ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG HOANG TƯỞNG ẢO GIÁC Ở BỆNH NHÂN SA SÚT TRÍ TUỆ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Đặc điểm lâm sàng hoang tưởng ảo giác ở bệnh nhân sa sút trí tuệ":

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính kháng kháng sinh, gen kháng thuốc của Staphylococcus aureus và Escherichia coli ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính kháng kháng sinh, gen kháng thuốc của Staphylococcus aureus và Escherichia coli ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết (LA tiến sĩ)

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính kháng kháng sinh, gen kháng thuốc của Staphylococcus aureus và Escherichia coli ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyếtNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính kháng kháng sinh, gen kháng thuốc của Staphylococcus aureus và Escherichia coli ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyếtNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính kháng kháng sinh, gen kháng thuốc của Staphylococcus aureus và Escherichia coli ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyếtNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính kháng kháng sinh, gen kháng thuốc của Staphylococcus aureus và Escherichia coli ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyếtNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính kháng kháng sinh, gen kháng thuốc của Staphylococcus aureus và Escherichia coli ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyếtNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính kháng kháng sinh, gen kháng thuốc của Staphylococcus aureus và Escherichia coli ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyếtNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính kháng kháng sinh, gen kháng thuốc của Staphylococcus aureus và Escherichia coli ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyếtNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính kháng kháng sinh, gen kháng thuốc của Staphylococcus aureus và Escherichia coli ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyếtNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính kháng kháng sinh, gen kháng thuốc của Staphylococcus aureus và Escherichia coli ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyếtNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính kháng kháng sinh, gen kháng thuốc của Staphylococcus aureus và Escherichia coli ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyếtNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính kháng kháng sinh, gen kháng thuốc của Staphylococcus aureus và Escherichia coli ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyếtNghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tính kháng kháng sinh, gen kháng thuốc của Staphylococcus aureus và Escherichia coli ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của rối loạn hoang tưởng dai dẳng

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA RỐI LOẠN HOANG TƯỞNG DAI DẲNG

Đặt vấn đề Rối loạn hoang tưởng dai dẳng được Esquirol mô tả lần đầu tiên từ năm 1850, tác giả quan niệm đây là một thể của bệnh tâm thần phần liệt. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của chuyên ngành tâm thần, các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh và các kỹ thuật thăm dò chức năng khác, bệnh càng ngày càng được tìm hiểu một cách đầy đủ. Trải qua một thời gian dài tranh luận, cho tới những năm gần đây, các nhà tâm thần học trên thế giới mới thống nhất xếp rối loạn hoang tưởng dai dẳng vào một nhóm bệnh lý riêng ngoài bệnh tâm thần phân liệt. Đến năm 1992, Bảng Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) thống nhất xếp rối loạn hoang tưởng vào riêng một mã chẩn đoán (F22). Tuy vậy, vẫn còn rất nhiều trường phái, quan niệm chẩn đoán và điều trị khác nhau. Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, tỷ lệ rối loạn hoang tưởng dai dẳng trong các bệnh viện tâm thần chiếm khoảng 1-5% các trường hợp nhập viện [31]. Thực tế trong thực hành lâm sàng hiện nay ở nước ta, nhiều thầy thuốc lâm sàng vẫn nhầm lẫn giữa chẩn đoán rối loạn hoang tưởng dai dẳng với tâm thần phân liệt bởi tính chất bệnh lý của hai nhóm bệnh này cùng là những rối loạn trong hoạt động tư duy và biểu hiện bằng các hoang tưởng. Do vậy dẫn đến cách điều trị, theo dõi và tiên lượng còn nhiều bất cập, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị và sự tái hòa nhập của bệnh nhân. Nguyễn Thị Kim Mai và cộng sự (2007) nghiên cứu trong thời gian 7 tháng với 586 lượt bệnh nhân nữ nhập viện cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nữ trên 50 tuổi đuợc chẩn đoán rối loạn hoang tưởng dai dẳng điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần Hà Nội là 7,34% [5]. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một đề tài nghiên cứu nào được tiến hành nhằm phân định rõ đặc điểm lâm sàng của rối loạn hoang tưởng dai dẳng. Chính vì vậy, để làm rõ hơn sự khác biệt giữa hai nhóm bệnh lý trên và giúp các nhà lâm sàng phân định dễ hơn trong thực tiễn, làm cơ sở cho việc điều trị, theo dõi cũng như tiên lượng bệnh, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của rối loạn hoang tưởng dai dẳng” làm đề tài nghiên cứu với 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng của rối loạn hoang tưởng dai dẳng ở bệnh nhân được điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần Hà Nội từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2010. 2. Nhận xét một số yếu tố liên quan đến biểu hiện lâm sàng của rối loạn hoang tưởng dai dẳng.
Xem thêm

85 Đọc thêm

Phát hiện và chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ (Kỳ 1) pps

PHÁT HIỆN VÀ CHĂM SÓC BỆNH NHÂN SA SÚT TRÍ TUỆ KỲ 1

Phát hiện và chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ (Kỳ 1) Sa Sút Trí Tuệ (SSTT) là một lí thường gặp trong thực tế lâm sàng nhưng hiếm khi được gia đình nhận biết đầy đủ về mặt nhận biết triệu chứng cũng như chăm sóc dẫn đến bệnh ngày càng tăng.Do đó,việc phát hiện sớm và chăm sóc tốt người bệnh SSTT là một vấn đề cấp thiết cần được đề ra nhằm mang lại lợi ích cho người bệnh,gia đình và xã hội I. Sa sút trí tuệ là gì? - SSTT là một hội chứng được đặc trưng bởi sự suy giảm nhiều chức năng nhận thức. Bệnh có thể xảy ra cho bất kì ai,nhưng thường phổ biến hơn người >65 tuổi, một số trường hợp 40-50 tuổi - SSTT được định nghĩa theo DSM IV - Suy giảm trí nhớ kèm 1 trong những dấu hiệu sau: + Mất ngôn ngữ + Mất thực dụng + Mất nhận thức + Rối loạn về chức năng thi hành, khả năng trừu tượng và đánh giá - SSTT mạch máu:phát sinh từ các tổn thương mạch máu lớn của não hoặc Nhồi máu não đa ổ do huyết khối.Đặc điểm lâm sàng là biểu hiện sự giãm sút nhận thức tăng dần sau mỗi lần đột quỵ - Bệnh Alzheimer là một dạng SSTT trước tuổi già xảy ra trước 65 tuổi liên quan đến thoái hóa não * Hình minh hoạ Mặt cắt não bình thường (trái) và não người bệnh Alzheimer - một dạng Sa sút trí tuệ liên quan đến thoái hoá não (phải) - Sinh bệnh học phức tạp liên quan mức độ đột quỵ, số lượng ổ nhồi máu, vị trí tổn thương, thiếu máu chất trắng, cùng tồn tại SSTT Alzheimer, giảm sút trí tuệ trước đột quỵ là một bằng chứng làm gia tăng mối liên quan cơ chế sinh bệnh
Xem thêm

5 Đọc thêm

Hysteria, tinh thần phân lập ppt

HYSTERIA TINH THẦN PHÂN LẬP

Hysteria, tinh thần phân lập - Chứng Hysteria thường hay gặp nữ thanh niên; bệnh thường do các yếu tố tâm thần gây nên. Tiền sử thường đã có nhiều cơn xảy ra. Biểu hiện lâm sàng phong phú và phức tạp, bao gồm rối loạn cảm giác hoặc mất cảm giác, “mất ngôn ngữ”, “đui mù” và “điếc lác”. Trong một số trường hợp, có tình trạng rối loạn cảm xúc biểu hiện bằng cười khóc không duyên cớ, thường xuyên cử động và đứng ngồi không yên. Những triệu chứng này khong tương quan với các kết quả khám thực thể. Các cơn rất dễ lui song cũng rất dễ tái diễn. - Tinh thần phân lập thường gặp chủ yếu lứa tuổi thanh niên và trung niên. Bệnh khởi phát lặng lẽ và diễn biến kéo dài. Về phương diện lâm sàng, thường có hội chứng ảo giác hoang tưởng, bệnh nhân có nhiều ý niệm vô lý, nghe thấy hay nhìn thấy những điều mà thực tế không có; hay ngờ vực, cứ nghĩ rằng người ta đang ám chỉ mình hoặc tìm cách ám hại mình. Một số bệnh nhân lại không đáp ứng gì với kích thích tác động từ môi trường bên ngoài, nói năng rời rạc. Một số khác lại có trạng thái kích động, hiếu động và nói huyên thuyên; tuy nhiên họ vẫn tỉnh tao, tri giác bình thường và không có một dấu hiệu rõ rệt nào khi khám thực thể. - Điều trị: Chọn huyệt theo triệu chứng; cường độ kích thích và thao tác châm kim được xác định tùy tình huống bệnh lý. - Chỉ định huyệt:
Xem thêm

5 Đọc thêm

Phát hiện sớm chứng sa sút trí tuệ ở người già potx

PHÁT HIỆN SỚM CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ Ở NGƯỜI GIÀ POTX

Tuy nhiên, khi cho bệnh nhân thời gian và có biện pháp động viên thì việc sinh hoạt hằng ngày của họ vẫn bình thường TRANG 2 BIỂU HIỆN THƯỜNG GẶP NHẤT CỦA SA SÚT TRÍ TUỆ GIAI ĐOẠN SỚM LÀ[r]

3 Đọc thêm

Đặc điểm rối loạn ngôn ngữ ở bệnh nhân sa sút trí tụê sau đột quỵ não pps

ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN NGÔN NGỮ Ở BỆNH NHÂN SA SÚT TRÍ TỤÊ SAU ĐỘT QUỴ NÃO PPS

STT Loại RL ngôn ngữ Số BN Tỷ lệ % 1 Diễn đạt 40 58,82 2 Tiếp nhận 7 10,29 3 Toàn bộ 20 29,41 4 Quên 1 1,47 5 Tổng số 68 100 Tỷ lệ BN rối loạn ngôn ngữ diện đạt chiếm tỷ lệ cao nhất (58,82%), biểu hiện cơ bản là RL ngôn ngữ vận động phát hiện được khi cho nói tự nhiên hoặc tự viết các câu văn mô tả. RL ngôn ngữ quên ít gặp nhất trong nhóm đối tượng nghiên cứu. Bảng 6. Các triệu chứng RL ngôn ngữ thường gặp nhóm BN STT Các biểu hiện RL ngôn ngữ Số BN Tỷ lệ % 1 Khi nói tự nhiên 65 95,59 2 Khi nhắc lại 57 83,82 3 Khi đọc 44 64,71 4 Khi viết 49 72,01 5 Khi biểu đạt bằng động tác 54 79,41 6 Khi phải hiểu từ 26 38,24 7 Khi phải hiểu câu 24 42,65 8 Khi phải định danh 34 50,00 Các biểu hiện biểu rối loạn ngôn ngữ rất phong phú, hay gặp và dễ phát hiện nhất là rối loạn ngôn ngữ khi nói tự nhiên (95,59 BN mắc phải), cùng với khả năng hiểu từ, hiểu câu và khả năng định danh người, vật, sự suy giảm khả năng tự diễn đạt làm năng lực giao tiếp của BN kếm đi rất nhiều. Trong thực hành lâm sàng vấn đề phục hồi chức năng ngôn ngữ cần được chú trọng hơn nữa các BN sa sút trí tuệ. Bảng 7. Liên quan giữa rối loạn ngôn ngữ với bán cầu trội Có RLNN Không - RLNN Bán cầu trội 56 5 Bán cầu Không - trội 10 0
Xem thêm

18 Đọc thêm

Khám phá bất ngờ: Vitamin B1 chữa biến chứng suy thận do tiểu đường potx

KHÁM PHÁ BẤT NGỜ: VITAMIN B1 CHỮA BIẾN CHỨNG SUY THẬN DO TIỂU ĐƯỜNG POTX

khoa dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán. Bệnh nhân chẩn đoán sa sút trí tuệ sẽ được chụp ảnh cộng hưởng từ để xác định type sa sút trí tuệ. Những người tham dự được theo dõi trung bình 6 năm, tối đa là 7 năm. Trong thời gian nghiên cứu, 523 người tham dự chẩn đoán sa sút trí tuệ, 246 người trong nhóm dùng giả dược và 277 người trong nhóm dùng cao Bạch quả. Như vậy Ginkgo biloba không cho thấy hiệu quả nào trong việc giảm tất cả các type bệnh Alzheimer. Ngoài ra, khi phân tích dữ liệu an toàn, nghiên cứu GEM không tìm thấy tác dụng phụ nào đáng kể do dùng Bạch quả, đặc biệt là không có chứng cứ tăng nguy cơ chảy máu người dùng Ginkgo biloba. Cuối cuộc nghiên cứu, người ta biết tình trạng nhận thức của hơn 93% người tham dự và 60% người tham dự dùng thuốc như đã dặn: Không thấy khác biệt về kiên trì dùng thuốc giữa nhóm dùng Ginkgo biloba và nhóm dùng giả dược. Bộ y tế nước ta nên xem lại có nên tiếp tục cho lưu hành các chế phẩm chứa cao Bạch quả hay không để người tiêu dùng khỏi bị “tiền mất tật mang”. (Theo báo JAMA) DS. LÊ VĂN NHÂN
Xem thêm

6 Đọc thêm

Tài liệu LÀM GÌ ĐỂ PHÒNG NGỪA THOÁI HÓA KHỚP doc

TÀI LIỆU LÀM GÌ ĐỂ PHÒNG NGỪA THOÁI HÓA KHỚP DOC

Các biểu hiện trầm cảmThu mình khỏi các hoạt động xã hội, kích động, khóc lóc, mất ngủ,ăn không ngon miệng. Những người già bị lú lẫn, trầm cảm nhìn vẻ lo âu buồn phiền và có cảm giác bất hạnh. Về ngôn ngữ có các khó khăn trong chọn từ. Nội dung tư duy đơn giản, rời rạc và lặp đilặp lại. giai đoạn tiếp theo, người bệnh sa sút trí tuệ có các triệu chứng tư duy sai lệch, ảo giáchoang tưởng. Khi đồ dùng để mộtchỗ không nhớ ra được, người bệnh thường cho rằng đã bị ăn cắp. Các lệch lạc tư duy đó thường ổn định lại khi đồ đạc đó đã được tìm thấy. Một số trường hợp khác, vợ (chồng) được coi là kẻ giả dạng, bố mẹ đã chết từ lâu được nghĩ là đang còn sống, những người hàng xóm bị tố cáo là nhòm ngó tài sản, đồ đạc của người bệnh. Các ảo giác có thể xuất hiện nhiều dạng song ảo thị là phổ biến nhất, thường ảo thị về trẻ con và các động vật. Các ảo thị kì lạ, sặc sỡ thường gợi ý đến mê sảng hoặc sa sút trí tuệ thể Lewybodies.Chăm sóc và điều trị Cần đưa ra một chẩn đoán sasút trí tuệ về bệnh căn có thểnhất, loại ra các nguyên nhâncó thể điều trị được, trầm cảmvà mê sảng là biểu hiện đơnthuần góp phần làm xảy ra lúlẫn. sa sút trí tuệ ít khi có thểhồi phục hoàn toàn ngườirất già nhưng nếu do máu tụdưới màng cứng, u não, nãoúng thủy thì nhất thiết phảiđược loại bỏ nguyên nhân.Các nguyên nhân thiếu máu,
Xem thêm

13 Đọc thêm

NGUYÊN NHÂN SA SÚT TRÍ TUỆ ppt

NGUYÊN NHÂN SA SÚT TRÍ TUỆ PPT

NGUYÊN NHÂN SA SÚT TRÍ TUỆ Thuật ngữ sa sút trí tuệ”trước tuổi già” (khởi phát trước 65 tuổi) và sa sút trí tuệ”tuổi già” đã thường được dùng vào những năm 1960 và 1970. Vào thời điểm đó, bệnh Alzheimer được xem là nguyên nhân chính của sa sút trí tuệ trước tuổi già, thường xảy ra tuổi trung niên, còn sa sút trí tuệ tuổi già được nghó là do xơ vữa mạch máu não. Các nghiên cứu về giải phẫu bệnh sau này trên các mẫu não của các bệnh nhân đã chứng tỏ rằng bệnh nhân sa sút trí tuệ tuổi già cũng có các thay đổi bệnh học điển hình của bệnh Alzheimer. Quan điểm hiện nay, bệnh Alzheimer vẫn là nguyên nhân phổ biến nhất của sa sút trí tuệ mọi lứa tuổi (trên và dưới 65 tuổi). Nhưng một điều quan trọng cần biết là không phải tất cả sa sút trí tuệ đều là bệnh Alzheimer. Hội chứng sa sút trí tuệ được chia ra làm nhiều nhóm bệnh khác nhau tuỳ thuộc vào nguyên nhân, bệnh học, đặc điểm hoá-thần kinh và điều trò. Các nguyên nhân chính của sa sút trí tuệ được trình bày trong bảng 1. Bảng 1: Các nguyên nhân chính của hội chứng sa sút trí tuệ Vỏ não Bệnh Alzheimer Thoái hoá trán- thái dương, bao gồm: Bệnh Pick [sa sút trí tuệ trán- thái dương (FTD)]. Mất vận ngôn tiến triển. Do rượu Dưới vỏ Sa sút trí tuệ do nhồi máu đa ổ (chất trắng) Bệnh Parkinson (PD) Liệt trên nhân tiến triển Bệnh Huntington Não úng thủy áp lực bình thường (NPH) Sa sút trí tuệ liên quan với AIDS. Vỏ- dưới vỏ Sa sút trí tuệ do căn nguyên mạch máu Sa sút trí tuệ kèm thể Lewy (DLB) Thoái hoá vỏ não-hạch nền. Lan toả Bệnh Prion bao gồm bệnh Creutzfeldt-Jacob (CJD). Nguyên
Xem thêm

2 Đọc thêm

Cách phòng tránh sa sút trí tuệ ở người cao tuổi pps

CÁCH PHÒNG TRÁNH SA SÚT TRÍ TUỆ Ở NGƯỜI CAO TUỔI

còn sớm hoặc làm quá trình tiến triển bệnh chậm lại, giúp cho bệnh nhân có chất lượng cuộc sống tốt hơn. Hiện có rất nhiều loại thuốc điều trị đặc hiệu đối với các chứng quên do sa sút trí tuệ, quên do tai biến mạch máu não, quên người cao tuổi Theo quan niệm mới, có thể dùng các thuốc chống thoái hóa não như các vitamin E, C, gingo giloba và piracetam có tác dụng chống ôxy hóa bảo vệ tế bào não tránh khỏi tác hại của các gốc tự do. Để điều trị bệnh sa sút trí tuệ có thể sử dụng một trong các thuốc sau: thuốc ức chế men cholinesterase; phụ nữ dùng nội tiết tố estrogen thay thế; sử dụng nhóm thuốc statin; thuốc chống tinh bột hóa hệ thần kinh. Tập thể dục đều đặn thường xuyên giúp cải thiện trí nhớ và làm chậm quá trình lão hóa cũng như sa sút trí tuệ. Nhiều nghiên cứu cho thấy tập thể dục làm giảm tần suất tai biến mạch máu não nam 40-49 tuổi do giúp giảm huyết áp, giảm trọng lượng cơ thể, giảm fibrinogen huyết tương, giảm hoạt động tiểu cầu, tăng hoạt hóa plasminogen huyết tương Thực hiện chế độ ăn điều độ, hợp lý như giảm ăn muối; bổ sung đầy đủ các vitamin B12, B6, folat trong khẩu phần ăn sẽ làm giảm nồng độ homocystein; bỏ hút thuốc lá, hạn chế uống rượu bia sẽ giảm thiểu nguy cơ bệnh tim mạch, nhũn não và tai biến mạch máu não.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Cách phòng tránh sa sút trí tuệ ở người cao tuổi pot

CÁCH PHÒNG TRÁNH SA SÚT TRÍ TUỆ Ở NGƯỜI CAO TUỔI

hoặc làm quá trình tiến triển bệnh chậm lại, giúp cho bệnh nhân có chất lượng cuộc sống tốt hơn. Hiện có rất nhiều loại thuốc điều trị đặc hiệu đối với các chứng quên do sa sút trí tuệ, quên do tai biến mạch máu não, quên người cao tuổi Theo quan niệm mới, có thể dùng các thuốc chống thoái hóa não như các vitamin E, C, gingo giloba và piracetam có tác dụng chống ôxy hóa bảo vệ tế bào não tránh khỏi tác hại của các gốc tự do. Để điều trị bệnh sa sút trí tuệ có thể sử dụng một trong các thuốc sau: thuốc ức chế men cholinesterase; phụ nữ dùng nội tiết tố estrogen thay thế; sử dụng nhóm thuốc statin; thuốc chống tinh bột hóa hệ thần kinh. Tập thể dục đều đặn thường xuyên giúp cải thiện trí nhớ và làm chậm quá trình lão hóa cũng như sa sút trí tuệ. Nhiều nghiên cứu cho thấy tập thể dục làm giảm tần suất tai biến mạch máu não nam 40-49 tuổi do giúp giảm huyết áp, giảm trọng lượng cơ thể, giảm fibrinogen huyết tương, giảm hoạt động tiểu cầu, tăng hoạt hóa plasminogen huyết tương Thực hiện chế độ ăn điều độ, hợp lý như giảm ăn muối; bổ sung đầy đủ các vitamin B12, B6, folat trong khẩu phần ăn sẽ làm giảm nồng độ homocystein; bỏ hút thuốc lá, hạn chế uống rượu bia sẽ giảm thiểu nguy cơ bệnh tim mạch, nhũn não và tai biến mạch máu não. ThS. Nguyễn Hoàng Lan Alzheimer hay phối hợp nhiều nguyên nhân khác.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phát hiện sớm chứng sa sút trí tuệ ở người già ppsx

PHÁT HIỆN SỚM CHỨNG SA SÚT TRÍ TUỆ Ở NGƯỜI GIÀ PPSX

Tuy nhiên, khi cho bệnh nhân thời gian và có biện pháp động viên thì việc sinh hoạt hằng ngày của họ vẫn bình thường BIỂU HIỆN THƯỜNG GẶP NHẤT CỦA SA SÚT TRÍ TUỆ GIAI ĐOẠN SỚM LÀ GIẢM TR[r]

8 Đọc thêm

CÁC RỐI LOẠN CẢM XÚCI. KHÁI NIỆM TÂM LÝ HỌC pot

CÁC RỐI LOẠN CẢM XÚCI. KHÁI NIỆM TÂM LÝ HỌC POT

- Khí sắc: là trương lực của cảm xúc J. Delay đã định nghĩa: “khí sắc là trạng thái cảm xúc cơ bản, phong phú trong cách biểu lộ cảm xúc và bản năng, nó tạo ra trong tâm hồn mỗi người một sắc điệu dễ chịu hoặc khó chịu, dao động giữa hai cực thích thú và đau khổ“. Khí sắc thể hiện cường độ cảm xúc con người trong một thời điểm nhất định. Trong hội chứng trầm cảm thì khí sắc giảm và ngược lại trong hội chứng hưng cảm thì khí sắc tăng - Ham thích: là cảm xúc mạnh, sâu sắc, bền vững trong một thời gian dài, ham thích thúc đẩy hoạt động có ý chí, như ham thích âm nhạc, thơ văn, học tập - Xung cảm: là một cảm xúc có cường độ mãnh liệt, quá mức, xuất hiện đột ngột trong một thời gian ngắn, thường kèm theo xung động ngôn ngữ và vận động, do tác dụng của những kích thích mạnh gây sợ hãi hoặc bất toại, xung cảm gọi là bệnh lý khi nó xuất hiện không tương ứng với kích thích thực tế bên ngoài mà dường như do những kích thích bên trong. trẻ con, những cơn xung cảm thường được thể hiện bằng các cơn ngất, xỉu. Xung cảm thường gặp trong hội chứng hưng cảm, sa sút trí tuệ, động kinh, ngộ độc rượu, tâm thần phân liệt . III. CÁC TRIỆU CHỨNG RỐI LOẠN CẢM XÚC 1. Các triệu chứng thuộc về giảm và mất cảm xúc - Giảm khí sắc: bệnh nhân buồn rầu ủ rủ, gặp trong hội chứng trầm cảm . - Cảm xúc bàng quan: bệnh nhân mất phản ứng cảm xúc, không biểu lộ cảm xúc ra vẻ mặt, trong trường hợp nặng hơn, gặp trong giai đoạn cuối của bệnh tâm thần phân liệt thì bệnh nhân mất cả khả năng biểu lộ cảm xúc, bệnh nhân hoàn toàn thụ động, lờ đờ, trạng thái nầy gọi là cảm xúc tàn lụi . 2. Các triệu chứng thuộc về tăng cảm xúc - Tăng khí sắc: bệnh nhân vui vẻ, luôn cảm thấy khoan khoái, gặp trong hội chứng hưng cảm . - Khoái cảm: bệnh nhân vui vẻ một cách vô nghĩa, không thích ứng với hoàn cảnh, thường gặp trong các trạng thái sa sút trí tuệ, hội chứng hưng cảm hoặc trong bệnh tâm thần phân liệt, ngoài ra còn gặp trong các bệnh lý thần kinh như bệnh liệt toàn thể tiến triển do giang mai thần kinh .
Xem thêm

7 Đọc thêm

CÀ PHÊ : TỐT HAY XẤU CHO SỨC KHOẺ ? ppsx

CÀ PHÊ : TỐT HAY XẤU CHO SỨC KHOẺ ? PPSX

Những tác dụng liên quan đến sự sa sút trí tuệ déclin cognitif và bệnh TRANG 4 mô hình động vật, một sự giảm các mảng amyloide các mảng hiện diện trong não bộ của các bệnh nhân Alzheimer[r]

4 Đọc thêm

Báo cáo nghiên cứu khoa học " ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ XÉT NGHIỆM HỘI CHỨNG THẬN HƯ Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH " pdf

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC " ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ XÉT NGHIỆM HỘI CHỨNG THẬN HƯ Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH " PDF

KếT LUậN Qua nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm bệnh nhân bị bệnh hội chứng thận hư, chúng tôi xin đưa ra một số kết luận sau. 1. Về đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm. - Tuổi mắc bệnh trung bình 27,13  9,5 trong đó nam mắc bệnh nhiều hơn nữ 2:1. - Các đặc điểm về phù, tăng cân, thiểu niệu và đốt nước tiểu đục chiếm 100% trường hợp. Một số dấu chứng khác cũng được gặp như cơn đau bụng cấp, nhiễm trùng. - 100% bệnh nhân có rối loạn về lipid máu trong đó tăng CT và LDL mức nguy cơ ghi nhận 100% trường hợp. - 100% trường hợp có rối loạn điện giải. 23- Fibrinogen tăng cao chiếm 92% bệnh nhân. - Bạch cầu tăng 42%, tiểu cầu tăng 32% và có thiếu máu nhẹ chiếm 14%. 2. Về mối liên quan giữa lâm sàng và xét nghiệm. - Những trường hợp càng phù nhiều thì xét nghiệm protein và albumin máu càng thấp. - Đốt nước tiểu càng đục thì nồng độ protein trong nước tiểu càng cao. - Cơn đau bụng cấp trên lâm sàng thường xảy ra những bệnh nhân có albumin máu thấp, tăng lipid máu, tăng fibrinogen và tăng tiểu cầu, vì vậy, phải chăng cơn đau bụng cấp có liên quan đến tình trạng tắc mạch? Vấn đề này chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu thêm. TÀI LIệU THAM KHảO 3. Lê Nam Trà. Hội chứng thận hư tiên phát trẻ em, Tạp chí Y học thực hành (1996) 15 - 20.
Xem thêm

19 Đọc thêm

RỐI LOẠN CẢM GIÁC, TRI GIÁC doc

RỐI LOẠN CẢM GIÁC, TRI GIÁC DOC

RỐI LOẠN CẢM GIÁC, TRI GIÁC I. KHÁI NIỆM Tri giác là một quá trình tâm lý, có khả năng tập hợp các đặc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng, do các giác quan phản ánh, từ đó chúng ta nhận thức được sự vật và hiện tượng một cách toàn bộ. Tri giác là mức độ nhận thức cao hơn cảm giác, nó có tính chất tổng hợp phức tạp chứ không phải là một tổng số đơn giản của các cảm giác. Tri giác còn tồn tại trong óc ta dưới dạng biểu tượng, cho nên ta có thể tri giác được sự vật và hiện tượng khi chúng không còn trước mắt ta nữa. II. CÁC RỐI LOẠN CẢM GIÁC VÀ TRI GIÁC 1. Tăng cảm giác: Do ngưỡng kích thích giảm cho nên một kích thích nhẹ bệnh nhân cũng cho là quá mạnh. Đây là triệu chứng đầu tiên của trạng thái loạn thần, ngoài ra còn gặp trong các trạng thái suy nhược, nhiễm trùng, nhiễm độc. 2. Giảm cảm giác: Do ngưỡng kích thích tăng cao nên mọi kích thích thông thường bệnh nhân đều cảm thấy mơ hồ, không rõ ràng. Thường gặp trong hội chứng trầm cảm, trong giai đoạn sa sút của bệnh tâm thần phân liệt, trong rối loạn phân ly trường tri giác thường bị thu hẹp. 3. Loạn cảm giác bản thể: Do Dupré và Camus mô tả 1907, là một trạng thái mà bệnh nhân thường xuyên có những cảm giác đau nhức, khó chịu, lạ lùng trong cơ thể, nhất là trong các nội tạng, tính chất và khu trú không rõ ràng như các nội tạng bị xoắn lại, xé rách hoặc phồng to gặp trong hội chứng trầm cảm, nghi bệnh. 4. Ảo tưởng: Là tri giác sai lệch toàn bộ một sự vật hay một hiện tượng có thật bên ngoài, ví dụ: thấy dây thừng thành con rắn; ảo tưởng được phân loại theo giác quan như ảo tưởng thị giác, thính giác ảo tưởng có thể xuất hiện người bình thường trong một số trường hợp như quá trình tri giác bị trở ngại, ánh sáng không đủ, do mệt mỏi, căng thẳng, lo âu ảo tưởng thường xuất hiện cùng với ảo giác, hoặc hay gặp trong chiệu chứng lú lẫn, mê mộng, trong giai đoạn hoang tưởng
Xem thêm

8 Đọc thêm

Đánh răng giúp người cao tuổi giảm sa sút trí tuệ. pptx

ĐÁNH RĂNG GIÚP NGƯỜI CAO TUỔI GIẢM SA SÚT TRÍ TUỆ. PPTX

những người đánh răng ít hơn 1 lần trong ngày, tỷ lệ mắc bệnh sa sút trí tuệ cao hơn 65% so với những người đánh răng thường xuyên. Sinh bệnh vì đánh răng dưới 1 lần/ngày Nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mối liên hệ giữa hiện tượng viêm do loại vi khuẩn gây ra các bệnh về lợi với các chứng bệnh nguy hiểm như tim mạch, đột quỵ và tiểu đường. Theo TS Annlia Paganini-Hill, Trưởng nhóm nghiên cứu, một số nghiên cứu khác còn phát hiện thấy não bộ của các bệnh nhân mắc Alzheimer (dạng phổ biến nhất của sa sút trí tuệ) có lượng vi khuẩn gây ra các bệnh về lợi lớn hơn nhiều so với những người không mắc chứng bệnh này. Các nhà khoa học cho rằng, vi khuẩn gây bệnh về lợi đã xâm nhập vào não bộ, gây ra hiện tượng viêm và tổn thương cho não. Trong nghiên cứu mới, các nhà khoa học theo dõi tình trạng sức khoẻ của 5.468 người cao tuổi đã về hưu tại California trong khoảng thời gian từ 1992 - 2010. Phần lớn các thành viên đều là người da trắng, có trình độ học vấn cao và có cuộc sống khá giả. Khi bắt đầu tham gia nghiên cứu, họ có độ tuổi từ 52 - 105, không mắc chứng sa sút trí tuệ và khi kết thúc nghiên cứu thì đạt độ tuổi trung bình là 81. Các thành viên được yêu cầu trả lời các câu hỏi liên quan tới thói quen chăm sóc sức khoẻ răng miệng, tình trạng răng và số lượng răng (liệu họ có lắp răng giả hay không). Sau 18 năm, tình trạng sức khoẻ của họ được phân tích dựa theo thông tin từ tư liệu các cuộc phỏng vấn, hồ sơ bệnh án và giấy chứng tử. Kết quả cho thấy, 1.145 người được chẩn đoán mắc chứng sa sút trí tuệ. Trong số 78 phụ nữ có thói quen đánh răng ít hơn 1 lần/ngày, 21% đã xuất hiện các triệu chứng sa sút trí tuệ, với tỷ lệ mắc là 1/3,7 người. Trong khi đó, với những người đánh răng ít nhất 1 lần/ngày, tỷ lệ mắc bệnh là 1/4,5 người. Với nam giới, tỷ lệ mắc bệnh nhóm không đánh răng thường xuyên cao hơn 22% so với nhóm đánh răng mỗi ngày. Nên đeo răng giả khi rụng răng
Xem thêm

8 Đọc thêm

Một số biểu hiện tâm thần trong bệnh lý não pot

MỘT SỐ BIỂU HIỆN TÂM THẦN TRONG BỆNH LÝ NÃO 1

bệnh nhân đột quỵ có trầm cảm nặng và 20% có trầm cảm nhẹ trong 2 tuần đầu sau đột quỵ. Sáu tháng sau tăng từ 47% đến 60% bị trầm cảm, tất cả không điều trị thuốc chống trầm cảm. Những bệnh nhân đột quỵ khác được điều trị thuốc chống trầm cảm thì phục hồi tốt hơn. Nghiên cứu cũng thấy rằng 60% bệnh nhân đột quỵ có trầm cảm thì tổn thương gây đột quỵ nằm phần trước bán cầu trái. Điều trị với thuốc chống trầm cảm ba vòng cho những trường hợp trầm cảm sau đột quỵ có thành công với cả Nortriptyline và Trazodone. Gần đây, có một số thành công trong điều trị trầm cảm sau đột quỵ với thuốc kích thích tâm thần ( psychostimulants) hoạt động nhanh. - Sa sút trí tuệ dưới võ là một rối loạn tâm thần nhẹ có thể gặp trong đột quỵ. Những bệnh nhân này thường không được nghĩ có trầm cảm nặng khi trong thực tế họ chỉ có vô cảm. Chứng vô cảm này có thể điều trị thành công với thuốc kích thích tâm thần như Methylphenidate hoặc Dextroamphetamine liều thấp. - Sau đột quỵ bệnh nhân có thể có động kinh cục bộ không co giật, trong đó chỉ có hoang tưởng, ảo giác hoặc cả hai. 4. Bệnh lý Hạch nền: Ngày nay bệnh lý hạch nền được xem xét tổng quát hơn, điều đáng lưu tâm là không chỉ với vấn đề vận động mà với những rối loạn tâm thần của bệnh. - Những bệnh nhân Parkinson có thể có hoang tưởng, ảo giác hoặc trầm cảm. Các biểu hiện này rất quan trọng để kết luận một cách khách quan có hay không tác dụng phụ liên quan thuốc mà bệnh nhân đang dùng. Trầm cảm gặp trong 41% bệnh nhân Parkinson, hầu hết có tiền sử giảm sút nhận thức trong những bệnh nhân có trầm cảm nặng. Hơn 50% bệnh nhân sẽ bộc lộ triệu chứng trầm cảm trong quá trình tiến triển của bệnh. Nortriptyline có hiệu quả trong điều trị trầm cảm. Điều trị bằng xung điện cũng có hiệu quả trong bệnh Parkinson và cải thiện tốt khả năng vận động. - Bệnh Huntington cũng có một số mắc chứng trầm cảm với tỷ lệ tự tử cao hơn trong bệnh lý hạch nền khác. - Xơ cứng rãi rác là một bệnh lý được gây ra bởi những mãng thoái hóa
Xem thêm

5 Đọc thêm

LOẠN THẦN DO RƯỢUI/ ĐẶT VẤN ĐỀ: - Rượu gây ra nhiều tác hại về mặt cơ docx

LOẠN THẦN DO RƯỢUI/ ĐẶT VẤN ĐỀ: - RƯỢU GÂY RA NHIỀU TÁC HẠI VỀ MẶT CƠ DOCX

Paranoia do rượu được nhắc đến nhiều là hoang tưởng ghen tuông, được phát triển dần trên một nhân cách đã thoái hoá do rượu. Thoạt đầu những ý tưởng ghen tuông chỉ có trong khi say. Dần dần mới trở nên bền vững và xuất hiện cả những khi bệnh nhân không uống rượu. Từ chỗ nghi ngờ đi đến khẳng định vợ mình không chung thuỷ. Bệnh nhân rình mò, tra khảo, bắt vợ phải nhận lỗi. Bệnh nhân xác định người yêu của vợ mình thường là người quen biết. Sự phức tạp của loạn thần có thể diễn ra theo hai hướng: + Hoang tưởng ghen tuông là chủ đề duy nhất không thay đổi. + Ý tưởng hoang tưởng còn có nội dung khác liên quan đến sự thiệt hại vật chất (vợ lấy tiền cho người yêu, đầu độc bệnh nhân để có tự do với người yêu). Một số tác giả nhận thấy hoang tưởng ghen tuông thường xuất hiện sau loạn thần do rượu cấp tính, tuổi trung niên. Một số thống kê nhận thấy hoang tưởng ghen tuông gặp 40% bệnh nhân loạn thần do rượu với hoang tưởngảo giác chiếm ưu thế. Paranoid do rượu được nhắc đến nhiều là hoang tưởng bị theo dõi, hoang tưởng bị hại và các hoang tưởng cảm thụ có tính hình tượng cao. Hoang tưởng bị theo dõi chi phối mãnh liệt hành vi, cảm xúc của bệnh nhân. Thường có ảo tưởng lời nói, ảo tưởng cảm xúc và ảo thanh với nội dung đe doạ. Hành vi có tính xung động, nguy hiểm cho bản thân và xung quanh. Bệnh nhân bỏ chạy, phòng thủ, có khi tự sát. Trong những trường hợp kéo dài thì hành vi ít nguy hiểm hơn. ít thấy các hoang tưởng bị theo dõi, bị chi phối bằng vật lí như trong tâm thần phân liệt. Theo Soayka H., 1990 hoang tưởng bị theo dõi chiếm 32% bệnh nhân ảo giác do rượu. Hoang tưởng bị hại có thể cùng xuất hiện với hoang tưởng bị theo dõi hoặc hoang tưởng ghen tuông trong paranoid cấp do rượu. Theo thống kê của một số tác giả hoang tưởng bị hại chiếm 71% bệnh nhân loạn thần do rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế. Hoang tưởng bị hại có tỉ lệ cao nhưng không đặc hiệu cho loạn thần do rượu. Ngoài ra bệnh nhân loạn thần do rượu còn thấy một số hoang tưởng khác như hoang tưởng liên hệ, hoang tưởng tự cao, hoang tưởng nghi bệnh v.v nhưng với tỉ lệ thấp. Hoang tưởngảo giác đôi khi cùng phối hợp với nhau trong một bệnh cảnh lâm sàng của loạn thần do rượu. Theo thống kê
Xem thêm

9 Đọc thêm

RỐI LOẠN CẢM XÚC pps

RỐI LOẠN CẢM XÚC

trạng thái cảm xúc cơ bản, phong phú trong cách biểu lộ cảm xúc và bản năng, nó tạo ra trong tâm hồn mỗi người một sắc điệu dễ chịu hoặc khó chịu, dao động giữa hai cực “thích thú” và “đau khổ”. Khí sắc thể hiện cường độ cảm xúc con người trong một thời điểm nhất định. Trong hội chứng trầm cảm thì khí sắc giảm và ngược lại trong hội chứng hưng cảm thì khí sắc tăng. - Ham thích: là cảm xúc mạnh, sâu sắc, bền vững trong một thời gian dài, ham thích thúc đẩy hoạt động có ý chí, như ham thích âm nhạc, thơ văn, học tập - Xung cảm: là một cảm xúc có cường độ mãnh liệt, quá mức, xuất hiện đột ngột trong một thời gian ngắn, thường kèm theo xung động ngôn ngữ và vận động, do tác dụng của những kích thích mạnh gây sợ hãi hoặc bất toại, xung cảm gọi là bệnh lý khi nó xuất hiện không tương ứng với kích thích thực tế bên ngoài mà dường như do những kích thích bên trong. trẻ con, những cơn xung cảm thường được thể hiện bằng các cơn ngất, xỉu. Xung cảm thường gặp trong hội chứng hưng cảm, sa sút trí tuệ, động kinh, ngộ độc rượu, tâm thần phân liệt. III. CÁC TRIỆU CHỨNG RỐI LOẠN CẢM XÚC 1. Các triệu chứng thuộc về giảm và mất cảm xúc: - Giảm khí sắc: bệnh nhân buồn rầu ủ rủ, gặp trong hội chứng trầm cảm. - Cảm xúc bàng quan: bệnh nhân mất phản ứng cảm xúc, không biểu lộ cảm xúc ra vẻ mặt, trong trường hợp nặng hơn, gặp trong giai đoạn cuối của bệnh tâm thần phân liệt thì bệnh nhân mất cả khả năng biểu lộ cảm xúc, bệnh nhân hoàn toàn thụ động, lờ đờ, trạng thái nầy gọi là cảm xúc tàn lụi. 2. Các triệu chứng thuộc về tăng cảm xúc: - Tăng khí sắc: bệnh nhân vui vẻ, luôn cảm thấy khoan khoái, gặp trong hội chứnghưng cảm. - Khoái cảm: bệnh nhân vui vẻ một cách vô nghĩa, không thích ứng với hoàn cảnh, thường gặp trong các trạng thái sa sút trí tuệ, hội chứng hưng cảm hoặc trong bệnh tâm thần phân liệt, ngoài ra còn gặp trong các bệnh lý thần kinh như bệnh liệt toàn thể tiến triển do giang mai thần kinh. 3. Các triệu chứng cảm xúc khác:
Xem thêm

7 Đọc thêm