NGUYÊN TẮC HỆ THỐNG TRONG TẬP LUYỆN THỂ DỤC THỂ THAO

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NGUYÊN TẮC HỆ THỐNG TRONG TẬP LUYỆN THỂ DỤC THỂ THAO":

ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC HỆ THỐNG TRONG MỘT BUỔI TẬP THỂ DỤC THỂ THAO CỤ THỂ CỦA BẢN THÂN

ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC HỆ THỐNG TRONG MỘT BUỔI TẬP THỂ DỤC THỂ THAO CỤ THỂ CỦA BẢN THÂN

Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoạiĐỀ TÀI: “ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC HỆ THỐNG TRONG MỘT BUỔI TẬP THỂ DỤC THỂ THAO CỤ THỂ CỦA BẢN THÂN”Họ và tên: Nguyễn Thị Kha NhiMã số sinh viên: 1401015400Khóa lớp: K53CLC2Giảng viên bộ môn: Lê HảiThành phố Hồ Chí Minh, ngày 6 tháng 1 năm 2016TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGCƠ SỞ II TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHBÀI THU HOẠCHMÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤTChuyên ngành: Kinh tế đối ngoạiĐỀ TÀI: “ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC HỆ THỐNG TRONG MỘT BUỔI TẬP THỂ DỤC THỂ THAO CỤ THỂ CỦA BẢN THÂN”Họ và tên: Nguyễn Thị Kha NhiMã số sinh viên: 1401015400Khóa lớp: K53CLC2Giảng viên bộ môn: Lê HảiThành phố Hồ Chí Minh, ngày 6 tháng 1 năm 2016 MỤC LỤC1. KHÁI NIỆM NGUYÊN TẮC HỆ THỐNG11.1. Nguyên tắc hệ thống là gì?11.2. Các tính chất của nguyên tắc hệ thống12. ÍCH LỢI CỦA VIỆC ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC HỆ THỐNG TRONG TẬP LUYỆN THỂ THAO43. ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC HỆ THỐNG TRONG MỘT BUỔI TẬP BÓNG CHUYỀN CỦA BẢN THÂN53.1. Phần khởi động53.2. Phần cơ bản63.3. Phần thư giãn10 1. KHÁI NIỆM NGUYÊN TẮC HỆ THỐNG1.1. Nguyên tắc hệ thống là gì?Trước hết, ta cần biết nguyên tắc tập luyện thể dục thể thao là những nguyên tắc chuẩn mà mọi người tham gia tập luyện thể dục thể thao đều phải tuân thủ trong quá trình tập luyện. Nghĩa là những khái quát và những tổng kết kinh nghiệm tập luyện thể dục thể thao trong thời gian dài, nó cũng phản ánh quy luật khách quan của tập luyện thể dục thể thao. Thực tế tập luyện thể dục thể thao đã cho chúng ta thấy bất kể một hành vi tập luyện thể dục thể thao có hiệu quả sớm thường là kết quả của việc tự giác hay không tự giác tuân theo một số nguyên tắc tập luyện. Việc tập luyện thể dục thể thao không thể tách rời những nguyên tắc tập luyện đúng đắn, bắt buộc phải hiểu và nắm bắt cũng như tuân theo những nguyên tắc tập luyện thể dục thể thao.Nguyên tắc hệ thống là nguyên tắc cần phải tuân thủ nghiêm ngặt nhất. Trước khi bắt đầu tập ta phải tiến hành tập các động tác khởi động để làm nóng vì khi đó cơ thể đang ở trạng thái tình, nếu ta tập liền mà không khởi động buộc cơ thể chuyển sang trạng thái động thì cơ thể sẽ tự tiết ra một loại hoocmôn làm ngưng trệ tất cả các loại cơ lại rất dễ dẫn đến bị chuột rút, tê liệt... Sau khi tập luyện xong cũng phải từ từ thư giãn để đưa cơ thể về trạng thái tĩnh. Nguyên tắc này có liên quan đến tính thường xuyên trong tập luyện và hệ thống luân phiên lượng vận động với nghỉ ngơi, cũng như tính tuần tự trong tập luyện và mối liên hệ lẫn nhau giữa các mặt khác nhau trong nội dung tập luyện: tập luyện thường xuyên mang lại hiệu quả tốt hơn và hoàn thiện thể chất chỉ có thể có trong quá trình giáo dục thể chất là liên tục. Tuy nhiên, tập luyện liên tục không có nghĩa là không nghỉ mà cần phải cần phải kết hợp giữa lượng vận động và nghỉ ngơi. Các loại quãng nghỉ: quãng nghỉ đầy đủ, quãng nghỉ ngắn, quãng nghỉ vượt mức.
Xem thêm

13 Đọc thêm

Luận văn: Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng

LUẬN VĂN: ĐỔI MỚI NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CỦA TRƯỜNG TRUNG CẤP Y TẾ HÀ GIANG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO HƯỚNG DẪN VIÊN THỂ DỤC THỂ THAO CƠ SỞ BẢN LÀNG

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng” 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Trên cơ sở đổi mới nội dung chương trình môn học giáo dục thể chất theo định hướng nghề, cho phép mỗi nhân viên Y tế ở cơ sở bản làng còn có khả năng sử dụng kiến thức thể dục thể thao trong việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân các dân tộc vùng cao tỉnh Hà Giang. 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tượng nghiên cứu: Nội dung chương trình môn học GDTC theo định hướng nghề cho học sinh trường Trung cấp Y tế Hà Giang. 3.2. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy và học môn học GDTC của thầy và trò trường Trung cấp Y tế Hà Giang. 4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Nếu mỗi nhân viên Y tế được kết hợp đào tạo năng lực tổ chức và hướng dẫn phong trào thể dục thể thao cơ sở thì sẽ: - Góp phần nâng cao năng lực nghề nghiệp của họ sau khi ra trường. - Tối ưu hóa hiệu quả đào tạo của nhà trường. - Thể dục thể thao trở thành một phương tiện quan trọng để thực hiện chức năng chăm sóc sức khỏe của người nhân viên Y tế. - Tăng cường lực lượng hướng dẫn viên thể dục thể thao cho cơ sở bản làng trong tiến trình triển khai chủ trương xã hội hóa thể dục thể thao của Đảng và nhà nước, 5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5.1. Nhiệm vụ 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu, đánh giá thực trạng của hoạt động GDTC và cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy trong trường Trung cấp Y tế Hà Giang, tìm hiểu nhu cầu hoạt động TDTT của học sinh và nhu cầu tập luyện thể dục thể thao của nhân dân tại cơ sở bản làng . 5.2.Nhiệm vụ 2 Nghiên cứu đổi mới nội dung chương trình môn học GDTC của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên cơ sở bản làng và đánh giá hiệu quả. 6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Định hướng và cơ sở đổi mới nội dung chương trình giáo dục thể chất của trường trung cấp Y tế Hà Giang. - Đổi mới nội dung chương trình môn học giáo dục thể chất theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao ở cơ sở bản làng. - Thực nghiệm nội dung chương trình đổi mới trong thực tiễn và đánh giá hiệu quả. 7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây: 7.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích tiếp nhận các thông tin, tài liệu khoa học đã được công bố. Sưu tầm tổng hợp và nghiên cứu trên các tư liệu, văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nước, của Bộ Giáo dục và đào tạo, ngành Thể dục Thể thao về công tác GDTC trong trường Đại học, cao Đẳng, TCCN, các công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả đi trước… Từ đó hình thành nên cơ sở lý luận và giả thuyết khoa học cho đề tài. 7.2. Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm Phương pháp này được sử dụng trong quá trình tìm hiểu, thu thập và xử lý nguồn thông tin thông qua hỏi và trả lời giữa nhà nghiên cứu và các cá nhân khác nhau về các vấn đề liên quan đến đề tài. Đề tài này sử dụng phương pháp phỏng vấn dưới
Xem thêm

125 Đọc thêm

PHONG TRÀO THỂ DỤC THỂ THAO TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ

PHONG TRÀO THỂ DỤC THỂ THAO TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ

đa dạng về hình thức, đối tượng và phương pháp tập luyện của các hoạt động thể dục thểthao đã tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia rèn luyện nhằm nâng cao sứckhỏe và cũng là môi trường để phát hiện tài năng thể thao đóng góp cho ngành Thể dụcthể thao nước nhà. Ủy Ban Thể dục thể thao nêu rõ “ Thể dục thể thao” là sự nghiệp củatoàn dân, của toàn xã hội. Nhân dân là nguồn sáng tạo, ngøi thực hiện và người thưởngthức các thành quả hoạt động thể dục thể thao. Do vậy, cần phải tạo điều kiện cho mọi tổchức, tập thể, cá nhân có trách nhiệm tự nguyện và bình đẳng hỗ trợ, đóng góp nhân lực,tiền tài, trí tuệ để phát triển thể dục thể thao.Hoạt động thể dục thể thao là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trongcông cuộc đổi mới hiện nay. Tuy nhiên muốn đạt được hiệu quả cao nó cần phải có mộthệ thống tổ chức với đầy đủ cơ sở pháp lý, cơ sở lý luận thực tiễn để đảm bảo khả năngchỉ đạo, tổ chức thực hiện, tập hợp mọi tầng lớp quần chúng tham gia và huy động đượccác nguồn lực trong xã hội để đóng góp sự nghiệp phát triển phong trào thể dục thể thaomột cách vững chắc và lâu dài. Vì vậy, chúng ta cần nhanh chóng ổn đònh bộ máy quảnlý và điều hành như Nghò quyết 20/NQTU của Ban thường vụ Thành ủy đã ghi về pháttriển thể dục thể thao : “…. Chấn chỉnh tổ chức bộ máy của ngành Thể dục thể thao, đảmbảo sự ổn đònh, đoàn kết sự thống nhất, đủ sức tổ chức quản lý và điều hành nền Thể thaoThành phố trong giai đoạn phát triển mới”.Tuy nhiên, thực trạng công tác giáo dục thể dục thể thao tại các trường Đại họctrong thời gian hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn; Mặc dù vẫn tiến hành giảng dạytheo nội dung và chương trình của Bộ quy đònh nhưng trên thực tế cơ sở vật chất phục vụcho công tác giảng dạy - tập luyện thể dục thể thao tại nhiều trường vẫn còn rất hạn chếvề sân bãi, trang thiết bò tập luyện thể dục thể thao và ngay cả về hình thức, phươngpháp giảng dạy cũng chưa được sinh động, hấp dẫn nên chưa tạo được sự thu hút vàchưa phát huy được tính tự giác, tích cực đối với phần lớn các sinh viên tham gia học tậpvà rèn luyện các môn thể thao.Xuất phát từ các vấn đề trên, với tư cách là một giáo viên và làm cán bộ quản lýtôi chọn để nghiên cứu đề tài là: “Phong trào thể dục thể thao trong một số trường Đại
Xem thêm

20 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH TỐC ĐỘ CHO NAM VĐV BÓNG ĐÁ LỨA TUỔI 16 18 TRƯỜNG CAO ĐẲNG THỂ DỤC THỂ THAO THANH HÓA

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH TỐC ĐỘ CHO NAM VĐV BÓNG ĐÁ LỨA TUỔI 16 18 TRƯỜNG CAO ĐẲNG THỂ DỤC THỂ THAO THANH HÓA

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH NGUYỄN ĐỨC DU NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH TỐC ĐỘ CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN BÓNG ĐÁ LỨA TUỔI 1618 TRƯỜNG CAO ĐẲNG THỂ DỤC THỂ THAO THANH HÓA Chuyên ngành: Giáo dục thể chất Mã số: ….. LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Hướng dẫn khoa học TS. Trần Trung Bắc Ninh – 2015 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào. Tác giả luận văn Nguyễn Đức Du   MỤC LỤC MỞ ĐẦU 6 CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11 1.1. Đặc điểm của môn bóng đá 11 1.1.1.Bóng đá là môn thể thao có tính tập thể cao. 11 1.1.2. Đội bóng đá là môn thể thao có tính chiến đấu cao. 12 1.1.3. Bóng đá là môn thể thao phức tạp. 12 1.2. Đặc điểm huấn luyện thể lực cho VĐV bóng đá. 13 1.2.1. Ý nghĩa, nhiệm vụ và nội dung huấn luyện thể lực. 13 1.2.1.1. Ý nghĩa của huấn luyện thể lực 13 1.2.1.2. Nội dung và nhiệm vụ của huấn luyện thể lực 14 1.2.2. Đặc điểm huấn luyện thể lực cho VĐV bóng đá. 16 1.2.2.1. Phương pháp huấn luyện có hệ thống. 17 1.2.2.2. Nỗ lực nâng cao hiệu suất huấn luyện. 18 1.2.2.3. Tăng cường công tác huấn luyện từ nhiều hướng, vận dụng các phương pháp, phương tiện huấn luyện tiên tiến. 18 1.2.2.4. Quá độ từ huấn luyện đơn lẻ sang huấn luyện tổng hợp. 19 1.2.2.5. Cần coi trọng phần hồi phục sau huấn luyện. 20 1.3. Vai trò tố chất sức mạnh tốc độ trong môn bóng đá. 20 1.3.1. Các khái niệm cơ bản 20 1.3.1.1. Khái niệm về tố chất thể lực 20 1.3.1.2. Khái niệm về huấn luyện thể lực. 21 1.4. Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh tốc độ. 25 1.4.1. Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh tốc độ. 25 1.4.2. Huấn luyện sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618. 30 1.5. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 1618 31 1.5.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 1618. 31 1.5.2. Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 1618. 32 CHƯƠNG 2:PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 35 2.1. Phương pháp nghiên cứu. 35 2.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu có liên quan. 35 2.1.2. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm. 35 2.1.3. Phương pháp quan sát sư phạm. 36 2.1.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm. 36 2.1.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm. 37 2.1.6. Phương pháp toán học thống kê. 38 2.2. Tổ chức nghiên cứu. 39 2.2.1. Thời gian nghiên cứu. 39 2.2.2. Đối tượng nghiên cứu. 39 2.2.3. Địa điểm nghiên cứu. 39 CHƯƠNG 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 40 3.1. Đánh giá thực trạng công tác huấn luyện sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hóa. 40 3.1.1. Thực trạng quan điểm và kế hoạch huấn luyện sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hóa. 40 3.1.2. Thực trạng điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho huấn luyện của Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hóa. 43 3.1.3. Thực trạng việc sử dụng các bài tập huấn luyện sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hóa. 44 3.1.4. Lựa chọn test đánh giá sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hóa. 45 3.1.4.1. Lựa chọn test đánh giá sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hóa. 45 3.1.4.2. Xác định tính thông báo các test đánh giá sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hóa. 50 3.1.4.3. Xác định độ tin cậy của hệ thống các test đánh giá sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hóa. 51 3.1.5. Đánh giá thực trạng về sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hóa. 53 3.2. Nghiên cứu lựa chọn và đánh giá hiệu quả ứng dụng bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hóa. 55 3.2.1. Lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường Cao đẳng TDTT Thanh Hóa. 55 3.2.1.1. Xác định các nguyên tắc lựa chọn và xây dựng bài tập. 55 3.2.1.2. Kết quả lựa chọn các bài tập. 55 3.2.2. Xây dựng kế hoạch huấn luyện cho đối tượng thực nghiệm 63 3.2.2.1. Xác định nội dung huấn luyện sức mạnh tốc độ. 63 3.2.2.2. Xây dựng kế hoạch huấn luyện thực nghiệm. 65 3.2.3. Tổ chức thực nghiệm và đánh giá hiệu quả. 67 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73 1. Kết luận. 73 2. Kiến nghị. 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC 81   MỞ ĐẦU Trong những năm qua nhất là những năm 1991 trở lại đây, một số môn thể thao Việt Nam đã đạt được thành tích cao trong các cuộc tranh tài chính thức tại khu vực Đông Nam Á, Châu Á và Thế giới. Thành tích khiêm tốn đó bước đầu đã được toàn xã hội thừa nhận, đánh giá cao, nhiệt tình ủng hộ, tự hào và hy vọng vào tương lai thể thao Việt Nam. Thảnh công đó do nhiều nguyên nhân , nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản là: Chương trình mục tiêu của ngành TDTT năm 1993 của Tổng cục TDTT và tiếp tục là: “Chương trình thể thao Quốc gia” của ủy ban TDTT nay là Tổng cục TDTT. Để phát huy hơn nữa vai trò của TDTT, căn cứ vào tình hình phát triển chung của đất nước và phong trào TDTT hiện nay, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị 36TCTW để chỉ đạo vai trò công tác TDTT trong giai đoạn mới, một trong các mục tiêu đề ra là: “Kiện toàn hệ thống đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, giáo viên TDTT, huấn luyện viên TDTT….tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ nền TDTT Việt Nam vào đầ u thế kỷ 21”. Một trong những môn thể thao được mọi người ưu chuộng là bóng đá. Không ai có thể phủ nhận rằng bóng đá là môn thể thao hấp dẫn nhất trên thế giới. Tập luyện bóng đá không những mang lại cho chúng ta sức khỏe, một cơ thẻ cường tráng mà còn giúp ta rèn luyện ý chí, lòng quyết tâm, tính kỷ luật, sáng tạo tinh thần đồng đội….những phẩm chất của con người mới xã hội chủ nghĩa. Huấn luyện thể lực là một bộ phận quan trọng của công tác huấn luyện bóng đá. Trước đây vấn đề thể lực của bóng đá được coi là đặc điểm xã hội và do đó mang tính chất đặc trưng của các nước khác nhau. Những năm 60 của thế kỷ này chỉ có một số nước như Anh, Tây Đắc, Scotlen chú trọng tới thể lực, nhiều người gọi là nền bóng đá sức mạnh. Nhưng ngày nay đặc biệt là từ sau giải vô địch thế giới năm 1974 tất cả các nước có đội bóng mạnh đều chú trọng đến việc phát triển thể lực. Lấy việc phát triển thể lực là một trong những mục tiêu nhất của công tác huấn luyện. Ngày nay bóng đá hiện đạu càng đồi hỏi cầu thủ phải có thể lực thật tốt, dẻo dai. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu tập luyện và thi đấu. Thật vậy một cầu thủ có thể lực tốt biết phát huy khả năng đó trong khi có và không có bóng người đó thực hiện được ý đồ chiến thuật một cách không mệt mỏi, luôn đứng vững trước đối phương. Hơn nữa có thể lực tốt, cầu thủ sẽ làm chủ được tinh thần trong những giây phút căng thẳng, đảm bảo hiệu suất thi đấu từ đầu đến cuối trận đấu. Vì vậy, thể lực là một phần không thể tách rời cầu thủ bóng đá. Không có thể lực thì cầu thủ không thực hiện tốt được các kỹ thuật và không ứng dụng được các bài tập chiến thuật trong thi đấu. Lobanovski – huấn luyện viên nổi tiếng của Liên xô (cũ) và câu lạc bộ Dinamo Kiep (Ucraina) đã từng khẳng định: Tốc độ và thể lực mạnh, hơn bao giờ hết là khái niệm chủ yếu của bóng đá hiện đại. Những cuộc đấu tay đôi trên sân cỏ ngày càng nhiều, bóng đá trở thành môn thể thao tiếp xúc. Cầu thủ buộc phải rút ngắn tối đa thời gian suy nghĩ trong tất cả các hành động và cử chỉ của mình bởi vì đối thủ đặt ra cho anh những vấn đề cần xử lý ngay…”, nhận định này đã được thực tế chứng minh. Ngày nay đa số các đội bóng mạnh đều sử dụng lối đá “Pressing (có nghĩa là sức ép, áp lực). các nhà chuyên môn khi nói đến Pressing là nói đến lối chơi luôn tạo sức ép lên đối phương, luôn gây áp lực cho đối phương, đẩy đối phương vào thế bị động. Lối chơi này đòi hỏi các cầu thủ phải có sự phát triển tối ưu về thể lực, tốc độ và sự đa năng. Mỗi đội bóng có càng nhiều các cầu thủ đáp được yêu cầu trên thì hiệu suất thi đấu càng cao. Tiêu biểu cho lối chơi này là các đội bóng mạnh như Hà Lan, Anh, Pháp, Braxin, Achentina…. Tố chất sức mạnh là cơ sở cho vận động viên nắm vững kỹ năng vận động, nâng cao thành tích vận động của vận động viên. Các trận thi đấu bóng đá hiện nay mang tính quyết liệt, diễn ra với tốc độ nhanh yêu cầu mỗi vận động viên trên sân phải liên tục thực hiện những động tác: Chạy, nhảy, dừng, xuất phát nhanh,… khắc phục quán tính và lực cản. Ngoài ra còn đòi hỏi cầu thủ phải hoàn thành các động tác kỹ thuật một cách nhanh chóng, chính xác như kỹ thuật đá bóng, giữ bóng, dẫn bóng, sút cầu môn trong điều kiện có đối phương tranh cướp, cản phá. Chính vì vậy tố chất sức mạnh tốc độ đã trở thành một trong những thước đo trình độ huấn luyện thể lực cho vận động viên bóng đá. Trường cao đẳng thể dục thể thao Thanh Hóa là một trung tâm đào tạo VĐV đã có nhiệu vụ đào tạo các em VĐV có năng khiếu trở thành những VĐV chuyên nghiệp. Trong các chuyên ngành đào tạo của trung tâm, thì bóng đá là một trong những môn thể thao cơ bản và quan trọng. Quan thực tiễn huấn luyện, chúng tôi nhận thấy thể lực chuyên môn của các em VĐV còn yếu, nhất là sức mạnh tốc độ được thể hiện qua những động tác chạy (tốc độ, nước rút), dẫn bóng, đá bóng, tranh cướp bóng…trong các buổi thi đấu giao hữu với các đội bóng khác trong thành phố và các giải đấu giành cho lứa tuổi thiếu niên như giải Cúp Pepsi hay Hội khỏe phù đổng toàn quốc….Trong quá trình huấn luyện, chúng tôi tiến hành nhiều phương pháp, bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường Cao đẳng thể dục thể thao Thanh Hóa. Song các bài tập chúng tôi tiến hành chưa đồng bộ, chưa khoa học và chưa được kiểm nghiệm đánh giá cao cho nên hiệu quả đạt được chưa cao. Ở Việt Nam, vấn đề này thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, giáo dục chuyên môn ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Với các công trình nghiên cứu nhằm đánh giá trình độ tập luyện, trình độ thể lực và năng lực cho VĐV bóng đá các giai đoạn huấn luyện khác nhau như: Nguyễn Triệt Tình (1997), Võ Đức Phùng, Nguyễn Kim Minh, Trần Quốc Tuấn, Ngô Đức Nhuận, Nguyễn Thị Tuyết (1999), Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Minh Ngọc (2002), Phạm Ngọc viễn, Phạm Quang, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Minh Ngọc (2004), Phạm Xuân Thành (2007)…Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã xác định được hệ thống các chỉ tiêu, các tiêu chuẩn đánh giá trình độ huấn luyện, trình độ thể lực cũng như xây dựng được chương trình huấn luyện với hệ thống các phương tiện huấn luyện VĐV bóng đá trẻ ở Việt Nam theo từng lứa tuổi riêng biệt. Xuất phát từ những vấn đề nâu trên, nhằm mục đích phát triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường Cao đẳng thể dục thể thao Thanh Hóa, góp phần nâng cao chất lượng tập luyện môn bóng đá cho VĐV bóng đá nam lứa tuổi 1618 tỉnh Thanh Hóa, từng bước nâng cao hiệu quả công tác huấn luyện tại nhà trường chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV Bóng đá lứa tuổi 1618 Trường CĐ TDTT Thanh Hóa”. Mục đích nghiên cứu. Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng thể lực chuyên môn, cơ sở vật chất và việc sử dụng hệ thống các bài tập phát triển tố chất sức mạnh tốc độ của nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường CĐ TDTT Thanh Hóa, đề tài tiến hành lựa chọn hệ thống các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ và đánh giá hiệu quả của các bài tập đó. Mục tiêu nghiên cứu. Để đạt được mục đích nghiên cứu nên trên đề tài xác định giải quyết các mục tiêu nghiên cứu sau: Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng công tác huấn luyện sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường CĐ TDTT Thanh Hóa. Đánh giá thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác huấn luyện của trường CĐ TDTT Thanh Hóa. Đánh giá thực trạng sử dụng bài tập phát triển sức mạnh – tốc độ cho nam VĐV Bóng đá lứa tuổi 1618 Trường CĐ TDTT Thanh Hóa. Lựa chọn các test đánh giá sức mạnh – tốc độ cho nam VĐV Bóng đá lứa tuổi 1618 Trường CĐ TDTT Thanh Hóa. Đánh giá thực trạng sức mạnh – tốc độ của nam VĐV Bóng đá lứa tuổi 1618 trường CĐ TDTT Thanh Hóa. Mục tiêu 2: Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ cho nam VĐV Bóng đá lứa tuổi 1618 Trường CĐ TDTT Thanh Hóa. Lựa chọn các bài tập phát triển sức mạnh – tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618 Trường CĐ TDTT Thanh Hóa. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức mạnh – tốc độ cho nam VĐV Bóng đá lứa tuổi 1618 Trường CĐ TDTT Thanh Hóa.   CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Đặc điểm của môn bóng đá Bóng đá là một môn thể thao lập thể. Trong quá trình thi đấu, các cầu thủ phải thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản là khi có bóng thì tổ chức tấn công cầu môn đối phương; khi mất bóng thì chuyển sang phòng thủ . Trong tấn công cũng như phòng thủ , các cầu thủ cần khắc phục những hoạt động đối kháng, cản trở của đối phương bằng cách linh hoạt chạy, dừng đột ngột, thay đổi phương hướng và tốc độ động tác, đá bóng, giữ bóng, dẫn bóng ….tạo cho hành động của mình phù hợp với tình huống xảy ra trên sân. 1.1.1.Bóng đá là môn thể thao có tính tập thể cao. Cuộc thi đấu bóng đá gồm 2 tập thể đông người, tiến hành trên một sân rộng nên nếu chỉ dựa vào vai trò của từng cá nhân cầu thủ thì không thể nào giành được phần thắng. Không có bất kỳ cầu thủ ưu tú nào có thể vượt qua khoảng không gian rộng như thế, vượt qua cả một tập thể đối phương gồm 11 người để ghi bàn thắng và có đủ sức phòng thủ trước sức tấn công của toàn đội đối phương. Điều đó có nghĩa là sức mạnh của một đội bóng trước hết là ở tính tập thể của đội đó. Tập thể đội bóng đá lớn (so với đội bóng rổ, bóng chuyền, chỉ có 56 người) nên trình độ hiệp đồng phải cao, phải biết phát huy chỗ mạnh, khắc phục chỗ yếu của đội. Với trình độ kỹ thuật, chiến thuật phát triển như ngày nay, tính tập thể trong thi đấu lại càng cao. Khi bị đối phương tấn công, hầu như toàn đội rút về phòng ngự: Khi tấn công toàn đội hầu như phải dâng lên (phải có tới 7,8 cầu thủ) nhằm tăng cường sức uy hiếp về số lượng, tận dụng những đường bóng chuyền kín, chính xác và bất ngờ giữa các cầu thủ để phòng ngự sơ hở, có cơ hội dứt điểm. Thực chất của việc nâng cao trình độ chiến thuật có nghĩa là nâng cao trình độ hiệp đồng tổ chức tấn công và phòng ngự, nâng cao tính tập thể của đội bóng và ở một đội bóng mà tính tập thể được đảm bảo bởi trình độ kỹ chiến thuật điêu luyện thì có một uy lực rất lớn. 1.1.2. Đội bóng đá là môn thể thao có tính chiến đấu cao. Trong thi đấu bóng đá cầu thủ hai đội được quyền tràn lấn sang sân nhau (khác với bóng chuyền, bóng bàn, quần vợt) để tranh giành bóng một cách hợp lệ, nên sự đối kháng mang tính trực tiếp. Các cầu thủ của hai đội đều phải quyết tâm, giành giật phần thắng trong từng trường hợp, tạo ra từng cơ hội thuận lợi nhỏ nhất cho đội mình. Bên cạnh ý chí quyết tâm của toàn đội giành phần thắng, từng cầu thủ cũng có cuộc chiến đấu riêng với cầu thủ đối phương . Bên cạnh hình ảnh toàn cục là cuộc đấu của hai tập thể 11 người thì riêng lẻ có những cuộc tranh chấp tay đôi, giữa hậu vệ đội này với tiền đạo đội kia, tiền vệ đội này với tiền vệ đội kia….Nhìn chung, khi có bóng thì đội tấn công thường tìm cách kèm chặt các cầu thủ đối phương, nhất là cầu thủ có bóng và những cầu thủ ở vị trí nguy hiểm. Suốt 90 phút của trận đấu, cuộc chiến đấu gay go của 2 đội và từng nhóm cầu thủ diễn ra liên tục và chỉ dừng lại khi tiếng còi kết thúc trận đấu của trọng tài nổi lên. Đương nhiên, chúng ta không nên hiểu tính chiến đấu cao, tính đối kháng cao có nghĩa là các cầu thủ ra sức xo đẩy nhau, gây gổ nhau theo nghĩa xấu mà là sự thi đua giành giật về tài nghệ kỹ thuật, chiến thuật, tinh thần ý chí, va chạm hợp lệ để giành phần thắng. Điều này phát huy tính dũng cảm lên cao độ. 1.1.3. Bóng đá là môn thể thao phức tạp. Bóng đá là môn thể thao duy nhất mà các cầu thủ trên sân không được dùng tay mà chủ yếu là dùng chân để khiêng bóng. Từ đó, đôi chân không chỉ giữ chức năng di chuyển cơ thể như các môn thể thao khác mà còn nhận một nhiệm vụ quan trọng, phức tạp là thực hiện các động tác điều khiển bóng. Đôi chân đã thực hiện các kỹ thuật giữ bóng, dẫn bóng, động tác giả, đá bóng…vô cùng đa dạng và linh hoạt mà người ta nghĩ rằng ngay đến đôi tay khéo léo mềm dẻo cũng khó có thể làm nổi. Tuy vậy, trải qua hàng trăm năm của lịch sử bóng đá, sự phát triển của kỹ thuật bóng đá vẫn không bị dừng lại. Các cầu thủ ưu tú ngày nay đã có trình độ kỹ thuật rất điêu luyện….Từ những lúc lúng túng, ngượng ngùng của buổi đầu tập bóng tới những kỹ thuật điêu luyện là một chặng đường dài, luyện tập gian khổ, công phu và phức tạp. Cùng với sự phát triển của chiến thuật, kỹ thuật phức tạp lên nhiều, đòi hỏi cầu thủ có trình độ toàn diện hơn. Nếu như trước kia, các cầu thủ hậu vệ còn phải biết thuần thục các kỹ thuật tấn công như động tác giả, chuyền bóng, sút bóng vào cầu môn. Mặt khác tính chất phức tạp của môn bóng đá có thể hiện sự đa dạng, phong phú của quá trình phát triển chiến thuật. Lịch sử bóng đá gắn liền với sự tiến hóa không ngừng của các hệ thống chiến thuật, cứ mỗi một hệ thống chiến thuật bị phá vỡ thì hệ thống chiến thuật kế tiếp lại mang nhiều ưu điểm hơn, khoa học hơn, phức tạp hơn và đòi hỏi ở cầu thủ khả nưng toàn diện hơn. Trong thi đấu, không có hiện tượng nào trùng lặp và không có khuôn mẫu nào thích hợp cho mọi trường hợp. Tính chất đa dạng và muôn hình muôn vẻ đó đòi hỏi ở từng cầu thủ tính sáng tạo rất lớn. Mỗi đợt tấn công hay phòng thủ đều có những nét riêng của nó mà cầu thủ nhánh chóng tìm ra biện pháp xử lý hay đối phó thích hợp. Bởi thế, trong một trận đấu, những tình huống thay đổi không ngừng đòi hỏi cầu thủ cũng phải linh hoạt, sáng tạo không ngừng để đóng góp tốt cho đội. 1.2. Đặc điểm huấn luyện thể lực cho VĐV bóng đá. 1.2.1. Ý nghĩa, nhiệm vụ và nội dung huấn luyện thể lực. 1.2.1.1. Ý nghĩa của huấn luyện thể lực Huấn luyện thể lực là một bộ phận quan trọng của công tác huấn luyện môn bóng đá. Thông qua công tác huấn luyện thể lực có thể tăng cường sức khỏe cho VĐV, nhằm phát triển một cách toàn diện các tố chất thể lực, nâng cao năng lực hoạt động của cơ thể. Huấn luyện thể lực tốt sẽ tạo tiền đề cho việc huấn luyện kỹ thuật và chiến thuật. Nó có ý nghĩa rất lớn và đóng vai trò quan trọng thúc đẩy việc nắm vững kỹ thuật, sức chịu đựng cường độ lớn, lượng vận động lớn, nhằm nâng cao thành tích, đề phòng chấn thương, kéo dài thành tích thể thao của VĐV. Theo xu hướng phát triển và toàn diện môn bóng đá bằng phương thức toàn đội tấn công và toàn đội phòng thủ, chức năng nhiệm vụ của VĐV ngày càng được mở rộng, tốc độ thi đấu ngày một tăng cao, sự đối kháng càng quyết liệt, cho nên việc huấn luyện thể lực đối với VĐV bóng đá cũng có yêu cầu ngàu càng cao. Hiện nay huấn luyện thể lực không những được giới bóng đá quốc tế đặc biệt coi trọng, mà trong phần lý luận và phương pháp tập luyện cũng được đề cập đến. Nhiều thành tựu nghiên cứ khoa học và kiến thức cũng như sự hiểu biết trên lĩnh vực này cũng được mở rộng và phát triển. Trong công tác huấn luyện tính toàn diện, tính hệ thống và tính khoa học cũng được hoàn thiện dần dần. Tất cả những điều kiện trên đều có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy phát triển nhanh trình độ môn bóng đá. 1.2.1.2. Nội dung và nhiệm vụ của huấn luyện thể lực Huấn luyện thể lực cho VĐV bóng đá bao gồm hai phương diện: Huấn luyện thể lực chung và huấn luyện thể lực chuyên môn. Huấn luyện thể lực chung là sự huấn luyện thể lực mà người ta sử dụng nhiều dạng bài tập khác nhau nhằm phục vụ nhu cầu đối với VĐV bóng đá nhằm thúc đẩy, tăng cường sức khỏe cho VĐV, nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống các cơ quan nội tạng nhằm đạt được mục tiêu là phát triển toàn diện tố chất thể lực và cải thiện hình thái cơ thể cho VĐV. Còn huấn luyện thể lực chuyên môn là sự huấn luyện trong đó vận dụng nhiều bài tập thể lực nhằm nâng cao tố chất thể lực chuyên môn, hoàn thiện việc thực hiện các động tác kỹ thuật và chiến thuật chuyên môn, các bài tập đó phải có mối quan hệ trực tiếp với thi đấu bóng đá. Trong môn bóng đá nói riêng và các môn thể thao nói chung, mối quan hệ giữa huấn luyện thể lực chung và huấn luyện thể lực chuyên môn rất mật thiết. Chúng thúc đẩy lẫn nhau phát triển. Thực tế chứng minh điều này, là quy luật chuyển dịch trực tiếp của tố chất vận động. Sự huấn luyện thể lực chung một cách hoàn hảo sẽ là cơ sở tốt cho việc huấn luyện thể lực chuyên môn, ngược lại, huấn luyện thể lực chuyên môn tốt, ở một trình độ nhất định sẽ thúc đẩy trình độ huấn luyện thể lực chung. Nhờ sự huấn luyện toàn diện, tố chất thể lực được phát triển một cách toàn diện, đồng thời VĐV nắm vững kỹ năng vận động với lượng vận động lớn. Việc kích thích sự hưng phấn của các trung khu thần kinh vận động nhằm thúc đẩy việc nắm vững và hoàn thiện kỹ năng kỹ xảo vận động và có tác dụng hoàn thiện hệ thần kinh thực vật một cách tương ứng. Mối quan hệ giữa thể lực chung và thể lực chuyên môn một mặt có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau phát triển, nhưng có mặt ngược lại là kiềm chế lẫn nhau, hạn chế nhau và gây cản trở nhau, cho nên giữa chúng có những điểm khác nhau, không thể thay thế cho nhau, nếu không nắm các đặc điểm này sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của chúng. Do đó, các bài tập được sử dụng huấn luyện tốt chất thể lực cho VĐV bóng đá, nhất thiết phải căn cứ vào mối quan hệ giữa huấn luyện viên thể lực chung và huấn luyện viên thể lực chuyên môn mà tiến hành chọn các bài tập. Chỉ khi nào bố chí sắp xếp một cách khoa học, hợp lý và tiến hành một cách thận trọng, tỉ mỉ mới thu được một trình độ huấn luyện cao. Khi tiến hành các dạng huấn luyện tố chất thể lực, cần phải nghĩ rằng giữa chúng với nhau không phát triển một cách cô lập, mà có mối liên hệ ảnh hưởng đến nhau, thúc đẩy lẫn nhau và cả kiềm chế lẫn nhau. Bởi vì tất cả các tốt chất thể lực đề là hình thức biểu hiện ra của hoạt động cơ bắp, mà hoạt động của cơ bắp lại chịu sự chỉ huy thống nhất của hệ thống thần kinh trung ương. Nó thực hiện bởi sự thay đổi sinh lý nhất định và sự phản ứng về sinh hóa. Chính vì thế, đồng thời với việc phát triển một số chất thể lực nào đó, thì nhất định các tố chất thể lực khác cũng chịu ảnh hưởng hoặc ít hoặc nhiều, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Thông thường, nếu phát triển một tố chất thể lực nào đó mà làm ảnh hưởng đến sự phát triển của một tố chất thể lực khác thì người ta gọi đó là sự chuyển dịch tố chất vận động. Ví dụ: Khi phát triển tố chất nhanh, nhất định có ảnh hưởng đến sự phát triển tố chất mạnh và ngược lại. Sự chuyển dịch tốt chất vận động là ván đề thực tiễn trong công tác huấn luyện tố chất thể lực, chỉ có tìm hiểu sâu trong thực tiễn, nắm vững các quy luật nội tại để khống chế những điều kiện chuyển dịch mới có thể thu được hiệu quả tốt. Ngược lại, nếu quay lưng lại quy luật chuyển dịch này, sẽ cản trở sự phát triển của các tố chất khác, từ đó dẫn đến ảnh hưởng sự nâng cao và phát triển cân bằng toàn bộ tố chất thể lực của VĐV. Mặc khác, trong quá trình huấn luyện thể lực cũng cần phải tìm hiểu sâu và nắm vững thêm quy luật chuyển dịch cùng loại và sự chuyển dịch khác loại, quy luật chuyển dịch trực tiếp và quy luật chuyển dịch gián tiếp. Cần phải đặc biệt lưu ý nguyên lý và điều kiện của sự chuyển dịch tốt và sự chuyển dịch không tốt. Cần coi trọng việc tuyển chọn nội dung và các thủ đoạn huấn luyện trực diện và bố trí sắp xếp phải cho khoa học, như vậy mới nâng cao được chất lượng huấn luyện. 1.2.2. Đặc điểm huấn luyện thể lực cho VĐV bóng đá. Từ những năm 1970, chính xác là từ giải vô địch bóng đá thế giới được tổ chức tại Munich (Cộng hòa Liên bang Đức trước kia, nay là nước Đức thống nhất), bóng đá thế giới có một bước tiến bộ vượt bậc. Thể hiện ở trận đấu là tấn công toàn đội và phòng thủ cũng toàn đội. Người ta gọi loại bóng đá này là bóng đá tổng lực, mà điểm hình cho lối đá tổng lực này chính là đội bóng HàLan thực hiện trong trận chung kết với đội chủ nhà Tây Đức trên sân VĐ tại Munich. So với bóng đá trước kia, dù là trên bình diện chất lượng – tốc độ cương độ trân đấy hay mức độ đối kháng quyết liệt của trận đấu đều được nâng cao và phát triển một bước khá dài. Do đó, yêu cầu đối với trình độ huấn luyện thể lực của VĐV bóng đá rất cao. Ngày nay, nền bóng đá các nước đều tích cực sử dụng nhiều biện pháp, vận dụng nhiều thủ đoạn và phương pháp huấn luyện rất khoa học, nỗ lực phấn dấu nâng cao trình độ huấn luyện thể lực cho VĐV bóng đá, thể hiện ở các mặt chính sau: 1.2.2.1. Phương pháp huấn luyện có hệ thống. Theo kinh nghiệm của nhiều VĐV bóng đá nổi tiếng trên thế giới đã thành đạt chứng minh rằng, chỉ có tiến hành huấn luyện một cách thật nghiêm khắc, thật khoa học, và phải hệ thống hóa, phải tập liên tục nhiều năm mới có thể thành đạt, mới có thể trở thành những VĐV ưu tú, những nhà lập kỷ lục cao. Thực tiễn cũng chứng minh rằng, trong quá trình huấn luyện, sự diễn biến tuần tự mục tiêu của từng giai đoạn thường thường là không thể tiếp chuyển hết được, bất kỳ một ý đồ nào vượt qua đặc điểm của quá trình huấn luyện, áp đặt sự huấn luyện chuyên mô hóa quá sớm để đạt được một thành tích nhất thời, tất yếu dẫn đến sự ép buộc VĐV đạt thành tích khi chưa có thể lực đạt được, ví dụ như buộc đóa hoa phải nở sớm khi nó chưa có điều kiện để nở. Làm như vậy hệ quả là thời gian duy trì thành tích sẽ ngắn, đời hoàng kim của người cầu thủ mau tàn lụi và sẽ có nhiều hệ lụy khác không lường trước được. Ngày nay, rất nhiều quốc gia căn cứ vào quy luật phát dục và trưởng thành của con người và quy luật “thời kỳ nhạy cảm” để phát triển tố chất VĐV. Người ta chia hệ thống huấn luyện thể lực từ nhi đồng, thiếu niên đến khi trưởng thành bào gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn từ 711 tuổi: là thời kỳ nhằm phát triển năng lực cơ bản, chủ yếu phát triển các năng lực có liên quan mật thiết đến hệ thống thần kinh như: tốc độ phản ứng, sức bền chung, tính linh hoạt, tính nhịp điệu, tính đàn hồi, dẻo dai, tính thích ứng. Giai đoạn từ 1217 tuổi: Thời kỳ phát triển toàn diện, chủ yếu là củng cố và nâng cao năng lực cơ bản, tập trung phát triển sức mạnh và sức bền chung nhằm đặt hiệu quả là phát triển toàn diện. Trên cơ sở này, từng bước kết hợp huấn luyện tố chất thể lực mang đặc tính chuyên sâu. Giai đoạn từ 18 tuổi trở lên: Là thời kỳ huấn luyện chuyên sâu. Nhiệm vụ chính là trên cơ sở phát triển của tố chất sức mạnh, tốc độ, sức bền dần dân từ quá độ chuyên sâu với mức độ lớn dần và tiến tới huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn. 1.2.2.2. Nỗ lực nâng cao hiệu suất huấn luyện. Để bắt nhịp với đà phát triển của bóng đá ngày nay, người huấn luyện viên cần phải tìm hiểu và khai thác những nhân tó thúc đẩy các năng lực tiềm tàng của VĐV. Thông thường những nhân tố đó là khối lượng vận động và cường độ vận động của VĐV. Hai nhân tố này là động lực chính làm tăng thành tích của VĐV. Thực tiễn chứng minh, các cường quốc bóng đá trên thế giới như Braxin, Đức, Italy, Anh, Hà Lan…trong công tác huấn luyện họ chú ý giải quyết khối lượng vận động cao và cường độ vận động lớn một cách hợp lý. Đây là một kinh nghiệm ai cũng biết, nhưng không phải ai cũng có thể làm được. Điều thật sự được người ta coi trọng đó là ngày càng nhiều người vận dụng các phương pháp huấn luyện không mang tính truyền thống, như phương pháp huấn luyện theo mô hình hoặc sử dụng các khí tài huấn luyện chuyên sâu. Điều này không những tăng cường hiệu quả của công tác huấn luyện mà còn thúc đẩy quá trình huấn luyện, nâng cao hiệu suất huấn luyện. Ví dụ như sử dụng máy đo sức mạnh huấn luyện của 70 loại khác nhau. Khi huấn luyện, có thể căn cứ vào đặc điểm dùng lực của môn bóng đá và tình hình cụ thể của VĐV chuyển vào trong diện não khống chế quá trình huấn luyện. Mỗi lần kết quả huấn luyện đều có thể tự động tồn nhập vào diện não nhằm giúp cho huấn luyện viên biết được tình hình công tác huấn luyện và phân tích đối chiếu. 1.2.2.3. Tăng cường công tác huấn luyện từ nhiều hướng, vận dụng các phương pháp, phương tiện huấn luyện tiên tiến. Thể dục thể thao là cánh cửa của nền khoa học hiện đại, công tác huấn luyện thể lực cho VĐV bóng đá cũng giống như các môn khoa học khác, đối với việc mở mang kiến thức khoa học mới có tính nhạy cảm rất cao. Nó có sự cảm nhận, mật thiết của sự phát triển mới không giống nhau về khoa học về các tầng, về thành quả mới, về bước nhảy vọt….mà nó phát triển nhanh theo nhiều hướng, vận dụng các phương pháp, phương tiện huấn luyện thể lực, làm sao mới nhất, nhanh nhất, đạt được thành tích tốt nhất. Ví dụ: Có thể sử dụng kỹ thuật vi điện tử làm cho công tác huấn luyện được chính xác hơn, kịp thời thu được tín hiệu phản hồi đảm bảo cho quá trình huấn luyện được tiến hành ổn định. Ví dụ: Đội bóng đá Đinamô Mátxcova của Liên Xô trước kia, có đề ra ba nguyên tắc chỉ đạo trong công tác huấn luyện là: Tính hệ thống, tính ổn định và tính thông tin. Vận dụng phương pháp khoa học của hệ thống công trình, lập lên một mô hình huấn luyện thể lực là định hướng hóa, tuần tự hóa, ổn định hóa và mô hình đối chiếu. Vận dụng nguyên lý tin học trong việc huấn luyện cho VĐV có mục đích, có định hướng tới đích, làm cho trình độ huấn luyện thể lực của VĐV đạt đến mức cao nhất. Chỉ trong vòng hai năm đoạt Cúp bóng đá Châu Âu và 7 năm sau đó liên tiếp là đội vô địch toàn Liên Xô (cũ). Ngoài ra vận dụng thành tựu nghiên cứu khoa học về sinh cơ học để cải tiến công tác huấn luyện tố chất thân thể, vận dụng kiến thức mô phỏng nhằm làm phong phú thêm phương hướng huấn luyện thể lực, vận dụng kỹ thuật đo lường bằng điện tử không gian đối với công tác huấn luyện thể lực có thể khống chế có hiệu quả. Vận dụng thành tựu nghiên cứu vi tuần hoàn để tiến hành đánh giá bình luận về tình hình huấn luyện thể lực…. Tất cả những vận dụng thành tựu khoa học nêu trên đối với công tác huấn luyện thể lực có một tác dụng rất lớn. 1.2.2.4. Quá độ từ huấn luyện đơn lẻ sang huấn luyện tổng hợp. Ngày nay việc huấn luyện thể lực cho VĐV bóng đá ưu tú là dựa trên cơ sở đo đạc các loại tố chất thân thể rồi quá độ lên huấn luyện toàn diện các tố chất có liên quan. Một vấn đề quan trọng cần đề cập là công tác và cả nội dung huấn luyện từng chu kỳ hay từng giai đoạn đều được tiến hành một cách đơn độc là chính. Sự phát triển theo xu thế hiện nay (trước mắt) là bằng sự huấn luyện đồng bộ, tổng hợp chia thành nhiều chu kỳ tất cả những nhân tố nêu trên. Đặc biệt trong công tác huấn luyện, cần sử dụng nhiều các bài tập mang tính đối kháng cao, diễn ra với tốc độ nhanh, có kết hợp việc sử dụng quản bóng. Tỷ lệ huấn luyện thể lực đơn thuần không kết hợp với bóng từ chỗ lớn giảm bé lại. Có nhu vậy mới làm cho công tác huấn luyện thể lực càng phù hợp với yêu cầu chung của tình hình phát triển của nền bóng đá hiện đại. 1.2.2.5. Cần coi trọng phần hồi phục sau huấn luyện. Theo đà tăng trưởng về khối lượng huấn luyện và khả năng chịu đựng của VĐV trong các cuộc thi đấu của nền bóng đá hiện đại, đặc biệt là trong điều kiện chịu đựng khối lượng lớn nhất, thì việc vận dụng các biện pháp về y học và phục hồi về mặt tâm lý đã trở thành một khâu quan trọng trong quá trình huấn luyện bóng đá nói chung và huấn luyện thể lực nói riêng. Điều này không những đề phòng được việc tập luyện quá sức, phòng ngừa được các chấn thương mà còn nâng cao năng lực, khả năng chịu đựng của VĐV từ 510%. 