CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG ĐẠI":

toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay

TOÀN VĂN LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG KHOA NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY

toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay
Xem thêm

214 Đọc thêm

Soạn bài Tổng quan văn học Việt Nam lớp 10

SOẠN BÀI TỔNG QUAN VĂN HỌC VIỆT NAM LỚP 10

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN, 1. Các bộ phận hợp thành của văn học Việt Nam  Văn học dân gian ; với các thể loại chủ yếu như thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ, câu đố, ca dao, vè, truyện thơ, chèo ; là sáng tác tập thể và truyền miệng, thể hiện tiếng nói tình cảm chung của nhân dân lao động. - Văn học viết ; về cơ bản được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ ; là sáng tác của trí thức, được ghi lại bằng chữ viết, mang đậm dấu ấn sáng tạo của cá nhân. 2. Hai thời đại lớn của văn học Việt Nam Nhìn tổng quát, có thể thấy lịch sử văn học Việt Nam trải qua hai thời đại, hai kiểu loại văn học chủ yếu :văn học trung đại và văn học hiện đại. - Văn học trung đại, tồn tại chủ yếu từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX ; là thời đại văn học viết bằng chữ Hán và chữ Nôm ; hình thành và phát triển trong bối cảnh văn hoá, văn học vùng Đông Á, Đông Nam Á ; có quan hệ giao lưu với nhiều nền văn học khu vực, nhất là văn học Trung Quốc. - Văn học hiện đại, bắt đầu quãng đầu thế kỉ XX và vận động, phát triển cho tới ngày nay ; tồn tại trong bối cảnh giao lưu văn hoá, văn học ngày càng mở rộng, đã tiếp tiếp xúc và tiếp nhận tinh hoa của nhiều nền văn học thế giới để đổi mới. 3. Văn học Việt Nam thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan niệm chính trị, văn hoá, đạo đức, thẩm mĩ của con người Việt Nam trong nhiều mối quan hệ đa dạng : quan hệ với thế giới tự nhiên, quan hệ quốc gia dân tộc, quan hệ xã hội và trong ý thức về bản thân. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Sơ đồ các bộ phận của văn học Việt Nam * Chú ý: Nền văn học viết Việt Nam chính thức được hình thành từ thế kỉ X. Trước thế kỉ X, nền văn học của người Việt chủ yếu được ghi dấu bằng các tác phẩm văn học dân gian. Khi nền văn học viết được hình thành, văn học dân gian của người Việt vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển. 2. Các khái niệm “bút lông” và “bút sắt” gợi ra những đặc điểm của hai thời đại văn học : - Thời trung đại, văn học Việt Nam chủ yếu gồm hai dòng : văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm – “bút lông”,… - Thời hiện đại, văn học Việt Nam chủ yếu là văn học chữ quốc ngữ – “bút sắt”,… 3. Văn học Việt Nam thể hiện đời sống tâm tư­, tình cảm, quan niệm về chính trị, đạo đức, thẩm mỹ của con ng­ười Việt Nam trong nhiều mối quan hệ 3.1. Phản ánh mối quan hệ với thiên nhiên Ở khía cạnh này, các tác phẩm văn học Việt Nam đã khái quát lại quá trình ông cha ta nhận thức cải tạo và chinh phục thế giới tự nhiên. Thiên nhiên bên cạnh những khía cạnh dữ dội và hung bạo, nó còn là ngư­ời bạn. Vì vậy, nó hiện lên trong thơ văn thân thiết và gần gũi, t­ươi đẹp và đáng yêu. Nó đa dạng và cũng thay đổi theo quan niệm thẩm mỹ của từng thời. 3.2. Phản ánh mối quan hệ quốc gia dân tộc Đây là nội dung tiêu biểu và xuyên suốt lịch sử phát triển văn học Việt Nam, phản ánh một đặc điểm lớn của lịch sử dân tộc: luôn phải đấu tranh chống lại các thế lực xâm lư­ợc để bảo vệ nền độc lập tự chủ của mình. Mối quan hệ quốc gia dân tộc đư­ợc văn học đề cập đến ở nhiều khía cạnh mà nổi bật là tinh thần yêu     nư­ớc (tình yêu làng xóm, yêu quê cha đất tổ, căm ghét các thế lực giày xéo quê   hư­ơng, ý thức về quốc gia dân tộc, ý chí đấu tranh, khát vọng tự do, độc lập…).   Nhiều tác phẩm của dòng văn học này đã trở thành những kiệt tác văn chư­ơng bất hủ của đất nư­ớc ta. 3.3. Phản ánh mối quan hệ xã hội Trong xã hội có giai cấp đối kháng, văn học Việt Nam cất lên tiếng nói tố cáo phê phán các thế lực chuyên quyền và bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với những  ngư­ời dân bị áp bức, bóc lột. Các tác phẩm thuộc mảng sáng tác này đã thể hiện ước mơ da diết về một xã hội dân chủ, công bằng và tốt đẹp. Nhìn thẳng vào thực tại để nhận thức, phê phán và cải tạo xã hội là một truyền thống cao đẹp, là biểu hiện rực rỡ của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học nư­ớc ta. 3.4. Phản ánh ý thức về bản thân Ở ph­ương diện này, văn học Việt Nam đã ghi lại quá trình lựa chọn, đấu tranh để khẳng định cái đạo lí làm ngư­ời của dân tộc Việt Nam trong sự kết hợp hài hoà hai phương diện: tâm và thân, phần bản năng và phần văn hoá, tư­ tư­ởng vị kỉ và tư tư­ởng vị tha, ý thức cá nhân và ý thức cộng đồng.Trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, văn học có thể đề cao mặt này hay mặt khác. Song nhìn chung xu hướng của sự phát triển văn học dân tộc là xây dựng một đạo lí làm ng­ười với nhiều phẩm chất tốt đẹp nh­ư: nhân ái, thuỷ chung, tình nghĩa, vị tha, giàu đức hi sinh… Nói tóm lại, bốn mối quan hệ này phản ánh bốn lĩnh vực hoạt động thực tiễn và nhận thức chủ yếu của con ngư­ời Việt Nam. Tuy nhiên do hoàn cảnh lịch sử, tâm lí, tư­ tư­ởng, hai nội dung yêu nư­ớc và nhân đạo đã trở thành hai nội dung nổi bật và có giá trị đặc biệt trong lịch sử phát triển nền văn học dân tộc chúng ta.  loigiaihay.com
Xem thêm

3 Đọc thêm

NGÔ TẤT TỐ VÀ TIỂU THUYẾT TẮT ĐÈN

NGÔ TẤT TỐ VÀ TIỂU THUYẾT TẮT ĐÈN

B.NỘI DUNG:
1.Khái quát về tác giả Ngô Tất Tố:
Là cây bút xuất sắc nhất của dòng văn học hiện thực tr¬ớc cách mạng và là một trong những tác giả lớn có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Chỉ với ba thập kỷ cầm bút, ông đã để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ, độc đáo bao gồm nhiều thể loại: Tiểu thuyết, phóng sự, truyện ký lịch sử, khảo cứu, dịch thuật…và ở thể loại nào cũng để lại dấu ấn đặc sắc riêng. Suốt 6 thập kỷ qua, thân thế và văn nghiệp của Ngô Tất Tố đã thực sự thu hút đ¬ợc sự quan tâm, yêu mến của các nhà nghiên cứu, phê bình, giảng dậy văn học và đông đảo công chúng.
2. Giới thiệu khái quát về “Tắt đèn”
Xem thêm

2 Đọc thêm

Tìm hiểu tác phẩm Truyền ký mạn lục

TÌM HIỂU TÁC PHẨM TRUYỀN KÝ MẠN LỤC

Giới thiệu truyền kỳ mạn lục Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề văn xuôi tự sự trong văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi có một số thu hoạch nhỏ xoay quanh một tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn: tác phẩm Truyền kỳ mạn lục sáng tác vào khoảng đầu thế kỷ XVI của tác giả Nguyễn Tự 阮 嶼 (căn cứ vào những cứ liệu xác đáng về tên tác giả, chúng tôi ủng hộ ý kiến của PGS.TS Nguyễn Đăng Na và các nhà nghiên cứu đồng quan điểm là phải trả lại đúng tên gọi cho tác giả, không theo thói quen lâu nay gọi tên ông là Nguyễn Dữ). Truyền kỳ mạn lục được mệnh danh là áng “thiên cổ kỳ bút” trong truyện ngắn trung đại Việt Nam, và đây cũng là tác phẩm văn xuôi chữ Hán thu hút được sự quan tâm của giới phê bình nghiên cứu văn học trung đại. Việc đánh giá về giá trị của tác phẩm này cũng có nhiều xu hướng khác nhau, nhiều phương pháp tiếp cận tổng thể cũng như phân tích đánh giá sâu vào một tác phẩm. Tìm hiểu một loạt các tài liệu, chúng tôi đặc biệt tâm đắc với ý kiến của tác giả Nguyễn Đăng Na về Truyền kỳ mạn lục, khẳng định giá trị độc đáo riêng biệt của tác phẩm : “Nếu Lê Thánh Tông hướng văn học vào việc phản ánh con người, lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh thì Nguyễn Tự đi xa hơn một bước: phản ánh số phận con người, chủ yếu là số phận mang tính chất bi kịch của người phụ nữ. Nhờ đó mà Nguyễn Tự đã mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam thời trung đại. Thông qua số phận các nhân vật, Nguyễn Tự đi tìm giải pháp xã hội: Con người phải sống ra sao để vươn tới hạnh phúc, để nắm bắt được hạnh phúc?
Xem thêm

9 Đọc thêm

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1900 1945

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1900 1945

4.Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của đề tài
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu tập trung và có hệ thống tư tưởng triết học về con người trong văn học Việt Nam giai đoạn từ 1900 1945, chỉ ra những nội dung chủ yếu của những tư tưởng đó và sự phát triển của nó qua hai thời kỳ phát triển của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX: thời kỳ từ 1900 đến 1930 và từ 1930 đến 1945.
Để giải thích, cắt nghĩa cho tư tưởng triết học về con người trong văn học, luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ những tiền đề kinh tế, xã hội và văn hóa của sự xuất hiện những tư tưởng đó, đồng thời bước đầu nhận diện sự thể hiện và ảnh hưởng của tư tưởng triết học về con người trong văn học Việt Nam giai đoạn từ 1900 1945.
5.Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, so sánh, thống kê,...
Đồng thời, luận văn cũng sử dụng các phương pháp tiếp cận các tác phẩm văn chương như: Phương pháp so sánh văn học, phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học, phương pháp nghiên cứu tác giả văn học…
6.Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm hai chương:
Chương 1:Tư tưởng triết học về con người trong văn học Việt Nam giai đoạn từ 1900 – 1930
Chương 2:Tư tưởng triết học về con người trong văn học Việt Nam giai đoạn từ 1930 – 1945
Xem thêm

115 Đọc thêm

Sự nghiệp phê bình văn học của vương trí nhàn

SỰ NGHIỆP PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA VƯƠNG TRÍ NHÀN

1.1. Vương Trí Nhàn là một trong số không nhiều những nhà lí luận phê bình hiện đại có trình độ chuyên môn cao ở Việt Nam giai đoạn từ năm 1986 đến nay. Ông là người có ý thức rất rõ về vai trò của công tác lí luận phê bình trong đời sống văn học. Vương Trí Nhàn được nhìn nhận như một đại diện tiêu biểu, có đóng góp to lớn trong việc phát triển nền lí luận phê bình văn học Việt Nam hiện đại. Vì vậy, nghiên cứu sự nghiệp lí luận phê bình văn học của Vương Trí Nhàn sẽ giúp chúng ta hiểu hơn bức tranh lí luận phê bình Việt Nam những thập niên cuối thế kỉ XX, gắn với một thời kì phát triển sôi động của văn học Việt Nam hiện đại.1.2. Những công trình nghiên cứu văn học trung đại và văn học hiện đại của Vương Trí Nhàn đã và đang trở thành “di sản” quan trọng của khoa học nghiên cứu văn học Việt Nam trên cả phương diện lí thuyết và phương pháp nghiên cứu. Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu, lí luận, phê bình đặc sắc như: Sổ tay truyện ngắn (1980), Những kiếp hoa dại (1993), Cánh bướm và đóa hướng dương (1999), Cây bút đời người (2002), Nhân nào quả ấy (2004), Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa trong văn học Việt Nam (2005), Những chấn thương tâm lí hiện đại (2009), Vương Trí Nhàn – phê bình và tiểu luận (2009). Những công trình nghiên cứu ấy là kết quả của quá trình lao động sáng tạo của một bộ óc sắc sảo, tinh tế với phong cách và phương pháp nghiên cứu riêng. Vương Trí Nhàn là nhà phê bình có nghề, nói như GS Nguyễn Huệ Chi: “nhẹ nhàng nhưng lại có những nhận xét khá thâm thúy”. Chính vì lẽ đó, chúng ta cần phải có thêm những công trình chuyên biệt, có tính hệ thống nhằm đánh giá đúng vai trò và vị trí của Vương Trí Nhàn trên lĩnh vực lí luận phê bình.1.3. Lâu nay, nhiều người vẫn chưa nhìn nhận đúng vai trò của công tác lí luận phê bình văn học trong việc thúc đẩy, định hướng cho sáng tác và tiếp nhận văn học. Nghiên cứu sự nghiệp phê bình văn học của Vương Trí Nhàn là dịp ghi nhận công lao của ông trong sự nghiệp nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam nói riêng, đánh giá vai trò của công tác lí luận phê bình trong đời sống văn học nói chung.
Xem thêm

102 Đọc thêm

Ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái.

NGÔN NGỮ TRÀO PHÚNG TRONG HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ CỦA NGÔ GIA VĂN PHÁI.

1.Lý do chọn đề tài1.1.“Văn hóa cười” (thuật ngữ do Bakhtin đề xuất) là một phương diện cốt yếu của đời sống văn hóa tinh thần nhân loại. Nếu con người, như Aristote nói, là một động vật biết cười, thì người Việt đậm đặc phẩm chất người như thế. Cái cười làm bộc lộ một nét đặc sắc trong hệ thống tính cách người Việt. Cười ở đây không chỉ là tiếng cười cơ học, tiếng cười sảng khoái vì vui thú, mà còn là những tiếng cười mỉa mai, đả kích những cái xấu xa trong xã hội. Khi con người ta biết “cười” như vậy đồng nghĩa với việc ý thức dân chủ, nhận thức chính trị xã hội đã chín muồi, trưởng thành. Tiếng cười ấy không chỉ thấp thoáng trong văn học dân gian, trong khu rừng tiếu lâm, lan tỏa trong các câu đố tục giảng thanh hay đố thanh giảng tục, rồi tiếng cười trong các bài ca dao nói ngược, các chú bờm, chú hề làm nghiêng ngả sân chèo dưới những mái đình, mái làng, mà còn đậm nét trong văn xuôi trung đại, hình thành nên khuynh hướng trào phúng trong văn học.Nói như nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị: “ Với sự khủng hoảng và suy sụp của chế độ phong kiến, chủ yếu ở xã hội quan trường, trước hết là trong môi trường quý tộc quan liêu, có những người, những việc mâu thuẫn một cách nực cười với những khuôn vàng thước ngọc bất di bất dịch như quân thần, thần trung, phụ tử, tử hiếu… Mặt khác, cùng với sự phát triển của cuộc đấu tranh của nhân dân chống lại ách chuyên chế phong kiến, ý thức phản đối xã hội và lý trí con người tựa như dòng sông đóng băng bấy lâu, đột nhiên thức tỉnh, trào lên mãnh liệt. Giáo điều Nho giáo như là cơ sở của tư duy, như là bờ đê của mọi luồng tư tưởng bị rung chuyển, rạn vỡ. Tư tưởng phóng túng lan tràn, kích động hạt nổ của cái cười”.Từ những mâu thuẫn lố bịch trong xã hội phong kiến ấy đã nảy sinh biết bao tiếng cười, tiếng cười hả hê, tiếng cười đả kích, tiếng cười để vĩnh biệt và tiễn đưa cái xấu xa xuống mồ.1.2.Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX đã xuất hiện nhiều tác phẩm văn học phản ánh những vấn đề lịch sử, xã hội rộng lớn như Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án... Trong đó Nam triều công nghiệp diễn chí là bức tranh về chiến cuộc Nam Bắc triều trong ngót hơn một trăm năm từ 1559 đến 1689. Trong Vũ Trung tuỳ bút,với cốt truyện đơn giản, kết cấu tự do, Phạm Đình Hổ đã ghi lại một cách tự nhiên,chân thực những điều “trái tai gai mắt” từ lối sống xa hoa, hưởng lạc của vua chúa, sự tham nhũng, lộng hành của đám quan lại thừa cơ đục nước béo cò, cho đến chế độ thi cử, hay những hiện thực trớ trêu trong cuộc sống của nhân dân trong nhữngnăm tháng cuối cùng của triều đình Lê Trịnh. Đặt bên cạnh những tác phẩm đó, “Hoàng Lê nhất thống chí” rất nổi bật. Thành tựu của nó vừa mang tính chất kết tinh, vừa mở ra nhiều ý nghĩa, vừa đánh dấu sự thay đổi quan niệm truyền thống của một nền văn học vốn đã coi trọng văn vần, coi nhẹ văn xuôi như Việt Nam.Tác phẩm là sự kết hợp tài tình giữa nghệ thuật tự sự sinh động ở một tác phẩm tiểu thuyết và tính chính xác của khoa học lịch sử ở một tác phẩm sử học. Có thể nói, trong văn học Việt Nam trung đại, chưa có tác phẩm văn xuôi nào có được vị trí quan trọng như Hoàng Lê nhất thống chí. Nó không chỉ phản ánh tư duy sáng tạo văn học của các nhà văn thời bấy giờ, mà cùng với việc phản ánh những sự kiện lịch sử quan trọng với hàng trăm nhân vật, Hoàng Lê nhất thống chí đã đạt tới trình độ của một tác phẩm sử thi. Không những thế, Hoàng Lê nhất thống chí còn khẳng định sự trưởng thành của văn xuôi trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam trung đại. Vì vậy, tiểu thuyết này đã nhận được sự quan tâm, đón đọc, nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước. Đa số các ý kiến cho rằng tác phẩm có “sức cuốn hút kỳ lạ”.Một trong những giá trị làm nên sức cuốn hút đó là nghệ thuật trào phúng điêu luyện, góp phần tô đậm giá trị hiện thực của tác phẩm. Có thể nói trước Hoàng Lê nhất thống chí, trong văn học trung đại chỉ xuất hiện tiếng cười trào phúng chứ chưa xuất hiện khái niệm nghệ thuật, bút pháp trào phúng. Chỉ đến tác phẩm này, tiếng cười trào phúng mới thực sự rõ nét và có những biểu hiện phong phú, đa dạng, tạo tiền đề cho văn xuôi trào phúng sau này. Nhắc đến nghệ thuật trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí, một phương diện không thể bỏ qua đó là ngôn ngữ. M.Gorki đã từng khẳng định: “ Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”, có thể nói ngôn ngữ vừa là chất liệu, vừa là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của tác phẩm văn chương. Với văn học trào phúng nói chung và văn xuôi trào phúng nói riêng, ngôn ngữ trào phúng đã trở thành một công cụ đắc lực trong việc thể hiện tiếng cười với tất cả những cung bậc và sắc thái khác nhau.1.3. Tìm hiểu vềHoàng Lê nhất thống chí từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu có nhiều hướng khác nhau nhưng phần lớn thường thiên về vấn đề văn bản, tác phẩm, hoặc so sánh đối chiếu với tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc…Có một số công trình, luận án đã đề cập, đi sâu tìm hiểu những vấn đề nghệ thuật của tác phẩm, về bút pháp trào phúng…nhưng vấn đề ngôn ngữ trào phúng chưa được đào sâu một cách hệ thống, với tư cách là một chỉnh thể, một đối tượng nghiên cứu. Vì vậy, việc tìm hiểu về “Ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí” chẳng những giúp ta hiểu hơn về nghệ thuật trào phúng dưới ngòi bút tài hoa của các tác giả Ngô gia mà còn một lần nữa chứng minh, khẳng định giá trị văn học đặc sắc của cuốn tiểu thuyết “hội tụ tinh hoa văn xuôi tự sự Việt Nam” này.Hoàng Lê nhất thống chí còn là tác phẩm được chọn giảng trong chương trình THCS (lớp 9), việc tìm hiểu về ngôn ngữ trào phúng trong tiểu thuyết chương hồi này sẽ có ý nghĩa thiết thực cho quá trình giảng dạy văn học trung đại nói chung và văn xuôi tự sự nói riêng của giáo viên, đồng thời ít nhiều giúp học sinh nắm được nét độc đáo của tác phẩm. Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu Ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái.
Xem thêm

93 Đọc thêm

Giáo án Văn lớp 10 cả năm

GIÁO ÁN VĂN LỚP 10 CẢ NĂM

Tiết 1+2TỔNG QUAN VĂN HỌC VIỆT NAMA. Mục tiêu cần đạt: Nắm được những kiến thức chung nhất, tổng quát nhất về hai bộ phận của văn học Việt Nam. Nắm vững hệ thống vấn đề về+ Thể loại của văn học Việt Nam+ Con người trong văn học Việt Nam Bồi dưỡng niềm tự hàovề truyền thống văn hóa của dân tộc, có thái độ nghiêm túc, lòng say mê với văn học Việt Nam.B. Phương tiên thực hiện: SGK, SGV. Các tài liệu về lịch sử văn học Việt Nam.C. Phương pháp: Kết hợp các phương pháp gợi tìm, kết hợp với các hình thức trao đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi.D. Tiến trình lên lớp: 1. Ổn định 2. Kiểm tra bài cũ: không 3. Giới thiệu bài mới: lịch sử văn học của bất cứ dân tộc nào đều là lịch sử tâm hồn của dân tộc ấy. Để cung cấp cho các em nhận thức những nét lớn về văn học nước nhà, chúng ta tìm hiểu bài “ Tổng quan văn học Việt Nam”Hoạt động của gv và hsinhNội dung cần đạt Hoạt động 1: GV chia học sinh thành 4 nhóm, hướng dẫn học sinh đọc và tóm tắt nội dung phần 1 2 của bài học  GV mời đại diện các nhóm trả lời câu hỏi.1) Bài “Tổng quan văn học Việt Nam” có những nội dung cơ bản nào? Em hãy cho biết các bộ phận hợp thành của Văn học Việt Nam?2) Văn học dân gian do ai sáng tác và lưu truyền bằng hình thức nào? Những thể loại và đặc trưng của văn học dân gian?3) Văn học viết là bộ phận văn học xuất hiện vào thời điểm nào?Những đặc điểm cơ bản về: tác giả, hình thức lưu truyền , chữ viết, thể loại của văn học viết?4) Văn học VN phát triển qua mấy thời kỳ? Các thời đại lớn của văn học VN?5) Văn học trung đại được hình thành và phát triển trong bối cảnh văn hóa, văn học ntn? Vì sao văn học từ thế kỷ X hết TKXIX có sự ảnh hưởng của VH Trung Quốc? Hãy chỉ ra một vài tác phẩm tác giả tiêu biểu của nền văn học trung đại?6) Văn học hiện đại phát triển trong hoàn cảnh nào? Quá trình phát triển và những thành tựu cơ bản của văn học hiện đại?(GV có thể giúp hsinh hiểu thêm sự thay đổi từ văn học trung đại bằng việc giải thích thêm về hoàn cãnh lịch sử từ đầu TKXX1975, đồng thời cho hsinh lấy ví dụ minh họa về thành tựu của các thời kỳ VH).Hảy nêu một vài tác giả, tác phẩm tiêu biểu?Hoạt động 3: GV cho hsinh ở các nhóm vẽ sơ đồ về các bộ phận của VHVN để củng cố kiến thức, sau khi đã tìm hiểu nội dung (III) của bài học.Hoạt động 4: GV cho hsinh trao đổi và phát biểu theo các câu hỏi sau:1. Theo em đối tượng của VH là gì?2. Hình ảnh con người VN được thể hiện trong VH qua những mối quan hệ nào?3. Nêu những biểu hiện cụ thể về hình ảnh con người VN qua từng mối quan hệ? Lấy ví dụ minh hoạ.Hoạt động 5: hsinh đọc hoặc phát biểu phần ghi nhớ trong sgk để củng cố bài học.Bài tập vận dụng (về nhà) Phân tích hình ảnh con người Vn trong mối quan hệ với thế giới tự nhiên qua bài ca dao: “ Anh đi anh nhớ quê nhàNhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương” Hướng dẫn chuẩn bị bài: “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ”.+ Đọc ngữ liệu và trả lời các câu hỏi trong sgk.+ Tìm thêm các ngữ liệu khác trong hoạt động giao tiếp hàng ngày để bổ sung cho kiến thức của bài học.I. Các bộ phận hợp thành của VHVN:1. Văn học dân gian: Là sáng tác tập thể và truyền miệng của nhân dân lao động. VHDG caùc thể loại: ( SGK ) Đặc trưng tiêu biểu: + Tính truyền miệng.+ Tính tập thể.+ Tính thực hành.2. Văn học viết: Là sáng tác của trí thức được ghi lại bằng chữ viết, tác phẩm văn học mang dấu ấn tác giả. Các hình thức chữ viết: chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ. Thể loại của văn học viết đa dạng và phong phú.II. Quá trình phát triển của văn học Việt Nam: (các thời đại lớn của VHVN)1. Văn học trung đại (TKX XIX)Hình thành và phát triển trong khoảng 10 thế kỉ, gắn liền với những thịnh suy thăng trầm của xã hội phong kiến VN và có quan hệ giao lưu với nhiều nền văn học ở khu vực Đông Nam, Đông Nam Á, văn học Trung Quốc. Văn học được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm (còn gọi là văn học HánNôm) Văn học chữ Hán: có vai trò là chiếc cầu nối về tư tưởng và thể loại, thi pháp với văn học cổ Trung đại Trung Quốc và đạt nhiều thành tựu. Văn học chữ Nôm: chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học dân gian,. Tác phẩm – tác giả tiêu biểu. + Chữ Hán + Chữ Nôm.2. Văn học hiện đại (từ đầu TK XX nay) Văn học hiện đại phát triển trong một điều kiện lịch sử xã hội có nhiều biến động ảnh hưởng đến văn học. Tác phẩmchủ yếu viết bằng chữ quốc ngữ.+ Văn học từ đầu TKXX CMT8,1945 đây là giai đoạn giao thời giữa văn học trung đại với văn học hiện đại (nó vừa kế thừa những tinh hoa của văn học truyền thống, lại vừa tiếp nhận ảnh huởng của văn học thế giới để hiện đại hóa.)+ Văn học từ 1945 nay: văn học phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đạt được nhiều thành tựu góp phần vào sự nghiệp cách mạng. Hệ thống thể loại văn học không ngừng phát triển và hoàn thiện. Tác giả tác phẩm tiêu biểu.III. Con người Việt Nam qua văn học: Đối tượng của văn học: con người và xã hội loài người  văn học là nhân học. Hình ảnh con người VN trong văn học được thể hiện qua các mối quan hệ + Với thế giới tự nhiên + Với quốc gia, dân tộc + Với xã hội + Với ý thức về bản thânIV. Ghi nhớ:sgk.
Xem thêm

154 Đọc thêm

luận văn tốt nghiệp sư phạm đề tài lịch sử văn hóa Ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP SƯ PHẠM ĐỀ TÀI LỊCH SỬ VĂN HÓA NGÔN NGỮ TRÀO PHÚNG TRONG HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ CỦA NGÔ GIA VĂN PHÁI

luận văn tốt nghiệp sư phạm đề tài lịch sử văn hóa Ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái 1.1.Văn hóa cười (thuật ngữ do Bakhtin đề xuất) là một phương diện cốt yếu của đời sống văn hóa tinh thần nhân loại. Nếu con người, như Aristote nói, là một động vật biết cười, thì người Việt đậm đặc phẩm chất người như thế. Cái cười làm bộc lộ một nét đặc sắc trong hệ thống tính cách người Việt. Cười ở đây không chỉ là tiếng cười cơ học, tiếng cười sảng khoái vì vui thú, mà còn là những tiếng cười mia mai, đả kích những cái xấu xa trong xã hội. Khi con người ta biết “cười” như vậy đồng nghĩa với việc ý thức dân chủ, nhận thức chính trị xã hội đã chin muồi, trưởng thành. Tiếng cười ấy không chỉ thấp thoáng trong văn học dân gian, trong khu rừng tiếu lâm, lan tỏa trong các câu đố tục giảng thanh hay đố thanh giảng tục, rồi tiếng cười trong các bài ca dao nói ngược, các chú bờm, chú hề làm nghiêng ngả sân chèo dưới những mái đình, mái làng, mà còn đậm nét trong văn xuôi trung đại, hình thành nên khuynh hướng trào phúng trong văn học.
Nói như nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị :“ Với sự khủng hoảng và suy sụp của chế độ phong kiến, chủ yếu ở xã hội quan trường, trước hết là trong môi trường quý tộc quan liêu, có những người, những việc mâu thuẫn một cách nực cười với những khuôn vàng thước ngọc bất di bất dịch như quân thần, thần trung, phụ tử, tử hiếu…Mặt khác, cùng với sự phát triển của cuộc đấu tranh của nhân dân chống lại ách chuyên chế phong kiến, ý thức phản đối xã hội và lý trí con người tựa như dòng song đóng băng bấy lâu, đột nhiên thức tỉnh, trào lên mãnh liệt. Giáo điều Nho giáo như là cơ sở của tư duy, như là bờ đê của mọi luồng tư tưởng bị rung chuyển, rạn vỡ. Tư tưởng phóng túng lan tràn, kích động hạt nổ của cái cười”.27; tr.32 Từ những mâu thuẫn lố bịch trong xã hội phong kiến ấy đã nảy sinh biết bao tiếng cười, tiếng cười hả hê, tiếng cười đả kích, tiếng cười để vĩnh biệt và tiễn đưa cái xấu xa xuống mồ.
1.2.Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX đã xuất hiện nhiều tác phẩm văn học phản ánh những vấn đề lịch sử, xã hội rộng lớn như Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án... Trong đó Nam triều công nghiệp diễn chí là bức tranh về chiến cuộc Nam Bắc triều trong ngót hơn một trăm năm từ 1559 đến 1689. Trong Vũ Trung tuỳ bút,với cốt truyện đơn giản, kết cấu tự do, Phạm Đình Hổ đã ghi lại một cách tự nhiên,chân thực những điều “trái tai gai mắt” từ lối sống xa hoa, hưởng lạc của vua chúa, sự tham nhũng, lộng hành của đám quan lại thừa cơ đục nước béo cò, cho đến chế độ thi cử, hay những hiện thực trớ trêu trong cuộc sống của nhân dân trong những năm tháng cuối cùng của triều đình Lê Trịnh. Đặt bên cạnh những tác phẩm đó, Hoàng Lê nhất thống chí rất nổi bật. Thành tựu của nó vừa mang tính chất kết tinh, vừa mở ra nhiều ý nghĩa, vừa đánh dấu sự thay đổi quan niệm truyền thống của một nền văn học vốn đã coi trọng văn vần, coi nhẹ văn xuôi như Việt Nam.
Tác phẩm là sự kết hợp tài tình giữa nghệ thuật tự sự sinh động ở một tác phẩm tiểu thuyết và tính chính xác của khoa học lịch sử ở một tác phẩm sử học. Có thể nói, trong văn học Việt Nam trung đại, chưa có tác phẩm văn xuôi nào có được vị trí quan trọng như Hoàng Lê nhất thống chí. Nó không chỉ phản ánh tư duy sáng tạo văn học của các nhà văn thời bấy giờ, mà cùng với việc phản ánh những sự kiện lịch sử quan trọng với hàng trăm nhân vật, Hoàng Lê nhất thống chí đã đạt tới trình độ của một tác phẩm sử thi. Không những thế, Hoàng Lê nhất thống chí còn khẳng định sự trưởng thành của văn xuôi trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam trung đại. Vì vậy, tiểu thuyết này đã nhận được sự quan tâm, đón đọc, nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước. Đa số các ý kiến cho rằng tác phẩm có “sức cuốn hút kỳ lạ”.
Một trong những giá trị làm nên sức cuốn hút đó là nghệ thuật trào phúng điêu luyện, góp phần tô đậm giá trị hiện thực của tác phẩm. Có thể nói trước Hoàng Lê nhất thống chí, trong văn học trung đại chỉ xuất hiện tiếng cười trào phúng chứ chưa xuất hiện khái niệm nghệ thuật, bút pháp trào phúng. Chỉ đến tác phẩm này, tiếng cười trào phúng mới thực sự rõ nét và có những biểu hiện phong phú, đa dạng, tạo tiền đề cho văn xuôi trào phúng sau này. Nhắc đến nghệ thuật trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí, một phương diện không thể bỏ qua đó là ngôn ngữ. M.Gorki đã từng khẳng định: “ Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”, có thể nói ngôn ngữ vừa là chất liệu, vừa là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của tác phẩm văn chương. Với văn học trào phúng nói chung và văn xuôi trào phúng nói riêng, ngôn ngữ trào phúng đã trở thành một công cụ đắc lực trong việc thể hiện tiếng cười với tất cả những cung bậc và sắc thái khác nhau.
1.3. Tìm hiểu về Hoàng Lê nhất thống chí từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu có nhiều hướng khác nhau nhưng phần lớn thường thiên về vấn đề văn bản, tác phẩm, hoặc so sánh đối chiếu với tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc…Có một số công trình, luận án đã đề cập, đi sâu tìm hiểu những vấn đề nghệ thuật của tác phẩm, về bút pháp trào phúng…nhưng vấn đề ngôn ngữ trào phúng chưa được đào sâu một cách hệ thống, với tư cách là một chỉnh thể, một đối tượng nghiên cứu.Vì vậy, việc tìm hiểu về Ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí chẳng những giúp ta hiểu hơn về nghệ thuật trào phúng dưới ngòi bút tài hoa của các tác giả Ngô gia mà còn một lần nữa chứng minh, khẳng định giá trị văn học đặc sắc của cuốn tiểu thuyết “hội tụ tinh hoa văn xuôi tự sự Việt Nam” này.
Hoàng Lê nhất thống chí còn là tác phẩm được chọn giảng trong chương trình THCS (lớp 9), việc tìm hiểu về ngôn ngữ trào phúng trong tiểu thuyết chương hồi này sẽ có ý nghĩa thiết thực cho quá trình giảng dạy văn học trung đại nói chung và văn xuôi tự sự nói riêng của giáo viên, đồng thời ít nhiều giúp học sinh nắm được nét độc đáo của tác phẩm. Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu Ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí
Là một hiện tượng nổi bật của tiểu thuyết lịch sử chương hồi của văn học Việt Nam thời trung đại, Hoàng Lê nhất thống chí đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu. Có không ít bài viết, công trình tập trung khảo sát nội dung, nghệ thuật của tác phẩm ở nhiều mức độ, nhiều khía cạnh. Dưới đây chúng tôi chỉ xin điểm qua những công trình nghiên cứu chủ yếu có liên quan đến đề tài:
Năm 1858, trong Mấy câu giới thiệu về Hoàng Lê nhất thống chí, Ngô Tất Tố đã đánh giá rất cao cuốn sách này. Ông cho đây là “ một cuốn rất có giá trị”,“ toàn bộ rất hùng vĩ, có thể đứng sau cái kho tác phẩm của Lê Quý Đôn” nhưng nội dung thì là “một bộ truyện chí, chép toàn sự thật, không bịa đặt, không tây vị” 54,tr.9. Bởi cách nhìn nhận như thế, Ngô Tất Tố đã cắt xén, gạt bỏ hết những yếu tố của lối “ tiểu thuyết Tàu”, đồng thời cũng chẳng đề cập gì tới tổ chức nghệ thuật của tác phẩm này, ngoại trừ việc nhắc tới sự “không bịa đặt” trong khi “ghi chép toàn sự thực” của các tác giả họ Ngô, cho dù “sự thực” đó thực tế còn nhiều điều phải bàn. Như vậy, Ngô Tất Tố đánh giá cao tác phẩm, nhưng lại chỉ xem nó có giá trị sử học.
Cũng trong năm 1958, khi in tái bản Hoàng Lê nhất thống chí lần hai, học giả Đào Duy Anh đã có nhìn nhận khác hơn Ngô Tất Tố trong Tựa tái bản. Ông nhận thấy “tính chất hai khía của bộ sách này, vừa là một tác phẩm sử học, vừa là một tác phẩm văn học”,chất sử học chính là những sự thật lịch sử mà người ta có thể đối chiếu với các sách sử thời Lê mạt,“ nhưng cái đặc sắc của sách này là ở chất văn học của nó..”,“ xung quanh những sử thực làm nòng cốt, các tác giả đã them thắt những chi tiết, đặc biệt là những câu đối thoại”, để cho những chuyện tự thuật có dáng sinh động, có vẻ chân thực (…), cái phần văn học giúp cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn cái phần lịch sử của nó (..), “ thấy được cái bước đầu của thể tiểu thuyết trong lịch sử văn học dân tộc”.1; tr.67 Việc nhắc tới những chi tiết thêm thắt, những câu đối thoại phải chăng tác giả Đào Duy Anh muốn nhắc tới những hư cấu nghệ thuật trong văn học? Và nhận định Hoàng Lê nhất thống chí là “cái bước đầu của thể tiểu thuyết trong lịch sử văn học dân tộc” đã chứng tỏ một quan niệm mới của các nhà nghiên cứu đối với tác phẩm này.
Năm 1966, trên Tạp chí Văn học, số 10, có đăng bài Tìm hiểu giá trị hiện thưc của Hoàng Lê nhất thống chí, một tác phẩm văn xuôi cổ điển tiêu biểu” của hai tác giả Mai Quốc LiênKiều Thu Hoạch. Có lẽ đây là bài nghiên cứu đầu tiên đi sâu khảo sát Hoàng Lê nhất thống chí. Các nhà nghiên cứu trong khi phân tích giá trị hiện thực của tác phẩm có điểm qua vài nét nghệ thuật nổi bật của nó. Thứ nhất là thành công của tác phẩm khi “ xây dựng lên được những điển hình đa dạng, có tính chất khái quát”,“ thế giới nhân vật phong phú, nhiều nhân vật mang dấu ấn thời đại “gân guốc hào hùng hoặc đau thương”, “các tính cách va chạm vào nhau (..), tác giả nắm lấy bối cảnh mà trong đó nhân vật bộc lộ rõ nhất tính cách và mô tả nhân vật qua một vài hành động, một vài câu nói…”31; tr.7677. Các tác giả bài viết phân tích kỹ hai nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh ( tiêu biểu cho thời đại) và Nguyễn Huệ ( tính chất anh hùng được chú ý miêu tả thông qua những sự việc bình thường), đồng thời khẳng định nhân vật một cách truyền thống, ước lệ.Thứ hai, Hoàng Lê nhất thống chí có kết cấu lối tiểu thuyết chương hồi cổ điển.
Và thứ ba, về ngôn ngữ, hai nhà nghiên cứu kết luận Hoàng Lê nhất thống chí có hình thức văn tự sự bậc thầy, đối thoại hay, bộc lộ được tính cách nhân vật.Như vậy, với bài viết của các tác giả Mai Quốc Liên, Kiều Thu Hoạch, Hoàng Lê nhất thống chí đã được khám phá dưới góc độ tác phẩm văn học có giá trị nội dung hiện thực và cũng có nghệ thuật đặc sắc. Dù mới chỉ là bước đầu điểm qua nghệ thuật tác phẩm song những nhận xét của tác giả về nhân vật, ngôn ngữ..là chính xác, hợp lý.
Sau đó, nhà nghiên cứu Đỗ Đức Dục có bài viết Tính cách điển hình trong Hoàng Lê nhất thống chí in trên Tạp chí Văn học, số 9 năm 1968. Tác giả nghiên cứu cách xây dựng tính cách nhân vật trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia. ng nhận thấy một thế giới nhân vật đa dạng, tính cách, hành động, lời nói của nhân vật được đặt trong những hoàn cảnh căng thẳng, những quan hệ phức tạp, những trường hợp khá điển hình, phong cách miêu tả đơn giản, cô đọng, rất Việt Nam” 9;tr.7.Tác giả coi tính cách điển hình như một nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc xác định phương pháp hiện thực chủ nghĩa của tác phẩm. Từ đó, tác giả đi đến kết luận: nhân vật trong Hoàng Lê nhất thống chí mới đạt đến mức điển hình “tâm lí thời phục hưng phương Tây” chứ chưa vươn đến điển hình xã hội như chủ nghĩa hiện thực phê phán thế kỉ XIX ở phương Tây”. Với những ý kiến đánh giá nhạy bén, sắc sảo, đây là công trình đáng để ta suy ngẫm về hệ thống nhân vật trong tác phẩm.
Lê Trí Viễn với cuốn Hoàng Lê nhất thống chítác phẩm chọn lọc trong nhà trường (1969) đã giới thiệu khá kĩ về Hoàng Lê nhất thống chí, từ tác giả đến giá trị tác phẩm. Nhờ công trình này, bạn đọc, đặc biệt là giáo viên, học sinh trong nhà trường phổ thông có dịp tiếp cận, đánh giá, nhìn nhận tác phẩm một cách toàn diện, hệ thống, với tư cách là một tác phẩm văn học thực sự, với tất cả đặc sắc nội dung và nghệ thuật của nó.
Năm 1975, tác giả Phan Cự Đệ trong cuốn Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã đánh giá Hoàng Lê nhất thống chí là “ đỉnh cao nhất của các tác phẩm văn xuôi bằng chữ Hán” (…), dường như kết tính được những thành tựu nghệ thuật của tác phẩm truyền kì, tùy bút, kí sự từ thế kỉ XVIII trở về trước 12,tr.456. Quan điểm của tác giả Phan Cự Đệ cũng gần với quan điểm của nhà nghiên cứu Đỗ Đức Dục khi cho rằng Hoàng Lê nhất thống chí đã xây dựng được “ những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình” và Hoàng Lê nhất thống chí là “ cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tiên ở nước ta bước đầu được viết theo phương pháp hiện thực chủ nghĩa” 12;tr.465
Nguyên Lộc trong bộ giáo trình Văn học Việt Nam ( nửa cuối thể kỉ XVIIInửa đầu thế kỉ XIX) xuất bản năm 1976 nhận thấy chất trào phúng, khôi hài, châm biếm sâu cay và chất anh hùng ca của tác phẩm.Tất cả làm nên ngòi bút phong phú, đa dạng, “ nhiều sắc thái thẩm mỹ” (32;tr.253) của Hoàng Lê nhất thống chí. Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, công phu,
Năm 1984, trên tạp chí văn học ,số 2, trong bài viết Hoàng Lê nhất thống chí và truyền thống của tiểu thuyết Viễn Đông, nhà nghiên cứu B.L.Riptin đã so sánh Hoàng Lê nhất thống chí với các tiểu thuyết Viễn Đông và rút ra kết luận: “Hoàng Lê nhất thống chí không phải là một bản ghi chép có tính chất biên niên và là một tác phẩm kí sự mà là một cuốn tiểu thuyết do tác giả họ Ngô viết về những sự kiện mà họ chính là những người được chứng kiến và tham gia vào đó” 53; tr.35. Như vậy, thêm một lần các nhà nghiên cứu khẳng định giá trị nghệ thuât của cuốn tiểu thuyết này.
Năm 1990, ở cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thể kỉ XVIIIđầu thế kỉ XIX, tác giả chương IVHoàng Lê nhất thống chí, Hoàng Hữu Yên, nhận xét các tác giả Ngô gia sử dụng nghệ thuật châm biếm ở mức độ “khá đạt”68;tr.22. Nhận định của tác giả đã góp phần khẳng định thành tựu của Hoàng Lê nhất thống chí ở nghệ thuật trào phúng.
Năm 1997, trên tạp chí Hán Nôm số 3, tác giả Trần Nghĩa có bài viết Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, nội dung và nghệ thuật. Trong bài viết này, tác giả đã khái quát một số đặc điểm nghệ thuật của Hoàng Lê nhất thống chí như việc khắc họa nhân vật, tường thuật sự kiện, cấu trúc tác phẩm theo kiểu chương hồi…Tác giả cũng nhận thấy trong tác phẩm có sự kết hợp đó tạo cho tác phẩm “ tuy thực mà hư, tuy hư mà thực” 31; tr.24 bởi lịch sử đã được tái hiện một cách nghệ thuật.
Cũng trong năm 1997, nhà nghiên cứu Phạm Tú Châu đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách Hoàng Lê nhất thống chívăn bản, tác giả và nhân vật.Đây là một công trình khảo cứu chuyên sâu về nhiều mặt tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí từ tác giả, tác phẩm cho đến hệ thống nhân vật. Khi đi sâu tìm hiểu hệ thống nhân vật của tác phẩm, tác giả Phạm Tú Châu chú ý nhiều đến các nhân vật nữ, các nhân vật nho sĩ Tràng An và vua quan Trung Hoa, từ đó đi đến kết luận: “ Nghệ thuật miêu tả tính cách, thể hiện nội tâm nhân vật đã đạt đến mức độ tài tình” 6;tr.179
Năm 2000, trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 3, Tiểu thuyết chương hồi, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na đã nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc, có hệ thống về nghệ thuật của Hoàng Lê nhất thống chí. Trong công trình của mình, tác giả đã chỉ ra bảy nét nghệ thuật độc đáo của tác phẩm. Ở mỗi nét đặc sắc nghệ thuật, ông đều có những kiến giải rất cụ thể, thấu đáo, khoa học với nhiều phát hiện thú vị, mới mẻ.
Năm 2002, nhà nghiên cứu Lại Văn Hùng có bài tiểu luận in trong cuốn Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỉ XX của viện văn học với nhan đề : Vạn Xuân,Hồ Quý Ky trên nền tiểu thuyết lịch sử. Tác giả đã nhận xét về giọng điệu của tác phẩm, “sự pha trộn hài hòa giữa cái bi tráng và cái hài hước”, nhà nghiên cứu đề cập đến tính chất “dân chủ” trong văn phong tiểu thuyết của Ngô gia.
Tóm lại, qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, chúng tôi nhận thấy, cơ bản có hai xu hướng: Xu hướng thứ nhất là các công trình nghiên cứu giới thiệu chung về tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí với tư cách là một tiểu thuyết lịch sử viết theo thể chương hồi xuất sắc nhất của văn học Việt Nam thế kỉ XVIII. Xu hướng thứ hai là các chuyên luận, bài báo, giáo trình… trực tiếp nghiên cứu, phê bình về nội dung và nghệ thuật của Hoàng Lê nhất thống chí.Tuy chưa có sự thống nhất ý kiến giữa các nhà nghiên cứu về vấn đề thể loại của Hoàng Lê nhất thống chí nhưng xét dưới góc độ một tác phẩm văn chương, các tác giả đều đánh giá cao giá trị của tác phẩm này.
2.2. Về nghệ thuật trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí
Năm 1969, nhà nghiên cứu Lê Trí Viễn khi soạn cuốn Hoàng Lê nhất thống chítác phẩm chọn lọc dùng trong nhà trường đã giới thiệu khá kĩ về tác gia và tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí.Lê Trí Viễn gọi đó là “ một cuốn truyện sử”, “một sáng tác văn học đúng với ý nghĩa của nó”. Điểm mới mẻ là tác giả Lê Trí Viễn đã nhận thấy trong tác phẩm một ngòi bút khôi hài kín đáo pha lẫn một ngòi bút trang trọng thấm chất anh hùng ca. Phát hiện này được nhiều nhà nghiên cứu sau ông tiếp tục khai thác.
Năm 1976, tác giả Nguyễn Lộc trong chương V, bộ giáo trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIIIhết thế kỉ XIX coi Hoàng Lê nhất thống chí là một “ kí sự về lịch sử”, là sự kết hợp “ tương đối hài hòa chân lí lịch sử với chân lí nghệ thuật”.Theo ông, sự kết hợp hài hòa đó thể hiện ở chỗ các tác giả họ Ngô đã kể các sự việc kết hợp với miêu tả không khí xảy ra sự việc và chú ý cả cách các nhân vật hành động.Cũng như Lê Tri Viễn, ông nhận thấy chất trào phúng, khôi hài, châm biếm sâu cay và chất anh hùng ca của tác phẩm.,
Năm 1990, trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIIInửa đầu thế kỉ XIX, ở chương IVHoàng Lê nhất thống chí, tác giả Hoàng Hữu Yên đã xếp Hoàng Lê nhất thống chí vào thể loại tiểu thuyết lịch sử kí sự, một tác phẩm văn học thực sự chứ không phải một cuốn sử biên niên.Từ đó, tác giả nhận xét diễn biến của truyện phát triển theo diễn biến lịch sử, cách xây dựng nhân vật khá sắc sảo về cá tính, tâm lí và cả ngoại hình.Tuy nhiên bút pháp xây dựng nhân vật điển hình “ còn có nhược điểm”. Tác giả cũng nhận xét nghệ thuật châm biếm được tác giả Ngô gia sử dụng khá đạt.
Năm 2000, trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt nam thời trung đại, tập 3, Tiểu thuyết chương hồi, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na đã nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc, có hệ thống về nghệ thuật của Hoàng Lê nhất thống chí.Trong công trình của mình, tác giả đã chỉ ra bảy nét nghệ thuật độc đáo của tác phẩm. Ở mỗi nét đặc sắc nghệ thuật, ông đều có những kiến giải rất cụ thể, thấu đáo, khoa học với nhiều phát hiện thú vị, mới mẻ.Nét đặc sắc thứ bảy là “ trong Nhất thống chí có cả cái hào hùng, cái bi tráng và cái hài hước. Hai giọng điệu ngợi ca và trào lộng dường như song hành và hỗ trợ cho nhau tạo thành tiếng nói riêng vừa mới vừa độc đáo”. Đây là một công trình nghiên cứu chất lượng, đầy tâm huyết, giàu giá trị khoa học, hỗ trợ đắc lực cho chúng tôi thực hiện đề tài này.
Năm 2002, nhà nghiên cứu Lại Văn Hùng có bài tiểu luận in trong cuốn Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỉ XX với nhan đề: Vạn Xuân, Hồ Quý Ly trên nền tiểu thuyết lịch sử. Trong bài viết này, tác giả có bàn đến tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí như một cái mốc của tiểu thuyết lịch sử bằng chữ Hán. Về giọng điệu tác phẩm, tác giả nhận xét đó là “ sự pha trộn hài hòa giữa cái bi tráng và cái hài hước” 22,tr.56. Bài viết đã cho chúng ta thấy cơ sở, nền tảng để đánh giá về giọng điệu trào phúng của tác phẩm.
Có thể nói, các tác giả đã cho chúng ta cái nhìn tổng thế về đặc sắc nghệ thuật trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí, nghệ thuật trào phúng được khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau, từ nhân vật, đến giọng điệu, ngôn từ…và đã đạt được những thành tựu nhất định, bước đầu làm rõ tiếng cười trào phúng trong tác phẩm.
2.3. Về ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí
Nhà nghiên cứu Lê Trí Viễn khi soạn cuốn Hoàng Lê nhất thống chítác phẩm chọn lọc trong nhà trường (1969), sau khi chọn lọc một số chương tiêu biểu và chú thích, đã giới thiệu khá kĩ tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí từ tác giả đến giá trị tác phẩm.Với cuộc tranh luận còn chưa ngã ngũ về thể loại của tác phẩm này, ông gọi nó là một cuốn truyện sử một sáng tác văn học đúng với ý nghĩa của nó.Điểm mới mẻ là tác giả đã nhận thấy trong tác phẩm một ngòi bút khôi hài kín đáo pha lẫn một ngòi bút trang trọng thấm chất anh hùng ca.Phát hiện này được nhiều nhà nghiên cứu sau ông khai thác tiếp.
Nhà nghiên cứu Phạm Tú Châu trong Hoàng Lê nhất thống chívăn bản, tác giả và nhân vật đã có những nhận xét rất sắc sảo về ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ mang đậm chất trào phúng sâu cay: “ Chúng giúp nhân vật trở nên sống động, ngôn ngữ nhân vật vừa hài hước vừa triết lí, giúp các nhà văn họ Ngô trốn được cách trực tiếp mô tả hình tượng và tâm lí nhân vật” 7; tr.37. Những nhận xét ấy rất hợp lí, thuyết phục, tuy nhiên, tác giả chưa chứng minh triệt để, để ngỏ cho người đọc tìm chi tiết trong tác phẩm.
Bùi Thu Hằng trong luận văn Mấy nét đặc sắc nghệ thuật của Hoàng Lê nhất thống chí dành hẳn chương III nói về Ngôn ngữ Hoàng Lê nhất thống chí, trong đó tác giả đặc biệt nhấn mạnh tính chất trào phúng của ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ trần thuật “ sắc sảo, dường như lạnh lùng, khách quan tái hiện lại những cảnh thực nhưng đằng sau mỗi lời kể đó lại ẩn chứa nụ cười mỉa mai, châm biếm sâu cay”. Luận văn tuy mang tính phát hiện, có cái nhìn tổng quan về những điểm nhấn nghệ thuật của Hoàng Lê nhất thống chí nhưng vấn đề ngôn ngữ trào phúng lại rất mờ nhạt.
Trong luận văn Bút pháp trào phúng trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, tác giả Hoàng Thị Thảo đã dành hẳn chương III Bút pháp trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí thể hiện qua ngôn ngữ nghệ thuật để phân tích tính chất trào phúng của ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ người trần thuật trong tác phẩm này. Tác giả đi đến kết luận : “ Ngôn ngữ nhân vật xuất hiện cả ở hai dạng đối thoại và độc thoại nhưng bút pháp trào phúng chủ yếu được sử dụng để xây dựng ngôn ngữ đối thoại.Tiếng cười hầu như không xuất hiện ở các lượt độc thoại của nhân vật. Ngôn ngữ trần thuật xuất hiện cả ở dạng lời dẫn gián tiếp một giọng và lời dẫn gián tiếp hai giọng. Các điểm nhìn trào phúng của các tác giả luôn luôn thay đổi tạo nên một cách kể chuyện sinh động, hấp dẫn” 57;tr.68. Có thể nói đây một luận văn đầy tâm huyết, giàu giá trị khoa học, là gợi ý lớn cho người viết thực hiện đề tài này.
Như vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề ngôn ngữ trào phúng trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí có thể thấy, các tác giả đều chú trọng phân tích ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ kể chuyện, chỉ ra những hiệu quả thẩm mỹ của việc dùng ngôn ngữ trào phúng vào việc xây dựng tính cách nhân vật, tạo ra sự hấp dẫn cho lời kể. Tuy nhiên, ngoài luận văn của Hoàng Thị Thảo, dành chương cuối để nói về ngôn ngữ trào phúng, các tài liệu còn lại chỉ để cập đến ngôn ngữ trào phúng như một yếu tố làm nên đặc sắc nghệ thuật cho tác phẩm, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng lê nhất thống chí một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện. Chính vì vậy, với việc tìm hiểu ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí, tác giả khóa luận mong muốn góp một phần nhỏ vào hoạt động nghiên cứu Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái nói riêng và nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử chương hồi Việt Nam thời trung đại nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí. Ở đây chúng tôi sử dụng bản dịch Hoàng Lê nhất thống chí của dịch giả Nguyễn Đức Vân và Kiều Thu Hoạch, NXB Văn học, Hà Nội, 2006
Phạm vi nghiên cứu: Ở đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát ngôn ngữ trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái. Để làm nổi bật điều đó, chúng tôi có so sánh với một số tác phẩm tiểu thuyết chương hồi khác như: Nam triều công nghiệp diễn chí (Nguyễn Khoa Chiêm), Hoàng Việt long hưng chí (Ngô Giáp Đậu), Tam quốc diễn nghĩa ( La Quán Trung)
4. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả khóa luận sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích, tổng hợp
5. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được triển khai thành ba chương:
Chương I: Khái lược về khuynh hướng trào phúng trong văn học trung đại Việt Nam
Chương II: Chất trào phúng của ngôn ngữ kể chuyện trong Hoàng Lê nhất thống chí
Chương III: Chất trào phúng của ngôn ngữ nhân vật trong Hoàng Lê nhất thống chí
6. Đóng góp của khóa luận
Trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu từng phương diện của nghệ thuật trào phúng trong Hoàng Lê nhất thống chí, tác giả khóa luận sẽ tiếp tục nghiên cứu trên một mức độ mới, từ đó hệ thống hóa các nội dung cơ bản của ngôn ngữ trào phúng trong tác phẩm như một chỉnh thểmột bức tranh toàn cảnh, toàn thể và biện chứng.
Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể sẽ đem lại cho việc nghiên cứu và dạy Hoàng Lê nhất thống chí một tài liệu tham khảo đã được cấu trúc thành chuyên đề. Trong đó, vấn đề ngôn ngữ nổi bật lên trong chỉnh thể nghệ thuật, bút pháp trào phúng của tác phẩm chắc chắn sẽ có một ý nghĩa thực tiễn, ứng dụng nhất định.

NỘI DUNG
CHƯƠNG I: Khái lược về khuynh hướng trào phúng trong văn học trung đại Việt Nam

1.1. Từ cái hàimột phạm trù mĩ họcđến văn học trào phúng
1.1.1. Cái hàimột phạm trù mĩ học
Cũng như cái bi, cái hài có mặt từ rất sớm với tư cách là một phạm trù thẩm mỹ, trở thành đối tượng thu hút sự chú ý, sự lý giải của nhiều học giả. Trong lịch sử tư tưởng mỹ học, cái hài được nhận định là kết quả của sự tương phản, sự bất đồng, sự mâu thuẫn giữa cái xấu và cái đẹp (theo Arixtốt), cái thấp hèn và cái cao cả (theo Kant), tính bất lực bên trong và vẻ bề ngoài cố tỏ ra là thực chất , giữa bản chất và hiện tượng (theo Heghen), cái vô lý và hữu lý (theo Paul Sar)…Việc tìm hiểu cái hài, thể hiện một nguyện vọng khám phá bản chất của một kiểu quan hệ đặc thù của con người với thế giới, một hình thức độc đáo của nhận thức và đánh giá hiện thực.
“Cái hài là một phạm trù cơ bản dùng để nhận thức về một phương diện trong quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực. Cái hài tồn tại phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng được phản ánh tập trung và điển hình trong thể loại hài kịch” 19;tr.115
Bản chất của cái hài là sự mâu thuẫn, sự không tương xứng mà người ta có thể cảm nhận được về phương diện xã hộithẩm mỹ (chẳng hạn giữa hình thức với nội dung, hành động với tình huống, mục đích và phương tiện, bản chất và biểu hiện). Trong đó, “hoặc là chính bản thân mâu thuẫn hoặc là một trong những mặt của nó đối lập với những lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp” 19;tr.tr.35. Nó được bật lên từ mâu thuẫn giữa sự trống rỗng và sự vô nghĩa bên trong được che đậy bằng một “cái vỏ huênh hoang tự cho rằng có nội dung và ý nghĩa thực sự” 19;tr.36.
Cái hài thường gắn với tiếng cười. Tiếng cười là yếu tố không thể vắng mặt trong cái hài, bởi đó là dấu hiệu xác nhận mối quan hệ chủ thểkhách thể. Nếu cái hài là một hiện tượng khách quan thì cái cười là phản ánh chủ quan của con người trước đối tượng khách quan đó. Cái hài, do vậy thuộc về khách thể thẫm mỹ, còn lại tiếng cười lại thuộc chủ thể thẩm mỹ. Cái cười là kết quả của cái hài. Khi bị cù, khi trong lòng cảm thấy vui sướng, người ta có thể cười nhưng đó là cái cười sinh lý. Tiếng cười mang tính chất hàivới tư cách là một phạm trù thẩm mỹ trước hết phải có đối tượng đáng cười, tức là cái có thể gây cười và bị cười. Đối tượng của cái hài chủ yếu là những hiện tượng tiêu cực, chứa đựng những mâu thuẫn có khả năng gây cười. Những hiện tượng ấy tồn tại một cách khách quan trong mỗi con người và trong đời sống xã hội. Đó là những gì không phù hợp với lý tưởng thẩm mỹ, với những chuẩn mực về cái đẹp đã được xã hội thừa nhận, là những gì đi chệch với quy luật phát triển bình thường của cuộc sống. Cụ thể, đó là những thói hư tật xấu, những thiếu sót, điểm yếu, những măt trái, mặt tiêu cực của đối tượng như: thói xu nịnh, háo danh, giả dối, độc ác, dốt nát, tham lam, khoác lác, ích kỉ, nhỏ nhen, ngốc nghếch, vụng về…
Ngoài đối tượng gây cười còn phải có chủ thể cười. Đây là mặt thứ haimặt chủ quan của cái hài. Không có nó, không có cái hài. Bản thân đối tượng cười không thể gây nên tiếng cười nếu chủ thể không nhận thức được những mâu thuẫn chứa đựng trong nó. Đặc điểm của nhận thức gắn với tiếng cười là sự khám phá một số loại mâu thuẫn nào đó trong sự vật, hiện tượng và quan sát, soi chiếu chúng ở một góc nhìn khác, một khía cạnh khác, từ góc độ của cái hài, Platon từng viết: “ Trong thực tế, không thể nhận thức được cái nghiêm chỉnh nếu thiếu cái buồn cười, và nói chung, cái đối lập được nhận thức nhờ cái đối lập với nó”. Dĩ nhiên, để có thể nhận thức, đòi hỏi ở chủ thể một năng lực trí tuệ sắc sảo, linh hoạt với những mâu thuẫn và sự tương phản.
Từ những cơ sở trên, có thể khái quát rằng: Cái hài là một phạm trù mĩ học cơ bản dùng để nhận thức và đánh giá một loại hiện tượng đời sống, đó là những cái xấu nhưng cố sức chứng tỏ là đẹp. Khi mâu thuẫn này bị phát hiện đột ngột sẽ tạo nên tiếng cười tích cực, có ý nghĩa phê phán, phủ định cái xấu nhân danh cái đẹp. Tiếng cười trong cái hàiđó là sự chiến thắng của cái đẹp đối với cái xấu.
Trong cái hài, tiếng cười thường có nhiều cung bậc và mang những sắc thái khác nhau. Người ta thường coi umua, hài hước là cung bậc đầu tiên và châm biếm là cung bậc cuối cùng. Trong u mua, phép biện chứng của trí tưởng tượng phóng khoáng hé mở cho ta thấy đằng sau cái tầm thường là cái cao quý, sau cái buồn cười là nỗi đau. Hài hước có mức độ phê phán nhẹ nhàng, chủ yếu gây cười mua vui, trên cơ sở vạch ra sự mất hài hòa, cân đối giữa nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, đặc biệt là lý tưởng và thực tế. Hài hước khéo léo nhẹ nhàng vạch ra cái mâu thuẫn, tạo ra tiếng cười bất ngờ, giúp người ta nhận ra sự trớ trêu của tình huống, mỉm cười mà phân biệt đúng sai.
Trái lại, trong châm biếm, đối tượng của tiếng cười là thói hư tật xấu nên nổi bật lên là giọng đả kích,phủ định, tố cáo, dùng lời lẽ sắc sảo, cay độc, thâm thúy để vạch trần thực chất xấu xa của những đối tượng này hay đối tượng khác trong xã hội. Châm biếm khác với umua, hài hước ở mức độ gay gắt của sự phê phán và ý nghĩa sâu sắc của hình tượng nghệ thuật. Về phương diện xã hội, phần lớn châm biếm thường chĩa mũi nhọn vào kẻ thù của tư tưởng tiến bộ trong lịch sử
Có thể thấy, cái hài trong đời sống biểu hiện vô cùng phong phú, đa dạng, thuộc mọi lĩnh vực. Còn cái hài trong nghệ thuật là sự phản ánh cái hài trong cuộc sống ở dạng tiêu biểu, tinh túy và ổn định hơn. Trong hầu hết các loại hình nghệ thuật, cái hài đều có mặt. Đặc biệt, trong văn học, nó tồn tại rất phổ biến và mạnh mẽ. Thông qua hàng loạt những thủ pháp nghệ thuật biểu hiện mang tính đặc thù như: phóng đại, cường điệu…thêm vào đó là sự sắc bén, ý nhị, hóm hỉnh của người thể hiện nên tác phẩm văn học có khả năng thâm nhập sâu vào cái hài, tập trung tô đậm, khắc sâu những mâu thuẫn mang tính hài, khiến cho nó nổi bật hơn, tiếng cười trong tác phẩm vì vậy nổ ra giòn giã, sảng khoái hơn, ý nghĩa phê phán cũng vì vậy mà thấm thía, sâu sắc hơn.
1.1.2. Văn học trào phúng
Khái niệm trào phúng theo nghĩa hẹp là một từ được kết hợp từ hai yếu tố “trào” và”phúng”. Theo Từ điển từ nguyên, “trào” là “chọc cười”, “phúng” nghĩa là “không nói thẳng” để châm biếm, cười nhạo. Trong Từ điển Từ Hải, “trào” nghĩa là lời chế giễu. Gần đây, theo tác giả Vũ Ngọc Khánh, trong công trình Thơ ca trào phúng Việt Nam và Hành trình vào xứ sở cười, khái niệm này xuất hiện lần đầu tiên trong tác phẩm Thiên Nam ngữ lục:
Rằng dương gian đứa Sĩ Thành
Đọc thơ trào phúng, thiên đình dơ doi
( Thiên Nam ngữ lục, khuyết danh)
Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên lại định nghĩa: “Trào phúng là một loại đặc biệt của sáng tác văn học và đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật, trong đó, các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước… được sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng… những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội” 17; tr.306.
Thực ra, trào phúng là một khái niệm rất phức tạp. Ở đây, tác giả khóa luận quan niệm chung về trào phúng theo nghĩa khái quát nhất là thể loại văn học nhằm gây cười. Tiếng cười trong tác phẩm trào phúng chủ yếu chế giễu, phê phán, đả kích những thói xấu trong xã hội. Những yếu tố của tiếng cười là hài hước, mỉa mai, châm biếm, đả kích, phóng đại, khoa trương…được sử dụng một cách phổ biến trong các tác phẩm trào phúng.
Văn học trào phúng chỉ xuất hiện khi xã hội chất chứa trong nó những gì tiêu cực, xấu xa, đê tiện, giả dối, làm băng hoại giá trị đạo đức, nhân cách con người, cản trở bước tiến của loài người. Mục đích, sứ mệnh của văn học trào phúng là lên án, phê phán cái xấu, giúp cho xã hội ngày một tiến bộ và tốt đẹp hơn.Tiếng cười trào phúng, do vậy, bao giờ cũng là tiếng cười của trí tuệ, của công lý và chính nghĩa. Secnưsepxki có nói “khi cười cái xấu, chúng ta trở nên cao hơn nó” 27;tr.130.
Như vậy, cái xấu, có thể nói, là đối tượng thẩm mỹ đặc biệt của văn học trào phúng. Nhưng không phải bất cứ cái xấu nào cũng đều là đích phản ánh của các tác giả. Đó phải là những cái xấu, cái tiêu cực về đạo đức, nhân cách, về lối sống, những cái không phù hợp với hoàn cảnh bình thường xung quanh, lại được che đậy dưới một vỏ bọc tưởng là tốt đep, có ý nghĩa. Từ xưa đến nay nền văn học nhân loại vẫn lưu giữ và truyền tụng nhiều tác phẩm trào phúng, nhiều vở hài kịch kinh điển gắn liền với những tên tuổi như Xecvantex, Rabơle, Môlie…Đặc biệt là Môlie, nhà hài kịch vĩ đại Pháp. Môlie nổi tiếng không chỉ vì nghệ thuật xây dựng tính cách mà còn vì nghệ thuật gây cười bậc thầy. Với sự tinh tế, nhạy cảm của người nghệ sĩ tài ba, ông đã phát hiện ra khía cạnh hài hước trong các hiện tượng, tính cách – kể cả những đối tượng có vẻ trang trọng, tôn nghiêm, đáng kính; khám phá ra được những mâu thuẫn kín đáo, những nét kệch cỡm trong cái xã hội đang lỗi thời dần, đáng cười để mà tống tiễn nó vào quá khứ.
Trong các tác phẩm trào phúng, ngôn ngữ trào phúng là một biểu hiện của ngôn từ nghệ thuật. Nhà văn thể hiện ý tưởng nghệ thuật của mình thông qua ngôn ngữ , qua thế giới hình tượng trong một cấu trúc chỉnh thể, có sự liên kết chặt chẽ giữa nội dung và hình thức. Mỗi yếu tố ngôn ngữ của tiếu thuyết trào phúng có một giá trị nghệ thuật. Và chỉ trong sự hiện thực hóa ở mức tối đa của những liên hệ ngữ cảnh mới tạo ra thông tin nghệ thuật.
1.2. Khái quát về khuynh hướng trào phúng trong văn học Việt Nam trung đại
Nằm trong nguồn mạch chung của văn chương thế giới,văn học trào phúng Việt Nam cũng đã tạo cho mình một vị trí riêng trong lịch sử văn học dân tộc. Văn học trào phúng đã trở thành một dòng chảy, khởi nguồn từ văn học dân gian, phát triển mạnh mẽ ở văn học viết, được tiếp sức bởi nhiều cây bút tài năng. Xét riêng trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam, khuynh hướng thơ văn trào phúng cũng đã nổi lên ở một số thời kì và đạt được những thành tựu nhất định.
Xem thêm

93 Đọc thêm

VĂN HỌC DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM

VĂN HỌC DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM

Lời nói đầuVăn hoá nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận đặc biệt quan trọng cấu thành văn hoá Việt Nam, làm nên bản sắc của văn hoá Việt Nam đa dạng mà thống nhất. Vì vậy, nghiên cứu văn hoá Việt Nam không thể không nghiên cứu văn hoá nghệ thuật các dân tộc thiểu số.Trong kho tàng văn hoá nghệ thuật phong phú đó, văn học dân gian có thể được xem là thành tố tiêu biểu nhất chuyển tải cả đời sống vật chất, tinh thần lẫn lịch sử phát triển của các dân tộc. Đối với các dân tộc thiểu số, do đặc thù của điều kiện sinh hoạt, vai trò chuyển tải này càng được thể hiện rõ rệt hơn. Cho tới ngày nay, khi mà văn hoá truyền thống nói chung đang phải chịu nhiều tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường, đồng thời văn học cũng đang phải chia sẻ vai trò của mình với những phương tiện thông tin khác, thì văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số vẫn còn được bảo lưu khá nguyên vẹn trong văn học dân gian, nó vẫn là kênh thông tin không chỉ giúp chúng ta tìm hiểu về quá khứ các dân tộc anh em, mà còn là thành tố giới thiệu toàn cảnh cuộc sống đương đại các dân tộc thiểu số Việt Nam.
Xem thêm

243 Đọc thêm

LUẬN VĂN: DẤU ẤN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

LUẬN VĂN: DẤU ẤN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

PHẦN MỞ ĐẦU1
1. Lí do chọn đề tài1
2. Lịch sử vấn đề2
3. Phạm vi nghiên cứu8
4. Phương pháp nghiên cứu8
5. Đóng góp của luận văn9
6. Cấu trúc luận văn9
PHẦN NỘI DUNG10
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ SỰ BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM10
1.1. Điều kiện ra đời của chủ nghĩa hiện sinh10
1.2. Những tư tưởng chính của chủ nghĩa hiện sinh13
1.3. Sơ lược về sự biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học16
1.3.1. Trong văn học thế giới16
1.3.2. Trong văn học Việt Nam22
1.4. Những tiền đề dẫn đến sự xuất hiện khá phổ biến của yếu tố hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện nay nói chung và tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương nói riêng26
1.4.1. Điều kiện xã hội26
1.4.2. Sự thay đổi trong định hướng văn học27
1.4.3. Tình hình giao lưu văn học28
1.4.4. Những nỗ lực tìm tòi của Nguyễn Bình Phương30
*Tiểu kết:32
CHƯƠNG 2: DẤU ẤN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG THỂ HIỆN Ở CẢM QUAN VỀ HIỆN THỰC33
2.1. Hiện thực mang tính chất vô nghĩa, tẻ nhạt33
2.1.1. Hiện thực đơn điệu, nhàm chán lặp đi lặp lại33
2.1.2. Sự nhạt hóa các giá trị tinh thần37
2.2. Hiện thực mang màu sắc phi lý42
2.2.1. Không gian, thời gian mang tính bất định42
2.2.2. Hiện thực mang đậm màu sắc huyền thoại48
2.3. Hiện thực chứa nhiều bất trắc50
2.3.1. Hiện thực chứa đầy những yếu tố ngẫu nhiên, bất thường50
2.3.2. Những giá trị đời sống bị đảo lộn54
2.4. Hiện thực mang tính phân rã, hỗn loạn56
2.4.1. Sự đan xen giữa cõi dương và cõi âm 57
2.4.2. Sự lẫn lộn giữa cuộc sống của những con người bình thường với những người điên loạn62
* Tiểu kết:66
CHƯƠNG 3: DẤU ẤN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG THỂ HIỆN Ở CẢM QUAN VỀ CON NGƯỜI67
3.1. Con người lo âu, hoài nghi67
3.1.1. Con người lo âu, hoài nghi về sự tồn tại của bản thể67
3.1.2. Lo âu, hoài nghi về sự suy tàn của nhân tính, trí nhớ, danh vị71
3.2. Con người cô đơn, lạc loài77
3.2.1. Con người cô đơn trong không gian, thời gian78
3.2.2. Con người lạc loài với cộng dồng80
3.3. Con người tha hóa83
3.3.1. Con người tha hóa do môi trường sống83
3.3.2. Con người tha hóa do không chế ngự được dục vọng của bản thân89
3.4. Con người với khát vọng dấn thân92
3.4.1. Khát vọng muốn thoát khỏi cuộc sống thực tại bi đát.93
3.4.2. Khát vọng muốn khẳng định giá trị của bản thân96
*Tiểu kết:98
PHẦN KẾT LUẬN99
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO102
Xem thêm

112 Đọc thêm

QUÁ TRÌNH VĂN HỌC VÀ PCVH TIẾT 2

QUÁ TRÌNH VĂN HỌC VÀ PCVH TIẾT 2

Tiết 62, QUÁ TRÌNH VĂN HỌC VÀ PHONG CÁCH VĂN HỌCNgày soạn : 02 112014 (Tiết 1)Ngày dạy : 12 112014I. CHUẨN KTKN Nắm được khái niệm quá trình văn học và bước đầu có ý niệm về trào lưu văn học. Hiểu được khái niệm phong cách văn học, bước đầu nhận diện những biểu hiện của phong cách văn học.II. MỤC TIÊU BÀI HỌC: Qua bài học, giúp HS nắm được:1. Kiến thức: Khái niệm quá trình văn học và trào lưu văn học. Bước đầu có ý niệm về trào lưu văn học.2. Kĩ năng: Nhận diện các trào lưu văn học.3. Thái độ Biết vận dụng những kiến thức lí luận về quá trình văn học và trào lưu văn học để nhìn ngắm lại các tác giả, tác phẩm đã học trong chương trình.III. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌCSách giáo khoa Ngữ văn 12 – tập 1.Sách giáo viên Ngữ văn 12 – tập 1.Bài tập Ngữ văn 12 – tập 1.IV. CÁCH THỨC TIẾN HÀNH Tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp: thảo luận nhóm, diễn giảng, nêu vấn đề….V. TIẾN TRÌNH BÀI HỌC1. Ổn định chung:2. Kiểm tra bài cũ: không 3. Bài mới: Hoạt động trải nghiệm ( Lời vào bài)? Trong chương trình ngữ văn THPT, các em đã được học những bài khái quát nào về nền văn học Việt Nam ? ở các bài học đó tác giả viết SGK đã quan tâm đến yếu tố nào trong các yếu tố sau:+Sự phân kì Vh+TP VH+Tg các dòng, xu hướng VH tiêu biểu+Người đọc, các tổ chức hội đoàn Vh, các hoạt động xuất bản VH?GV dẫn bài:Chương trình Ngữ văn có những bài Khái quát về VHVN được học trước khi tìm hiểu 1 tp cụ thể. Điều được quan tâm, nghiên cứu trong các bài khái quát đó là bản thân sự vận động của nền VHVN trong quá khứ. Người ta gọi đó là nghiên cứu LSVH.Nhưng nếu chỉ nghiên cứu lịch sử VH thì chưa đủ. Bên cạnh bản thân sự vận động qua các thời kì lịch sử khác nhau còn có những yếu tố khác làm nên tổng thể đời sống văn học như người đọc, sự tiếp nhận VH, các hoạt động nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, xuất bản phát hành, các hình thức tồn tại của VH, ảnh hưởng qua lại của VH với các hình thái ý thức XH khác. Nghiên cứu sự vận động của VH trong tổng thể vận động của các yếu tố trên chính là nghiên cứu quá trình VH.Hoạt động của GV và HSYêu cầu cần đạtHo¹t ®éng hình thành kiến thức mới; Hoạt động thực hànhHoạt động 1: GV hướng dẫn HS tìm hiểu Quá trình VH? Thế nào là Quá trình văn học ? ? Quá trình VH bao gồm các yếu tố nào ? –HS xem SGK trả lời(Slide 2, 3)GV: >Quá trình văn học là sự vận động của văn học trong tổng thể.? Sự vận động của QTVH tuân theo những qui luật chung nào? –HS xem SGK trả lờiGv (trình chiếu Slide 5) chốt kiến thức sau khi học sinh trả lời các quy luật VH. Phân tích ví dụ cụ thể cho từng quy luật.? Kể tên các tg, tp giai đoạn 19301945 đều có chung đề tài sáng tác, phản ánh là “sự thực ở đời”? HS suy nghĩ, trả lờiGv: N.C.Hoan: Bước đường cùng, Đồng hào có ma.N.T.Tố: Tắt đèn, Việc làngV. T.Phụng: Số đỏN. Cao: Chí Phèo, Lão HạcNguyên Hồng: Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu>Các nhà văn trên đã tạo nên 1 phong trào sáng tác văn học hiên thực phê phán sôi nổi, rộng lớn trên văn đàn.?Vậy ac hiểu thế nào là trào lưu văn học ? (TLVH)>GV: TLVH là một hiện tượng có tc lịch sử. Một TLVH có thể có nhiều khuynh hướng và trường phái VH.? Khái niệm TLVH có mối liên hệ ntn với QTVH?Hs trả lời, gv chốt ý: TLVH là hoạt động nổi bật của QTVH.? TG viết SGK đã liệt kê những trào lưu VH lớn nào trên thế giới và ở Việt Nam ?HS xem SGK trả lời.(HS kẻ bảng theo slide 7 ) GV giới thiệu qua một số trào lưu văn học lớn trên thế giới. Đưa ra một kết luận: hiện tượng có nhiều nhà văn cùng đi theo một khuynh hướng sáng tác.Gv cho hs thấy sự ảnh hưởng của các trào lưu đó với văn học VN qua từng thời kì. I. Quá trình văn học1. Quá trình văn học Quá trình văn học ( QTVH) la diễn tiến của VH với sự hình thành, tồn tại, thay đổi, phát triển của toàn bộ đời sống VH qua các thời kì lịch sử . Các yếu tố của QTVH : +Tất cả các tpVH với chất lượng khác nhau.+ Tất cả các hình thức tồn tại của VH bao gồm chép tay, truyền miệng, in ấn.+ Các thành tố của đời sống VH : tác gỉa, người đọc, các hình thức tỏ chức hội đoàn, các hoạt động nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, xuất bản...+Ảnh hưởng qua lại giữa VH với các loại hình NT, các hình thái ý thức XH khác... Các qui luật chung của QTVH:+ Quy luật gắn bó với đời sống.+ Quy luật kế thừa và cách tân.+ Quy luật bảo lưu và tiếp biến.2. Trào lưu văn học TLVH là phong trào sáng tác tập hợp những tác giả, tác phẩm gần gũi nhau về tư tưởng, cảm hứng nghệ thuật, về nguyên tắc miêu tả hiện thực, tạo nên một dòng chảy rộng lớn, bề thế trong đời sống văn học của một dân tộc hoặc của một thời đại.> TLVH là hoạt động nổi bật của QTVH.Các trào lưu VH tiêu biểu trên thế giới và ở Việt Nam : (Bảng bên dưới) Các trào lưuVH tiêu bểu trên thế giới:TÊN TRÀO LƯUNƠI XUẤT HIỆN, THỜI GIANNỘI DUNGTÁC GIẢ TIÊU BIỂUPhục HưngChâu ÂuThế kỉ: XV, XVI Đề cao con người, giải phóng cá tính, chống lại tư tưởng khắc nghiệt thời Trung cổ.Xécvantéc SếchxpiaChủ nghĩa cổ điểnPhápThế kỉ XVII Coi văn học cổ đại là hình mẫu lí tưởng, luôn đè cao lí trí, sáng tác theo qui phạm chặt chẽ.Coocnây MôlieChủ nghĩa lãng mạnCác nước Tây Âu Sau CMTS Pháp, 1789 Đề cao những nguyên tắc chủ quan, thường lấy đề tài trong thế giới tưởng tượng của nhà văn, xây dựng hình tượng nghệ thuật phù hợp với lí tưởng, ước mơ của nhà văn V. Huygô SileChủ nghĩa hiện thực phê phánChâu Âu Thế kỉ XIThiên về những nguyên tắc khách quan, chú ý chọn đề tài trong cuộc sống hiện thực, quan sát thực tế để sáng tạo các điển hình. Bandắc Lép TônxtôiChủ nghĩa hiện thực xã hội XHCN Nga , Braxin Thế kỉ XXMiêu tả cuộc sống trong quá trình phát triển cách mạng, đề cao vai trò lịch sử của nhân dânMácxim Gorơki Giooc giơ AmađoChủ nghĩa siêu thựcPháp 1922Quan niệm thế giới trên hiện thực mới là mảnh đất sáng tạo của nghệ sĩ. Anđrê Brơtông.Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mĩ Latinh Sau CTTG IIQuan niệm thực tại còn bao gồm đời sống tâm linh, niềm tin tôn giáo, các huyền thoại....Gácxia Makét.Chủ nghĩa hiện sinh Châu Âu Sau CTTG IIMiêu tả cuộc sống con người như một sự tồn tai huyền bí, xa lạ và phi lí Anbe Camuy Các trào lưu VH ở Việt Nam:TÊN TRÀO LƯUTHỜI GIANTHỂ LOẠITrào lưu lãng mạn19301945 Thơ mới: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử... Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn: Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam...Trào lưu hiện thực phê phán19301945Truyện ngắn: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố....Trào lưu hiện thực XHCNSau Cách mạng tháng Tám 1945 Thơ: Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận.... Truyện ngắn: Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Anh Đức..... Hoạt động ứng dụng: 1. Luyện tập:? Ở VN có những trào lưu VH nào ?Tác giả tiêu biểu ?( HS nhắc lại kiến thức mục 2. TLVH, nội dung: các TLVH tiêu biểu ở VN.2. Củng cố, dặn dòCủng cố: cần nắm các nội dung chính của bài học: Khái niệm QTVH, TLVH, tên và tg tiêu biểu nhứng trào lưu VH lớn trên thế giới và ở VN.Dặn dò: giờ sau: QTVH và PCVH tiết 2. Hoạt động bổ sung: Những tác phẩm của các tác giả sau đây thuộc trào lưu văn học nào ở VN?1.Vội vàng Xuân Diệu2. Đây thôn Vĩ Dạ Hàn Mạc Tử3. Hai đứa trẻ (Thạch Lam)4. Chí Phèo – Nam Cao5. Số đỏ Vũ Trọng Phụng6. Việt Bắc – Tố Hữu
Xem thêm

23 Đọc thêm

TỔNG KẾT LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI

TỔNG KẾT LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI

– KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Về cấu trúc, nền văn học Việt Nam thời trung đại được cấu tạo bởi hai bộ phận phát triển song song và có tác động qua lại trong quá trình lịch sử: văn học dân gian và văn học viết.  Hai bộ phận văn học này cũng như các thành phần văn học chữ Hán và chữ Nôm thời trung đại có quan hệ mật thiết và tác động qua lại sâu sắc trong quá trình phát triển. 2. Về quá trình lịch sử, sự vận động, phát triển và biến đổi của văn học Việt Nam thời trung đại có quan hệ rất chặt chẽ với các phương diện của lịch sử đất nước, nhất là lịch sử xã hội, chính trị, văn hoá, tư tưởng. Lịch sử văn học viết nước ta từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX có thể chia làm hai giai đoạn lớn với mốc là thế kỉ XVIII. Tuy nhiên, mốc thế kỉ XVIII không hề cắt đứt hai giai đoạn mà vẫn thấy được sự kế thừa, phát huy những thành tựu của giai đoạn trước ở giai đoạn sau. 3. Các đặc điểm cơ bản của nền văn học Việt Nam thời trung đại thể hiện ở quan niệm văn học, nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật. Về quan niệm văn học, với khái niệm văn được hiểu rất rộng, người xưa coi trọng loại văn học thuật, hành chính, văn đạo lí, các loại văn nghệ thuật diễn tả tình cảm thẩm mĩ không được đánh giá cao; các thể loại vừa có ranh giới khá rõ rệt vừa có sự đan xen; nhiệm vụ giáo dục đạo lí, học thuật, nói chí, tỏ lòng được đặt lên trên hết. Về nội dung tư tưởng, văn học Việt Nam thời trung đại có truyền thống lớn nhất, sâu sắc nhất là lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, chủ nghĩa anh hùng; có truyền thống tình thương, lòng nhân nghĩa; tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan; có sự gặp gỡ với ba luồng tư tưởng Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo. Về hình thức nghệ thuật, văn học Việt Nam thời trung đại có tính quy phạm chặt chẽ; tính uyên bác và khuynh hướng mô phỏng cổ nhân; cá tính nhà văn chưa có điều kiện thể hiện thật đậm nét. II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG 1. Văn học Việt Nam thời trung đại gồm những bộ phận, những thành phần nào? 2. Phân tích, chứng minh quan hệ và tác động qua lại  giữa các bộ phận, các thành phần văn học Việt Nam thời trung đại trong quá trình vận động phát triển. Gợi ý: Hai bộ phận văn học này cũng như các thành phần văn học chữ Hán và chữ Nôm thời trung đại có quan hệ mật thiết và tác động qua lại sâu sắc trong quá trình phát triển. Các tác phẩm văn học chữ Hán đầu tiên của bộ phận văn học viết (Việt điện u linh tập của Lí Tế Xuyên; Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh, Kiều Phú; Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ,…) hoặc là những công trình sưu tập, chi chép văn học dân gian hoặc khai thác rất nhiều chất liệu từ văn học dân gian. Thành phần văn học chữ Hán và thành phần văn học chữ Nôm cũng có nhiều ảnh hưởng qua lại, bổ sung cho nhau từ nội dung đến hình thức. Các tác phẩm văn học chữ Hán như Vận nước (Pháp Thuận), Cáo bệnh bảo mọi người (Mãn Giác), Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão), Phú sông Bạch Đằng(Trương Hán Siêu), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi),… hướng nhiều hơn đến những đề tài “lớn”, những vấn đề trọng đại. Văn học chữ Nôm lại tập trung nhiều hơn đến những đề tài thuộc đời sống hằng ngày, tâm sự riêng tư, về thân phận con người, thú chơi,…; chẳng hạn: Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi), Nhàn(Nguyễn Bỉnh Khiêm), Hàn nho phong vị phú (Nguyễn Công Trứ), Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều),Truyện Kiều (Nguyễn Du),… Văn học chữ Hán chỉ vận dụng những thể thơ mượn của Trung Hoa thì văn học Nôm, bên cạnh các thể loại có nguồn gốc bên ngoài ấy, còn phát huy những thể thơ bản địa,… 3. Phân tích, chứng minh: Thế kỉ XVIII là thời điểm bước ngoặt lớn của lịch sử xã hội và lịch sử văn học nước ta thời trung đại, Gợi ý: Để làm rõ được luận điểm này, cần chú ý những vấn đề sau: - Bước ngoặt của lịch sử xã hội: Phong trào nông dân khởi nghĩa bùng nổ dữ dội; Chế độ phong kiến bị lay chuyển tận gốc; Ý thức hệ phong kiến khủng hoảng sâu sắc; Vấn đề quyền con người đặt ra gay gắt. - Bước ngoặt của lịch sử văn học: Nền văn học phát triển rực rỡ, từ văn học chữ Hán đến văn học chữ Nôm, với đủ các thể loại kể cả vay mượn lẫn bản địa; Hàng loạt các tác gia lớn xuất hiện, hàng loạt các kiệt tác ra đời (Nguyễn Du với Truyện Kiều và thơ chữ Hán; Nguyễn Gia Thiều với Cung oán ngâm; Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm với Chinh phụ ngâm,…). 4. Phân tích một số tác phẩm cụ thể để thấy được đặc điểm về nội dung của văn học Việt Nam trung đại. Gợi ý: - Lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, chủ nghĩa anh hùng: Thánh Gióng, Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ, Vận nước, Đại cáo bình Ngô, Phú sông Bạch Đằng,… - Tình thương, lòng nhân nghĩa: Tiễn dặn người yêu, ca dao yêu thương tình nghĩa, ca dao than thân, Đại cáo bình Ngô, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Truyện Kiều, Đọc “Tiểu Thanh kí”, Cung oán ngâm,Chinh phụ ngâm,… - Tình yêu thiên nhiên, tinh thần lạc quan: Cảnh ngày hè, Nhàn,… … 5. Những đặc trưng hình thức nghệ thuật của văn học Việt Nam thời trung đại được thể hiện qua các bàiTỏ lòng (Phạm Ngũ Lão), Nỗi lòng (Đặng Dung), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi), Đọc “Tiểu Thanh kí”(Nguyễn Du), Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu). Gợi ý: Tập trung phân tích, chứng minh những biểu hiện sau: - Tính quy phạm chặt chẽ (niêm, luật, đối,… theo quy phạm thể loại); - Tính uyên bác, mô phỏng cổ nhân (dùng điển cố, điển tích, văn liệu của người xưa,…), thể hiện rõ nhất trong Đại cáo bình Ngô, Đọc “Tiểu Thanh kí”, Phú sông Bạch Đằng. - Cá tính chưa có điều kiện thể hiện đậm nét: quy phạm chặt chẽ định sẵn, hệ thống các hình ảnh ước lệ,… 6. Thế nào là ước lệ trong sáng tác văn học? Đối với văn học thời phong kiến, bút pháp ước lệ đạt được hiệu quả như thế nào? Vì sao? Gợi ý: - Văn học thời nào cũng có ước lệ, nhưng trong văn học thời trung đại ước lệ được sử dụng một cách phổ biến và trở thành đặc trưng thi pháp. - Những ước lệ đạt giá trị nghệ thuật tạo nên tính hàm súc cao, “ý tại ngôn ngoại”. Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.
Xem thêm

3 Đọc thêm

sát loại hình nhà nho ẩn dật việt nam thời trung đại ở thế kỷ XVI

SÁT LOẠI HÌNH NHÀ NHO ẨN DẬT VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI Ở THẾ KỶ XVI

A. PHẦN MỞ ĐẦU


1. Lí do chọn đề tài

Giai đoạn văn học từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII thực sự mở đầu sau những năm thịnh đạt cuối cùng của triều đại Lê sơ và kết thúc trước thời kỳ bùng nổ cao trào khởi nghĩa nông dân vào những năm bốn mươi của thế kỷ XVIII.Đây là một giai đoạn văn học của thời kỳ quốc gia độc lập, nhưng lại là vào lúc bắt đầu có sự suy thoái của chế độ phong kiến. Cho nên diện mạo, tính chất, đặc điểm,…của văn học có những biến đổi quan trọng. Lực lượng sáng tác trong giai đoạn văn học này vân là trí thức mang ý thức hệ phong kiến. Nhưng nếu trước kia lực lượng đó chủ yếu là nho sĩ quan liêu đang cư quan, nhiệm chức ở triều đình, thì nay lại gồm thêm nhiều nho sĩ ẩn dật và nho sĩ bình dân sống ở thôn dã. Các tác phẩm có giá trị của văn học viết thời này hầu hết là do những nho sĩ viết ra.
Những trang lịch sử nửa sau thế kỷ XV XVI đã ghi lại nhiều biến động về chính trị, nhiều bất công trong xã hội và kéo theo đó là những suy đồi về đạo đức. Hầu như những nguyên tắc đạo lí của Khổng giáo bị sa sút, thói đời đen bạc bị phơi bày làm cho những ai có tâm huyết với đời, có kì vọng trung hưng về xã hội phong kiến trở nên ngao ngán chán chường. Toàn bộ bức tranh của hiện thực xã hội ấy đã tác động sâu sắc lên những trang đời và trang thơ của các nhà văn, nhà thơ lúc bấy giờ, ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình cảm, tư tưởng, đặc biệt là thái độ xuất xứ ở ẩn của họ trước thời cuộc. Họ nhập thế là để giúp đời cứu nước. Nhưng rồi họ lui về ở ẩn để giữ vững khí tiết, thực hiện thú nhàn tản.
Ở thế kỷ XVI, đã xuất hiện rất nhiều nhà nho có thái độ ẩn dật. Sáng tác của họ đã góp phần quan trọng trên con đường phát triển của lịch sử văn học Việt Nam. Thơ văn của các ẩn sĩ là tiếng nói cho tầng lớp tri thức bất mãn với hiện thực xã hội lúc bấy giờ và tư tưởng an nhàn thoát tục nhưng vẫn đau đáu một tấm lòng lo cho dân cho nước. Không những thế thơ văn của họ còn vẻ nên bức tranh hiện thực khá sâu sắc về đất nước, xã hội và con người Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động.
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hàng… là những nhà thơ nhà văn trong rất nhiều nhà văn nhà thơ thời kì trung đại viết về hình tượng nhà nho ẩn dật. Tuy sống cuộc đời ẩn dật nhưng thơ văn của họ luôn mang những triết lý sâu sắc. Tuy họ đã về ở ẩn nhưng tiếng nói của họ vẫn ảnh hưởng lớn đến hậu thế, có tác dụng hữu hiệu cho sự phân định những điều thật giả, tốt xấu, đúng sai, thiện – ác… đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trong cuộc sống mỗi chúng ta.
Tất cả những vấn đề trên đều là những điều lí thú cần nghiên cứu để hiểu sâu hơn về tư tưởng của các nho sĩ ẩn dật và cũng để bày tỏ tinh thần trân trọng đối với các nhà hiền triết, những tấm gương cao quí xưa. Đó chính là lí do để chúng tôi chọn khảo sát loại hình nhà nho ẩn dật Việt Nam thời trung đại ở thế kỷ XVI làm đề tài nghiên cứu trong bài báo cáo tốt nghiệp này.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thời trung đại là thời kỳ phát triển rực rỡ của văn hóa Đại Việt suốt mười thế kỷ. Trong đó văn học là một thành tố vô cùng quan trọng tạo nên diện mạo cho văn hóa dân tộc. Nói đến văn học nước nhà chúng ta không thể không nhắc đến chủ thể sáng tạo của nền thơ ca rực rỡ đó. Đã từ lâu các nhà nghiên cứu đã thống nhất nhận diện thời Trung đại có ba loại hình tác giả tiêu biểu. Đó là loại hình nhà nho hành đạo, nhà nho ở ẩn và nhà nho tài tử.
Tuy nhiên loại hình nhà nho ở ẩn là nổi bậc hơn cả. Loại hình nhà nho ở ẩn là những con người xuất thân từ cửa Khổng Sân Trình, thời trai trẻ họ cũng theo đuổi sự nghiệp đèn sách nhưng gặp thời buổi loạn lạc, kỷ cương đổ nát nên họ chủ động từ bỏ chốn quan trường về ở ẩn theo triết lí lánh đục về trong để bảo toàn khí tiết thanh cao của nhà nho trọng danh dự. Nhà nho ở ẩn từ bỏ giấc mơ tham chính để vui thú điền
Xem thêm

19 Đọc thêm

Tiếp nhận Truyện Kiều của Nguyễn Du dưới góc nhìn văn hóa

TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

Truyện Kiều” là “kì quan của nền văn hoá Việt Nam” (GS Mai Quốc Liên), kết tinh những truyền thống tư tưởng và nghệ thuật dân tộc, là kết quả của gần 10 thế kỉ xây dựng nền văn hoá Đại Việt. Vì vậy, thiết nghĩ nên xuất phát từ tâm thức truyền thống của dân tộc, đặt tác phẩm trong tiến trình văn hoá dân tộc để tiếp cận, đánh giá.
Tình cảm yêu thương con người chính là hạt nhân tạo nên giá trị của “Truyện Kiều”. Tình cảm đó được nâng đỡ bởi trào lưu nhân đạo chủ nghĩa của nền văn học dân tộc thế kỉ XVIIIXIX.

“Chủ nghĩa nhân văn (nhân đạo) là một hệ thống quan điểm triết học, đạo đức, chính trị xã hội coi con người và đời sống hiện thực trần thế của nó, một đời sống văn minh, hạnh phúc, hữu ái là mục đích cao nhất” (Từ điển thuật ngữ văn học
Chủ nghĩa nhân văn, nguồn cảm hứng lớn nhất của văn học nghệ thuật đã xuất hiện như một yêu cầu có tính lịch sử, nhằm đấu tranh với những áp bức, bất công, góp phần đem lại hạnh phúc cho con người. Tuy nhiên ở mỗi thời đại, mỗi dân tộc, cảm hứng nhân đạo lại có màu sắc riêng.

Cảm hứng nhân đạo trong văn học Việt Nam thời trung đại chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo. Nhưng Nho giáo có những quan niệm trái ngược với chủ nghĩa nhân văn, xét theo những tiêu chí phổ quát.
Xem thêm

21 Đọc thêm

TRUYỆN TRINH THÁM VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX – TỪ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI.

TRUYỆN TRINH THÁM VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX – TỪ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI.

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến sâu sắc. Với sự gặp gỡ văn minh Phương Tây, sự tiếp thu mạnh mẽ và rộng rãi những tinh hoa văn hoá thế giới, văn học Việt Nam đã bứt ra khỏi hệ hình văn học trung đại, để tiến hành công cuộc hiện đại hoá. Văn học nước ta đã thay đổi nhanh chóng, với những thành tựu rực rỡ. Đây cũng là lúc thể loại văn học trinh thám được hình thành và phát triển.
So với các thể loại khác, truyện trinh thám xuất hiện khá muộn, tuy vậy nó lại có những bước tiến rất nhanh. Chỉ trong một thời gian ngắn, nó đã có một diện mạo khá hoàn chỉnh, với sự góp công của nhiều cây bút tên tuổi và số lượng tác phẩm lên đến hàng trăm cuốn. Thể loại này đã thu hút được rất đông độc giả thuộc đủ mọi thành phần khác nhau trong xã hội. Thông qua việc tiếp thu một thể loại của phương Tây, kết hợp với truyện vụ án phương Đông và các thể loại văn học truyền thống, nó đã trở thành một sản phẩm tinh thần có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với cộng đồng. Mức độ ảnh hưởng đến người đọc của truyện trinh thám trên thực tế là rất lớn. Đây là thể loại thường tạo nên những con số đáng kinh ngạc về lượng sách phát hành.
Truyện trinh thám đã khẳng định được vị thế của mình trong đời sống văn học dân tộc. Tuy vậy, thể loại này lại không được giới chuyên môn đề cao. Vì nhiều lý do, trong đó có nguyên nhân thuộc về quan niệm, nhận thức, ngay từ khi mới ra đời, thể loại văn học trinh thám đã bị coi là không có giá trị gì đáng kể, ngoài việc giải trí. Phần lớn các nhà nghiên cứu, thậm chí ngay cả các nhà văn viết truyện trinh thám cũng đều xem thể loại này là một thứ văn chương “hạng hai”, xoàng xĩnh. Truyện trinh thám bị đánh giá là thua kém các thể loại khác về giá trị thẩm mỹ, giá trị tư tưởng.
Như vậy là đã có một sự vênh lệch rất lớn trong quan niệm của giới nghiên cứu, phê bình và công chúng thưởng thức về cùng một hiện tượng văn học. Đây là một nghịch lý trong đời sống văn học ở nước ta. Chính vì vậy mà từ lâu nay, các nhà chuyên môn đã dành nhiều thời gian, công sức tìm hiểu, lý giải nhiều vấn đề liên quan đến thể loại truyện trinh thám Việt Nam. Trên thực tế, trong thời gian gần đây, đã có không ít tác phẩm được sưu tầm và tái bản để đáp ứng nhu cầu của độc giả; mặt khác cũng đã có nhiều cuộc Hội thảo được tổ chức, nhiều công tŕnh nghiên cứu, khảo luận về văn học trinh thám được công bố. Có thể coi đó là một sự nỗ lực trong việc đưa đến một cái nhìn khách quan, công bằng hơn về vai trò và vị trí của thể loại truyện trinh thám Việt Nam.
Tuy nhiên, chưa thể nói rằng mọi vấn đề của truyện trinh thám đã được giải quyết một cách sáng tỏ và thỏa đáng. Vẫn còn nhiều câu hỏi về thể loại chưa được trả lời, nhiều vấn đề cơ bản vẫn chưa có được tiếng nói chung giữa các nhà nghiên cứu. Thậm chí còn nhiều vấn đề mang tính bản chất của thể loại này cần được nhận thức lại. Chẳng hạn những vấn đề có tính “nhận thức luận” về thể loại, vấn đề lịch sử hình thành, quy luật vận động, vai trò của truyện trinh thám trong tiến trình hiện đại hóa văn học, những đặc trưng cơ bản của truyện trinh thám Việt Nam ... Nghiên cứu và giải quyết đúng đắn những vấn đề trên không chỉ góp phần soi sáng một hiện tượng văn học độc đáo mà còn mở ra một hướng nhìn mới về việc đa dạng hóa chức năng văn học trong quá trình phát triển văn học Việt Nam hiện đại. Đây cũng là lý do thôi thúc chúng tôi thực hiện đề tài luận án.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Truyện trinh thám Việt Nam được hình thành trên cơ sở tiếp thu và cải biến mô hình của văn học Phương Tây. Đây là một phương pháp sáng tạo thích hợp được các nhà văn áp dụng trong thời điểm giao thời. Để làm phong phú thêm cho văn học dân tộc, các nhà văn đã tạo nên một thể loại văn học mới, chưa từng có tiền lệ trong văn học dân tộc bằng việc mô phỏng nhưng có sự sáng tạo, tiếp biến cho phù hợp với hoàn cảnh và tâm lý độc giả bản địa. Chính vì vậy truyện trinh thám Việt Nam vừa có dáng dấp của truyện trinh thám Phương Tây nhưng lại có những nét đặc thù.
Mục tiêu chủ yếu của luận án này là làm rõ những đặc điểm của thể loại truyện trinh thám Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ XX trên các vấn đề: lịch sử hình thành và phát triển, quy luật vận động; các phương diện nội dung và nghệ thuật của thể loại...
Trên cơ sở mục tiêu đã xác định như trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện tiến trình lịch sử của thể loại truyện trinh thám Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX .
- Tìm hiểu những điểm đặc trưng thể loại của truyện trinh thám Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX, thông qua việc phân tích, đánh giá các yếu tố cụ thể như thế giới hình tượng (hình tượng nhân vật, không gian, thời gian), tổ chức tác phẩm (cốt truyện, kết cấu), phương thức trần thuật (ngôn ngữ, giọng điệu…).
- Xác định vai trò, giá trị của thể loại truyện trinh thám đồng thời khái quát quy luật vận động của nó trong tiến trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
Nghiên cứu truyện trinh thám Việt Nam là một việc làm cần nhiều công sức, bởi hiện tại trong giới khoa học vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về những vấn đề rất cơ bản liên quan đến thể loại trinh thám (Định nghĩa thế nào là truyện trinh thám? Truyện trinh thám ở Việt Nam xuất hiện lúc nào? Tác giả trinh thám đầu tiên là ai? Truyện trinh thám có phải là thể loại văn học hay không?…). Chính vì thế, bên cạnh nhiệm vụ chính, chúng tôi còn phải giải quyết những vấn đề liên quan khác, có tính chất lý thuyết, lý luận về thể loại này. Chúng tôi coi đó cũng là những nhiệm vụ cần thiết được giải quyết trong luận án.
Xem thêm

157 Đọc thêm

GIÁ TRỊ NÔI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA TÁC PHẨM HẠNH THỤC CA

GIÁ TRỊ NÔI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA TÁC PHẨM HẠNH THỤC CA

1. Lí do chọn đề tài
Xét trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc Việt Nam, văn học trung đại có một vị trí đặc biệt quan trọng, bởi trong suốt hàng nghìn năm phát triển, văn học trung đại đã phản ánh rõ nét về đất nước, con người Việt. Nền văn học ấy đã nảy sinh từ chính quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, đồng thời văn học còn tham gia vào quá trình đấu tranh này. Qua đó, những truyền thống lớn trong văn học dân tộc đã hình thành, phát triển và ảnh hưởng rõ nét đến sự vận động của văn học hiện đại. Cho nên, việc nghiên cứu văn học trung đại chính là tìm về với quá khứ hào hùng của dân tộc, bên cạnh đó còn giúp chúng ta hiểu thêm về những nét đặc sắc trong đời sống vật chất và tinh thần của người xưa, góp phần lý giải các quy luật phát triển của văn học dân tộc.
Chính điều đó, chúng tôi đã chọn tác giả Nguyễn Thị Bích với tác phẩm Hạnh Thục ca, đây là một thiên hồi kí lịch sử bằng thơ, dài hơn 1000 câu, là một áng văn chương viết về một giai đoạn lịch sử nước nhà..
Là một người vốn yêu thích văn học, nhất là văn học Việt Nam, tôi hi vọng rằng niên luận này sẽ phần nào giúp người đọc hiểu hơn về tác giả và tác phẩm Hạnh Thục ca, cũng như tình hình xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử từ năm 1885 đến 1900.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Nền văn học Việt Nam là một trong những nền văn học có nhiều đóng góp cho kho tàng văn học nhân loại. Văn học trung đại mang trên mình sứ mệnh cao cả, phản ánh một cách đầy đủ mọi bước đi của dân tộc. Chính vì thế khi nghiên cứu văn học Việt Nam nói chung và văn học trung đại nói riêng, người nghiên cứu phải có những hiểu biết về lịch sử và văn chương, phải đặt văn học trung đại trong mối quan hệ với văn học dân gian và văn học hiện đại để tìm ra sự kế thừa, phát triển.
Mặt khác kho tàng văn học trung đại đã mất mát khá nhiều theo thời gian do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như do chiến tranh, loạn lạc, sách vở bị thiêu hủy, hay do công tác bảo tồn, sưu tầm tư liệu chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế việc tiếp cận, đánh giá tác phẩm khó tránh khỏi suy diễn, áp đặt do thiếu tư liệu để kiểm chứng.
Về tác phẩm Hạnh Thục ca đã có không ít nhà nghiên cứu, bạn đọc sử dụng làm sử liệu, nghiên cứu và nhận xét…Tuy nhiên trên thực tế đây là cái tên khá mới mẻ với đa số độc giả. Những công trình nghiên cứu tác phẩm này vẫn còn hết sức khiêm tốn. Có những lời nhận xét, đánh giá về tác phẩm của bà như: Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Phạm Thế Ngũ),…
Ngoài ra, kể từ khi hoàn thành, mãi cho đến năm 1950, Hạnh Thục ca mới được nhà xuất bản Tân Việt cho ấn hành tại Sài Gòn. Người có công phát hiện, biên dịch và chú thích tác phẩm là Trần Trọng Kim. Kể lại điều này, ông viết:
...Tôi tìm được quyển sách này ở Huế, tôi liền đưa cho trường Bác cổ sao lấy một bản, tôi lại cho ban văn học ở Khai trí tiến đức sao lấy một bản. Còn bản của tôi giữ, thì đem dịch ra làm mấy bản bằng quốc ngữ, phòng khi ở chỗ này mất, thì ở chỗ khác hãy còn. Ấy cũng nhờ vậy mà sau cuộc binh lửa cuối năm Bính Tuất (1946) bao nhiêu sách vở của tôi bị đốt cháy, mà còn có người giữ được một bản... Nay tôi đem chú thích những tiếng khó bằng chữ nho và những tiếng tối nghĩa, rồi chia nguyên văn ra từng đoạn, có đề mục nhỏ ở cạnh rìa, để người ta xem cho dễ hiểu.. 2
Theo các nhà nghiên cứu, đây là một tác phẩm có giá trị về mặt sử liệu. Chính vì vậy tôi muốn nghiên cứu những nét độc đáo riêng biệt, những giá trị về nội dung và nghệ thuật tác phẩm Hạnh Thục ca của bà cũng như mong muốn hiểu rõ hơn về nữ tác giả này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác phẩm Hạnh Thục ca của Nguyễn Thị Bích.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Hạnh Thục ca của Nguyễn Thị Bích.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Về phương pháp nghiên cứu, người viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp, diễn dịch để trình bày một cách có hệ thống vấn đề mà niên luận đã đặt ra. Phương pháp được người viết chú ý là phương pháp phân tích .
Người viết sẽ sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau. Đó là các nguồn tư liệu từ sách báo, các tạp chí nghiên cứu khoa học, tác phẩm Hạnh Thục ca cũng như những tư liệu trên internet để tiến hành việc nghiên cứu.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, niên luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Nguyễn Thị Bích và tác phẩm Hạnh Thục ca
Chương 2: Giá trị nội dung của tác phẩm Hạnh Thục ca
Chương 3: Giá trị nghệ thuật của tác phẩm Hạnh Thục ca
Xem thêm

33 Đọc thêm

Mấy vấn đề về tiếp nhận văn học và việc tiếp nhận văn học trung đại Việt Nam của học sinh THPT hiện nay

MẤY VẤN ĐỀ VỀ TIẾP NHẬN VĂN HỌC VÀ VIỆC TIẾP NHẬN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM CỦA HỌC SINH THPT HIỆN NAY

2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lý thuyết tiếp nhận ra đời đã đem đến một diện mạo mới cho lý luận và nghiên cứu văn học, phá vỡ sự độc quyền quá lâu của lối xem xét văn học chỉ quan tâm đến mối quan hệ tác giả tác phẩm bằng cách bổ sung, lưu ý đến mối quan hệ tác phẩm – người đọc. Hoạt động văn học từ xưa đến nay đều vận hành qua các khâu hiện thực nhà văn tác phẩm bạn đọc. Cho nên, cũng như các mối quan hệ giữa tác phẩm với hiện thực, tác phẩm với nhà văn…từ rất lâu, người ta ít hoặc nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp, toàn diện hoặc một vài khía cạnh, đã chú ý đến mối quan hệ giữa tác phẩm với bạn đọc, tức là sự tiếp nhận tác phẩm văn học của bạn đọc rồi. Có mầm mống từ rất lâu (những năm 10 – 20 của thế kỷ XX) nhưng phải đến những năm 60 của thế kỷ XX với trường phái Konstanz ở CHLB Đức, mỹ học tiếp nhận mới chính thức được công nhận.
Đại diện tiêu biểu của trường phái này là H.R. Jauss. Ông đề cao vai trò của người tiếp nhận trong nghiên cứu văn học. Theo ông, tác phẩm văn học chính là sự kết hợp giữa văn bản và sự tiếp nhận của người đọc. Lịch sử văn học chính là lịch sử của mối quan hệ giữa tác phẩm và người tiếp nhận. Ông gắn quá trình lý giải tác phẩm không phải với sự tùy tiện tuyệt đối mà với những khả năng khách quan của độc giả, được quy định bởi kinh nghiệm thẩm mỹ và tầm đón đợi của họ. Tuy nhiên, Jauss cực đoan khi đề cao quá mức vai trò của người tiếp nhận. Bởi nếu chưa có sáng tác thì không thể có tiếp nhận, còn nếu không hoặc chưa có tiếp nhận vẫn có sáng tác dù chưa phát huy được tác dụng.
Manfred Nauman – đại diện cho các nhà nghiên cứu macxit cũng xem quan hệ tác phẩm – người đọc là một vấn đề cơ bản có ý nghĩa then chốt. Tuy nhiên, họ cho rằng tác phẩm là một đề án tiếp nhận (Rezeptionvorgabe), là nhân tố hàng đầu, tính năng động của người đọc là một yếu tố cũng hết sức thiết yếu.
N¨m 1985, lÇn ®Çu tiªn lý thuyÕt “mü häc tiÕp nhËn” cña tr­êng ph¸i Konstanz (§øc) mµ ®øng ®Çu lµ Hans Robert Jauss ®­îc giíi thiÖu kh¸ kü l­ìng cho b¹n ®äc ViÖt Nam trªn t¹p chÝ “Th«ng tin KHXH”. §©y lµ mét lý thuyÕt ®• biÕt tiÕp thu thµnh tùu cña c¸c c«ng tr×nh nghiªn cøu vÒ thÞ hiÕu vµ ®éc gi¶ cña c¸c t¸c gi¶ tr­íc nh­ Levin Schucking (§øc), Harald Weinrich (§øc)…tõ ®Êy x©y dùng cho m×nh mét c¬ së khoa häc chÆt chÏ vµ cã hiÖu qu¶ ®Ó nghiªn cøu sù tiÕp nhËn v¨n häc.
Trong hai mươi năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu n­íc ta cũng ®• rất quan tâm đến vÊn ®Ò tiếp nhận văn học. Trần Đình Sử, Phương Lựu Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Văn Dân, Huỳnh Văn Vân, … đều có bài viết về vấn đề này. Tiêu biểu là các công trình như: Tiếp nhận văn học của Phương Lựu (NXB Giáo dục, 1997), Tiếp nhận – bình diện mới của lý luận văn học của Trần Đình Sử (V¨n häc nghÖ thuËt vµ sù tiÕp nhËn, ViÖn th«ng tin khoa häc x• héi, HN, 1991), Tiếp nhận văn học của Nguyễn Văn Dân (NXB khoa học kỹ thuật – 1991), Đọc và tiếp nhận văn chương của Nguyễn Thanh Hùng…. N¨m 1986 gi¸o s­ Hoµng Trinh ®• ®Ò cËp ®Õn ph¹m trï c«ng chóng mét ph¹m trï c¬ b¶n cña lý thuyÕt tiÕp nhËn. Gi¸o s­ xuÊt ph¸t tõ quan ®iÓm ph¸t huy tinh thÇn lµm chñ tËp thÓ cña nh©n d©n trong s¸ng t¸c vµ phª b×nh v¨n häc ®Ó t×m hiÓu sù t¸c ®éng cña ng­êi ®äc ®èi víi v¨n häc. Hay gÇn ®©y, cã rÊt nhiÒu bµi b¸o bµn vÒ vÊn ®Ò tiÕp nhËn. Nhµ nghiªn cøu NguyÔn Lai nhÊn m¹nh ®Õn “phÈm chÊt n¨ng ®éng chñ quan cña chñ thÓ tiÕp nhËn”, NguyÔn Thanh Hïng nhÊn m¹nh ®Õn qu¸ tr×nh biÕn ®æi chñ thÓ tiÕp nhËn thµnh chñ thÓ v¨n häc, Tõ S¬n nhÊn m¹nh ®Õn viÖc ph¶i quan t©m ®Çy ®ñ tíi c¸c nhu cÇu tiÕp nhËn v¨n häc cña c«ng chóng, trong ®ã cã nh­ cÇu th«ng tin vµ nhu cÇu gi¶i trÝ. Trần Đình Sử cho rằng tiếp nhận văn học là một lĩnh vực rộng lớn của lý luận văn học còn đang để ngỏ. Nó vô cùng quan trọng bởi tiếp nhận văn học có thể làm sáng tỏ những vấn đề then chốt, đặc trưng, chức năng, cấu trúc, giá trị của văn học mà lý luận từ phía sáng tác không giải thích được. Theo ông, có hai quan niệm vÒ tiếp nhận v¨n häc trong truyÒn thèng là tri âm và ký thác. Quan niệm tri âm đòi hỏi người đọc tiếp nhận hết, hiểu hết những điều tác giả muốn nói trong tác phẩm bằng hình tượng. Nhưng yêu cầu này trong thực tế là quá khó, không thực hiện được. Lưu Hiệp, nhà lý luận phê bình nổi tiếng thời cổ đại của Trung Quốc đã phải nói: “Tri âm khó vậy thay. Cái âm thực khó biết, người biết thực khó gặp. Gặp được người tri âm, nghìn năm mới có một lần” (Văn tâm điêu long). Còn trong quan niệm ký thác, người đọc có thể xem tác phẩm như phương tiện thể hiện nỗi lòng. Ở đó người đọc có thể phát huy trí tưởng tượng, sự sáng tạo của mình để đem đến cho tác phẩm một ý nghĩa mới. Trong thực tế cách đọc này khá phổ biến. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã thấy được tầm quan trọng của lý thuyết tiếp nhận trong nghiên cứu văn học. Hä ®• thÊy ®­îc c¸i cèt lâi cña vÊn ®Ò lý luËn tiÕp nhËn. Nh÷ng ý kiÕn cña hä ®• gãp phÇn kh¼ng ®Þnh vÞ trÝ cña lý luËn tiÕp nhËn ë n­íc ta.
2.2. Thời gian đã trôi qua rất lâu kể từ ngày đặt dấu chấm kết thúc cho một giai đoạn phát triển của lịch sử văn học nước nhà, thời kỳ văn học trung đại. Khoảng thời gian đó đủ để những gì thuộc về nó bước lên ngai vàng của giá trị cổ điển. Thế nhưng càng ngày chúng ta càng nhận ra rằng giá trị của văn học trung đại như suối ngàn dào dạt khơi mãi không bao giờ cạn.
Văn học trung đại là giai đoạn văn học phát triển cực thịnh và có nhiều thành tựu mẫu mực nhất của gần 10 thế kỷ văn học. Nó đã được sàng lọc kỹ càng qua thời gian, là kết tinh những tinh hoa văn hóa, tư tưởng, văn học dân tộc. Đó là giai đoạn hoàng kim với những tác gia tên tuổi tài danh như: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…với những tác phẩm có sức sống lâu bền.
Chính vì vậy, văn học giai đoạn này luôn là mảnh đất màu mỡ để các nhà nghiên cứu tìm tòi và khám phá. Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu về văn học trung đại chúng tôi nhận thấy mỗi tác giả tự tìm cho mình những hứng thú khác nhau khi nghiên cứu về văn học giai đoạn này. Ví dụ trong Thi pháp văn học trung đại (Trần Đình Sử), tác giả trình bày quan niệm về con người trong thơ trung đại; nhận xét về các tác giả lớn với tư cách là con người trong thơ; đề cập tới vấn đề thi pháp của văn học trung đại. Hay trong Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam thế kỷ X – XIX (Bùi Duy Tân chủ biên), đã phác thảo nhưng nét cơ bản về diện mạo văn học Việt Nam trong 10 thế kỷ, thâu tóm các tác phẩm đặc sắc của các tác giả tiêu biểu, đi sâu tìm hiểu giai đoạn văn học thế kỷ X – XIV…Hoặc những công trình của một số tác giả khác như: Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX của Hoàng Hữu Yên,Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa cuối thế kỷ XIX của Đặng Thanh Lê, Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam (nhóm nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân…). Như vậy, việc nghiên cứu về văn học trung đại trên diễn đàn văn học diễn ra vô cùng phong phú và đa dạng với những khía cạnh, những hướng tiếp cận khác nhau.
2.3. Trong x• héi c«ng nghiÖp ph¸t triÓn kinh tÕ thÞ tr­êng, con người ngày càng bị cuốn vào dòng chảy xô bồ của cuộc sống nhưng cũng có những lúc họ cần một chút để nhìn lại bản thân, lắng lòng mình một chút để cảm nhận sự trôi chảy của thời gian, một chút để nhìn về quá khứ mà phấn đấu cho hiện tại và tương lai…Và văn học là nơi đem đến cho con người một chút như thế. Đó là nơi chúng ta thả mình trong những cảm xúc để “phiêu” cùng chủ thể trữ tình với những vần thơ lãng mạn bay bổng, hoặc đó là nơi để bày tỏ suy nghĩ về những vấn đề của hiện thực được đề cập tới trong tác phẩm…Tiếp xúc với văn học phải chăng là một quá trình gián tiếp để hoàn thiện bản thân?
Văn thơ trung đại là bộ phận văn chương có khả năng trực tiếp bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những phẩm chất truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tuy vậy, việc tiếp nhận tác phẩm văn học trung đại đối với học sinh vẫn còn gây nhiều phiền toái cho cả người dạy lẫn người học làm cho kho tàng quý báu của cha ông để lại lại thành ra “kính nhi viễn chi”. Vấn đề có nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chủ yếu là do rào cản ngôn ngữ. Từ cổ, từ Hán Việt, thuật ngữ là hố ngăn cách học sinh ngày nay khi tiếp xúc với thơ văn cổ. Thêm vào đó là người tiếp nhận văn bản dù muốn hay không cũng phải có một kiến thức nền khả dĩ, ít nhiều phải hiểu rõ môi trường văn hóa trung đại, tư tưởng ý thức hệ chính thống, điển cố, điển tích, thể loại văn học…Hơn nữa, học sinh ngày nay là thế hệ trẻ lớn lên trong chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng ngày tiếp xúc với lối sống hiện đại. Tâm lý chung của họ là nhạy cảm với cái mới, cái cổ truyền mặc dù có giá trị cũng xa lạ đối với họ. Nếu không được hướng dẫn nhận thức và cảm thụ có khi họ còn phê phán cái cổ là lỗi thời, lạc hậu.
Rất nhiều tác phẩm thuộc giai đoạn văn học trung đại được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông. Nhưng không phải ai cũng cảm nhận được hết cái tinh hoa cùng vẻ đẹp văn chương của các bậc thi nhân tiền bối đã gửi gắm trong từng câu chữ. Đặc biệt đối với bạn đọc – học sinh, họ thường mắc phải nhiều sai lầm khi đánh giá tác giả và tác phẩm thuộc giai đoạn văn học này. Để nâng cao hiệu quả tiếp nhận văn học trung đại Việt Nam nói chung và tiếp nhận văn học trung đại trong nhà trường của học sinh THPT đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu khác nhau: Giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông (Phương Lựu), Phương pháp dạy hoc ngữ văn THPT – những vấn đề cập nhật (Nguyễn Thanh Hùng – Lê Thị Diệu Hoa), Mấy vấn đề về phương pháp dạy thơ văn cổ Việt Nam (Nguyễn Sĩ Cẩn)…Hầu hết, họ đều tập trung vào việc đưa ra những phương pháp để tiếp cận tác phẩm văn học một cách hiệu quả nhất. Đặc biệt Nguyễn Sĩ Cẩn với công trình của mình đã chỉ ra cụ thể những thuận lợi và khó khăn khi tiếp xúc với thơ văn cổ, đồng thời, ông cũng trình bày một số vấn đề để nâng cao chất lượng giảng dạy thơ văn cổ Việt Nam.
Như vậy, tìm hiểu về vấn đề tiếp nhận văn học hay văn học trung đại Việt Nam đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu khác nhau nhưng nghiên cứu cụ thể về việc tiếp nhận văn học trung đại của học sinh THPT lại khá mới mẻ. Đây chính là lối đi còn rộng mở để chúng tôi tiếp tục khám phá về lĩnh vực này. Trên cơ sở tham khảo, tiếp thu những gợi ý, những định nghĩa quý báu của các công trình nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề với một giai đoạn văn học cụ thể, một đối tượng cụ thể mà những công trình trước chưa đề cập tới.
Xem thêm

72 Đọc thêm

LUẬN VĂN: NGHIÊN CỨU TRUYỆN DÂN GIAN KHMER NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN BỐI CẢNH

LUẬN VĂN: NGHIÊN CỨU TRUYỆN DÂN GIAN KHMER NAM BỘ DƯỚI GÓC NHÌN BỐI CẢNH

Nghiên cứu Văn học dân gian Việt Nam đã có bề dày lịch sử nhất là sau năm 1945 và đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Tuy vậy, những phương pháp tiếp cận theo văn bản truyền thống đối với Văn học dân gian ngày càng cho thấy nhiều “bất cập”, mà rõ nhất là chưa chỉ ra được cấu tạo tác phẩm văn học dân gian trong môi trường sinh hoạt cụ thể để thấy những nguyên tắc hình thành và phát triển của nó trong lịch sử. Do vậy, việc tìm một hướng đi khác để góp phần bổ sung cho hệ thống phương pháp tiếp cận tác phẩm Văn học dân gian hiện có là việc làm cần thiết.Để hỗ trợ cho cách nghiên cứu truyền thống, việc nghiên cứu truyện dân gian theo vùng văn hoá và tộc người là một hướng tiếp cận khoa học. Cách làm này đã mang đến một số nhận thức có ý nghĩa phương pháp luận đáng ghi nhận. Nhưng vận dụng lí thuyết nhân học văn hoá tiến tới quy chuẩn và quy phạm hóa tác phẩm Văn học dân gian trong sinh hoạt thực tại vẫn là một thách đố cho công tác nghiên cứu hiện nay theo khuynh hướng này. Sinh hoạt văn hóa độc đáo đã giúp người Khmer lưu giữ một bầu không khí có khả năng tồn tại và phát triển cho các loại hình văn hóa dân gian, trong đó có Văn học dân gian. Vì vậy, nghiên cứu truyện dân gian Khmer Nam Bộ dưới góc nhìn bối cảnh sẽ giúp cho việc nhìn nhận đúng bản chất của tác phẩm Văn học dân gian trong quá trình hình thành và phát triển. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Từ việc tiếp cận, phân tích, đối chiếu và hệ thống hóa các lí thuyết nghiên cứu folklore trên thế giới theo hướng xem Văn học dân gian là một quá trình, luận án đề xuất hướng nghiên cứu truyện kể dân gian trong bối cảnh nhằm bổ sung thêm cho những điểm “bất cập” của hướng nghiên cứu dựa trên văn bản thuần túy. Trong đó, việc đề xuất mô hình ghi chép và cách thức kiến giải truyện kể dân gian Khmer trong bối cảnh được xem như những mục tiêu khoa học quan trọng.
Xem thêm

28 Đọc thêm

Phê bình văn học Việt Nam 1945-1986 (Nhìn từ phương diện chức năng)

PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM 1945-1986 (NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN CHỨC NĂNG)

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cùng với sự kiện lịch sử ấy, một nền văn học mới ra đời và phát triển trong hoàn cảnh Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhân dân Việt Nam vừa tiến hành hai cuộc trường chinh để giải phóng dân tộc, vừa xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Văn hoá văn nghệ, theo đó, cũng được xem là một mặt trận, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực vào công cuộc chiến đấu và xây dựng ấy.
Giai đoạn văn học từ năm 1945 đến trước thời kì đổi mới (1986) là một giai đoạn lớn trong tiến trình văn học Việt Nam thế kỉ XX. Nó là đối tượng quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, từ lịch sử văn học đến từng lĩnh vực như văn xuôi, thơ ca, nghiên cứu lí luận, phê bình văn học.
1.2. Phê bình văn học là một bộ phận không thể tách rời của đời sống văn học hiện đại nói chung, đặc biệt là của giai đoạn diễn ra những biến đổi to lớn của xã hội như giai đoạn 1945-1986. Phê bình văn học giai đoạn này có một địa vị quan trọng, vừa đóng vai trò là nhân tố tác động, tổ chức quá trình văn học từ 1945 đến trước thời kì đổi mới, lại vừa là sự tự ý thức của quá trình văn học ấy. Bởi vậy, để nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan, toàn diện giai đoạn văn học 1945-1986, không thể không tìm hiểu, nghiên cứu về hoạt động phê bình văn học giai đoạn này.
1.3. Những nghiên cứu về văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1986 cho đến nay đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Song, riêng về phê bình văn học giai đoạn này mới chỉ được đề cập lẻ tẻ, chưa có hệ thống trong một số bài báo hoặc trong một vài mục ở một số công trình nghiên cứu cả giai đoạn văn học. Nhìn tổng thể, phê bình văn học giai đoạn 1945-1986 chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống hoặc nếu có thì đều đặt chung trong công trình lí luận phê bình văn học mà chủ yếu thiên về nghiên cứu lí luận.
1.4. Phê bình văn học giai đoạn 1945-1986 có nhiều sự kiện, gắn liền với các cuộc đấu tranh tư tưởng, với những cuộc tranh luận về quan điểm sáng tác, về cuộc đấu tranh chống tư tưởng xét lại, những cuộc phê bình sôi nổi, quyết liệt xung quanh những tác phẩm bị coi là thiếu tính đảng hay những tác phẩm được xem là có tư tưởng lệch lạc, đồi truỵ,… Trong nghiên cứu văn học, các vấn đề trên đây của phê bình văn học giai đoạn này chưa được quan tâm đầy đủ, nhiều nhà nghiên cứu thậm chí còn e ngại, né tránh không muốn đề cập trở lại các vấn đề phức tạp này. Tuy nhiên, ngày nay, khi thời gian đã lùi xa gần 30 năm, nền văn học nước nhà cũng đã chuyển qua một giai đoạn khác thì nhu cầu nhìn nhận, đánh giá lại chặng đường đã qua để thúc đẩy nền văn học tự vượt lên chính mình, bước vào một chặng đường mới là một đòi hỏi cần thiết. Hoàn cảnh mới tạo cơ hội cho ta khả năng nhìn lại những giai đoạn, những hiện tượng văn học trước đây bằng những nhận thức mới. Với ý nghĩa đó, chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu phê bình văn học giai đoạn 1945-1986, trong đó đặt trọng tâm nghiên cứu vào vấn đề chức năng của phê bình văn học.
1.5. Trong những năm gần đây, hoạt động phê bình văn học khá trầm lắng và tản mạn, chất lượng nhiều bài phê bình còn hạn chế. Điều này đã được chỉ rõ trong Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới: “Hoạt động phê bình văn học, nghệ thuật có biểu hiện tụt hậu so với yêu cầu, thực hiện chưa tốt chức năng hướng dẫn, điều chỉnh và đồng hành với sáng tác. Chất lượng khoa học và tính chuyên nghiệp của phê bình bị xem nhẹ; xuất hiện lối phê bình cảm tính, thiếu một hệ thống tiêu chí tin cậy để đánh giá tác giả và tác phẩm, văn hoá phê bình bị hạ thấp…”. Trong hoàn cảnh đó, việc nghiên cứu tổng kết những vấn đề phê bình văn học của các giai đoạn trước có thể giúp ích cho việc thúc đẩy hoạt động của phê bình văn học hiện nay.
Về mặt thực tiễn, trong các khoa Văn học ở các trường Đại học, các bài giảng về lịch sử văn học Việt Nam thường chỉ lướt qua vài nét về tình hình phê bình văn học ở mỗi giai đoạn để tập trung trọng tâm vào tình hình sáng tác, các tác giả và tác phẩm tiêu biểu cho mỗi giai đoạn văn học ấy. Công trình này trước hết có thể giúp ích cho việc nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến trước thời kì đổi mới (1986), đồng thời là một phần quan trọng trong việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử phê bình văn học Việt Nam thế kỉ XX. Tài liệu này cũng có thể hữu ích và cần thiết cho việc học tập chuyên đề Phê bình văn học Việt Nam hiện đại trong các khoa Văn ở các trường Đại học.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Luận án chọn phạm vi nghiên cứu là hoạt động phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1986 khu vực do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, không xét đến phê bình thuộc khu vực văn học vùng địch tạm chiếm (1945-1954) và sau này là phê bình văn học miền Nam thời kháng chiến chống Mĩ (1954-1975).
2.2. Dù phê bình gắn với lí luận như một thực thể khó tách rời nhưng trong luận án này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu lĩnh vực phê bình văn học với phạm vi là những bài phê bình, những công trình phê bình những tác phẩm văn học cụ thể mà không đi vào những vấn đề lí luận dù có liên quan. Đối tượng nghiên cứu trọng tâm của luận án là vấn đề chức năng của phê bình trong giai đoạn văn học 1945-1986.
2.3. Phê bình văn học gắn với báo chí, do đó mà phạm vi bao quát của nó rất rộng. Với mục đích nghiên cứu của luận án, chúng tôi không chủ trương tập hợp đầy đủ những bài báo này mà chỉ chú trọng đến những vụ việc lớn, những cuộc phê bình gây được tiếng vang, để làm căn cứ triển khai các nội dung của luận án. Bởi các hiện tượng ấy thể hiện rõ nhất, tập trung nhất cho hoạt động chức năng của một nền phê bình văn học.
2.4. Phê bình văn học giai đoạn 1945-1986 luôn được nhắc đến với một nét đặc thù: đó là một nền phê bình đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phê bình văn học được xem là một công cụ để thực hiện đường lối văn nghệ, thực hiện chức năng văn nghệ của Đảng. Từ nét đặc thù này, chúng tôi lựa chọn hai trọng điểm nghiên cứu của luận án, đó là:
- Phê bình văn học trong chức năng xây dựng nền văn học cách mạng
- Phê bình văn học trong chức năng đấu tranh tư tưởng
Hai mặt xây và chống này gắn bó mật thiết với nhau. Nó nói lên tính chất phê bình văn học trong một giai đoạn của văn học Việt Nam.
Xem thêm

170 Đọc thêm

Cùng chủ đề