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội xét đến cùng bị quy định bởi quan hệ lợi ích xã hội. Tuỳ theo trình độ phát triển của xã hội mà lợi ích cá nhân phù hợp ít hay nhiều với lợi ích xã hội. Để điều hoà mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội cần có sự tham gia của đạo đức. Đạo đức giữ vai trò điều chỉnh động cơ, hành vi của mỗi cá nhân trong xã hội không đối lập với lợi ích của các cá nhân khác và của cả xã hội. Tuy nhiên, thực tế lịch sử cho thấy, không phải chế độ xã hội nào cũng xuất hiện những tư tưởng đạo đức đúng đắn nhằm giải quyết hài hoà mối quan hệ đó. Mỗi chế độ xã hội có những quan niệm đạo đức riêng của nó để giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội. Trong các xã hội cũ, đạo đức của giai cấp bóc lột là nhằm bảo vệ lợi ích của những kẻ cầm quyền thống trị xã hội. Đạo đức đó đề cao tuyệt đối cái cá nhân, đạt lợi ích cá nhân lên trên hết. Chủ nghĩa cá nhân, do đó đã trở thành nguyên tắc đạo đức chủ đạo giữ vai trò chi phối đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân. Trong xã hội XHCN, đạo đức mới giữ vai trò bảo vệ lợi ích của toàn thể nhân dân lao động, nó đề cao cá nhân và lợi ích cá nhân nhưng không tách rời với tập thể, xã hội, giữa cá nhân và xã hội có mối quan hệ hài hoà thống nhất. Đạo đức đó luôn hướng con người hành động vì lợi ích chung, đặt lợi ích chung lên trên hết trước hết
Xem thêm

150 Đọc thêm

Cá nhân và tập thể như giọt nước và biển cả. Em có suy nghĩ gì về mối quan hệ đó

CÁ NHÂN VÀ TẬP THỂ NHƯ GIỌT NƯỚC VÀ BIỂN CẢ. EM CÓ SUY NGHĨ GÌ VỀ MỐI QUAN HỆ ĐÓ

Trong bài thơ Tiếng ru, nhà thơ Tố Hữu viết: Con ong làm mật yêu hoa, Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời. Con người muốn sống con ơi, Phải yêu đồng chí, yêu người anh em. Một ngôi sao chẳng sáng đêm, Một thân lúa chín chẳng nên mùa vàng. Một người đâu phải nhân gian, Sống chăng một đốm lửa tàn mà thôi! Núi cao bởi có đất bồi Núi chê đất thấp, núi ngồi ở đâu? Muốn dòng sông đổ biển sâu, Biển chê sông nhỏ, biển đâu nước còn ? Nhà thơ đã sử dụng hàng loạt ẩn dụ nghệ thuật hàm súc về mặt ý nghĩa để khẳng định mối quan hệ mật thiết, hữu cơ giữa cá nhân và cộng đồng. Mối quan hệ đó cũng có thể diễn đạt thông qua hình ảnh so sánh: Cá nhân và tập thể như giọt nước và biển cả, gắn bó với nhau khăng khít, không thể tách rời. Một giọt nước không thể làm nên biển cả vì nó quá nhỏ bé, nhưng tỉ tỉ giọt nước từ trăm sông ngàn suối tuôn chảy về cùng một hướng sẽ tạo nên biển cả mênh mông, vô tận. Con người cũng vậy. Không ai có thể sống một mình vì phải cần đến rất nhiều mối quan hệ với thế giới xung quanh. Miếng cơm ta ăn là do nông dân dầm sương dãi nắng, đổ mồ hôi sôi nước mắt làm ra. Tấm áo ta mặc, cuốn sách, cái bút, đôi dép ta dùng và bao vật phẩm khác là do công sức của hàng triệu công nhân miệt mài ngày đêm trong các nhà máy, xí nghiệp sản xuất để phục vụ đời sống của con người. Bao công trình lớn nhỏ trên đất nước như sân bay, bến cảng, nhà ga, bệnh viện, trường học, khách sạn, công viên, nhà ở, đường sá, cầu cống… là kết quả của quá trình lao động, sáng tạo của đội ngũ kiến trúc sư, kĩ sư, công nhân xây dựng. Các thầy cô giáo dạy kiến thức và giáo dục đạo đức cho học sinh. Các thầy thuốc chữa bệnh cứu người. Các chiến sĩ vững tay súng giữ vững biên cương, vùng biển, vùng trời của Tổ quốc, gìn giữ cuộc sống hòa bình no ấm cho nhân dân. Tất cả kết hợp thành một dân tộc, một đất nước thống nhất độc lập, tự do. Từ ngàn xưa, tổ tiên chúng ta đã rút ra những bài học có ý nghĩa sâu sắc về quan hệ giữa cá nhân và tập thể: Ăn một mình đau tức, làm một mình cực thân. Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao ; Đông tay vỗ nên kêu, Bác Hồ kính yêu cũng đã dạy: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công. Rõ ràng, chỉ khi nào thực sự gắn bó và hòa mình với tập thể thì mỗi cá nhân mới có thể phát huy được hết khả năng của mình, để từ đó đóng góp hữu ích cho gia đình, tập thể và xã hội. Nói gần hơn, mỗi học sinh là một thành viên trong lớp, nhiều lớp tạo thành một trường. Thành tích học tập của lớp là do từng học sinh đóng góp mà nên và mỗi học sinh đạt được kết quả tốt trong học tập, tu dưỡng, phấn đấu thì ngoài cố gắng của bản thân còn có sự dìu dắt, động viên của gia đình, thầy cô, bè bạn. Trong gia đình, trong tập thể, mỗi cá nhân đều có vị trí, vai trò, nghĩa vụ và quyền lợi nhất định. Để có thể phát huy được mặt mạnh của mình thì mỗi cá nhân phải biết thích nghi, hòa hợp với môi trường sống và làm việc. Nếu ai cũng nghĩ đến quyền lợi tập thể trước quyền lợi cá nhân thì đất nước sẽ phát triển vững chắc trên con đường dẫn đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Sinh thời, Bác Hồ đã đưa ra quan điểm sống : Mình vì mọi người. Đó là sự kế thừa và phát huy quan điểm sống đúng đắn của Nguyễn Trãi có từ thế kỉ XV: Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc. (Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ). Có lẽ Tố Hữu là nhà thơ quan tâm nhiều nhất đến mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể. Trong bài Một khúc ca, tác giả viết : Nếu là con chim, chiếc lá, Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh. Lẽ nào vay mà không có trả, Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình. Trong bài Chân trời mới: Sống có những niềm vui đơn giản, Không phải mua, cũng chẳng cần xin.  Thật ấm áp một bàn tay bè bạn, Rất thân thương một ánh mắt nhìn. Đúng như vậy! Mỗi giọt hước cá nhân nếu hòa vào biển cả tập thể thì không chỉ tồn tại mà sẽ sống một cuộc sống dạt dào, mãnh liệt và đầy ý nghĩa: Vui hơn cả mùa xuân đang tới, Mỗi đời riêng nhân thành cuộc đời chung. Sức tươi trẻ đang chuyển lên thế mới Bước đầu đi mà mở đến vô cùng! (Ca vui- Tố Hữu)
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nêu mối quan hệ giữa pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động