1.3. Vai trò tố chất sức mạnh tốc độ trong môn bóng đá. 1.3.1. Các khái niệm cơ bản 1.3.1.1. Khái niệm về tố chất thể lực Thể thao thành tích cao thể hiện sự khát vọng vươn lên khả năng cao nhất của con người. Vì vậy, tiền năng của con người đã và đang được khai thác triệt để, nhằm đạt thành tích thể thao cao nhất trong cuộc thi đấu. Các hiểu biết về đạo đức, ý chí, kỹ thuật chiến đấu về thể lực của VĐV là những yếu tố quyết định đến thành tích thể thao. Trong đó khả năng hoạt động thể lực, đặc biệt là thể lực chung và chuyên môn giữ vai trò nền tảng. Huấn luyện thể lực phải căn cứ vào yếu tố hiểu biết, đạo đức, ý chí, kỹ thuật và chiến thuật, thể lực là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định đến hiệu quả hoạt động của con người. Theo quan điểm của tác giả PGS.TS Nguyễn Toán và TS. Phạm Danh Tốn. Tố chất thể lực là những đặc điểm, mặt, phần tương đối riêng biệt trong thể lực của con người và thường được chia thành 5 loại cơ bản: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng phối hợp động tác và độ dẻo. Theo quan điểm của tác giả PGS.TS Lưu Quang Hiệp và Phạm Thị Uyên, tố chất thể lực có thể phát triển các mặt khác nhau của năng lực hoạt động thể lực và có 4 tố chất vận động chủ yếu: Sức nhanh, sức mạnh, sức bến và khéo léo. Vì vậy, huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao là vấn đề được quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, các chuyên gia, các huấn luyện viên. 1.3.1.2. Khái niệm về huấn luyện thể lực. Huấn luyện thể lực là tiền đề nâng cao thành tích thể thao. Song, về bản chất, mức độ phát triển các tố cahats thể lực phụ thuộc vào các trạng thái chức năng cấu tạo của nhiều cơ quan về hệ thống cơ thể. Quá trình tập luyện để phát triển các tố chất thể lực cũng chính là quá trình hoàn thiện các hệ thống chức năng giữ vai trò chủ yếu trong hoạt động cơ bắp. Mặt khác huấn luyện thể lực cho VĐV là một quá trình giáo dục chuyên môn, chủ yếu bằng hệ thống các bài tập nhằm hoàn thiện các năng lực thể chất, đảm bảo cho VĐV đạt thành tích cao nhất trong huấn luyện thi đấu. Quá trình huấn luyện thể lực phải căn cứ vào đặc điểm đối tượng, lứa tuổi của VĐV và đặc thù môn thể thao, mà sử dụng các biện pháp, phương tiện phù hợp. Có như vậy huấn luyện thể lực mới đạt hiệu quả cao. Huấn luyện thể lực là một quá trình tác động liên tục, thường xuyên và theo kế hoạch lên cơ thể VĐV, quá trình này tác động sâu sắc tới hệ thần kinh, hệ tim mạch, cơ bắp cũng như đối với các cơ quan nội tạng của con người. Tất nhiên muốn có thành tích xuất sắc trong một môn thể thao nào trước tiên cần phải có tố chất thể lực phát triển phù hợp với yêu cầu môn thể thao đó. Song các mặt khác không được coi nhẹ như: Kỹ chiến thuật, tâm lý, ý chí… Tố chất thể lực thông thường được chia thành 5 loại cơ bản: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng phối hợp động tác và độ dẻo. Nhưng trong thực hiễn huấn luyện, các tố chất thể lực trên thường không biểu thị riêng lẻ, mà chúng có mối quan hệ tương tác lẫn nhau. Ví dụ: Kỹ thuật bật nhảy, đánh đầu: Đây là kỹ thuật biểu thị sức mạnh tốc độ như nó lại chữa cả khả nwang phối hợp động tác, phản xạ và khả năng xử lý thông tin của thần kinh. Thực tế huấn luyện hiện nay tồn tại rất nhiều quan điểm về huấn luyện thể lực cho VĐV. Song có tác giả cho rằng “quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV là việc hướng đến củng cố các hệ thống cơ quan của cơ thể, nâng cao khả năng chức phận của chúng, đồng thời là việc phát triển các tố chất vận động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền. mềm dẻo, khéo léo). Như đã trình bày ở trên quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV bao gồm: Huấn luyện thể lực chung và quá trình phát triển toàn diện các tố chất thể lực cũng như khả năng chức phận khác nhau không đặc trưng cho một hoạt động riêng biệt nào và nó tạo điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả của quá trình huấn luyện thể lực chuyên môn. Huấn luyện thể lực chuyên môn: Là quá trình giáo dục nhằm phát triển và hoàn thiện những năng lực thể chất tương ứng với đặc điểm môn thể thao chuyên sâu, có nhiệm vụ phát triển đến mức tối đa những năng lực đó của vận động viên, huấn luyện thể lực chuyên môn hướng đến củng cố và nâng cao khả năng làm việc của cơ quan chức phận, các tố chất thể lực phù hợp với đòi hỏi của môn thể thao lựa chọn. Huấn luyện thể lực chuyên môn cần thiết phải chia làm 2 phần: + Huấn luyện thể lực chuyên môn cơ sở: Được hình thành và phát triển trên nền tảng chung thể lực chung. Sức bền chuyên môn của VĐV sẽ cao hơn trên cơ sở nâng cao sức bền chung cho VĐV. Như vậy có thể nói riêng: Huấn luyện thể lực chung là nền tảng, còn việc lựa chọn biện pháp thích hợp lại mang những đặc trưng của môn thể thao, là tiền đề của hình thành các tố chất thể lực chuyên môn sau này. Việc hình thành thể lực chuyên môn cơ sở của các môn thể thao không chu kỳ tương đối khó khăn. Ở đây có 2 cách lựa chọn: Thứ nhất: Bằng cách lặp lại nhiều lần các hoạt động chính đặc trưng của môn thể thao lựa chọn. Sự lặp lại nguyên vẹn các bài tập thi đấu của chính môn thể thao đó. Nếu lựa chọn và thực hiện không đúng những bài tập hình thành và phát triển các tố chất thể lực chuyên môn cơ sở sẽ dẫn đến sai lần chuyên môn trong các cơ quan chức phận, điều này làm ảnh hưởng đến việc phát triển thành tích thể thao của VĐV. Chính vì vậy các bài tập được lựa chọn làm phương tiện giáo dục tố chất thể lực chuyên nôn cơ sở còn phải được thực hiện với cường độ cao. Mặt khác, khối lượng thực hiện các bài tập để giáo dục tố chất thể lực chuyên môn cơ sở phải tính toán tới việc sử dụng khối lượng và cường độ bài tập mang những nét đặc trưng của môn thể thao tương ứng phù hợp. + Huấn luyện thể lực chuyên môn cơ bản: Mục đích chính là việc nâng cao đến mức cần thiết sự phát triển của các tố chất vận động và khả năng chức phận của các cơ quan nội tạng, trước những đòi hỏi của môn thể thao lựa chọn. Sự phát triển các tố chất vận động chuyên môn cơ bản phụ thuộc chủ yếu vào các bài tập đặc thù của môn thể thao. Các bài tập đó được thực hiện trong những điều kiện giảm nhẹ hoặc tăng cường thêm độ khó. Nguyên tắc chung trong lựa chọn các bài tập nhằm giáo dục các tố chất thể lực chuyên môn cơ bản là cac bài tập phải được thực hiện với cường độ tương đương với thi đấu. Quá trình huấn luyện của VĐV kéo dài, thông thường từ một đến nhiều tháng, nghĩa là nó diễn ra trong thời kỳ chuẩn bị và trong suốt thời kỳ thi đấu của mỗi chu kỳ huấn luyện. Giáo dục mỗi tố chất thể lực cần thiết phải tuân thủ những quy định riêng với những phương pháp và biện pháp giáo dục riêng. Có thể nói: Thành tích thi đấu của VĐV bóng đá phụ thuộc rất nhiều vào thể lực chuyên môn đặc biệt là sức mạnh tốc độ. Chính vì vậy, sự hình thành và phát triển một cách đầu đủ các tố chất thể lực chuyên môn đặc biệt là sức mạnh tố độ là điều hết sức cần thiết. Có quan điểm cho rằng: Huấn luyện thể lực chuyên môn phải gắn liền với các hoạt động kỹ thuật. Điều này là đúng như chưa đủ, bởi việc giáo dục phát triển các tố chất thể lực chuyên môn cho VĐV các môn thể thao trong đó có VĐV bóng đá, phải là một quá trình huấn luyện toàn diện với các phương pháp đa dạng và nhiều phương tiện khác nhau, có tính đến đặc thù của môn thể thao và có sự kết hợp đầy đủ các yếu tố kỹ chiến thuật của nó. Qua tham khảo các nguồn tư liệu, các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực lý luận về phương pháp huấn luyện thể thao trong nước. GS.Lê Văn Lẫm, PGS.TS. Nguyễn Toán và TS.Phạm Danh Tốn, chúng tôi thấy các nhà khoa học đều cho rằng: Quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV là hướng đến việc củng cố và nâng cao khả nưng chức phận của hệ thống cơ quan thông qua lượng vận động thể lực (bài tập thể chất) và như vậy, đồng thời đã tác động đến quá trình phát triển của các tố chất vận động. Đây có thể coi là quan điểm cho xu hướng sư phạm trong quá trình giáo dục các tố chất vận động. Dưới góc độ Y sinh, GS.TS Lưu Quang Hiệp, PGS Trịnh Hùng Thanh cho rằng: Huấn luyện thể lực chung và chuyên môn trong huấn luyện thể thao là những biến đổi thích nghi về mặt sinh học (cấu chúc và chức năng) diễn ra trong cơ thể vận động viên dưới tác động của tập luyện được biểu hiện ở năng lực hoạt động cao hay thấp. Dưới góc độ tâm lý, PGS.TS. Phạm Ngọc Viễn, PGS.TS. Lê Văn Xem cho rằng quá trình chuẩn bị thể lực và chuyên môn cho VĐV là quá trình giải quyết những khó khăn liên quan đến việc thực hiện các hành động kỹ thuật, là sự phù hợp những yếu tố tâm lý trong hoạt động tập luyện và thi đấu của VĐV. Tổng hợp các ý kiến chứng tỏ: Quá trình chuẩn bị thể lực chuyên môn của VĐV là quá trình giải quyết những khó khăn liên quan đến việc thực hiện các hành động kỹ thuật, là sự phù hợp những yếu tố tâm lý trong hoạt động tập luyện và thi đấu của VĐV. Tổng hợp các ý kiến trên chứng tỏ: Quá trình chuẩn bị về thể lực chuyên môn của VĐV là sự tác động có hướng đích của lượng vận động (bài tập thể chất) lên VĐV nhằm hình thành, phát triển khả năng vận động mà biểu hiện là hoàn thiện các năng lực thể chất (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng phối hợp động tác và độ dẻo), là ở việc nâng cao khả năng hoạt động của các cơ quan chức phận tương ứng với năng lực VĐV, phù hợp với thực tiễn huấn luyện, người ta còn chia ra một số tố chất thể lực có tính chất hỗn hợp: Sức mạnh tốc độ, sức bền tốc độ, sức mạnh bền. Trong đó sức mạnh tốc độ mà chúng tôi nghiên cứu là một trong các bài tố chất như thế. 1.4. Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh tốc độ. 1.4.1. Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh tốc độ. + Sức mạnh tốc độ là khả năng khắc phục trọng tài bên ngoài trong thời gian ngắn nhất bằng sự căng cơ. + Sức mạnh tốc độ mà cơ phát ra phụ thuộc vào: Số lượng đơn vị vận động (sợi cơ) tham gia vào căng cơ. Chế độ co của đơn vị vận động (sợi cơ) đó. Chiều dài ban đầu của sợi cơ trước lúc co. Khi số lượng sợi cơ co là tối đa, các sợi cơ đều co theo chế độ co cứng và chiều dài ban đầu của sợi cơ là chiều dài tối ưu thì cơ sẽ co với lực tối đa. Lực đó, được gọi là sức mạnh tối đa, nó thường đạt được trong co cơ linh. Sức mạnh tối đa của một cơ phụ thuộc vào số lượng sợi cơ và tiết diện ngang (độ dầy) của các sợi cơ. Chúng cũng là các yếu tố quyết định độ dày của cơ, hay nói một cách khác, là tiết diên ngang của toàn bộ cơ. Sức mạnh tối đa trên tiết diện ngang của cơ được gọi là sức mạnh tương đối của cơ. Bình thường sức mạnh đó bằng 0.51kgcm2. Trong thực tế sức mạnh cơ của con người được đo khi co cơ tích cực, nghĩa là co cơ với sự tham gia của ý thức. Vì vậy, sức mạnh mà chúng ta xem xét thực tế chỉ là sức mạnh tối đa, nó khác với sức mạnh tối đa sinh lý của cơ mà ta cũng có thể ghi được bằng kích thích điện lên cơ. Sự khác biệt giữa các sức mạnh tối đa sinh lý và sức mạnh tích cực tối đa được gọi là thiếu hụt sức mạnh. Nó là đại lượng biểu thị tiềm năng về sức mạnh của cơ. Ở những người có tập luyện, thiếu hụt sức mạnh giảm đi. Sức mạnh tích cực tối đa (trong giáo dục thể chất thường gọi là sức mạnh tuyệt đối) của cơ chịu sự ảnh hưởng của hai nhóm yếu tố chính là: Các yếu tố trong cơ ở ngoại vi: Nhóm này gồm có: a. Điều kiện cơ học của sự co cơ, như cánh tay đòn của lực co cơ, góc tác động của lực co cơ với điểm bám trên xương; b. Chiều dài ban đầu của cơ; c. Độ dầy (tiết diện ngang) của cơ; d. Đặc điểm cấu tạo (cơ cấu) của các loại sợi cơ chứa trong cơ. Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợp giữa các sợi cơ và cơ. Điều kiện cơ học của sự co cơ và chiều dài ban đầu của cơ trước khi co đã được trình bày ở các chương trên. Đó là các yếu tố kỹ năng của hoạt động sức mạnh. Hoàn thiện kỹ thuật động tác chính là tạo ra điều kiện cơ học và chiều dài ban đầu tối ưu cho sự co cơ. Do sức mạnh của cơ phụ thuộc vào tiết diện ngang (độ dày), nên khi tiết diện ngang của cơ do tập luyện thể lực được gọi là phì đại cơ. Sợi cơ là một tế bào đặc biệt rất cao. Vì vậy sợi cơ có thể phân chia để tạo ra tế bào mới. Sự phì đại cơ xảy ra chủ yếu là do các sợi cơ có sẵn dầy lên (tăng thể tích). Khi sợi cơ đã dầy lên đến một mức độ nhất định, theo một số tác giả, chúng có thể tác dọc ra để tạo thành những sợi con có cùng một đầu gần chung với sợi cơ mẹ. Sự tách sợi cơ đó có thể gặp khi tập luyện sức mạnh nặng và lâu dài. Sự phì đại cơ xảy ra do số lượng và khối lượng các tơ cơ, tức là bộ máy co bóp của sợi cơ, đều tăng lên. Mật độ các tơ cơ trong sợi cơ vì vậy tăng lên đáng kể. Quá trình tổng hợp đạm trong sợi cơ tăng lên, trong khi sự phân hủy chúng lại giảm đi. Hàm lượng ẢN và AND trong cơ phì đại tăng cao hơn so với cơ bình thường. Hàm lượng creatin cao trong cơ khi hoạt động có khả năng kích thích sự tổng hợp actin và myozin và như vậy thúc đẩy sự phì đại cơ. Sự phì đại cơ còn chịu ảnh hưởng của các nội tiết tố sinh dục namandrogen sinh ra ở tuyến sinh dục nam và vỏ thượng thận. Sự phì đại cơ nêu trên được gọi là phì đại tơ cơ, khác với một loại phì đại cơ khác là phì đại cơ tương. Phì đại cơ tương là một loại phì đại cơ chủ yếu do tăng thể tích cơ tương, tức là bộ phận không co bóp của sợi cơ. Sự phì đại này phát sinh do hàm lượng các chất dự trữ năng lượng trong sợi cơ như glycogen, CP, myoglobin tăng lên, số lượng mao mạch tăng lên cũng làm phì glycogen, CP, myoglobin tăng lên, số lượng mao mạch tăng lên cũng làm phì đại cơ kiểu này. Phì đại cơ tương là phì đại cơ thường gặp trong tập luyện sức bền, nó ít ảnh hưởng đến sức mạnh của cơ. Đặc điểm cấu tạo các loại sowijcow chưa trong cơ là tỷ lệ các loại sợi chậm (nhóm I) và nhóm nhanh (nhóm II – A và II B) chưa trong cơ. Các sợi nhanh, nhất là sợi nhóm IIB, như đã trình bày các phần trên có khả năng phát lực lớn hơn các sợi chậm. Vì vậy cơ có tỷ lệ các sợi nhanh càng cao thì có sức mạnh càng lớn. Tập luyện sức mạnh, cũng như các hình thức tập luyện khác, không làm thay đổi được tỷ lệ các loại sợi trong cơ. Tuy nhiên, tập khác, không làm thay đổi được tỷ lệ các loại sợi trong cơ. Tuy nhiên, tập luyện sức mạnh, có thể làm tăng tỷ lệ sợi cơ nhanh gluco phân nhóm IIB, giảm tỷ lệ sợi cơ nhanh oxy hóa nhóm IIA và làm tăng sự phì đại của các sợi cơ nhanh. Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợp hoạt động giữa các cơ trước tiên là khả năng chức năng của noron thần kinh vận động, tức là mức độ phát xung động với tần số cao. Như đã biết, sức mạnh tối đa phụ thuộc vào số lượng đơn vị vận động tham gia vào hoạt động. Vì vậy phát lực lớn, hệ thần kinh cần phải gây hưng phấn ở rất nhiều noron vận động. Sự hưng phấn đó phải không quá lan rộng để không gây hưng phấn các cơ đối kháng, tức là phải tạo ra sự phối hợp tương ứng giữa các nhóm cơ, tạo điều kiện cho các cơ chủ yếu phát huy hết sức mạnh. Trong quá trình tập luyện sức mạnh, các yếu tố thần kinh trung ương được hoàn chỉnh dần, nhất là khả năng điều khiển sự phối hợp giữa các nhóm cơ của thần kinh trung ương. Các yếu tố này làm tăng cường sức mạnh tốc độ chủ động tối đa đáng kể. Trên cơ sở các yếu tố nêu trên, cơ sở sinh lý của phát triển sức mạnh tốc độ là tăng cường số lượng đơn vị vận động tham gia vào hoạt động, đặc biệt là các đơn vị vận động nhanh, chứa các sợi cơ nhóm II có khả năng phì đại cơ lớn. Để đạt được điều đó, trọng tải phải lớn để gây được hưng phấn mạnh đối với các đơn vị vận động nhanh có ngưỡng hưng phấn thấp. Trọng tải đó phải không nhỏ hơn 70% sức mạnh tích cực tối đa. Bảng 1.1. Phương pháp huấn luyện có sức mạnh của Pilo Phương thức Co duỗi hướng tâm tốc độ nhanh Phương pháp huấn luyện kiểu tháp nhọn Hình thức làm việc của cơ Co duỗi hướng tâm Co duỗi hướng tâm Sức mạnh phát huy Dùng sức bột phát Dùng sức bột phát Cường độ sử dụng % 3050 80, 85, 90, 95, 100, 95, 85 Số lần lặp lại 7 7, 5, 3, 2, 1 3, 7 Số tổ lặp lại 5 1, 2, 3, 4,5 ,6 ,7 Thời gian nghỉ giữa 35’ 35’ Bảng 1.2. Phương pháp huấn luyện phản ứng của Pilo Phương thức Nhảy liên tục một chân hoặc hai chân Bài tập nhảy Ngồi sâu Hình thức làm việc Cơ duỗi hướng tâm và ly tâm Cơ duỗi hướng tâm và ly tâm Cơ duỗi hướng tâm và ly tâm Sức mạnh phát huy Dùng sức bột phát Dùng sức bột phát Dùng sức bột phát Cường độ sử dụng % Không thêm trọng lượng phụ Không thêm trọng lượng phụ Không thêm trọng lượng phụ Số lần lặp lại 30 10 20 Số tổ lặp lại 3 3 35 Thời gian nghỉ giữa 5’ 5’ 10’ Sắp xếp và điều chỉnh cường độ và lượng vận động bài tập trong huấn luyện sức mạnh tốc độ. Xếp và điều chỉnh cường độ tập luyện. Cường độ vận động trong huấn luyện sức mạnh tốc độ, biên độ biến đổi rất lớn. Cường độ trọng lượng cơ thể đạt tới trên 75% trọng lượng tối đa mà VĐV có thể khắc phục được. Cấu trúc, động tác và trạng thái làm việc của cơ tương tự như động tác thi đấu và không có sự khác biệt rõ rệt với cường độ thi đấu. Xếp sắp và điều chỉnh khối lượng huấn luyện. Số lần lặp lại và số tổ tập luyện không được quá nhiều lấy việc tốc độ động tác tập luyện không giảm xuống thấp làm nguyên tắc, đồng thời số lượng luyện tập cần quan hệ chặt chẽ với trọng lượng sử dụng. Nếu trọng lượng lớn nồng độ sẽ lộn thì số lần lặp lại phải nhỏ, ngược lại phải nhiều hơn. Mỗi tổ tập luyện nói chung nên lặp lại 15 lần. Thời gian duy trì mỗi buổi tập không nên quá dài bởi vì loại bài tập sức mạnh có yêu cầu với tốc độ động tác và hưng phấn cao của hệ thần kinh trung ương. Do vậy, thời gian mỗi buổi tập chỉ nên kéo dài khoảng 1520’. Thời gian nghỉ giữa nói chung chung khoảng từ 13 phút. Tóm lại, trong huấn luyện sức mạnh tốc độ nói chung và huấn luyện sức mạnh tốc độ cho VĐV bóng đá nói riêng xu hướng chủ yếu hiện nay là: Sử dụng các bài tập có trọng lượng phụ với trọng lượng 4070% trọng lượng tối đa, số lần lặp lại ít, thời gian nghỉ giữa dài nhưng yêu cầu cường độ nhanh. Không sử dụng trọng lượng phụ như các bài tập tay không, bật nhảy, nằm sấp chống đẩy…với tốc độ nhanh. Đa dạng hóa các phương pháp huấn luyện sức mạnh, đồng thời chú trọng điều chỉnh lượng vận động hợp lý. Đó chính là những cơ sở để định hướng cho chúng tôi lựa chọn bài tập. 1.4.2. Huấn luyện sức mạnh tốc độ cho nam VĐV bóng đá lứa tuổi 1618. Quan điểm về sức mạnh tốc độ. Trong thực tế TDTT có nhiều quan điểm về tố chất sức mạnh tốc độ, nhưng hầu như các quan điểm đều cho rằng: Sức mạnh tốc độ của con người là khả năng khắc phục lực cản b
Xem thêm

