CUỘC CÁCH MẠNG TRIẾT HỌC CỦA MÁC - ĂNGHEN VÀ Ý NGHĨA

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề "Cuộc cách mạng triết học của Mác - Ănghen và ý nghĩa":

THỰC CHẤT, Ý NGHĨA CUỘC CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT HỌC DO C MÁC VÀ PH ANGGHEN THỰC HIỆN TIỂU LUẬN CAO HỌC

THỰC CHẤT, Ý NGHĨA CUỘC CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT HỌC DO C MÁC VÀ PH ANGGHEN THỰC HIỆN TIỂU LUẬN CAO HỌC

I. Lý do chọn đề tài
Triết học là môn khoa học có lịch sử lâu đời và có rất nhiều đóng góp cho kho tàng tri thức nhân loại. Sự phát triển những tư tưởng triết học của nhân loại là một quá trình không đơn giản. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, và gắn với nó là cuộc đấu tranh giữa các phương pháp nhận thức hiện thực – phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình tuy là cái trục xuyên suốt lịch sử triết học,song lịch sử diễn biến của nó lại hết sức phức tạp.
Triết học Mác là một hệ thống triết học khoa học và cách mạng, chính vì vậy nó đã trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại mới. Triết học Mác đã kế thừa những tinh hoa, từ đó đưa ra những nguyên lý khoa học giúp con người nhân thức đúng và cải tạo thế giới.
Sự ra đời triết học Mác tạo nên sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử phát triển triết học của nhân loại. C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa một cách có phê phán những thành tựu tư duy nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triết học triệt để, không điều hoà với chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình. Để xây triết học duy vật biện chứng, Mác đã cải tạo chủ nghĩa duy vật cũ và cả phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Đó là một cuộc cách mạng thật sự trong học thuyết về xã hội, một trong những yếu tố chủ yếu của bước ngoặt cách mạng mà Mác và Ăngghen đã thực hiện trong triết học.
Vì vậy em đã chọn đề tài : “.Thực chất, ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và PH. Angghen thực hiện” cho bài tiểu luận của mình.
Xem thêm

21 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC - BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT HỌC Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN HIỆN NAY

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC - BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG TRONG TRIẾT HỌC Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN HIỆN NAY

tìm hiểu sự ra đời của triết học mác xít là một chuỗi tư duy biện chứng. Nó không chỉ là những vấn đề lý luận đơn thuần mà còn gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và những con người hiện thực của cuộc sống. triết học cung cấp cho ta thế giới quan và phương pháp luận duy vật, làm cho ta sống điềm đạm, sâu sắc hơn. Bởi lẽ quá trình ra đời của nó thực sự là một bước ngoặt cách mạng, đứng trên những triết lý vĩ đại khác.

21 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT- LÊNIN BẢO VỆ HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI TRONG TP NHỮNG NGƯỜI BẠN DÂN - Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

TIỂU LUẬN TRIẾT- LÊNIN BẢO VỆ HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI TRONG TP NHỮNG NGƯỜI BẠN DÂN - Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

Lịch sử tư tưởng nhân loại phát triển như một dòng chảy liên tục, mặc dù có những bước quanh co, nhưng về cơ bản là không ngừng tiến lên cùng với sự phát triển trình độ nhận thức của con người. Tuy vậy, xuyên suốt lịch sử phát triển cho thấy, chỉ đến khi triết học Mác ra đời, đánh dấu một bước ngoặt cách mạng vĩ đại, tạo ra một hệ thống triết học đó, được hiểu là sự thay đổi căn bản, tạo ra sự nhảy vọt về chất, một hệ thống triết học khác về chất so với tất cả các hệ thống triết học trong lịch sử, sự ra đời đó phù hợp với quy luật khách quan. Trong đó, chủ nghĩa duy vật lịch sử được đánh giá là một nội dung bước ngoặt cách mạng, trong đó cùng với phát kiến giá trị thặng dư, phát kiến về hình thái kinh tế xã hội là học thuyết đặc biệt quan trọng, chiếm vị trí cốt lõi trong chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác.
Xem thêm

22 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

I.Hoàn cảnh ra đời của triết học cổ điển Đức:1.Bối cảnh châu Âu cận đạiĐến cuối thế kỷ 19, CNTB ra đời và phát triển ở hang loạt các nước châu Âu như: Anh, Pháp, Hà Lan, Italia đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có cho nhân loại. PTSX TBCN đã tỏ ra ưu việt hơn hẳn PTSX PK bảo thủ, lạc hậu. Nó tạo ra 1 năng suất lao động cao, lượng của cải làm ra = 19 thế kỷ trước cộng lại.Cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 làm rung chuyển cả châu Âu tác động mạnh mẽ đến đời sống, xã hội châu Âu. Mác nói: “triết học của Kant là lý luận của người Đức về cuộc CMTS Pháp”.Cuộc cách mạng công nghiệp Anh đánh dấu sự mở đầu của nền văn minh công nghiệp trong lịch sử nhân loại.Những thành tựu về kinh tế, văn hóa và khoa học do cuộc cách mạng công nghiệp tạo ra càng khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới.Tóm lại: cuối thế kỷ 18 đầu 19 PTSX TBCN đã trở thành 1 xu thế tất yếu của lịch sử nhân loại2.Hoàn cảnh nước Đứca.Kinh tế:Đên đầu thế kỷ 19 nước Đức vẫn là 1 nước phong kiến lạc hậu. sự cát cứ phong kiến làm nước Đức bị chia thành nhiều tiểu vương quốc tách biệt nhau. Thực trạng này là trở ngại đối với sản xuất hang hóa, trở ngại cho sự phát triển của CNTB ở Đức.+ năm 1822 cả nước Đức mới có 2 đầu máy hơi nước+ Nông nghiệp bị đình đốn.b.Chính trịVua Phổ Phridrich Vinhem trở nên phản động, ngoan cố tăng cường quyền lực, duy trì chế độ quân chủ phong kiến thối nát, cản trở đất nước đi lên con đường TBCN.Không khí chính trị ngột ngạt của xã hội Đức đã tạo sự bất bình cho đông đảo quần chúng.c.Văn hóa – tư tưởngTuy lạc hậu về kinh tế, chính trị nhưng về mặt văn hóa nói chung, nhất là triết học và nghệ thuật ở Đức thời kỳ này rất phát triển, có nhiều nhà thơ nhiều nhà tư tưởng lớn như: Gớt, Héctơ, Sitlơ,..Các nhà tư tưởng Đức đã nhận được sự cổ vũ to lớn của phong trào Khai sáng Pháp. Đặc biệt là cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp đã thức tỉnh các nhà tư sản Đức đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đứcd. cải cách tôn giáoDo những mâu thuẫn giữa quần chúng với giáo hội ở Đức phát triển gay gắt phong trào chống giáo hội ở Đức nổ ra gay gắt. Đầu thế kỷ XVI, sự căm ghét giáo hội của mọi tầng lớp nhân dân Đức đã trở thành phổ biến và rộng lớn. Trong tình hình đó một mục sư có tên là Martin Luther (1483 – 1546) đã tiến hành vận động cải cách tôn giáo.
Xem thêm

35 Đọc thêm

Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tư tưởng về cách mạng vo sản cà chuyên chính vô sản trong tuyên ngôn của đảng cộng sản và ý nghĩa của nó đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ TƯ TƯỞNG VỀ CÁCH MẠNG VO SẢN CÀ CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN TRONG TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ

1. Lý do chọn đề tài
Những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản đến nay là kết quả của sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, để thực hiện được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng ta cần tiếp tục vận dụng sáng tạo học thuyết Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chớ Minh; đẩy mạnh cụng tỏc nghiên cứu, vận dụng sỏng tạo và phát triển lý luận Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chớ Minh vào điều kiện, hoàn cảnh của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Muốn nắm vững hệ thống quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin, chúng ta cần tìm hiểu, nghiên cứu nguồn gốc ra đời. Một trong những quan điểm vụ sản được thể hiện rừ nột nhất là Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848). Nội dung tác phẩm chứa đựng cả ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác: triết học Mác, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Sự ra đời của tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã đánh dấu sự chuyển biến về chất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế từ “Tự phát” lên “Tự giác”. Nội dung, tầm vóc và ý nghĩa của tỏc phẩm không chỉ có tác dụng sâu sắc đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động lúc bấy giờ mà còn có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả nhân loại trên hành tinh của chúng ta đến tận ngày nay.
Ngày nay, Chủ nghĩa xã hội (CNXH) tạm thời lâm vào thoái trào nhưng học thuyết Mác Lờnin vẫn giữ nguyên giá trị khoa học, là vũ khí lý luận soi đường cho giai cấp vô sản thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Mặt khác, những thành tựu của các nước Xó hội chủ nghió (XHCN) như Trung Quốc, Việt Nam trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH là thực tiễn sinh động, là bằng chứng xác thực cho tính khoa học và cách mạng của học thuyết Mác Lênin.
Xem thêm

25 Đọc thêm

SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA MÁC

SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA MÁC

1. Mác và Ăng-ghen 1. Mác và Ăng-ghenCác Mác sinh năm 1818 trong một gia đình trí thức gốc Do Thái ở thành phố Tơ-ri-ơ (Đức). Từ nhỏ, Mác nổi tiếng thông minh ; năm 23 tuổi đỗ Tiến sĩ triết học. Mác vừa nghiên cứu khoa học, vừa cộng tác với các báo có khuynh hướng cách mạng. Bị trục xuất khỏi Đức. năm 1843 Mác sang Pa-ri tiếp tục nghiên cứu và tham gia phong trào cách mạng ở Pháp.Trong những bài viết của mình, Mác kết luận : Giai cấp vô sản được vũ trang bằng lí luận cách mạng sẽ đảm đương sứ mệnh lịch sử giải phóng loài người khỏi ách áp bức bóc lột.Phri-đrích Ăng-ghen sinh năm 1820 trong một gia đình chủ xưởng giàu có ở thành phố Bác-men. thuộc vùng công nghiệp phát triển nhất của Đức thời đó. Hiểu rõ thủ đoạn làm giàu của giai cấp tư sản, ông tỏ ra khinh ghét chúng. •Năm 1842, ông sang Anh và đi sâu tìm hiểu nỗi khổ của những người công nhân, công bố nhiều bài viết, trong đó có cuốn Tình cảnh giai cấp công nhân Anh.Ăng-ghen cho rằng giai cấp vô sản không chỉ là nạn nhân của chủ nghĩa tư bản mà còn là một lực lượng có thể đánh đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và tự giải phóng khỏi mọi xiềng xích. Năm 1844, Ăng-ghen từ Anh sang Pháp và gặp Mác ; từ đó bắt đầu một tình bạn lâu dài, bền chặt và cảm động giữa hai nhà lí luận cách mạng lỗi lạc. 2. " Đồng minh những người cộng sản" và " Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" Trong thời gian ở Anh, Mác và Ăng-ghen liên hệ với một tổ chức bí mật của công nhân Tây Âu là "Đồng minh những người chính nghĩa” và cải tổ thành “Đồng minh những người cộng sản”. Đây là chính đảng độc lập đầu tiên của vô sản quốc tế. Hai ông được ủy nhiệm soạn thảo cương lĩnh của Đồng minh. Tháng 2 - 1848, cương lĩnh được công bố ở Luân Đôn dưới hình thức một bản tuyên ngôn - Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.Tuyên ngôn gồm có Lời mở đầu và bốn chương. Lời mở đầu nêu mục đích, nguyện vọng của những người cộng sảnTuyên ngôn nêu rõ quy luật phát triển của xã hội loài người là sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Tuyên ngôn nhấn mạnh vai trò của giai cấp vô sản là lực lượng lật đổ chế độ tư bản và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa.Tuyên ngôn kết thúc bằng lời kêu gọi “Vô sản tất cả các nước đoànkết lại !". Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là vẫn kiện quan trọng của chủ nghĩa xã hội khoa học, bao gồm những luận điểm cơ bản về sự phát triển của xã hội và cách mạng xã hội chủ nghĩa.   3. Phong trào công nhân từ năm 1848 đến năm 1870 - Quốc tếthứ nhấtTrong những năm cách mạng 1848 - 1849, giai cấp công nhân nhiều nước ở châu Âu đã đứng lên đấu tranh quyết liệt chống áp bức bóc lột. Ngày 23 - 6 - 1848, công nhân và nhân dân lao động Pa-ri lại khởi nghĩa, dựng chiến lũy và chiến đấu anh dũng liên tục trong bốn ngày. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp đẫm máu, nhưng - như Mác nhận định, “đây là trận đánh lớn đầu tiên giữa hai giai cấp phân chia xã hội hiện nay”.Ở Đức, công nhân và thợ thủ công cũng nổi dậy. Sợ hãi trước phong trào quần chúng, tư sản Đức không quyết liệt đấu tranh chống thế lực phong kiến. Tuy vậy, phong trào cách mạng vẫn tiếp tục phát triển.Từ sau cách mạng 1848 - 1849 đến năm 1870, chế độ tư bản đạt được sự thống lợi đối với chế độ phong kiến trên phạm vi thế giới. Tuy thành quả cách mạng roi vào tay giai cấp tư sản, song công nhân cũng đã trưởng thành trong đấu tranh, nhận thức rõ hơn về vai trò giai cấp minh và tinh thần đoàn kết quốc tế của công nhân. Ngày 28 - 9 - 1864, trong cuộc mít tinh lớn ở Luân Đôn có đại biểu công nhân nhiều nước tham gia, Hội Liên hiệp lao động quốc tế được thành lập (sau đi vào lịch sử với tên gọi Quốc tế thứ nhất). Mác là đại biểu của công nhân Đức, được cử vào Ban lãnh đạo và trở thành linh hồn của Quốc tế thứ nhất.Từ khi thành lập đến năm 1870. Quốc tế thứ nhất vừa tiến hành truyền bá học thuyết Mác. vừa đóng vai trò trung tâm thúc đẩy phong trào công nhân quốc tế.Năm 1868, ở Anh nổ ra cuộc bãi công lớn, chủ tư bán Anh định đưa công nhân Pháp sang làm việc nhằm làm thất bại cuộc bãi công. Do sự thuyết phục của Quốc tế thứ nhất, công nhân Pháp đã từ chối sang Anh làm việc. Cuối cùng, cuộc bãi công của công nhân Anh thắng lợi. Trong những năm 1868 - 1869. công nhân mỏ ở Bỉ đã liên tục bãi công ; chính phủ Bỉ ra lệnh khủng bố, tàn sát nhiều người. Quốc tế thứ nhất đã kêu gọi công nhân các nước quyên góp, ủng hộ công nhân Bỉ.
Xem thêm

2 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC - BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG Ở VIỆT NAM

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC - BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG Ở VIỆT NAM

nghiên cứu, làm rõ vấn đề: “Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng và một số vấn đề nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng ở Việt Nam” có ý nghĩa rất quan trọng trong việc khẳng định bản chất khoa học, cách mạng, sức sống trường tồn và sự cần thiết phải bảo vệ, phát triển triết học Mác-Lênin trong thực tiễn lịch sử hiện nay. Đồng thời, nghiên cứu vấn đề này là cơ sở để đánh giá những thành tựu và hạn chế của công tác nghiên cứu, vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Đó cũng là cơ sở để mở ra những vấn đề nghiên cứu, vận dụng mới về chủ nghĩa nghĩa duy vật trong giai đoạn hiện nay.
Xem thêm

21 Đọc thêm

TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH BA CỐNG HIẾN VĨ ĐẠI CỦA CÁC MÁC

TÌM HIỂU ĐOẠN TRÍCH BA CỐNG HIẾN VĨ ĐẠI CỦA CÁC MÁC

1. Phri-đrích Ăng-ghen (1820 -1895) xuất thân trong một giàu có ở Bác-men, Đức. Ông học đại học ở Béc-lin, quen biết Các Mác năm 1844 ở Pa-ri, sau đó sang sống ở Anh và mất ở đây. Ông là nhà triết học, nhà lí luận và hoạt động cách mạng, lãnh tụ của giai cấp vô sản toàn thế giới. Ăng-ghen chủ yếu viết những tác phẩm về triết học, chính trị, kinh tế, lịch sử, có công trình viết chung với Mác là Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (1848). 2. Các Mác (1818 -1883) là con của một luật sư ở Tê-ri-e, Đức. Ông sớm tiếp xúc với tư tưởng Cách mạng Pháp 1789 và nền văn học cổ điển Đức, bảo vệ luận án tiến sĩ triết học năm 23 tuổi. Sau nhiều truân chuyên trong bước đường hoạt động xã hội và cách mạng, ông sang ở hẳn Luân Đôn và mất ở đây. Công trình nổi tiếng nhất của Mác là bộ Tư bản (1864 - 1876). 3. Mác qua đời ngày 14 - 3  -1883, tang lễ cử hành tại nghĩa trang Hai-ghết (Luân Đôn). Ăng-ghen đọc bài phát biểu trước mộ Mác. Đây là một bài văn nghị luận tiêu biểu và có giá trị văn chương. 4.Đọc hiểu Là nhà triết học, lí luận, nhà hoạt động cách mạng lỗi lạc của thế giới, Ăng-ghen cũng có rất nhiều đóng góp trên lĩnh vực văn học nghệ thuật. Bài phát biểu của Ăng-ghen đọc trước mộ Các Mác là một bài văn nghị luận tiêu biểu và có giá trị văn chương. Bài phát biểu ngắn gọn súc tích, bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ tôn vinh tài năng và tên tuổi của nhà cách mạng vĩ đại thế giới : Các Mác. Bài văn có thể được chia làm 3 phần : Phần 1 (từ đầu đến gây ra) : sự ra đi của Mác với niềm tiếc thương vô hạn của người ở lại. Phần 2 (tiếp theo đến không làm gì thêm nữa) : tổng kết 3 cống hiến vĩ đại của Mác đối với khoa học lịch sử và phong trào cách mạng. Phần 3 (phần còn lại) : khẳng định sự bất tử của tên tuổi và sự nghiệp của Mác. Ngay phần mở đầu, tác giả có cách nêu tình huống tạo một sự chú ý đặc biệt với người đọc : “Chiều ngày 14 tháng ba, vào lúc ba giờ kém mười lăm phút, nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong số những nhà tư tưởng hiện đại đã ngừng suy nghĩ”. Câu văn mở đầu đồng thời là lời thông báo về sự ra đi vĩnh viễn của Các Mác rất cảm động. Cách nói giảm “nhà tư tưởng vĩ đại” “đã ngừng suy nghĩ” vừa tạo sắc thái kính cẩn lại vẫn tạo ra vẻ trang trọng rất đúng với hình ảnh một con người suốt đời “cống hiến cho sự nghiệp giai cấp vô sản toàn thế giới”. Cũng giống như những bài văn có ý nghĩa tiễn đưa, khóc thương người đã mất, trong phần mở đầu tác giả cũng bộc lộ rõ cảm xúc của mình về sự ra đi Mác : “Rồi đây, người ta sẽ cảm thấy nỗi trống vắng do sự qua đời của bậc vĩ nhân ấy gây ra”. Ngôn ngữ ngắn gọn súc tích nhưng lại có sức biểu cảm sâu xa, có khả năng đánh thức những tình cảm kính yêu muôn vàn của người đọc đối với vị lãnh tụ. Riêng ở phần 2, tác giả đã dành phần lớn dung lượng của bài viết ghi lại những cống hiến to lớn của Mác. Trước hết, đó là tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người : con người trước hết cần phải có cái ăn, cái uống, quần áo và chỗ ở rồi sau đó mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật và tôn giáo. Đó cũng là một lôgíc đơn giản có ý nghĩa biện chứng. Các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật, tôn giáo phải được xuất phát từ sự phát triển kinh tế, từ điều kiện vật chất trực tiếp, cụ thể. Cách so sánh với quy luật phát triển thế giới hữu cơ của Đác Uyn cùng với nghệ thuật liệt kê đã làm tăng sức thuyết phục và sự vĩ đại trong cống hiến của Mác. Cống hiến thứ 2 là việc tìm ra quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó sinh ra. Đặc biệt là việc phát hiện giá trị thặng dư – phần giá trị dôi ra ở sản phẩm so với khoản tiền phải chi để tạo sản phẩm ấy. Cống hiến thứ 3 là những phát kiến khoa học có tác động cách mạng đến công nghiệp, đến sự phát triển lịch sử nói chung. Khi nêu cống hiến thứ 3 của Mác, tác giả có ý tách thành 2 đoạn văn nhỏ : Đoạn thứ nhất khẳng định con người khoa học ở Mác ; đoạn thứ hai khẳng định con người cách mạng ở Mác. Điều đặc sắc là mối quan hệ biện chứng giữa khoa học và cách mạng : “Khoa học đối với Mác là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng”. Mác là nhà khoa học nhưng trước hết ông cũng là một nhà cách mạng. “Đấu tranh là hành động tự nhiên của Mác”. Ông cũng là người đầu tiên đem đến cho giai cấp vô sản sự ý thức về địa vị và yêu cầu của mình. Cách trình bày 3 cống hiến của Mác được Ăng-ghen sắp xếp chặt chẽ, theo một trật tự logíc nhất định. Bằng biện pháp nghị luận tăng tiến, người đọc nhận ra sự phát triển hiệu quả của từng cống hiến của Mác. Cống hiến sau lớn hơn, vĩ đại hơn cống hiến trước. Chẳng hạn để mở đầu cho lời giới thiệu cống hiến thứ 2 (sau cống hiến thứ nhất) là lời dẫn : “Nhưng không chỉ có thế thôi”. Hoặc câu văn chuyển tiếp “Nhưng đấy hoàn toàn không phải điều chủ yếu ở Mác” để tác giả đi đến khẳng định : “Khoa học đối với Mác là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng”. Các cụm từ như bởi lẽ, trước hết, đó là… mở đầu các đoạn văn không chỉ có tác dụng liên kết đoạn mà còn tạo cho người đọc có nhiều điểm nhìn mở rộng và sâu sắc về Mác. Những lập luận tạo được sự lôgíc, mạch lạc. Lời của Ăng-ghen ở phần kết, một lần nữa khẳng định lại sự bất diệt của tên tuổi và sự nghiệp của Mác. Ở đó người đọc cũng nhận ra một niềm kính yêu, sự cảm phục sâu sắc, một sự tiếc thương vô hạn của Ăng-ghen với Mác. Đó cũng là sự tôn vinh chính nghĩa khi Mác đứng về phía nhân loại tiến bộ, về phía giai cấp vô sản toàn thế giới để bảo vệ quyền lợi của họ. *LIÊN HỆ Gien-ni và Lô-ra để đùa nghịch, một hôm có nêu lên cho Mác một loạt những câu hỏi mà những câu trả lời phải làm thành một thứ “bộc lộ”. Phẩm chất mà ba thích nhất : Ở con người : Tính giản dị.Ở đàn ông : Sức mạnh.Ở đàn bà : Sự mềm dịu. Đặc điểm tiêu biểu của ba : Tính thống nhất của mục đích. Quan niệm của ba về hạnh phúc : Đấu tranh. Quan niệm của ba về bất hạnh : Sự phục tùng. Khuyết điểm ba dễ tha thứ nhất : Lòng tin nhẹ dạ. Khuyết điểm ba căm ghét nhất : Sự xu nịnh. Ác cảm của ba : Mác-tin Túp-pơ. Công việc ba thích nhất : Lục lọi sách. Các nhà thơ yêu thích : Sếch-xpia, Ét-si-lơ, Gớt. Nhà văn yêu thích : Đi-đơ-rô. Nhân vật nam yêu thích nhất : Xpác-ta-cút, Kê-ple. Nhân vật nữ yêu thích nhất : Gơ-rét-xen. Bông hoa ba yêu thích nhất : Nguyệt quế. Màu ba yêu thích nhất : Màu đỏ. Tên ba yêu thích nhất : Lô-ra, Gien-ni. Món ăn ba yêu thích nhất : Cá. Châm ngôn ba yêu thích nhất : Không có cái gì của con người lại là xa lạ đối với tôi. Khẩu hiệu ba yêu thích nhất : Phải hoài nghi tất cả. loigiaihay.com Xem thêm: Video bài giảng môn Văn học
Xem thêm

3 Đọc thêm

CÂU HỎI THẢO LUẬN HP1 2015

CÂU HỎI THẢO LUẬN HP1 2015

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI
BỘ MÔN NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN





TÀI LIỆU THAM KHẢO
MÔN
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN
HỌC PHẦN 1


Người soạn: Lê Văn Hùng
Tài liệu được soạn trên cơ sở giáo trình và tham khảo nhiều tài liệu khác;
Tài liệu không có giá trị chứng nhận bản quyền tác giả;
Lưu hành nội bộ.







HÀ NỘI, 2013

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN
I. Khái lược về chủ nghĩa Mác – Lênin
1. Chủ nghĩa Mác Lênin và ba bộ phận cấu thành
Chủ nghĩa Mác Lênin là hệ thống các quan điểm và học thuyết khoa học do C.Mác (Karl Marx 1818 – 1883) và Ph.Ăngghen (Friedrich Egels, 1820 1895) xây dựng, V. I. Lênin (Vladimir Ilich Lênin 1870 1924) bảo vệ và phát triển; được hình thành và phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn và kế thừa những giá trị tư tưởng của nhân loại; là thế giới quan, phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người.
Nội dung của chủ nghĩa Mác Lênin bao gồm 3 bộ phận lý luận là:
+ Triết học Mác Lênin
+ Kinh tế chính trị Mác Lênin
+ Chủ nghĩa xã hội khoa học
Đối tượng, vị trí, vai trò và tính thống nhất của 3 bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa Mác Lênin
+ Triết học Mác Lênin nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; xây dựng thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng.
+ Kinh tế chính trị Mác Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế của xã hội, đặc biệt là những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển và suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.
+ Chủ nghĩa xã hội khoa học là sự vận dụng thế giới quan và phương pháp luận triết học, kinh tế chính trị Mác Lênin vào việc nghiên cứu những quy luật khách quan của quá trình cách mạng XHCN – bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và tiến tới chủ nghĩa cộng sản.
Ngày nay có nhiều học thuyết với lý tưởng nhân đạo về giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động, giải phóng con người nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác Lênin là học thuyết khoa học nhất, cách mạng nhất và chân chính nhất để thực hiện lý tưởng đó.
2. Khái lược sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác Lênin
a. Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác
Điều kiện về kinh tế xã hội
Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu phát triển mạnh mẽ trên nền tảng cuộc cách mạng công nghiệp (trước tiên được thực hiện ở Anh vào cuối thế kỷ XVIII). Cuộc cách mạng công nghiệp này đã đem lại:
+ Lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất trên cơ sở phân công lao động diễn ra ngày càng sâu sắc, đánh dấu bước chuyển từ nền sản xuất thủ công tư bản chủ nghĩa sang nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa.
+ Làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội mà trước hết là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản.
+ Sự phát triển chủ nghĩa tư bản càng làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất phát triển cao và mang tính chất xã hội hoá sâu sắc với quan hệ sản xuất tư bản, dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn này là mâu thuẫn giai cấp giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản ngày càng gay gắt. Từ đó dẫn đến hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân chống lại giai cấp tư sản: Ở Pháp có khởi nghĩa của công nhân dệt ở Liông 1831 và 1834; ở Anh có phong trào Hiến Chương (10 năm) vào cuối những năm 30, đầu những năm 40 của thế kỷ XIX; Đức có phong trào đấu tranh của công nhân dệt ở Xilêdi => Những phong trào đấu tranh trên là bằng chứng lịch sử thể hiện giai cấp vô sản đã trở thành lực lượng chính trị độc lập, tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội.
+ Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản nổ ra mạnh mẽ nhưng lần lượt thất bại, nó đặt ra yêu cầu khách quan là cần phải được soi sáng bằng lý luận khoa học. Chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng nhu cầu khách quan đó, đồng thời chính thực tiễn cách mạng đó cũng trở thành tiền đề cho sự khái quát và phát triển không ngừng lý luận của chủ nghĩa Mác.
Tiền đề lý luận
Chủ nghĩa Mác ra đời là sự kế thừa di sản lý luận của nhân loại mà trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và Anh.
Triết học cổ điển Đức (G.W. Ph.Hêghen, và L.Phoiơbắc)
> Triết học cổ điển Đức (triết học của Hêgghen và Phoiơbắc) đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác.
+ Hêghen:
> Công lao của Ph.Hêghen: phê phán phương pháp siêu hình; là người đầu tiên diễn đạt được nội dung của phép biện chứng dưới dạng lý luận chặt chẽ thông qua hệ thống các quy luật, phạm trù
> Hạn chế trong triết học Hêgghen: hệ thống triết học của ông mang tính chất duy tâm thần bí. Vì vậy, phép biện chứng của ông cũng chỉ là biện chứng của tư duy.
> C.Mác, Ph. Ăngghen đã phê phán tính chất duy tâm thần bí và kế thừa phép biện chứng của Hêghen để xây dựng nên phép biện chứng duy vật.
+ L.Phoiơbắc:
> Công lao của L.Phoiơbắc: đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, tiếp tục bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII XVIII; khẳng định quan điểm duy vật triệt để trong lĩnh vực tự nhiên: Giới tự nhiên là tính thứ nhất, tồn tại vĩnh viễn và không phụ thuộc vào ý thức con người.
> Hạn chế trong triết học Phoiơbắc: duy tâm về lĩnh vực xã hội; chủ nghĩa duy vật của ông mang tính chất siêu hình (chưa triệt để)
> Mác, Ph. Ăngghen đã phê phán tính chất siêu hình, đánh giá cao chủ nghĩa duy vật vô thần của ông, đây là tiền đề quan trọng cho bước chuyển biến của C.Mác, Ph.Ăngghen từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật, từ lập trường của chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩa cộng sản.
Như vậy, C.Mác, Ph.Ăngghen đã lọc bỏ tính chất duy tâm thần bí, kế thừa phát triển phép biện chứng trong triết học Hêghen, đồng thời, lọc bỏ tính siêu hình và kế thừa phát triển chủ nghĩa duy vật trong triết học Phoiơbắc, kết hợp chúng để sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng khoa học. Do vậy, chủ nghĩa duy vật biện chứng của C. Mác và Ph. Ăngghen đã phản ánh đúng đắn sự tồn tại khách quan, biện chứng của thế giới.
Kinh tế chính trị học cổ điển Anh (A. Xmít, Đ. Ricácđô)
+ A.Xmít và Đ.Ricácđô
> Công lao lịch sử của A.Xmít và Đ.Ricácđô: là những người mở đầu xây dựng lý luận về giá trị lao động trong lĩnh vực nghiên cứu kinh tế chính trị học; đưa ra nhiều kết luận quan trọng về giá trị và nguồn gốc của lợi nhuận, tính chất quan trọng của quá trình sản xuất vật chất, về những quy luật kinh tế khách quan.
> Hạn chế về phương pháp nghiên cứu: không thấy được tính lịch sử của giá trị; không thấy được mâu thuẫn của hàng hoá và sản xuất hàng hoá; không thấy được tính hai mặt của sản xuất hàng hoá; không phân biệt được sản xuất hàng hoá giản đơn với sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa; chưa phân tích được chính xác những biểu hiện của giá trị trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
> C.Mác, Ph.Ăngghen đã kế thừa những yếu tố khoa học trong lý luận về giá trị lao động và những tư tưởng tiến bộ, đồng thời giải quyết những bế tắc mà các nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh đã không thể vượt qua. Từ đó C.Mác, Ph.Ăngghen xây dựng nên: lý luận về giá trị thặng dư; luận chứng khoa học về bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản và nguồn gốc kinh tế dẫn đến sự diệt vọng tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa xã hội không tưởng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX (H.Xanh Ximông, S.Phuriê, R.Ôoen)
+ Công lao lịch sử của các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng: thể hiện đậm nét nhân văn, đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản và vạch trần nỗi khốn khổ của người lao động trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa; đưa ra nhiều quan điểm sâu sắc về quá trình phát triển của lịch sử cũng như dự đoán về những đặc trưng cơ bản về xã hội tương lai.
+ Hạn chế: không luận chứng được một cách khoa học về bản chất của chủ nghĩa tư bản; không phát hiện được quy luật phát triển của chủ nghĩa tư bản; chưa nhận thức được vai trò, sứ mệnh của giai cấp công nhân với tư cách là lực lượng xã hội có khả năng xoá bỏ chủ nghĩa tư bản xây dựng một xã hội mới bình đẳng, không có bóc lột.
+ C.Mác, Ph.Ăngghen đã khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng và kế thừa những mặt tích cực, đặc biệt là quan điểm đúng đắn về lịch sử, về đặc trưng của xã hội tương lai đã trở thành một trong những tiền đề lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội trong chủ nghĩa Mác.
Tiền đề khoa học tự nhiên
Những thành tựu của khoa học tự nhiên vừa là tiền đề, vừa là luận cứ để khẳng định tính đúng đắn về thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
Thế kỷ XIX có 3 phát minh vĩ đại:
> Quy luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng đã chứng minh một cách khoa học về mối quan hệ không tách rời nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau và được bảo toàn của các hình thức vận động của vật chất trong giới tự nhiên.
> Thuyết tế bào là một căn cứ khoa học chứng minh sự thống nhất về mặt nguồn gốc, hình thái và cấu tạo vật chất của cơ thể thực vật, động vật và giải thích quá trình phát triển sự sống trong mối liện hệ của chúng.
> Thuyết tiến hoá đã đem lại cơ sở khoa học về sự phát sinh, phát triển đa dạng bởi tính di truyền, biến dị và mối liên hệ hữu cơ giữa các loài thực vật, động vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên.
b. Giai đoạn hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác
Thứ nhất: Quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ lập trường duy tâm và dân chủ cách mạng sang lập trường duy vật và chủ nghĩa cộng sản.
Thứ hai: Giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Thứ ba: Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung, phát triển lý luận triết học.
Thứ tư: Thực chất và ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện:
Thực chất cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
+ Một là, khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng trong triết học trước đó.
+ Hai là, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cho triết học của C. Mác và Ph.Ăngghen trở nên triệt để. Trước khi triết học Mác ra đời chưa có một nhà triết học nào giải thích được một cách duy vật lĩnh vực lịch sử – xã hội – tinh thần. Triết học Mác ra đời đã khắc phục được những hạn chế này.
+ Ba là, với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăngghen đã khắc phục sự đối lập giữa triết học với hoạt động thực tiễn. Triết học của hai ông trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của nhân loại tiến bộ.
+ Bốn là, với sự ra đời của triết học Mác, Mác và Ăngghen đã khắc phục sự đối lập giữa triết học với các khoa học cụ thể. Trước khi triết học Mác ra đời thì triết học hoặc là đối lập với các khoa học cụ thể, hoặc là hoà tan vào nó. Từ khi triết học Mác ra đời thì quan hệ giữa triết học Mác với các khoa học cụ thể là quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Các khoa học cụ thể cung cấp cho triết học Mác các thông số, dữ liệu khoa học, tài liệu khoa học để triết học Mác khái quát, còn triết học Mác đóng vai trò thế giới quan, phương pháp luận chung nhất cho các khoa học cụ thể.
Ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do C. Mác và Ph.Ăngghen thực hiện:
+ Làm cho triết học thay đổi cả về vai trò, vị trí, chức năng trong hệ thống tri thức khoa học.
+ Làm cho chủ nghĩa xã hội không tưởng có cơ sở trở thành khoa học.
+ Làm cho triết học Mác trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
c. Giai đoạn V.I.Lênin trong sự phát triển triết học Mác (đọc giáo trình)
V.I.Lênin (1870 1924) đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác để giải quyết những vấn đề của cách mạng vô sản trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình đó, ông đã đóng góp to lớn vào sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng.
d. Chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới (đọc giáo trình)
II. Đối tượng, mục đích và yêu cầu về phương pháp học tập, nghiên cứu môn học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
1. Đối tượng và mục đích học tập, nghiên cứu
a. Đối tượng
Trong phạm vi triết học Mác – Lênin, đó là những nguyên lý cơ bản về thế giới quan và phương pháp luận chung nhất, bao gồm:
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng với tính cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học
+ Phép biện chứng duy vật với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy
+ Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng vào việc nghiên cứu đời sống xã hội
Trong phạm vi kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác Lênin bao gồm: Học thuyết về giá trị (giá trị lao động), học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, khái quát những quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa từ giai đoạn hình thành đến giai đoạn phát triển cao.
Trong phạm vi chủ nghĩa xã hội khoa học bao gồm: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, các quy luật chính trị xã hội của quá trình hình thành, phát triển hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa và những định hướng cho giai cấp công nhân trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.
b. Mục đích
Việc học tập, nghiên cứu môn học “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin” nhằm:
+ Nắm vững những quan điểm khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác Lênin
+ Hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
+ Xây dựng thế giới quan và phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cách mạng, niềm tin, lý tưởng cách mạng
+ Vận dụng sáng tạo những nhân tố trên trong nhận thức và thực tiễn, trong rèn luyện, tu dưỡng đạo đức đáp ứng nhu cầu về nhân tố con người trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu
Phải hiểu đúng tinh thần, thực chất những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, chống xu hướng kinh viện, giáo điều.
Nghiên cứu mỗi luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin phải đặt chúng trong mối quan hệ với các luận điểm khác, các bộ phận cấu thành khác để thấy sự thống nhất trong tính đa dạng, nhất quán của mỗi tư tưởng nói riêng, của toàn bộ chủ nghĩa Mác Lênin nói chung.
Phải gắn những luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn thời đại để thấy sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện trong từng giai đoạn lịch sử.
Nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin để đáp ứng những yêu cầu của con người Việt Nam trong giai đoạn mới, vì vậy, quá trình học tập, nghiên cứu đồng thời phải là quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu dưỡng và rèn luyện để từng bước hoàn thiện mình trong đời sống cá nhân và trong cộng đồng xã hội.
Chủ nghĩa Mác Lênin là hệ thống lý luận “mở”, không ngừng phát triển trên cơ sở phát triển của thực tiễn thời đại. Vì vậy, quá trình học tập, nghiên cứu, một mặt phải là quá trình tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để góp phần phát triển tính khoa học, tính nhân văn vốn có của nó. Mặt khác, phải đặt nó trong lịch sử phát triển của tư tưởng nhân loại vì nó là sự kế thừa tinh hoa nhân loại trong điều kiện lịch sử mới.

PHẦN I
THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN
CHƯƠNG I
CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
I. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy vật biện chứng
1. Quan niệm về triết học và sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
a. Quan niệm về triết học
Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó.
b. Sự đối lập giữa CNDV và CNDT trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
Định nghĩa vấn đề cơ bản của triết học:
Ăngghen cho rằng: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”.
Sở dĩ đây là vấn đề cơ bản của triết học vì nó là nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề triết học khác. Trên thực tế các hệ thống triết học đều phải giải quyết vấn đề này bằng cách này hay cách khác.
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
Mặt thứ nhất trả lời cho câu hỏi giữa vật chất và ý thức cái nào là tính thứ nhất, cái nào là tính thứ hai, cái nào quyết định, cái nào phụ thuộc?
Mặt thứ hai trả lời câu hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới không?
Căn cứ vào cách trả lời hai câu hỏi trên người ta chia các nhà triết học ra thành các trường phái khác nhau.
Khi giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học có ba cách giải quyết:
Một là: thừa nhận vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai. Vật chất có trước và quyết định ý thức. Các hệ thống triết học theo quan điểm này được gọi là nhất nguyên duy vật, hay còn gọi là CNDV.
Hai là: thừa nhận ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai, ý thức có trước và quyết định sự tồn tại của vật chất. Hệ thống triết học theo quan điểm này được gọi là triết học nhất nguyên duy tâm, hay còn gọi là CNDT.
Ba là: thừa nhận vật chất và ý thức tồn tại độc lập song song với nhau, không cái nào quyết định cái nào. Hệ thống triết học theo quan điểm này được gọi là triết học nhị nguyên, thực chất triết học nhị nguyên là chủ nghĩa duy tâm.
Khi giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học hình thành nên học thuyết triết học khả tri (khả tri luận) và bất khả tri (bất khả tri luận). Khả tri luận – quan điểm thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người; bất khả tri luận – phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người.

2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng – hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật

Thời gian Hình thức Đặc điểm

Thế kỷ VI III TCN
CNDV chất phác Đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể nào đó; mang tính tự phát, ngây thơ, cảm tính, dựa trên những quan sát trực tiếp và phỏng đoán về thế giới tự nhiên.

Thế kỷ XVII –XVIII
CNDV siêu hình Chịu sự tác động của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc, thế giới được coi như tổng số các sự vật biệt lập, không vận động, không phát triển.
Thế kỷ XIX –XX CNDV biện chứng Là sự thống nhất giữa CNDV khoa học và phương pháp biện chứng, phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển.
II. Quan điểm duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1. Vật chất
a. Phạm trù vật chất
Quan điểm của các nhà duy vật thời kỳ cổ đại
Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật cổ đại: Đi tìm bản nguyên vật chất đầu tiên và coi đó là nguyên tố đầu tiên tạo ra mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, chẳng hạn, Ta lét: nước; Anaximen: không khí; Hêraclít: Lửa; Đêmôcrít: nguyên tử...
Quan điểm của các nhà duy vật thời kỳ cận đại
Thế kỷ XVII – XVIII, KHTN phát triển, thu được nhiều thành tựu mới trong việc nghiên cứu thế giới khách quan (Cơ học, toán học, vật lý học, sinh vật học….). Tuy vậy, những quan niệm siêu hình vẫn chi phối những hiểu biết triết học về thế giới: Nguyên tử vẫn tiếp tục được coi là phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia; vận động của vật chất chỉ được coi là vận động cơ học, nguồn gốc của vận động nằm ngoài sự vật, thừa nhận “cái hích” đầu tiên của thượng đế.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, vật lý học hiện đại phát triển, nhất là vật lý học vi mô đã có những phát hiện mới về cấu trúc của vật chất… làm biến đổi sâu sắc quan niệm của con người về nguyên tử: 1895: Rơnghen tìm ra tia X Một loại sóng điện từ có bước sóng cực ngắn); 1896: Beccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ  Quan niệm về sự bất biến của nguyên tử trước đây là không chính xác; 1897: Tômxơn phát hiện ra điện tử và chứng minh rằng điện tử là một trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử... => Những phát hiện nói trên của vật lý học đã mâu thuẫn với quan niệm về vật chất của CNDV thế kỷ XVII XVIII. CNDT đã lợi dụng tình hình đó để tuyên truyền quan điểm duy tâm: tuyên bố vật chất “tiêu tan”, “biến mất”. Trong bối cảnh đó Lênin đã đưa ra một định nghĩa mới về vật chất.
Định nghĩa vật chất của Lênin
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Phân tích định nghĩa
Thứ nhất: Vật chất là một phạm trù triết học: Khái niệm vật chất dưới góc độ triết học, dùng để chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi. Các dạng vật chất mà các khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, có sinh ra, có mất đi, chuyển hóa thành cái khác.
Thứ hai: Lênin đã sử dụng phương pháp định nghĩa đặc biệt, đặt vật chất đối lập với ý thức, vật chất là tất cả những gì tác động vào các giác quan của con người thì gây nên cảm giác.
Thứ ba: Dùng để chỉ thực tạikhách quan
+ Thực tại: tồn tại, có thực
+ Khách quan (không phụ thuộc vào cảm giác của con người)
Thứ tư: Được đem lại cho con người trong cảm giác: Vật chất có trước, tác động vào các giác quan của con người: tác động trực tiếp: nhìn, cảm nhận; gián tiếp: nhờ các công cụ => Cảm giác, ý thức của con người chẳng qua chỉ là sự phản ánh vật chất => Con người có thể nhận thức được thế giới... “chép lại, chụp lại”.
Ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học
Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật triệt để, khắc phục được quan điểm duy vật siêu hình trước đó, chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri...
Khắc phục được khủng hoảng trong KHTN, mở đường cho khoa học tự nhiên phát triển > Thấy được vai trò của triết học đối với khoa học tự nhiên, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau: thành tựu của KHTN giúp triết học khái quát thế giới một cách chính xác hơn ngược lại triết học phát triển đúng đắn định hướng về mặt thế giới quan đúng đắn, chính xác cho KHTN…
Với định nghĩa này, phạm trù vật chất không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tự nhiên mà còn mở rộng sang cả lĩnh vực xã hội, khẳng định đâu là vật chấtý thức trong lĩnh vực xã hội > Định nghĩa này là cơ sở lý luận khoa học để khẳng định rằng, trong lĩnh vực xã hội, vật chất được biểu hiện dưới dạng tồn tại xã hội, yếu tố quan trọng nhất tạo nên tồn tại xã hội là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất… nó đã làm sáng tỏ quan điểm duy vật về lịch sử.
b. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất
Vận động
Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất là một phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm mọi sự thay đổi nói chung, mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể cả từ thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.
Vật chất tồn tại bằng cách vận động, nghĩa là thông qua vận động, vật chất biểu thị sự tồn tại của mình và chỉ thông qua vận động, vật chất mới tồn tại được. Nghĩa là, không có vật chất không vận động.
Vận động của vật chất là tự thân, do nguồn gốc bên trong bản thân vật chất quy định. Vận động của vật chất không bao giờ mất đi, chỉ chuyển từ hình thức vận động này sang hình thức vận động khác.
Vận động gắn liền với đứng im, đứng im là vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối.
Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính (tính 3 chiều: dài, rộng, cao), biểu hiện sự cùng tồn tại và tách biệt cũng như trật tự phân bố của các sự vật.
Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt độ dài diễn biến, sự kế tiếp của các quá trình, biểu diễn trình tự xuất hiện, mất đi của sự vật (quá khứ, hiện tại, tương lai).
c. Tính thống nhất vật chất của thế giới
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: Thế giới thống nhất bởi tính vật chất, cụ thể là:
+ Một là: Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất có trước tồn tại khách quan độc lập với ý thức con người.
+ Hai là: Các sự vật trong thế giới đều là những dạng tồn tại khác nhau của thế giới vật chất, nó có mối liên hệ với nhau và cùng bị chi phối bởi các quy luật khách quan.
+ Ba là: Thế giới đó tồn tại vĩnh viễn, không ai sinh ra và không mất đi, vô hạn và vô tận, chúng vận động, chuyển hoá lẫn nhau.
> Bản chất vật chất và tính thống nhất vật chất của thế giới là kết luận được rút ra từ việc khái quát thành tựu của khoa học và được cuộc sống hiện thực của con người kiểm nghiệm.
2. Ý thức
a. Nguồn gốc của ý thức














Kết luận: Sự xuất hiện của ý thức con người là kết quả đồng thời của hai quá trình tiến hóa: tiến hóa về mặt tự nhiên và tiến hóa về mặt xã hội. Trong đó, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội. Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào óc người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.
b. Bản chất và kết cấu của ý thức
Bản chất của ý thức
Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong óc người. Thể hiện:
Ý thức là sự phản ánh mang tính sáng tạo
+ Định hướng tiếp nhận, chọn lọc, xử lý, lưu giữ thông tin.
+ Trên cơ sở những thông tin đã có, có thể tạo ra những thông tin mới.
+ Có thể tưởng tượng ra những cái không có trong thực tế; có thể dự báo, tiên đoán tương lai; có thể tạo ra những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng.
Ý thức là sự phản ánh mang tính chủ quan
+ Phụ thuộc vào trình độ tổ chức bộ não của mỗi chủ thể phản ánh.
+ Phụ thuộc vào môi trường, hoàn cảnh xã hội mà chủ thể đó sống.
+ Hình ảnh thế giới khách quan tác động vào bộ não và được cải biến qua lăng kính chủ quan.
Ý thức là sự phản ánh mang tính xã hội
+ Ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội: lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội, cho nên người nào tách rời khỏi đời sống xã hội của con người sẽ không thể có ý thức.
+ Ý thức phản ánh tồn tại xã hội và biến đổi cùng với sự biến đổi của tồn tại xã hội. C.Mác đã khẳng định: “Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”.
Kết cấu của ý thức
Ý thức có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó gồm 3 yếu tố cơ bản sau:
Tri thức: Là toàn bộ những hiểu biết của con người về tự nhiên và xã hội, là kết quả của quá trình con người nhận thức thế giới, là sự phản ánh thế giới hiện thực
Tình cảm: Là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong quan hệ của mình với thực tại xung quanh và đối với bản thân mình
Ý chí: Là khả năng huy động sức mạnh của bản thân để vượt qua những cản trở trong quá trình thực hiện mục đích của con người.
=> Tất cả các yếu tố tạo thành ý thức có quan hệ biện chứng với nhau, song tri thức là yếu tố quan trọng nhất. Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức, đồng thời là nhân tố định hướng sự phát triển và mức độ biểu hiện của các yếu tố khác.
3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
a. Vai trò của vật chất đối với ý thức
Vật chất là nguồn gốc của ý thức thể hiện:
+ Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ khi có con người mới có ý thức. Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất...
+ Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức là chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ)...
Vật chất quyết định nội dung, đặc điểm của ý thức: Biểu hiện điều kiện vật chất như thế nào thì ý thức như thế đó.
> Từ vấn đề này hãy giải thích một số vấn đề thực tiễn: Vì sao chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam so với thế giới rất thấp; căn nguyên của tính tùy tiện, tự do... của người sản xuất nhỏ?...
Vật chất quyết định sự biến đổi của ý thức, khi cơ sở, điều kiện vật chất thay đổi thì ý thức cũng thay đổi theo
> Từ vấn đề này hãy giải thích một số vấn đề thực tiễn: Nhu cầu về đời sống vật chất ở Việt Nam hiện nay có gì khác so với thời kỳ bao cấp? Vấn đề chọn trường, ngành học của sinh viên hiện nay thay đổi so với trước kia như thế nào? Tư duy của người nông dân Việt Nam hiện nay thay đổi so với tư duy truyền thống như thế nào?.v.v..
b. Vai trò của ý thức đối với vật chất
Bản chất của ý thức mang tính năng động, sáng tạo, ý thức là ý thức của con người, chỉ có con người mới có ý thức nên nói tới sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất chính là nói đến sự tác động của con người đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn.
Ý thức chỉ đạo, hướng dẫn con người trong hoạt động thực tiễn, (ý thức trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan), giúp con người xác định được: mục tiêu, phương hướng, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ... để đạt được mục tiêu của mình
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng tích cực hoặc tiêu cực, thể hiện:
+ Tác động tích cực: Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực... thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình, cải tạo được thế giới...
+ Tác động tiêu cực: Ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thì hướng hành động của con người đi ngược lại các quy luật khách quan, hành động đó sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động thực tiễn...
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Xuất phát từ vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức: Đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan, thể hiện:
Tôn trọng quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật.
Tôn trọng vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của con người, của xã hội.
Phải xuất phát từ điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định để đề ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn thúc đẩy xã hội tiến lên.
Nếu chủ quan, duy ý chí, nôn nóng tất yếu dẫn đến sai lầm trong hoạt động nhận thức và thất bại trong hoạt động thực tiễn.
Lưu ý: Nếu tuyệt đối hóa yếu tố vật chất sẽ rơi vào quan điểm duy vật tầm thường.
Xuất phát từ sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất: Đòi hỏi phải luôn luôn chú ý phát huy đầy đủ tính năng động, chủ quan, sự sáng tạo của con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới, muốn vậy:
Tôn trọng tri thức khoa học; tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học và truyền bá vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin, hướng dẫn quần chúng hành động... (liên hệ với việc đưa tri thức khoa học tới nông dân ở Việt Nam hiện nay...)
Khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của con người Việt Nam, quyết tâm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu...
Lưu ý: Nếu tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm.

CHƯƠNG II
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
I. Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng duy vật
1. Khái niệm phép biện chứng
Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Có biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan. Biện chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất, còn biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan vào trong đời sống ý thức của con người.
Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn.
2. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng
Phép biện chứng chất phác thời cổ đại: thô sơ, tự phát
+ Triết học phương Đông cổ đại: Biện chứng trong âm dương, ngũ hành (triết học Trung Quốc),…
+ Triết học phương Tây cổ đại: Tiêu biểu là triết học HiLạp, Ăngghen đã từng nhận xét các nhà triết học Hilạp cổ đại, hầu hết họ đều là những nhà biện chứng bẩm sinh, tiêu biểu là: Hêraclit, Platôn, đặc biệt là Arixtốt.
Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức (Cantơ > Hêghen): Tiêu biểu là phép biện chứng trong triết học của Hê ghen, Ăngghen đã từng nhận xét: Hêghen là nhà triết học vĩ đại người Đức, ông là người đầu tiên trong lịch sử, trình bày phép biện chứng một cách đầy đủ nhất, sâu sắc nhất và súc tích nhất. Tuy nhiên, phép biện chứng lại bị Hêghen trình bày một cách duy tâm, lộn ngược và không triệt để.
Phép biện chứng duy vật: Có tính khoa học cách mạng do C.Mác và Ph. Ăngghen sáng lập, trên cơ sở kế thừa và cải tạo phép biện chứng của Hêghen.
3. Phép biện chứng duy vật hình thức cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử
a. Định nghĩa phép biện chứng duy vật
Cơ sở để C.Mác và Ph. Ăngghen, Lênin đưa ra khái niệm phép biện chứng:
+ Cơ sở thực tiễn (thực tiễn lịch sử loài người)
+ Kết quả khái quát thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại
+ Kế thừa phép biện chứng của Hêghen
Định nghĩa phép biện chứng: Trong tác phẩm Chống Đuy rinh, Ph. Ăngghen cho rằng: “Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy”.
Khi nhấn mạnh đến vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, Ph. Ănghen định nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”.
Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về sự phát triển, Lênin khẳng định: “Trong số những thành quả đó thì thành quả chủ yếu của phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng”.
b. Những đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật (làm rõ sự hơn hẳn về chất của phép biện chứng duy vật so với các phép biện chứng trước đó)
Được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học
Có sự thống nhất hữu cơ giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật, nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới
Biện chứng triệt để: Như C. Mác đã viết: Phép biện chứng của tôi không chỉ khác mà còn hoàn toàn đối lập với phép biện chứng của Hêghen (Phép biện chứng của Hêghen không triệt để: Một mặt ông thừa nhận mọi sự vật vận động, phát triển không ngừng; mặt khác ông lại mâu thuẫn cho rằng nhà nước Phổ là nhà nước cuối cùng; triết học của ông là cao nhất, tuyệt đích > Hạn chế này là do lập trường giai cấp, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị).
c. Vai trò của phép biện chứng duy vật
Đối với chủ nghĩa Mác Lênin: Phép biện chứng là cơ sở lý luận cơ bản, là linh hồn sống của chủ nghĩa Mác (Lênin).
Đối với thực tiễn: Như Lênin đã khẳng định, phép biện chứng duy vật là công cụ nhận thức vĩ đại của loài người. Mọi thành công của Việt Nam trong thực tiễn đổi mới đất nước vừa qua có nhiều nguyên nhân, trong đó có việc vận dụng đúng đắn, sáng tạo phép biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin.
Đối với sự phát triển của khoa học:
+ Lênin đã từng khẳng định: Phép biện chứng duy vật là công cụ nhận thức vĩ đại của nhân loại. Anhxtanh, nhà vật lý học vĩ đại của nhân loại thế kỷ XX, từng chỉ ra: Khoa học, mà trước hết là vật lý học càng phát triển bao nhiêu, các nhà khoa học càng cần phải được trang bị phép biện chứng duy vật bấy nhiêu. (Bàn về chủ nghĩa xã hội, Tạp chí Học tập số 6, tr. 56, Nxb ST, HN, 1986).
+ Sự phát triển của khoa học công nghệ và đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, nông thôn Việt Nam những năm vừa qua cũng cho thấy những kinh nghiệm tương tự: tác hại khôn lường của ốc bươu vàng, của rùa tai đỏ, của dự án trồng cà phê ở các tỉnh miền núi phía Bắc… là những ví dụ điển hình của sự trừng phạt của phép biện chứng đối với những ai khinh thường nó…
II. Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
a. Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
Các nhà triết học siêu hình không thừa nhận mối liên hệ phổ biến, họ cho rằng sự vật, hiện tượng có thể tồn tại một cách cô lập, tách rời, cái này bên cạnh cái kia…
Các nhà triết học duy vật biện chứng cho rằng: thế giới có vô vàn các sự vật, hiện tượng, chúng thống nhất với nhau ở tính vật chất nên tất yếu chúng phải có mối liên hệ với nhau.
+ Khái niệm: Mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ:
+ Tính phổ biến của các mối liên hệ (bởi vì mối liên hệ là cái vốn có của tất thảy mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, không loại trừ một sự vật, hiện tượng nào, lĩnh vực nào).
+ Chỉ những mối liên hệ tồn tại (được thể hiện) ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới.
> Từ các khái niệm trên giải thích một số vấn đề trong thực tiễn: thời đại toàn cầu hóa, nền kinh tế giữa các quốc gia có liên hệ với nhau như thế nào? Trong một quốc gia, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự... có liên hệ với nhau như thế nào?
Các mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng được phép biện chứng duy vật khái quát thành các phạm trù cơ bản như cái riêng, cái chung, cái đơn nhất; tất nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng; nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực; nội dung và hình thức... Chúng được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo tự nhiên, xã hội. Trong đó, các phạm trù cái riêng, cái chung, cái đơn nhất; tất nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng là cơ sở phương pháp luận của các phương pháp phân tích và tổng hợp; diễn dịch và quy nạp; khái quát hóa, trừu tượng hóa để từ đó nhận thức được toàn bộ các mối liên hệ theo hệ thống. Các cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả; khả năng và hiện thực là cơ sở phương pháp luận chỉ ra các mối liên hệ và sự phát triển giữa các sự vật, hiện tượng là một quá trình. Cặp phạm trù nội dung và hình thức là cơ sở phương pháp luận để xây dựng các hình thức tồn tại trong sự phụ thuộc vào nội dung, phản ánh tính đa dạng của các phương pháp nhận thức và thực tiễn.
b. Tính chất của mối liên hệ
Tính khách quan của các mối liên hệ
+ Mối liên hệ là cái vốn có của các sự vật, hiện tượng, nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người hay thần linh, thượng đế.
+ Chỉ có liên hệ với nhau, sự vật, hiện tượng mới tồn tại, vận động, phát triển.
Tính phổ biến của các mối liên hệ
+ Vì không phải chỉ có các sự vật, hiện tượng liên hệ với nhau, mà các yếu tố, bộ phận cấu thành chúng cũng liên hệ với nhau. Không phải chỉ có các thời kỳ trong một giai đoạn, các giai đoạn trong một quá trình liên hệ với nhau, mà giữa các quá trình cũng liên hệ với nhau trong sự vận động và phát triển của thế giới.
+ Không chỉ trong tự nhiên, mà cả trong xã hội, lẫn tư duy, các sự vật, hiện tượng cũng liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau.
Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ
+ Mỗi sự vật, hiện tượng đều có nhiều mối liên hệ khác nhau (bên trong và bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu…), chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, phát triển của sự vật đó.
+ Cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật, hiện tượng nhưng lại có những biểu hiện phong phú khác nhau trong những điều kiện cụ thể khác nhau…
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ cho nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải quán triệt quan điểm toàn diện.
Quan điểm toàn diện
+ Trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, mặt của chính sự vật, hiện tượng và trong sự tác động qua lại giữa sự sự vật, hiện tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác => Như vậy, mới nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn.
=> Liên hệ với thực tiễn (sinh viên).
Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ, do đó, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử – cụ thể.
Quan điểm lịch sử – cụ thể
+ Trong nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn. Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn.
Từ quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể thì trong nhận thức và thực tiễn cần chống lại quan điểm phiến diện (xem xét qua loa một vài mối liên hệ đã vội đánh giá sự vật một cách chủ quan); chống lại quan điểm chiết trung (san bằng các mối liên hệ, xem chúng có vị trí, ý nghĩa như nhau); chống quan điểm ngụy biện, đánh tráo khái niệm (những người ngụy biện cũng đề cập tới các yếu tố, các mặt cấu thành sự vật nhưng đánh lộn vai trò của chúng, biến cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất và ngược lại).
2. Nguyên lý về sự phát triển
a. Khái niệm phát triển
Quan điểm siêu hình: Phát triển là sự thay đổi về lượng mà không có sự thay đổi về chất; phát triển như là một quá trình liên tục, không có những bước quanh co, thụt lùi...
Quan điểm biện chứng:
+ Khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật theo khuynh hướng tiến lên: từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
+ Khái niệm “phát triển” không đồng nhất với khái niệm “vận động”?
b. Tính chất của sự phát triển
Tính khách quan của sự phát triển: Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật, hiện tượng, nhờ đó sự vật luôn luôn phát triển.
> Hãy giải thích: Sự phát triển của một con người phải trải qua nhiều giai đoạn và phải giải quyết nhiều mâu thuẫn trong lòng nó? Sự phát triển của xã hội loài người cũng phải giải quyết nhiều mâu thuẫn khác nhau…? => Sự phát triển đó mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người hay do đấng siêu nhiên tạo ra.
Tính phổ biến của sự phát triển: Quá trình phát triển diến ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong mọi hiện tượng, quá trình => Trong mỗi quá trình biến đổi có thể bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời của cái mới, phù hợp với quy luật khách quan.
Tính đa dạng, phong phú: Mỗi sự vật, hiện tượng có sự khác nhau trong sự phát triển; bản thân mỗi sự vật cũng có sự phát triển không giống nhau… => Nguyên nhân là do: Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong không gian và thời gian khác nhau, chịu sự tác động của nhiều sự vật, hiện tượng, yếu tố khác nhau... => Sự tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, hiện tượng.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
Khi nghiên cứu nguyên lý này, trong hoạt động nhận thức và hoạt thực tiễn, cần phải có quan điểm phát triển:
+ Đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên để dự tính được xu hướng đi lên của nó, có thái độ đúng đắn đối với cái mới, khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển.
+ Con đường của sự phát triển là một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch, đầy mâu thuẫn, vì vậy, đòi hỏi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự phát triển, khi gặp khó khăn, thất bại tạm thời phải bình tĩnh, tin tưởng vào tương lai, không bi quan, chán nản...
III. Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
1. Khái quát chung về phạm trù
Phạm trù là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định.
Phạm trù hình thành là kết quả của quá trình nhận thức hiện thực khách quan của con người, vì vậy phạm trù có những tính chất cơ bản sau:
+ Tính khách quan: nội dung phạm trù phản ánh thuộc về thế giới khách quan, không phụ thuộc vào bất kỳ lực lượng siêu nhiên nào.
+ Tính chủ quan: vì phạm trù là sản phẩm hoạt động nhận thức nên nó phụ thuộc vào đặc điểm nhận thức của con người ở thời đại lịch sử sinh ra nó.
+ Tính linh hoạt, mềm dẻo: trình độ nhận thức của con người không đứng một chỗ mà luôn phát triển, càng ngày con người càng phát hiện tri thức mới về hiện thực, những tri thức mới ấy không ngừng được bổ sung, làm cho phạm trù phản ánh thế giới ngày càng đầy đủ, đúng đắn hơn.
2. Những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
a. Cái riêng, cái chung
Định nghĩa: cái chung, cái riêng, cái đơn nhất
Phạm trù cái chung: dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố, những quan hệ… lặp lại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng.
Phạm trù cái riêng: dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất định.
Phạm trù cái đơn nhất: dùng để chỉ những đặc tính, những tính chất… chỉ tồn tại ở một sự vật, một hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác.
Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, thể hiện:
+ Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của nó, nó không tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng (tức là cái chung không tách rời mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình riêng lẻ).
+ Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung, vì bất cứ cái riêng nào cũng tồn tại trong mối quan hệ với cái riêng khác, giữa những cái riêng ấy bao giờ cũng có những cái chung giống nhau.
+ Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng còn cái cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng.
+ Cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện xác định.
> Cái đơn nhất biến thành cái chung trong quá trình phát triển của sự vật (từ cái ít > nhiều > Đi lên có sự vật).
> Cái chung biến thành cái đơn nhất trong quá trình tiêu vong của sự vật, hiện tượng (nhiều > ít > sự vật đi xuống (lỗi thời)).
Ý nghĩa phương pháp luận
Khi nghiên cứu sự vật phải phát hiện cái chung, vì cái chung là cái sâu sắc, bản chất, muốn tìm được cái chung thì phải xâm nhập vào cái riêng.
Khi giải quyết những vấn đề cụ thể phải xuất phát từ cái chung, bởi vì nó là cái bản chất, sâu sắc, định hướng cho việc nghiên cứu cái cụ thể (nếu xuất phát từ cái cụ thể nó che mờ đi cái bản chất), không nhận thức đúng đắn vấn đề…
Phải “cá biệt hóa” cái chung khi vận dụng vào từng cái riêng cụ thể, vì mỗi cái riêng còn có cái đơn nhất (khác biệt), nếu tuyệt đối hóa cái chung thì sẽ không tìm ra cái đặc thù của sự vật, ngược lại nếu tuyệt đối hóa cái riêng sẽ không tìm ra được cái bản chất của sự vật.
Cần phát hiện, tạo điều kiện cho cái đơn nhất tích cực phát triển, phổ biến thành cái chung; đồng thời cần hạn chế, loại bỏ, thủ tiêu những cái chung lạc hậu, tạo điều kiện cho cái mới, tích cực phát triển…
b. Nguyên nhân và kết quả
Phạm trù nguyên nhân, kết quả
Phạm trù nguyên nhân: dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau tạo ra sự biến đổi nhất định.
Phạm trù kết quả: dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Thứ nhất: Nguyên nhân sinh ra kết quả
+ Nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, kết quả chỉ xuất hiện khi nguyên nhân gây ra tác động.
> Lưu ý: Không phải sự nối tiếp nào về thời gian của sự vật, hiện tượng đều biểu hiện mối quan hệ nhân quả, chẳng hạn, ngày luôn luôn “đến sau” đêm; sấm luôn luôn “đến sau” chớp… những hiện tượng này cái nọ tiếp sau cái kia không phải vì chúng nằm trong mối quan hệ nhân quả mà đơn thuần là vì chúng ở trong quan hệ nối tiếp nhau về mặt thời gian.
+ Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả.
+ Một kết quả được sinh ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau do tác động riêng lẻ hoặc đồng thời.
> Nhiều nguyên nhân phát huy tác động đồng thời tổng hòa các nguyên nhân đưa lại kết quả (trong đời sống cần tìm ra nguyên nhân tốt, loại bỏ nguyên nhân xấu).
> Nhiều nguyên nhân tác động riêng rẽ, đưa lại kết quả như nhau.
+ Nguyên nhân có nhiều loại, như nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài; nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu… mỗi loại có vai trò khác nhau đối với kết quả, cho nên, trong thực tiễn, phải nhận dạng được chúng để có thái độ ứng xử đúng đắn.
Thứ hai: Kết quả tác động trở lại nguyên nhân
Kết quả sau khi ra đời nó không thụ động, trái lại nó tác động t
Xem thêm

1 Đọc thêm

TÀI LIỆU CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC CÁC QUY LUẬT CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ VÀ PHẠM TRÙ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI

TÀI LIỆU CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC CÁC QUY LUẬT CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ VÀ PHẠM TRÙ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI

Từ khi ra đời đến nay chủ nghĩa Mác Lênin luôn phải đương đầu với những thách thức của lịch sử. Đặc biệt từ khi chủ nghĩa xã hội ở Liên xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng và sụp đổ thì các thế lực thù địch ra sức chống phá, xuyên tạc chủ nghĩa Mác Lênin, đặc biệt là lý luận hình thái kinh tế xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nắm vững lý luận hình thái kinh tế xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm trang bị vũ khí lý luận sắc bén trong cuộc đấu tranh chống các trào lưu cơ hội, xét lại và các tư tưởng thù địch, bảo vệ sự trong sáng, cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin. Qua đó, nhận thức sâu sắc sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo của Đảng, và Chủ Tịch Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, từ đó xác định thái độ, trách nhiệm của lực lượng vũ trang trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Xem thêm

21 Đọc thêm

Tiểu luận triết học C mác và ph ăng ghen trình bày những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử từ 1844 đến 1848

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC C MÁC VÀ PH ĂNG GHEN TRÌNH BÀY NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ TỪ 1844 ĐẾN 1848

Các Mác (1818 – 1883) và Phriđơrich Ăngghen (1820 – 1895) là hai nhà triết học có công sáng lập triết học Mác – Lênin, triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời như một tất yếu của lịch sử, nó là hệ tư tưởng khoa học và cách mạng nhất của loài người, không chỉ có ý nghĩa trong lý luận mà còn có ý nghĩa trong đời sống và thực tiễn, nhất là trong thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân và nhiệm vụ giải phóng các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Và không một ai trong số những người có tinh thần khoa học trung thực lại không thừa nhận ý nghĩa lịch sử của triết học Mác đối với lịch sử triết học và lịch sử phát triển của nhân loại.
Xem thêm

33 Đọc thêm

TRÌNH BÀY NHỮNG NÉT CHÍNH VỀ BUỔI ĐẦU HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNG-GHEN.

TRÌNH BÀY NHỮNG NÉT CHÍNH VỀ BUỔI ĐẦU HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNG-GHEN.

Năm 1843, Mác cùng vợ là Gien-ni phải rời sang Pa-ri (Pháp). Năm 1843, Mác cùng vợ là Gien-ni phải rời sang Pa-ri (Pháp), rồi Brúc-xen (Bỉ) và cuối cùng cư trú lâu dài ở Luân Đôn (Anh). Ở Pa-ri, Mác thường xuyên tiếp xúc với những nhà hoạt động cách mạng của phong trào công nhân, nghiên cứu lịch sử cách mạng Pháp, các tác phẩm triết học và tham gia xuất bản tạp chí Biên niên Pháp - Đức. Trong những bài viết của mình, Mác đi đến nhận định : Giai cấp vô sản được giác ngộ lí luận cách mạng là giai cấp sẽ đảm đương sứ mệnh lịch sử giải phóng loài người khỏi áp bức bóc lột. Phri-đrích Ăng-ghen sinh ngày 28- 11 - 1820, trong một gia đình chủ xưởng ờ thành phố Bác-men (Đức).Xuất thân từ tầng lớp trên nhưng ông rất căm ghét chế độ chuyên chế và khinh thường những thủ đoạn làm giàu của giới kinh doanh. Do yêu cầu của người cha, Ăng-ghen phải sang làm thư kí cho một hãng buôn ở Anh. Tuy vậy, việc đó không thể ngăn cản ông nghiên cứu khoa học và hoạt động chính trị. Trong thời gian sống ở Anh (từ năm 1842), Ăng-ghen luôn gần gũi công nhân, từng chứng kiến tình cảnh khốn cùng và cuộc sống lao động vất vả của họ. Trong cuốn Tình cảnh của giai cấp công nhân Anh, bằng ngòi bút sắc sảo và dẫn chứng cụ thể, Ăng-ghen nêu rõ sự bóc lột tàn bạo của giai cấp tư sản đối với công nhân và đi đến kết luận : giai cấp vô sản không chỉ là nạn nhân của chủ nghĩa tư bản, mà còn là lực lượng có thể đánh đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và tự giải phóng khỏi mọi xiềng xích.Năm 1844, Ăng-ghen sang Pa-ri và gặp Mác. Cuộc gặp gỡ này đã mở đầu tình bạn và sự cộng tác giữa hai ông.Từ năm 1844 đến năm 1847, những tác phẩm của Mác và Ăng-ghen cho thấy sự chín muồi về những quan điểm triết học, kinh tế - chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, từng bước hình thành học thuyết Mác.
Xem thêm

1 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC - LÊNIN BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TRONG TÁC PHẨM KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG THỜI ĐẠI CCVS - Ý NGHĨA ĐỐI VỚI NHẬN THỨC VỀ TKQĐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC - LÊNIN BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TRONG TÁC PHẨM KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG THỜI ĐẠI CCVS - Ý NGHĨA ĐỐI VỚI NHẬN THỨC VỀ TKQĐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Lịch sử tư tưởng nhân loại phát triển như một dòng chảy liên tục, mặc dù có những bước quanh co, nhưng về cơ bản là không ngừng tiến lên cùng với sự phát triển trình độ nhận thức của con người. Khi triết học Mác ra đời, đánh dấu một bước ngoặt cách mạng vĩ đại trong lịch sử tư tưởng, tạo ra sự nhảy vọt về chất trong triết học, một hệ thống triết học khác về chất so với tất cả các hệ thống triết học trong lịch sử, sự ra đời đó phù hợp với quy luật khách quan. Trong đó, chủ nghĩa duy vật lịch sử có hai phát kiến vĩ đại về học thuyết hình thái kinh tế xã hội, phát kiến về học thuyết giá trị thặng dư được đánh giá là một nội dung bước ngoặt cách mạng, bên cạn đó những nội dung khác, như: học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp .... đã làm cho chủ nghĩa Mác – Lê nin trở thành là một lý luận khoa học và hoàn bị.
Xem thêm

21 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT LÊ NIN BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TRONG TP KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG THỜI ĐẠI CCVS Ý NGHĨA VIỆC NHẬN THỨC VỀ TKQĐ Ở VIỆT NAM

TIỂU LUẬN TRIẾT LÊ NIN BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TRONG TP KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG THỜI ĐẠI CCVS Ý NGHĨA VIỆC NHẬN THỨC VỀ TKQĐ Ở VIỆT NAM

Lịch sử tư tưởng nhân loại phát triển như một dòng chảy liên tục, mặc dù có những bước quanh co, nhưng về cơ bản là không ngừng tiến lên cùng với sự phát triển trình độ nhận thức của con người. Khi triết học Mác ra đời, đánh dấu một bước ngoặt cách mạng vĩ đại trong lịch sử tư tưởng, tạo ra sự nhảy vọt về chất trong triết học, một hệ thống triết học khác về chất so với tất cả các hệ thống triết học trong lịch sử, sự ra đời đó phù hợp với quy luật khách quan. Trong đó, chủ nghĩa duy vật lịch sử oiư shai phát kiến vĩ đại về học thuyết hình thái kinh tế xã hội, phát kiến về học thuyết giá trị thặng dư được đánh giá là một nội dung bước ngoặt cách mạng, bên cạn đó những nội dung khác, như: học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp .... đã làm cho chủ nghĩa Mác – Lê nin trở thành là một lý luận khoa học và hoàn bị.
Xem thêm

30 Đọc thêm

hướng dẫn tự học ôn thi môn mác lenin 1

HƯỚNG DẪN TỰ HỌC ÔN THI MÔN MÁC LENIN 1

Chương mở đầuNHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNINI. Khái lược về chủ nghĩa và chủ nghĩa Mác Lênin 1. Chủ nghĩa Mác Lênin và ba bộ phận cấu thành. Chủ nghĩa Mác Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học do C.Mác, Ph.Ăngghen xây dựng, V.I.Lênin bảo vệ và phát triển; được hình thành và phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn và kế thừa những giá trị tư tưởng của nhân loại; là thế giới quan, phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người. Chủ nghĩa Mác Lênin được cấu thành bởi ba bộ phận: Triết học Mác Lênin, Kinh tế chính trị Mác Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học.+ Triết học Mác Lênin nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, xây dựng thế giới quan và phương pháp luận chung của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng.+ Kinh tế chính trị Mác Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển, suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.+ Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu làm sáng tỏ những quy luật khách quan của quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.2. Khái lược sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác Lênin. a, Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác. Điều kiện kinh tế xã hội.+ Chủ nghĩa Mác Lênin ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh mẽ. Các cuộc cách mạng công nghiệp đã đánh dấu bước chuyển biến từ nền sản xuất thủ công tư bản chủ nghĩa sang nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa.+ Mâu thuẫn sâu sắc giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa với quan hệ sản xuất mang tính chất tư nhân tư bản chủ nghĩa bộc lộ qua cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1825 và hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân chống lại chủ tư bản, tiêu biểu: cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Lyông (Pháp) năm 1831, 1834; Phong trào Hiến chương ở (Anh) từ năm 1835 – 1848; Cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Xilêdi (Đức) năm 1844…+ Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản đặt ra yêu cầu khách quan là cần có lý luận khoa học soi đường. Chủ nghĩa Mác ra đời đáp ứng yêu cầu khách quan đó. Tiền đề lý luận.+ Triết học cổ điển Đức, tiêu biểu là tư tưởng triết học của G.W.Ph.Hêghen và L.Phoiơbắc đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác.+ Kinh tế chính trị cổ điển Anh với các đại biểu lớn: A.Xmít và Đ.Ricácđô đã góp phần tích cực vào quá trình hình thành các quan niệm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác.+ Chủ nghĩa xã hội không tưởng với các nhà tư tưởng tiêu biểu: H.XanhXimông, S.Phuriê, R.Ôoen. Chủ nghĩa xã hội không tưởng mang tinh thần nhân đạo, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản, dự đoán về những đặc trưng cơ bản của xã hội tương lai. Nhưng chủ nghĩa xã hội không tưởng chưa luận chứng được cho vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Tiền đề khoa học tự nhiên.+ Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng đã chứng minh khoa học về sự không tách rời nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau và được bảo toàn các hình thức vận động của vật chất.+ Thuyết tiến hóa đã đem lại cơ sở khoa học về sự phát sinh, phát triển đa dạng bởi tính di truyền, biến dị và mối liên hệ hữu cơ giữa các loài thực vật, động vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên.+ Thuyết tế bào là một căn cứ khoa học chứng minh sự thống nhất về mặt nguồn gốc, hình thái và cấu tạo vật chất của cơ thể thực vật, động vật và giải thích quá trình phát triển trong mối liên hệ của chúng. b, Giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác. Giai đoạn từ những năm 1842 1843 đến những năm 1847 1948.+ Những tác phẩm tiêu biểu như Bản thảo kinh tế triết học năm 1844, Gia đình thần thánh (1845), Luận cương về Phoiơbắc (1845), Hệ tư tưởng Đức (1845,1846),… đã thể hiện rõ nét việc Mác và Ăngghen kế thừa tinh hoa trong quan điểm duy vật và phép biện chứng của các bậc tiền bối để xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật.+ Đến những tác phẩm Sự khốn cùng của triết học (1847), Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848), chủ nghĩa Mác đã được trình bày như một chỉnh thể các quan điểm nền tảng với ba bộ phận lý luận cấu thành của nó. Giai đoạn từ năm 1849 đến năm 1895.Những tác phẩm tiêu biểu như bộ Tư bản đã làm sáng tỏ quy luật hình thành, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản; sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội và sứ mệnh của giai cấp công nhân; tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta (1875) đã đề cập đến những vấn đề về nhà nước chuyên chính vô sản, về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, những giai đoạn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa cộng sản… c, Giai đoạn bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác. Bối cảnh lịch sử và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác.+ Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Bản chất bóc lột và thống trị của chủ nghĩa tư bản ngày càng bộc lộ rõ nét, mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản ngày càng sâu sắc.+ Khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ, nhiều thành tựu mới trong lĩnh vực khoa học ra đời đặc biệt trong vật lý học, nhưng một số nhà khoa học tự nhiên do bấp bênh về phương pháp luận triết học duy vật nên rơi vào tình trạng khủng hoảng về thế giới quan. Sự khủng hoảng này bị các nhà triết học duy tâm lợi dụng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và hành động của các phong trào cách mạng.+ Thời kỳ này ở nước Nga, chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa xét lại… đã mang danh đổi mới chủ nghĩa Mác.→ Thực tiễn mới đặt ra yêu cầu phải phân tích, khái quát những thành tựu mới của sự phát triển khoa học tự nhiên nhằm tiếp tục phát triển thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác. Vai trò của V.I.Lênin đối với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác.+ Những năm 1893 1907 , với các tác phẩm như: Những “người bạn dân là thế nào” và họ đấu tranh chống những người dân chủ xã hội ra sao? (1894); Làm gì (1902); Hai sách lược của đảng dân chủ xã hội trong cách mạng dân chủ (1905). Lênin đã phê phán quan điểm sai lầm của các phái duy tâm đang nổi lên trong quan điểm về lịch sử xã hội, đồng thời ông cũng đã phát triển chủ nghĩa Mác về những vấn đề phương pháp cách mạng, nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan, vai trò của quần chúng nhân dân…+ Những năm 1907 1917, các tác phẩm tiêu biểu như: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1909), Bút ký triết học (19141916)… Lênin không chỉ bảo vệ thành công mà còn phát triển chủ nghĩa Mác lên một tầm cao mới. Đặc biệt sau cách mạng tháng Mười Nga thành công năm 1917, thực tiễn cách mạng của quần chúng nhân dân đặt ra những yêu cầu mới, Lênin đã tổng kết thực tiễn cách mạng của quần chúng và phát triển chủ nghĩa Mác về nhân tố quyết định thắng lợi của một chế độ xã hội, về giai cấp, về hai nhiệm vụ cơ bản của giai cấp vô sản… d, Chủ nghĩa Mác Lê nin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới. Chủ nghĩa Mác ra đời đã ảnh hướng lớn lao đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc cách mạng tháng Ba năm 1871 ở Pháp có thể coi là sự kiểm nghiệm vĩ đại đối với tư tưởng của chủ nghĩa Mác. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một kiểu nhà nước kiểu mới nhà nước chuyên chính vô sản (Công xã Pari) được thành lập. Tháng Tám năm 1903, chính đảng vô sản đầu tiên của giai cấp vô sản được xây dựng theo tư tưởng của chủ nghĩa Mác Đảng Bôsêvích Nga. Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân loại, chứng minh tính hiện thực của chủ nghĩa Mác Lênin trong lịch sử. Năm 1919 Quốc tế Cộng sản được thành lập; năm 1922, liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết ra đời. Sau chiến tranh thế giới thứ hai một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ra đời như Ba Lan, Rumani, Hunggari, Việt Nam, Tiệp Khắc, Anbani… Cuối những năm 80 của thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa khủng hoảng và rơi vào thoái trào, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào những năm 90 của thế kỷ XX. Mặc dù vậy, tư tưởng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trên phạm vi toàn cầu; quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội vẫn được khẳng định ở nhiều quốc gia và chiều hướng theo con đường xã hội chủ nghĩa vẫn lan rộng ở các nước khu vực Mỹ Latinh. Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: “Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường, song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có. Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra những bước tiến mới”.II. Đối tượng, mục đích và yêu cầu về phương pháp học tập, nghiên cứu môn học Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác Lênin 1. Đối tượng và mục đích của việc học tập, nghiên cứu. Đối tượng của việc học tập, nghiên cứu môn học là những quan điểm cơ bản, nền tảng và mang tính chân lý bền vững của chủ nghĩa Mác Lênin trong phạm vi ba bộ phận lý luận cấu thành nó. Mục đích của việc học tập, nghiên cứu môn học là: + Nắm vững những quan điểm khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác Lênin; hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng.+ Xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, xây dựng niềm tin và lý tưởng cách mạng.+ Vận dụng sáng tạo trong hoạt động nhận thức và thực tiễn đáp ứng yêu cầu của con người Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu. Những luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin được thể hiện trong những bối cảnh cụ thể khác nhau, nên khi học tập, nghiên cứu cần phải hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; chống xu hướng kinh viện, giáo điều. Sự hình thành phát triển những luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin là một quá trình, nên khi học tập nghiên cứu cần phải đặt chúng trong mối liên hệ với các luận điểm khác. Phải gắn những luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn thời đại để thấy sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin của Đảng ta trong từng giai đoạn lịch sử. Quá trình học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin đồng thời là quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu dưỡng và rèn luyện để từng bước hoàn thiện mình trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống cộng đồng xã hội. Quá trình học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin đồng thời phải là quá trình tổng kết, đúc kết kinh nghiệm để góp phần phát triển tính khoa học và tính nhân văn vốn có của nó. Chương 1CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNGI. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy vật biện chứng 1. Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó.Ăngghen nói: Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của các nhà triết học Vấn đề cơ bản của triết học bao gồm hai mặt: Mặt 1 Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Mặt 2 Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Cơ sở để phân biệt CNDV và CNDT là việc giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học như thế nào:+ CNDT cho rằng ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất Các hình thức của CNDT CNDT chủ quan: họ thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người và khẳng định tất cả mọi sự vật hiện tượng chỉ là phức hợp của cảm giác. CNDT khách quan: thừa nhận tinh thần khách quan, ý thức khách quan (chúa, thượng đế, ý niệm, tinh thần tuyệt đối) là cái tồn tại trước, quyết định thế giới vật chất. CNDT gần gũi với tôn giáo, nó bắt nguồn từ việc xem xét phiến diện, tuyệt đối hoá vai trò của thần thánh.+ CNDV cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức, ý thức chỉ là sự phản ánh của thế giới vật chất vào đầu óc con người.Các hình thức của CNDV CNDV chất phác thô sơ, trực quan, cảm tính CNDV siêu hình CNDV biện chứng Giải quyết mặt thứ hai trong vấn đề cơ bản của triết học chia quan điểm nhận thức thành hai phái:+ Khả tri luận: bao hàm những quan điểm thừa nhận khả năng nhận thức của con người+ Bất khả tri luận: bao hàm những quan điểm phủ nhận khả năng nhận thức của con người. 2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật.Chủ nghĩa duy vật được hình thành và phát triển với ba hình thức: Chủ nghĩa duy vật chất phát, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại. Là hình thức sơ khai của CNDV. Đặc điểm của chủ nghĩa duy vật chất phác là mặc dù thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, song đã lý giải toàn bộ thế giới được sinh thành từ một hoặc một số dạng vật chất cụ thể, cảm tính. Tuy còn hạn chế nhưng họ đã lấy bản thân vật chất của tự nhiên để giải thích về tự nhiên. Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật, thể hiện khá rõ từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII và đạt đỉnh cao vào đầu thế kỷ XIX. Đặc điểm lớn nhất là phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức về thế giới. Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do C. Mác và Ph. Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX và được Lênin bảo vệ và phát triển. Chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời trên cơ sở kế thừa những giá trị của lịch sử triết học và những thành tựu quan trọng của khoa học tự nhiên thời kỳ đó, nó đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác cổ đại và chủ nghĩa duy vật siêu hình. Trên cơ sở phản anh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã trở thành công cụ vĩ đại cho hoạt động nhân thức khoa học và thực tiễn cách mạng.II. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 1. Vật chất.a) Phạm trù vật chất. Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên 2500 năm. Ngay từ thời cổ đại, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.CNDT cho rằng cơ sở của mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần nào đó, còn vật chất là sản phẩm của bản nguyên tinh thần, như là: chí của thượng đế, ý niệm tuyệt đối....CNDV cho rằng cơ sở của mọi tồn tại là vật chất, là cái tồn tại vĩnh cửu tạo nên mọi sự vật hiện tượng cùng với những thuộc tính của nó. Thời cổ đại các nhà triết học đã đồng nhất vật chất với một số chất tự có, là cơ sở đầu tiên của thế giới: “giới hạn tột cùng”. Chẳng hạn: Trung Quốc cho những hạt vật chất đầu tiên ấy là Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ; Ở Hy Lạp, Talet cho những hạt vật chất đầu tiên ấy là nước, Hêracrit quan niệm là Lửa, Đêmôcrit khẳng định là nguyên tử. Nguyên tử là phần tử cực nhỏ, cứng, không thể xâm nhập được. Sự kết hợp hoặc tách rời của nguyên tử mà tạo nên sự đa dạng của thế giới. Và quan niệm này giữ cho đến tận thế kỷ XX). Thế kỷ XVII, XVIII quan niệm của các nhà triết học Tây Âu cận đại: Ph. Bêcơn, R.Đềcáctơ, T.Hôpxơ... không có thay đổi trong quan niệm về vật chất. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, với một loạt những phát minh khoa học làm cho con người hiểu biết sâu sắc hơn về nguyên tử. Năm 1895, Rơghen phát hiện ra tia X. Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ. Năm1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử và đã chứng minh được điện tử là một phần cấu tạo nên nguyên tử. Năm1901, Kaufman đã chứng minh được khối lượng của điện tử không phải là khối lượng tĩnh mà thay đổi theo tốc độ vận động của điện tử. Những phát minh trên đã bác bỏ quan điểm duy vật về những chất được coi là “giới hạn tột cùng”. Tạo nên cuộc khủng hoảng trong nghiên cứu vật lý. Chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng để khẳng định bản chất “phi vật chất” của thế giới và khẳng định vai trò của lực lượng siêu nhiên trong việc tạo ra thế giới. Trước hoàn cảnh đó, Lênin đã tổng kết những thành tựu của khoa học tự nhiên và chỉ rõ ý đồ xuyên tạc những thành tựu khoa học của chủ nghĩa duy tâm. Từ đó, ông đưa ra định nghĩa vật chất: Định nghĩaVật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Ở định nghĩa này Lênin đã phân biệt những vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất Cần phân biệt khái niệm “vật chất” – phạm trù triết học (khái quát thuộc tính chung nhất, cơ bản nhất và phổ biến nhất) với khái niệm “vật chất” được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành. Thứ hai Thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất là tồn tại khách quan, tồn tại ngoài ý thức, độc lập không phụ thuộc vào ý thức của con người, cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó. Thứ ba Vật chất, dưới các hình thức cụ thể của nó có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các giác quan của con người; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất; vật chất là cái được ý thức phản ánh Ý nghĩa: Một là: bằng việc tìm ra thuộc tính cơ bản nhất là tồn tại khách quan, Lênin đã phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa khái niệm vật chất với tư cách là phạm trù triết học với khái niệm vật chất với tư cách của các khoa học chuyên ngành. Từ đó, khắc phục được hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp căn cứ nhận thức khoa học để xác định những gì thuộc về vật chất; tạo lập cơ sở lý luận cho việc xây dựng những quan điểm duy vật về lịch sử, khắc phục được những hạn chế duy tâm trong quan niệm về xã hội. Hai là: Lênin đã khẳng định tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức theo quan điểm duy vật; khẳng định con người có thể nhận thức được thực tại khách quan thông qua sự “chép lại, chụp lại, phản ánh” của con người đối với thực tại khách quan.b) Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất.Ph. Ăngghen định nghĩa: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy” Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, là phương thức tồn tại của vật chất. Nghĩa là, vật chất tồn tại bằng cách vận động, thông qua vận động mà vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình. Vận động của vật chất là tự thân vận động. Vận động được tạo nên từ sự tác động lẫn nhau của chính các thành tố nội tại trong cấu trúc vật chất.Ăngghen đã phân chia vận động của vật chất thành 5 hình thức vận động cơ bản: Vận động cơ học: Sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian Vận động vật lý: Vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, các quá trình nhiệt, điện... Vận động hoá học: Sự biến đổi các chất vô cơ, hữu cơ trong quá trình hóa hợp và phân giải Vận động sinh học: Sự biến đổi của các cơ thể sống, biến thái cấu trúc gen… Vận động xã hội: Sự biến đổi trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,... của đời sống xã hội.Lưu ý: Các hình thức vận động trên khác nhau về chất Các hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp, bao hàm trong nó các hình thức vận động thấp hơn. Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vận động khác nhau, nhưng bao giờ cũng được đặc trưng bằng một hình thức vận động cơ bản. Đặc điểm cơ bản của đứng im tương đối, tạm thời: Hiện tượng đứng im tương đối chỉ xảy ra trong một mối quan hệ nhất định chứ không phải trong mọi mối quan hệ cùng lúc. Đứng im chỉ xảy ra với một hình thái vận động trong một lúc nào đó, chứ không phải với mọi hình thức vận động trong cùng một lúc. Đứng im là một trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối. Vận động cá biệt có xu hướng hình thành sự vật hiện tượng ổn định nào đó, còn vận động nói chung, tức là sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng làm cho tất cả không ngừng biến đổi. Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất: Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính (chiều cao, chiều rộng, chiều dài) nhất định và tồn tại trong các mối tương quan nhất định (trước hay sau, trên hay dưới, bên phải hay bên trái…) với những dạng vật chất khác. Sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa… Tính chất của không gian và thời gian:+ Tính khách quan: Không gian và thời gian luôn gắn liền với vật chất. Vật chất tồn tại khách quan thì không gian và thời gian cũng tồn tại khách quan.+ Tính vĩnh cửu và vô tận. Nghĩa là không có tận cùng về một phía nào cả, cả quá khứ lẫn tương lai, cả phía trên lẫn phía dưới, cả đằng trước lẫn đằng sau.+ Không gian luôn có 3 chiều: chiều dài, c
Xem thêm

53 Đọc thêm

Tiểu luận: Phép biện chứng là một khoa học triết học, vì vậy nó cũng phát triển từ thấp tới cao mà đỉnh cao là phép biện chứng duy vật Mác

TIỂU LUẬN: PHÉP BIỆN CHỨNG LÀ MỘT KHOA HỌC TRIẾT HỌC, VÌ VẬY NÓ CŨNG PHÁT TRIỂN TỪ THẤP TỚI CAO MÀ ĐỈNH CAO LÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT MÁC

Phép biện chứng là một khoa học triết học, vì vậy nó cũng phát triển từ thấp tới cao mà đỉnh cao là phép biện chứng duy vật Mác

Phép biện chứng là một khoa học triết học, vì vậy nó cũng phát triển từ thấp tới cao mà đỉnh cao là phép biện chứng duy vật Mác - xít của triết học Mác - Lênin. (hỗ trợ đề 1)
1. Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời của phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật ra đời trong điều kiện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang phát triển, cuộc đấu tranh giai cấp giữa vô sản và tư sản đã cung cấp thực tiễn cho C. Mác và Ph. Ănghen để đúc kết và kiểm nghiệm lý luận về phép biện chứng. Dựa trên cơ sở thành tựu khoa học tự nhiên (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX) đi vào hệ thống hoá tài liệu khoa học thực nghiệm. Đây là hai tiền đề thực tiễn rất quan trọng cho sự ra đời của phép biện chứng duy vật.

Tiền đề lý luận của phép biện chứng duy vật chính là phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Các ông đã tách ra cái hạt nhân hợp lý vốn có của nó là phép biện chứng và vứt bỏ cách giải thích hiện tượng tự nhiên xã hội và tư duy một cách thần thánh hoá tư duy, nói cách khác các ông đã cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm Hêghen.

Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, trong khi đó các học thuyết triết học trước đây duy vật nhưng siêu hình (Triết học cận đại) hoặc biện chứng nhưng duy tâm (cổ điển Đức). Phép biện chứng duy vật không chỉ duy vật trong tự nhiên mà đi đến cùng trong lĩnh vực xã hội, do đó các ông đã xây dựng sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử.

2. Nội dung chính của phép biện chứng duy vật
Theo C. Mác: Biện chứng khách quan là cái có trước, còn biện chứng chủ quan (tư duy biện chứng) là cái có sau và là phản ánh của biện chứng khách quan, đây là sự khác nhau giữa phép biện chứng duy vật của ông với phép biện chứng duy tâm của Hêghen. C. Mác cho rằng ông chỉ làm cái công việc là đặt phép biện chứng duy tâm của Hêghen "đứng trên hai chân của mình" tức là đứng trên nền tảng duy vật.

Theo C. Mác thì phép biện chứng chính là "khoa học về mối liên hệ phổ biến trong tự nhiên xã hội và tự nhiên, trong tư duy". Theo Lênin thì phép biện chứng là "học thuyết về sự phát triển đầy đủ, sâu sắc và toàn diện nhất, học thuyết về tính tương đối của sự vật".

Ba mối liên hệ chủ yếu trong phép biện chứng duy vật là: 1. Mối liên hệ cùng tồn tại và phát triển; 2. Mối liên hệ thâm nhập lẫn nhau tuy có sự khác nhau nhưng vẫn có sự giống nhau; 3. Mối liên hệ về sự chuyển hoá vận động và phát triển. Các mối liên hệ được khái quát thành các cặp phạm trù như (phần tử - hệ thống, nguyên nhân - kết quả, lượng - chất) và các quy luật (quy luật lượng - chất, quy luật đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập, quy luật phủ định của phủ định).
Xem thêm

118 Đọc thêm

Tiểu luận: Khả năng – hiện thực, lý luận và thực tiễn quản lý doanh nghiệp

TIỂU LUẬN: KHẢ NĂNG – HIỆN THỰC, LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP

Tiểu luận: Khả năng – hiện thực, lý luận và thực tiễn quản lý doanh nghiệp

Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung của tồn tại và nhận thức. Triết học được coi là “khoa học của mọi khoa học”, nội dung chính của nó bàn về con người và vị trí của con người trong thế giới mà họ đang sinh sống, có lẽ chính vì vậy mà triết học vừa mang tính tổng quát vừa mang tính cụ thể đối với mọi hoạt động trong xã hội cả về lý luận và thực tiễn.
Cùng với sự phát triển của xã hội trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người, các ngành khoa học nói chung và triết học nói riêng cũng có những bước phát triển mạnh mẽ và nằm trong tiến trình phát triển đó, triết học Mác Lênin ra đời như một sự tất yếu ngẫu nhiên. Không chỉ đứng trên lập trường của giai cấp công nhân (giai cấp tiến bộ nhất) để quan sát, phản ánh và lý giải về vấn đề con người và vị trí của con người trong thế giới tự nhiên cũng như mọi hiện tượng, các mối quan hệ giữa con người với con người trong đời sống kinh tế xã hội, triết học Mác – Lênin còn là sự phát triển hợp lôgíc của lịch sử tư tưởng nhân loại. Triết học Mác –Lênin là sự kế thừa có chọn lọc, là sự kết hợp thế giới quan duy vật và phép biện chứng của các nhà triết học đi trước, đồng thời phát triển nó ở một trình độ cao hơn để rồi nó không chỉ là thế giới quan của giai cấp công nhân, mà như Ăngghen khẳng định, nó còn trở thành sự cần thiết tuyệt đối, trở thành hình thức tư duy quan trọng nhất, cao nhất, thích hợp nhất với sự phát triển của khoa học. Nó đem lại cho khoa học hiện đại những chức năng có ý nghĩa phương pháp luận trong việc xem xét, luận giải bản thân sự phát triển của mình.
Trong kho tàng tri thức đồ sộ của mình, xuất phát từ những vấn đề tưởng chừng là rất đơn giản như những nguyên lý, quy luật và các cặp phạm trù cơ bản … Mác, Ăngghen và Lênin đã chỉ ra con đường phát triển xã hội của nhân loại từ thấp đến cao thông qua cả lý luận và thực tiễn. Các tư tưởng đó đã được rất nhiều quốc gia trên thế giới vận dụng một cách sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của quốc gia mình.
Đối với Việt Nam chúng ta, một đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh chính nghĩa để bảo vệ tổ quốc, Đảng ta luôn khẳng định lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, triết học Mác Lênin nói riêng làm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình. Đảng ta đã vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo triết học Mác Lênin, Chủ nghĩa Mác – Lênin nên đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Mặc dù không đi vào các vấn đề mang tính cụ thể mà chỉ đưa ra những quan điểm, chủ trương, giải pháp một cách chung nhất về con người và các vấn đề có liên quan đến con người trên phạm vi toàn thế giới, nhưng trong lĩnh vực sản xuất nói chung triết học Mác – Lênin cũng đã chỉ ra rất nhiều vấn đề có liên quan đến công tác sản xuất và quản lý sản xuất của các doang nghiệp như: mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; các mối liên hệ phổ biến (ta cụ thể hóa trong các hoạt động sản xuất kinh doanh); chỉ ra mâu thuẫn nội tại; quy trình của sự phát triển … mà trên cơ sở đó từng doanh nghiệp có thể vận dụng một cách linh hoạt trong điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mình.
Nhận thức được vai trò cực kỳ quan trọng của triết học Mác – Lênin đối với đời sống xã hội nói chung và hoạt động cụ thể của mỗi doanh nghiệp nói riêng nên tác giả đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu về triết học Mác – Lênin và sự vận dụng vào thực tiễn trong công tác quản lý doanh nghiệp hiện nay. Cùng với sự hiểu biết của bản thân, sự giảng dạy và hướng dẫn tận tâm của thầy giáo PGSTS. Lê Thanh Sinh, tác giả hy vọng sẽ làm rõ được những vấn đề mà hiện nay các doanh nghiệp có thể vận dụng từ lý luận của triết học Mác – Lênin nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng cường tính cạnh tranh trong nước và quốc tế ... Tuy nhiên do khối lượng kiến thức của triết học Mác – Lênin quá đồ sộ, pham vi nghiên cứu quá rộng trong khi điều kiện về thời gian, trình độ có hạn nên tác giả đã giới hạn đề tài nghiên cứu của mình là: “Khả năng – Hiện thực, lý luận và thực tiễn quản lý doanh nghiệp” với hy vọng sẽ có được sự hiểu biết vững chắc hơn, toàn diện hơn, đầy đủ hơn lý luận của triết học Mác – Lênin về cặp phạm trù Khả năng – Hiện thực và khả năng vận dụng vào thực tiễn quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Xem thêm

22 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GIÁ TRỊ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT, Ý NGHĨA TRONG LĨNH VỰC QUÂN SỰ HIỆN NAY

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC GIÁ TRỊ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT, Ý NGHĨA TRONG LĨNH VỰC QUÂN SỰ HIỆN NAY

Sự ra đời chủ nghĩa Mác là một bước ngoặc cách mạng trong triết học. Nội dung quan trọng nhất của cuộc cách mạng khoa học này là việc xây dựng chủ nghĩa duy vật biện chứng, một triết học hoàn toàn mới về nguyên tắc, khác về căn bản tất cả các triết học trước đó. Triết học Mác đã mở ra cách nhìn nhận mới về thế giới vật chất và xem xét các sự vật hiện tượng theo một hướng mới là trong mối liên hệ, tác động lẫn nhau, đối lập nhau cùng phát triển. Cuộc khoa học cách mạng này không chỉ là phá vỡ cái cũ, mà chủ yếu là sáng tạo, xây dựng cái mới, kế thừa, phát triển di sản triết học nhân loại, xây dựng nên triết học mới đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Xem thêm

30 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ TRONG TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC”

TIỂU LUẬN CAO HỌC CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ TRONG TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC”

Trong sự hình thành và phát triển triết học Mác, “Hệ tư tưởng Đức” (tháng 11 năm 1845 tháng 4 năm 1846) là tác phẩm chiếm vị trí đặc biệt quan trọng và mang một ý nghĩa lớn lao. Trong tác phẩm này, những tư tưởng cơ bản về một thế giới quan mới thế giới quan duy vật biện chứng đã được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày một cách tương đối hoàn chỉnh. Cũng ở đây, một trong hai phát kiến vĩ đại tạo nên bước ngoặt lịch sử trong các học thuyết xã hội và làm nên thực chất của cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại quan niệm duy vật về lịch sử lần đầu tiên đã được các ông trình bày một cách toàn diện chi tiết. Và với việc đề xuất một thế giới quan triết học mới, với việc phát hiện ra quan niệm duy vật về lịch sử, các ông đã bước đầu đặt ra cơ sở lý luận cho chủ nghĩa cộng sản khoa học chủ nghĩa duy vật thực tiễn. Chính vì vậy, 160 năm qua, kể từ khi ra đời đến nay, “Hệ tư tưởng Đức” đã đi vào lịch sử hình thành và phát triển triết học Mác với tư cách nền tảng, bước ngoặt cách mạng và cùng với nhiều tác phẩm khác của C.Mác và Ph.Ăngghen, làm nên cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học và trở thành vũ khí tinh thần không thế thiếu của giai cấp vô sản toàn thế giới trong công cuộc cải tạo xã hội bằng thực tiễn cách mạng. Giờ đây, trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, ý nghĩa lớn lao này của “Hệ tư tưởng Đức” vẫn còn nguyên giá trị.
Xem thêm

15 Đọc thêm

MỐI QUAN hệ GIỮA TRIẾT học và KHOA học, ý NGHĨA của nó TRONG sự PHÁT TRIỂN của KHOA học và TRIẾT học HIỆN NAY

MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC, Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC VÀ TRIẾT HỌC HIỆN NAY

Triết học và khoa học là những hình thái ý thức xã hội đặc thù phản ánh các lĩnh vực khác nhau của thế giới. Chúng xuất hiện, tồn tại, vận động và phát triển trên cơ sở của những điều kiện kinh tế xã hội và chịu sự chi phối của những quy luật nhất định. Đồng thời, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Trong những năm gần đây, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển như vũ bão, cũng như những biến động cách mạng lớn lao làm thay đổi tận gốc rễ bộ mặt của đời sống xã hội, đòi hỏi các nhà triết học và các nhà khoa học chuyên môn giải quyết đúng đắn và kịp thời những yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách. Sự giải đáp này chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở nắm vững và vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác Lênin. Do đó việc nghiên cứu những vấn đề về mối quan hệ giữa triết học và khoa học, vấn đề về chức năng phương pháp luận của triết học đối với các khoa học có ý nghĩa quan trọng.
Xem thêm

12 Đọc thêm