NÊU MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG, THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VÀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Câu 1: Nêu mối quan hệ giữa pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động?
Trả lời:
I. Khái quát chung thỏa tước lao động tập thể và hợp đồng lao động.
Các quan hệ lao động nói chung và quan hệ pháp luật lao động nói riêng được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật lao động trong đó bộ Luật Lao động năm 2012 (BLLĐ) và các văn bản liên quan .BLLĐ được Quốc hội khoá XIII nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012. Ngày 02 tháng 7 năm 2012, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố và Bộ luật lao động năm 2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 05 năm 2013, bao gồm 17 Chương và 242 Điều. Trên tinh thần thừa kế và phát triển bộ luật Lao động năm 1994, bộ Luật lao động năm 2012 quy đinh các vấn đề như việc làm, tiền lương, thời giờ lao động, thời giờ nghỉ ngơi, đình công và giải quyết đình công,…Trong đó, các chế định về hợp đồng được quy đinh tại chương III và chế định về Thỏa ước lao động tập thể tại chương V. Có thể thấy BLLĐ đã cơ bản điều chỉnh các quan hệ lao động phù hợp trong điều kiện mới theo hướng khuyến khích, bảo vệ và phát triển những quan hệ lao động tốt, phù hợp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, góp phần quan trọng trong việc tiếp tục phát triển sức sản xuất, phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng ở Việt Nam hiện nay.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Bài tập phân tích Mối quan hệ giữa thỏa ước lao động tập thể với pháp luật lao động và hợp đồng lao động

BÀI TẬP PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VỚI PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VÀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Phân tích mối quan hệ giữ thỏa ước lao động tập thể với pháp luật lao động. Phân tích mối quan hệ giữa lao động tập thể với hợp đồng lao đồng. Phân tích khái niệm về thỏa ước lao động tập thể, các khái niệm về thỏa ước lao động tập thể.

8 Đọc thêm

Bàn luận về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, xã hội; giữa một người và mọi người

BÀN LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ TẬP THỂ, XÃ HỘI; GIỮA MỘT NGƯỜI VÀ MỌI NGƯỜI

Đã ai từng một lần đọc những lời thơ đầy giục giã của nhà thơ Nazim Hilsmet: “Nếu tôi không đốt lửa Nếu anh không đốt lửa Nếu chúng ta không đốt lửa Thì làm sao Bóng tối Sẽ trở thành Ánh sáng!” Bóng tối sẽ tan đi và ánh sáng sẽ ngập tràn nếu anh hành động, tôi hành động và chúng ta cùng hành động. Trong cái ánh sáng rạng ngời xua tan bóng tối ấy có ánh sáng của tôi, của anh và của tất cả chúng ta. Và hôm nay, nhà thơ Tố Hữu đã mượn tiếng ru dịu êm của mẹ qua bài thơ “Tiếng ru” của mình, một lần nữa gợi cho chúng ta hiểu thêm về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, xã hội, giữa một con người và mọi người. Một ngôi sao không làm nên bầu trời đêm rực sáng. Một bông lúa chin chẳng làm nên mùa vàng bội thu. Một con người nhỏ bé đáng kể gì trong cõi nhân gian rộng lớn. Đất thấp thế nhưng nhờ có đất mà núi mới cao. Sông nhỏ thế thôi nhưng nhờ sông mà biển mới mênh mông đến vậy. Một cá nhân bé nhỏ sẽ không là gì cả so với một cộng đồng to lớn. Nhưng ngược lại, những gì lớn lao, vĩ đại lại được tạo nên từ những điều hết sức nhỏ bé mà thôi. Sống trên đời, ai cũng mong muốn mình được thể hiện và khẳng định bản thân, phần cá nhân của mình. Đó là mong ước tự nhiên và chính đáng. Phần riêng ấy được thể hiện ở những khát khao, hoài bão của bản thân, là niềm mong mỏi mình phải có vị trí nào đó trong mắt mọi người. Phần cá nhân bé nhỏ của mỗi người ấy cần được thể hiện, được khẳng định, được tôn trọng và ghi nhận. Chính “cái tôi” ấy tạo nên giá trị và bản sắc của mỗi cá nhân trong cộng đồng, làm cá nhân đó không bị hòa tan, không lẫn vào người khác. Tôi yêu những vạt nắng trải dài trên cánh đồng bát ngát, yêu những triền đê xanh thơm mùi cỏ non. Còn bạn, bạn yêu những ánh đèn màu rực rỡ của thành phố hoa lệ về đêm, yêu những tòa nhà chọc trời nguy nga tráng lệ. Tôi và bạn có những tình yêu khác nhau, quan điểm sống khác nhau, và chính sự khác nhau ấy đã làm nên “cái tôi” riêng của mỗi cá nhân chúng ta. Phần tôi ấy được thể hiện bằng nhiều cách: bằng sự yêu thương, bằng những nỗ lực, phấn đấu học tập, lao động hay chỉ đơn giản là những sở thích riêng của chúng ta mà thôi. Ở mỗi thời kì, ta đều thấy sự xuất hiện của những cá nhân vĩ đại, xuất sắc. Bằng tài năng của mình, họ đã đóng góp rất nhiều cho cộng đồng, xã hội. Họ có thể là những nhà khoa học, bằng những phát minh của mình đem lại sự phát triển cho đời sống của nhân loại như Đác-uyn, Marie Curie… Họ có thể là những nhà Cách mạng, bằng sự nghiệp chính trị của mình mà đem lại hòa bình cho cả một dân tộc, một đất nước như Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam ta. Nhưng dù cá nhân có hoàn thiện, có lớn lao vĩ đại đến đâu đi chăng nữa nhưng cũng sẽ không là gì so với sức mạnh của cả một dân tộc. Cá nhân ấy khác nào một hạt cát với một sa mạc, một giọt nước với một đại dương rộng lớn, một thân cây giữa bạt ngàn rừng xanh… Mất đi một hạt cát thì sa mạc vẫn cứ mênh mông; mất đi một giọt nước thì đại dương vẫn cứ bao la; mất đi một bông hoa thì mùa xuân vẫn cứ muôn phần rực rỡ… Một vĩ nhân, một anh hùng làm sao làm nên sự nghiệp lớn nếu không có sự kề vai góp sức của mọi người. Một cá nhân bé nhỏ làm sao tạo được sự nghiệp lớn lao khi chỉ làm một mình mình. Ta phải biết rằng cùng với ta, bên cạnh ta còn có sự chung tay góp sức cùng ta làm nên việc lớn. Nhìn lại lịch sử chiến đấu hào hung của dân tộc, ta thấy rằng sở dĩ ta có thể dệt nên những trang sử vẻ vang , ta có thể anh dũng chiến đấu giành thắng lợi, đem lại hòa bình, tự do cho dân tộc được vì sự đồng lòng, đoàn kết của nhân dân. Chính những cá nhân nhỏ bé, riêng lẻ đã tạo nên một sức mạnh tập thể vô cùng lớn lao, có thể quét sạch quân thù. Hay hình tượng người anh hùng Thánh Gióng, nhờ có cơm áo của bà con làng xóm mà Gióng vươn vai trở thành tráng sĩ, xông pha trận mạc đánh tan giặc Ân. Hình tượng ấy đã được truyền thuyết hóa, thực chất đó chính là tinh thần đoàn kết của nhân dân đồng lòng chống giặc. Qua đó, ta thấy sự khiêm tốn nhìn nhận, đánh giá vai trò của mỗi cá nhân trong cộng đồng quan trọng biết bao. Biết là thế nhưng chúng ta cũng đừng vì mỗi cá nhân vô cùng nhỏ bé mà quên đi sự đóng góp của bản thân để tạo nên cộng đồng, chúng ta đừng chỉ biết hưởng thụ những đóng góp của người khác mà làm mờ nhạt đi vai trò của mình, làm mình trở thành gánh nặng cho người khác, cho cộng đồng, xã hội. Bởi lẽ tất cả mọi thứ lớn lao đều được hình thành từ những gì bé nhỏ nhất. Một hạt cát bé nhỏ thật nhưng nếu không có những hạt cát kia thì làm gì sa mạc mênh mông đến vậy. Một giọt nước không là gì cả nhưng biển làm sao bao la khi không còn những giọt nước ấy. Vì vậy, ta có thể thấy cá nhân là một nhân tố quan trọng, là cơ sở để hình thành nên cộng đồng, tập thể. Để những cá nhân có thể đóng góp sức mình vào phần chung to lớn, chúng ta không được quyền quên đi những đóng góp của họ. Vì biết đâu nỗi buồn bị lãng quên sẽ làm giảm đi nhiệt huyết trao tặng của họ, dù cho những đóng góp kia cho đi không phải mục đích là được nhận về. Như những người lính tuổi còn rất trẻ đã cho đi tuổi xuân, cho đi xương máu của mình vì một cái chung to lớn. Hay những người mẹ Việt Nam anh hùng đã đóng góp từng củ khoai, bát gạo cho các chiến sĩ, đóng góp cả những đứa con ưu tú của mình, để rồi âm thầm khóc nghẹn trong lặng lẽ khi hay tin các anh hi sinh, các anh không về. Các mẹ đã hi sinh hạnh phúc riêng của mình vì cộng đồng, vì tập thể to lớn kia. Những con người ấy họ đã cho đi mà có nề hà chi. Họ hi sinh cái phần cá nhân bé nhỏ của mình đâu phải vì huy chương, vì chiến công. Họ cho đi mà không cần đền đáp lại. Nhưng những lòng biết, những niềm cảm thông, chia sẻ của chúng ta sẽ làm họ vui hơn rất nhiều, sẽ giúp họ cảm thấy ấm áp mà nhiệt tình hơn trong trao tặng. Chúng ta cũng không nên đóng góp sức mình mà lại lại đòi hỏi một sự công nhận thật tương xứng với công lao mà mình bỏ ra. Vì đó thực chất chỉ là một cuộc trao đổi chứ không phải cho đi vì cộng đồng. Vì vậy, chúng ta phải có quan niệm: mình vì mọi người, mọi người vì mình. Chúng ta cho đi thì ta sẽ được nhận về. Dù có lớn hay không thì sự nhận về ấy vẫn luôn có ý nghĩa. “Ta là con chim hót Ta là một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến” (Thanh Hải) Nhà thơ Thanh Hải cũng đã từng suy nghĩ về triết lí này trong cuộc đời sáng tác văn chương của ông. Ông muốn làm một chú chim để dâng cho đời tiếng hót, muốn làm một bông hoa điểm tô thêm sắc hương cho cuộc sống, một nốt nhạc trầm để lại cho người nghe những dư âm xao xuyến. Và ông gọi đó là “Mùa xuân nho nhỏ” của mình. Khát khao của ông, ước muốn của ông nhỏ bé thật nhưng nó đáng quý biết bao. Vậy đấy, cuộc sống của chúng ta là thế. Ông chỉ muốn được là góc nhỏ của mùa xuân vì ông biết rằng mùa xuân lớn kia là mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước. Từ mùa xuân bé nhỏ ấy, ta mời thấy ước muốn đóng góp lúc nào nó cũng đáng quý, dù đóng góp nhỏ bé hay lớn lao thì nó cũng có ý nghĩa vô cùng. Ta và tôi, cá nhân và cộng đồng… tất cả đã tạo nên mối quan hệ mật thiết giữa những điều bé nhỏ và những thứ lớn lao trong cuộc sống. Đó chính là triết lí sống vô cùng đúng đắn mà con người đúc kết được từ những thực tế cuộc sống. Tiếng ru giản dị, mượt mà, êm đềm nhưng ẩn chứa trong nó là bài học lớn lao. Và tiếng ru dấy vẫn luôn đồng hành trong hành trang cuộc đời của chúng ta, từ thuở bé cho đến khi trưởng thành, giúp ta nhận thức được mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng trong cuộc sống, dạy ta biết đóng góp, biết cho đi để tạo nên những bông hoa, những bài ca, những mùa xuân rực rỡ cho đời, cho người và cho cả chính chúng ta.  loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

2 Đọc thêm

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TIỀN GỬI VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TIỀN GỬI VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TIỀN GỬI VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN
Chương 1: Tổng quan về mối quan hệ giữa chất lƣợng dịch vụ tiền gửi và sự hài
lòng của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại.
Chương 2: Thực trạng mối quan hệ giữa chất lƣợng dịch vụ tiền gửi và sự hài lòng
của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn.
Chương 3: Giải pháp gia tăng chất lƣợng dịch vụ tiền gửi nhầm nâng cao sự hài lòng
của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn.
Xem thêm

132 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI

Tịch cực hoá nhân tố con ngời là phát hiện, nh bộc lộ, hình thành và sử dụng tiềm năng sáng tạo của ngời lao động và phát huy nhân tố con ngời chính là chăm lo tạo ra những điều kiện cần[r]

18 Đọc thêm

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI

Tịch cực hoá nhân tố con ngời là phát hiện, nh bộc lộ, hình thành và sử dụng tiềm năng sáng tạo của ngời lao động và phát huy nhân tố con ngời chính là chăm lo tạo ra những điều kiện cần[r]

18 Đọc thêm

VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC QUẢN LÝ - ĐỀ TÀI. TÍNH ĐOÀN KẾT, TẬP THỂ TRONG TỔ CHỨC

VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC QUẢN LÝ - ĐỀ TÀI. TÍNH ĐOÀN KẾT, TẬP THỂ TRONG TỔ CHỨC

thụ động trong các quan hệ, không dám khẳng định bản lĩnh và nhân cách cánhân, không dám nhân danh cá nhân để đòi hỏi những quyền lợi chính đángcho mình.Lối sống đề ỷ lại vào tập thể và hạ thấp vai trò cá nhân là nguyên nhânlàm cho con người trở nên thụ động trong các quan hệ, ít dám làm và cũng từđó cũng không dám chịu trách nhiệm trước cộng đồng và người khác, từ đóhình thành tâm lý và thói quen dựa dẫm, ỷ lại. Tâm lý và thói quen ứng xửnày được đúc kết và lưu truyền trong dân gian qua các câu thành ngữ quenthuộc như: Nó lú có chú nó khôn; Sẩy cha có chú, sẩy mẹ bú dì; Con dại cáimang…Trong tổ chức, tâm lý dựa dẫm, ỷ lại được nâng lên một bước cao hơn làlợi dụng các mối quan hệ thân quen, họ hàng để tìm kiếm sự che chở, nângđỡ, mưu cầu lợi ích cá nhân. Tư tưởng “Một người làm quan, cả họ đượcnhờ”, “Nhất thân nhì quen tam thần tứ thế” trở thành một thói quen ứng xử rấtphổ biến ở thời kỳ phong kiến, trong xã hội truyền thống Việt Nam. Hiện nay,mặc dù quan niệm trên đã bị hạn chế bởi một số điều luật (Luật Công chức)7nhưng trên thực tế, tư tưởng này vẫn còn tồn tại rất phổ biến trong suy nghĩ vàhành vi của xã hội như một căn bệnh trầm kha. Thực trạng “con ông cháucha”, nạn “ô dù”, “chủ nghĩa thân quen”, sự kéo bè kết cánh dựa trên mốiquan hệ huyết thống, bà con, đồng hương… tuy không tồn tại một cách chínhthống và công khai nhưng ai cũng có thể thấy căn bệnh này đã và đang là mộtvấn nạn xã hội, hàng ngày đang âm thầm, âm ỷ tác động tiêu cực, làm suygiảm sức mạnh của hệ thống công quyền, gây nên nhiều bức xúc trong xã hội.Chính các mối quan hệ này đã góp phần làm vô hiệu hóa pháp luật khi ngườita kết bè cánh để thực hiện những hành vi tham nhũng, tiêu cực, thậm chí viphạm pháp luật ở ngay chính những người nhân danh bảo vệ và thực thi phápluật. Khi tiêu cực bị phát hiện thì người ta lại tìm cách che chắn cho nhau vì
Xem thêm

10 Đọc thêm

Tiểu luận tâm lý học: VẦN ĐỀ GIAO TIẾP TRONG TÂM LÝ HỌC

TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC: VẦN ĐỀ GIAO TIẾP TRONG TÂM LÝ HỌC

1. Khái niệm
Trong tâm lí học, giao tiếp là hoạt động con người trò chuyện, trao đổi với nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu giao lưu cũng như cũng thực hiện những hoạt động trong cuộc sống.
Giao tiếp là sự tiếp xúc của tâm lí giữa người với người thông qua đó con người trao đổi thông tin, cảm xúc, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau mà trong đó giao tiếp xác lập và vận hành các mối quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này và chủ thể khác.
Hình thức giao tiếp người – người tồn tại dưới dạng giao tiếp giữa các Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân, giao tiếp giữa cá nhân với nhóm, giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với cộng đồng …
Xem thêm

8 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI

TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI

Tóm lại: Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của "cái cá nhân" và "cái xã hội", con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với cộng đồng, dâ[r]

15 Đọc thêm

Những điều càn biết về hợp đồng lao động

NHỮNG ĐIỀU CÀN BIẾT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

HĐLĐ và thỏa ước lao động tập thể có những điểm giống nhau cơ bản như các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên khi tham gia xác lập quan hệ lao động và đều phải tuân theo những trình tự nhất định để có giá trị và hiệu lực bắt buộc thi hành đối với NLĐ và NSDLĐ. Nhưng bên cạnh đó, thoả ước lao động và pháp luật lao động cũng có những điểm khác nhau.

I. Khái niệm
1. Hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động (HĐLĐ) là sự thỏa thuận giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. (Điều 26 BLLĐ)
2. Thỏa ước lao động tập thể
Thoả ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và NSDLĐ về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động.(Điều 44 BLLĐ)

II. Những đặc điểm khác nhau giữa hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể
Thứ nhất, về tính chất, khác với HĐLĐ, thỏa ước lao động tập thể mang tính quy phạm. Tính quy phạm thể hiện ở khía cạnh nội dung, trình tự kí kết thỏa ước và hiệu lực của thỏa ước. Nội dung của thỏa ước lao động tập thể thường được xây dựng dưới dạng các quy phạm, là sự cụ thể hóa các quy định của pháp luật cho phù hợp với điều kiện của từng doanh nghiệp. Thỏa ước lao động phải được kí kết theo trình tự pháp luật quy định và khi ban hành thì có hiệu lực đối với người lao động trong toàn doanh nghiệp, cơ sở làm việc.
Thứ hai, về chủ thể: HĐLĐ là sự thỏa thuận mang tính cá nhân giữa NSDLĐ và NLĐ còn thỏa ước lao động tập thể là thỏa thuận mang “tính tập thể” giữa đại diện tập thể NLĐ vàNSDLĐ. Tùy theo quy định hay tập quán mỗi nước mà đại diện cho các tập thể lao động là tổ chức công đoàn hay các đại diện do NLĐ bầu ra nhằm thương lượng, kí kết các nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ của tập thể người lao động trong doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động.
Thứ ba, về hình thức: theo quy định tại điều 28 BLLĐ thì “hợp đồng lao động được ký kết bằng văn bản và phải được lập thành hai bản, mỗi bên giữ một bản..”. Cũng theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghi định 442003 NĐCP ngày 952003 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về hợp đồng lao động thì: “Hợp đồng lao động ký kết bằng văn bản, theo mẫu quy định của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội” và hợp đồng này được ký kết bằng văn bản, mỗi bên giữ một bản cụ thể, có các loại: Hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 3 tháng trở lên (điều 28 BLLĐ), hợp đồng với người coi giữ tài sản gia đình( Điều 139 BLLĐ), hợp đồng làm việc với tư cách là vũ nữ, tiếp viên, nhân viên trong các cơ sở dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, sàn nhảy…không phân biệt thời hạn thực hiện hợp đồng lao động (Nghị định 87CP ngày 12121995 về tăng cường quản lý các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh, bài trừ một số tệ nạn nghiêm trọng).
Điều 28 BLLĐ sửa đổi 2002: “…Đối với một số công việc có tính chất tạm thời mà thời hạn dưới ba tháng hoặc đối với lao động giúp việc gia đình thì các bên có thể thỏa thuận giao kết bằng miệng. Trong trường hợp giao kết bằng miệng, thì các bên đương nhiên phải tuân theo quy định của pháp luật”.
Hình thức của thỏa ước lao động tập thể nhất thiết phải là văn bản. Có những điểm khác biệt này là tính chất, đặc điểm của mối quan hệ trong thỏa ước lao động tập thể. Thực chất, đó là mối quan hệ về lợi ích của hai bên, một bên là tập thể lao động và một bên là chủ doanh nghiệp. Xuất phát từ lợi ích của mỗi bên, trong quá trình lao động đòi hỏi các bên phải cộng tác với nhau, nhân nhượng lẫn nhau và vì lợi ích của cả hai bên, đồng thời cũng vì mục đích phát triển doanh nghiệp, làm lợi cho đất nước. Do đó, thỏa ước lao động tập thể chính là sự thỏa thuận của hai bên, là nhân tố ổn định quan hệ lao động trong phạm vi một đơn vị kinh tế cơ sở, một ngành và có tác dụng rất quan trọng về kinh tế xã hội.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Tiểu luận về phân loại thực vật Một số mối quan hệ cộng sinh

TIỂU LUẬN VỀ PHÂN LOẠI THỰC VẬT MỘT SỐ MỐI QUAN HỆ CỘNG SINH

Phần 1: MỞ ĐẦU


I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong cuộc sống hằng ngày của mỗi con người chúng ta có rất nhiều mối quan hệ khác nhau, chúng ta không thể sống mà không có những mối quan hệ đó, từ những mối quan hệ thân thuộc như: quan hệ gia đình hay là quan hệ giữa những người thân với nhau, quan hệ bạn bè, cho đến những quan hệ khác như quan hệ hợp tác làm ăn hay là quan hệ cạnh tranh…. Những mối quan hệ này sẽ làm cho cuộc sống của con người trở nên phong phú hơn và làm cho con người có thể phát triển và tồn tại được trong xã hội.

Vậy trong thế giới tự nhiên các loài sinh vật có mối quan hệ với nhau giống như con người hay không? Câu trả lời là “Có” : Mối quan hệ giữa các loài sinh vật rất phong phú và đa dạng. Chúng không những có những mối quan hệ như con người và còn có thêm những mối quan hệ khác nữa. Với mỗi loài sinh vật khác nhau thì đều có những mối quan hệ khác nhau. Ví dụ như mối quan hệ giữa hai loài động vật với nhau, hai loài này sẽ cạnh tranh để giành thức ăn và nơi ở hay là mối quan hệ ký sinh vật chủ của cá loài vi sinh vật hoặc là mối quan hệ ức chế cảm nhiễm của các loài thực vật, loài thực vật này có thể tiết ra chất ức chế làm cho các loài thực vật xung quanh nó không thể phát triển, hoặc là mối quan hệ hội sinh giữa hai loài sinh vật nhưng chỉ một bên có lợi cần thiết,còn bên kia không có lợi và cũng không có hại gì ….Tóm lại trong sinh giới có rất nhiều mối quan hệ khác nhau.

Và trong những mối quan hệ đó mối quan hệ nào có hại, mối quan hệ nào có lợi,nếu có lợi thì có lợi cho một bên hay là cả hai bên và có lơi như thế nào. Đó chính là lý do mà tôi tìm hiểu đề tài” Mối quan hệ cộng sinh và vai trò của mối quan hệ này trong sản xuất nông nghiệp” vì mối quan hệ này là mối quan hệ có lợi cho cả hai bên.



Phần 2: NỘI DUNG

I. Khái niệm.
Quan hệ cộng sinh là quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa hai hay nhiều loài, trong đó tất cả các loài đều có lợi.Trong cộng sinh mỗi loài chỉ có thể sống, phát triển, sinh sản … hiệu quả dựa vào sự hợp tác của bên kia.
II.Một số mối quan hệ cộng sinh.
II.1. Sự cộng sinh giữa thực vật ,nấm và vi sinh vật
II.1.1.Sự cộng sinh giữa tảo,vi khuẩn và nấm tạo thành cơ thể địa y.
Địa y là một thể cộng sinh giữa tảo và nấm hoặc giữa vi khuẩn lam và nấm chung sống với nhau thành một cơ thể thống nhất có những đặc tính hình thái, sinh lý, sinh thái riêng.
Trong đó tảo thường là Tảo lam hoặc Tảo lục đơn bào; Nấm thường là những nấm sợi, đại đa số thuộc lớp Nấm túi, chỉ có một số ít trường hợp là Nấm đảm; Tảo lam (khuẩn lam) thường là những loài có khả năng cố định nitơ.
Trong tập thể cộng sinh này, nấm làm nhiệm vụ cung cấp nước và các muối vô cơ để tảo, khuẩn lam quang hợp, tạo thành chất hữu cơ dùng cho tập thể, mặt khác nấm lại bảo vệ cho tảo khỏi bị khô.
Nhờ hình thức cộng sinh đặc biệt đó mà địa y sống được trong mọi điều kiện khác nhau, từ các vùng cực Trái đất đến các vùng sa mạc nóng bỏng. Tuy nhiên, trong điều kiện bất lợi, như khô hạn kéo dài thì sự quang hợp và các hoạt động dinh dưỡng khác bị ngừng trệ, làm cho sự sinh trưởng của địa y rất chậm chạp, yếu ớt, mỗi năm chỉ lớn lên từ vài đến vài chục milimét.
Trong tự nhiên ta thường gặp địa y trên thân cây, trên các tảng đá dưới dạng những lớp da, những vảy hay những búi sợi có màu xanh xám hay nâu xám
Xem thêm

15 Đọc thêm

THỰC HIỆN THẨM QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CỦA BÍ THƯ HUYỆN ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

THỰC HIỆN THẨM QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CỦA BÍ THƯ HUYỆN ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử Đảng ta từ khi thành lập đến nay cho thấy, ở bất kỳ thời kỳ nào và ở
đâu, người đứng đầu tổ chức đảng luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong tổ chức
và hoạt động của tổ chức đảng. Cũng vẫn với những nguồn lực về đội ngũ cán bộ,
đảng viên, vật lực, thông tin, điều kiện môi trường như nhau, nhưng với những
người đứng đầu khác nhau sẽ cho hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng rất
khác nhau. Điều đó chứng tỏ, người đứng đầu tổ chức đảng và việc thực hiện thẩm
quyền, trách nhiệm (TQ, TN) của người đứng đầu luôn là vấn đề hết sức quan trọng
đối với bất cứ tổ chức nào. Có thể nói, mọi thành công hay thất bại của tổ chức đảng
luôn gắn liền với người đứng đầu tổ chức đó. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng
chỉ rõ: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [69, tr. 269]; “công việc thành công
hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [69, tr. 273].
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đã nhấn mạnh “cần tập trung
cao độ” để thực hiện tốt ba vấn đề cấp bách, trong đó vấn đề thứ ba là: “Xác định rõ
thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối
quan hệ với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị”[20, tr. 13 ]. Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng lại tiếp tục nhấn mạnh: “xác định rõ quan hệ
giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề
cao trách nhiệm của người đứng đầu. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm
soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương”[23, tr. 203].
Như vậy, nghiên cứu về vấn đề TQ, TN của người đứng đầu tổ chức đảng là hết sức
cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Bí thư huyện ủy (BTHU) là người đứng đầu huyện ủy (HU) và đảng bộ
huyện, giữ vai trò quyết định trong mọi hoạt động của đảng bộ, là “linh hồn” cấp
ủy, vai trò hạt nhân đoàn kết của cơ quan lãnh đạo, quản lý ở địa phương. BTHU là
người đề xuất, chủ trì, chỉ đạo toàn bộ công việc của đảng bộ huyện, phụ trách công
tác xây dựng Đảng, trực tiếp nắm các vấn đề trọng yếu, các khâu công tác trọng
tâm, các nhiệm vụ mới nảy sinh về kinh tế - xã hội (KT-XH), an ninh, quốc phòng
(ANQP), trực tiếp chăm lo xây dựng mối quan hệ mật thiết với chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc (MTTQ), các đoàn thể chính trị - xã hội (CT-XH) và nhân dân trong địa bàn huyện. Để lãnh đạo các đảng bộ huyện có hiệu quả, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của mình,
việc xác định rõ TQ, TN cá nhân của BTHU là một trong những điểm nút quan trọng.
Việc hoàn thiện cơ chế hữu hiệu bảo đảm vừa phát huy vị thế, TQ, TN của BTHU, vừa
nâng tầm hoạt động của tập thể cấp ủy, chính quyền huyện một cách đồng bộ và hiệu quả
trong một chỉnh thể hữu cơ, ngang tầm trọng trách lịch sử mới. Chính vì vậy, xác định rõ
TQ, TN cá nhân của BTHU, đồng thời nâng cao TN và bảo đảm TQ của BTHU có ý
nghĩa thực tiễn sâu sắc và rất cần thiết, là điều kiện quan trọng quyết định cho thành công
của phát triển KT-XH ở huyện.
Vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có tiềm năng to lớn, vị trí địa lý thuận
lợi cho phát triển KT-XH. Đơn vị hành chính cấp huyện giữ vai trò quan trọng trong
tổ chức chính quyền địa phương, là nơi cấp ủy, chính quyền huyện và các đoàn thể
CT-XH tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và của cấp ủy, chính quyền địa
phương. Từ đó, kiểm nghiệm, khẳng định trên thực tế tính đúng đắn của đường lối,
chính sách của Đảng, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên; chỉ ra những điểm chưa hợp
lý để sửa đổi, bổ sung và hoàn chỉnh; đóng góp cho Đảng, Nhà nước những cách
làm đem lại hiệu quả và những kinh nghiệm quý góp phần để Đảng, Nhà nước và
cấp trên đề ra chủ trương, chính sách đúng; nơi trực tiếp xây dựng, củng cố và tăng
cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền với nhân dân... Xác định rõ và
thực hiện tốt TQ, TN của BTHU có vai trò và tác động lớn đến hoạt động lãnh đạo,
chỉ đạo của HU đối với sự phát triển của địa phương, là nhân tố rất quan trọng để
huyện phát triển, vững mạnh. Để các huyện ở ĐBSH phát huy có hiệu quả, tiềm
năng, thế mạnh đáp ứng tốt yêu cầu công cuộc đổi mới trên địa bàn, góp phần để
ĐBSH xứng đáng với vị trí, vai trò của mình trong giai đoạn hiện nay, một vấn đề
rất cấp thiết cần làm tốt là xác định rõ và thực hiện có hiệu quả TQ, TN của BTHU -
với tư cách là người đứng đầu cấp huyện ở ĐBSH.
Đảng ta đã khẳng định trong những năm qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng nói chung, đổi mới phương thức lãnh đạo nói riêng, trong đó có việc thực hiện
lãnh đạo tập thể, phân công cá nhân phụ trách và chịu TN đã đạt được những thành
tựu bước đầu, quan trọng. Tuy nhiên, chế độ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”
trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức, do không xác định rõ cơ chế, mối quan hệ
giữa tập thể và cá nhân, khi có thành tích thì ai cũng nhận là của mình, còn khi có sai sót, khuyết điểm thì không ai chịu TN, thậm chí đổ hết cho tập thể. Do vậy, vừa
có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ TN cá nhân, vừa không khuyến khích
người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, tạo kẽ hở cho các việc
làm tắc trách, trì trệ hoặc làm dụng quyền lực để mưu cầu lợi ích cá nhân... Mối
quan hệ giữa BTHU với cấp ủy, ban thường vụ (BTV), thường trực; giữa BTHU với
hội đồng nhân dân (HĐND) và ủy ban nhân dân (UBND); giữa BTHU với MTTQ,
các đoàn thể CT-XH; giữa BTHU với tỉnh ủy, thành ủy…, nhất là giữa BTHU với
phó BTHU, với chủ tịch UBND còn nhiều vướng mắc, chồng lấn, chưa rõ về TQ,
TN dẫn tới hiệu lực, hiệu quả công tác, sự đoàn kết thống nhất trong đảng bộ còn
nhiều yếu kém, bất cập. Những yếu kém đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác
xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, hệ thống chính trị (HTCT), sự lãnh đạo
của HU, đảng bộ huyện và việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, chưa
ngang tầm so với yêu cầu nhiệm vụ của tổ chức đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), hội nhập quốc tế và sự
phát triển của khoa học - công nghệ.
Nghiên cứu làm rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn, tìm ra những giải pháp
phát huy ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm, hạn chế về thực hiện TQ, TN của
BTHU ở ĐBSH nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong những năm tới thực sự đang
được đặt ra cấp thiết hiện nay. Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Thực hiện thẩm quyền,
trách nhiệm của bí thư huyện ủy ở đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay” để
làm luận án nhằm góp phần giải quyết vấn đề cấp thiết đó.
Xem thêm

219 Đọc thêm

Ý NGHĨA HÌNH ẢNH NGỌC TRAI - GIẾNG NƯỚC

Ý NGHĨA HÌNH ẢNH NGỌC TRAI - GIẾNG NƯỚC

Bài học của thế hệ sau là cách xử lí mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa riêng và chung, giữa tình yêu và đất nước. Phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc hài hòa với tình yêu vợ chồng + Hình ảnh Ngọc trai - giếng nước là chi tiết hư cấu nhằm an ủi lời nguyền của Mị Châu. Nàng không cam tâm phản bội cha nhưng vì còn ngây thơ, nhẹ dạ nên đã mắc lừa Trọng Thủy dẫn đến bi kịch tình yêu. + Hình ảnh này không phải để ca ngợi mối tình thủy chung của Trọng Thủy. Trọng Thủy là một tên gián điệp nên cái chết của Trọng Thủy là vì nó, tự nó, cho nó. + Bài học của thế hệ sau là cách xử lí mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa riêng và chung, giữa tình yêu và đất nước. Phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc hài hòa với tình yêu vợ chồng.   Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

So sánh giữa thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động

SO SÁNH GIỮA THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VÀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

So sánh giữa thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động câu hỏi kiểm tra và ôn thi cuối kì môn luật lao động.đề tài mối quan hệ giữa thoả ước lao động tập thể và tranh chấp lao động tập thể 2bài tập mối quan hệ giữa thỏa ước lao động tập thể với pháp luật lao động và hợp đồng lao động

2 Đọc thêm

[Tủ sách hướng nghiệp] Nghề PR - Quan hệ Công chúng

[TỦ SÁCH HƯỚNG NGHIỆP] NGHỀ PR - QUAN HỆ CÔNG CHÚNG

PR (viết tắt của Public Relations - tạm gọi là Quan hệ công chúng) có thể hiểu là những nỗ lực một cách có kế hoạch, tổ chức của một cá nhân hoặc tập thể, nhằm thiết lập và duy trì, phát triển những mối quan hệ có lợi với đông đảo công chúng của nó Cơ sở chủ yếu của hoạt động hoạt động PR là cung cấp thông tin cho công chúng, xây dựng thông tin hai chiều giữa công chúng và tổ chức, cá nhân tạo nên sự hiểu biết và ủng hộ của công chúng Hoạt động PR gắn bó chặt chẽ với các phương tiện
Xem thêm

32 Đọc thêm

Hướng dẫn bài : Luyện tập về lập luận phân tích

HƯỚNG DẪN BÀI : LUYỆN TẬP VỀ LẬP LUẬN PHÂN TÍCH

LUYỆN TẬP VỀ LẬP LUẬN PHÂN TÍCH I. KIẾN THỨC CƠ BẢN (Xem bài trước) II. DÀN BÀI GỢI Ý Đề 1 Viết đoạn văn bàn về được và mất ở đời. Mở đoạn: - Trong cuộc sống ai cũng mong “được” và chẳng ai muốn “mất”. - Nhưng trong cuộc sống, có những điều “được” “mất” là lâu dài thậm chí vĩnh viễn, lại có điều “được” là “mất”, “mất” là “được”. Thân đoạn: - “Được” tri thức, kinh nghiệm…là cái “được” lâu dài. - “Mất” tuổi trẻ, danh dự…là “mất” lâu dài, vĩnh viễn. - “Được” thành công mà sinh tự phụ là “mất”: mất chí tiến thủ, mất sự khiêm nhường… - “Mất” trong một số trường hợp mà giúp con người có thêm bài học quý, biết vươn lên…ấy là “được”. Kết đoạn:  “Được”, “mất” ở đời khôn lường, khó đoán, con người phải biết đâu là chân giá trị để trân trọng và nắm bắt. Đề 2  Viết đoạn văn bàn về tự ti, tự phụ và tự trọng. Mở đoạn:  Cùng là thái độ “Tự” ý thức về mình song bộ ba tự ti, tự phụ, tự trọng lại mang ba sắc thái khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Thân đoạn: - Tự ti là mặc cảm về bản thân mình, từ đó tự hạ thấp mình, khép kín; Tự phụ là thái độ kiêu căng, tự cho mình tài giỏi, từ đó coi thường người khác; Tự trọng là đánh giá đúng bản thân và người khác, luôn nỗ lực vươn lên để tự khẳng định mình. - Tự ti, tự phụ đều có nhiều tác hại hạn chế sự phát triển của cá nhân và tập thể. Chỉ có tự trọng mới giúp con người hoàn thiện nhân cách. Kết đoạn:  Mỗi cá nhân cần xây dựng cho mình lòng tự trọng. Đề 3 Viết đoạn văn phân tích mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể. Mở đoạn: - Giữa cái bộ phận và cái toàn thể luôn có mối quan hệ qua lại khăng khít, tác động lẫn nhau. - Xã hội loài người thể hiện rõ nhất mối quan hệ ấy. Thân đoạn: - Mỗi cá nhân đều có điểm mạnh và điểm yếu, song không thể tự mình làm tất cả mọi thứ. - Gắn với cộng đồng, các cá nhân tự bổ sung cho nhau, giúp nhau hoàn thiện. - Cá nhân mạnh thúc đẩy tập thể phát triển; tập thể phát triển tạo điều kiện cho cá nhân phát triển. Kết đoạn: - Con người phải biết gắn bó, hoà đồng, xây dựng tập thể.
Xem thêm

2 Đọc thêm