73 Đọc thêm

ĐỀ TÀI ĐỔI MỚI NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CỦA TRƯỜNG TRUNG CẤP Y TẾ HÀ GIANG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO HƯỚNG DẪN VIÊN THỂ DỤC THỂ THAO CƠ SỞ BẢN LÀNG

ĐỀ TÀI ĐỔI MỚI NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CỦA TRƯỜNG TRUNG CẤP Y TẾ HÀ GIANG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO HƯỚNG DẪN VIÊN THỂ DỤC THỂ THAO CƠ SỞ BẢN LÀNG

Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng Đề tài Đổi mới nội dung chương trình môn học Giáo dục Thể chất của trường Trung cấp Y tế Hà Giang theo hướng đào tạo hướng dẫn viên thể dục thể thao cơ sở bản làng
Xem thêm

122 Đọc thêm

GIÁO ÁN THỂ DỤC LỚP 6 BÀI 1 : LỢI ÍCH CỦA VIỆC TẬP THỂ DỤC THỂ THAO

GIÁO ÁN THỂ DỤC LỚP 6 BÀI 1 : LỢI ÍCH CỦA VIỆC TẬP THỂ DỤC THỂ THAO

Giáo án thể dục lớp 6 Bài 1 : Lợi Ích Của Việc Tập Thể Dục Thể Thao Giáo án thể dục lớp 6 Bài 1 : Lợi Ích Của Việc Tập Thể Dục Thể Thao Giáo án thể dục lớp 6 Bài 1 : Lợi Ích Của Việc Tập Thể Dục Thể Thao Giáo án thể dục lớp 6 Tiết 2 Lý thuyết THể DụC 6 Bài Lợi ích tác dụng của TDTT (tiếp theo) biên chế tổ tập luyện chọn cán sự, một số quy định khi tập luyện A: Mục đích yêu cầu Nhằm trang bị cho HS một số hiểu biết đúng về TDTT để các em tích cực rèn luyện thân thể Biết được lợi ích của tác dụng TDTT đến cơ,xương,tuần hoàn,hô hấp và quá trình trao đổi chất Có thái độ, hành vi đúng trong ứng xử với bạn và tự giác, tích cực,kiên trì tập luyện TDTT trong các giờ học Thể dục,tự học ,tự tập hàng ngày B: Phương pháp giảng dạy Phân tích giảng giải, minh hoạ, dẫn chứng C: Chuẩn bị của giáo viên Giáo án, bài tập, câu hỏi tranh ảnh, băng hình. KIểm TRA bài củ: 1em hãy nêu mục tiêu ,nội dung chương trình của thể dục lớp 6 2Hãy nêu lợi ích của TDTT đối với con người Lợi ích tác dụng của TDTT Câu 1: Tập luyện TDTT có tác dụng nhưu thế nào đến cơ,xương 1Tác dụng đối với hệ cơ Nếu tập luyện TDTT thường xuyên ,đúng phương pháp khoa học sẽ làm cho cơ phát triển ,thể hiện ở sức nhanh,sức bền,độ đàn hồi và độ linh hoạt của cơ tăng lên 2Tác dụng đối với xương Nếu tập luyện TDTT thường xuyên làm cho xương tiếp thu máu được đấy đủ hơn ,các tế bào xương phát triễn nhanh và trẻ lâu ,xương dày lên cứng và dai hơn ,khả năng chống đỡ tăng lên Câu hỏi 2 ? Tập luyện TDTT có tác dụng như thế nào đến hệ tim và hệ mạch Tác dụng đến tim và hệ mạch Tập luyện TDTT sẽ làm cho tim khoẻ lên ,sự vận chuyển máu của hệ mạch đi nuôi cơ thể và thải các chất cặn bã ra ngoài được thực hiện nhanh hơn .Nhờ vậy khí huyết được lưu thông ,người tập ăn ngon ,ngũ tốt,học tốt có nghĩa là sức khoẻ dược tăng lên 2biên chế tổ tập luyện Mỗi lớp được chia thành 4 tổ,mỗi tổ tập hợp đứng thành một hàng riêng,mỗi tổ bầu một tổ trưởng và một tổ phó.Lớp bầu một lớp trưởng và một lớp phó.Lớp trưởng có nhiệm vụ điều khiển ,chỉ đạo lớp thực hiện theo các yêu cầu của giáo viên(lớp phó thay thế lớp trưởng khi vắng mặt).Các tổ trưởng(hoặc tổ phó)điều hành tổ mình khi giáo viên phân nhóm tập luyện 3một số quy định khi tập luyện Trong quá trình tập luyện TDTT yêu cầu HS có thái độ nghiêm túc tích cực tự giác tập luyện Trong giờ học thực hành trang phục quần áo phải gọn gàng,đi dày ba ta,đội mũ con Không được tự ý bỏ ra ngoài khi chưa được sự đồng ý của giáo viên Củng cố bài
Xem thêm

4 Đọc thêm

TÀI LIỆU ÔN TẬP THI TUYỂN CÔNG CHỨC Y TẾ NĂM 2014 (1)

TÀI LIỆU ÔN TẬP THI TUYỂN CÔNG CHỨC Y TẾ NĂM 2014 (1)

Bảo vệ sức khỏe nhân dân Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Để bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân; Căn cứ vào Điều 47, Điều 61 và Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Luật này quy định việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong bảo vệ sức khoẻ. 1 Công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống và được phục vụ về chuyên môn y tế. 2 Bảo vệ sức khoẻ là sự nghiệp của toàn dân. Tất cả công dân có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân để giữ gìn sức khoẻ cho mình và cho mọi người. Điều 2. Nguyên tắc chỉ đạo công tác bảo vệ sức khoẻ. 1 Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục vệ sinh trong nhân dân; tiến hành các biện pháp dự phòng, cải tạo và làm sạch môi trường sống; bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh lao động, vệ sinh lương thực, thực phẩm và nước uống theo quy định của Hội đồng bộ trưởng. 2 Mở rộng mạng lưới nhà nghỉ, nhà điều dưỡng, cơ sở tập luyện thể dục thể thao; kết hợp lao động, học tập với nghỉ ngơi và giải trí; phát triển thể dục thể thao quần chúng để duy trì và phục hồi khả năng lao động. 3 Hoàn thiện, nâng cao chất lượng và phát triển mạng lưới phòng, chống dịch, khám bệnh, chữa bệnh; kết hợp phát triển hệ thống y tế Nhà nước với y tế tập thể và y tế tư nhân. 4 Xây dựng nền y học Việt Nam kế thừa và phát triển nền y học, dược học cổ truyền dân tộc; kết hợp y học, dược học hiện đại với y học, dược học cổ truyền dân tộc, nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật của y học thế giới vào thực tiễn Việt Nam, xây dựng các mũi nhọn khoa học y học, dược học Việt Nam.
Xem thêm

77 Đọc thêm

GIÁO ÁN TÍCH HỢP LIÊN MÔN SINH HỌC 8 CHỦ ĐỀ “BẢO VỆ HỆ HÔ HẤP

GIÁO ÁN TÍCH HỢP LIÊN MÔN SINH HỌC 8 CHỦ ĐỀ “BẢO VỆ HỆ HÔ HẤP

Kể tên được một số vân động viên đạt được thành tích cao trong thể dụcthể thao….2- Kỹ năng:Rèn kỹ năng:+ Vận dụng kiến thức vào thực tế.+ Hoạt động nhóm.+ Làm thực hành.3- Thái độ:Giáo dục ý thức bảo vệ giữ gìn cơ quan hô hấp và ý thức bảo vệ môitrường.Thấy được mối quan hệ giữa các môn học, từ đó có ý thức học tập và yêuthích tất cả các môn học.II- Chuẩn bị:1. Đồ dùng sẵn có.Một số ảnh về ô nhiễm không khí và tác hại.Máy chiếu.Tranh ảnh về các vận động viên có thành tích cao trong thể dục thể thao.Bảng phụ.Thông tin tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường.Kiến thức của các môn: Địa, Giáo dục công dân, Tiếng anh… có liênquan đến bài dạy.2. Đồ dùng tự làm.Mô hình khung xương sườn khi kéo lên, hạ xuống.III- Đối tượng dạy học:Học sinh trường THCS Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.+ Số lớp: 2 lớp+ Số lượng học sinh: 56 em.+ Khối lớp: Khối 8: 8A. 8BIV- Phương pháp dạy học:
Xem thêm

13 Đọc thêm

BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐÁ BÓNG CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH GDTC – TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA

BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐÁ BÓNG CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH GDTC – TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA

1. Lý do chọn đề tài. Sức khỏe là vốn quý nhất của con người và sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, là mục tiêu của mỗi quốc gia cần đạt được, là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội. Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng…Vận động thể dục, thể thao là một biện pháp hiệu quả để tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà, đó chính là quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao Việt Nam: Chỉ thị số 106CTTW ngày 02 tháng 10 năm 1958 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về công tác thể dục thể thao và cũng là lời kêu gọi toàn dân tập thể dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những ngày đầu tiên xây dựng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “Dân cường thì nước thịnh”. Cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta vẫn không ngừng quan tâm, chỉ đạo ngành thể dục, thể thao nước nhà nỗ lực phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu quan trọng này. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2013 2020 đã chỉ ra mục tiêu chiến lược của giáo dục và đào tạo. Đồng thời xác định một trong 3 khâu đột phá chiến lược là “phát triển nhanh’’ nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới toàn diện nền giáo dục quốc dân, đề thực hiện các mục tiêu đó, văn kiện đã chỉ rõ các định hướng cho sự phát triển của giáo dục. Trong đó tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh : “Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hang đầu’’. Giáo dục thể chất là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục thể chất được hiểu là: “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người”. Giáo dục thể chất là một lĩnh vực thể dục thể thao (TDTT) xã hội với nhiệm vụ là: “Phát triển toàn diện các tố chất thể lực, và trên cơ sở đó phát triển các năng lực thể chất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khoẻ, hình thành theo hệ thống và tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỹ năng và kỹ xảo quan trọng cho cuộc sống”. Đồng thời chương trình giáo dục thể chất trong các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục đó là: “Trang bị kiến thức, kỹ năng và rèn luyện thể lực cho học sinh sinh viên”. Trước nhũng yêu cầu đổi mới toàn diện đó, để nâng cao chất lượng hiệu quả của giáo dục phải tiến hành đổi mới giáo dục theo hướng tiên tiến và hiện đại, một trong những hoạt động của quá trình đó chính là đổi mới nội dung kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo theo hướng tích cực hóa. Nội dung kiểm tra, đánh giá phải luôn bám sát vào chương trình học để đánh giá chính xác và có hiệu quả nhằm phát huy hết năng lực của người học. Sinh viên chuyên ngành GDTC là lực lượng lao động trí thức trong tương lai của đất nước họ có nhiệm vụ vô cùng quan trọng là chăm lo, giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ Việt Nam trong tương lai và là người trực tiếp thực hiện đề án: “Nâng cao tầm vóc và thể trạng người Việt Nam’’ của viện khoa học Thể Dục Thể Thao. Do đó, để góp phần phát triển nguồn nhân lực quan trọng của đất nước có trí tuệ cao, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức, đáp ứng được những đòi hỏi của nền kinh tế xã hội thì việc quan tâm chú trọng đến nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động học tập của sinh viên chuyên ngành là yêu cầu cần thiết và khách quan. Sinh viên chuyên ngành GDTC Trường Cao Đẳng Sơn La với đặc diểm chuyên ngành được trang bị đầy đủ về mọi mặt kiến thức và kĩ năng thực hành các môn thể thao như điền kinh, bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, các môn thể dục dụng cụ…Với nội dung thực hành tương đối đa dạng phong phú về hình thức tập luyện, giúp sinh viên phát triển hài hòa về mặt thể chất, các kiến thức về phương pháp giảng dạy và các tố chất thể thao cần thiết khác. Tuy nhiên trong công tác rèn luyện kỹ năng chất lượng tập luyện các môn chuyên ngành của sinh viên chuyên ngành GDTC Trường Cao Đẳng Sơn La còn một số những hạn chế, bất cập gây ảnh hưởng đến chất lượng tập luyện và chưa làm phát huy hết các năng lực thực hành của sinh viên. Biện pháp rèn luyện kỹ năng như một phương tiện để thông qua đó chúng ta có sự nhìn nhận đối chiếu những gì chúng ta được tiếp thu và lĩnh hội, là chứng cứ khách quan để kiểm nghiệm và già soát lại kết quả học tập hay việc tiếp thu kĩ năng kĩ xảo trong hoạt động vận đông. .Môn bóng đá trong chương trình đào tạo của khoa GDTC Trường Cao Đẳng Sơn La đã từng bước củng cố hoàn thiện và phát triển về chương trình, phương pháp giảng dạy, phương pháp tập luyện và điều kiện cơ sở vật chất, và đặc biệt là công tác kiểm tra đánh giá khách quan công bằng, thực hiện đúng quy chế về kiểm tra, đánh giá xếp loại sinh viên của đội ngũ giảng viên, huấn luyện viên khoa GDTC. Tuy nhiên, một thực tế được kể đến trong môn bóng đá của sinh viên còn một số bất cập hạn chế đó là sự đổi mới về nội dung, hình thức điều kiện tập luyện. với các môn thể thao khác cụ thể: Về nội dung tập luyện đều đa số có phần thi thể lực chuyên môn để đánh giá chính xác khách quan năng lực cần thiết cho môn thể thao đó. Do đó cần có một giải pháp khắc phục nâng cao biện pháp rèn luyện kỹ năng đá bóng cho sinh viên GDTC Trường Cao Đẳng Sơn La. Chính vì những lí do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài: Biện pháp rèn luyện kỹ năng đá bóng cho sinh viên chuyên ngành GDTC – Trường Cao Đẳng Sơn La
Xem thêm

116 Đọc thêm

GIẢI BÀI TẬP TRANG 73 SGK SINH LỚP 8 VỆ SINH HÔ HẤP

GIẢI BÀI TẬP TRANG 73 SGK SINH LỚP 8 VỆ SINH HÔ HẤP

Giải bài tập trang 73 SGK Sinh lớp 8: Vệ sinh hô hấpA. Tóm tắt lý thuyết:I- Cần bảo vệ hệ hô hấp khỏi các tác nhân có hạiCó rất nhiều tác nhân có thể gây hại cho cơ quan hô hấp và hoạt động hô hấp ở nhữngmức độ khác nhau (bảng 22).Các tác nhân gây hại đường hô hấpII. Cần tập luyện để có một hệ hô hấp khỏe mạnhNếu được luyện tập thể dục thể thao đúng cách (tập vận động cơ, xương, đồng thời vớitập thở thường xuyên đều đặn từ bé, hay được tập luyện trong độ tuổi cơ, xương còn pháttriển (và lượng khi cần là tối thiếu, nhờ vậy mà có được dung tích sống lí tưởng.Luyện tập để thở bình thường mỗi nhịp sâu hơn (lượng khi lưu thông lớn hơn) và giảm sốVnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phínhịp thở trong mỗi phút cũng có tác dụng làm tăng hiệu quả hô hấp, do tỉ lệ khi hữu ích(có trao đổi khi) tăng lên và tỉ lệ khí trong khoảng chết giảm đi.Hiệu quả trao đổi khi còn phụ thuộc hệ tuần hoàn. Nếu như dung tích sống lớn, sự thôngkhí ở phổi tốt mà tim không có khả năng bơm đủ số máu cần thiết tới phổi hay máukhông đủ số hồng cầu để tiếp nhận O2… thì cơ thể vẫn ở trong tình trạng thiếu O2 và ứđọng CO2.B. Hướng dẫn giải bài tập SGK trang 73 Sinh Học lớp 8Bài 1: (trang 73 SGK Sinh 8)Trồng nhiều cây xanh có ích lợi gì trong việc làm trong sạch bầu không khí quanh ta?Đáp án và hướng dẫn giải bài 1:Trồng nhiều cây xanh 2 bên đường phố, nơi công sở, trường học, bệnh viện và nơi ở cótác dụng điều hòa thành phần không khí (chủ yếu là O2, và CO2) có lợi cho hô hấp, hạnchế ô nhiễm không khí..Bài 2: (trang 73 SGK Sinh 8)
Xem thêm

3 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN HỌC : Volleyball

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN HỌC : VOLLEYBALL

Bộ môn: Giáo dục thể chất Trường Đại học KHXHNVĐHQG TP.HCM 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHI MINH TRƯỜNG ĐH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do Hạnh phúc ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN HỌC 1. Thông tin chung về môn học Tên môn học: + Tên tiếng Việt: Bóng chuyền + Tên tiếng Anh: Volleyball Mã môn học: TC102 + TC202 Môn học thuộc khối kiến thức: Đại cương  Chuyên nghiệp □ Cơ sở ngành □ Chuyên ngành □ Bắt buộc □ Tự chọn  Bắt buộc □ Tự chọn □ Bắt buộc □ Tự chọn □ 2. Số tín chỉ: 02 3. Trình độ: Sinh viên năm 1 4. Phân bố thời gian: 60 tiết Lý thuyết: 05 tiết Thực hành: 55 tiết 5. Điều kiện tiên quyết: Không có 6. Mô tả vắn tắt nội dung môn học PHẦN I: LÝ THUYẾT + Phương pháp rèn luyện các tố chất thể lực. + Phương pháp phòng ngừa chấn thương trong tập luyện thể dục thể thao (TDTT) + Giới thiệu môn học: Lịch sử phát triển môn Bóng chuyền. Mục đích, ý nghĩa, tác dụng và yêu cầu trong quá trình tập luyện môn Bóng chuyền. Một số điều luật thi đấu môn bóng chuyền PHẦN II: THỰC HÀNH + Giảng dạy các kỹ thuật bóng chuyền Kỹ thuật di chuyển Kỹ thuật chuyền bóng cao tay Kỹ thuật chuyền bóng thấp tay (đệm bóng) Kỹ thuật phát thấp tay trước mặt và phát bóng cao tay chính diện Các bài tập bổ trợ bóng chuyền + Các bài tập phát triển thể lực chuyên môn. + Hướng dẫn và tổ chức tập luyện các bài tập phát triển tố chất thể lực dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá thể lực học sinh, sinh viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo (bật xa tại chỗ (cm); nằm ngửa gập bụng 30 giây (lần); chạy 30m xuất phát cao (giây); chạy tùy sức 5 phút (m)). 7. Mục tiêu và kết quả dự kiến của môn học 7.1. Mục tiêu Bộ môn: Giáo dục thể chất Trường Đại học KHXHNVĐHQG TP.HCM 2 Trang bị những kiến thức cơ bản về phương pháp tập luyện và phòng ngừa chấn thương trong tập luyện TDTT. Trang bị những kiến thức và những kỹ thuật cơ bản môn bóng chuyền. Phát triển thể lực chung và thể lực chuyên môn cho sinh viên. Trang bị một số luật thi đấu môn bóng chuyền. 7.2. Kết quả dự kiến của môn học: Có khả năng ứng dụng các phương pháp tập luyện trong quá trình tự rèn luyện. Biết cách phòng tránh chấn thương trong quá trình tập luyện. Hiểu biết về lịch sử phát triển, mục đích, ý nghĩa, tác dụng và yêu cầu trong quá trình tập luyện môn Bóng chuyền. Hiểu biết về một số điều luật cơ bản trong thi đấu môn bóng chuyền. Thực hiện được các kỹ thuật cơ bản: Kỹ thuật di chuyển, kỹ thuật chuyền bóng cao tay, kỹ thuật đệm bóng, kỹ thuật phát thấp tay trước mặt và phát bóng cao tay chính diện, các bài tập bổ trợ bóng chuyền. Phát triển các tố chất thể lực mạnh, nhanh, bền, mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động. Góp phần bồi dưỡng ý chí, phẩm chất đạo đức và nâng cao sức khỏe cho sinh viên
Xem thêm

16 Đọc thêm

giáo án thể dục lớp 5

GIÁO ÁN THỂ DỤC LỚP 5

Tuần1 Tiết 1 TỔ CHỨC LỚP – ĐỘI HÌNH ĐỘI NGŨ TRÒ CHƠI “ KẾT BẠN” I – MỤC TIÊU: Biết được những nội dung cơ bản của chương trình v một số quy địmh, yêu cầu trong giờ học thể dục. Thực hiện được tập hợp hàng dọc, dóng hng, cch hng, bo co, cch xin php ra vo lớp. Biết cách chơi và tham gia được trị chơi. II – ĐỊA ĐIỂM, PHƯƠNG TIỆN: Địa điểm: Trên sân trường, vệ sinh sạch sẽ đảm bảo an toàn nơi tập luyện. Phương tiện: Chuẩn bị một cị, sn bi cho giờ học. III – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP LÊN LỚP: Nội dung Định lượng Phương pháp tổ chức 1 Phần mở đầu: Cán sự tập hợp lớp, báo cáo GV. GV nhận lớp phổ biến nội dung, yêu cầu bài học. Khởi động: Xoay các khớp cổ chân, cổ tay, đầu gối, hông,… Trò chơi ( GV chọn ) 2 Phần cơ bản: a Giới thiệu tóm tắt chương trình Thể dục lớp 5: GV giới thiệu tóm tắt chương trình, nhắc nhở tinh thần học tập và tính kỉ luật. b Phổ biến nội qui, yêu cầu tập luyện: Khi lên lớp giờ Thể dục, quần áo phải gọn gàng, giầy, dép, nón, mũ…( Không đi dép lê. Khi nghỉ tập phải xin phép thầy giáo. c Biên chế tổ tập luyện: GV chia tổ nam, nữ phải đồng đều nhau. Tổ trưởng phải là em có sức khoẻ, nhanh nhẹn, được cả tổ tín nhiệm bầu ra. d Chọn cá sự Thể dục lớp: GV dự kiến, nêu lên để HS cả lớp quyết định. Cán sự bộ môn phải có sức khoẻ, nhanh nhẹn, tháo vát,… e Ôn đội hình đội ngũ: Cách chào và báo cáo khi bắt đầu và kết thúc giờ học. Xin phép ra vào lớp,… g Trò chơi “ Kết bạn” GV nêu tên trò chơi, nhắc lại cách chơi, luật chơi cho HS nắm và hiểu trị chơi, cho HS chơi thử một hai lần rồi mới cho chơi chính thức. Cả lớp cùng tham gia chơi, sau mỗi lần chơi chính thức, GV có hình thức khen và phạt. 3 Phần kết thúc: Một số động tác thả lỏng cơ thể. GV cùng HS hệ thống bài học. GV nhận xét giờ học. Giao bài tập về nhà. 68 ph 12 ph 12 ph 34 ph 1822 ph 23 ph 23 ph 23 ph 23 ph 45 ph 45 ph 46 ph 12 ph 12 ph 12 ph Đội hình nhận lớp Đội hình tập luyện GV Đội hình chơi trò chơi Đội hìng kết thc
Xem thêm

142 Đọc thêm

SKKN: Rèn kĩ năng chạy ngắn cho HS tiểu học

SKKN: RÈN KĨ NĂNG CHẠY NGẮN CHO HS TIỂU HỌC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:“MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG CHẠY CỰ LY NGẮN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC”A. PHẦN MỞ ĐẦUI. Lí do chọn đề tài1. Cơ sở lí luậnGiáo dục thể chất là một trong những nội dung giáo dục quan trọng của nhà trường phổ thông các cấp , nhằm đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất ,phong phú về tinh thần và trong sáng về đạo đức theo tinh thần các Nghị quyết Trung Ương 4 – khóa VII và Trung Ương 2 khóa VIII về Giáo dục Đào tạo thể dục thể thao của Đảng và Nhà nước ta. Mục tiêu của giáo dục thể chất là phát triển toàn diện các tố chất thể lực, hình thể, nâng cao sức khỏe, phát triển các thành tích thể thao, đồng thời góp phần hình thành nhân cách cho học sinh. Mục tiêu chiến lược này thể hiện rõ những yêu cầu bức bách về sức khỏe và thể chất của người lao động mới phục vụ kinh tế xã hội và đặc biệt là trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nứớc.Học sinh luyện tập thể dục thể thao nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển năng khiếu vốn có của bản thân, đây là một tiềm năng rất quan trọng và cần thiết đối với các nước đang phát triển. Những quốc gia có nền thể dục thể thao phát triển mạnh đã khẳng định: “Những vận động viên đạt thành tích cao qua các kỳ thi đấu thể dục thể thao trong khu vực và quốc tế, đều là những tài năng trẻ được phát hiện và bồi dưỡng từ những trường trung học”.Bên cạnh đó, điền kinh được mệnh danh là môn thể thao “Nữ hoàng” không chỉ phong phú, đa dạng hấp dẫn, phù hợp mọi lứa tuổi, giới tính, mà còn là môn thi đấu chủ yếu (nội dung chạy bao gồm nhiều cự ly 60m, 100m, 200m, đều được đưa vào thi đấu) trong các kỳ Hội thao, Hội khỏe, Đại hội Thể dục thể thao ...Do vậy, việc phát triển các kỹ năng môn điền kinh nói chung, kỹ năng chạy cự ly ngắn cho học sinh nói riêng phải được chú trọng ngay từ những cấp học đầu tiên, đặt nền móng cho các em ở các cấp học tiếp theo.2. Cơ sở thực tiễn.
Xem thêm

14 Đọc thêm

Luận văn: Biện pháp nâng cao kết quả học tập môn giáo dục thể chất cho nữ sinh khối ngành tiểu học trường cao đẳng Tuyên Quang

LUẬN VĂN: BIỆN PHÁP NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO NỮ SINH KHỐI NGÀNH TIỂU HỌC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TUYÊN QUANG

Luận văn: Biện pháp nâng cao kết quả học tập môn giáo dục thể chất cho nữ sinh khối ngành tiểu học trường cao đẳng Tuyên Quang Giáo dục thể chất (GDTC) và hoạt động TDTT trong trường học ở các cấp là một mặt giáo dục quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, góp phần thực hiện mục tiêu: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài” để đáp ứng nhu cầu đổi mới sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã mở đường cho sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam. Trong Đại hội này “ nhân tố con người ” được Đảng ta xác định là quan trọng hàng đầu trong toàn bộ sự nghiệp đổi mới và có tính quyết định đến toàn bộ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta. Trong chiến lược phát triển con người thì học sinh, sinh viên luôn là đối tượng trung tâm.Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, Chỉ thị 36 CTTW ngày 2431994 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nêu rõ “Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học làm cho việc tập luyện thể dục thể thao trở thành một nếp sống hàng ngày của học sinh, sinh viên, thanh niên, chiến sĩ, các lực lượng vũ trang, cán bộ viên chức và một bộ phận nhân dân..” Rèn luyện thể chất là một yếu tố không thể thiếu ở bất kỳ một trường học nào từ bậc tiểu học đến bậc Đại học.Hệ thống GDTC trong các nhà trường là một bộ phận hữu cơ của hệ thống Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, GDTC được hiểu là: “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người”. GDTC cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà
Xem thêm

87 Đọc thêm

Quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất tại Trường Trung cấp Y tế tỉnh Hà Giang

Quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất tại Trường Trung cấp Y tế tỉnh Hà Giang

Trong quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp thể dục thể thao luôn gắn liền với sự vận dụng sáng tạo chủ trương, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hơn nửa thế kỷ qua, sự nghiệp TDTT nước ta không ngừng phát triển và góp phần đắc lực vào mục tiêu tăng cường sức khoẻ phục vụ công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Bởi vậy, ngay trong những năm xây dựng miền bắc XHCN, vấn đề Giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên đã được Đảng ta chính thức đưa vào Nghị quyết TW 8 khoá III năm 1961:“Bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường phổ thông, chuyên nghiệp và đại học”[20, tr.1]. Trong giai đoạn này, việc Giáo dục thể chất và vệ sinh học đường được gắn kết với phong trào hai tốt: “Học tốt, dạy tốt”, phong trào thể dục thể thao và vệ sinh trong các trường học phát triển mạnh mẽ. Chỉ thị số: 36- CT/TW ngày 24 tháng 3 năm 1994 của Ban bí thư Trung ương Đảng đã nêu rõ “Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác TDTT là hình thành nền TDTT phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hoá, tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt vị trí xứng đáng trong các hoạt động thể thao quốc tế trước hết là khu vực Đông Nam Á. Trước mắt là phải thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học là làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của học sinh, sinh viên”.[13, tr.2] Như đã đề cập trên, quan điểm, đường lối phát triển TDTT của Đảng và Nhà nước ta luôn luôn nhất quán nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất, bồi dưỡng nhân cách đạo đức và xây dựng đời sống văn hoá cho nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tất cả các nghị quyết và chỉ thị của Đảng khi đề cập đến TDTT bao giờ cũng nhấn mạnh vấn đề Giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên với yêu cầu ngày càng cao và phát triển thể chất góp phần đào tạo toàn diện cho đội ngũ cán bộ khoa học trong tương lai. Ngày nay, Giáo dục thể chất đã trở thành một môn học bắt buộc trong hệ thống trường học các cấp. Môn Giáo dục thể chất có một vị trí và ý nghĩa quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ trí thức vừa có sức khỏe, đáp ứng được những yêu cầu xã hội ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ vai trò tác dụng của Giáo dục thể chất cùng như đã xác định rõ cần phát huy Giáo dục thể chất ngay từ trong nhà trường. Chăm lo giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên luôn là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của Trường Trung cấp Y tế Hà Giang trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh Hà Giang. Trong những năm qua, công tác giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường luôn được Đảng ủy, ban giám hiệu quan tâm, đầu tư và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác quản lý hoạt động dạy học tại Trường Trung cấp Y tế tỉnh Hà Giang hiện nay còn có một số bất cập, chưa mang tính đồng bộ vẫn gặp nhiều khó khăn, từ đó đặt ra những thách thức lớn, đòi hỏi trường phải giải quyết để đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục, trong đó có giáo dục thể chất, phát triển thể lực học sinh, sinh viên phù hợp với tình hình mới. Công tác giáo dục thể chất còn những hạn chế vì nhiều nguyên nhân, như các vấn đề về nội dung chương trình, kế hoạch dạy học, phương pháp dạy học, cơ sở vật chất, công tác kiểm tra đánh giá và các hình thức giáo dục, phân loại sức khỏe thể lực cho học sinh, sinh viên, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường. Với các lý do trên, cần thiết phải có một nghiên cứu đầy đủ hơn để đánh giá được thực trạng dạy học môn Giáo dục thể chất, từ đó đề xuất các biện pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý hoạt động dạy học nói chung, dạy học môn Giáo dục thể chất nói riêng tại Trường Trung cấp Y tế tỉnh Hà Giang góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất tại Trường Trung cấp Y tế tỉnh Hà Giang”.
Xem thêm

Đọc thêm

TIỂU LUẬN THỂ DỤC LỢI ÍCH CỦA VIỆC HỌC MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT

TIỂU LUẬN THỂ DỤC LỢI ÍCH CỦA VIỆC HỌC MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 3 KIẾN THỨC CƠ BẢN 4 I. Khái niệm về văn hoá 4 II.Nguồn gốc của TDTT 5 KIẾN THỨC VẬN DỤNG 8 I. Khái niệm nguyên tắc toàn diện: 8 II. Áp dụng nguyên tắc toàn diện thể dục vào thể dục thể thao: 9 II.1 Lượng vận động: 9 II.2 Giáo dục thái độ tự giác và hứng thú với môn học: 9 Kết nối những nhiệm vụ, yêu cầu hoạt động với thỏa mã nhu cầu cá nhân trong hoạt động 9 II.3 Kích thích tư duy, tính tự lập và thái độ sáng tạo của người tập: 9 Tôn trọng đặc điểm cá nhân trong tập luyện và trong việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo nếu những đặ điểm đó không ảnh hưởng đến tập thể cũng như nguyên lý của động tác. 10 II.4 Kiên trì thường xuyên tập luyện: 10 II.5 Kế hoạch hợp lý, tuần tự nâng dần: 11 II.6 Tính liên tục và sự luân phiên hợp lý giữa tập luyện và nghỉ ngơi: 11 III. Ảnh hưởng của việc áp dụng nguyên tắc toàn diện vào bài tập thể dục thể thao: 11 Kết luận 13   PHẦN MỞ ĐẦU Trong cuộc sống này, không có gì quan trọng cho bạn bằng chính con người bạn, một thân thể không bệnh tật, một tâm hồn không loạn đó là chân hạnh phúc của con người. Có câu nói: “Người có sức khỏe có một trăm ước muốn, người không có sức khỏe chỉ có 1 ước muốn duy nhất: đó là sức khỏe”. Quả đúng như vậy, bệnh tật không trừ một ai bất kể bạn là người giàu hay người nghèo, người có địa vị cao hay thấp. Nếu bạn may mắn được sở hữu một sức khỏe tốt thì đồng nghĩa với việc bạn đang cận kề với thành công về mọi lĩnh vực. Ngày nay, do nhận thức xã hội về ảnh hưởng của môi trường, tình trạng bệnh tật… mà thái độ của mọi người với sức khỏe đã được thay đổi. Không phải chỉ có người già, người đau yếu mới coi trọng giá trị của sức khỏe, mà những người trẻ, đang mạnh khỏe cũng đã nhận thức đúng về giá trị của sức khỏe. Mọi người tham gia rèn luyện thể dục thể thao hàng ngày và dần dần trở thành thói quen. Đặc biệt hơn nữa giáo dục thể chất là một bộ môn bắt buộc trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Giáo dục và phát triển giáo dục trong Nhà trường có ý nghĩa to lớn trong việc phát huy và bồi dưỡng nhân tố con người. Đồng thời góp phần nâng cao thể lực giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa và phát huy tinh thần dân tộc của con người Việt Nam. Để đạt được mục đích cuối cùng tốt đẹp nhất của việc luyện tập thể dục, thể thao không những cần rèn luyện tích cực thường xuyên mà còn phải áp dụng nguyên tắc toàn diện vào hệ thống trong một buổi tập thể dục thể thao của mình. Mục tiêu của bài luận này là nhằm trình bày nguyên tắc toàn diện trong môn giáo dục thể chất để áp dụng lý thuyết vào trong thực hành của mỗi buổi học.
Xem thêm

13 Đọc thêm

Biện pháp nâng cao chất lượng câu lạc bộ bóng đá trường Tiểu học số 1 Ân Đức.

BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÂU LẠC BỘ BÓNG ĐÁ TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 ÂN ĐỨC.

Môn bóng đá không có trong chương trình giảng dạy thể dục của trường tiểu học. Giáo viên dạy thể dục của các trường tiểu học, có thể được đào tạo chuyên sâu các môn thể thao khác, nhiều giáo viên thể dục không phải chuyên sâu môn bóng đá. Cho nên khi tập luyện, huấn luyện bóng đá cho học sinh, tham gia các giải do Phòng GDĐT tổ chức, thì gặp nhiều khó khăn, bộc lộ những hạn chế về kỹ, chiến thuật. Dẫn đến chất lượng và thành tích của các trận đấu không cao. Xuất phát từ vấn đề trên, tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm và cụ thể hóa bằng đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng câu lạc bộ bóng đá trường Tiểu học số 1 Ân Đức”. Giải pháp mới của đề tài giúp cho câu lạc bộ bóng đá của trường hoạt động có hiệu quả. Học sinh tham gia câu lạc bộ bóng đá nắm vững kiến thức về luật bóng đá, các kỹ thuật, chiến thuật cơ bản của cá nhân và đồng đội trong bóng đá mi ni. Tạo điều kiện thuận lợi để cầu thủ, phát triển các kỹ, chiến thuật thành kỹ năng, kỹ xảo bản thân. Tham gia thi đấu các giải và đạt hiệu quả cao. Đề tài còn có ý nghĩa tích cực hơn, giúp cầu thủ hiểu rõ cái hay, cái đẹp của môn bóng đá. Đề tài, sẽ giúp cho học sinh tham gia câu lạc bộ, phát triển các kỹ thuật cá nhân thành kỹ năng kỹ xảo cá nhân. Nâng cao khả năng phối hợp đồng đội về tấn công và phòng thủ. Biết áp dụng kỹ, chiến thuật trong thi đấu một cách nhuần nhuyễn, cống hiến cho khán giả những trận đấu hay, những pha bóng đẹp. Tạo tiền đề, nâng cao về chất và lượng câu lạc bộ bóng đá của trường, góp phần không nhỏ, trong giáo dục toàn diện học sinh.
Xem thêm

48 Đọc thêm

Thể dục 11 HK1, mẫu 2015-2016

THỂ DỤC 11 HK1, MẪU 2015-2016

GIÁO ÁN THỂ DỤC 11Ngày soạn 20 tháng 08 năm 201 Tiết số 1 (PPCT)Người soạn: THỂ DỤC NHỊP ĐIỆU (NỮ) THỂ DỤC PHÁT TRIỂN CHUNG (NAM) GIỚI THIỆU MỤC TIÊU, NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH THỂ DỤC LỚP 11 I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức. Học: - Mục tiêu nội dung chương trình thể dục lớp 11. - Động tác 1 - 2 (bài TDNĐ nữ). - Động tác 1 - 6 (bài TD nam). 2. Kỹ năng. - Nắm vững mục tiêu nội dung chương trình môn Thể dục lớp 11. - Nắm được 2 động tác, từ động tác 1 - 2 và bước đầu thực hiện được động tác (bài TDNĐ Nữ). - Thực hiện cơ bản đúng động tác 1 - 6 (bài thể dục phát triển chung Nam) 3. Thái độ. - Học sinh nghiêm túc học tập, tự giác, tích cực tập luyện, thực hiện đúng nội dung yêu cầu của bài học, theo sự chỉ dẫn của Giáo Viên, hỗ trợ bạn để cùng hoàn thành nhiệm vụ vận động. PH ƯƠNG PHÁP GIẢNG DẬY: -PP giảng dậy:Sử dụng PP dung lời nói: giảng giải, phân tích, mệnh lệnh…, PP trực quan, phân chia động tác, lặp lại, sửa sai... -PP tổ chức: Đồng loạt, phân nhóm, dòng chảy, lặp lại... ĐỊA ĐIỂM- PHƯƠNG TIỆN: - Tại sân trường - Chuẩn bị cả GV: Giáo án, SGK, còi, thục luyện KT động tác… - Chuẩn bị của HS: Trang phục thể thao, dụng cụ tập luyện…. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP: Nội dungĐLHoạt động của GVHoạt động của HS I/ Phần mở dầu: 1/ Ổn định tổ chức lớp. 2/ Khởi động : - Khởi động chung: Xoay các khớp, ép dọc, ép ngang, gặp duỗi,… - Chuyên môn: Chạy bước nhỏ, nâng cao đùi, đạp sau … - Kiểm tra: 6-8 p 1P 2l - 8n 2 p 2 lần 5 P - Giáo viên nhận lớp, kiểm tra, hỏi thăm sức khoẻ của HS. - Phổ biến nội dung, yêu cầu giờ học. - GV quan sát nhắc nhở, sửa sai -GV gọi HS lên thực hiện - CS lớp tập hợp, điểm số, báo cáo -Cán sự lớp tổ chức cho khởi động. ĐH giãn cách, so le Đội hình khởi động -HS lên thực hiện theo yêu cầu của GV II. PHẦN CƠ BẢN 1. Thể dục nhịp điệu: a. Mục tiêu: Giúp HS phát triển toàn diện: đức, trí, thể, mỹ và kỹ năng cơ bản hình thành nhân cách b. Nội dung chương trình TD11 - LT chung; TD: TDPT chung + TD NĐ (nữ). Chạy tiếp sức, chạy bền, nhảy xa kiểu “ưỡn thân”, Nhảy cao kiểu “nằm nghiêng”. Đá cầu, cầu lông, TT tự chọn. c. Bài TD phát triển chung: - Nam học động tác 1 đến 6. - Nữ: Học động tác 1 -2 2. Gới thiệu mục tiêu chương trình TD HK 1 3. Củng cố : 28-30 ph 2 phút -GV hướng dẫn động tác (khi học mới và sửa sai) theo các bước sau: + GV Làm nhanh 1 lần +GV vừa thị phạm vừa phân tích động tác cho HS nắm và hiểu được. - Sau đó, GV tổ chức hướng dẫn tập luyện. -GV có thể tổ chức tập đồng loạt, dòng chảy, chia nhóm quay vòng… , giao cho Cán sự lớp phụ trách các nhóm tập luyện (khi chia nhóm). -Thường xuyên đôn đốc,nhắc nhở HS luyện tập tự giác, tích cực và quan sát sửa sai cho HS. -GV gọi 2 HS lên thực hiện lại KT - GV chỉ ra nhưng sai lầm thường mắc và cách sửa - GV nhận xét chung €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ - Đội hình 2 nhóm tập cán sư điều khiển. (Nam) (Nữ)       - Đội hình củng cố bài       III/ Phần kết thúc: 1/ Thả lỏng 2/ Nhận xét : 3/ Dặn dò : - Giao bài tập về nhà cho HS. - Lớp giải tán. 5-7p 2p 2p 1p - GV cho học sinh thả lỏng cơ bắp, hít thở sâu…GV quan sát, nhắc nhở. - GV nhận xét ưu , khuyết điểm trong giờ học. - Dặn dò và giao bài tập về nhà €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ IV/ PHẦN RÚT KINH NGHIỆM: GIÁO ÁN THỂ DỤC 11Ngày soạn 20 tháng 08 năm 201 Tiết số 2 (PPCT)Người soạn: CHẠY TIẾP SỨC THỂ DỤC NHỊP ĐIỆU (NỮ) THỂ DỤC PHÁT TRIỂN CHUNG (NAM) I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức - Chạy tiếp sức: Học: Cách trao - nhận tín gậy trong Chạy tiếp sức. -Bài TD: + Ôn: - Động tác 1 - 2 (bài TDNĐ nữ); - Động tác 1 - 6 (bài TD nam). + Học: Động tác 3 (bài TDNĐ nữ); Động tác 7 - 15 (bài TD nam). 2. Kỹ năng. - Nắm vững mục tiêu nội dung chương trình môn Thể dục lớp 11. - Học: Cách trao - nhận tín gậy, trong Chạy tiếp sức. - Thực hiện cơ bản đúng động tác 1 - 3 (bài TDNĐ nữ); 1 - 15 (bài thể dục phát triển chung Nam) 3. Thái độ. - Học sinh nghiêm túc học tập, tự giác, tích cực tập luyện, thực hiện đúng nội dung yêu cầu của bài học, theo sự chỉ dẫn của Giáo viên, hỗ trợ bạn để cùng hoàn thành nhiệm vụ vận động. PH ƯƠNG PHÁP GIẢNG DẬY: -PP giảng dậy:Sử dụng PP dung lời nói: giảng giải, phân tích, mệnh lệnh…, PP trực quan, phân chia động tác, lặp lại, sửa sai... -PP tổ chức: Đồng loạt, phân nhóm, dòng chảy, lặp lại... ĐỊA ĐIỂM- PHƯƠNG TIỆN: - Tại sân trường - Chuẩn bị cả GV: Giáo án, SGK, còi, thục luyện KT động tác… - Chuẩn bị của HS: Trang phục thể thao, dụng cụ tập luyện…. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP: Nội dungĐLHoạt động của GVHoạt động của HS I/ Phần mở dầu: 1/ Ổn định tổ chức lớp. 2/ Khởi động : - Khởi động chung: Xoay các khớp, ép dọc, ép ngang, gặp duỗi,… - Chuyên môn: Chạy bước nhỏ, nâng cao đùi, đạp sau … - Kiểm tra bài cũ6-8 p 1P 2l - 8n 2 p 2 lần 5 P - Giáo viên nhận lớp, kiểm tra, hỏi thăm sức khoẻ của HS. - Phổ biến nội dung, yêu cầu giờ học. - GV quan sát nhắc nhở, sửa sai -GV gọi HS lên thực hiện - Tập hợp, điểm số, báo cáo - CS lớp tập hợp, điểm số, báo cáo -Cán sự lớp tổ chức cho khởi động. ĐH giãn cách, so le Đội hình khởi động -HS lên thực hiện theo yêu cầu của GV II. PHẦN CƠ BẢN. 1. Bài thể dục nhịp điệu: - Bài TD (nam) + Ôn động tác 1 – 6. + Học động tác 7 – 15. - Bài TDNĐ (nữ) động tác 1 – 2. + Học động tác 3 2. Chạy tiếp sức. - Cách trao tín gậy: có 2 cách: + Trao từ dưới lên. + Trao từ trên xuống. - Luyện tập cách trao tín gậy từ dưới lên. - GV hô cho cả lớp ôn động tác bổ trợ. 3. Củng cố : 28-30 ph 15 p 13 p 2 phút -GV hướng dẫn động tác (khi học mới và sửa sai) theo các bước sau: + GV Làm nhanh 1 lần +GV vừa thị phạm vừa phân tích động tác cho HS nắm và hiểu được. - Sau đó, GV tổ chức hướng dẫn tập luyện. -GV có thể tổ chức tập đồng loạt, dòng chảy, chia nhóm quay vòng… , giao cho Cán sự lớp phụ trách các nhóm tập luyện (khi chia nhóm). -Thường xuyên đôn đốc,nhắc nhở HS luyện tập tự giác, tích cực và quan sát sửa sai cho HS. -GV gọi 2 HS lên thực hiện lại KT - GV chỉ ra nhưng sai lầm thường mắc và cách sửa - GV nhận xét chung €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ - Đội hình 2 nhóm tập cán sư điều khiển. (Nam) (Nữ)       - Thực hiện xong quay về cuối hàng đứng   -----------------> --   -----------------> --   -----------------> --   ----------------> --  Xp 60m  đích - Đội hình củng cố bài       III/ Phần kết thúc: 1/ Thả lỏng 2/ Nhận xét : 3/ Dặn dò : - Giao bài tập về nhà cho HS. - Lớp giải tán. 5-7p 2p 2p 1p - GV cho học sinh thả lỏng cơ bắp, hít thở sâu…GV quan sát, nhắc nhở. - GV nhận xét ưu , khuyết điểm trong giờ học. - Dặn dò và giao bài tập về nhà €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ IV/ PHẦN RÚT KINH NGHIỆM: …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….. GIÁO ÁN THỂ DỤC 11Ngày soạn 30 tháng 08 năm 201 Tiết số 3(PPCT)Người soạn: CHẠY TIẾP SỨC - BÀI THỂ DỤC. I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức. + Chạy Tiếp Sức: + Học: - Bài tập 1 và 2, một số động tác bổ trợ (do GV chọn). + Bài thể dục: + Ôn: - Động tác1 - 3 (nữ); Động tác 1 - 15 (nam) 2. Kỹ năng. - Nắm vững mục tiêu nội dung chương trình môn Thể dục lớp 11. - Học: - Bài tập 1 và 2, một số động tác bổ trợ (do GV chọn). - Thực hiện cơ bản đúng động tác 1 - 3 (bài TDNĐ nữ); 1 - 15 (bài thể dục phát triển chung Nam) 3. Thái độ. - Học sinh nghiêm túc học tập, tự giác, tích cực tập luyện, thực hiện đúng nội dung yêu cầu của bài học, theo sự chỉ dẫn của Giáo viên, hỗ trợ bạn để cùng hoàn thành nhiệm vụ vận động. PH ƯƠNG PHÁP GIẢNG DẬY: -PP giảng dậy:Sử dụng PP dung lời nói: giảng giải, phân tích, mệnh lệnh…, PP trực quan, phân chia động tác, lặp lại, sửa sai... -PP tổ chức: Đồng loạt, phân nhóm, dòng chảy, lặp lại... ĐỊA ĐIỂM- PHƯƠNG TIỆN: - Tại sân trường - Chuẩn bị cả GV: Giáo án, SGK, còi, thục luyện KT động tác… - Chuẩn bị của HS: Trang phục thể thao, dụng cụ tập luyện…. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP: Nội dungĐLHoạt động của GVHoạt động của HS I/ Phần mở dầu: 1/ Ổn định tổ chức lớp. 2/ Khởi động : - Khởi động chung: Xoay các khớp, ép dọc, ép ngang, gặp duỗi,… - Chuyên môn: Chạy bước nhỏ, nâng cao đùi, đạp sau … - Kiểm tra bài cũ6-8 p 1P 2l - 8n 2 p 2 lần 5 P - Giáo viên nhận lớp, kiểm tra, hỏi thăm sức khoẻ của HS. - Phổ biến nội dung, yêu cầu giờ học. - GV quan sát nhắc nhở, sửa sai -GV gọi HS lên thực hiện - CS lớp tập hợp, điểm số, báo cáo -Cán sự lớp tổ chức cho khởi động. ĐH giãn cách, so le Đội hình khởi động -HS lên thực hiện theo yêu cầu của GV II. Phần cơ bản. 1. Chạy Tiếp Sức : + Học: - Bài tập 1 và 2, một số động tác bổ trợ (do GV chọn). - Luyện tập cách trao nhận tín gậy: tại chỗ trao nhận gậy, thực hiện theo 1 trong 2 cách: + Cách 1: trao từ dưới lên. + Cách 2: trao từ trên xuống. 2. Bài thể dục + Ôn: - Động tác1 - 3 (nữ). - Động tác 1 - 15 (nam). 3. Củng cố : 28-30 ph 15 p 13 p 2 phút -GV hướng dẫn động tác (khi học mới và sửa sai) theo các bước sau: + GV Làm nhanh 1 lần +GV vừa thị phạm vừa phân tích động tác cho HS nắm và hiểu được. - Sau đó, GV tổ chức hướng dẫn tập luyện. -GV có thể tổ chức tập đồng loạt, dòng chảy, chia nhóm quay vòng… , giao cho Cán sự lớp phụ trách các nhóm tập luyện (khi chia nhóm). -Thường xuyên đôn đốc,nhắc nhở HS luyện tập tự giác, tích cực và quan sát sửa sai cho HS. -GV gọi 2 HS lên thực hiện lại KT - GV chỉ ra nhưng sai lầm thường mắc và cách sửa - GV nhận xét chung - Thực hiện xong quay về cuối hàng đứng   -----------------> --   -----------------> --   -----------------> --   ----------------> --  Xp 60m  đích €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ - Đội hình 2 nhóm tập cán sư điều khiển. (Nam) (Nữ)       - Đội hình củng cố bài       III/ Phần kết thúc: 1/ Thả lỏng 2/ Nhận xét : 3/ Dặn dò : - Giao bài tập về nhà cho HS. - Lớp giải tán. 5-7p 2p 2p 1p - GV cho học sinh thả lỏng cơ bắp, hít thở sâu…GV quan sát, nhắc nhở. - GV nhận xét ưu , khuyết điểm trong giờ học. - Dặn dò và giao bài tập về nhà €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ IV/ PHẦN RÚT KINH NGHIỆM: ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… GIÁO ÁN THỂ DỤC 11Ngày soạn 30 tháng 08 năm 201 Tiết số 4(PPCT)Người soạn: CHẠY TIẾP SỨC - BÀI THỂ DỤC I. MỤC TIÊU : 1. Kiến thức. + Chạy Tiếp Sức: - Ôn: - Bài tập 1 và 2; Một số động tác bổ trợ (do GV chọn) + Bài thể dục: - Ôn: - Động tác1 - 3 (nữ); Động tác 1 - 15 (nam). - Học: - Động tác 4 (nữ); Động tác 16 - 20 (nam) 2. Kỹ năng. - Nắm vững mục tiêu nội dung chương trình môn Thể dục lớp 11. - Ôn: - Bài tập 1 và 2; Một số động tác bổ trợ (do GV chọn) - Thực hiện cơ bản đúng động tác 1 - 4 (bài TDNĐ nữ); 1 - 20 (bài thể dục phát triển chung Nam) 3. Thái độ. - Học sinh nghiêm túc học tập, tự giác, tích cực tập luyện, thực hiện đúng nội dung yêu cầu của bài học, theo sự chỉ dẫn của Giáo viên, hỗ trợ bạn để cùng hoàn thành nhiệm vụ vận động. PH ƯƠNG PHÁP GIẢNG DẬY: -PP giảng dậy:Sử dụng PP dung lời nói: giảng giải, phân tích, mệnh lệnh…, PP trực quan, phân chia động tác, lặp lại, sửa sai... -PP tổ chức: Đồng loạt, phân nhóm, dòng chảy, lặp lại... ĐỊA ĐIỂM- PHƯƠNG TIỆN: - Tại sân trường - Chuẩn bị cả GV: Giáo án, SGK, còi, thục luyện KT động tác… - Chuẩn bị của HS: Trang phục thể thao, dụng cụ tập luyện…. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP: Nội dungĐLHoạt động của GVHoạt động của HS I/ Phần mở dầu: 1/ Ổn định tổ chức lớp. 2/ Khởi động : - Khởi động chung: Xoay các khớp, ép dọc, ép ngang, gặp duỗi,… - Chuyên môn: Chạy bước nhỏ, nâng cao đùi, đạp sau … - Kiểm tra bài cũ6-8 p 1P 2l - 8n 2 p 2 lần 5 P - Giáo viên nhận lớp, kiểm tra, hỏi thăm sức khoẻ của HS. - Phổ biến nội dung, yêu cầu giờ học. - GV quan sát nhắc nhở, sửa sai -GV gọi HS lên thực hiện- CS lớp tập hợp, điểm số, báo cáo -Cán sự lớp tổ chức cho khởi động. ĐH giãn cách, so le Đội hình khởi động -HS lên thực hiện theo yêu cầu của GV II. Phần cơ bản. 1. Chạy Tiếp Sức : - Ôn : - Bài tập 1 và 2 ; Một số động tác bổ trợ (do GV chọn) - Luyện tập cách trao nhận tín gậy: tại chỗ trao nhận gậy, thực hiện theo 1 trong 2 cách: + Cách 1: trao từ dưới lên. + Cách 2: trao từ trên xuống. + Bài thể dục : - Ôn: - Động tác1 - 3 (nữ); Động tác 1 - 15 (nam). * Học : - Động tác 4 (nữ) - Động tác 16 - 20 (nam) 3. Củng cố : 28-30 ph 15 p 13 p 2 phút -GV hướng dẫn động tác (khi học mới và sửa sai) theo các bước sau: + GV Làm nhanh 1 lần +GV vừa thị phạm vừa phân tích động tác cho HS nắm và hiểu được. - Sau đó, GV tổ chức hướng dẫn tập luyện. -GV có thể tổ chức tập đồng loạt, dòng chảy, chia nhóm quay vòng… , giao cho Cán sự lớp phụ trách các nhóm tập luyện (khi chia nhóm). -Thường xuyên đôn đốc,nhắc nhở HS luyện tập tự giác, tích cực và quan sát sửa sai cho HS. -GV gọi 2 HS lên thực hiện lại KT - GV chỉ ra nhưng sai lầm thường mắc và cách sửa - GV nhận xét chung - Thực hiện xong quay về cuối hàng đứng   -----------------> --   -----------------> --   -----------------> --   ----------------> --  Xp 60m  đích €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ - Đội hình 2 nhóm tập cán sư điều khiển. (Nam) (Nữ)       - Đội hình củng cố bài       III/ Phần kết thúc: 1/ Thả lỏng 2/ Nhận xét : 3/ Dặn dò : - Giao bài tập về nhà cho HS. - Lớp giải tán. 5-7p 2p 2p 1p - GV cho học sinh thả lỏng cơ bắp, hít thở sâu…GV quan sát, nhắc nhở. - GV nhận xét ưu , khuyết điểm trong giờ học. - Dặn dò và giao bài tập về nhà €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ IV/ PHẦN RÚT KINH NGHIỆM: …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… GIÁO ÁN THỂ DỤC 11Ngày soạn 6 tháng 09 năm 201 Tiết số 5(PPCT)Người soạn: CHẠY TIẾP SỨC - BÀI THỂ DỤC I. MỤC TIÊU : 1. Kiến thức. + Chạy tiếp sức: - Học: - Xuất phát của người số 1, (bài tập 3 và 4); Xuất phát của người nhận tín gậy số 2, 3, 4. + Bài thể dục: - Ôn: - Động tác 1 - 4 (nữ); Động tác 1 - 20 (nam) 2. Kỹ năng. - Nắm vững mục tiêu nội dung chương trình môn Thể dục lớp 11. - Học: - Xuất phát của người số 1, (bài tập 3 và 4); Xuất phát của người nhận tín gậy số 2, 3, 4. - Thực hiện cơ bản đúng động tác 1 - 4 (bài TDNĐ nữ); 1 - 20 (bài thể dục phát triển chung Nam) 3. Thái độ. - Học sinh nghiêm túc học tập, tự giác, tích cực tập luyện, thực hiện đúng nội dung yêu cầu của bài học, theo sự chỉ dẫn của Giáo Viên, hỗ trợ bạn để cùng hoàn thành nhiệm vụ vận động. PH ƯƠNG PHÁP GIẢNG DẬY: -PP giảng dậy:Sử dụng PP dung lời nói: giảng giải, phân tích, mệnh lệnh…, PP trực quan, phân chia động tác, lặp lại, sửa sai... -PP tổ chức: Đồng loạt, phân nhóm, dòng chảy, lặp lại... ĐỊA ĐIỂM- PHƯƠNG TIỆN: - Tại sân trường - Chuẩn bị cả GV: Giáo án, SGK, còi, thục luyện KT động tác… - Chuẩn bị của HS: Trang phục thể thao, dụng cụ tập luyện…. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP: Nội dungĐLHoạt động của GVHoạt động của HS I/ Phần mở dầu: 1/ Ổn định tổ chức lớp. 2/ Khởi động : - Khởi động chung: Xoay các khớp, ép dọc, ép ngang, gặp duỗi,… - Chuyên môn: Chạy bước nhỏ, nâng cao đùi, đạp sau … * Kiểm tra bài cũ: Hãy nêu ưu nhược điểm của hai kĩ thuật trao nhận tín gậy ? 6-8 p 1P 2l - 8n 2 p 2 lần 5 P - Giáo viên nhận lớp, kiểm tra, hỏi thăm sức khoẻ của HS. - Phổ biến nội dung, yêu cầu giờ học. - GV quan sát nhắc nhở, sửa sai -GV gọi HS lên thực hiện - CS lớp tập hợp, điểm số, báo cáo -Cán sự lớp tổ chức cho khởi động. ĐH giãn cách, so le Đội hình khởi động -HS lên thực hiện theo yêu cầu của GV II. Phần cơ bản. 1.Chạy tiếp sức : Học: Xuất phát của người số 1, (bài tập 3 và 4); Xuất phát của người nhận tín gậy số 2, 3, 4. 2. Bài thể dục : * Ôn : - Động tác 1 - 4 (nữ); - Động tác 1 - 20 (nam) 3. Củng cố : 28-30 ph 15 p 13 p 2 phút -GV hướng dẫn động tác (khi học mới và sửa sai) theo các bước sau: + GV Làm nhanh 1 lần +GV vừa thị phạm vừa phân tích động tác cho HS nắm và hiểu được. - Sau đó, GV tổ chức hướng dẫn tập luyện. -GV có thể tổ chức tập đồng loạt, dòng chảy, chia nhóm quay vòng… , giao cho Cán sự lớp phụ trách các nhóm tập luyện (khi chia nhóm). -Thường xuyên đôn đốc,nhắc nhở HS luyện tập tự giác, tích cực và quan sát sửa sai cho HS. -GV gọi 2 HS lên thực hiện lại KT - GV chỉ ra nhưng sai lầm thường mắc và cách sửa - GV nhận xét chung - Đội hình 2 nhóm tập cán sư điều khiển. (Nam) (Nữ)       - Đội hình củng cố bài       III/ Phần kết thúc: 1/ Thả lỏng 2/ Nhận xét : 3/ Dặn dò : - Giao bài tập về nhà cho HS. - Lớp giải tán. 5-7p 2p 2p 1p - GV cho học sinh thả lỏng cơ bắp, hít thở sâu…GV quan sát, nhắc nhở. - GV nhận xét ưu , khuyết điểm trong giờ học. - Dặn dò và giao bài tập về nhà €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ €€€€€€€€ IV/ PHẦN RÚT KINH NGHIỆM: ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
Xem thêm

72 Đọc thêm

NHỮNG VIỆC BẠN NÊN LÀM NGAY NẾU MUỐN GIẢM CÂN HIỆU QUẢ

NHỮNG VIỆC BẠN NÊN LÀM NGAY NẾU MUỐN GIẢM CÂN HIỆU QUẢ

VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phíĐó là chưa nói đến những tác dụng phụ không tốt của những chất bảo quản trongcác thức ăn, đồ uống được chế biến sẵn.Đừng ngồi nhiềuNhiều người luôn than thở rằng: Tại sao mình không ăn mà vẫn béo hoặc là mìnhkhông ăn gì tại sao vẫn không thể giảm cân. Những hãy nhìn lại xem một ngày,bạn đã làm những gì? Cả ngày bạn chỉ ngồi làm việc và buổi tối thì nằm, hầu nhưkhông vận động, tức là lượng calo bạn nạp vào cơ thể không được đốt cháy hết.Thử thay đổi thói quen này bằng cách tăng cường hoạt động hàng ngày của bạn.Nếu bạn phải ngồi làm việc thường xuyên, hãy tranh thủ đứng dậy đi vệ sinh ở cáctầng khác nhau, rót nước, hoặc leo cầu thang thay vì đi thang máy,... Còn nếu bạnthích xem các chương trình tivi vào buổi tối, bạn có thể đứng dậy vận động nhẹhoặc vệ sinh một số đồ nội thất thay vì chỉ nằm dài nhé!Để ý thời gian và kết quả của quá tình tập luyện thể dụcMỗi người có thể chọn cho mình một bài tập thể dục phù hợp với cơ địa, thể trạngsức khỏe, hay sở thích của từng người, để từ đó phát huy hết công dụng giảm béocủa những bài tập đó. Và khi cơ thể đã bắt đầu quen với cường độ tập hiện tại, bạnphải đẩy chế độ lên một mức cao hơn để thu về những kết quả tương tự. Đó là lýdo bạn luôn phải đánh giá chất lượng cũng như quá trình tập thể dục của mình.VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phíLưu ý rằng thời gian tập luyện của bạn chỉ là thời gian mà bạn tập thể dục chứkhông nên bao gồm cả thời gian bạn bỏ ra trong phòng thay đồ, bãi đậu xe hay tángẫu với bạn bè.
Xem thêm

5 Đọc thêm

5 lỗi tập thể dục không đúng cách khiến bạn nhanh già

5 LỖI TẬP THỂ DỤC KHÔNG ĐÚNG CÁCH KHIẾN BẠN NHANH GIÀ

window.onload = function () {resizeNewsImage("news-image", 500);} Tập thể dục là một biện pháp giúp cơ thể bạn khoẻ mạnh. Tuy nhiên, nếu không biết thực hiện các bài tập đúng cách, bạn có thể phải đối mặt với nguy cơ già nhanh hơn và cơ thể gặp nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe. Việc tập thể dục thường xuyên chỉ có tác dụng tốt khi bạn thực hiện các bài tập một cách chính xác và đầy đủ, phối kết hợp những vận động khác nhau. Dưới đây là 5 thói quen xấu bạn thường mắc phải khi tập thể dục. Những lỗi này có thể đẩy nhanh sự lão hóa của cơ thể và khiến các bạn nhanh già hơn. 1. Không bao giờ nghỉ ngơi   Nếu bạn luôn cảm thấy mệt mỏi hay đau nhức trong khi tập luyện, đó là lúc cơ thể bạn lên tiếng bạn đã không có đủ thời gian để chữa lành và hồi phục giữa các buổi tập. (Ảnh minh họa) Nếu bạn luôn cảm thấy mệt mỏi hay đau nhức trong khi tập luyện, đó là lúc cơ thể bạn lên tiếng bạn đã không có đủ thời gian để chữa lành và hồi phục giữa các buổi tập. Điều này sẽ khiến cơ thể bạn lão hóa nhanh hơn, đây là kết luận của John Higgins, bác sĩ y khoa, giáo sư Đại học Y Texas và là giám đốc sinh lý học thể dục tại trung tâm y tế Memorial Hermann, Texas. "Ở độ tuổi từ mười mấy đến hai mấy, cơ thể phải mất khoảng 18 giờ để sửa chữa các sợi cơ bị ảnh hưởng bởi một buổi tập, nhưng con số này sẽ tăng lên 36 giờ ở độ tuổi 40 trở đi. Sử dụng cơ bắp trước khi chúng được phục hồi hoàn toàn có thể gây ra tình trạng viêm. "Việc tập luyện trở nên khó khăn hơn, hệ thống miễn dịch của bạn có thể không hoạt động một cách hiệu quả, và bạn có thể gặp khó khăn với giấc ngủ", Tiến sĩ Higgins cho biết. Cách khắc phục: Hãy đảm bảo đủ thời gian nghỉ ngơi giữa các buổi tập, và cho phép cơ thể xả hơi hoàn toàn ít nhất một ngày mỗi tuần. 2. Bỏ qua phần khởi động   Nếu bạn đến muộn trong một buổi tập và bắt đầu ngay với bài kéo đẩy tạ mà không khởi động cơ thể trước, có thể bạn đang tàn phá cơ thể của chính mình. (Ảnh minh họa) Nếu bạn đến muộn trong một buổi tập và bắt đầu ngay với bài kéo đẩy tạ mà không khởi động cơ thể trước, có thể bạn đang tàn phá cơ thể của chính mình. Khi các hóa chất viêm, bao gồm kích thích tố tuyến giáp và các cytokine (protein viêm), được giải phóng, chúng sẽ tác động tới hệ miễn dịch và làm cho cơ thể càng khó phục hồi. Cách khắc phục: Hãy tập thói quen khởi động và làm nóng cơ thể từ 5-10 phút trước khi bắt đầu tập với cường độ nặng. 3. Chỉ tập trung vào bài tập cường độ cao Thật dễ hiểu lý do tại sao bạn lại muốn mình tập luyện những bài tập có cường độ cao. Điều đó sẽ giúp cơ thể đốt cháy hàng tấn calo trong thời gian ngắn, và quá trình đốt cháy vẫn tiếp tục ngay cả sau khi bạn đã hoàn tất bài tập. Bạn không hề biết rằng chính điều đó đang tàn phá, huỷ hoại cơ thể bạn. Trong thực tế, việc luyện tập các bài tập cường độ cao đã dẫn đến sự gia tăng trong tiêu cơ vân, một sự cố về sợi cơ rất nghiêm trọng có thể gây tổn thương thận và thậm chí dẫn đến tử vong. Mặc dù không phổ biến, chứng tiêu cơ vân có thể ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể, đặc biệt là nếu bạn để cơ thể bị mất nước và nhanh dẫn đến lão hóa. Cách khắc phục: Cho phép cơ thể nghỉ ngơi tối thiểu là 48 giờ để phục hồi sau khi tập luyện cường độ cao. 4. Bạn gắn bó với các bài tập tác động thấp   Môn đạp xe hay aerobic - có tác động thấp là là những bài tập tuyệt vời, nhưng chúng sẽ không có tác dụng nhiều cho mật độ xương của bạn. (Ảnh minh họa) Môn đạp xe hay aerobic - có tác động thấp là là những bài tập tuyệt vời, nhưng chúng sẽ không có tác dụng nhiều cho mật độ xương của bạn. Để ngăn ngừa loãng xương, bạn sẽ cần thêm một số tác động nhằm duy trì sức khỏe của xương. Trong thực tế, một nghiên cứu gần đây được công bố trên tạp chí Y học và Khoa học Thể dục Thể thao cho thấy chạy bộ sẽ giúp giảm đáng kể nguy cơ viêm xương khớp và gãy xương hông. Cách khắc phục: Thêm những động tác thể dục như chạy bộ, chạy nước rút và nhảy dây… vào chế độ thể dục của bạn. 5. Bạn không tập trung việc tập cơ sàn chậu Trong nỗ lực đạt đến một vòng eo phẳng hơn và gọn hơn, bạn có thể tập trung vào tập cơ chéo (các cơ bắp chịu trách nhiệm về xoay) và cơ thẳng bụng (các cơ bắp chịu trách nhiệm tạo hiệu ứng “sáu múi”). Nhưng bạn cũng nên dành chút ít thời gian để tập sàn chậu, bởi nếu bỏ qua bài tập này, đến lúc có tuổi bạn có thể phải đối mặt với vòng bụng tròn và chảy xệ, cùng với chứng đi tiểu không tự chủ. Cơ thể bạn cũng nhanh bị lão hóa hơn. Cách khắc phục: Thực hiện các bài tập Kegel để kích hoạt các sàn chậu là một phần quan trọng trong việc tăng cường sức mạnh bên trong cơ thể. Tập 10 nhịp mỗi lần và lặp lại 3 lần như thế; thực hiện ba lần mỗi ngày.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề