MÙA LẠC NGUYỄN KHẢI PDF

Tìm thấy 2,135 tài liệu liên quan tới tiêu đề "MÙA LẠC NGUYỄN KHẢI PDF":

Vấn đề nhân sinh qua tác phẩm Mùa Lạc của Nguyễn Khải

VẤN ĐỀ NHÂN SINH QUA TÁC PHẨM MÙA LẠC CỦA NGUYỄN KHẢI

Đề bài: Suy nghĩ của anh (chị) đối với vấn đề nhân sinh được đặt ra trong câu văn sau:  “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy…”  (Mùa lạc – Nguyễn Khải)    Bài làm   Triết lý nhà phật có nhắc đến cái gọi là thuyết luân hồi: Một con người, sự vật chết đi sẽ hoá thân, chuyển kiếp sang một kiếp sống mới, dưới một hình hài mới. Bản thân tôi không hoàn toàn tin vào nó, tôi cảm nhận được nó dưới một khía cạnh khác. Đọc “Mùa lạc” của Nguyễn Khải tôi nhận ra được một điều đó: “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”   Sự sống ở đây, theo tôi là những giá trị hiện sinh, đó là sự sống của con người, cỏ cây, chim muông. Đó cũng có thể hiểu là sự sống trong tâm hồn, trong nhận thức. Sự sống và cái chết; hạnh phúc và hy sinh gian khổ là những khái niệm trái ngược nhau, thế nhưng “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ”. Tại sao lại như thế? Theo tôi, trước hết là bởi không có gì trường tồn mãi với thời gian, không có cuộc sống, số phận nào là luôn luôn hạnh phúc. Cái chết phải luôn song hành cùng sự sống, có hy sinh gian khổ mới có hạnh phúc. Cuộc sống vốn rất phức điệu và đa chiều. Nó có muôn màu, muôn vẻ thiên hình và vạn trạng.   Ông cha ta đã từng khẳng định: “Qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai”. Đó chính là một dẫn chứng cho ý kiến trên.   Không ai cấm, trên xác cây khô kia nảy sinh những mầm xanh, qua mùa đông tàn tạ úa vàng mới đến ngày xuân trăm hoa đua nở. Đó chính là vì “sự sống nảy sinh từ trong cái chết”. Ở đây là một câu nói có tính chất khẳng định. Từ trong cái chết – cái tàn tạ, úa vàng sẽ nảy sinh ra sự sống – giá trị hiện sinh. Sự sống ấy dĩ nhiên không thể chung sống, phát triển trong môi trường ấy nhưng đó là nơi nó “nảy sinh”. Bản thân sự vật luôn biến đổi không ngừng nghỉ, ẩn đằng sau – tận bên trong cái khô héo không ai ngăn trở được những biến đổi vận động không ngừng để nảy sinh ra sự sống. Ai biết được, những hạt lúa đã được phơi khô kia cấy xuống nước lại có thể mọc ra cây lúa xanh tươi. Tôi lại chợt nhớ đến bài kệ của một bậc thiền sư thời Lý căn dặn học trò trước lúc ra đi.   Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai Sự trục nhãn tiền quá Lão tòng đầu thượng lai Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai   Dịch thơ   Xuân đi trăm hoa rụng Xuân đến trăm hoa cười Trước mắt việc đi mãi Sau lưng già đến rồi Ai bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một cành mai (Mãn giác thiền sư)   Vâng, xuân đến và đi là quy luật của tạo hoá. Đó là vòng quay của thời gian. Thế nhưng, trong cái giá rét của đêm đông ấy, trên cái cành khô mà tưởng như hoa đã “lạc tận” – rụng hết ấy vẫn bừng lên vẻ đẹp của “nhất chi mai”. Cái hình ảnh cành mai dẫu đơn độc nhưng thật cứng cỏi ấy như tạc vào đêm tối chính là minh chứng rõ ràng nhất cho sự sống ở giữa cái nơi mà vạn vật tưởng đã úa tàn. Sự sống và cái chết, đau khổ và hạnh phúc, đó chính là một vòng tròn của số phận, của tạo hoá; đó chính là nguyên cớ cho sự nảy sinh – hiện hình. Với “Mùa lạc”, Nguyễn Khải cũng đã chứng minh được điều đó. Có ai ngờ đâu trên mảnh đất đầy bom đạn của Điện Biên, nơi từng bị bom thù giày xéo từng tấc đất, tưởng như không một sư sống lại mọc lên một nông trường Điện Biên cây cối tốt tươi, có cả cuộc sống con người với đủ mọi cung bậc cảm xúc.   Đối với con người cũng vậy, hạnh phúc hiện hình từ trong hy sinh, gian khổ. Bác Hồ cũng đã từng nói:   “Nếu không có cảnh đông tàn Thì sao có cảnh huy hoàng ngày xuân”   Con người từ khi sinh ra, không ai có được quyền hưởng hạnh phúc suốt đời mà không phải chịu sự khổ đau, hi sinh nào. Cũng như, không có ai là suốt đời đau khổ mà không tìm được hạnh phúc. Trong vất vả, đớn đau, hạnh phúc vẫn có thể hiện hình. Một người đã “quá lứa lỡ thì” như Đào, đã từng mất chồng mất con, từng lang bạt tứ xứ tối đến đặt lưng ở đâu là nhà – một con người từng chịu bao nhiêu đau khổ, mặc cảm – cuối cùng cũng tìm được một bến đỗ bình yên nơi nông trường, tìm được một hạnh phúc dẫu muộn màng bên người đội trưởng. Vâng, phải chăng đó chính là sự hiện hình của hạnh phúc. Hay với “Vợ nhặt” của Kim Lân chẳng hạn. Trong cái nạn đói khủng khiếp từng giết chết hai triệu đồng bào ta, giữa cái không khí dày đặc nỗi ám ảnh về cái chết mà Kim Lân đã dựng rất thành công, người đọc vẫn cảm động biết bao khi bắt gặp hạnh phúc – dẫu mới chớm nở và đang ngập chìm trong nỗi lo toan của Tràng của “Thị” và của bà cụ Tứ. Vâng, trong đau khổ, đói nghèo, kề cận với cái chết hạnh phúc vẫn hiện hình và trở thành nguồn động viên với họ. Không trải qua hy sinh, gian khổ làm sao đòi hỏi được có hạnh phúc. Hạnh phúc – sự sống cứ như được gieo mầm từ trong cái chết – trong gian khổ hy sinh. Đó chính là lí do để thôi thúc tôi không nguôi hy vọng, không thôi chiến đấu vì niềm tin đó.   Đó là bởi “ở đời này không có con đường cùng chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”…Vai trò của con người đã được khẳng định: con người phải chiến đấu, luôn luôn chiến đấu để vượt qua ranh giới – ranh giới của sự sống và cái chết, giữa hạnh phúc và hy sinh, đau khổ. Vâng, ở đời này không có con đường cùng mà chỉ có những ranh giới. Sự sống, hạnh phúc chưa và sẽ không bao giờ đi đến chỗ tận diệt cả, có chăng đó chỉ là những thử thách, ranh giới đòi hỏi con người phải vượt qua, phải chiến thắng nó. Đó mới là vai trò, sứ mệnh của con người.   Vậy, “điều cốt yếu” là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy. Giữa sự sống – cái chết, hạnh phúc – khổ đau luôn có những ranh giới. Và chỉ có chúng ta, những con người mới có đủ khả năng vượt qua nó. Mị trong “vợ chồng A Phủ” là một minh chứng về sức mạnh vượt qua những ranh giới của con người.   Từ một cô gái xinh đẹp, thổi sáo hay nức tiếng khắp nơi, bị bắt về “cúng trình ma” nhà A Sử, sau khi muốn tự tử mà không được vì thương bố, Mị phải chấp nhận làm dâu – làm con trâu, con ngựa cho nhà thống lý Pá Tra. Bị hành hạ, đối xử tàn tệ, tưởng như Mị đã mất hết sức sống, mất hết ý chí mà trở thành cái xác vô hồn. Nhưng không, trong con người Mị vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt không gì dập tắt nổi. Đó là ngày xuân muộn ở Hồng Ngài, Mị đòi đi chơi xuân (dù sau đó bị A Sử bắt trói vào cột nhà) Đó là ngày tết Mị lén lấy rượu uống từng ngụm lớn. Và tiêu biểu nhất, đỉnh cao của tác phẩm là khi cô cắt dây trói cho A Phủ và xin đi theo. Đó chính là hành động giải thoát cho người khác và cho chính bản thân mình. Tưởng chừng như, sau biết bao hy sinh đau khổ, sư sống, khát khao hạnh phúc trong cô đã bị dập tắt. Nhưng không, nó vẫn cháy âm ỉ thành một sức mạnh giúp cô vượt qua cái ranh giới ấy mà tìm tới hạnh phúc, tìm lại sự sống (và quả thật, tới Phiềng Sa, tìm được ánh sáng của cách mạng Mị và A Phủ đã có cuộc sống đúng nghĩa). Một con người như Mị, tưởng như bị đẩy tới “bước đường cùng” nhưng vẫn đủ sức mạnh để vượt qua. Đó chính là minh chứng: trên đời này không có bước đường cùng mà đó chỉ là ranh giới mà chúng ta phải vượt qua mà thôi. Vậy tại sao, con người lại không đủ dũng khí để tiến bước !   Hay như nhân vật Đào của “Mùa lạc”, cảnh ngộ ấy, cuộc đời ấy như bị đẩy tới tột cùng của đau khổ. Có lúc, Đào mặc cảm không dám đón nhận và chiến đấu vì hạnh phúc. Vậy mà sau đó cô cũng nhận thức được, cũng khao khát được hạnh phúc, đón nhận nó. Và cuối cùng, hạnh phúc đã đến với cô, một gia đình hạnh phúc với người yêu cô trên cái nông trường Điện Biên thân yêu. Đó chính là ranh giới và sự vượt qua ranh giới. Trên đời này không có con đường cùng mà chỉ có những ranh giới. Vâng, và vì thế, đứng trước những ranh giới đó con người phải biết chiến đấu, phải có sức mạnh để vượt qua. Đó chính là điều cốt yếu ! Là con người, hạnh phúc và sự sống không thể chờ đợi ai mang đến cho mình mà phải chiến đấu mà giành lấy và gìn giữ nó. Đứng trước những ranh giới ấy, bản lĩnh con người mới được bộc lộ và phát huy. Không bao giờ được nguôi tắt hi vọng – phải chăng phần nào Nguyễn Khải muốn nhắn gửi với chúng ta điều đó.   Trong cái chết, trong gian khổ hy sinh vẫn có thể nảy sinh, hiện hình hạnh phúc và sự sống. Xung quanh chúng ta cũng có biết bao tấm gương như vậy. Những học sinh hoàn cảnh khó khăn, mất bố mẹ, gia đình nghèo khó mà vẫn vươn lên học tốt không phải là những tấm gương cho ta học tập sao? Những người thương binh, hy sinh một phần máu thịt cho Tổ quốc, những người không còn sức khoẻ mà vẫn vươn lên làm kinh tế giỏi, những người đó có làm ta khơi lại suy nghĩ? Cuộc sống dường như đã đẩy họ đến bước đường cùng, nhưng họ đã chứng minh cho ta thấy, đó chỉ là những ranh giới và thực tế bằng ý chí, quyết tâm, sức mạnh họ đã vượt qua cái ranh giới khó khăn ấy!.   Vâng, từ trong cái chết sự sống vẫn hiện hình. Nó thôi thúc ta hy vọng, chiến đấu để vượt qua tất cả. Hạnh phúc, sự sống nảy sinh hiện hình từ trong gian khổ và cái chết mới khiến ta trân trọng biết bao!   Vấn đề nhân sinh mà Nguyễn Khải đặt ra trong “Mùa lạc” là rất đáng để suy ngẫm chiêm nghiệm. Kết thúc bài viết, tôi lại nhớ đến một bài thơ (cũng của một nhà sư) mà tất cả mọi người trong lớp tôi đều yêu mến. Dường như giữa Nguyễn Khải và Khuông Việt có gì gặp nhau chăng ?   Mộc trung nguyên hữu hoả Nguyên hoả phục hoàn sinh Nhược vị mộc vô hoả Toàn toại hà do minh   Tạm dịch:   Lửa sẵn có trong cây Vơi đi chốc lại đầy Ví cây không có lửa Xát lửa sao bùng ngay.   Cái “ngọn lửa đầu tiên” thắp sáng nên hi vọng ấy phải chăng đã được Nguyễn Khải đưa vào “Mùa lạc” mà phát triển, bổ sung thành một triết lý mới.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phân tích truyện ngắn Mùa Lạc của Nguyễn Khải

PHÂN TÍCH TRUYỆN NGẮN MÙA LẠC CỦA NGUYỄN KHẢI

BÀI LÀM Trong văn học, có những nhà văn, nhà thơ chiếm lĩnh đước tâm hồn độc giả ngay từ sáng tác đầu tiên. Nhưng điều đó rất hiếm. Nguyễn Khải không phải là tác giả nhanh chóng khẳng định được mình trên văn đàn. Ông bắt đầu viết văn từ năm 1950 song chưa thành công; càng về sau, văn phẩm của ông càng giữ được chỗ đứng vững chắc trong lòng bạn đọc. Khác với các nhà văn đương thời, Nguyễn Khải không chỉ thể hiện sự nhạy bén và năng lực khám phá với các vấn đề xã hội mà ông còn đi sâu miêu tả sự biến chuyển của cuộc sống, của con người. Qua việc đặc tả sự biến đổi về số phận và tâm lí nhân vật Đào (Mùa lạc – 1960), Nguyền Khải bộc lộ khá rõ cảm hứng chủ đạo thiên truyện: cảm hứng về sự hồi sinh cuộc sống sau chiến tranh.. Truyện ngắn “Mùa lạc" phản ánh công cuộc đổi mới xã hội ở vùng đất sau chiến tranh, phản ánh cảnh sống con người trên nông trường Điện Biên. Đào cùng là một trong những người gắn bó với cuộc sống nơi đây. Chính mảnh đất này đã góp phần xây dựng cho cô một sức sống mãnh liệt, một cuộc đời mới. "Đào lên nông trường Điện Biên vào dịp đầu năm, ngoài tết âm lịch chừng nửa tháng”. Trước khi lên nông trường, Đào "gặp nhiều điều đau buồn". Cô "lấy chồng từ năm 17 tuổi, nhưng chồng cờ bạc, nợ nần nhiều bỏ đi Nam đến đầu năm 1950 mới về quê. Ăn ở lại với nhau được đứa con trai lên hai thì chồng chết. Với người phụ nữ trẻ, mất chồng là nồi bất hạnh cùng cực, nhưng "mấy tháng sau đứa con lên sởi bỏ đi để chị lại một mình" thì không còn gì có thể đau khổ hơn thế. Đào phải bôn ba kiếm sống với nỗi đau chưa tắt, với cô quạnh bao trùm: "đòn gánh trên vai, tới đâu là nhà, ngã đâu là giường, khi ra Hòn Gai, cẩm Phả lấy muồng, khi ngược Lào Cai buôn gà, vịt.,.”, nơi nào cũng có dấu chân cô độc của chị. Với Đào, khó khăn về vật chất đã khổ (Mùa hè vài cái áo nâu vá vai, mùa đông một chiếc áo bông ngấn bạc…) nhưng sự thiếu thốn trong tâm hồn còn đáng sợ hơn nhiều. Nhìn "ngọn đèn dầu" chị tủi thân "sực nhớ trước đây mình cũng có một gia đình, có một đứa con, sớm lo việc sớm, tối lo việc tối. Còn bây giờ bốn bể là nhà, chỉ lo cho thân mình sao được cơm ngày hai bữa, chân cứng đá mềm". Có thể nói Đào có một số phận bất hạnh. Những bi thương, khốn khổ hiện hình trên hình thức của chị: "Mái tóc óng mượt ngày xưa qua năm tháng đã khô lại, đỏ đi như chết, hàm răng phai không buồn nhuộm, soi gương thấy gò má càng cao, tàn hương nổi càng nhiều". Chính số phận bất hạnh, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời đã tạo nên cho chị một tâm lí "Muốn chết, nhưng đời còn dài nên phải sống", một tính cách "táo bạo và liều lĩnh, ghen tị với mọi người, hờn giận cho thân mình". Cuộc sống của Đào khi chưa lên Điện Biên không được Nguyễn Khải miêu tả chi tiết. Nhưng dưới ngòi bút đầy cảm thông, Đào hiện ra với bao nhiêu xót thương. Tuy nhiên, nếu chỉ có vậy thì chẳng có gì đáng nói bởi văn học xưa nay đã đề cập đến nhiều nỗi đau nhân thế. Giả sử Đào hiện diện cho con người chỉ biết đến đau khổ thì sẽ chìm lấp giữa trăm nghìn hình tượng khác. Ở Đào, tuy trải qua nhiều tháng ngày cơ cực, nhưng trong cô vẫn le lói mong muốn được sống. "Muốn chết" nhưng lại tiếc "cuộc đời còn dài". Chính vẻ đẹp quả cảm kiên nghị đã làm hình tượng nhân vật Đào sống mãi. Đã không thể chết thì quyết sống cho dù sống trong nỗi tủi nhục của con người biết phận mình trăm đường thua thiệt. Đào lên nông trường "với tâm lí con chim bay mãi cũng mỏi cánh, con ngựa chạy mãi cũng chồn chân, muốn tìm một nơi hẻo lánh nào đó, thật xa những nơi quen thuộc để quên đi cuộc đời đã chịu". Ở nông trường, Đào hăng hái lao động bởi cô hiểu chỉ có lao động mới tìm thấy niềm vui và hạnh phúc. Cô thi đua với những người khỏe mạnh như Huân, Lâm… "bàn tay có ngón rất to vẫn thoăn thoắt quơ ra phía sau nắm từng bó lạc và bằng cử chỉ rất nhanh, chị uốn hai cổ tay xiết những rễ cây đầy củ lạc già lên vòng trục". Lên Điện Biên, số phận của Đào dần dần thay đổi. Ít nhất ở thời gian này cô không phải bươn chải khắp nơi, không nhà không cửa. Cô đã tìm lại được chút niềm vui trong lao động, với những bạn bè xung quanh. Nhưng do Đào vẫn mang tâm lí mặc cảm, tự ti và chưa hiểu hết mọi người nên cô thấy đau khổ khi bị mọi người châm chọc. Đào mặc cảm vì cái xấu, cái nghèo… của mình, song anh chàng Lâm vô tâm lại khía đúng vào nỗi khổ ấy. Đào không có nhan sắc – vũ khí người phụ nữ nên cô dùng ngôn ngữ để tự vệ. Chị nhìn Lâm hờn dỗi, chua cay: "Trâu quá xá, mạ quá thì, hồng nhan bỏ bị thì còn gì là xuân nữa hỡi các anh". Đào là một người phụ nữ, cô cũng buồn về sự xấu xí, ế ẩm, lỡ làng nên đôi lúc cô mềm lòng, giãi bày sự đau khổ với người đời "mỗi năm mỗi tuổi, cái tuổi nó đuổi xuân đi, nồi nào vung nấy, em đã có bố cháu ở dưới xuôi rồi”. Nhưng sau đó, Đào lại thấy tiếc cho sự thành thật của mình "chẳng việc gì phải tủi, phải nhún mình". Cô khát vọng được sống bằng tất cả điều gì mình có, người nào chẳng có phần tốt đẹp. Cho nên Đào không chấp nhận sự thương hại. Cô dám nhìn thẳng vào sự thật, kiêu hãnh về sự thật ấy: "Huê thơm bán một đồng mười, Huê tàn nhị rữa giá đôi lạng vàng. Giá đôi lạng vàng chứ chưa vị tất đã bán đâu anh Huân ạ…". Giọng nói chanh chua, chua chát, đanh đá của Đào thật ra chẳng làm ác với ai. Đó chỉ là vũ khí tự vệ để dấu đi tâm lí mặc cảm, đau buồn trong lòng – nỗi đau của còn người ý thức được mình. Đào hiểu muốn hòa nhập là phải tìm thấy trong cuộc sống, trong lao động nét chung, những tấm lòng bao dung. Nhưng hòa nhập không phải là hạ mình, mà vẫn ngẩng cao đầu kiêu hãnh. Tâm lí Đào thật phức tạp, lúc hờn giận, lúc tủi hổ, khi lại ngẩng đầu hãnh diện. Chính ở tình tiết này, Nguyễn Khải bộc lộ khá rõ cảm hứng về sự hồi sinh của sự sống. Chỉ khi nào tâm hồn con người biết đấu tranh, biết vươn lên, lạc quan, biết khát thèm sự sống thì tình cảm mới biến chuyển, thay đổi, thể hiện cho sự giằng xé đời hồi sinh. Nếu con người không muốn đến với sự sống thì tâm hồn mãi chỉ là chuỗi dài le lói, băng lạnh, chẳng nẩy sinh ra nhiều diễn biến tâm lí, tình cảm phức tạp. Thời gian đầu lên nông trường Điện Biên, số phận và tâm lí Đào đã bước đầu thay đổi. Cô đã dần mất đi suy nghĩ "còn những ngày sắp tới ra sao chị cũng không cần rõ". Chị không còn tâm lí buông trôi chơ số kiếp, chị biết kiêu hãnh, biết sống vì phần tốt đẹp bên trong của mình. Nhưng phải đến thời gian sau – thời gian Đào thật sự hòa nhập với cuộc sống nông trường thì cuộc đời chị mới lật sang trang mới. Đến đây, cảm hứng về sự hồi sinh của cuộc sông sau chiến tranh mới được nhận thấy một cách rõ ràng, đầy đủ. Trước kia, tâm lí cửa Đào là "chán sống", "quên đi cuộc đời", nhưng sức sống vần ẩn giấu mãnh liệt trong con người chị qua hình dáng, cử chỉ, ngôn ngữ của chị. Con người với "hai mắt hẹp và dài đưa đi đưa lại rất nhanh (…) hàm răng khểnh của người luôn luôn ưa đùa cợt" cùng tâm lí "đôi mắt nhỏ vẫn ánh lên thách thức" thì không bao giờ chán sống. Tâm lí mặc cảm, tự ti, đanh đá chỉ là lớp vỏ qua bao nhiêu nắng mưa dãi dầu. Niềm khát khao sống trong cô bao giờ cũng mãnh liệt, hễ khi gặp điều kiện sẽ hồi sinh, phát triển mạnh mẽ. Đào không chịu khép mình trong nỗi đau thầm lặng. Chị sống táo bạo và liều lĩnh bởi chị CẦN SỐNG, THÈM SỐNG. Nỗi khát thèm ấy dữ đội, bùng cháy chứ không thể âm ỉ, bằng lặng. Từ tâm lí ghen tị, Đào tìm thấy niềm vui, lao động hăng hái, lối sông tiêu cực bị đẩy lùi. Làm việc bên Huân, nhìn "đôi cánh tay cuồn cuộn thớ thịt cháy nắng, Đào cháy lên nỗi thèm muốn một cảnh gia đình”. Nguyễn Khải viết về sự hồi sinh của cuộc sống, nhưng không chỉ là cuộc sống vật chất, cái màu xanh lặng lẽ của lá lạc, lá cỏ nghệ, rút đồng, miếng vàng sẫm của mấy mảnh gianh…, mà quan trọng hơn là cuộc sống tinh thần. Sự "hồi sinh" là gì, nếu chẳng phải là sự sống lại mơ ước "cảnh gia đình" đầm ấm, tình cảm hạnh phúc. Đào thích gần Huân chưa hẳn là Đào yêu Huân, bởi lí trí mách cô đừng hi vọng gi ở người con trai ấy. Đào đến với Huân vì hơi thở, nụ cười, sức mạnh của anh đốt lên trong cô niềm hi vọng mới – hi vọng cuộc đời mình chưa tắt hẳn. Sự hồi sinh ở đây chính là tâm lí bền bỉ trong Đào không chịu tắt theo năm tháng. Sự hồi sinh – chủ yếu phải do bản thân vận động. Nhưng nếu gặp tác động nào đó, sức sống sẽ nhanh chóng, mạnh mẽ trỗi dậy, Với Đào, sự hồi sinh trong tâm hồn cô trở nên mãnh liệt, lúc âm ỉ, khi bùng cháy dữ dội từ lúc nhận được bức thư tỏ tình của thiếu úy Dịu. Lúc đẩu, Đào bất bình vì nghĩ "người ta đem mình ra mà đùa cợt", người ta khinh mình, Những mặc cảm, tự ti trong chị vẫn chưa chết hẳn, nó khiến chị tức giận muốn xé bức thư ra "làm trăm mảnh". Nhưng khi gấp lá thư lại, một cảm giác êm đềm cứ lan nhanh ra như mạch nước rỉ thấm vào những thớ đất khô cằn vì nắng hạn. Hình ảnh "thớ đất khô cằn" chỉ là hình ảnh ẩn dụ chỉ tâm hồn Đào đã chết cứng, đã chai sạn qua bao năm nay, vất vả. Song "mảnh tâm hồn" ấy đã tươi tốt, nẩy mầm bởi cô nhận được lời yêu thương, gắn bó qua bức thư tình, Lời lẽ trong bức thư khiến cho số phận, tâm lí Đào chuyển đổi hoàn toàn, Chị không còn ác cảm với mọi người, vui vẻ, "sẵn sàng tha thứ cho mọi câu đùa nghịch khác. Tất cả đều là những người đáng yêu, tất cả đều vun xới cho hạnh phúc của chị, đây là anh em, là người làng, họ nhà gái cả". Giờ đây, sự sống thật sự trở lại với Đào. Cô không còn chán sồng mà thấy mình gắn bó với nông trường: "Chẳng ai ở vậy được suốt đời, chẳng ai muốn đi vất vưởng mãi, ai cũng muốn có một quê hương… em định không về dưới xuôi nữa, em ở mãi đây với các anh. Phải đặt hoàn cảnh Đào trong hiện tại với quá khứ mới hiểu hết ý nghĩa, khát vọng trong câu nói của Đào. Hành trình hồi sinh của tâm hồn con người qua bao nhiêu thăng trầm đã SỐNG. Đào là con người đau khổ, cô không "hồng nhan" nhưng vẫn cứ "đa truân". Cô xấu xí, mặc cảm, tự tỉ, chán nản với đời khi mới hai tám tuổi. Nhưng cô đã biết vượt qua những rạnh giới hạn hẹp cá nhân để vươn lên chiếm lĩnh cuộc sống. Như vậy, Nguyễn Khải đã phát hiện ra sự sống của con người không bao giờ vơi cạn, kể cả khi tưởng chừng như cá nhân đó buông trôi số phận cho "con tạo xoay vần". Sự hồi sinh của cuộc sống sau chiến tranh không chỉ thể hiện qua nhân vật Đào, mà còn bộc lộ qua Huân với "những khát khao, những ước mơ đốt cháy trái tim", qua lời ngỏ "táo bạo" của ông trung đội trưởng già phụ trách lò gạch. Sau chiến tranh, sự sống hồi sinh khiến "khu nhà nữ công nhân rộn rịp người ra vào, nhộn nhạo những tiếng cười, tiếng mời chào, tiếng đấm tay thùm thụp". Mảnh đất Điện Biên trước kia là chiến trường ác liệt nhất Đông Dương, mà chỉ mấy năm sau, sức sống đã trở lại: "Trong những buổi lễ cưới người ta tặng nhau một quả mìn nhẩy đã tháo kíp làm giá bút, một quả lựu đạn cối tiện đầu làm bình hoa, một ống khối thuốc mồi của quả bom tấn để đựng giây gia thú, giấy khai sinh cho các cháu sau này, và những cái võng nhỏ của trẻ con tết bằng ruột dây dù rất óng mượt". Sự hi sinh xương máu và sức lao động đưa đến một màu xanh thay cho dây thép gai, mìn và còn tràn ngập những tiếng cười, tràn ngập niềm vui và hạnh phúc: "tiếng cười the thé, tiếng thủ thỉ, tiếng la hét, tiếng trẻ con khóc" mà Nguyễn Khải phát hiện ra chỉ sau bốn năm chiến tranh là biểu hiện sâu sắc sự sống đang hồi sinh khi chiến tranh đi qua: "cuộc sống vĩ đại đã trở lại rồi”. Bên cạnh sự hồi sinh trong tâm hồn cảnh sống con người là sự hồi sinh của thiên nhiên, của cơ sở vật chất: "Cũng chẳng ai ngờ khu pháo binh phía Tây Hồng Cúm của giặc năm xưa lại là bãi trồng lạc của đội sản xuất số sáu… Một năm đã đi qua, mùa xuân thứ hai đã đến. Mày xanh thẫm của đỗ, của ngô, của lạc, màu xanh non của lá mạ, màu đỏ tươi của ớt chín lan dần lên các thứ màu nham nhở, man rợ khác của đất hoang". Thông qua nhân vật Đào, Nguyễn Khải đã thể hiện một cảm hứng mới – cảm hứng về sự hồi sinh của sự sống sau chiến tranh. Đồng thời biểu hiện một năng lực quan sát, khám phá tinh tế. Với Đào, ông không muốn diễn tả nỗi đau nhân thế mà muốn bộc lộ niềm tin mãnh liệt vào sự biến đổi của số phận con người. Đào là hình tượng điển hình cho những người biết vượt qua ranh giới, đứng lên bằng sức mạnh chính mình mà sông để tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống mới. Nguyễn Thu Phương PTTH Hàm Rồng
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phân tích nhân vật Đào trong truyện ngắn Mùa Lạc của Nguyễn Khải

PHÂN TÍCH NHÂN VẬT ĐÀO TRONG TRUYỆN NGẮN MÙA LẠC CỦA NGUYỄN KHẢI

Trong những năm 60, khi miền Bắc nước ta bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã chủ trương khuyến, khích nhân dân – nhất là tầng lớp thanh niên đi xây dựng vùng kinh tế mới. Cùng với các cây bút khác, Nguyễn Khải "khăn gói" đi xa nhập thực tế và viết. Nếu như Huy Cận phấn khởi cùng "Đoàn thuyền đánh cá", Bùi Minh Quốc nô nức "Lên miền Tây", thì Nguyễn Khải lại lặng lẽ quay về với những số phận nhân vật bé nhỏ trong cái ồn ào, biến chuyển của cuộc sống. Trong truyện ngắn "Mùa lạc" rút ra từ tập truyện cùng tên đã nói lên tình cảm và tâm tư của tác giả đối với nhân vật của mình. Đọc tác phẩm ta sẽ thấy được số phận bất hạnh và khát khao hạnh phúc của nhân vặt Đào, hơn nữa ta còn thấy được cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Khải khi viết về người phụ nữ. Khác với những nhân vật dưới đáy xã hội như: Chí Phèo, Điền, Hộ… của Nam Cao, nhân vật Đào có một đoạn đuờng dài đau khổ không như những con người khác. Chị khác họ bởi cuộc đời chị không phải là chuỗi dài những bi kịch. Nỗi bất hạnh của chị một phần do hoàn cảnh, phần vì số kiếp của Đào đã trở thành định mệnh. Chính điều đó đã làm cho chị sống táo bạo hơn, liều lĩnh, ghen tị với mọi người, hờn giận bản thân. Nguyễn Khải đã rất ưu ái khi dành một phần ba trang viết để miêu tả cuộc đời bất hạnh của Đào; đồng thời ông cũng khẳng định khát vọng sống, khát vọng vượn lên cuộc sống mới cho bản thân của mình. Có lẽ để hiểu sâu về Đào ta phải biết về hình dáng bên ngoài của cồ. Bởi đó cũng là một yếu tố để tạo nên số phận bất hạnh của Đào. Đào là một phụ nữ có những nét rất dễ nhận ra trong chân dung, ngoại hình và trong nét tâm lí, tính cách với cái thân người xồ xề của chị nở to ra hổn hển gò má cao nhọn hoắt, bướng bỉnh đầy tàn nhang, cặp chân ngắn, hai bàn tay có những ngón rất to, "hàm răng khểnh, nhiều lúc định mím lại nhưng không chặt”. Hai con mắt hẹp và dài đưa đi đưa lại rất nhanh… Tất cả điều ấy nói lên chị là một con người "ít duyên dáng” về ngoại hình. Những chi tiết ấy báo trước một cuộc đời long đong, lận đận. Điều ấy, phải chăng là đúng. Trước kia, chị cũng như bao thiếu nữ khác, lẽ ra phải được sống cuộc sống đầm ấm và vui tươi cùng cha mẹ. Nhưng chị lại phải xa cái thời tươi đẹp ấy của mình. Nhà không có ruộng, chị phải bươn trải nhiều nghề để kiếm sống, nhưng cuộc đời vẫn không "phù hộ" cho. Thế rồi chị bước lên xe hoa khi cái tuổi vẫn đang nằm trong cái vô tư và năng động – 17 tuổi. Tưởng chừng như cuộc đời sẽ "mỉm cười" với mình, nhưng chị vẫn phải tiếp tục chịu đựng. Cờ bạc, rượu chè, nợ nần nhiều, sống với nhau chưa được bao lâu chồng chị bỏ đi vào Nam, khi trở về sống với nhau chưa được bao lâu thì chồng chị chết. Cách mấy tháng sau đứa con trai lên hai của chị cững bỏ chị chỉ vì bị lên sài. Từ đó, "gái không chồng như phản gỗ long đanh", không con cái xuôi ngược "khi ra Hòn Gai, Cẩm Phả lấy muồng, khi ngược vào Lào Cai buôn gà vịt, mùa tu hú kêu sang đất Hà Nam buôn vải, tháng sáu lại về quê bẻ nhãn" với chiếc đòn gánh trên vai "tới đâu là nhà, ngã đâu là giường". Cuộc đời của chị khác nào cuộc đời của một đấng nam nhi: cuộc đời dạn dày sương gió có pha chút phong trần. Lúc nào cũng "cái áo nâu vá vai, mùa đông một cái áo bông ngắn đã bạc". Dấu ấn của những ngày tháng đã qua không chỉ phai dần trong tâm hồn chị mà nó còn làm cho hình dáng của chị tàn phai: "Mái tóc óng mượt ngày xưa qua năm tháng đã khô lại, đỏ đi như chết, hàm răng phai không buồn nhuộm, soi gương thấy hai gò má cao càng cao, tàn hương nổi càng nhiều. Chính vì thế mà khiến chị đã trở thành một con người sống ghen tị với mọi người và mặc cảm với chính mình. Cuộc đời của chị là một môi trường sống không có niềm vui và hạnh phúc. Tưởng chừng như cuộc sông quá khứ của Đào sẽ làm tâm hồn chị chai sạn nhưng không, chị không phải là con người bằng lòng với những gì mình đã có, Đào vẫn giữ được đức tính của người lao động cần cù và chịu khó. Chị vẫn tin vào cuộc sống ngày mai, chị vẫn khát khao cuộc sống gia đình. Trong những "ngày ốm đau, nằm nhờ nhà người quen, bưng bát cơm nóng, nhìn ngọn đèn dầu lại sực nhớ trước đây mình cũng có một gia đình, có một đứa con, sớm lo việc sớm, tối lo việc tối. Còn bây giờ…" Sức sống của nhân vật Đào thật mãnh liệt. Trong cái khổ cực, chị vẫn khát khao được có hạnh phúc, được sống như mọi người phụ nữ khác. Lúc đầu, khi nói đến nông trường Điện Biên, chỉ để quên đi những ngày đau khổ của mình. Cái quá khứ đã cho chị bao nhiêu cái khổ cực của mình. Chị không cần biết những ngày tới sẽ ra sao, cuộc đời của chị như thế nào? Chị cũng chẳng cần biết, Chị sống bất cần đời. Nhưng cái bản tính cần cù và siêng năng đã giúp cho sức sống mãnh liệt của bản thân khiến chị không chịu buông xuôi. Chị làm việc như cái máy, làm việc để quên đi cuộc đời cũ, để hòa chung với mọi người ở nông trường Điện Biên. Chính nơi đây và con người ở đây đã làm thay đổi Đào, đã thức tỉnh cái khát vọng sống của Đào. Khát vọng về một tổ âm gia đình ngày càng lớn dần trong cô. Với cô, lúc nào cũng có sự "thèm muốn" một hạnh phúc, "thèm muốn" công việc… Khi đứng bên Huân cùng một bàn máy, khi đi làm, cùng buổi nhổ lạc ở một khoảnh, nhìn đôi cánh tay cuồn cuộn những thớ thịt cháy nắng đỏ rực của Huân bên cạnh, Đào lại thấy bừng bừng, chị thèm muốn một cảnh gia đình hạnh phúc. Cuộc đời của chị chưa tất hẳn. Chị đã có một cái gì đó chưa rõ nét nhưng có vẻ đầm ấm hơn, tươi sáng hơn những ngày qua của mình, nó cứ lấp lánh, lập lòe phía trước. Phải chăng, đây là cuộc đời của chị? Đào thực sự được hồi sinh, cuộc sống của cô hình như có vui hơn, cô nhiệt tình cười đùa cùng với mọi người. Với bản tính chân thực nhiệt tình đó Đào đã thu hút đuợc mọi người. Cô đã được mọi người yêu quí. Chị không chỉ khát vọng cho mình mà còn khát vọng cho hạnh phúc của người khác. Vì thế mà cô luôn vun đắp cho hạnh phúc lứa đôi của Huân và Duệ. Từ chỗ bị mọi người trêu đùa với Huân, Đào luôn tìm phản ứng để chống đỡ lại mọi lời trêu đùa: "Mỗi năm một tuổi, nó đuổi xuân đi" hay "Trâu quá sá, mạ quá thì, hồng nhan bỏ bị còn gì là xuân". Đến chỗ có thái độ hồn nhiên, tin yêu, và muốn giãi bày tâm sự của mình đối với một người con trai – người bạn là một quá trình chuyển biến tâm lí trong tâm trạng Đào. Nó không giằng kéo, gay go vật vã như Chí Phèo, cũng không là tia lửa cứ chập chờn như Mị trong "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài nhưng nó vô cùng mãnh liệt. Cái khao khát một gia đình êm ấm của Đào ngày càng mãnh liệt khi cô nhận được bức thư ngỏ lời của Dịu. Đào không từ chối cũng không vội vàng đồng ý. Đọc xong lá thư chị như sống lại cái thời trẻ của mình: "Một cảm giác êm đềm cứ lan nhanh ra, như mạch nước ngọt rỉ thấm vào thớ đất khô cằn vì nắng hạn, một nỗi vui sướng kì lạ dạt dào không thể kìm nén lại nổi; khiến người chị ngất ngây, muốn cười to lên một tiếng, nhưng trong mi mắt lại mọng đầy nước chỉ định trào ra". Vậy là chị đã tìm được cái hạnh phúc lớn lao mà chị đã khát khao từ bao lâu nay. Chị như người con gái mới lớn đang nhận lá thư ngỏ lời đầu tiên. Nếu trước kia, gặp sự đùa nghịch, Đào tỏ ra chua cay, phản ứng một cách thâm nho kịch liệt, thì giờ đây, dưới con mắt của cô sự đùa nghịch của mọi người thật đáng yêu, cô sẵn sàng tha thứ cho họ vì họ đang chăm lo cho hạnh phúc của cô và xây dựng nông trường. Từ ngày ấy, chị không có gia đình, đòn gánh trên vai, tới đâu là nhà, ngã đâu là giường, chị sống táo bạo và liều lĩnh, ghen tị với mọi người và hờn giận cho bản thân. Và cũng từ đó, cũng từ ngày ấy, cái khát vọng có một gia đình hạnh phúc cũng bắt đầu bùng lên trong chị. Một ngọn lửa bị dập tắt từ lâu giờ đây đã có người nhóm, nó bùng lên mạnh mẽ. Qua đoạn văn trên chúng ta không chi nhìn thấy cái bất hạnh và niềm khát khao trở về với mái ấm gia đình mà còn thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc. Đây chính là một trong hai nguồn cảm hứng truyền thông của văn học Việt Nam. Cảm hứng nhân đạo là bộc lộ tư tưởng, tình cảm yêu thương trân trọng, sự đồng cảm với nỗi đau con người và biểu hiện căm giận với thế lực chà đạp lên số phận con người. Hiểu theo ý tưởng đó, cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Khải trước hết là sự đồng cảm nỗi đau, hiểu rõ mong muốn của nhân vật Đào. Ông đã san sẻ những bất hạnh và theo dõi Đào từ đầu đến cuối câu chuyện. Nếu Nam Cao hiểu và đồng cảm với nỗi đau mất quyền làm chủ của Chí Phèo, thì đến nhân vật Đào, Nguyễn Khải đã hoàn chỉnh bổn phận của một nhà văn chân chính mà thế hệ Nam Cao chưa làm được; đó là hướng nhân vật tự vượt ra khỏi nỗi đau, tìm đến sự sống. Vì vậy, cảm hứng nhân đạo của Nguyền Khải là cảm hứng nhân đạo cộng sản chủ nghĩa. Nói đến cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Khải khi viết về người phụ nữ, không thể bỏ qua thái độ của nhà văn đối với nhân vật. Đó là thái độ trân trọng những phẩm chất tốt đẹp vốn có ở nhân vật. Dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, Nguyền Khải cũng theo sát bên Đào, trân trọng những điều cao quí, tốt đẹp mà Đào luôn gìn giữ. Dù thời gian qua, tính cách của mỗi con người có thay đổi. Nguyễn Khải khẳng định, tin tưởng vào khả năng thay đổi của nhân vật Đào vì ở cô luôn có sức sống, khát vọng sống mãnh liệt. Một con người – nhất là người phụ nữ đã mang sẵn trong mình bản năng ấy, sớm muộn gì nó sẽ "bừng sáng" và được toại nguyện. "Từ ngày ấy, chị không có gia đình, đòn gánh trên vai, tới đâu là nhà, ngã đâu là giường, chị sông, táo bạo và liều lĩnh, ghen tị với mọi người và hờn giận cho bản thân". Nhưng ngay từ ấy chị nuôi dưỡng một khát vọng hạnh phúc gia đình. Câu chuyện khép lại không phải là cảnh đám cưới hay một gia đình hạnh phức nhưng ta biết rằng Đào đã đạt được cái khát vọng của mình. Phải chăng, đây chính là cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Khải?
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tim hiểu tác phẩm Mùa Lạc

TIM HIỂU TÁC PHẨM MÙA LẠC

1.Giới thiệu         Mùa xuân đầy thương tích chiến tranh, cuối hạ, đầu thu nước tràn ngập, mùa đông sương giá. Một năm đi qua. Mùa xuân thứ hai đã đến. Màu xanh thẫm của đỗ, của ngô, của lạc, màu xanh non của lá mạ, màu đỏ tươi của ớt chín lấn dần lên các thứ màu nham nhở, man rợ khác của đất hoang… Cuộc sống vĩ đại đã trở lại rồi. Đoạn văn trên trong tác phẩm Mùa lạc coi là đoạn văn thể hiện cảm hứng chủ đạo của tác phẩm: cảm hứng hồi sinh của cuộc sống mới. 2.Phân tích 2.1Cảm hứng hồi sinh được thể hiện ở tựa đề của tác phẩm          Với cách thể đặt truyện Mùa lạc, Nguyễn Khải đã gợi cho người đọc hình dung về thời gian, không gian của thiên truyện. Thời gian là mùa thu hoặch lạc. Không gian là những bãi trồng lạc xanh ngút ngàn đến giáp rừng. Không gian và thời gian ấy không chỉ hứa hẹn niềm vui về một mùa thu bội mà còn gây ấn tượng về một sức sống xanh ước mơ. Tình yêu và hạnh phúc sẽ được thắp sáng trên mảnh đất trước đây đầy dấu tích của sự huỷ diệt. Lạc còn có nghĩa là vui. Mùa lạc là mùa của niềm vui, mùa của hạnh phúc. 2.2.Cảm hứng hồi sinh được thể hiện ở cách dựng truyện, ở bút pháp miêu tả          – Để thể hiện ý tưởng về sự hồi sinh của cuộc sống, nhà văn Nguyễn Khải đã dùng bút pháp tương phản để khắc hoạ bức tranh thiên nhiên. Nếu mùa xuân năm ngoái đất này còn ngợp lên một rừng cây chó đẻ, dây thép gai, mìn, vỏ đạn đại bác, như nát vì những hố bom, những giao thông hào…, đấy là mùa xuân còn đầy thương tích của chiến tranh; thù mùa xuân này là mùa xuân của sự tươi xanh (màu xanh bạt ngàn của đỗ, ngô, lạc, lá mạ, màu đỏ tươi của ớt chín, những chấm hoa đỏ của giàn liễu, màu vàng ửng của đu đủ, bóng lá loáng mướt của rặng chuối…). Sự tương phản của cảnh vật đã góp phần làm sáng tỏ chủ đề về cuôc đổi thay lớn, cuộc đổi mới lớn, nơi trước đây là đất của chiến tranh huỷ diệt thì cuộc sống mới đã đuợc vun trồng và vươn dậy.           – Một điểm độc đáo trong việc khắc hoạ không gian nghệ thuật của tác giả đã xây dựng bức tranh thiên nhiên hoà quyện với bức tranh sinh hoạt của con người. Bên cạnh màu sắc rực rõ của thiên nhiên là những âm thanh, hình ảnh rộn ràng của cuộc sống đời thường: tiếng ngỗng bì bạch, tiếng guốc đi lẹp kẹp, bóng dáng của những chị có mang ở khu gia đình, tiếng cười the thé, tiếng cười thủ thỉ, tiếng la hét, tiếng trẻ em khóc, tiếng máy tuốt lạc, tiếng cười nói trong giờ giải lao… Đấy là sự hồi sinh của thiên nhiên và hồi sinh của cuộc sống con người.            – Cho nên không phải vô ý mà Nguyễn Khải đã miêu tả những biểu tượng hạnh phúc: trong buổi lễ cưới ng ta tặng nhau một quả mìn đã tháo kín làm giá bứt, một quả đạn cối tiện đầu, quét lượt sơn trắng làm bình hoa, một ống khói thuốc mồi để đựng giấy giá thú, giấy khai sinh, dây dù tết làm võng trẻ em. Nghĩa là mầm sống thiêng liêng nhất đã hoài thai và sinh nở: Sự sống nẩy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy… 2.3. Cảm hứng hồi sinh được thể hiện tập trung ở sự biến đổi số phận và tâm hồn con người          Sự hồi sinh được nói đến nhiều nhất, tha thiết nhất của tác phẩm chính là sự hồi sinh diễn ra ở số phận con người. Một người lính (Dịu) trải qua chiến tranh lại đối diện với tuổi già và cô đơn. Một cô gái (Duệ) thiếu tình thương từ bé, luôn lo âu, yếu ớt trước cuộc sống. Đặc biệt là Đào, người phụ nữ bất hạnh trong quá khứ: lấy chồng chẳng ra gì, chồng chết, con chết, sống vất vưởng rày đây mai đó, cô đơn trước đường đời đến nỗi hình hài phôi pha dần theo năm tháng. Nhưng khi đến với nông trường Điện Biên, những tâm hồn vốn bị khổ đau, mất mát, nhiều hờn tủi ấy đuợc sưởi ấm bằng tình thương. Ở nơi đấy có những con người tốt bụng, đáng yêu, quan tâm đến nhau. Người lính già gặp đuợc người phụ nữ mình mong ước. Người con gái yếu đuối gặp được một người từng trải, có tâm hồn tron sáng, cao thượng, sẵn sàng nâng đỡ cô. Riêng Đào, lại bừng sáng niềm tin về cuộc sống mới, với bao hạnh phúc chưa từng có ở những tháng năm trước đó.            Sự hồi sinh âm thầm nhưng mãnh liệt nhất ở trong tâm hồn của mỗi người vốn bất hạnh, mà Đào là cá nhân rất điển hình. Từ một người táo bạo, liều lĩnh, ghen tị với mọi người, hờn giận chi thân mình, sẵn sàng chanh chua, đanh đá, đốp chát với bất kỳ ai đã trở nên dịu dàng, rộng lòng tha thứ, sống với những cảm giác, những khao khát rất con người. Qua đó, nhà văn cho thấy, nơi mảnh đất truớc đây là chiến tranh ác liệt thì nay đã bắt đầu nảy nở không chỉ một mùa lạc đầu tiên mà cả những xao xuyến, những khát khao đuợc sống cho đầy đủ cuộc sống con người.           Điện Biên trong Mùa lạc, do đó sẽ không chỉ là cái tên gợi nhớ những chiến tích hào hùng. Điện Biên, cái mảnh đất dính người phải biết ấy, trong cảm hứng của Nguyễn Khải còn là nơi đền bùi cho những tâm hồn thương tổn đó, chữa lành những vết nứt đau, làm tươi lại những con tim cằn héo và đem lại sự êm ấm cho những cảnh đời vắng lặng.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Suy nghĩ của anh (chị) đối với vấn đề nhân sinh được đặt ra trong câu văn sau: “sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con

SUY NGHĨ CỦA ANH (CHỊ) ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ NHÂN SINH ĐƯỢC ĐẶT RA TRONG CÂU VĂN SAU: “SỰ SỐNG NẢY SINH TỪ TRONG CÁI CHẾT, HẠNH PHÚC HIỆN HÌNH TỪ TRONG NHỮNG HY SINH, GIAN KHỔ, Ở ĐỜI NÀY KHÔNG CÓ CON

SUY NGHĨ CỦA ANH (CHỊ) ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ NHÂN SINH ĐƯỢC ĐẶT RA TRONG CÂU VĂN SAU: “SỰ SỐNG NẢY SINH TỪ TRONG CÁI CHẾT, HẠNH PHÚC HIỆN HÌNH TỪ TRONG NHỮNG HY SINH, GIAN KHỔ, Ở ĐỜI NÀY KHÔNG CÓ CON ĐƯỜNG CÙNG, CHỈ CÓ NHỮNG RANH GIỚI, ĐIỀU CỐT YẾU LÀ PHẢI CÓ SỨC MẠNH ĐỂ BƯỚC QUA NHỮNG RANH GIỚI ẤY...” (MÙA LẠC - NGUYỄN KHẢI) Triết lý nhà phật có nhắc đến cái gọi là thuyết luân hồi: Một con người, sự vật chết đi sẽ hoá thân, chuyển kiếp sang một kiếp sống mới, dưới một hình hài mới. Bản thân tôi không hoàn toàn tin vào nó, tôi cảm nhận được nó dưới một khía cạnh khác. Đọc “Mùa lạc” của Nguyễn Khải tôi nhận ra được một điều đó: “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy” Sự sống ở đây, theo tôi là những giá trị hiện sinh, đó là sự sống của con người, cỏ cây, chim muông. Đó cũng có thể hiểu là sự sống trong tâm hồn, trong nhận thức. Sự sống và cái chết; hạnh phúc và hy sinh gian khổ là những khái niệm trái ngược nhau, thế nhưng “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ”. Tại sao lại như thế? Theo tôi, trước hết là bởi không có gì trường tồn mãi với thời gian, không có cuộc sống, số phận nào là luôn luôn hạnh phúc. Cái chết phải luôn song hành cùng sự sống, có hy sinh gian khổ mới có hạnh phúc. Cuộc sống vốn rất phức điệu và đa chiều. Nó có muôn màu, muôn vẻ thiên hình và vạn trạng.Ông cha ta đã từng khẳng định: “Qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai”. Đó chính là một dẫn chứng cho ý kiến trên.Không ai cấm, trên xác cây khô kia nảy sinh những mầm xanh, qua mùa đông tàn tạ úa vàng mới đến ngày xuân trăm hoa đua nở. Đó chính là vì “sự sống nảy sinh từ trong cái chết”. Ở đây là một câu nói có tính chất khẳng định. Từ trong cái chết – cái tàn tạ, úa vàng sẽ nảy sinh ra sự sống – giá trị hiện sinh. Sự sống ấy dĩ nhiên không thể chung sống, phát triển trong môi trường ấy nhưng đó là nơi nó “nảy sinh”. Bản thân sự vật luôn biến đổi không ngừng nghỉ, ẩn đằng sau - tận bên trong cái khô héo không ai ngăn trở được những biến đổi vận động không ngừng để nảy sinh ra sự sống. Ai biết được, những hạt lúa đã được phơi khô kia cấy xuống nước lại có thể mọc ra cây lúa xanh tươi. Tôi lại chợt nhớ đến bài kệ của một bậc thiền sư thời Lý căn dặn học trò trước lúc ra đi. Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai Sự trục nhãn tiền quá Lão tòng đầu thượng lai Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai Dịch thơ Xuân đi trăm hoa rụng Xuân đến trăm hoa cười Trước mắt việc đi mãi Sau lưng già đến rồi Ai bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một cành mai (Mãn giác thiền sư) Vâng, xuân đến và đi là quy luật của tạo hoá. Đó là vòng quay của thời gian. Thế nhưng, trong cái giá rét của đêm đông ấy, trên cái cành khô mà tưởng như hoa đã “lạc tận” – rụng hết ấy vẫn bừng lên vẻ đẹp của “nhất chi mai”. Cái hình ảnh cành mai dẫu đơn độc nhưng thật cứng cỏi ấy như tạc vào đêm tối chính là minh chứng rõ ràng nhất cho sự sống ở giữa cái nơi mà vạn vật tưởng đã úa tàn. Sự sống và cái chết, đau khổ và hạnh phúc, đó chính là một vòng tròn của số phận, của tạo hoá; đó chính là nguyên cớ cho sự nảy sinh – hiện hình. Với “Mùa lạc”, Nguyễn Khải cũng đã chứng minh được điều đó. Có ai ngờ đâu trên mảnh đất đầy bom đạn của Điện Biên, nơi từng bị bom thù giày xéo từng tấc đất, tưởng như không một sư sống lại mọc lên một nông trường Điện Biên cây cối tốt tươi, có cả cuộc sống con người với đủ mọi cung bậc cảm xúc.Đối với con người cũng vậy, hạnh phúc hiện hình từ trong hy sinh, gian khổ. Bác Hồ cũng đã từng nói:“Nếu không có cảnh đông tànThì sao có cảnh huy hoàng ngày xuân”Con người từ khi sinh ra, không ai có được quyền hưởng hạnh phúc suốt đời mà không phải chịu sự khổ đau, hi sinh nào. Cũng như, không có ai là suốt đời đau khổ mà không tìm được hạnh phúc. Trong vất vả, đớn đau, hạnh phúc vẫn có thể hiện hình. Một người đã “quá lứa lỡ thì” như Đào, đã từng mất chồng mất con, từng lang bạt tứ xứ tối đến đặt lưng ở đâu là nhà – một con người từng chịu bao nhiêu đau khổ, mặc cảm – cuối cùng cũng tìm được một bến đỗ bình yên nơi nông trường, tìm được một hạnh phúc dẫu muộn màng bên người đội trưởng. Vâng, phải chăng đó chính là sự hiện hình của hạnh phúc. Hay với “Vợ nhặt” của Kim Lân chẳng hạn. Trong cái nạn đói khủng khiếp từng giết chết hai triệu đồng bào ta, giữa cái không khí dày đặc nỗi ám ảnh về cái chết mà Kim Lân đã dựng rất thành công, người đọc vẫn cảm động biết bao khi bắt gặp hạnh phúc – dẫu mới chớm nở và đang ngập chìm trong nỗi lo toan của Tràng của “Thị” và của bà cụ Tứ. Vâng, trong đau khổ, đói nghèo, kề cận với cái chết hạnh phúc vẫn hiện hình và trở thành nguồn động viên với họ. Không trải qua hy sinh, gian khổ làm sao đòi hỏi được có hạnh phúc. Hạnh phúc – sự sống cứ như được gieo mầm từ trong cái chết – trong gian khổ hy sinh. Đó chính là lí do để thôi thúc tôi không nguôi hy vọng, không thôi chiến đấu vì niềm tin đó.Đó là bởi “ở đời này không có con đường cùng chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”… Vai trò của con người đã được khẳng định: con người phải chiến đấu, luôn luôn chiến đấu để vượt qua ranh giới – ranh giới của sự sống và cái chết, giữa hạnh phúc và hy sinh, đau khổ. Vâng, ở đời này không có con đường cùng mà chỉ có những ranh giới. Sự sống, hạnh phúc chưa và sẽ không bao giờ đi đến chỗ tận diệt cả, có chăng đó chỉ là những thử thách, ranh giới đòi hỏi con người phải vượt qua, phải chiến thắng nó. Đó mới là vai trò, sứ mệnh của con người.Vậy, “điều cốt yếu” là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy. Giữa sự sống – cái chết, hạnh phúc – khổ đau luôn có những ranh giới. Và chỉ có chúng ta, những con người mới có đủ khả năng vượt qua nó. Mị trong “vợ chồng A Phủ” là một minh chứng về sức mạnh vượt qua những ranh giới của con người.Từ một cô gái xinh đẹp, thổi sáo hay nức tiếng khắp nơi, bị bắt về “cúng trình ma” nhà A Sử, sau khi muốn tự tử mà không được vì thương bố, Mị phải chấp nhận làm dâu - làm con trâu, con ngựa cho nhà thống lý Pá Tra. Bị hành hạ, đối xử tàn tệ, tưởng như Mị đã mất hết sức sống, mất hết ý chí mà trở thành cái xác vô hồn. Nhưng không, trong con người Mị vẫn tiềm tàng một sức sống mãnh liệt không gì dập tắt nổi. Đó là ngày xuân muộn ở Hồng Ngài, Mị đòi đi chơi xuân (dù sau đó bị A Sử bắt trói vào cột nhà) Đó là ngày tết Mị lén lấy rượu uống từng ngụm lớn. Và tiêu biểu nhất, đỉnh cao của tác phẩm là khi cô cắt dây trói cho A Phủ và xin đi theo. Đó chính là hành động giải thoát cho người khác và cho chính bản thân mình. Tưởng chừng như, sau biết bao hy sinh đau khổ, sư sống, khát khao hạnh phúc trong cô đã bị dập tắt. Nhưng không, nó vẫn cháy âm ỉ thành một sức mạnh giúp cô vượt qua cái ranh giới ấy mà tìm tới hạnh phúc, tìm lại sự sống (và quả thật, tới Phiềng Sa, tìm được ánh sáng của cách mạng Mị và A Phủ đã có cuộc sống đúng nghĩa). Một con người như Mị, tưởng như bị đẩy tới “bước đường cùng” nhưng vẫn đủ sức mạnh để vượt qua. Đó chính là minh chứng: trên đời này không có bước đường cùng mà đó chỉ là ranh giới mà chúng ta phải vượt qua mà thôi. Vậy tại sao, con người lại không đủ dũng khí để tiến bước !Hay như nhân vật Đào của “Mùa lạc”, cảnh ngộ ấy, cuộc đời ấy như bị đẩy tới tột cùng của đau khổ. Có lúc, Đào mặc cảm không dám đón nhận và chiến đấu vì hạnh phúc. Vậy mà sau đó cô cũng nhận thức được, cũng khao khát được hạnh phúc, đón nhận nó. Và cuối cùng, hạnh phúc đã đến với cô, một gia đình hạnh phúc với người yêu cô trên cái nông trường Điện Biên thân yêu. Đó chính là ranh giới và sự vượt qua ranh giới.Trên đời này không có con đường cùng mà chỉ có những ranh giới. Vâng, và vì thế, đứng trước những ranh giới đó con người phải biết chiến đấu, phải có sức mạnh để vượt qua. Đó chính là điều cốt yếu ! Là con người, hạnh phúc và sự sống không thể chờ đợi ai mang đến cho mình mà phải chiến đấu mà giành lấy và gìn giữ nó. Đứng trước những ranh giới ấy, bản lĩnh con người mới được bộc lộ và phát huy. Không bao giờ được nguôi tắt hi vọng – phải chăng phần nào Nguyễn Khải muốn nhắn gửi với chúng ta điều đó. Trong cái chết, trong gian khổ hy sinh vẫn có thể nảy sinh, hiện hình hạnh phúc và sự sống. Xung quanh chúng ta cũng có biết bao tấm gương như vậy. Những học sinh hoàn cảnh khó khăn, mất bố mẹ, gia đình nghèo khó mà vẫn vươn lên học tốt không phải là những tấm gương cho ta học tập sao? Những người thương binh, hy sinh một phần máu thịt cho Tổ quốc, những người không còn sức khoẻ mà vẫn vươn lên làm kinh tế giỏi, những người đó có làm ta khơi lại suy nghĩ? Cuộc sống dường như đã đẩy họ đến bước đường cùng, nhưng họ đã chứng minh cho ta thấy, đó chỉ là những ranh giới và thực tế bằng ý chí, quyết tâm, sức mạnh họ đã vượt qua cái ranh giới khó khăn ấy!. Vâng, từ trong cái chết sự sống vẫn hiện hình. Nó thôi thúc ta hy vọng, chiến đấu để vượt qua tất cả. Hạnh phúc, sự sống nảy sinh hiện hình từ trong gian khổ và cái chết mới khiến ta trân trọng biết bao!Vấn đề nhân sinh mà Nguyễn Khải đặt ra trong “Mùa lạc” là rất đáng để suy ngẫm chiêm nghiệm. Kết thúc bài viết, tôi lại nhớ đến một bài thơ (cũng của một nhà sư) mà tất cả mọi người trong lớp tôi đều yêu mến. Dường như giữa Nguyễn Khải và Khuông Việt có gì gặp nhau chăng ? Mộc trung nguyên hữu hoả Nguyên hoả phục hoàn sinh Nhược vị mộc vô hoả Toàn toại hà do minh Tạm dịch: Lửa sẵn có trong cây Vơi đi chốc lại đầy Ví cây không có lửa Xát lửa sao bùng ngay. Cái “ngọn lửa đầu tiên” thắp sáng nên hi vọng ấy phải chăng đã được Nguyễn Khải đưa vào “Mùa lạc” mà phát triển, bổ sung thành một triết lý mới.
Xem thêm

3 Đọc thêm

TÌM HIỂU VĂN HỌC MÙA LẠC

TÌM HIỂU VĂN HỌC MÙA LẠC

Tác giả Nguyễn Khải sinh năm 1930 ở Hà Nội, quê cha ở Nam Định. Là nhà văn quân đội. Tác phẩm tiêu biểu: “Xung đột” (1953-1962), “Mùa lạc” (1960), “Chiến sĩ” (1973), “Gặp gỡ cuối năm” (1982), “Thời gian của người” (1985), v.v… Nguyễn Khải là một nhà văn giàu sáng tạo, rất nhạy bén trước hiện thực cuộc sống. Năng lực phân tích tâm lý sắc sảo, sức mạnh của lý trí là mặt mạnh của trang văn Nguyễn Khải. Thời kỳ đổi mới văn học nước nhà, tác phẩm của Nguyễn Khải hàm chứa chất chính luận - triết lý. Xuất xứ Truyện ngắn “Mùa lạc” rút trong tập truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Khải xuất bản năm 1960 nói về cuộc sống của những con người trên nông trường Điện Biên. Chủ đề Cuộc đổi đời chứa chan hạnh phúc của những số phận bất hạnh tìm thấy được trong mối quan hệ xã hội tốt đẹp đầy tình thương và trong lao động hòa bình Cuộc sống mới Chiến trường Điện Biên hoang tàn đầy bom đạn dây thép gai… biến đổi từng ngày từng tháng. Màu xanh bãi trồng lạc mênh mông. Cáng chở lạc đầy ắp, thân cây lạc, củ lạc. Máy tuốt lạc chạy rào rào. Tiếng cười nói, nô đùa. Báo tường, tập hát, tiếng sáo, thư tình… Tiếng trẻ con khóc, tiếng cười, tiếng thủ thỉ, những đám cưới. - Người ta làm việc, người ta yêu nhau… Cuộc sống vĩ đại đã trở lại rồi. Nông trường Điện Biên, sau 2 mùa xuân, không chỉ có màu xanh của lạc, khoai đỗ lấn dần cỏ dại, đất hoang mà còn là nơi đất lành chim đậu. Các chiến sĩ nông trường đã gắn bó với nhau trong lao động và tình thương, họ nghĩ đến con cháu sau này sẽ lớn lên ở nông trường – quê hương thứ hai vô cùng thân thiết của họ. Con người mới - Huân là một người lính, từ khói lửa chiến tranh trở thành một tổ viên của tổ sản xuất trồng lạc trên nông trường Điện Biên trong hòa bình. Đẹp trai, trẻ trung, hăng hái lao động giỏi, khát khao tình yêu hạnh phúc, anh là niềm tin cậy của bạn bè. - Duệ, một cô gái xinh xắn, tuổi thơ nhiều tủi nhục, lo âu, nhiều bỡ ngỡ trong tình yêu, - Ông Dịu, trung đội trưởng già, góa vợ, phụ trách lò gạch của nông trường, đã có một đứa con ở quê nhà. Ông đã gửi cho Đào lá thư cầu hôn, lá thư quyết định số phận của Đào. - Đào, một phụ nữ nhiều bất hạnh. Người thô, sồ sề, mặt đầy tàn hương, hàm răng khểnh, hai con mắt hẹp và dài, ngón tay rất to, chân ngắn. Tóc khô lại đỏ như chết, hàm răng phai không buồn nhuộm. Lấy chồng từ 17 tuổi. Chồng rượu chè, cờ bạc, bỏ đi Nam. Đẻ được đứa con trai lên hai thì chồng chết, mấy tháng sau con chết. Cô đơn, vất vưởng kiếm sống, buôn thúng bán mẹt, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường. Sống táo bạo, liều lĩnh ghen tị với mọi người và hờn giận cho bản thân mình. Lên nông trường Điện Biên khi đã 28 tuổi, với tâm lý đi xa, quên đi cuộc đời quá vãng. Đanh đá, sắc sảo, thuộc nhiều ca dao câu hát. Nổi tiếng với bài thơ “Đường lên nông trường Điện Biên” đăng bích báo. Đào lao động giỏi chẳng kém gì thanh niên. Lá thư cầu hôn của ông Dịu già, góa vợ phụ trách lò gạch nông trường đã đem đến cho Đào nhiều xúc động. Lá thư “như tiếng nhạc ngân vang mãi trong lòng chị”. Tâm tính Đào thay đổi dần. Chị vừa đẩy cáng lạc vừa cất tiếng hát véo von. Bị trêu chọc nhưng chị sẵn sàng tha thứ, xem mọi người là đáng yêu, đang vun xới hạnh phúc cho chị. Chị nghĩ đến hạnh phúc mai sau khao khát có một quê hương, chính là nông trường Điện Biên. Huân và Duệ, Đào và Dịu, nhiều lứa đôi khác đã nên vợ nên chồng. Họ sẽ sinh con đẻ cái, tìm thấy hạnh phúc và sự đổi đời trên nông trường Điện Biên. Đoạn trữ tình ngoài đề đã làm sáng tỏ ý tưởng sâu sắc, đẹp đẽ ấy: “Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”… Nông trường Điện Biên trở thành quê hương thứ hai của Đào, và chị đã tìm thấu hạnh phúc ở một nơi mà chiến tranh đã xảy ra ác liệt nhất. Chính mối quan hệ tốt đẹp trong lao động và tình thương đồng loại là cái chìa khoá để Đào mở được cánh cửa cuộc đời và tìm được hạnh phúc đích thực. Kết luận Truyện “Mùa lạc” viết về cuộc sống mới, con người mới. Tác giả đã tránh được sơ lược như nhiều truyện khác, trái lại ông đã tập trung miêu tả sự biến đổi số phận con người, sự hình thành những quan hệ đạo đức mới giữa con người, khẳng định những giá trị nhân đạo và lối sống trong xã hội mới. Chất thơ của truyện một phần toát ra ở những đoạn tả cảnh, tả người. Lần đầu tiên, Nguyễn Khải vận dụng thành công đoạn trữ tình ngoại đề trong truyện ngắn.
Xem thêm

2 Đọc thêm

TÍNH GIẢI ĐƯỢC CỦA MỘT LỚP BÀI TOÁN BIÊN CHO HỆ PHƯƠNG TRÌNH VI PHÂN HÀM TUYẾN TÍNH VỚI PANTOGRAPH

TÍNH GIẢI ĐƯỢC CỦA MỘT LỚP BÀI TOÁN BIÊN CHO HỆ PHƯƠNG TRÌNH VI PHÂN HÀM TUYẾN TÍNH VỚI PANTOGRAPH

HỒ CHÍ MINH NGUY ỄN THỊ KIM CƯƠNG TÍNH GI ẢI ĐƯỢC CỦA MỘT LỚP BÀI TOÁN BIÊN CHO H Ệ PHƯƠNG TRÌNH VI PHÂN HÀM TUY ẾN TÍNH V ỚI PANTOGRAPH CHUYÊN NGÀNH: TOÁN GI ẢI TÍCH MÃ S Ố: 60 46 01 LU[r]

20 Đọc thêm

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ VÀ HƯỚNG DẪN TỰ HỌC VÀO VIỆC THIẾT KẾ MỘT SỐ GIÁO ÁN TIẾNG VIỆT (BẬC THPT)

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ VÀ HƯỚNG DẪN TỰ HỌC VÀO VIỆC THIẾT KẾ MỘT SỐ GIÁO ÁN TIẾNG VIỆT (BẬC THPT)

HỒ CHÍ MINH NGUY ỄN THỊ MỸ AN V ẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ VÀ HƯỚNG DẪN TỰ HỌC VÀO VIỆC THIẾT KẾ MỘT S Ố GIÁO ÁN TIẾNG VIỆT BẬC THPT CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ M[r]

20 Đọc thêm

BÀI TOÁN GIẢI CHẬP TRONG THỐNG KÊ PHI THAM SỐ

BÀI TOÁN GIẢI CHẬP TRONG THỐNG KÊ PHI THAM SỐ

HỒ CHÍ MINH NGUY ỄN THỊ DIỆU HUYỀN BÀI TOÁN GI ẢI CHẬP TRONG TH ỐNG KÊ PHI THAM SỐ CHUYÊN NGÀNH: TOÁN GIẢI TÍCH MÃ S Ố: 60460102 LU ẬN VĂN THẠC SĨ TOÁN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.T[r]

20 Đọc thêm

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU HỒI BỒI THƯỜNGHỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI THU HỒI ĐẤT TẠI DỰ ÁNKHU CÔNG NGHIỆP NGHI SƠN TĨNH GIA THANH HÓA

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU HỒI BỒI THƯỜNGHỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI THU HỒI ĐẤT TẠI DỰ ÁNKHU CÔNG NGHIỆP NGHI SƠN TĨNH GIA THANH HÓA

TRANG 1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TR ƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHI ỆP ---NGUY ỄN H ÙNG PHÚ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆNCÔNG TÁC THU HỒI, BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI THU HỒI[r]

2 Đọc thêm

BÉO PHÌNGUY ỄN TH Ị NH ẠN

BÉO PHÌNGUY ỄN TH Ị NH ẠN

BÉO PHÌNguy ễn Th ị Nh ạnĐỊNH NGHĨABéo phì đượ c đị nh ngh ĩa b ằng s ự quá t ải l ượ ng m ỡ c ơ th ể, đặ c bi ệt liên quanđến chuy ển hóa n ăng l ượng, kéo theo h ậu qu ả x ấu cho s ức kh ỏe..Ho ặc g ọi là béo phì khi t ăng trên 25% tr ọng l ượ ng c ơ th ể và đượ c đánh giá d ựavào kíc h th ướ c và gi ới.ĐỊNH NGHĨA (tt)Đại đa s ố dùn g BMI để đánh giá m ức độ béo phì.T ừ giá tr ị này, ng ườ i ta xem nh ư là s ự tíc h m ỡ quá nhi ều, b ởi vì nó kéo theo m ột s ựgia t ăng có ý ngh ĩa v ề b ệnh su ất và t ử su ấtBMI t ừ 20-25 đượ c xem là t ốt, quá t ải tr ọng l ượ ng khi BMI >27 và béo phì đượ cđịnh ngh ĩa b ằng BMI ≥ 30.
Xem thêm

100 Đọc thêm

Các bài thơ hay nhất của ĐOÀN NGUYỄN THỤC VÀ ĐOÀN NGUYỄN TUẤN

Các bài thơ hay nhất của ĐOÀN NGUYỄN THỤC VÀ ĐOÀN NGUYỄN TUẤN

PHỤ LỤC 1 THƠ ĐI SỨ CỦA ĐOÀN NGUYỄN THỤC 1. NAM QUAN VÃN ĐỘ (南關晚渡) Sổ thanh la pháo hưởng trùng đài(數聲鑼砲響重臺), Bắc ải Nam quan thứ đệ khai(北隘南關次第開). Giá lạc khách tòng Thiên thượng khứ(駕駱客從天上去), Ca ly nhân vọng nhật biên hồi(歌驪人望日邊回). Viễn sơn cao điểu nghinh trần khởi(遠山高鳥迎塵起), Cố quốc thanh phong việt lĩnh lai(故國清風越嶺來). Nhất đảm mộ vân tri đạo viễn(一擔暮雲知道遠), Tư tình công nghĩa đệ tương thôi(私情公義遞相催). Dịch nghĩa: BUỔI CHIỀU QUA CỬA NAM QUAN Nghe tiếng la tiếng pháo rộn rịp trên trùng đài, Cửa nam cửa bắc lần lượt mở ra. Cưỡi ngựa khách đi theo lối lên trời, Hát khúc li câu, mong ngày về nước (về bên mặt trời) Ngọn núi xa chim đón làn bụi bay lên, Gió mát nước nhà vượt ngọn Ngũ Lĩnh thổi đến. Một gánh trong mây chiều biết là đường xa tắp, Tình riêng nghĩa công, cả hai đều bận lòng. Chú thích: (1) Nam Quan: cửa ải phía Nam Trung Quốc, giáp nước ta, trước gọi là Trấn Nam Quan, sau đổi là Mục Nam Quan nghĩa là thân thiện với phương nam, khác với trước nghĩa là trấn áp phương nam. (2) Trùng đài: hai cái đài, một đài ở cửa quan về phía Việt Nam, một đài ở cửa quan về phía Trung Quốc. (2) Giá lạc: cưỡi ngựa “lạc”. Kinh thi “ngã mã duy lạc” 2. QUÁ ĐỘNG ĐÌNH HỒ (過洞庭湖) Vạn liên vân sắc thuỷ liên không (岸連雲色水連空), Thuỷ sắc vân quang vọng mạc cùng(水色雲光望莫窮). Thiên địa thử gian hà khoáng mạc (天地此間何曠漠), Ba đào chung cổ tự xung dung (波濤終古自融). Kinh Nam lâu lỗ thanh minh ngoại (荆南樓橹青冥外), Nhạc Bắc phàm tường diểu ái trung (岳北帆檣杳靄中). Bạch vi hoàng mao hà xứ viễn (白葦黃茅何處遠), Phi qua thuỳ thị lãng ngâm ông (飛過誰是朗吟翁)
Xem thêm

Đọc thêm

PHÂN TÍCH Ý NGHĨA LỜI THOẠI CỦA VŨ NƯƠNG

PHÂN TÍCH Ý NGHĨA LỜI THOẠI CỦA VŨ NƯƠNG

Lần 1: ( Khi tiễn chồng đi lính) Không trông mong vinh hiển, chỉ cầu cho chồng được trở về bình an. Lời dặn thể hiện nàng coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi công danh phù phiếm: Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi” Cảm thông sâu sắc với nỗi gian lao, nguy hiểm của chồng: “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều con gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băng khoăn, mẹ hiền lo lắng.” Thể hiện nỗi nhớ nhung khắc khoải của nguời vợ yêu chồng: “Nhìn trăng soi thành cũ lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang lại thổn thức tâm tình thương người đất thú Dù có thư tín nghìn hàng cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.”
Xem thêm

Đọc thêm

NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐA CHẶNG TWO WAY REPLAY

NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐA CHẶNG TWO WAY REPLAY

66 4.7 Đồ thị BER theo SNR tại trạm gốc, số mức điều chế QAM thay TRANG 8 NGUY ỄN BÌNH NAM 1G First Generation Thế hệ thứ nhất 2G Second Generation Thế hệ thứ hai 3G Third Generation Thế[r]

71 Đọc thêm

kĩ năng xử lí khi bị lạc

kĩ năng xử lí khi bị lạc

kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc kĩ năng xử lí khi bị lạc
Xem thêm

Đọc thêm

8 THOAI HOÁ LIPID GUI SV

8 THOAI HOÁ LIPID GUI SV

REICHART : NH ứng đơn vị 2-C GI ải phóng ra là ACETYL-COA,KH ông phải dưới dạng tự do ACETATE TRANG 9 Biochemistry 2/e - Garrett & Grisham TRANG 10 Biochemistry 2/e - Garrett & Grisham _[r]

32 Đọc thêm

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP NAM VANG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHO CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP NAM VANG

Theo WEF, năng lực cạnh tranh quốc gia được xỏc định bởi tỏm nhúm nhõn tố: _- Mức độ mở cửa của nền kinh tế, bao gồm mở cửa thương mại và đầu tư:_ Mức TRANG 18 Luận văn cao học Gi_ải phỏ[r]

120 Đọc thêm

Cùng chủ đề