PHẬT GIÁO, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới tiêu đề " Phật giáo, quá trình hình thành và phát triển":

ĐỀ TÀI PHẬT GIÁO QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

ĐỀ TÀI PHẬT GIÁO QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

trình mang tính quy mô to lớn, vượt hẳn thời trước và cả những thời sau đó.Như nền chùa Quế Giạm ( Quế Võ- Hà Bắc) trải rộng trên một diện tích vớinhững vết tích còn lại gồm ba cấp trải rộng trên một diện tích gần 120 mét,rộng 70 mét. Các ngôi tháp đời lý gồm nhiều tầng, cao chót vót: Tháp Bảo thiên cao vài mươi trượng ( khoảng trên 60 mét) gồm 12 tầng, tháp Sùngthiện-diên- linh ( chùa Đọi, Duy Tiên, Nam Hà) cao 13 tầng, tượng Phật Dilặc chùa Quỳnh Lâm( Đông Chiều, Quảng Ninh) cao 6 trượng, khoảng 20 m.Chùa Một Cột là một sách tạo về nghệ thuật, tượng trưng cho 1 toà sen nởtrên mặt nước. Những kiến trúc đó thường hoà hợp với cảnh trí thiên nhiênchung quanh tạo nên một khung cảnh kiến trúc hài hoà với ngoại cảnh.Nghệ thuật kiến trúc của đời Lý lại được đời Trần kế tục truyền thống vàphát triển mang tính chất phóng khoáng, khoẻ và hiện thực hơn. Tháp PhổMinh, Bình Sơn là những công trình kiến trúc có giá trị ở đời Trần, ThápBình Sơn cao 11 tầng, có bố cục chặt chẽ cân xứng.Sang đời nhà Nguyễn nghệ thuật kiến trúc có chiều hướng ngày càng sasút, tuy nhiên cũng có những sáng tạo nhất định như Văn Miếu ( Hà Nội) vàmột số đình, chùa ở các làng. Đỉnh cao của kiến trúc nhà Nguyễn là chùa TâyPhương( Thạch Thất, Hà Tây) xây dựng thành ba lớp là lối kiến trúc phổ biếncủa các chùa trong nam. Chùa Tây Phương cũng là nơi tập trung nhiều phoPhạm Đình Bôn_Hệ Thống Thông Tin K30_ĐHSP Đà NẵngTrang 23tượng có giá trị, trong đó nổi tiếng nhất là chùa Tuyết Sơn và mười tám vị LaHán. Các bức tượng lấy đề tài trong sự tích đạo Phật nhưng vẫn thế hiệnnhững con người Việt Nam Hiện thực và gợi cảm.Ngày nay, những nghệ thuật, kiến trúc đó vẫn còn tồn tại và được trùng tu,sửa sang để làm nơi du lịch của khách thập phương và nơi lễ bái của nhân dântrong vùng. Những công trình đó tuy mang đậm dấu ấn Phật giáo nhưng vẫnlà sáng tạo nghệ thuật dân gian phản ánh đời sống tinh thần của con ngườiViệt Nam xưa.III. ĐẠO PHẬT VỚI CHIẾN TRANH VÀ HOÀ BÌNH Ở VIỆT NAM.
Xem thêm

29 Đọc thêm

NGUỒN GỐC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

NGUỒN GỐC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

NỘI DUNG BÀI GIẢNGI. KHÁI NIỆM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINHII. NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINHIII. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂNTƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINHI. KHÁI NIỆM TƯ TƯỞNG HỒCHÍ MINH1. Bối cảnh xuất hiện TT Hồ Chí Minha. Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX- Xã hội Việt Nam trước khiPháp xâm lược: Việt Nam làQuốc gia phong kiến độc lập- Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858) vàhiệp định Patơnốt (1884) được ký kết, xã hội ViệtNam bước sang giai đoạn mới và trở thành xã hộithuộc địa nửa phong kiến.- Đầu thế kỷ XX, bối cảnh xã hội ViệtNam đặt dân tộc chống cảTriều lẫnTây.Các cuộc khởi nghĩa của nông dân và
Xem thêm

45 Đọc thêm

Quá trình hình thành và phát triển của thị trường ngoại hối việt nam

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM

Quá trình hình thành và phát triển của thị trường ngoại hối việt nam

23 Đọc thêm

Lịch sử phát triển của Phật giáo tại Việt Nam

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO TẠI VIỆT NAM

Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học – tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại đã rất lâu đời, hệ thống giáo lý đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo. Từ rất lâu, đạo Phật đã trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt Nam, bên cạnh Nho giáo, Thiên chúa giáo… Phật học đã đồng hành cũng quá trình dựng nước, giữ nước của người Việt và góp phần tạo nên bản sắc văn hoá độc đáo của dân tộc.
Tuy nhiên, không phải giai đoạn lịch sử nào Phật học cũng giữ vai trò tôn giáo chủ đạo, chi phối nhận thức và hành vi của người Việt. Trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết tư tưởng chủ đạo, tồn tại song song cùng với các tư tưởng tôn giáo khác. Trong đó, Phật giáo vẫn là tôn giáo có ảnh hưởng sâu đậm trong tư tưởng, tình cảm, ý thức hệ của người Việt Nam. Việc xóa bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của Phật giáo là không thể nên chúng ta cần phải biến nó trở thành công cụ phục vụ mục tiêu của thời kỳ quá độ. Do vậy, việc nghiên cứu tư tưởng Triết học của Phật giáo và những ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa, tinh thần của người Việt là cần thiết để hiểu rõ tâm lý, nhân sinh quan, thế giới quan của nhân dân. Điều này sẽ giúp định hướng nhân cách, lối sống của người Việt một cách đúng đắn, tránh mê tín, dị đoan, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của nhân dân và tác động tiêu cực đến quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Xem thêm

37 Đọc thêm

VÌ SAO PHẬT GIÁO RẤT PHÁT TRIỂN DƯỚI THỜI LÝ, TRẦN NHƯNG ĐẾN THỜI LÊ LẠI KHÔNG PHÁT TRIỂN ?

VÌ SAO PHẬT GIÁO RẤT PHÁT TRIỂN DƯỚI THỜI LÝ, TRẦN NHƯNG ĐẾN THỜI LÊ LẠI KHÔNG PHÁT TRIỂN ?

Phật giáo rất phát triển dưới thời Lý, Trần đến thời Lê sơ lại không phát triển vì. Phật giáo rất phát triển dưới thời Lý, Trần đến thời Lê sơ lại không phát triển vì : -     Đạo Phật được truyền bá vào nước ta từ rất sớm, những tư tưởng của Phật giáo phù hợp với truyền thống của người Việt nên được tiếp thu và phổ biến rộng rãi, dần dần có ảnh hưởng kín trong xã hội. Các nhà sư có vị thế cao và có nhiều đóng góp cho đất nước. -     Thời Lý, Trần các nhà sư dược triều đình tôn trọng, được tham gia vào bàn bạc các công việc của đất nước. Vua quan và nhiều người theo đạo Phật, chùa chiền được xây dựng ở khắp nơi. -    Đến thời Lê sơ : + Cùng với việc hoàn thiện bộ máy nhà nước phong kiến theo hướng quân chủ chuyên chế thì những tư tưởng của Nho giáo đã trở thành công cụ để duy trì và bảo vệ trật tự của xã hội phong kiến. Vì vậy, Nho giáo được nâng lên chiếm vị trí độc tôn trong xã hội. + Nhà nước phong kiên đã ban hành nhiều điều lệ nhằm hạn chế sự phát triển của Phật giáo, đưa Phật giáo xuống hàng thứ yếu.
Xem thêm

1 Đọc thêm

NHÂN SINH QUAN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY.

NHÂN SINH QUAN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY.

Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên CNXH, chủ nghĩa Mác – Leenin là tử tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiến trúc hạ tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, tromg đó các triết lý Phật giáo đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng tình cảm của một số bộ phận lớn khu dân cư Việt Nam, hình thành nhân cách và tư duy con người Việt Nam với những giá trị đạo đức và nhân văn của Phật giáo.
Vậy tại sao, Phật giáo lại có sức sống mãnh liệt mãnh liệt qua thời gian và cho đến nay vẫn là một trong những tôn giáo lớn ở Việt Nam? Tìm hiểu về tư tưởng triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến xã hội và con người là một nội dung quan trọng của bài viết này.
Xem thêm

42 Đọc thêm

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOAKHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG------------------BÀI TẬP NHÓMQUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀPHÁT TRIỂN MẶT TRẬN DÂN TỘCTHỐNG NHẤTGIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : ThS. Nguyễn Đề ThủySINH VIÊN THỰC HIỆN : Nhóm 12LỚP: A03-BTP Hồ Chí Minh, ngày 2, tháng11 , năm 20161DANH SÁCH NHÓM 121. Lê Văn Tuấn..................................................................................................14143912. Bùi Thị Thu Thảo.........................................................................................14135993. Trần Đức Thắng............................................................................................14136774. Nguyễn Lam Hân.......................................................................................... 14111245. Phạm Phúc Hưng...........................................................................................14116266. Trịnh Văn Toản..............................................................................................14140777. Nguyễn Linh Bảo Giang..............................................................................V11009102
Xem thêm

9 Đọc thêm

Quá trình hình thành và phát triển của phôi thai người

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÔI THAI NGƯỜI

Quá trình hình thành và phát triển của phôi thai người

63 Đọc thêm

anh chị hãy nêu cảm nhận của mình về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất tân uyên

ANH CHỊ HÃY NÊU CẢM NHẬN CỦA MÌNH VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VÙNG ĐẤT TÂN UYÊN

anh chị hãy nêu cảm nhận của mình về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất tân uyên
anh chị hãy nêu cảm nhận của mình về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất tân uyên
anh chị hãy nêu cảm nhận của mình về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất tân uyên
anh chị hãy nêu cảm nhận của mình về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất tân uyên
anh chị hãy nêu cảm nhận của mình về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất tân uyên
Xem thêm

2 Đọc thêm

TIỂU LUẬN: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KHẢO CỔ HỌC VIỆT NAM

TIỂU LUẬN: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KHẢO CỔ HỌC VIỆT NAM

Bài tiểu luận Khảo Cổ HọcĐề tài: Qúa trình hình thànhphát triển của khảo cổ học Việt NamPHẦN MỞ ĐẦUKhảo cổ học là môn học cơ sở của ngành lịch sử cung cấp cho sinh viên nhữngkiến thức cơ bản về nguồn gốc và sự tiến hóa văn hóa nhân loại qua các thời đại từđá cũ đến giai đoạn hình thành nhà nước. Đặc thù của khoa học khảo cổ là phụcdựng lại đời sống của con người trong quá khứ thông qua việc nghiên cứu sử liệuvật thật trong bối cảnh tự nhiên và văn hóa. Từ những nghiên cứu này, Lịch sửnhân loại được trình bày trước hết qua cách thức tiếp cận từ những di tích, di vậtthực “mắt thấy, tai nghe” sẽ giúp sinh viên hình dung rõ hơn về cuộc sống của dântộc và nhân loại từ khởi đầu cho tới thời cận đại. Môn học chú trọng tới việc cậpnhật tri thức và những diễn giải mới về nguồn gốc và sự tiến hóa nhân loại nhằmlàm nổi bật luận điểm về tính thống nhất và sự phát triển đa dạng của văn hóangười cũng như nhấn mạnh vai trò của các di sản vật thể và phi vật thể trong đờisống nhân loại hiện nay.Bên cạnh việc cung cấp tri thức cụ thể về giai đoạn văn hóa, từng nền văn hóa,từng di tích, di vật, môn học còn giúp sinh viên làm quen với một ngành khoa học,những phương pháp và cách thức tiếp cận, nghiên cứu vấn đề, kể cả nhữngphương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại và mối quan hệ của khoa họckhảo cổ với các khoa học xã hội, nhân văn và kỹ thuật khác. Trong môn học nàythông qua một số phần cụ thể, công việc của một nhà khảo cổ từ điền dã đếnnghiên cứu hậu khai quật cũng sẽ được giới thiệu nhằm mục đích cho thấy đây làmột ngành khoa học luôn cố gắng đạt tới kết quả khái quát và khách quan cao nhấttrong diễn giải quá khứ.Từ việc xác định tầm quan trọng của khảo cổ học bài tiểu luận của tôi xin điểmlại và nét về quá trình hình thànhphát triển của khảo cổ học việc nam để thấyrõ bối cảnh ra đời và bước phát triển của khảo cổ học trong tiến trình lịch sử.Dosự hiểu biết còn hạn chế nên Bài tiểu luận “Qúa trình hình thành và phát triểncủa khảo cổ học Việt Nam” còn nhiều thiếu sót, rất mong được sự đóng góp củagiáo viên.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Quá trình hình thành và phát triển của đồng tiền

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐỒNG TIỀN

Quá trình hình thành và phát triển của đồng tiền

42 Đọc thêm

tiểu luận cao học Sự hình thành và phát triển của phật giáo trung quốc từ thời nhà hàn đến thời nhà đường

TIỂU LUẬN CAO HỌC SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO TRUNG QUỐC TỪ THỜI NHÀ HÀN ĐẾN THỜI NHÀ ĐƯỜNG

Phật giáo được khởi nguồn từ Ấn Độ, sau đó truyền qua Trung Quốc – một đất nước phồn thịnh, đất rộng, người đông với một nền văn minh cổ xưa từ thời nhà Hạ, Ân, Chu tới Tiền Hán. Song phải đến thời Hậu Hán, Phật giáo mới chính thức được du nhập miền đất này. Nhờ nguồn giáo lý cao diệu của mình, Phật giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nếp sống, tình cảm cũng như tư tưởng của người dân Trung Quốc. Chẳng bao lâu, Phật giáo đó nhanh chóng chiếm được địa vị của Nho giáo và Đạo giáo. Cho tới thời nhà Đường, Phật giáo trở thành tôn giáo trọng yếu nhất của Trung Quốc.Sau khi được du nhập, Phật giáo Trung Quốc không chỉ bó hẹp phạm vi phát triển trong nước mà còn truyền bá ra bên ngoài theo các ngả khác nhau. Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Triều Tiên, Phật giáo Nhật Bản ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Trung Quốc. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa phương đông thì “Phật giáo Trung Quốc là một kho tàng phong phú nhất của nền tư tưởng Á Đông. Muốn khảo cứu văn hóa Á Đông, phải tìm hiểu Phật giáo Trung Quốc bởi chính Phật giáo nói chung và Phật giáo Trung Quốc nói riêng là tinh túy của nền văn hóa Á Đông”. Chính vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu, học tập chuyên đề Phật giáo Trung Quốc là một việc có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.Thông thường khi nói tới đạo Phật là nói tới giáo chủ, giáo lý và giáo đoàn. Giáo đoàn Phật giáo có thể được chia theo địa lý: hình thành phái Nam truyền và Bắc truyền. Giáo đoàn Phật giáo cũng có thể được chia theo giáo lý đạo Phật: phái Tiểu thừa và phái Đạo thừa. Quá trình phát triển của giáo đoàn Phật giáo được gắn liền với sự phát triển của giáo lý đạo Phật. Các trường phái khai thác tư tưởng của giáo chủ ở mức độ khác nhau sẽ có giáo lý khác nhau. Càng về sau này, giáo đoàn Phật giáo càng phong phú và có ý nghĩa chính trị hơn. Vấn đề đặt ra là vậy giáo đoàn Phật giáo Trung Quốc đó có quá trình hình thành, phát triển như thế nào trong thời cổ trung đại? Đó chính là động lực viết
Xem thêm

19 Đọc thêm

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN

Quá trình hình thành. a)Quá trình hình thành Bảng 43.1. Thời gian hình thành và phạm vi lãnh thổ của các vùng kinh tế trọng điểm ở nước ta. b)Thực trạng phát triển kinh tế Bảng 43.2.Một số chỉ tiêu kinh tế của ba vùng kinh tế trọng điểm ở nước ta, năm 2005 >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học.

2 Đọc thêm

Trình bày những đặc trưng tư tưởng của thiền phái trúc lâm trong quá trình phát triển phật giáo đại việt đời trần

TRÌNH BÀY NHỮNG ĐẶC TRƯNG TƯ TƯỞNG CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO ĐẠI VIỆT ĐỜI TRẦN

Trình bày những đặc trưng tư tưởng của thiền phái trúc lâm trong quá trình phát triển phật giáo đại việt đời trần

15 Đọc thêm

TÍNH KHÔNG TRONG BÁT NHÃ TÂM KINH

TÍNH KHÔNG TRONG BÁT NHÃ TÂM KINH

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tính Không là một trong những nội dung trọng yếu của Phật giáo Đại thừa, bởi vậy, có khá nhiều công trình nghiên cứu về nó. Tiêu biểu, có công trình nghiên cứu về Tánh Không luận qua tác phẩm Thiền luận (năm 1993) của Ðại sư Daisetz Teitaro Suzuki do Trúc Thiên và Tuệ Sỹ dịch, Nxb TP. Hồ Chí Minh, Triết học về Tánh Không, Tuệ Sỹ, Nxb An Tiêm, 1970; Nghiên cứu về triết học Tánh Không – Nguyên tác pháp sư Ấn Thuận – chuyển ngữ: Tỳ kheo – Thích Thuận Thịnh; Lịch sử tư tưởng và triết học Tánh Không, Thích Tâm Thiện, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1999; hay Khái niệm tính Không trong Phật giáo do Hoàng Phong dịch, Nxb Hồng Đức, 2003; Triết học có và không của Phật giáo Ấn Độ, Thích Hạnh Bình, Nxb Phương Đông, 2009; T.R.V. Muri (2013), Tánh Không cốt tủy triết học phật giáo (Huỳnh Ngọc Chiến dịch), Nxb Hồng Đức, và trong luận án tiến sĩ Tư tưởng triết học trong kinh Kim cương của Đoàn Văn An năm 2012 cũng đã có những nghiên cứu sơ lược về tính Không trong Phật giáo……
Ở Phương Tây, học giả Edward Conze đã cống hiến trọn đời mình cho Phật giáo, nổi bật nhất là phiên dịch và chú giải Kinh Bát Nhã, bộ kinh nền tảng của Phật giáo Đại thừa, Tuyển tập Giáo lý Bát Nhã xuất bản năm 1955, Tiểu Phẩm Bát Nhã, bản dịch năm 1958 của Edward Conze. Ông chính là người có thẩm quyền hàng đầu về văn học Bát Nhã ở phương Tây, được giới nghiên cứu Phật học đánh giá như là Cưu Ma La Thập hoặc Huyền Trang của châu Âu thế kỷ XX.
Các công trình nghiên cứu về tính Không trong kinh Bát Nhã cũng có khá nhiều có thể kể như công trình: Tư tưởng Không trong Kinh Bát Nhã là bài tổng luận của Hòa thượng Thích Thanh Kiểm dành cho khóa tu học Huynh trưởng tại Tổ đình Vĩnh Nghiêm Sài Gòn (Kỷ yếu Hội Ngộ Vĩnh Nghiêm 2001 trích đăng lại theo ấn bản 1993 của Tổ đình Vĩnh Nghiêm ấn hành), Thuyết tính Không của Long Thọ với sự phát triển của Phật giáo, PGS. TS Hoàng Thị Thơ, Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 1 6, 2010; hay tác giả Phạm Đình Nhân với tác phẩm Giá trị thâm diệu của Bát Nhã tâm kinh, Nxb Tôn giáo, Hà Nội xuất bản năm 2012. Đặc biệt là cuốn Phật học Phổ thông (Quyển 3), do Thành hội Phật giáo Hồ Chí Minh ấn hành năm 2002 đã có những nghiên cứu cũng như giảng giải về Tâm kinh giúp cho những người đọc đến và có thể tìm hiểu được giá trị thâm sâu của bản kinh này.
Đặc biệt, có những công trình tuy không trực tiếp nghiên cứu về tính Không trong Bát Nhã nhưng những tư tưởng đó cũng nằm trong tính Không của Bát Nhã tâm kinh. Ví dụ như các tác phẩm viết về tư tưởng Duyên sinh và giả hợp như tác giả Kimura Taiken đã viếttrong Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận (1998) (Thích Quảng Độ dịch), do Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh ấn hành cũng có những nghiên cứu về tư tưởng Duyên sinh của Phật giáo; hay trong Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo của Thích Tâm Thiện (1998) Nxb TP. Hồ Chí Minh cũng nói đến tư tưởng Duyên sinh. Tác giả Nguyên Minh cũng có những bài viết về tư tưởng Duyên sinh qua tác phẩm Hoa nhẫn nhục do Nxb Tôn giáo xuất bản năm 2007. Qua tác phẩm Trung quán luận của Chánh Tấn Tuệ dịch và giải năm 2001 do Nxb Tôn giáo, Hà Nội xuất bản, ta cũng thấy tư tưởng về Duyên khởi được nghiên cứu rất rõ…Ngoài ra, còn khá nhiều tài liệu nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến tính Không trong Phật giáo.
Cũng có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu triết lý vô thường, vô ngã xuyên suốt lịch sử Phật giáo. Các tác phẩm kinh điển nhà Phật như các cuốn kinh mà trong quá trình thuyết giảng của Đức Phật được các đệ tử ghi lại và truyền đạt cho tới ngày nay: Samyuktagama – Sùtra (Tương Ưng Bộ Kinh) và kinh Anattalakkana – Sutta (Kinh Vô Ngã Tướng). Trong các tác phẩm này, “vô ngã” được bàn đến trong những lời đối thoại của Đức Phật khi giảng pháp cho các đệ tử. Và có thể nói trong bất cứ cuốn sách nào, hay công trình nghiên cứu viết về giáo lý căn bản của Phật giáo đều có không ít thì nhiều nói về tư tưởng vô thường, vô ngã bởi nó là những giáo lý căn bản của Phật giáo: Phật giáo triết học của Phan Văn Hùm xuất bản năm 1997 do Nxb La Sơn xuất bản; Ngũ uẩn vô ngã của Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Nxb Tôn giáo (2006); Vô ngã là Niết bàn cũng do Hòa thượng Thích Thiện Siêu viết. Vô thường của Thích Thiện Giác (2007), Nxb TP. Hồ Chí Minh. Đi giữa vô thường do Nxb Văn hóa văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, Vô ngã do Minh Hải dịch, Nxb Tôn giáo xuất bản năm 2007. Trong Phật học phổ thông của Hòa thượng Thích Thiện Hoa do thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh ấn hành năm 2002 cũng có viết về tư tưởng vô thường, vô ngã.
Như vậy, trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, tính Không trong Bát Nhã tâm kinh đã được nhiều thế hệ học giả, nhà nghiên cứu nghiên cứu, tìm hiểu. Đứng trên lập trường của Bát Nhã nói chung và Bát Nhã tâm kinh nói riêng, điều cốt tủy mà bản kinh này nói đến chính là sự vận dụng và hành trì nó một các sinh động trong cuộc sống, chứ không phải là những suy luận có tính hàn lâm. Ngôn ngữ chỉ là phương tiện, chỉ là “chiếc bè để sang sông, là ngón tay chỉ mặt trăng”. Càng sa đà vào trận đồ huyền hoặc của ngôn từ, ta càng xa cách với lập trường triết học mà bản kinh này muốn giới thiệu.
Được thừa hưởng một di sản khá đồ sộ mà các bậc tiền bối để lại là một thuận lợi rất lớn đối với tôi trong việc thực hiện đề tài này. Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những công trình nghiên cứu đi trước, luận văn đã hệ thống lại kiến thức về Phật giáo, tìm hiểu bản kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa từ đó sẽ hiểu được tính Không – tư tưởng cốt lõi, tinh túy của Phật giáo Đại thừa.
Xem thêm

113 Đọc thêm

ảnh hưởng của phật giáo đến văn học campuchia

ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN VĂN HỌC CAMPUCHIA

Sự du nhập của Phật giáo Ấn Độ sang đất nước Campuchia
Lịch sử Phật giáo đã có từ trên 2500 năm. Lúc đầu Phật giáo được triển khai từ Ấn Độ, rồi dần dần lan tràn ra hai ngả Bắc phương và Nam phương. Bắc phương là các nước Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản, cùng các nước thuộc địa vực Tiểu Á Tế Á. Nam phương là những nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao, Cao Miên, đảo Java, Sumatra trong Nam Dương quần đảo và hiện nay Phật giáo đã được phổ cập hầu khắp các nước trên thế giới.
Có thể nói, Ấn Độ là một đất nước “xuất phát mọi mô hình tôn giáo của thế giới” (Cao Nam Thuận và Mộc Miên Thái Hiền), đặc biệt là Phật giáo. Phật giáo đã có một quá trình lịch sử phát triển lâu dài ở Ấn Độ trước khi du nhập vào Đông Nam Á. Thuở ban đầu, Ấn Độ rơi vào khủng hoảng, đất nước loạn lạc, thời kỳ này chưa có sự xuất hiện của Phật giáo, mà chỉ có sự chiếm lĩnh của tầng lớp Bà La Môn. Bởi lẽ họ được coi là những người có học thức cao, có khả năng giảng dạy đạo lí và cúng tế thần linh. Ngoài ra còn có giai cấp Kasatriya (Sát đế lợi) gồm các tầng lớp vua chúa, thống lĩnh… chiếm vị thế cao nhưng luôn chèn ép người dân, khiến cho họ lâm vào cảnh bần hàn, thiếu thốn và dẫn đến mâu thuẫn tột độ giữa các giai cấp. Đời sống tinh thần xã hội lúc này bị thống trị bởi quan điểm duy tâm, tôn giáo trong thánh kinh Veda và đạo Bàlamôn. Nhưng cũng trong chính lúc đó “Phật giáo xuất hiện đã đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân, nó phản ánh nỗi đau khổ của con người, chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp và sự áp bức, bất công, chống lại giáo lý truyền thống của kinh Veda và đạo Bà la môn, bác bỏ uy quyền thần thánh, xây dựng niềm tin vào chính con người. Với mục đích giải thoát con người bằng chính cuộc sống đức độ của con người, Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động.” (Nguyễn Quỳnh Anh)
Sau khi Phật nhập Niết bàn, Phật giáo được các vị đại đệ tử của Ngài truyền bá đi khắp nơi trên xứ Ấn Độ. Đặc biệt là vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, dưới triều đại của vua Asoka, vị Hoàng đế này có công rất lớn trong sự nghiệp hoằng dương thánh giáo. Asoka gởi các đoàn truyền giáo đi khắp nơi, trong ấy có đại đức Mahindacon của ông cùng với bốn vị tu sĩ khác được gởi sang Tích Lan truyền bá Phật giáo. Đến thế kỷ thứ II trước công nguyên, vua Kanishaka cũng nhiệt tình ủng hộ Phật giáo. Ông đã ra lệnh cho khắc tam tạng kinh điển lên lá đồng và cho người bảo quản một cách cẩn thận. Nhưng khi Ấn Độ bắt đầu cải tổ lại thì đạo Phật có dấu hiệu suy giảm. Tuy nhiên, trong thời gian đó thì các tín đồ bắt đầu truyền đạo pháp ra bên ngoài, ở các nước Sri Lanca, Myanmar, Thái Lan, Trung Quốc, Triều Tiên, Tây Tạng, Nhật Bản sang cả Ai Cập và nhiều địa phương khác ở Địa Trung Hải. Phật giáo từ đó trở nên phổ biến rộng khắp trên nhiều khu vực lãnh thổ, trong đó có Campuchia ở khu vực Đông Nam Á.
Có rất nhiều ý kiến về mốc thời gian Phật giáo du nhập vào Campuchia. Một số thuyết cho rằng đạo Phật đã du nhập vào xứ Campuchia vào thế kỉ thứ 3 trước công nguyên do kết quả của các nhà truyền đạo Phật giáo được vua Asoka cử đi khắp nơi. Bên cạnh đó cũng có người cho rằng đạo Phật đã du nhập cùng lúc với đạo Bà La Môn qua việc mở rộng giao thương với Ấn Độ sớm nhất là vào thế kỷ thứ 1 trước Công Nguyên. Các nhà buôn từ các vùng biển Ấn Độ là những người truyền bá các luồng văn hóa này tới các thương cảng dọc bờ biển trong vịnh Thái Lan, sau đó được chế độ quân chủ của vương quốc Phù Nam tiếp nhận và phát triển. Nhưng lúc đó, trong suốt thời gian dài của vương quốc Phù Nam, đạo Bà La Môn đã hưng thịnh hơn đạo Phật. Đến thế kỷ 12, vua Jayavarman II đã cho xây dựng ngôi đền Hindu khổng lồ Angkor để thờ thần Vishnu. Đền này mở rộng thành Angkor Wat. Nhưng đến triều vua Jayavarman VII, trị vì từ 1181 đến 1215, Phật giáo đã gần như thay thế hoàn toàn vai trò của Ấn Độ giáo, Angkor Wat chuyển sang thờ Phật và vua Jayavarman VII đã xây nhiều đền thờ Phật khác trong thành Angkor Thom (ở gần Angkor Wat) mà nổi tiếng nhất đền Bayon. Ngoài ra còn có thuyết cho rằng Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào Campuchia rất sớm, bắt đầu từ vua A Dục, nhà vua phái hai vị sư truyền giáo là Sona và Uttara sang đất Kim Địa (Suvannabhumi) hoằng pháp. Vị trí của Kim Địa là phiếm chỉ vùng đất từ Miến Điện cho tới Mã Lai Á. Theo sự khảo chứng của các học giả, người Ấn Độ khoảng năm 400500 trước Công Nguyên, đã tới buôn bán vùng Đông Nam Á nhưng đến đầu công nguyên, di dân Ấn Độ mới bắt đầu tràn vào Đông Nam Á với quy mô lớn. Họ kinh doanh, buôn bán và truyền bá cả văn hóa, tôn giáo của mình vào các nước này, trước hết là Bà la môn giáo; đến thế kỷ VI trước Công Nguyên đạo Phật xuất hiện.
Có rất nhiều nguồn thông tin xoay quanh vấn đề thời điểm ra đời của Phật giáo tại Campuchia, tuy nhiên có thể xác định rằng thời gian Phật giáo bắt đầu chiếm ưu thế ở đất nước “chùa tháp” này là vào khoảng cuối thế kỷ XII, với sự xuất hiện của phái Đại thừa, trở thành đạo của hoàng gia. Sang thế kỷ XIII, với sự thúc đẩy của Thái Lan, đạo Phật Tiểu thừa phát triển và trở thành tôn giáo chính của Campuchia, cũng giống như Lào, Thái Lan, Miến Điện và Xây Lan đều theo đạo Phật Tiểu thừa. Và cho đến ngày nay, đạo Phật tiểu thừa trở thành tôn giáo chính của đất nước Campuchia. Đạo Phật mang hơi hướng của Ấn Độ không chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của người dân Campuchia mà còn ảnh hưởng đến nền văn hóa nghệ thuật của Campuchia, đặc biệt là văn học. Sự tác động của Phật giáo góp phần làm phát triển và thay đổi bộ mặt của văn học
Xem thêm

31 Đọc thêm

Tình hình tôn giáo ở việt nam

TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
l. Việt Nam là nước có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo
Nước ta là nơi giao lưu của các nền văn hóa Đông Tây, nên có sự du nhập của nhiều tôn giáo, cùng với tôn giáo nguyên thủy, nội sinh. Nhìn chung, đa số nhân dân có tín ngưỡng và chịu ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo. Đã có thời kỳ, Phật giáo được coi là quốc đạo (thế kỷ XI XV). Cho đến nay, chỉ tính trong sáu tôn giáo lớn, đã có hơn 20% dân cư là tín đồ các tôn giáo, chưa kể nhiều người vẫn giữ những tín ngưỡng dân gian, truyền thống hoặc những hình thức tín ngưỡng nguyên thủy. Các tôn giáo được hình thành và phát triển rất phong phú, đa dạng và có những nét đặc thù riêng.
Đặc điểm phân bố tôn giáo ở nước ta là có những nơi tín đồ từng tôn giáo sống thành cộng đồng tương đối tập trung với quy mô nhỏ và đa số các vùng tín đồ các tôn giáo sống xen kẽ với nhau, xen kẽ với quần chúng không theo tôn giáo.
Các tôn giáo ở Việt Nam cũng có nguồn gốc xuất hiện khác nhau. Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Hồi giáo được du nhập từ bên ngoài vào nước ta qua các thời kỳ lịch sử với những phương thức khác nhau. Trong khi đó, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo mang tính bản địa, nội sinh.
2. Tính dung hợp, đan xen, hòa đồng của tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam
Các tôn giáo ở Việt Nam có sự dung hợp và đan xen nhau. Hầu hết các tôn giáo được du nhập vào nước ta đều mang dấu ấn Việt Nam. Do sự khoan dung, lòng độ lượng, tính nhân ái của dân tộc và do yêu cầu đoàn kết toàn dân bảo vệ nền độc lập, sự toàn vẹn lãnh thổ, nên người Việt Nam chấp nhận sự hòa nhập, đan quyện các yếu tố tôn giáo khác nhau, miễn là nó không vi phạm đến lợi ích quốc gia và đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc
Xem thêm

21 Đọc thêm

ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN NHÂN SINH QUAN NGƯỜI VIỆT

ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN NHÂN SINH QUAN NGƯỜI VIỆT

Một số giải pháp cơ bản để phát huy tính tích cực, han chế tính tiêu cực của nhân sinh quan phật giáo
3.2.1. Tôn trọng, bảo vệ, quản lý tốt hoạt động của Phật giáo
Thông qua các văn kiện đại hội Đảng, các chính sách của Đảng và Nhà nước đã cho thấy sự tôn trọng và bảo đảm tự do tín ngưỡng của mọi công dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ lúc mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã trịnh trọng công bố nguyên tắc; tín ngưỡng tự do và lương-giáo đoàn kết. Nguyên tắc đó là cốt lõi tư tưởng chiến lược trước sau như một của Đảng ta về lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo.
- Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định đối với quy mô, tổ chức các hoạt động, tín ngưỡng của đạo Phật, cần có các biện pháp xử lí các hình thức biến tướng làm ảnh hưởng khá lớn đến đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân, gây mất trật tự xã hội.
- Có thể tham khảo kinh nghiệm một số nước trong khu vực có sự tương đồng về văn hóa về phương pháp quản lí đối với tôn giáo này, để có thể vừa đáp ứng được nhu cầu tự do tôn giáo của nhân dân, vừa phù hợp vớp pháp luật, và là cơ sở thuận lợi, ảnh hưởng tích cực đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
3.2.2. Bảo vệ cơ sở vật chất và tôn trọng các nghi lễ của Phật giáo
Xem thêm

22 Đọc thêm

tiểu luận cao học Tư tưởng từ bi bác ái của phật giáo và tư tưởng khoan dung của nho giáo – sự thống nhất và khác biệti

tiểu luận cao học Tư tưởng từ bi bác ái của phật giáo và tư tưởng khoan dung của nho giáo – sự thống nhất và khác biệti

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thế kỷ XX, mâu thuẫn giữa các quốc gia, dân tộc và các chế độ chính trị khác nhau chủ yếu được giải quyết bằng hình thức đối đầu. Do vậy, nhiều cuộc chiến tranh, đấu tranh đã diễn ra ở rất nhiều khu vực trên thế giới. Tuy nhiên, đôi khi một cuộc chiến tranh tàn khốc nào đó kết thúc thì một cơn lốc bạo lực mới lại xuất hiện. Điều này xảy ra là do sự kích động và trỗi dậy của những tư tưởng cực đoan. Nhiều cuộc khủng bố xảy ra, những sự căng thẳng về vấn đề dân tộc, về sự phát triển của những trào lưu tư tưởng mới... đang âm thầm tái diễn. Bên cạnh đó, những mâu thuẫn và xung đột về văn hóa phát sinh là do xu hướng áp đặt văn hóa, lấn át văn hóa từ phía các nước có ưu thế về kinh tế, kỹ thuật và công nghệ. Đồng thời, trên thế giới, xu hướng đấu tranh chống lại sự áp đặt “đồng hóa” văn hóa cũng xuất hiện. Chính vì vậy, vấn đề văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử giữa các quốc gia, các dân tộc, các khu vực đang được đặt ra trên toàn cầu. Bước sang thế kỷ XXI, con người hướng đến mong muốn xây dựng “thế kỷ đối thoại”, và tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo giáo hay tư tưởng khoan dung của Nho giáo được nhắc lại nhiều và được phát triển để trở thành nền tảng có thể thỏa mãn mong muốn đó. Từ bi bác ái của Phật giáo và Khoan dung của Nho giáo đã là yêu cầu với tư cách là vấn đề triết học hiện thời – là phẩm hạnh, đức tính đạo đức – chính trị và văn hóa, chống lại mọi hình thức kỳ thị, phân biệt chủng tộc và văn hóa.
Tư tưởng Từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng Khoan dung của Nho giáo đã được tiếp thu trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Dù hơn 1000 năm chịu sự thống trị của chế độ phong kiến phương Bắc, 100 năm dưới ách thống trị của thực dân và đế quốc, dân tộc Việt Nam vẫn thể hiện một tinh thần nhân văn sâu sắc – kẻ thù vô cùng tàn ác hung hãn với nhân dân nhưng khi chúng bại trận chúng ta vẫn “mở đường hiếu sinh”. Và đến bây giờ, Việt Nam vẫn sẵn sàng làm bạn với các nước trên thế giới, kể cả với những nước đã từng là kẻ thù trước đây của mình, trên tinh thần hợp tác để cùng phát triển. Có thể nói, Phật giáo, Nho giáo đã có con đường thâm nhập và phát triển lâu bền ở Việt Nam, và cùng với văn hóa bản địa đã làm nên những giá trị tích cực. Đặc biệt trong xu thế hội nhập quốc tế hóa hiện nay, những giá trị ấy lại càng được nâng lên sâu sắc, giúp ích cho xu thế toàn cầu. Vì vậy, tìm hiểu hai dòng tư tưởng có những điểm khác biệt nhất định nhưng cũng có sự thống nhất, đan xen để làm nên tinh thần hướng thiện, cởi mở sâu sắc trong văn hóa giữa người với người.
Bên cạnh đó, UNESCO cũng không phủ nhận rằng sự khác biệt giữa các nền văn hóa có thể dẫn đến tranh cãi bất đồng thậm chí xung đột. Vì vậy, nhân loại cần phải đoàn kết, chống lại sự đồng hóa, thiếu khoan dung, không từ bi bác ái cả trong tinh thần lẫn cách sống từ mỗi cá nhân cho đến toàn thể nhân loại. Và cho đến những năm gần đây, thực trạng bất ổn trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của các quốc gia và các khu vực cho thấy cần phải nhìn nhận sắc nét về tư tưởng từ bi bác ái trong Phật giáo và tư tưởng khoan dung trong Nho giáo, để thấy được sự thống nhất và khác biệt, song cùng hướng đến mục tiêu chung là văn hóa hướng thiện, nhân ái trong cộng đồng.
Để chúng ta có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo , em quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Tư tưởng từ bi bác ái của Phật giáo và tư tưởng khoan dung của Nho giáo – sự thống nhất và khác biệt”.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề