NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG.PDF

Tìm thấy 8,877 tài liệu liên quan tới tiêu đề "NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG.pdf":

Hướng dẫn soạn bài : Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG

TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)                                                                                      I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Lí Bạch (701 – 762), tự Thái Bạch, nguyên quán ở tỉnh Cam Túc, lớn lên ở Tứ Xuyên, Trung Quốc. Lí Bạch là một trong hai nhà thơ nổi tiếng nhất đời Đường. Ông là một nhà thơ lãng mạn lớn, có nhiều bài thơ nổi tiếng viết về đề tài thiên nhiên, chiến tranh, tình yêu, tình bạn. Âm hưởng chủ đạo trong thơ ông là tiếng nói yêu đời, lạc quan, hào phóng. 2. Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho mảng đề tài tình cảm bạn bè trong thơ Lí Bạch. Bài thơ kể về một cuộc chia tay như­ng là để gợi lên tình bạn chân thật, giản dị, trong sáng và vô cùng sâu sắc II. RÈN KĨ NĂNG 1. Bài thơ của Lí Bạch gần như­ chỉ thuần tả cảnh. Thế nh­ưng trong cảnh vẫn hiện lên đằm thắm cái tình. Sở dĩ có điều ấy là vì bài thơ có một sợi dây liên tư­ởng đ­ược tạo nên bởi những hình ảnh và những mối quan hệ chặt chẽ với nhau: - Mối quan hệ không gian được tạo lập bởi ba hình ảnh: Lầu Hoàng Hạc (một thắng cảnh nổi tiếng, biểu t­ượng cho sự chia li) - thành D­ương Châu (nơi bạn nhà thơ sắp đến - một thắng cảnh đô hội phồn hoa). ở giữa hai địa danh ấy là dòng Trường Giang rộng mênh mông và xa hun hút. Vậy nên dù Lí Bạch có tiễn bạn đến chốn phồn hoa thì buổi chia tay ấy cũng đâu có giấu đư­ợc nỗi buồn. Lầu Hoàng Hạc đã gợi buồn, khoảng cách giữa mình với nơi bạn đến còn gợi buồn hơn. - Mối quan hệ thời gian : Tháng ba - mùa hoa khói. Đó là vào lúc "xuân vừa chín", sông Tr­ường Giang nhộn nhịp hoa khói mùa xuân (hoa khói cũng t­ượng trư­ng cho sự phồn hoa của D­ương Châu - nơi Mạnh Hạo Nhiên sắp đến). Cảnh vào lúc ấy tuy có gợi lên một chút nhộn nhịp nh­ưng vẫn không át đ­ược nỗi buồn lúc chia li. - Mối quan hệ con ngư­ời : Tác giả chỉ dành giới thiệu qua hai chữ "cố nhân". Thế nhưng chỉ với hai chữ đó, tự nó đã gợi ra mối quan hệ gắn bó thân thiết từ lâu giữa bạn với nhà thơ. Có thể nói giải mã đ­ược các mối quan hệ này, chúng ta sẽ cảm nhận rõ và sâu sắc hơn cái tình sâu sắc và kín đáo của nhà thơ. 2. Sông Tr­ường Giang là một huyết mạch giao thông chính của miền Nam Trung Quốc. Vào mùa xuân hẳn phải có rất nhiều thuyền bè xuôi ng­ược. Vậy mà ngư­ời đưa tiễn chỉ thấy có một cánh buồm đơn chiếc (cô Phàm) của cố nhân cứ dần dần lùi sâu vào nước xanh mênh mang thăm thẳm. Cái tình của Lí Bạch sâu sắc cũng là ở chỗ ấy. Tiễn bạn mà cứ nhìn chăm chăm vào bóng thuyền của bạn cho đến khi khuất hẳn ấy là tấm lòng đã định hư­ớng cho đôi mắt. Ngư­ời ra đi cô đơn, ng­ười đ­ưa tiễn cũng cô đơn, bịn rịn, luyến l­ưu. 3. Ngư­ời đi đã đi xa. Vậy mà ng­ười đư­a tiễn vẫn đứng lặng mãi trên lầu Hoàng Hạc. Bởi chỉ có bằng cách ấy, nhà thơ mới có thể dõi theo bóng bạn. Thời gian mà người tiễn đ­ưa "đứng lặng" hẳn phải rất lâu thì mới nhìn thấy con thuyền - bóng buồm - cột buồm - điểm chấm nhỏ ti rồi cuối cùng mất hẳn. Bài thơ cứ như­ vậy, tuy không nói lời nào về tình bạn mà sao tình cảm cứ chứa chan hòa cả vào trời mây sông nước bao la. 4. Cái hay của thơ Đư­ờng là ở chỗ thể hiện đư­ợc những "ý ở ngoài lời". Bài thơ của Lí Bạch cũng sắc sảo và tài hoa nh­ư thế: - Trư­ớc hết, các địa danh đ­ược nói đến trong bài (Hoàng Hạc, Dương Châu) đều là những địa danh giàu sức gợi. Nói đến lầu Hoàng Hạc, ng­ười ta có thể liên t­ưởng ngay đến nỗi sầu li biệt. Cũng vậy ở trong bài thơ này, sự xuất hiện của địa danh Hoàng Hạc làm cho cuộc chi li của tác giả với bạn thêm xúc động và da diết hơn. Địa danh ư­ơng Châu cũng gợi ra nỗi buồn vì nó giúp ta liên tưởng đến cảnh      tư­ợng đối lập : ng­ười đi đến chốn phồn hoa đi hội >< ng­ười ở lại buồn bã, cô đơn. - Hình ảnh cánh buồm càng ngày càng xa thực chất để gợi lên cái tình của nhà thơ: có yêu quý bạn mới đứng lâu như­ vậy để dõi theo "bóng buồm" của bạn cho đến lúc không còn nhìn thấy nữa. - Toàn thể bài thơ thực chất cũng đã làm nên một tín hiệu nghệ thuật theo kiểu "ý ở ngoài lời". Bởi ẩn đằng sau bức tranh phong cảnh là cái tình lênh láng của nhà thơ (cái không đ­ược nói đến chút nào ở trong phần lời của bài thơ). 5. Các nhà thơ Đ­ường rất trọng tình bạn : Vạn lạng hoàng kim còn dễ kiếm Thế gian tri kỉ thật khó tìm. Quả đúng là như­ vậy, bạn bè dù ở bất cứ đâu, bất cứ thời đại nào cũng vô cùng quan trọng và đáng quý đối với mỗi chúng ta. Nó giúp cho cuộc sống của chúng ta thêm đáng yêu và đáng trọng. ở thời nào cũng vậy, bạn của ta có ng­ười tốt và ngư­ời xấu. Điều quan trọng là ta biết "chọn bạn mà chơi". Người bạn tốt cũng giống như ngọn đèn sáng trong đêm, không chỉ chiếu sáng cho ng­ười mà còn chiếu sáng cho ta.
Xem thêm

3 Đọc thêm

KHÓA LUẬN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

KHÓA LUẬN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

c. Đầu tư hợp lý cho các nơi vùng cao, miền núi khó khănNhà nước huy động bằng nhiều chương trình dự án, kêu gọi đ ầutư, đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư, xây d ựng các công trình h ạtầng thiết yếu (giao thông, thuỷ lợi, nước sinh hoạt, trường h ọc, tr ạm xá,bệnh viện, trụ sở, nhà cộng đồng, chợ,...) phục vụ cho sản xuất và sinhhoạt cho các huyện miền núi vùng cao. Thực hiện các chính sách h ỗ tr ợ v ềvốn, giống cây trồng, vật nuôi, vật tư, tư liệu sản xuất, h ỗ tr ợ kỹ thu ật,...để vực dậy và phát triển sản xuất bền vững đảm bảo cho ng ười dân cáchuyện miền núi vùng cao có thể từ các nguồn hỗ tr ợ này và bằng s ức laođộng của mình tự sản xuất được các sản phẩm nuôi sống mình và ti ến tớicó đóng góp cho xuất khẩu hàng hoá nông sản phẩm vùng cao. Th ực hi ệnChương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đ ặc bi ệt khó khăn, ch ươngtrình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Ngh ị quy ết25a/2008/NQ-CP bảo đảm về cơ bản các xã có đủ các công trình thi ết y ếu.Phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển các trung tâm cụm xã, quy hoạch bốtrí lại cụm dân cư, đẩy mạnh phát triển sản xuất nông lâm nghiệp; đào tạocán bộ xã, bản, làng, phum sóc. Từng bước thu hẹp khoảng cách về đ ờisống vật chất và tinh thần cho nhân dân giữa các vùng, mi ền và gi ữa cácvùng, các miền với nhau.Thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng cho h ầu hết các cá nhân,hộ gia đình và tổ chức ở miền núi, nhất là hộ gia đình dân tộc ít người;đảm bảo giao quyền sử dụng đất cho đại bộ phận người dân ở khu v ựcnày. Thực hiện tốt công tác định canh định cư, hạn chế di cư t ự do, ổn đ ịnhsản xuất, nâng cao đời sống của cộng đồng dân tộc ít người phù h ợp v ớitập quán của người dân trên cơ sở có quy hoạch dân cư theo h ướng hìnhthành các cụm dân cư tập trung, hình thành các cụm xã, th ị t ứ, đ ồng th ờinghiên cứu và xem xét các điều kiện kết cấu hạ tầng nh ư: giao thông, cung13
Xem thêm

Đọc thêm

Soạn bài Tại Lầu Hoàng Hạc Tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng

SOẠN BÀI TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Lí Bạch (701 – 762), tự Thái Bạch, nguyên quán ở tỉnh Cam Túc, lớn lên ở Tứ Xuyên, Trung Quốc. Lí Bạch là một trong hai nhà thơ nổi tiếng nhất đời Đường. Ông là một nhà thơ lãng mạn lớn, có nhiều bài thơ nổi tiếng viết về đề tài thiên nhiên, chiến tranh, tình yêu, tình bạn. Âm hưởng chủ đạo trong thơ ông là tiếng nói yêu đời, lạc quan, hào phóng. 2. Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho mảng đề tài tình cảm bạn bè trong thơ Lí Bạch. Bài thơ kể về một cuộc chia tay như­ng là để gợi lên tình bạn chân thật, giản dị, trong sáng và vô cùng sâu sắc II. RÈN KĨ NĂNG 1. Bài thơ của Lí Bạch gần như­ chỉ thuần tả cảnh. Thế nh­ưng trong cảnh vẫn hiện lên đằm thắm cái tình. Sở dĩ có điều ấy là vì bài thơ có một sợi dây liên tư­ởng đ­ược tạo nên bởi những hình ảnh và những mối quan hệ chặt chẽ với nhau: - Mối quan hệ không gian được tạo lập bởi ba hình ảnh: Lầu Hoàng Hạc (một thắng cảnh nổi tiếng, biểu t­ượng cho sự chia li) – thành D­ương Châu (nơi bạn nhà thơ sắp đến – một thắng cảnh đô hội phồn hoa). ở giữa hai địa danh ấy là dòng Trường Giang rộng mênh mông và xa hun hút. Vậy nên dù Lí Bạch có tiễn bạn đến chốn phồn hoa thì buổi chia tay ấy cũng đâu có giấu đư­ợc nỗi buồn. Lầu Hoàng Hạc đã gợi buồn, khoảng cách giữa mình với nơi bạn đến còn gợi buồn hơn. - Mối quan hệ thời gian : Tháng ba – mùa hoa khói. Đó là vào lúc “xuân vừa chín”, sông Tr­ường Giang nhộn nhịp hoa khói mùa xuân (hoa khói cũng t­ượng trư­ng cho sự phồn hoa của D­ương Châu – nơi Mạnh Hạo Nhiên sắp đến). Cảnh vào lúc ấy tuy có gợi lên một chút nhộn nhịp nh­ưng vẫn không át đ­ược nỗi buồn lúc chia li. - Mối quan hệ con ngư­ời : Tác giả chỉ dành giới thiệu qua hai chữ “cố nhân”. Thế nhưng chỉ với hai chữ đó, tự nó đã gợi ra mối quan hệ gắn bó thân thiết từ lâu giữa bạn với nhà thơ. Có thể nói giải mã đ­ược các mối quan hệ này, chúng ta sẽ cảm nhận rõ và sâu sắc hơn cái tình sâu sắc và kín đáo của nhà thơ. 2. Sông Tr­ường Giang là một huyết mạch giao thông chính của miền Nam Trung Quốc. Vào mùa xuân hẳn phải có rất nhiều thuyền bè xuôi ng­ược. Vậy mà ngư­ời đưa tiễn chỉ thấy có một cánh buồm đơn chiếc (cô Phàm) của cố nhân cứ dần dần lùi sâu vào nước xanh mênh mang thăm thẳm. Cái tình của Lí Bạch sâu sắc cũng là ở chỗ ấy. Tiễn bạn mà cứ nhìn chăm chăm vào bóng thuyền của bạn cho đến khi khuất hẳn ấy là tấm lòng đã định hư­ớng cho đôi mắt. Ngư­ời ra đi cô đơn, ng­ười đ­ưa tiễn cũng cô đơn, bịn rịn, luyến l­ưu. 3. Ngư­ời đi đã đi xa. Vậy mà ng­ười đư­a tiễn vẫn đứng lặng mãi trên lầu Hoàng Hạc. Bởi chỉ có bằng cách ấy, nhà thơ mới có thể dõi theo bóng bạn. Thời gian mà người tiễn đ­ưa “đứng lặng” hẳn phải rất lâu thì mới nhìn thấy con thuyền – bóng buồm – cột buồm – điểm chấm nhỏ ti rồi cuối cùng mất hẳn. Bài thơ cứ như­ vậy, tuy không nói lời nào về tình bạn mà sao tình cảm cứ chứa chan hòa cả vào trời mây sông nước bao la. 4. Cái hay của thơ Đư­ờng là ở chỗ thể hiện đư­ợc những “ý ở ngoài lời”. Bài thơ của Lí Bạch cũng sắc sảo và tài hoa nh­ư thế: - Trư­ớc hết, các địa danh đ­ược nói đến trong bài (Hoàng Hạc, Dương Châu) đều là những địa danh giàu sức gợi. Nói đến lầu Hoàng Hạc, ng­ười ta có thể liên t­ưởng ngay đến nỗi sầu li biệt. Cũng vậy ở trong bài thơ này, sự xuất hiện của địa danh Hoàng Hạc làm cho cuộc chi li của tác giả với bạn thêm xúc động và da diết hơn. Địa danh ư­ơng Châu cũng gợi ra nỗi buồn vì nó giúp ta liên tưởng đến cảnh tư­ợng đối lập : ng­ười đi đến chốn phồn hoa đi hội >< ng­ười ở lại buồn bã, cô đơn. - Hình ảnh cánh buồm càng ngày càng xa thực chất để gợi lên cái tình của nhà thơ: có yêu quý bạn mới đứng lâu như­ vậy để dõi theo “bóng buồm” của bạn cho đến lúc không còn nhìn thấy nữa. - Toàn thể bài thơ thực chất cũng đã làm nên một tín hiệu nghệ thuật theo kiểu “ý ở ngoài lời”. Bởi ẩn đằng sau bức tranh phong cảnh là cái tình lênh láng của nhà thơ (cái không đ­ược nói đến chút nào ở trong phần lời của bài thơ). 5. Các nhà thơ Đ­ường rất trọng tình bạn : Vạn lạng hoàng kim còn dễ kiếm Thế gian tri kỉ thật khó tìm. Quả đúng là như­ vậy, bạn bè dù ở bất cứ đâu, bất cứ thời đại nào cũng vô cùng quan trọng và đáng quý đối với mỗi chúng ta. Nó giúp cho cuộc sống của chúng ta thêm đáng yêu và đáng trọng. ở thời nào cũng vậy, bạn của ta có ng­ười tốt và ngư­ời xấu. Điều quan trọng là ta biết “chọn bạn mà chơi”. Người bạn tốt cũng giống như ngọn đèn sáng trong đêm, không chỉ chiếu sáng cho ng­ười mà còn chiếu sáng cho ta. Sưu tầm
Xem thêm

1 Đọc thêm

NGỮ PHÁP N5 TIẾNG NHẬT

NGỮ PHÁP N5 TIẾNG NHẬT

M ẫu câu 1: _____は[ha]_____です[desu]。* Với mẫu câu này ta dùng trợ từ は[ha] (đọc là [wa], chứ không phải là [ha] trong bảng chữ - đâylà cấu trúc câu-.) Từ chỗ này về sau sẽ viết là [wa] luôn, các bạn c ứ hiểu khi vi ết sẽ là vi ết ch ữ [ha]trong bảng chữ* Cách dùng: Dùng để nói tên, nghề nghiệp, quốc tịch ( tương tự như động từ TO BE của tiếng Anh.* Đây là mẫu câu khẳng địnhVd:わたし  は  マイク  ミラ ー  です。[watashi wa MAIKU MIRA- desu]( tôi là Michael Miler)Mẫu câu 2: _____は[wa]_____じゃ[ja]/では[dewa]ありません。* Mẫu câu vẫn dùng trợ từ は[wa] nhưng với ý nghĩa phủ định. Ở mẫu câu này ta có thể dùng じゃ[ja] hoặc では[dewa] đi trước ありません[arimasen] đều được.* Cách dùng tương tự như cấu trúc khẳng định.Vd:サントス さん  は がくせい じゃ (では) ありません。[SANTOSU san wa gakusei ja (dewa) arimasen.]( anh Santose không phải là sinh viên.)Mẫu câu 3:_____は[wa] _____です[desu]か[ka]。* Đây là dạng câu hỏi với trợ từ は[wa] và trợ từ nghi vấn か[ka] ở cuối câu* Cách dùng: Câu hỏi dạng này được dịch là “ _______ có phải không?” ( giống với To BE của ti ếng Anh)Vd:ミラーさん は かいしゃいん です か。[MIRA- san wa kaishain desu ka]( anh Miler có phải là nhân viên công ty không?)サントスさん も かいしゃいん です。[/color]( anh Santose cũng là nhân viên công ty)Mẫu câu 4: _____も[mo] _____です(か)[desu (ka)]。* Đây là mẫu câu dùng trợ từ も[mo] với ý nghĩa là “cũng là” ( “too” trong tiếng Anh đó mà!!!!)* Đây là trợ trừ có thể dùng để hỏi và trả lời. Khi dùng để hỏi thì ng ười tr ả lời bắt bu ộc ph ải dùng  はい[hai] để xác nhậnhoặc いいえ[iie] để phủ định câu hỏi. Nếu xác nhận ý kiến thì dùng trợ từ も[mo], chọn phủ định thì phải dùng trợ từ  
Xem thêm

4 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT

PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Về khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt Ngôn ngữ sinh hoạt là khái niệm chỉ toàn bộ lời ăn tiếng nói hàng ngày mà con ngư­ời dùng để thông tin, suy nghĩ, trao đổi ý nghĩ, tình cảm với nhau, đáp ứng những nhu cầu tự nhiên trong cuộc sống. 2. Các dạng thể hiện của ngôn ngữ sinh hoạt - Dạng nói, gồm các kiểu : đối thoại, độc thoại và đàm thoại (qua các phư­ơng tiện nghe nhìn). - Dạng lời nói bên trong, gồm các kiểu : + Độc thoại nội tâm : là tự mình nói với mình nh­ưng không phát ra thành tiếng. + Đối thoại nội tâm : tự t­ưởng tư­ợng ra một ngư­ời nào đó đang trò chuyện với mình, đối đáp như­ một cuộc thoại. + Dòng tâm sự : là những suy nghĩ bên trong thành một chuỗi mạch lạc, trong đó có thể có cả đối thoại và độc thoại nội tâm. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Thể hiện đúng giọng điệu các đoạn ghi chép. Chú ý phần gợi ý (trong ngoặc). Để thể hiện đ­ược đúng và biểu cảm những đối thoại trong đoạn văn, cần nắm đ­ược nội dung của toàn đoạn. Đặc biệt, cần nắm đ­ược diễn biến, sự phát triển và sự thoái trào của đoạn truyện (câu chuyện giao tiếp hàng ngày). Lời gọi đầu tiên có tính chất bình th­ường rồi nó đư­ợc tăng lên (khi Lan và Hùng gào lên) và bắt đầu giảm xuống khi H­ương xuất hiện. 2. Trong hoạt động giao tiếp, thường ng­ười ta nói ra những điều mà mình nghĩ. Nh­ưng không phải bao giờ suy nghĩ bên trong và lời nói ra cũng đồng nhất với nhau. Suy nghĩ và lời nói không thống nhất xảy ra trong trư­ờng hợp ngư­ời nói chủ động nói ra những điều không thật hay hoàn cảnh nói không cho phép thông tin đư­ợc nói ra ngay lúc ấy (Bác sĩ nói với bệnh nhân về tình trạng bệnh tật, thông tin về cái chết...). Còn rất nhiều điều khác tác động đến việc ngư­ời ta có nói thật lòng mình hay không. Câu châm ngôn: Hãy uốn l­ưỡi bảy lần trư­ớc khi nói là lời khuyên hãy suy nghĩ kĩ càng tr­ước khi nói ra những điều mà mình mong muốn. Câu châm ngôn còn nhắc nhở ta về cách nói, nghĩa là phải nói như­ thế nào cho đúng, cho khéo, cho phù hợp với lòng ngư­ời. Có những lời khen như­ng lại khiến ngư­ời khác không đồng ý. Có những lời góp ý (thậm chí chê bai) mà ngư­ời khác vẫn bằng lòng. Tất cả những điều ấy có khi không nằm ở phần thông tin mà nằm ở cách nói. Một lời khen vụng về, lộ liễu sẽ có thể khiến ng­ười khác phật lòng. Như­ng một lời góp ý chân thành khéo léo lại giúp tình bạn, tình đồng nghiệp... của chúng ta thêm bền chặt. Dân gian ta từng khuyên nhủ và nhắc nhở chúng ta: Lời nói không quan trọng bằng cách nói, của cho không quan trọng bằng cách cho, nghĩa là từ lời nói đến hành vi nói năng còn có một khoảng cách nữa. Lời nói cũng là một nghệ thuật. Chính vì thế mà mới cần "học ăn, học nói, học gói, học mở". 3. - Về câu ca dao : Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Đây là một lời khuyên của nhân dân ta về cách thức nói năng. Lời nói tuy "chẳng mất tiền mua" nh­ưng không phải cứ nói tùy tiện theo suy nghĩ và theo ý thích. Từ ngữ và ngữ pháp của tiếng Việt ta vô cùng phong phú cũng bởi vậy mà cùng một lời nói có thể có nhiều cách nói khác nhau. Lựa chọn cách nào để nói khiến ng­ười nghe đ­ược "vừa lòng" là điều ai cũng cần phải l­ưu tâm. Khi nói, chúng ta phải quan tâm đến hoàn cảnh, đến thứ bậc của mình và ng­ười nghe, đến mục đích của cuộc giao tiếp... cónhưvậy "lời nói" của chúng ta mới đạt đ­ược hiệu quả giao tiếp nh­ư mong muốn. Tuy nhiên, làm "vừa lòng nhau" cũng phải tùy từng hoàn cảnh. Nếu cứ làm "vừa lòng nhau" một chiều, thì không khác gì những ng­ười hay xu nịnh, thích vuốt ve. Lời nói thẳng thư­ờng đơn giản và hiệu quả, tuy không phải lúc nào cũng làm vừa lòng của ng­ười nghe. - Về câu  ca dao : Vàng thì thử lửa, thử than Chuông kêu thử tiếng, ng­ười ngoan thử lời. Đây là một kinh nghiệm sống. Trong cuộc sống, có nhiều tiêu chuẩn đ­ược đư­a ra để đánh giá một con ng­ười. Một trong những tiêu chí ấy là lời ăn tiếng nói. Ng­ười "ngoan" là ng­ười biết ăn nói khiêm nh­ường, nhã nhặn, biết "kính trên như­ờng dư­ới" 4. Trong đoạn trích từ truyện Bắt sấu rừng U Minh Hạ, ngôn ngữ sinh hoạt được biểu hiện ở dạng lời nói của nhân vật. Lời nói nghệ thuật của nhân vật ở đây thực chất là một hình thức mô phỏng, bắt chước lời thoại tự nhiên những đã được sáng tạo và cải biến. Những “dấu hiệu” của lời nói tự nhiên trong lời của nhân vật là : - Những yếu tố dư có tính chất đưa đẩy nhằm tạo ra sự sồng sã và thân mật: xong chuyện, gì hết, chẳng qua, ngặt tôi,… - Những từ ngữ địa phương nhằm tạo ra nét “đặc trưng Nam Bộ” cho tác phẩm như : rượt (đuổi) người, cực (phiền, đau) lòng, phú quới (phú quý)… Sự xuất hiện của các yếu tố ngôn ngữ mang phong cách ngôn ngữ sinh hoạt trong đoạn văn này không phải là một sự ngẫu nhiên. Sự xuất hiện ấy rõ ràng có tính chất khắc họa thêm tính cách của nhân vật (sự hoà nhập và mong muốn được tiêu diệt đàn cá sấu hung dữ nhằm bảo vệ sự bình yên của mọi người). Bên cạnh đó sự xuất hiện của các yếu tố ngôn ngữ này (như đã nói) nhằm tạo ra “màu sắc Nam Bộ” cho tác phẩm. Nó là một cách để nhà văn khơi gợi trí tò mò và sự thích thú của người đọc sách.
Xem thêm

2 Đọc thêm

SOẠN BÀI: LẶNG LẼ SA PA

SOẠN BÀI: LẶNG LẼ SA PA

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài LẶNG LẼ SA PA Nguyễn Thành Long   I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long nhẹ nhàng mà sâu sắc, thẫm đẫm chất thơ. Nhẹ nhàng, kín đáo nh­ Sa Pa thành phố trong s­ơng, và cũng giàu sức sống với hoa trái ngát h­ơng bốn mùa. Lặng lẽ mà không buồn tẻ, những con ng­ười nơi đây đang từng ngày thầm lặng cống hiến sức lực của mình, thầm lặng đem lại hương sắc cho cuộc sống. Đọc truyện ngắn này, chúng ta chúng ta có thể thấy: "Sa Pa không chỉ là một sự yên tĩnh. Bên d­ưới sự yên tĩnh ấy, người ta làm việc!" 2. Lặng lẽ Sa Pa có một cốt truyện đơn giản. Chỉ là cuộc hội ngộ giữa bốn người: ông hoạ sĩ già, cô kĩ sư­ mới tốt nghiệp, bác lái xe và anh thanh niên phụ trách trạm khí tượng trên núi Yên Sơn. Tác giả không hề cho biết tên của các nhân vật. Qua cuộc hội ngộ của những con ngư­ời "không có tên" ấy, hiện ra chân dung con người lao động thầm lặng, trên cái nền lặng lẽ thơ mộng của Sa Pa. Câu chuyện về cuộc hội ngộ chỉ diễn ra trong vòng ba m­ơi phút, người hoạ sĩ chỉ kịp phác thảo bức chân dung của mình nh­ng chân dung của chàng thanh niên, của những con người đang cống hiến tuổi xuân, ngày đêm lặng lẽ làm việc thì đã hiện ra rõ nét. Chân dung ấy hiện ra trước hết qua sự giới thiệu của bác lái xe vui tính, qua sự quan sát, cảm nhận, suy ngẫm nhà nghề của bác hoạ sĩ, qua sự cảm nhận của cô gái trẻ và qua sự tự hoạ của chàng trai. 3. Theo lời giới thiệu của bác lái xe, cái con người "cô độc nhất thế gian" là một thanh niên hai mươi bảy tuổi, làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu. Trong câu chuyện phác thảo chân dung của bác lái xe, đáng chú ý là chuyện "thèm ng­ời" của anh chàng "cô độc nhất thế gian" kia. Không phải anh ta "sợ ngư­ời" mà lên làm việc ở đây, trái lại, anh ta từng chặt cây ngáng đường ngăn xe dừng lại để được gặp người "nhìn trông và nói chuyện một lát". Qua cái nhìn của ng­ời hoạ sĩ, người thanh niên hiện ra với "tầm vóc nhỏ bé, nét mặt rạng rỡ". Anh ta sống trong "Một căn nhà ba gian, sạch sẽ, với bàn ghế, sổ sách, biểu đồ, thống kê, máy bộ đàm. Cuộc đời riêng của anh thanh niên thu gọn lại một góc trái gian với chiếc gi­ường con, một chiếc bàn học, một giá sách.". Một cuộc sống giản dị, ngăn nắp của một ngư­ời yêu đời, say mê công việc và không có vẻ gì của sự buồn chán. Trong sự cảm nhận của cô kĩ s­ư mới ra trường, cuộc sống của ng­ời thanh niên là "cuộc sống một mình dũng cảm tuyệt đẹp", anh mang lại cho cô "bó hoa của những háo hức và mơ mộng ngẫu nhiên". Nếu nh­ư người hoạ sĩ lão thành mới chỉ ghi đư­ợc "lần đầu gư­ơng mặt của người thanh niên" thì chính những lời tâm sự của một kẻ "thèm ng­ời" khi đ­ược gặp ng­ười đã là một bức chân dung tự hoạ khá hoàn chỉnh. Chân dung là gì nếu không phải là những nét vẽ tinh thần, những nét gợi tả phẩm chất? Những nét tự hoạ của anh thanh niên về cả những con ng­ười đang làm việc nh­ anh khiến ng­ời hoạ sĩ già, dù đã trải nhiều chuyện đời phải suy ngẫm rất nhiều: "Ng­ười con trai ấy đáng yêu thật, như­ng làm cho ông nhọc quá. Với những điều làm cho ng­ời ta suy nghĩ về anh. Và về những điều anh suy nghĩ trong cái vắng vẻ vòi vọi hai nghìn sáu trăm mét trên mặt biển, cuồn cuộn tuôn ra khi gặp ng­ời." Vậy những điều gì ở chàng thanh niên đã làm cho ng­ời hoạ sĩ già suy nghĩ và thậm chí làm thay đổi cả cái quan niệm về mảnh đất Sa Pa vốn có trong ông? Nỗi "thèm ngư­ời" ở anh thanh niên không phải nỗi nhớ cuộc sống đông đúc, tiện nghi, an nhàn, như­ anh nói: "Nếu là nỗi nhớ phồn hoa đô thị thì xoàng.". Người thanh niên hiểu rất rõ công việc của mình, chấp nhận sống trong hoàn cảnh buồn tẻ, cô độc để làm công việc "đo gió, đo m­a, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo tr­ớc thời tiết hàng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu". Nh­ưng con ng­ời ấy không hề thấy buồn tẻ, cô độc. Cái sự "thèm ngư­ời" của chàng thanh niên là lẽ bình thường của con ng­ười, nhất lại là tuổi trẻ. Anh sống với triết lí: "khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình đ­ợc?". Được làm việc có ích đối với anh thế là niềm vui. Hơn nữa công việc của anh gắn liền với công việc của bao anh em đồng chí khác ở những điểm cao hơn hoặc thấp hơn. Ng­ười hoạ sĩ đã thấy bối rối khi bất ngờ đ­ược chiêm ngư­ỡng một chân dung đẹp đẽ đến thế: "bắt gặp một con ng­ười như­ anh là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nhưng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài". Và chắc chắn ông sẽ còn bối rối khi muốn dựng lên chân dung của Sa Pa. Bởi vì, trong sự tự hoạ của chàng trai còn hiện ra những chân dung khác nữa, cũng quên mình, say mê với công việc nh­ anh kĩ sư­ rau d­ới Sa Pa "Ngày này sang ngày khác... ngồi im trong vư­ờn su hào, rình xem cách ong lấy phấn, thụ phấn cho hoa su hào...", nhà nghiên cứu sét m­ười một năm không rời xa cơ quan một ngày vì sợ có sét lại vắng mặt. Cái lặng lẽ của cảnh sắc Sa Pa thì cây cọ trên tay ng­ời hoạ sĩ có thể lột tả không mấy khó khăn, như­ng cái không lặng lẽ của Sa Pa nh­ ông đã thấy qua những con người kia thì vẽ thế nào đây? Ng­ời hoạ sĩ nhận thấy rất rõ "sự bất lực của nghệ thuật, của hội hoạ trong cuộc hành trình vĩ đại là cuộc đời.". 4. Ng­ười đọc có thể dễ dàng nhận thấy trong Lặng lẽ Sa Pa, có hai nhân vật hầu nh­ư chỉ lặng lẽ nghe và suy ngẫm. Đó là ngư­ời hoạ sĩ và cô kĩ s­ư trẻ. Tr­ớc chàng trai trẻ trung yêu đời, hiểu và yêu công việc thầm lặng của mình, người hoạ sĩ nhận ra rằng Sa Pa, cái tên mà chỉ nghe đến "ngư­ời ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi", có những con ng­ời làm việc và lo nghĩ cho đất nư­ớc. Thoạt đầu, đáp lại lời bác lái xe, ng­ời hoạ sĩ nói: "Thích chứ, thích lắm. Thế nào tôi cũng về ở hẳn đấy. Tôi đã định thế. Như­ng bây giờ ch­a phải lúc". Sau khi gặp, đ­ược nghe chàng thanh niên nói, đ­ược chứng kiến và hiểu cuộc sống của những con ngư­ời đang làm việc thực sự, cống hiến thực sự, quan niệm của ng­ời hoạ sĩ đã thay đổi. Lúc chia tay, ng­ười hoạ sĩ già còn chụp lấy tay ng­ời thanh niên lắc mạnh và nói: "Chắc chắn rồi tôi sẽ trở lại. Tôi ở với anh mấy hôm đ­ược chứ?" Đây không chỉ là sự thay đổi trong cái nhìn về Sa Pa mà còn là sự thay đổi trong quan niệm của một nghệ sĩ về cuộc sống, về cái đẹp. Còn cô gái ? Khi từ biệt, "Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng, như­ ng­ời ta trao cho nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay". Cô đã hiểu đ­ược nhiều điều từ cuộc sống, công việc của chàng trai. Có lẽ trong cái bắt tay ấy là niềm tin, là ý nghĩa đích thực của lao động, là cả sự thầm lặng cống hiến cho đời,... Những điều đó sẽ giúp cô vững vàng hơn trong những bư­ớc đầu tiên vào đời. 5. Nguyễn Thành Long đã cho ng­ười đọc thấy cái không lặng lẽ của Sa Pa. Với những nét vẽ mộc mạc, bức chân dung về mảnh đất trên cao ấy có sức ấm toả ra từ những bàn tay, khối óc đang từng ngày bền bỉ, thầm lặng cống hiến. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Qua việc đọc, phân tích các yếu tố nghệ thuật: miêu tả nhân vật, miêu tả thiên nhiên,… có thể cảm nhận được vẻ đẹp của nhân vật trong truyện, chủ yếu là nhân vật anh thanh niên trong công việc thầm lặng, trong cách sống và những suy nghĩ, tình cảm, trong quan hệ với mọi ngươi; đồng thời thấy được nghệ thuật viết truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Nguyễn Thành Long.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Bài học về nhân cách, lối sống qua chuyện về Thái sư Trần Thủ Độ, Thái phó Tô Hiến Thành

BÀI HỌC VỀ NHÂN CÁCH, LỐI SỐNG QUA CHUYỆN VỀ THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ, THÁI PHÓ TÔ HIẾN THÀNH

Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ là hai danh nhân văn hoá đất Việt, hai người có công rất lớn đối với sự thịnh vượng của hai triều đại phong kiến Việt Nam. Họ là những tấm gương sáng về lối sống và nhân cách. Qua câu chuyện về Tô Hiến Thành và Trần Thủ Độ, ngưuời viết sử hướng đến mục đích đề cao lòng trung thực, ca ngợi tấm lòng luôn vì dân vì nước của họ. Cả hai vị t¬ướng đầu triều này đều luôn đặt quyền lợi của dân tộc, đất nước lên trên quyền lợi gia đình và cộng đồng. Câu chuyện về hai vị tướng này mang đến cho chúng ta những bài học nhân sinh vô cùng quý giá. Trung thực là phẩm chất vô cùng đáng quý ở mỗi ng¬ười. Trung thực với mọi ngư¬ời xung quanh, trung thực với chính mình chúng ta sẽ không làm điều gì khuất tất. Tô Hiến Thành và Trần Thủ Độ đều là những con ngư¬ời rất trung thực và thẳng thắn. Là những ng¬ười đứng đầu triều, mỗi lời nói, mỗi cách ứng xử đều ảnh h¬ưởng đến v¬ương pháp, vì thế họ luôn trung thực và công bằng khi giải quyết công việc. Thế nh¬ưng điều đáng trân trọng và đáng để chúng ta học tập ở hai con ngư¬ời ấy chính là tấm lòng mình vì mọi ng¬ười. Điểm chung giữa Tô Hiến Thành và Trần Thủ Độ chính là tấm lòng luôn vì nư¬ớc vì dân, biết đặt quyền lợi của tập thể lên trên quyền lợi cá nhân. Đó là biểu hiện của tinh thần trách nhiệm đối với dân tộc, đối với cộng đồng. Trần Thủ Độ ban th¬ởng cho người lính canh vì anh ta đã giữ nghiêm phép n¬ước, mặc dù anh ta làm trái ý của Linh Từ quốc mẫu. Ông ban th¬ởng cho ng¬ười dám nói thẳng nói thật với đức vua dù ng¬ười đó nói không tốt về mình. Dù việc nhỏ hay việc lớn, Trần Thủ Độ đều vì mục đích giữ nghiêm phép n¬ước. Một chức câu đ¬ương nhỏ dành cho ng¬ười họ hàng của Linh Từ quốc mẫu – vợ ông – là việc không khó. Nhưng ông không làm theo ý của vợ. Bởi vì, ông không muốn một chút lợi lộc nhỏ của ng¬ời thân làm phép n¬ước không nghiêm, sử việc không công bằng. Vì trách nhiệm nặng nề mà triều đình đã đặt lên vai, thái s¬ư Trần Thủ Độ đã sẵn sàng hy sinh những quyền lợi riêng t¬ư để giữ nguyên phép n¬ước. Thái phó Tô Hiến Thành cũng không vì miếng mồi danh vọng, tiền bạc mà làm trái đạo trời. Ông cũng không sợ cả những lời doạ nạt. Ông đã dũng cảm bảo vệ di chúc của nhà vua. Vì quyền lợi của dân tộc, ông đã tiến cử ngư¬ời thực sự có tài chứ không tiến cử ng¬ười ngày đêm hầu hạ mình. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn phải th¬ường xuyên đối phó với những mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. Nhiều khi một chút lợi của riêng mình lại gây nên những thiệt hại cho tập thể, cho mọi ng¬ười xung quanh. Những tấm g¬ương sáng về nhân cách và lối sống của người xư¬a nhắc nhở chúng ta phải sống sao cho phải đạo, phải biết điều hoà mối quan hệ giữa quyền lợi của bản thân và lợi ích của tập thể, của những ng¬ười xung quanh, không nên chỉ lo cho bản thân mình. Có nhiều ng¬ười, vì cái lợi tr¬ớc mắt của bản thân đã sẵn sàng gây nên tai hoạ hoặc những mầm hoạ cho cả xã hội. Khi làm việc gì chúng ta cũng phải cân nhắc cái lợi và cái hại nó gây nên cho xã hội. Để trở thành những con ng¬ời có ích cho xã hội, chúng ta còn phải biết nhìn xa trông rộng, phải biết sống đúng đạo làm ng¬ười. Xã hội sẽ tốt đẹp hơn nếu mỗi ng¬ời đều có trách nhiệm, đều có ý thức xây dựng tập thể. Sự ích kỷ, chỉ bo bo quyền lợi của riêng mình sẽ khiến cho con ngư¬ời sống nhỏ nhen và tính toán. Mà những tính toán nhỏ nhen bao giờ cũng gây nên những điều không tốt cho ng¬ười khác và cho cả bản thân ng¬ười ích kỷ. Thái phó Tô Hiến Thành và Thái s¬ư Trần Thủ Độ là những tấm gương sáng ngời về nhân cách. Họ mang những trách nhiệm vô cùng nặng nề đối với triều đình, cách ứng xử của họ liên quan đến lợi ích, sự sống còn của cả một triều đình nên họ phải cân nhắc, phải thận trọng. Chúng ta chỉ là những con ng¬ười bình thư¬ờng song cũng vẫn là một cá nhân của xã hội. Hành động của chúng ta cũng liên quan đến những ng¬ời xung quanh nên chúng ta cũng phải biết xử xự sao cho đúng, cho hợp lẽ phải, lẽ đời. Biết sống vì mọi nưg¬ời, sẵn sàng hy sinh lợi ích của bản thân để củng cố lợi ích của dân tộc là truyền thống, lối sống vô cùng tốt đẹp của nhân dân ta. Và những anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá là những tấm g¬ương sáng người, là biểu t¬ượng đẹp đẽ cho tinh thần ấy. Lòng trung thực, tinh thần tập thể và trách nhiệm đối với nhân dân, với đất n¬ước là những điểm sáng trong nhân cách và lối sống của những người nh¬ư Tô Hiến Thành và Trần Thủ Độ, là những tấm g¬ương để chúng ta soi mình và sửa mình sao cho hợp lẽ đời. (HỒNG MAI)
Xem thêm

2 Đọc thêm

Soạn bài Độc Tiểu Thanh Ký

SOẠN BÀI ĐỘC TIỂU THANH KÝ

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN. 1. Độc “Tiểu Thanh kí” nằm ở cuối Thanh Hiên thi tập, tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Bài thơ có liên hệ với Tiểu Thanh kí trong Tiểu Thanh truyện với nhân vật Tiểu Thanh, một người tài hoa bạc mệnh. 2. Với nghệ thuật sáng tạo ngôn từ, hình ảnh hàm súc cao độ, bài thơ thể hiện nổi bật tâm trạng xót thương, day dứt của Nguyễn Du đối với nỗi oan của những người tài hoa bạc mệnh. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Tiểu Thanh có sắc, lại có tài (thơ phú văn chương) thế nh­ưng cuộc đời của nàng lại gặp quá nhiều bi kịch (phải làm lẽ, bị dập vùi, tr­ước tác bị đốt dở dang). Số phận hẩm hiu, đau khổ của nàng chính là lí do khiến Nguyễn Du cảm thương chia sẻ. Đồng thời cũng từ bi kịch của Tiểu Thanh, nhà thơ suy nghĩ về định mệnh nghiệt ngã của những người có tài văn chư­ơng, nghệ thuật. 2. Trong câu thơ dịch, chữ “nỗi hờn” (nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi) ch­a diễn đạt đ­ược hết ý nghĩa của hai từ “hận sự”. Vậy mối hận “cổ kim” ở đây nghĩa là gì? Đó là mối hận của người x­a (nh­ư Tiểu Thanh) và ngư­ời thời nay (những ng­ười phụ nữ “hồng nhan bạc mệnh” đang sống cùng thời với Nguyễn Du, thậm chí cả những con ng­ười có tài năng thơ phú nh­ư nhà thơ Nguyễn Du nữa). Họ đều là những người đã gặp bao điều không may trong cuộc sống. Từ đó, nhà thơ của chúng ta cho rằng: Có một thông lệ vô cùng nghiệt ngã đó là ông trời luôn bất công với những con ng­ười tài sắc. Sự bất công ấy đâu chỉ đến với riêng người phụ nữ tài hoa bạc mệnh Tiểu Thanh mà còn là nỗi hận của bao người (những Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du…). Nỗi hận ấy từ hàng trăm năm nay đâu có gì thay đổi. Bởi vậy nó như­ một câu hỏi lớn không lời đáp cứ treo lơ lửng giữa không trung đến “ông trời” cũng “không hỏi đ­ược”. 3. Giá trị nhân bản đặc sắc của bài thơ là ở chỗ Nguyễn Du đã đặt ra vấn đề về quyền sống của ngư­ời nghệ sĩ. Từ sự thư­ơng xót và đồng cảm với Tiểu Thanh, nhà thơ muốn gửi gắm sự trân trọng của mình đến những ng­ười nghệ sĩ nói chung – những chủ nhân của những giá trị tinh thần. Bày tỏ sự cảm thông chia sẻ với họ là một dấu hiệu tiến bộ trong chủ nghĩa nhân bản của Nguyễn Du. Tình thư­ơng yêu và sự quan tâm của nhà thơ lúc ấy đã v­ượt qua những giới hạn về không gian và thời gian. Nó không chỉ là sự quan tâm chia sẻ với những con ngư­ời bất hạnh (những cảnh đói cơm, rách áo) mà hơn thế nữa còn là sự thư­ơng yêu và trân trọng con ng­ười nói chung. 4. Có thể chia bài thơ thành bốn phần, mỗi phần lại có vai trò riêng trong việc thể hiện chủ đề của bài thơ. Hai câu thơ đầu là hai câu tả cảnh để mà kể việc. Từ quang cảnh hoa phế ở Tây Hồ, người đọc liên tư­ởng đến cuộc đời thay đổi. Hai câu này cũng nêu ra hoàn cảnh nảy sinh cảm xúc của nhà thơ (phần “di cảo” thơ của Tiểu Thanh). Hai câu thực nêu lên những suy nghĩ về số phận bất hạnh của nàng Tiểu Thanh thông qua hai hình ảnh ẩn dụ son phấn (vẻ đẹp) và văn chư­ơng (tài năng). Hai câu luận bắt đầu khái quát, nâng vấn đề, liên hệ thân phận của nàng Tiểu Thanh với những bậc văn nhân tài tử trong đó có nhà thơ. Hai câu kết là tiếng lòng của nhà thơ mong tìm thấy một tiếng lòng đồng cảm của ngư­ời đời sau. 5. Đoạn thơ : Rằng : Hồng nhan tự thủa xưa, Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu. Nỗi niềm tưởng đến mà đau, Thấy người nằm đó biết sau thế nào ? (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Là lời của Thúy Kiều nói về nhân vận Đạm Tiên. Khi thấy chị sụt sùi trước mộ của Đạm Tiên, Thúy Vân đã nói: Vân rằng: “Chị cũng nực cư­ời” Khéo d­ư nư­ớc mắt khóc người đời x­a. Nghe xong câu này, Thúy Kiều đã nói những câu trên để đáp lời Thúy Vân. Tuy nhiên trong Truyện Kiều có rất nhiều đoạn đối thoại bắt đầu bằng từ “rằng” nh­ư ở đoạn thơ này. Trong tr­ường hợp ấy, người ta cũng có thể hiểu đó là lời của tác giả (Nguyễn Du). Căn cứ vào nội dung của đoạn thơ, có thể thấy đề tài mà Nguyễn Du quan tâm trong các sáng tác của ông là hình ảnh những con ngư­ời tài hoa mà bạc mệnh. loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Soạn bài Hứng trở về

SOẠN BÀI HỨNG TRỞ VỀ

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN. 1. Nguyễn Trung Ngạn (1289 – 1370) tự là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, người làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay là Ân Thi, Hưng Yên), đỗ Hoàng giáp năm 16 tuổi, từng làm đến chức Thượng thư. Ông để lại Giới hiên thi tập. 2. Bài thơ Hứng trở về là bài thơ thể hiện lòng yêu nư­ớc và niềm tự hào dân tộc sâu sắc của tác giả. Tình yêu ấy thể hiện bằng nỗi nhớ quê h­ương và sự gắn bó tha thiết với cuộc sống hết sức bình dị ở quê nhà. Nỗi nhớ quê da diết thôi thúc tác giả quay về dù đang sống sung sướng giữa chốn phồn hoa. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Nỗi nhớ quê h­ương luôn là cảm xúc thư­ờng trực của ngư­ời li khách. Điều đáng l­ưu ý là ở bài thơ này, nỗi nhớ ấy được gợi lên bằng những hình ảnh vô cùng quen thuộc: cây dâu già lá rụng, nong tằm vừa chín, lúa trổ bông sớm thoang thoảng hương thơm, cua đang lúc béo… Tất cả những hình ảnh này đều rất giàu sức gợi bởi nó gắn bó máu thịt với cuộc đời của mỗi con ng­ười, nhất là với những ai sinh ra và lớn lên ở nông thôn. 2. Thơ văn trung đại nói nhiều đến lòng yêu n­ước và ng­ười ta cũng có nhiều cách khác nhau để biểu đạt điều này. Với bài thơ “Quy hứng”, cái tình đối với đất nước, non sông có thêm một cung bậc nữa – đó là nỗi lòng của kẻ li hư­ơng. Quy hứng mở đầu bằng nỗi nhớ quê da diết của ngư­ời li khách. Nh­ưng nó không được nói bằng những ngôn từ trực tiếp mà là bằng những hình ảnh dân dã quen thuộc đối với mỗi chúng ta. Xa quê có ai không xúc động khi nghĩ về nong tằm, ruộng dâu, nghĩ về những ruộng lúa với những bông lúa mới trổ hoa h­ương đư­a thoang thoảng hay nghĩ về một bữa canh cua giản dị mà ngon ngọt đến khó phai. Tình yêu quê hương của tác giả không chỉ biểu hiện qua nỗi nhớ mà còn thể hiện qua cái khát khao được quay về. Sống sung s­ướng nơi đất khách, mà vẫn luôn nhớ đến quê hương (vùng quê tuy nghèo như­ng không bao giờ thiếu tình yêu thương, lòng vị tha nhân hậu và sự chân tình). Sự độc đáo của bài thơ chính là ở chỗ, những tình cảm lớn lao (lòng yêu nư­ớc, niềm tự hào dân tộc) lại được thể hiện bằng những hình ảnh thơ giản dị, chân thực, mộc mạc và rất đỗi đời th­ường. loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

V ĂN HÓA ĐỌC SÁCH C ỦA NG ƯỜI NH ẬT

V ĂN HÓA ĐỌC SÁCH C ỦA NG ƯỜI NH ẬT

V ăn hóa đọc sách c ủa ng ười Nh ật vành ững đi ều b ạn ch ưa bi ếtVăn hóa đọc của người Nhật là một thói quen tốt, họ dùng thói quen đọc sách như một phươngthức để giải trí, để tiếp thu kiến thức và nó giống như bản sắc không mai một theo thờigian.Người Nhật nổi tiếng trong lịch sử là dân tộc đọc sách vào bậc nhất thế giới. Với nền kinh tếphát triển, sự ra đời của công nghệ, điện thoại thông minh…làm cho con người dần quên thóiquen đọc sách. Vậy tại sao người Nhật vẫn yêu thích đọc sách như vậy? Hãy cùng chúng tôi tìmhiểu về văn hóa đọc sách của người Nhật nhé!Công nghệ giải trí di động thịnh hành trong những năm gần đây không làm mất đi văn hóa NhậtBản trong vấn đề đọc sách. Trên các tuyến đường tàu điện, luôn có rất nhiều người cầm quyểnsách để đọc trong thời gian di chuyển. Họ đọc sách ngay cả khi phải đứng trong suốt cả chặngđường dài, trên một con tàu thường xuyên lắc lư.Ở những đường ngầm dưới mặt đất có rất nhiềucửa hàng sách nhỏ. Vào giờ nghỉ trưa, nhiều người lao động Nhật Bản tranh thủ tản bộ qua đây,tìm cho mình một quyển sách ưng ý.Theo một khảo sát của tổ chức nghiên cứu Research Bank, năm 2011 có hơn một nửa dân sốNhật Bản đọc ít nhất một quyển sách mỗi tháng. Thời điểm đọc sách được ưa chuộng nhất là khirảnh rỗi ở nhà, hoặc trước khi đi ngủ.Trong thời gian gần đây, với sự phổ cập của địên thọaithông minh, những người cao niên tại Nhật Bản lo ngại rằng thế hệ trẻ Nhật Bản sẽ xa rời sáchgiấy, chuyển sang đọc sách địên tử, hay tệ hơn nữa là sẽ ngừng đọc sách do bị thu hút bởi các tròchơi trực tuyến.Tuy nhiên những lo ngại này dường như vẫn chưa trở thành sự thật, khi năm ngoái chuỗi cửahàng bán sách lớn nhất Nhật Bản Tsutaya thông báo doanh thu kỷ lục 113 tỷ yên, tương đương1,1 tỷ USD trong tài khóa 2013. Số lượng sách và tạp chí phát hành tại Nhật Bản vẫn gia tăngmột cách đều đặn trong 10 năm gần đây, với tốc độ đáng mơ ước tại nhiều quốc gia là trên 7%
Xem thêm

5 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Hứng trở về

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : HỨNG TRỞ VỀ

HỨNG TRỞ VỀ (Quy hứng) NGUYỄN TRUNG NGẠN I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nguyễn Trung Ngạn (1289 – 1370) tự là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, người làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay là Ân Thi, Hưng Yên), đỗ Hoàng giáp năm 16 tuổi, từng làm đến chức Thượng thư. Ông để lại Giới hiên thi tập. 2. Bài thơ Hứng trở về là bài thơ thể hiện lòng yêu nư­ớc và niềm tự hào dân tộc sâu sắc của tác giả. Tình yêu ấy thể hiện bằng nỗi nhớ quê h­ương và sự gắn bó tha thiết với cuộc sống hết sức bình dị ở quê nhà. Nỗi nhớ quê da diết thôi thúc tác giả quay về dù đang sống sung sướng giữa chốn phồn hoa. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Nỗi nhớ quê h­ương luôn là cảm xúc thư­ờng trực của ngư­ời li khách. Điều đáng l­ưu ý là ở bài thơ này, nỗi nhớ ấy được gợi lên bằng những hình ảnh vô cùng quen thuộc: cây dâu già lá rụng, nong tằm vừa chín, lúa trổ bông sớm thoang thoảng hương thơm, cua đang lúc béo... Tất cả những hình ảnh này đều rất giàu sức gợi bởi nó gắn bó máu thịt với cuộc đời của mỗi con ng­ười, nhất là với những ai sinh ra và lớn lên ở nông thôn. 2. Thơ văn trung đại nói nhiều đến lòng yêu n­ước và ng­ười ta cũng có nhiều cách khác nhau để biểu đạt điều này. Với bài thơ "Quy hứng", cái tình đối với đất nước, non sông có thêm một cung bậc nữa - đó là nỗi lòng của kẻ li hư­ơng. Quy hứng mở đầu bằng nỗi nhớ quê da diết của ngư­ời li khách. Nh­ưng nó không được nói bằng những ngôn từ trực tiếp mà là bằng những hình ảnh dân dã quen thuộc đối với mỗi chúng ta. Xa quê có ai không xúc động khi nghĩ về nong tằm, ruộng dâu, nghĩ về những ruộng lúa với những bông lúa mới trổ hoa h­ương đư­a thoang thoảng hay nghĩ về một bữa canh cua giản dị mà ngon ngọt đến khó phai. Tình yêu quê hương của tác giả không chỉ biểu hiện qua nỗi nhớ mà còn thể hiện qua cái khát khao được quay về. Sống sung s­ướng nơi đất khách, mà vẫn luôn nhớ đến quê hương (vùng quê tuy nghèo như­ng không bao giờ thiếu tình yêu thương, lòng vị tha nhân hậu và sự chân tình). Sự độc đáo của bài thơ chính là ở chỗ, những tình cảm lớn lao (lòng yêu nư­ớc, niềm tự hào dân tộc) lại được thể hiện bằng những hình ảnh thơ giản dị, chân thực, mộc mạc và rất đỗi đời th­ường
Xem thêm

1 Đọc thêm

Phân tích Đám tang lão Gô

PHÂN TÍCH ĐÁM TANG LÃO GÔ

Tiểu thuyết Lão Gô-ri-ô đ**ược nhà văn xếp vào Những cảnh đời tư thuộc phần Khảo luận phong tục. Đó là câu chuyện về một ng*ười cha, một t***ư sản mới phất sau 1789  với những mối quan hệ của ông ta trong xã hội. Lão Gô-ri-ô vừa là sản phẩm vừa là nạn nhân thê thảm của xã hội kim tiền mà ông ta là một thành viên tích cực tạo nên nó. Và lão Gô-ri-ô không phải là trường hợp cá biệt, bởi nh*ư lời phu nhân Đơ Lăng-giê nói với Ra-xti-nhắc “mình chẳng thấy tấn bi kịch đó diễn ra hàng ngày đó sao ? Chỗ này thì đứa con dâu đâm ra xấc láo hết nư*ớc với ông bố chồng đã hi sinh tất cả cho thằng con trai. Chỗ kia thì một thằng con rể tống cổ bà mẹ vợ ra cửa… Trong hai mư*ơi năm ông cụ đã dành cả tâm can, tình yêu dấu. Trong một ngày ông cụ đã cho tất cả cơ nghiệp. Quả chanh đã bị vắt kiệt rồi, mấy cô con gái liền vứt ra góc đ**ường…”. Thực ra Lão Gô-ri-ô khai thác một đề tài không mới. Trư**ớc Ban-dắc đã có Sếch-xpia với Vua LiaĐỏ và đen. Như*ng nếu ở Sếch-xpia đề tài ấy đư*ợc nhà văn biến thành một bi kịch, Juy-liêng Xo-ren của Xtăng-đan trong chừng mực nào đó cũng có thể coi là một nhân vật bi kịch thì đến Ban-dắc, lão Gô-ri-ô, vua Lia của thế kỉ XIX lại đau xót hơn nhiều. Cũng đã chết vì sự bội bạc của các con, nhưng cái chết của ông thật thảm thư**ơng, nó không có khả năng gợi lên một thứ tình cảm thiêng liêng nào cả, ngoài những giọt nư*ớc mắt hiếm hoi của Ra-xti-nhắc. Cùng là những thanh niên nghèo có khát vọng tiến thân, Juy-liêng vừa muốn tiến thân, vừa muốn giữ nhân cách, khinh bỉ xã hội thư*ợng l*ưu và cuối cùng chàng từ chối xã hội ấy thì Ra-xti-nhắc lại muốn hoà nhập với nó bằng mọi cách. Đề tài về sự tha hoá của con người trước sức mạnh của đồng tiền đã được Ban-dắc khai thác một cách triệt để. Với một chủ đề không mới, Ban-dắc đã có một sự lí giải hoàn toàn mới và đầy thuyết phục. Trong tác phẩm của mình, Ban-dắc đã không chỉ phản ánh hiện thực mà còn phân tích mổ xẻ từng ngõ ngách của nó. Ban-dắc hiểu thấu bản chất của xã hội ấy bởi ông cũng chính là một nạn nhân của nó, cũng khao khát gia nhập tầng lớp thượng lưu, cũng tìm mọi cách kiếm tiền nhưng đều thất bại. Trong xã hội ấy, quá trình tha hoá của con ngư*ời diễn ra rất nhanh chóng. Cả xã hội nhảy múa trong ánh hào quang của kim tiền, tranh nhau lao vào để giằng xé lấy tiền bạc và quyền lực. Nhân vật Ra-xti-nhắc với tham vọng bư***ớc chân vào xã hội th**ượng l***ưu, đư***ợc trở đi trở lại trong tác phẩm chính là hiện thân của Ban-dắc ở một số phư***ơng diện nào đó, Ban-dắc luôn có tham vọng trở thành một vĩ nhân, bởi theo ông, “Những ng**ười có tham vọng thì gan sẽ mạnh hơn, máu nhiều chất sắt hơn, tim nóng hơn những người khác” (Lời Vô-tơ-ranh nói với Ra-xti-nhắc). Bao nhiêu năm lăn lộn để thực hiện tham vọng, Ban-dắc đã chuốc lấy nhiều thất bại như**ng ông cũng đư**ợc rất nhiều với t***ư cách là một nhà văn. Ông hiểu ra những ngóc ngách tối tăm nhất của xã hội thượng lư***u Pari, “sự đồi bại đang phát triển, tài năng thì hiếm hoi”, “Tôi đố cậu đi hai bư**ớc trong cái thành phố này mà không gặp những âm mư**u tính toán kinh ng***ười” (Lời Vô-tơ-ranh nói với Ra-xti-nhắc). Bằng một giọng điệu cay nghiệt như**ng chân thực, nhà văn đã chua xót nhận xét về kinh thành Pa-ri hoa lệ thế kỉ XIX dư**ới cái nhìn của một ngư*ời trong cuộc, “Pa-ri giống nh***ư một khu rừng của tân thế giới, trong đó lúc nhúc tới hai mươi bộ tộc dã man, nào ngư*ời Hi-noa, nào ngư*ời Huy-ông, họ sống bằng sản phẩm của tầng lớp xã hội … Có nhiều cách săn, có kẻ săn của hồi môn, có kẻ săn tiền thanh toán gia tài, kẻ này câu nhân tâm, kẻ kia lừa thầy phản bạn. Anh nào trở về mà túi săn nặng trĩu thì được xã hội tử tế chào mời khoản đãi đón tiếp. Ta phải thừa nhận công đức của cái đất mến khách này, cậu gặp đ*ược các thành phố có nhiều nhà trọc phú nhất thế giới đấy. Trong khi thế giới quý tộc kiêu hãnh của tất cả các kinh thành châu âu từ chối một gã trọc phú không cho dự vào hàng ngũ họ thì Pari lại dang tay đón gã, dự những bữa tiệc tùng của gã và chạm cốc với cái ô trọc của gã”. và Xtăng-đan với 1. Tác giả & tác phẩm Hô-nô-rê đơ Ban-dắc (1799 - 1850), là nhà tiểu thuyết Pháp vĩ đại, một nhà văn hiện thực cách mạng đạt đến mức cổ điển, là một bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực, nổi tiếng với bộ sách đồ sộ Tấn trò đời. Nhận xét về tiểu thuyết của Ban-dắc, ăng-ghen viết : “Đọc tiểu thuyết Ban-dắc ng*ười ta có thể hình dung ra lịch sử nước Pháp từ 1816 1848 đầy đủ hơn, chi tiết hơn, hoàn chỉnh hơn so với đọc tất cả các nhà sử học, xã hội học, thống kê học thời ấy để lại”. Bộ Tấn trò đời với khoảng 5000 nhân vật thuộc đủ các thành phần xã hội, trong đó có vài trăm nhân vật đ*ược coi là điển hình nghệ thuật, là một công trình kiến trúc đồ sộ về mối quan hệ của xã hội t**ư bản Pháp thế kỉ XIX. Về mặt nội dung, Tấn trò đời là một bức tranh thê lư**ơng của loài ng**ười trong thời đại mà ánh sáng kim tiền toả đến mọi nơi, mọi ngõ ngách sâu thẳm nhất của cuộc sống, kể cả nơi sâu xa nhất trong tâm hồn mỗi người. Tác phẩm phản ánh một thời kì mà cả xã hội quỳ gối tr**ước "lũ bê vàng". Về phư***ơng diện nghệ thuật, tác phẩm là đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực thể hiện ở nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Với quan niệm con ngư***ời là sản phẩm của hoàn cảnh, Ban-dắc đã chứng minh con ngư*ời vừa là sản phẩm vừa là nguồn gốc làm nên hoàn cảnh ấy. Nghệ thuật trần thuật thì đã đạt đến tiêu chuẩn của chủ nghĩa hiện thực, với một giọng điệu trần thuật sắc sảo, quan điểm trần thuật lạnh lùng. Tác phẩm Lão Gô-ri-ô là tác phẩm xuất sắc kết tinh nhiều giá trị tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật của bộ Tấn trò đời. Đây là một màn nhỏ trong vở kịch cuộc đời mà Ban-dắc đã tạo dựng lên với mục đích tái hiện chân thực, sinh động hiện thực xã hội, mà ở đó ông là một thành viên, một con ng***ười mang đầy đủ những tính cách sản phẩm của xã hội. Đoạn trích Đám tang lão Gô-ri-ô nằm ở phần cuối tác phẩm Lão Gô-ri-ô. Qua đoạn trích này, tác giả đã thể hiện đỉnh cao tấn thảm kịch số phận của lão Gô-ri-ô. Một số ph**ương diện về nội dung t***ư tư**ởng và nghệ thuật tiểu thuyết hiện thực của Ban-dắc đ**ược kết tinh trong đoạn trích này. 2.Phân tích Cảnh đám tang lão Gô-ri-ô đã thể hiện tấn bi kịch của một người cha, một con người đã từng tự biến mình thành nô lệ của đồng tiền. Cha chết nhưng hai cô con gái yêu quý vẫn đi dự vũ hội. Cảnh đám tang diễn ra vô cùng thê thảm, chỉ với một số chi tiết nhỏ, nhà văn đã lật tẩy bộ mặt thật vô cùng thối nát của xã hội mà đồng tiền đang ngự trị. Tất cả những kẻ đến dự đám tang, trừ Ra-xti-nhắc, đều vì đồng tiền mà họ được trả công. Số phận thê thảm của lão Gô-ri-ô là tấm gương chung cho những người có quá nhiều tham vọng đã tự đẩy mình đến bi kịch cô đơn. Qua bao cảnh đời, bao nhiêu số phận và cảnh sống mà nhà văn được chứng kiến ông đã tìm ra đư*ợc quy luật của xã hội t***ư bản thế kỉ XIX. Quy luật ấy nằm ở mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh. Con người tạo ra hoàn cảnh, đồng thời là nạn nhân của hoàn cảnh. Số phận lão Gô-ri-ô đã chứng minh quy luật ấy. Đoạn trích Đám tang lão Gô-ri-ô nằm ở phần cuối tác phẩm Lão Gô-ri-ô. Qua đoạn trích này tác giả đã thể hiện đỉnh cao tấn thảm kịch số phận của lão Gôriô. Một số phương diện về nội dung t***ư tư**ởng và nghệ thuật tiểu thuyết hiện thực của Ban-dắc đ**ược kết tinh trong đoạn trích này. Sau khi lão Gô-ri-ô đã bán đi những tài sản cuối cùng của mình để có tiền cho hai cô con gái bù vào khoản tiêu giấu chồng và vì quá lo lắng cho hai cô con gái, lão Gôriô đâm ra ốm nặng và sắp chết. Trong lúc hấp hối, lão đã rất khao khát đư*ợc gặp hai cô con gái lần cuối. Được Ra-xti-nhắc báo tin như*ng cả hai không đến bởi họ còn phải chuẩn bị để đi dự vũ hội ở dinh thự Bô-xê-ăng (chị họ của Ra-xti-nhắc). Thậm chí Đen-phin còn giận dỗi vì Ra-xti-nhắc đã không nhanh chóng chuẩn bị để đi dự cùng nàng. Quả thực Ban-dắc đã tạo nên một tình huống thê thảm hơn cả mọi tình huống để bộc lộ số phận nhân vật và bản chất của mối quan hệ ng***ười - ngư***ời trong xã hội th***ượng lư**u. Ng***ười ta có thể từ chối gặp ngư**ời cha đang hấp hối  người cha mà cả cuộc đời đã hi sinh một cách mù quáng cho các con  để đi dự tiệc với nhân tình. Tình huống này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thể hiện tư** t***ưởng của tác phẩm. Cái chết thê thảm và cô độc của lão Gôriô là một tất yếu, tuân theo rất đúng quy luật của xã hội, là một hậu quả tất yếu của quan niệm sống, của lối giáo dục con của lão Gô-ri-ô. Xã hội ấy tất yếu sẽ có nhiều con ng**ười như** lão Gô-ri-ô, kiểu yêu con đầy tham vọng của lão sẽ cho lão hai đứa con như* thế. Hai cô con gái để bố giẫy giụa trong nỗi khát khao gặp con, chết trơ trọi ở quán trọ nghèo, để đi dự dạ hội là để thực hiện mong ước của chính ông bố. Chúng đang thực hiện **ước mơ tha thiết của chính lão Gô-ri-ô đấy chứ. Chính lão đã muốn leo lên cái thang danh vọng ấy và những gì lão không làm đư*ợc lão đã uỷ thác cho những đứa con. Lão chiều con bằng mọi cách, giúp chúng trở thành những cô công chúa của xã hội th*ượng l**ưu rồi lấy chồng th**ượng lưu. Đặt lên trên hết, trên cả tình nghĩa cha con cái niềm kiêu hãnh đư*ợc gia nhập xã hội quý tộc, coi nó* là lí t**ưởng cao quý nhất đời nên lão phải nhận cái kết cục tất yếu. Chính lão Gô-ri-ô trư*ớc khi tắt thở đã nhận ra điều đó, lão đã nhận ra trách nhiệm thuộc về mình. Đám tang lão Gô-ri-ô là đoạn trích tập trung những nét tiêu biểu về nghệ thuật hiện thực của Ban-dắc. Qua đó nhà văn đã miêu tả chân thực và lột tả thành công bản chất thối nát của xã hội kim tiền – xã hội mà đồng tiền, tham vọng và những ham muốn hèn mọn được đặt lên trên cả tình cha con, gia đình, chà đạp lên mọi mối quan hệ giữa con ngư**ời với con ngư*ời... Thực ra, đồng tiền và danh vọng dù trong bất cứ xã hội nào đều có một sức mạnh vạn năng mà con ngư*ời thật khó cưỡng lại. Như**ng đồng tiền trong xã hội tư** bản, trong xã hội thư**ợng l**ưu Pháp thế kỉ XIX, dư*ới cái nhìn của Ban-dắc – một nạn nhân, một sản phẩm của hoàn cảnh xã hội ấy còn có một sức huỷ hoại nhân tính rất khủng khiếp. Toàn bộ Tấn trò đời là sự cố gắng ghi lại và chứng minh sự thật phũ phàng đó. Chỉ với hai trang sách, qua sự xuất hiện nhiều thái độ ứng xử của các nhân vật tham gia đám tang lão Gôriô, nhà văn với khả năng quan sát và tài năng mô tả sắc sảo đã vạch trần bản chất của xã hội tư bản giai đoạn đầu, đặc biệt là bộ mặt thật của giai cấp quý tộc thư**ợng lư**u ở Pari. Thế kỉ XIX là thế kỉ mà giai cấp t**ư sản mới nổi lên, rất giàu có. Còn giai cấp quý tộc phong kiến thì đã sa sút như**ng vẫn cố giữ được địa vị sang trọng của mình. Vì vậy tư** sản mới nổi và quý tộc cũ tìm mọi cách để lợi dụng nhau, kẻ có tiền thì tham danh vọng, kẻ có danh vọng lại khát tiền. Và điều tất yếu xảy ra là họ sẵn sàng làm tất cả để có đ*ược cái họ thèm muốn, dẫn đến một xã hội đầy toan tính và đầy rẫy những nạn nhân. Lão Gô-ri-ô là một nạn nhân và một sản phẩm của xã hội ấy. Là t**ư sản mới nổi, lão thực hiện tham vọng bằng cách lấy một bà vợ quý tộc thất thế. Sau đó lão lại tìm mọi cách cho con gái lão đư*ợc b**ước chân vào xã hội thư**ợng l**ưu dù lão phải bán cả gia tài để biến các con lão thành những bà hoàng, có đủ điều kiện để lấy chồng quý tộc. Và lão đã toại nguyện. Nh**ưng **ước mơ của lão đư*ợc thực hiện cũng là lúc lão rơi vào tấn bi kịch. Kì vọng mà cả gia đình lão gây dựng, hai cô con gái quý tộc đã trở thành nỗi đau của lão mà đến tận khi hấp hối, trơ trọi trong quán trọ tồi tàn, khi tất cả tiền của đã bị hai cô con gái bòn rút hết, lão mới nhận ra. Mô tả đám tang lão Gô-ri-ô bằng một loạt những chi tiết điển hình đắt giá, Ban-dắc đã làm nổi bật không chỉ tấn thảm kịch của một người cha mà còn vẽ lên một bức tranh mang màu sắc bi hài kịch về mối quan hệ ng**ười  ngư**ời mà đồng tiền là cầu nối duy nhất. Sự thê thảm và đáng thư**ơng của đám tang đ**ược thể hiện qua một số chi tiết nghệ thuật, về không gian và thời gian nghệ thuật. Đó là không gian u ám của quán trọ với bà chủ sẵn sàng ăn cắp kỉ vật (hình trái tim để mấy lọn tóc của hai cô con gái lão Gô-ri-ô, kỉ niệm cuối cùng của lão với hai cô con gái thân yêu) đã đặt trong quan tài ngư**ời chết. Là không gian hẹp và tối của “một giáo đư*ờng nhỏ, thấp và tối” với những vị linh mục “tiến hành tất cả những nghi lễ xứng đáng với giá tiền bảy m*ươi quan”. Và một nghĩa địa với hai gã đào huyệt “hất được vài xẻng đất xuống che lấp chiếc áo quan” thì ngẩng lên để “đòi tiền công”. Các không gian của ngày tàn, một buổi hoàng hôn ẩm *ướt đã gợi lên sự thê thảm cho đám tang ngư*ời xấu số. Còn thời gian đư*ợc tác giả đặc biệt chú ý. Thời gian diễn ra đám tang rất nhanh chóng, nghi lễ cử hành mất hai mư**ơi phút còn vị linh mục thì chỉ muốn “chúng ta có thể đi nhanh để khỏi chậm trễ, đã năm giờ rư*ỡi rồi”. Hành động của mọi ng**ười tham gia đám tang đều rất gấp gáp, dư**ờng như** họ đều không có thời gian. Tác giả đã rất lư**u ý đến việc miêu tả chính xác thời gian thực hiện đám tang. Nó đ**ược bắt đầu lúc năm giờ và đến sáu giờ xác ông cụ đ**ược hạ huyệt. Thời gian gấp gáp và hành động của các nhân vật tham gia vào tang lễ cho thấy họ thực hiện các nghi lễ ấy không phải vì ng**ười chết mà họ làm vì lợi ích của bản thân họ, tất cả đều vì tiền (trừ Ra-xti-nhắc). Họ cố hoàn thành công việc của mình theo đúng số tiền mà họ đư**ợc trả. Cri-xtô-phơ làm với bổn phận “đối với một người đã làm cho anh kiếm đư**ợc mấy món tiền công kha khá”, vị linh mục thì làm “nghi lễ xứng đáng với giá bảy mư**ơi quan trong một thời kì mà tôn giáo không lấy gì làm giàu lắm để cầu kinh làm phúc”. Riêng câu nhận xét này đã có khả năng phản ánh hiện thực rất lớn. Tôn giáo vốn có địa vị rất cao quý trong những thế kỉ tr**ước ở châu âu, thậm chí có quyền năng tối ư**u trong xã hội phong kiến thì nay thật rẻ mạt. Với xã hội tư** bản thì tôn giáo duy nhất có sức mạnh là đồng tiền và địa vị, còn thế giới tâm linh thì là một cái gì đó quá phù phiếm. Còn bọn gia nhân của hai cô con gái ông cụ chỉ chờ cho “bài kinh ngắn ngủi cầu cho lão do chàng sinh viên trả tiền” vừa đọc xong là “bọn họ cùng với đám người nhà đạo biến ngay”. Tất cả họ đến đây không phải là dự đám tang trong một niềm th**ương xót mà đến để “chôn” một con ngư*ời cho xong nghĩa vụ. Đám tang thật thê thảm, nó sơ sài, vắng vẻ và không chút tình ng*ười. Trừ Ra-xti-nhắc, không một ai có một chút cảm th**ương nào đối với ng*ười chết, họ làm công việc của mình, thờ ơ nh**ư vứt đi một thứ đồ vật không còn có ý nghĩa đối với cuộc đời. Ng**ười đời thờ ơ tr*ước cái chết đáng thư**ơng của lão Gô-ri-ô đã đành, đến hai cô con gái – niềm hi vọng và lẽ sống của lão cũng không thèm đến dự đám tang của cha. Khi cha hấp hối, khát khao lớn nhất và cuối cùng là đ**ược nhìn và nắm bàn tay hai đứa con gái cũng bị các cô từ chối. Phải cay đắng và căm thù xã hội tới mức cực điểm Ban-dắc mới xây dựng nên tình huống oan nghiệt và cay độc như* vậy. Làm sao con ngư*ời có thể thờ ơ trư*ớc cái chết của cha, mà cái chết ấy có nguyên nhân từ chính họ, họ đi dự tiệc với nhân tình trong khi cha họ đang hấp hối và khi cha họ đang đư*ợc đư*a ra nghĩa địa. Với hai cô con gái, hai phu nhân quý tộc thì việc tham dự một bữa tiệc của tầng lớp th*ượng l**ưu quan trọng và cần thiết hơn việc tham dự đám tang của cha đẻ của mình. Liên hệ với Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ của Vũ Trọng Phụng) để thể thấy sự thâm thuý của Ban-dắc. Lũ con cháu của cụ cố Hồng dù vì tiền nhưng vẫn rỏ đ**ược vài giọt nư*ớc mắt, vẫn tổ chức một đám tang linh đình. Còn hai cô con gái của lão Gô-ri-ô thì không hề quan tâm đến đám tang của cha. Và càng xót xa hơn khi họ vẫn nghĩ đến trách nhiệm của mình và cố hoàn thành nghĩa vụ ấy. Sự xuất hiện của hai cỗ xe tang có treo huy hiệu như**ng không có ng**ười ngồi có một ý nghĩa biểu t**ượng sâu sắc. Thứ nhất nó cho thấy với hai con gái và con rể lão Gô-ri-ô, tình cảm cha con không có ý nghĩa gì hết. Sợi dây nối cha con họ với nhau không bị cắt đứt mà đ**ược nối bằng một hình ảnh tư**ợng trư**ng cho gia đình dòng họ của hai ông con rể. Họ chứng tỏ sự có mặt của mình, rằng họ vẫn nhớ đến trách nhiệm của mình bằng cách gửi đến đám tang cha hai cỗ xe tang. Nh**ưng ý nghĩa thứ hai sâu sắc hơn đó chính là biểu t**ượng “hai chiếc xe có treo huy hiệu”. Cả cuộc đời lão Gô-ri-ô ư**ớc mơ gia đình lão đ*ược xã hội th*ượng l**ưu công nhận. Mọi cố gắng của lão là được bư*ớc vào xã hội th*ượng l*ưu đã có kết quả. Cái lão muốn là danh hiệu quý tộc và lão đã có. Như*ng để có đ*ược sự xuất hiện của hai chiếc xe treo huy hiệu quý tộc trong đám tang, lão không chỉ mất chính cuộc đời mình mà mất luôn cả hai cô con gái. Cố gắng của cuộc đời lão đã đư*ợc trả lại bằng hai chiếc xe không ng**ười ngồi trong đám tang. Khi có đ*ược cái danh của xã hội thư**ợng lưu thì lão mất tình cha con. Biểu tượng hai chiếc xe gắn huy hiệu ấy đã phản ánh một thực tế phũ phàng, mọi danh vọng chỉ là một khối khô cứng vô tri vô giác nh**ưng lại có sức huỷ hoại rất ghê gớm. Còn một chi tiết nghệ thuật, một nhân vật quan trọng xuất hiện trong đám tang, tham dự đám tang với mục đích hoàn toàn khác những nhân vật kia chính là chàng sinh viên Ra-xti-nhắc. Đó là chàng sinh viên nghèo, vẫn còn lòng nhân hậu. Chàng lo cho đám tang với tấm lòng của một con ng**ười. Đây là một nhân vật tốt rất hiếm hoi trong tác phẩm của Ban-dắc. Thế như**ng lòng tốt của anh cũng không thể tồn tại lâu trong xã hội ấy. Khi mang lão Gô-ri-ô đi chôn cũng là lúc Ra-xti-nhắc chôn vùi đi những tình cảm đẹp đẽ nhất trong anh. Câu chuyện về đám tang không chỉ đư**ợc tác giả mô tả theo sự phát triển của sự kiện mà còn đ**ược tác giả miêu tả theo diễn biến tâm trạng Ra-xti-nhắc. Lúc này Ra-xti-nhắc vẫn là một người tốt, chàng là ng**ười duy nhất trong đám tang còn có cảm xúc. Chứng kiến đám tang và thái độ của hai gã đào huyệt “đã gây cho Ratinhắc một cơn bão lòng ghê gớm”. Không gian và thời gian đám tang đã kích thích thần kinh để chàng có thể vùi xuống ngôi mộ “giọt n*ước mắt cuối cùng của ng*ời trai trẻ…vút lên đến tận trời cao”, như** là lời tạm biệt phẩm chất Ngư**ời cuối cùng trước khi anh tiếp tục lao mình vào chốn thượng lưu. Câu văn là lời ngợi ca của tác giả đối với cảm xúc rất nhân văn của Ra-xti-nhắc, đồng th*ời lại xác nhận một sự thật phũ phàng rằng tấm thảm kịch của lão Gô-ri-ô không đủ sức làm cho Ra-xti-nhắc sợ hãi xã hội thư**ợng l**ưu. ánh hào quang của cuộc sống xa hoa vẫn rất hấp dẫn Ra-xti-nhắc. Và đứng tr*ước nghĩa địa, hướng về Pa-ri hoa lệ chàng vẫn sẵn sàng thách thức và quyết tâm sẽ bư*ớc vào xã hội ấy. Ra-xti-nhắc là một nhân vật đ**ược trở đi trở lại rất nhiều lần trong bộ Tấn trò đời và toàn bộ cuộc đời anh ta là quá trình tha hoá của nhân tính. Trong Lão Gô-ri-ô anh ta vẫn là một thanh niên tử tế bởi anh vừa mới ở tỉnh lẻ lên Pa-ri, mới chỉ bắt đầu tiếp xúc với xã hội thư*ợng l**ưu. Đến các tác phẩm sau, Ra-xti-nhắc đã hoàn toàn khác, anh đã trở thành sản phẩm chính hiệu của xã hội thượng l**ưu ấy và bằng mọi cách, mọi mánh khoé anh đã trở lên đến đỉnh cao của danh vọng. Ra-xti-nhắc chính là bóng dáng, là khát vọng của chính Ban-dắc thời trai trẻ. Chi tiết kết thúc đoạn trích và cũng là kết thúc tác phẩm đã mở ra một quá trình tha hoá mới. Một con người, một số phận vừa bị xã hội thượng lưu huỷ hoại không đủ sức dập tắt tham vọng của kẻ khác và một cuộc huỷ diệt nhân tính mới lại bắt đầu. Với cái nhìn của một nhà văn hiện thực mang tư** t**ưởng duy vật, Ban-dắc đã phát hiện ra quy luật nghiệt ngã của xã hội đồng tiền. Bằng một cái nhìn biện chứng về mối quan hệ giữa con ngư*ời và hoàn cảnh, nhà văn đã phát hiện và mô tỉ tỉ mỉ quá trình tha hoá của con ngư*ời. Con ngư**ời là sản phẩm của hoàn cảnh điển hình chính là nguyên tắc sáng tạo của chủ nghĩa hiện thực. Kết cục bi thảm của số phận lão Gô-ri-ô là một tất yếu cho lối sống, quan điểm sống và tham vọng của lão. Và Ra-xti-nhắc cũng là một sản phẩm tất yếu của xã hội ấy. Là một nghệ sĩ, một ngư**ời lao động nghệ thuật dám đánh đổi cả cuộc đời mình cho nghệ thuật, Ban-dắc đem đến cho xã hội, nhất là thể loại tiểu thuyết một sự cách tân táo bạo. Nhà văn giống nh**ư là nhà sử học phải ghi lại tất cả những gì xảy ra trong hiện thực, không thiếu một con người nào, một lĩnh vực nào trong đời sống dù nó nghiệt ngã đến đâu. Theo ông, nhà văn là ng**ười tìm hiểu, cắt nghĩa và giải thích hiện thực một cách chân thực, khách quan và không thiên vị. Phải nói rằng, những đau đớn nặng nề của cuộc sống đầy tham vọng giáng vào Ban-dắc đã tạo nên ở ông một quan điểm sáng tạo, một cái nhìn tinh nhạy sắc sảo nh**ưng cũng thật nghiệt ngã với cuộc sống. Tấn trò đời là bức tranh đen tối về xã hội Pháp đầu thế kỉ XIX và Lão Gô-ri-ô là bức tranh ảm đạm nhất. Có lẽ chính tài năng, phong cách và quan điểm nghệ thuật của Hô-nô-rê đơ Ban-dắc đã là một trong những nhân tố quan trọng để văn học Việt Nam có đư*ợc những tên tuổi như* Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan và Nam Cao. Đoạn trích Đám tang lão Gô-ri-ô đã phản ánh một phần bộ mặt XH kim tiền nước Pháp giai đoan giai cấp tư sản đang lên ngôi. Qua đám tang lão Gô-ri-ô, nhà văn cất tiếng nói phê phán và cảnh báo hiện suy đồi đạo đức trong XH thượng lưu đương thời Đoạn trích mang bút pháp hiện thực sức sảo, ngòi bút khám phá hiện thực chân thực, chính xác Cách kể chuyện linh họat, hấp dẫn người đọc Giọng điệu biến đổi theo cốt truyện, đơn giản nhưng hiệu quả Ngôn từ chính xác, hợp lý, sắc sảo, sử dụng các chi tiết nghệ thuật mang lại hiệu qủa cao./.
Xem thêm

4 Đọc thêm

BG THỂ CHẤT TÍN CHỈ 1

BG THỂ CHẤT TÍN CHỈ 1

PHẦN 1. KIẾN THỨC CHUNG

1. Mục đích, nhiệm vụ, những nguyên tắc và quan điểm chung trong phát triển TDTT ở nước ta:
1.1. Mục đích chung của nền thể dục thể thao nước ta.
Mục đích của giáo dục thể chất Việt Nam
Mục đích đó là tăng cường thể chất cho nhân dân, nâng cao trình độ thể thao, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa và giáo dục con người để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
TDTT trước hết liên quan chặt chẽ với sự nghiệp đào tạo cho đất nư¬ớc những con người phát triển toàn diện hợp lý. Tư¬ t¬ưởng phát triển con ngư¬ời toàn diện đã có từ lâu đời đư¬ợc thể hiện qua những nhà tư¬ tư¬ởng triết học thời cổ đại, những nhà nhân văn thời Phục hư¬ng, những nhà giáo dục và dân chủ ở thế kỷ tr¬ước. Máclênin cho rằng ngay trong bản chất của lao động, cơ sở lịch sử xã hội để con ng¬ười phát triển và tồn tại, đã bao hàm tính tất yếu của giáo dục, trong đó có giáo dục thể chất.
Sự kết hợp trí dục và thể dục với lao động sản xuất “không chỉ là một trong nhữ¬ng phư¬ơng tiện để nâng cao sản xuất xã hội mà còn là phư¬ơng thức duy nhất để đào tạo ra những con ng¬ười phát triển toàn diện” (Mác và Anghen tuyền tập, tập 28 tr.495, tiếng Nga). Hai ông còn xác định rõ hai chức năng thực dụng của TDTT trong xã hội: Đào tạo con ngư¬ời cho lao động và quốc phòng. Theo Ănghen, sự phát triển của kỹ thuật quân sự hiện đại không hề làm hạ thấp mà còn nâng cao yêu cầu về giáo dục thể chất để đảm bảo tiếp thu và hình thành đ¬ược nhanh nh¬ững phẩm chất cần thiết cho một quân nhân, rút ngắn thời gian đào tạo trong quân ngũ. Khi phê phán và yêu cầu Nhà n¬ước phải có thái độ nghiêm túc với vấn đề giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ, ông đã nêu lên một tình trạng thật vô lý: Một điều phải chăng không đáng suy nghĩ là lúc đầu cứ cho phép con ngư¬ời bị tàn tật do không quan tâm đến giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ (NV) đề rồi sau này khi phục vụ trong quân đội lại cố gắng làm cho họ trở nên cân đối và linh hoạt. Phải chăng những ngư¬ời có trách nhiệm không đủ sức hiểu một chân lý là ng¬ười lính sẽ tốt hơn gấp đôi nếu việc làm tàn tật nói trên đ¬ược ngăn chặn đúng lúc trong các trường tiểu học và trung học (Mác và ănghen tuyển tập, tập 22, tr 396 397, tiếng Nga).
Lênin đã coi việc xây dựng nền văn hoá và hệ thống giáo dục mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của đất n¬ước để đảm bảo sự phồn vinh đầy đủ và phát triển tự do, toàn diện mọi thành viên trong xã hội (Lênin toàn tập, tập 6, tr.232, tiếng Nga).
Ngay từ những ngày đầu Cách mạng Tháng tám thành công, Bác Hồ của chúng ta đã nêu rõ tầm quan trọng của TDTT đối với việc giữ gìn dân chủ, xây d¬ựng nước nhà, gây đời sống mới, coi đó là một trong những công tác cách mạng. Bản thân Ng¬ười đã nêu gương tự tôi ngày nào cũng tập, tập đa dạng, thích hợp với điều kiện sống và công tác trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của mình.
Những tư¬ tư¬ởng trên về sau còn đ¬ược nhiều nhà cách mạng, khoa học tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và phát triển qua các thời kỳ lịch sử ở nư¬ớc ta; đ¬ược thể hiện tập trung qua các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nư¬ớc có liên quan đến công tác này. Hiện nay, mục đích cao cả và bao trùm của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, quốc phòng, an ninh, giáo dục, khoa học công nghệ, đối ngoại, văn hoá (trong đó có TDTT)... là góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và bảo vệ Tổ quốc trong bư¬ớc đi ban đầu theo mục đích và chức năng cụ thể của mình. Với TDTT, tác dụng và mục đích chính là tăng cư¬ờng thể chất cho nhân dân.
Xem thêm

47 Đọc thêm

Soạn bài: Chiếc lược ngà

SOẠN BÀI: CHIẾC LƯỢC NGÀ

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài CHIẾC LƯỢC NGÀ Nguyễn Quang Sáng   I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công khi xây dựng đ­ược một cốt truyện đầy tính bất ngờ, có sức cuốn hút ng­ười đọc. Tình huống không chịu nhận ba của bé Thu là bất ngờ đầu tiên. Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi đứa con duy nhất của anh ch­a đầy một tuổi. Từ đó hai ba con ch­ưa hề gặp lại nhau, cho đến khi kháng chiến kết thúc, anh trở về, đứa con gái tám tuổi không chịu nhận ba. Trong ba ngày ở nhà, bằng đủ mọi cách mà con bé vẫn không chịu gọi lấy một tiếng ba. Đến lúc phải ra đi nhận nhiệm vụ mới, bé Thu mới gọi anh bằng ba. Thật bất ngờ. Thì ra, nó không chịu nhận ba là vì vết thẹo trên má đã khiến anh không còn giống như­ trong bức ảnh chụp ngày c­ới. Con bé chỉ gọi ba khi bà ngoại giải thích cho nó rõ điều này. Giây phút anh nghe đư­ợc tiếng gọi mà anh chờ đợi đã bao năm ấy cũng là lúc cha con xa nhau. Anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây l­ược. Những ngày chiến đấu trong rừng, anh Sáu cặm cụi làm chiếc l­ược bằng ngà cho con gái. Chiếc l­ược đã làm xong như­ng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh. 2. Những sự việc chính của câu chuyện trong đoạn trích là như vậy. Nhưng độ căng và tính bất ngờ của nó chỉ đư­ợc đẩy lên đỉnh điểm khi trong từng sự việc tác giả đã miêu tả những diễn biến tâm lí của nhân vật một cách tinh tế, sinh động. Tình cha con sâu nặng bộc lộ trong những tình huống éo le, ngặt nghèo của bom đạn chiến tranh. Bản thân cốt truyện của đoạn trích Chiếc l­ược ngà đã có giá trị tố cáo tội ác chiến tranh đối với cuộc sống con người. Cha con tám năm trời không gặp nhau là do chiến tranh. Vết thẹo làm biến dạng khuôn mặt anh Sáu, khiến con bé không nhận ra ba là do chiến tranh. Và thật đau xót, ng­ời cha ch­ưa kịp trao cho đứa con hết mực yêu thương của mình kỉ vật như­ lời hứa thì chiến tranh đã c­ướp đi sinh mạng anh. Tuy nhiên, cái mà tác giả tập trung thể hiện là những con ngư­ời, là nhân vật. 3. Tác giả đã chứng tỏ tài năng của mình trong việc xây dựng nhân vật một bé gái tám tuổi bư­ớng bỉnh và gan góc. Trong tâm hồn trẻ thơ của bé Thu, chỉ có duy nhất hình ảnh một ngư­ời ba mà nó biết qua bức ảnh chụp với má ngày c­ưới. Nó nhất quyết không chịu nhận ba, không gọi ba vì thấy ba nó trong bức ảnh không hề có vết thẹo trên má còn ngư­ời cứ gọi nó là con, bắt nó gọi bằng ba bây giờ lại có vết thẹo dài trên má. Nguyễn Quang Sáng đã tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ. Chi tiết gọi "trổng" và chi tiết chắt n­ước cơm đã khắc hoạ nổi bật sự đáo để hồn nhiên của bé Thu. Đặc biệt là chi tiết bé Thu hất đổ cả chén cơm khi anh Sáu gắp cho nó cái trứng cá. Bị ba đánh, t­ưởng đâu "con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nh­ưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bư­ớc ra khỏi mâm.". Đành rằng trẻ con chỉ tin vào những gì chúng thấy, đành rằng bé Thu không thể biết được sự ác nghiệt của bom đạn là thế nào, và nó có cách suy nghĩ theo kiểu trẻ con của nó, như­ng phải thừa nhận rằng cô bé này có một cá tính mạnh mẽ. Sự bư­ớng bỉnh, gan góc đến kì lạ của bé Thu sau này trở thành lòng dũng cảm, sự lanh lợi của cô giao liên Thu. Nhưng lẽ nào ở bé Thu chỉ là sự bư­ớng bỉnh, gan góc đến đáo để? Không hề giản đơn như­ vậy, trong buổi sáng cha nó lên đường: "Con bé như bị bỏ rơi, lúc đứng vào góc nhà, lúc đứng tựa cửa và cứ nhìn mọi ng­ời đang vây quanh ba nó. Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không b­ướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương. Với đôi mi dài uốn cong, và nhưhông bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa."  Cho đến khi nghe tiếng kêu thét lên: "- Ba.. a... a...ba!" thì mọi ng­ười mới vỡ lẽ ra rằng nó thèm được gọi ba nh­ thế nào, "Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng "ba" mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng "ba" như­ vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh nh­ một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó.". Bé Thu là đứa trẻ giàu tình cảm. Thái độ của bé Thu với ba trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi. Song, trái ngược mà vẫn nhất quán. Vì quá yêu ba, quá khao khát đ­ợc có ba nên khi nhận định không phải ba nó thì nó nhất định không chịu nhận, nhất định không gọi "ba" lấy một tiếng. Cho nên, khi tiếng gọi như­ xé kia cất lên ta thấy nó thiêng liêng vô cùng. Tiếng gọi ấy càng trở nên thiêng liêng, quý giá bởi đón chờ nó là cả tấm lòng cao đẹp, th­ơng yêu con vô hạn của ngư­ời cha. 4. Người đọc sẽ nhớ mãi hình ảnh một người cha, ng­ời cán bộ cách mạng xúc động dang hai tay chờ đón đứa con gái bé bỏng duy nhất của mình ùa vào lòng sau tám năm xa cách. Mong mỏi ngày trở về, nóng lòng đ­ược nhìn thấy con, đ­ược nghe tiếng gọi "ba" thân thư­ơng từ con, anh Sáu thực sự bị rơi vào sự hụt hẫng: "anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng th­ương và hai tay buông xuống nh­ư bị gãy". Mong mỏi bao nhiêu thì đau đớn bấy nhiêu. Anh cũng không ngờ rằng chính bom đạn chiến tranh vừa là nguyên nhân gián tiếp, vừa là nguyên nhân trực tiếp của nỗi đau đớn ấy. Tám năm xa vợ xa con, ở nhà đ­ợc ba ngày rồi lại lên đường, và ra đi mãi... Ba ngày anh đư­ợc ở nhà anh chẳng đi đâu xa, để đư­ợc gần gũi, vỗ về bù đắp những ngày xa con. Lòng người cha ấy đau đớn biết như­ờng nào khi đứa con là máu mủ của mình gọi mình bằng "ng­ười ta": "Anh quay lại nhìn con vừa khe khẽ lắc đầu vừa cư­ời. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc đ­ược, nên anh phải c­ười vậy thôi.". Cử chỉ gắp từng miếng trứng cá cho con cho thấy anh Sáu là ng­ời sống tình cảm, sẵn sàng dành cho con tất cả những gì tốt đẹp nhất. Và chao ôi là hình ảnh hai đôi mắt của hai cha con trong thời khắc chia xa: "Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao". Ngư­ời cha ấy sẽ ra đi khi chư­a đ­ược gọi bằng "ba" lấy một lần. Đến tận giây phút cuối cùng, khi không còn thời gian để chăm sóc vỗ về nữa, anh mới thực sự đ­ược làm cha. Đó là sự thiệt thòi, là sự hi sinh không thể xem là nhỏ của ng­ời chiến sĩ cách mạng. Dầu sau này anh Sáu có hi sinh cả tính mạng của mình. 5. Câu chuyện đ­ược kể từ ngôi thứ nhất, ng­ười kể chuyện x­ưng "tôi" có mặt và chứng kiến toàn bộ câu chuyện giữa cha con anh Sáu. Đoạn trích bắt đầu với hình ảnh chiếc lược ngà, khép lại cũng với hình ảnh chiếc l­ược ngà. Ngư­ời kể chuyện kể lại câu chuyện cảm động đã xảy ra, khi anh còn ch­ưa thực hiện đ­ợc ý nguyện cuối cùng của anh Sáu trư­ớc lúc hi sinh: trao lại tận tay con gái kỉ vật của ng­ười cha. Ngư­ời cha ấy đã vui mừng "hớn hở như­ trẻ được quà" khi kiếm đ­ược khúc ngà để làm l­ược tặng con gái như­ lời hứa lúc ra đi. Anh "cưa từng chiếc răng l­ược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như­ người thợ bạc.[...] anh gò lư­ng, tẩn mẩn khắc từng nét: "Yêu nhớ tặng Thu con của ba"". Nơi rừng sâu, tất cả nỗi nhớ, tình thương yêu con của anh dồn cả vào công việc ấy, chiếc l­ược ấy. Ng­ười cha nâng niu chiếc lược ngà, ngắm nghía nó, mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm m­ượt, "Cây l­ược ngà ấy ch­ưa chải đ­ược mái tóc của con, nh­ưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh". Chiếc l­ược ngà như là biểu tượng của tình thư­ơng yêu, săn sóc của ng­ười cha dành cho con gái, cho dù đến khi không còn nữa anh chư­a một lần đư­ợc chải tóc cho con. Ngư­ời kể chuyện, đồng đội của ông Sáu đã bộc lộ một sự đồng cảm và xúc động thực sự khi kể lại câu chuyện. Có lẽ, không ai hiểu nhau hơn những ngư­ời đồng đội, gần nhau hơn những ng­ười đồng đội. Cho nên, sau này, khi trao tận tay Thu chiếc l­ược, giữa thu và người đồng đội của cha mình nảy nở một tình cảm giống như­ tình cha con. 6. Đoạn trích Chiếc lư­ợc ngà đã đạt đư­ợc giá trị sâu sắc cả về nội dung và hình thức biểu đạt. Hình tượng chiếc l­ợc ngà và câu chuyện giữa hai cha con ngư­ời cán bộ cách mạng sẽ còn gây được xúc động lâu bền trong lòng ng­ười đọc. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Đọc bài văn, chú ý giọng đối thoại, việc lựa chọn nhân vật kể thích hợp: người kể chuyện trong vai một ngời bạn thân thiết của ông Sáu, không chỉ là người chứng kiến khách quan và kể lại mà còn bày tỏ sự đồng cảm, chia se với các nhân vật;  cảm nhận được tình cha con sâu nặng trong hoàn cảnh éo le thông qua nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, nghệ thuật xây dựng tình huống truyện bất ngờ mà tự nhiên của tác giả.
Xem thêm

3 Đọc thêm

PHONG CÁCH LÀM V ƯỜN C ỦA NG ƯỜI NH ẬTB ẢN

PHONG CÁCH LÀM V ƯỜN C ỦA NG ƯỜI NH ẬTB ẢN

Phong cách làm v ườn c ủa ng ười Nh ậtB ảnĐể t ạo nên không gian v ườn t ược theo đú ng phong cách Nh ật B ản th ật không d ễchút nào, đặc bi ệtcòn có s ựkhác nhau gi ữa đi ều ki ện khí h ậu và thiên nhiên. D ưới đâ y là m ột s ốg ợi ý v ềcác ki ểuv ườn phù h ợp v ới đi ều ki ện t ựnhiên và địa hình t ại n ước ta.Thứ nhất là khu vườn đá: chủ yếu sử dụng cát, không cần tới nước tượng trưng cho núi và sôngngòi. Cát sỏi cào vào một mô hình cụ thể mô phỏng dòng sông, trong khi đá đặt trên cát tượngtrưng cho núi. Khu vườn đá tạo cảm giác hòa hợp với thiên nhiên.Thứ hai là khu vườn rêu: Rêu phát triển mạnh trong môi trường tự nhiên ẩm nh ưng không cầnnhiều mưa để phát triển. Vì thế, rêu là loại cây quen thuộc có thể thấy ở bất cứ khu sinh thái nào.Khung cảnh tại đây mang lại cảm giác mềm mại, thanh bình, giúp xua tan nh ững căng thẳng trongcuộc sống.Ph ản ánh v ăn hóa ng ười Nh ậtVới mỗi kiểu thiết kế thì mỗi khu vườn lại mang những hình dáng và ý nghĩa khác nhau. Nhưng nhìnchung, đều phản ánh và mang đậm lối sống văn hóa và kiến trúc của người Nhật. Có khá nhiều yếutố khách quan ảnh hưởng khu vườn thiết kế theo lối Nhật Bản trong th ời gian qua. Tuy nhiên màuxanh lá cây đơn sắc luôn được ưa chuộng và sử dụng như một bảng màu chính. Gia chủ có th ểtrồng những loại hoa phong phú về màu sắc, nhưng chỉ để đan xen với những luống cây, làm b ớt đisự tẻ nhạt của khu vườn.Đơn gi ản và nh ỏ nh ắnVì mục đích chính là mang lại sự thoải mái, an lạc nên giản dị là yếu tố đầu tiên bạn cần đặc biệt
Xem thêm

4 Đọc thêm

GIÁO TRÌNH KỸ NĂNG MỀM 2

GIÁO TRÌNH KỸ NĂNG MỀM 2

Các thành viên trong nhóm thường phải có vai trò nhất định, được phân cônghoặc nhận những nhiệm vụ cụ thể. Nhóm chính thức có trưởng phó nhóm, th ư ký,hậu cần… Nhóm không chính thức cũng có thể có các vai trò đó.Trưởng nhóm giữ vai trò người tổ chức, người thực hiện và người điều hành.Trưởng nhóm phải chịu trách nhiệm bố trí các cuộc họp từ buổi gặp m ặt đầu tiênđến khi nhóm tan rã. Việc tổ chức cuộc họp bàn kế hoạch sao cho có s ự tham giabình đẳng giữa các thành viên là kỹ năng cần có của tr ưởng nhóm. Lập k ế ho ạch vàphân công công việc cho các thành viên cũng là nghệ thu ật của trưởng nhóm. T ấtcả các giai đoạn hoạt động của nhóm, người nhóm trưởng phải nắm vững và đi ềuhành cho tốt. Nhưng quan trọng nhất là trưởng nhóm phải là ng ười có các kỹ năngtruyền thông và thúc đẩy và càng có nhiều trải nghi ệm càng t ốt. Các kỹ năng nàyđược xây dựng dựa trên nền tảng của 4 thái độ: cảm thông, tôn tr ọng, quan tâm vàtin tưởng vào tiềm năng nhóm. Tóm lại trưởng nhóm phải là người có trách nhi ệmvới công việc của nhóm, với từng thành viên của nhóm và với cả nhóm nói chung.Ngoài ra khi đề cập đến vai trò thành viên còn l ại trong nhóm người tathường phân các thành viên thành các “ki ểu vai trò” h ỗ tr ợ hay c ản tr ở các ho ạtđộng của nhóm. Có ba loại vai trò như vậy.Loại thứ nhất: là các thành viên hỗ trợ cho viêc hoàn thành công vi ệc nhưngười khởi xướng, người làm sáng tỏ, người thực hiện, người thông tin, người đónggóp.Loại thứ hai: là các thành viên củng cố nhóm như người khuyến khích,người giữ cửa, người quan sát, người đề xuất và củng cố quy tắc, người đùa vui.17NHÓM KNM – KHOA MÁY TÀU THỦY17Kĩ năng mềm 2
Xem thêm

Đọc thêm

YEU QUY ME VA CO GIAO (2)

YEU QUY ME VA CO GIAO (2)

LÞch sö nhµy 8 – 3 b¾t ®Çu tõ phong trµo ®Êu tranh ®ßi quyÒn sèng cña n÷ c«ng nh©n ë Mü. Ngµy 831899 t¹i hai thµnh phè Chicago vµ NewYork( cña n­íc Mü) ®• næ ra cuéc ®Êu tranh m¹nh mÏ cña n÷ c«ng d©n ngµnh dÖt may, ®ßi t¨ng l­¬ng, gi¶m giê lµm.. MÆc dï bÞ th¼ng tay ®µn ¸p nh­ng chi em vÉn ®oµn kÕt buéc bän chñ t­ s¶n ph¶i nh­îng bé. ®Õn th¸ng 21909 n­íc Mü ®• tæ chøc „Ngµy phô n÷” mÝt tinh biÓu t×nh ®ßi quyÒn b×nh ®¼ng cho phô n÷. Ngµy 26,2781910 ®¹i héi lÇn thø 2 cña nh÷ng ng­êi phô n÷ thÕ giíi ®• quyÕt ®Þnh lÊy ngµy 83 lµm ngµy quèc tÕ phô n÷ víi môc ®Ých ®Êu tranh ®ßi c¸c quyÒn lîi cña phô n÷ vµ trÎ em.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Bi kịch của người phụ nữ trong văn học trung đại

BI KỊCH CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

Bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ qua một số tác phẩm văn học trung đại đã học: Đọc Tiểu Thanh ký (Nguyễn Du), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều). Bài làm: Khi nói về số phận nàng Kiều, Nguyễn Du đau xót viết rằng: Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung Tư­ t­ưởng có vẻ thật bi quan, nh­ưng thực tế là nh­ư vậy. D­ưới chế độ phong kiến, ngư­ời phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi, họ là nạn nhân của một số t­ư tưởng phong kiến. T­ư t­ưởng “trọng nam khinh nữ”  là nguyên nhân sâu xa dẫn đến những bi kịch số phận của phụ nữ. Nưg­ời phụ nữ không đ­ược quyền quyết định số phận mình, không được học hành, họ phải chấp nhận sống phụ thuộc.  Cảm thông và thấu hiểu nỗi đau đớn của thân phận đàn bà trong xã hội cũ, các thi nhân xư­a đã ghi lại những bi kịch ấy qua số phận của một số ng­ười phụ nữ trong xã hội phong kiến xư­a. Mỗi con nưg­ời một nỗi đau riêng nh­ưng nỗi đau chung nhất vẫn là những bất hạnh trong cuộc sống tình duyên.  Phụ nữ vốn là những ng­ười nhạy cảm. Chỉ riêng điều ấy thôi cũng đủ để họ phải chịu nhiều bất hạnh hơn đàn ông. Mềm yếu, đa sầu, đa cảm và cả đa đoan đã khiến ngư­ời phụ nữ luôn rất nhạy cảm với những bất hạnh của mình dù họ sống trong xã hội nào. Trong xã hội cũ, khi ng­ười đàn ông có quyền đ­ược lấy “năm thê bảy thiếp”, thì những bất hạnh mà ngư­ời phụ nữ phải ghánh chịu lại càng lớn hơn. Ng­ười phụ nữ phải sống trong cảnh “Chồng chung đâu dễ ai như­ờng cho ai”, họ phải chịu những nỗi niềm cay đắng xót xa. Những khao khát hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn luôn day dứt họ. Nữ sĩ Hồ Xuân H­ơng – ng­ười phụ nữ đầy bản lĩnh – đã phải thốt lên đầy uất ức khi phải sống trong nỗi tủi hờn ấy: “Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cho cái kiếp lấy chồng chung” Cũng cảnh lấy chồng chung, cơn ghen tuông quý tộc của Hoạn Th­ư đã đẩy Thuý Kiều – Thúc Sinh vào cảnh ngộ éo le: Cùng trong một tiếng tơ đồng Ng­ười ngoài c­ười nụ, ngư­ời trong khóc thầm Nàng Tiểu Thanh trong Độc Tiểu  thanh kí của Nguyễn Du và ng­ười cung nữ trong Cung oán ngâm  cũng chịu chung nỗi đau nh­ư thế. Nh­ưng tấm bi kịch của họ xót xa hơn nhiều. Nàng Tiểu Thanh tài sắc vẹn toàn lại đa sầu đa cảm phải lấy lẽ ng­ười đàn ông họ Phùng, nàng bị ng­ười vợ cả của chồng hành hạ đến phải chết trong cảnh cô đơn. Còn những ng­ời cung nữ vốn là những trang quốc sắc thiên hư­ơng thì phải sống mỏi mòn trong cảnh cô đơn buồn tủi vì bị vua chúa bỏ quên giữa chốn thâm cung.  Họ đều là nạn nhân của chế độ đa thê. May mắn hơn nàng Tiểu Thanh và ng­ười cung nữ, ng­ười chinh phụ được sống những năm tháng hạnh phúc lứa đôi mặn nồng. Như­ng bi kịch của nàng lại bắt đầu từ chiến tranh. Nàng tiễn chồng ra đi với mong  muốn chồng lập công để lấy ấn phong hầu. Ng­ười chinh phụ phải chờ chồng trong cảnh cô đơn. Phong hầu đâu ch­ưa thấy, nàng  phải chờ đợi mỏi mòn trong cô độc, lặng lẽ nhìn tuổi xuân của mình trôi đi trong vô vọng. Niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi và sự cô đơn đã khiến ng­ười chinh phụ nhân ra rằng ấn phong hầu, công danh là phù phiếm và vô nghĩa. Trong cảnh cô đơn, ng­ười chinh phụ trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn cũng có tâm trạng giống như­ ng­ười chinh phụ trong Khuê oán  của ]Vương X­ương Linh: “Hốt kiến mạch đầu dư­ơng liễu sắc Hối giao phu tế mịch phong hầu” (Chợt thấy màu dư­ơng liễu đầu đ­ường Hối hận đã để chồng đi tòng quân để tìm kiếm ấn phong hầu) Tấn bi kịch chung nhất của nàng Tiểu Thanh, ng­ười cung nữ và ng­ười chinh phụ cũng chính là bi kịch của đa số phụ nữ trong xã hội cũ. Đó là tấn bi kịch hạnh phúc lứa đôi không trọn vẹn. Khi ng­ười phụ nữ không đ­ược quyền quyết định hạnh phúc của mình thì họ không thể có đ­ược hạnh phúc, nếu có thì cũng rất mong manh. Hạnh phúc của ngư­ời phụ nữ trong xã hội cũ phụ thuộc vào sự may mắn mà thôi: Thân em nh­ư hạt m­ưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày Bi kịch của nàng Tiểu Thanh là tấn bi kịch của phận lẽ mọn. Trong chế độ đa thê, ng­ời vợ cả có quyền hành hơn cả, nếu ng­ười chồng nhu nh­ược, thì quyền sinh quyền sát sẽ thuộc về bà cả hoặc một ngư­ời đàn bà ghê gớm nhất trong số các bà vợ. Và những ng­ười vợ khác chỉ còn biết sống trong đắn cay tủi hờn. Nàng Tiểu Thanh tài sắc như­ thế như­ng đã chết yểu bởi sự hành hạ trong ghen tuông của ngư­ời vợ cả. Bi kịch thảm th­ương của nàng đã khiến bao ng­ười phải rơi n­ước mắt cùng Tố Như­: Chi phấn hữu thần liên tử hậu Văn ch­ương vô mệnh luỵ phần dư­ Những ngư­ời phụ nữ như­ Tiểu Thanh thư­ờng nhạy cảm, đa sầu. Chồng chung đã khổ lại còn bị hành hạ thì còn có bi kịch nào đau đớn hơn. Và kể cả khi đã chết đi, những tâm sự tủi hờn gửi gắm trong những trang thơ văn cũng bị hành hạ, bị đốt bỏ. Bi kịch của Tiểu Thanh là tấn bi kịch chung của nhiều người phụ nữ trong xã hội cũ. Họ không đ­ược h­ởng trọn hạnh phúc lứa đôi mà còn phải sống trong cô đơn ê chề nhục nhã.   Bi  kịch của ngư­ời cung nữ chốn thâm cung cũng vậy. Phải có tuổi trẻ, có nhan sắc họ mới đ­ược tuyển vào cung để hầu hạ nhà vua. Vào chốn thâm cung, hàng ngàn cung tần mỹ nữ chỉ có duy nhất một ng­ười để ngóng trông, đó là nhà vua. Họ phải sống trong hi vọng, trong mỏi mòn chờ đợi. Nh­ưng tất cả đều rất mong manh. Có những ng­ười cung nữ cả đời bị chôn vùi trong chốn thâm cung, cả cuộc đời không một lần đ­ược nhìn thấy mặt vua. Khi tóc đã ngả màu hoặc khi đư­ợc về quê họ vẫn là một cô gái.  Có ng­ười may mắn đ­ược một đôi lần nhà vua ngó ngàng tới thì cũng chẳng hơn gì. Sau đó lại là chuỗi ngày sống trong đau khổ, trong mỏi mòn chờ đợi, để rồi bị những nỗi khao khát hạnh phúc vò xé cõi lòng. Sống cuộc đời cung nữ, không chỉ cô đơn, tủi hờn mà họ còn phải tranh giành nhau bằng tiền, bằng thế lực và bằng thủ đoạn để có thể đ­ược gần vua. Khi bị thất sủng, trong chốn thâm cung, họ chỉ còn biết sống trong vô vọng, sống trong cô độc, buồn tủi. Thật chua xót khi ng ười con gái trẻ tuổi tràn đầy sức sống  và khát vọng ngày nào nay đã trở  thành ng­ời phụ nữ cô độc, để rồi họ phải cất lên lời than đầy uất ức:  Đêm năm canh lần n­ương vách quế Cái buồn này ai để giết nhau Giết nhau chẳng cái l­ưu cầu Giết nhau bằng cái u sầu độc chư­a”  Bi kịch của ng­ười cung nữ đã chứng tỏ rằng chế độ cung tần là nơi thể hiện rõ nhất bản chất vô nhân đạo của chế độ phong kiến. Chế độ ấy đã c­ướp đi của ng­ười phụ nữ quyền đ­ược sống, đư­ợc h­ưởng hạnh phúc của một con ng­ười bình th­ường. Chốn thâm cung là nấm mồ chôn sống bao ng­ười con gái tài sắc. Đó cũng là bãi chiến địa của những ngư­ời đàn bà. Họ tranh giành, ghanh đua để có đ­ược một chút hạnh phúc, một chút quan tâm của ngư­ời chồng chung quyền quý. Ngư­ời cung nữ mỏi mòn trong cô độc vì phận cung nữ  chốn thâm cung còn ng­ười chinh phụ lại mỏi mòn trông đợi ng­ời chồng đi chiến trận. Mong chồng mang ấn phong hầu trở về để rạng danh dòng họ nhưng sự trông đợi của họ là vô vọng. Ngư­ời chinh phụ cô độc trong sự mỏi mòn. Niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi đã giày vò nàng. Bi kịch của nàg chính là nỗi cô đơn. Ngư­ời  chinh phu ra đi không hẹn ngày trở lại. Những cuộc chiến tranh phong kiến đã cư­ớp đi của nàng hạnh phúc và tuổi trẻ. Mỗi ng­ười phụ nữ một số phận khác nhau những họ đều rơi vào bi kịch. Bi kịch chung nhất của họ là hạnh phúc lứa đôi bị dang dở. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự dang dở ấy chính là tính chất phi nhân đạo của chế độ phong kiến. Đó là chế độ năm thê bảy thiếp, là chiến tranh phi nghĩa, là mộng công hầu. Các thi nhân x­ưa với niềm cảm thông sâu sắc của mình đã cất lên tiếng nói  đòi quyền sống, quyền đư­ợc hạnh phúc cho những ngư­ời phụ nữ. Niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi là niềm khát khao chính đáng của ng­ười phụ nữ nói riêng và của con ngư­ời nói chung. HỒNG MAI
Xem thêm

2 Đọc thêm

Chủ nghĩa xã hội sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân tiểu luận cao học

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN TIỂU LUẬN CAO HỌC

A.MỞ ĐẦU

Trong thời đại xã hội nào, những ng¬ười lao động sản xuất trong các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp hay những ng¬ười công nhân đều có vai trò sáng tạo chân chính ra lịch sử và là những ng¬ười giữ vai trò quyết định sáng tạo công cụ sản xuất, gía trị thặng dư¬ và chính trị xã hội.
Từ vai trò to lớn của giai cấp công nhân, việc khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn.
Tr¬ước sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên xô, nhiều ng¬ười đã bộc lộ sự dao động và hoài nghi về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Bọn cơ hội xét lại và các thế lực chống cộng có cơ hội mới để phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản và chủ nghĩa xã hội.
Trong giai đoạn mới hiện nay, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra trên toàn thế giới, chủ nghĩa xã hội đang ở trong thời kỳ thoái trào, thời đại ngày nay vẫn đang là thời đại quá độ từ chủ nghĩa t¬ư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới còn đang có nhiều biến động, tiêu cực... thì vấn đề làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đ¬ược đặt ra trở nên bức thiết hơn bao giờ hết, cả trên hai phương diện: lý luận và thực tiễn.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một phạm trù cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội khoa học, do đó nó đã đ¬ược C.Mác Ph.Ăngghen và Lênin nghiên cứu và phát triển hết sức hoàn thiện trong trong quá trình phát triển của lịch sử thế giới. Xét trên ph¬ương diện lịch sử, những nhận định và lý luận của các ông về giai cấp công nhân có tác dụng to lớn và đúng đắn.Còn đối với n¬ước ta, vấn đề trên được Đảng ta rất chú trọng. Vì thế, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không chỉ thể hiện rõ trong các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc, mà đây còn là một trong những đề tài nghiên cứu khoa học của nhiều nhà lý luận, nhà nghiên cứu lịch sử, và của nhiều thế hệ công nhân, sinh viên.
Xem thêm

23 Đọc thêm

Giáo án Hoạt động ngoài giờ lên lớp 8. Năm 20162017

GIÁO ÁN HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 8. NĂM 20162017

Giáo án hoạt động ngoài giờ lên lớp 8, năm học 2016 2017 có 5 chủ đề, 18 tiết chia cho 2 tiết1 tháng. Giáo án có đầy đủ các nội dung tích hợp theo đúng quy định của BGDĐT. CHỦ ĐIỂM THÁNG 9:TRUYỀN THỐNG NHÀ TR¬ƯỜNG. Tiết 1: TRAO ĐỔI VỀ VỊ TRÍ, NHIỆM VỤ NG¬ƯỜI HỌC SINH LỚP 8.I. MỤC TIÊU BÀI HỌC:Giúp học sinh: Hiểu đ¬ược vị trí, nhiệm vụ quan trọng của mình trong năm học lớp 8 Tự giác quyết tâm cao trong học tập Biết giúp nhau thực hiện tốt nhiệm vụ năm học II. NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC HOẠT ĐỘNG:1. Nội dung: Xác định vị trí quan trọng của lớp 8 Những nhiệm vụ trong năm học Những biện pháp để thực hiện tốt nhiệm vụ năm học 2. Hình thức hoạt động: Trao đổi thảo luận giữa các nhóm học sinh trong tổ Trao đổi giữa các tổ trong lớp III. CHUẨN BỊ HOẠT ĐỘNG:1. Ph¬ương tiện hoạt động: Một số câu hỏi thảo luận Câu 1: Bạn có suy nghĩ gì khi mình là học sinh lớp 8. (vị trí,vai trò và trách nhiệm của ng¬ời học sinh lớp 8).Câu 2: Bạn thấy mình phải làm tốt những nhiệm vụ gì ở năm học này? vì sao?. Câu 3: Để làm tốt những nhiệm vụ đó, theo bạn phải có những biện pháp nào? (về chủ quan, khách quan) Giấy khổ to, bút dạ để ghi kết quả thảo luận, phiếu làm việc cá nhân Một vài tiết mục văn nghệ.2. Tổ chức: Giáo viên chủ nhiệm phổ biến nội dung, yêu cầu hoạt động và họp cán bộ lớp để phân công chuẩn bị các việc cụ thể sau: Thống nhất ch¬ương trình, hình thức và kế hoạch hoạt động. Phân công chuẩn bị các ph¬ương tiện . Phân công ng¬ười điều khiển ch¬ương trình và th¬ư ký Chuẩn bị một số tiết mục văn nghệ. Phân công trang trí lớp, kẻ tiêu đề, kê bàn ghế. Cử ngư¬ời mời đại biểu.IV.TIẾN HÀNH HOẠT ĐỘNG:1. Khởi động: Kiểm tra sĩ số: 8A2 : Hát tập thể.2. Thảo luận về vị trí nhiệm vụ năm học: + Ng¬ười điều khiển nêu câu hỏi 1 và 2. + Học sinh trao đổi, thảo luận theo tổ. Tổ tr¬ưởng (thư¬ ký tổ) ghi kết quả thảo luận. + Đại diện từng tổ trình bày kết quả thảo luận của mình. + Lớp góp ý bổ sung, phân tích, lựa chọn và thống nhất ý kiến về vị trí và nhiệm vụ năm học. + Ng¬ười điều khiển tổng kết thảo luận. 3. Làm việc cá nhân về biện pháp thực hiện nhiệm vụ năm học: + Ngư¬ời điều khiển phát phiếu cho từng học sinh và yêu cầu ghi các biện pháp thực hiện nhiệm vụ năm học . + Từng học sinh suy nghĩ và ghi vào phiếu. + Một số học sinh trình bày tr¬ước lớp (thư¬ ký ghi tóm tắt ) . + Cả lớp góp ý kiến, bổ sung, lựa chọn biện pháp tốt nhất . + Ng¬ười điều khiển tổng kết lại các biện pháp cơ bản để mỗi học sinh, tổ, lớp vận dụng . 4. Văn nghệ: + Cán bộ văn nghệ giới thiệu các tiết mục văn nghệ đã đ¬ược phân công chuẩn bị và mời lên biểu diễn. + Hoạt động này cũng có thể xen vào giữa hoạt động 2 và 3.V. KẾT THÚC HOẠT ĐỘNG: Giáo viên chủ nhiệm nêu khái quát vị trí, nhiệm vụ năm học và động viên học sinh thực hiện tốt nhiệm vụ năm học. Ng¬ười dẫn ch¬ương trình nhận xét tinh thần, ý thức tham gia của cả lớp, biểu dư¬ơng và rút kinh nghiệm. Ng¬ười dẫn ch¬ương trình mời đại biểu, GVCN lên phát biểu ý kiến. Ng¬ười dẫn ch¬ương trình cám ơn, chúc sức khoẻ các đại biểu, GVCN. Chúc tất cả các bạn học tập tốt, đạt kết quả cao trong năm học mới.
Xem thêm

38 Đọc thêm