LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH":

Quân và dân Nghĩa Lộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 – 1954)

QUÂN VÀ DÂN NGHĨA LỘ TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1946 – 1954)

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đềCó thể khẳng định, rất nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến lịch sử địa phương Nghĩa Lộ cũng như quân dân Nghĩa Lộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 – 1954). Trong đó, không ít công trình đã phác họa được những nét cơ bản, những hoạt động chính của quân và dân Nghĩa Lộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1946 – 1954. Một số công trình tiêu biểu như: Hồi kí Trưởng thành trong chiến đấu của đồng chí Vương Thừa Vũ được nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 1979, cuốn hồi kí đã tái hiện lại cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Vương Thừa Vũ trong đó có quãng thời gian đồng chí tham gia hoạt động ở Nghĩa Lộ – Yên Bái. Tác giả Ngô Vi Thiện với công trình Hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945 – 1954, do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành năm 1994, tác phẩm nói về hoạt động hậu cần phục vụ trong các chiến dịch thuộc kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954, trong đó đề cập đến sự đóng góp của nhân dân Văn Chấn – Nghĩa Lộ với một số chiến dịch như Chiến dịch Tây Bắc 1952 và chiến dịch Điện Biên Phủ 1954…Năm 1995, Viện lịch sử quân sự Việt Nam cho ra đời tác phẩmLịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 – 1975, trong đó khái quát nghệ thuật được quân đội ta sử dụng trong các chiến dịch. Tác phẩm này đề cập đến Nghĩa Lộ với nghệ thuật được sử dụng trong chiến dịch Tây Bắc thu – đông năm 1952. Tác giả Phạm Vĩnh Phúc với tác phẩmTóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), do nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 2000, cũng đề cập đến Nghĩa Lộ với chiến dịch Tây Bắc thu đông năm 1952. Đồng chí Doãn Kim – nguyên Bí thư huyện ủy huyện Văn Chấn giai đoạn 1947 – 1954 đã cho ra đời tác phẩm Yên Bái – Hồi ức thời chống Pháp năm 2005, tác phẩm kể về những năm tháng đồng chí cùng với nhân dân các dân tộc huyện Văn Chấn đấu tranh đánh đuổi giặc Pháp xâm lược.Tác phẩm Yên Bái – Lịch sử 60 năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng (1945 – 2005) của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Yên Bái biên soạn năm 2007 đã tổng kết lại toàn bộ quá trình chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân Yên Bái, trong đó có nhân dân Nghĩa Lộ. Cùng năm 2007, Ban chấp hành Đảng bộ thị xã Nghĩa Lộ cho ra đời tác phẩm Lịch sử Đảng bộ thị xã Nghĩa Lộ (1971 – 2005), Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái, cũng biên soạn thành công cuốn Lịch sử đảng bộ tỉnh Yên Bái, tập 1 (1930 – 1975).Các tác phẩm trên đều dành một thời lượng nhất định để trình bày về những hoạt động cũng như đóng góp của nhân dân Nghĩa Lộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1946 – 1954.Năm 2010, Ban chấp hành Đảng bộ Huyện Văn Chấn, ấn hành công trình Lịch sử Đảng bộ huyện Văn Chấn, tập 1 (1930 – 1954) trình bày tương đối đầy đủ về hoạt động của quân và dân Nghĩa Lộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.Ngoài những tác phẩm tiêu biểu kể trên, còn có rất nhiều tác phẩm khác cũng có nghiên cứu, đề cập đến hoạt động của quân và dân Nghĩa Lộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các công trình đó vẫn chưa thực sự đi sâu, trình bày một cách có hệ thống về quân và dân Nghĩa Lộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1946 – 1954, cũng như chưa đánh giá một cách cụ thể, xác đáng những đóng góp của quân dân địa phương vào thắng lợi chung của toàn dân tộc. Dựa trên nguồn tư liệu quý báu là các công trình nghiên cứu đi trước, kết hợp với việc bổ sung các nguồn tài liệu mới. Đề tài “Quân và dân Nghĩa Lộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1946 – 1954” nhằm góp một cái nhìn cụ thể, chi tiết và rõ nét hơn về cuộc đấu tranh của quân và dân Nghĩa Lộ thời kỳ 1946 – 1954.
Xem thêm

67 Đọc thêm

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

nông thôn” [37, tr. 93].Nghiên cứu, tổng kết, đánh giá những thành công, hạn chế trong quá trình thực hiệnCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn sẽ làm rõ tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng, qua đórút ra những kinh nghiệm, góp phần hoàn thiện chủ trương của Đảng về phát triển nôngnghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH.Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã cụ thể hóađường lối của Đảng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Hầu hết các mục tiêuđặt ra trong mỗi giai đoạn đều đạt kế hoạch, an ninh lương thực được đảm bảo, đời sốngvật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao... Tuy nhiên, việc thựchiện đường lối CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ còn nhiềuvấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết, điều chỉnh. Việc nghiên cứu, tổng kết, đánhgiá khách quan, khoa học về những kết quả, hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnh PhúThọ lãnh đạo thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ khi tỉnh được tái lập, từ đórút ra những kinh nghiệm nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địabàn tỉnh trong giai đoạn hiện tại là việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâusắc.Với lý do trên, tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010” làmluận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án2.1. Mục đích của luận ánTừ góc độ Lịch sử Đảng, luận án làm sáng tỏ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộtỉnh Phú Thọ đối với CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh từ năm 1997đến năm 2010; đưa ra những nhận xét, đánh giá về ưu điểm, hạn chế và bước đầu rút ramột vài kinh nghiệm chủ yếu về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ.2.2. Nhiệm vụ của luận ánTập hợp, hệ thống hóa tư liệu liên quan đến đề tài.Phân tích, đánh giá những nhân tố tác động đến quá trình CNH, HĐH nông
Xem thêm

24 Đọc thêm

Công tác nâng cao chất lượng giáo viên trường tiểu học phúc sạn huyện mai châu tỉnh hòa bình

Công tác nâng cao chất lượng giáo viên trường tiểu học phúc sạn huyện mai châu tỉnh hòa bình

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Bước sang thế kỉ XXI, thế kỷ của nền kinh tế tri thức với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ . Để tiến kịp và hội nhập với xu thế phát triển nhanh của thế giới trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đủ năng lực, phẩm chất và có tính thích ứng cao. Muốn vậy phải phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo.Trong chiến lược xây dựng con người, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước sự nghiệp giáo dục và đào tạo có một vị trí vô cùng quan trọng. Đảng và Nhà nước ta chú trọng đặc biệt tới sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đó khẳng định: “Cùng với công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”.Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI ” đã chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nguồn nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển .Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của đất nước, là sức mạnh tương lai của dân tộc, chuẩn bị cho thế hệ trẻ hành trang đi vào thời đại văn minh của trí tuệ, là công việc hết sức cấp bách đặt ra hiện nay. Vì vậy, chất lượng đào tạo là yếu tố cực kì quan trọng để có thể tạo ra lớp người đáp ứng những yêu cầu mới. Nghị quyết Ban chấp hành TW 2, khóa 8 đã khẳng định: Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục – đào tạo và được xã hội tôn vinh. Vì vậy ta có thể khẳng định việc xây dựng , bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên lả một việc làm cực kỳ quan trọng trong công tác giáo dục và đào tạo của nhà trường. Xuất phát nhận thức tầm quan trọng của giáo viên trong nền giáo dục cũng như trong sự nghiệp trồng người của đất nước và sự tìm hiểu về trường tiểu học Phúc Sạn huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình tôi mạnh dạn chọn đề tài: Công tác nâng cao chất lượng giáo viên trường tiểu học Phúc Sạn huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. Một số ngiên cứu tiêu biểu như. Nguyễn Đăng Tiến, Những nhân tố cơ bản của động lực sư phạm ,số chuyên đề quý IV1999, tr6. Nguyễn Ngọc Dũng, Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên nhằm nâng cao chất lượng Giao dục Tiểu học ở Tây Ninh – Tạp chí giáo dục số 30. Nguyễn Ngọc Hợi, Đề tài nghiên cứu khoa học “Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên”, Vinh 2006. Phạm Minh Hạc, Giao dục Vietj Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002. Phan Quốc Lâm (2011), Một số vấn đề về đổi mới công tác bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực dạy học của giáo viên phổ thông tỉnh Bình Dương, Tạp chí giáo dục – số đặc biệt tháng 112011. Thái Văn Thành, Đổi mới phương pháp đào tạo giáo viên tiểu học để có thể dạy tốt chương trình Tiểu học 2000, Tạp chí giáo dục số 34. Trần Bá Hoành, người giáo viên trước thềm thế kỷ XXI, Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 111998, tr 1. 3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu. 3.1. Đối tượng nghiên cứu. Công tác nâng cao chất lượng giáo viên trường tiểu học Phúc Sạn huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình. 3.2. Phạm vi nghiên cứu. Thời gian: 20122015. Không gian: Trường tiểu học Phúc Sạn Mai Châu Hòa Bình. Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu nghiên cứu, đánh giá công tác quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên trường tiểu học Phúc Sạn Mai Châu Hòa Bình. 4. Mục đích nghiên cứu. Tìm hiểu thực tiễn các biện pháp quản lí công tác bồi dưỡng đội ngũ giáoviên Tiểu học của cán bộ quản lí trường Tiểu học Phúc San huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình. Đề xuất một số biện pháp quản lí công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Tiểu học nói chung và ở trường Tiểu học Phúc Sạn huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình. 5. Phương pháp nghiên cứu. Nghiên cứu lí luận, thu thập tài liệu và tổng hợp kinh nghiệm. Điều tra thực trạng. Thực hành thực tế. Đối chiếu, so sánh, lôgic phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, 6. Bố cục của đề tài. Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, bao gồm các chương sau: Chương 1. Tổng quan. Chương 2. Cơ sở lý luận và một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên Trường Tiểu học Phúc Sạn – Mai Châu – Hòa Bình. Chương 3. Một số biện pháp nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên Trường Tiểu học Phúc Sạn – Mai Châu – Hòa Bình.
Xem thêm

Đọc thêm

BÁO CÁO THAM LUẬN CỦA SỞ NÔNG NGHIỆP - PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

BÁO CÁO THAM LUẬN CỦA SỞ NÔNG NGHIỆP - PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNHLẦN THỨ X, NHIỆM KỲ 2015 - 2020UBND TỈNH ĐỒNG NAISỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNTBÁO CÁO THAM LUẬNGiải pháp thực hiện hiệu quả tái cơ cấungành Nông nghiệp gắn với xây dựng mô hìnhchuỗi liên kết để thực hiện đạt kết quảchương trình, mục tiêu quốc gia về xây dựngnông thôn mới trên địa bàn tỉnhĐ/c Phạm Minh Đạo - TUV, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNTTrong những năm qua, ngành nông nghiệp Đồng Naiphát triển khá toàn diện:- Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất toàn ngành bình quân đạt4,10%/năm (giai đoạn 2010 - 2014)- Giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đạt 98,34 triệu đồng/ha(2014), tăng 1,6 lần so năm 2010 (61,39 triệu đồng/ha)- Việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất có nhiều tiến bộvà hiệu quảBước đầu hình thànhmột số vùng sản xuất tậptrung (hồ tiêu, cà phê, xoài,bưởi,...) Chăn nuôi gia súc, giacầm, thủy sản phát triển ổn
Xem thêm

19 Đọc thêm

NGHIÊNCỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI CÓ TRIỂNVỌNG TẠI HUYỆN MÈO VẠC TỈNH HÀ GIANG

NGHIÊNCỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI CÓ TRIỂNVỌNG TẠI HUYỆN MÈO VẠC TỈNH HÀ GIANG

đến năm 2012 đạt 52,5 nghìn ha, tăng 9,3 nghìn ha so với năm 2001. Năngsuất ngô của tỉnh cũng tăng nhanh theo thời gian, năm 2001 năng suất ngô chỉđạt 18,3 tạ/ha, đến năm 2005 là 21 tạ/ha và năm 2012 đạt 32,1 tạ/ha, tăng 11,1tạ/ha so với năm 2005 và 13,8 tạ/ha so với năm 2001. Điều này chứng tỏtrong những năm qua, đảng bộ và chính quyền tỉnh Hà giang đặc biệt chútrọng quan tâm đầu tư phát triển áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật giốngmới vào sản xuất. Tăng diện tích gieo trồng ngô xuống ruộng 1 vụ, gieo trồngngô trên đất đồi, đất bãi ở vụ hè thu. Sử dụng giống mới, thâm canh tăng năngsuất nhằm khai thác tối đa tiềm năng đất sẵn có của tỉnh đặc biệt là nhữnghuyện vùng thấp.Cùng với sự phát triển chung của nền nông nghiệp Việt nam, sự nỗ lựccủa đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong toàn tỉnh, sự tham gia tích cựccủa đội ngũ các nhà khoa học kỹ thuật, tỉnh Hà giang đã mạnh dạn thay đổi cơcấu cây trồng, áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào sản suất, đặcbiệt là thay thế các giống ngô địa phương có thời gian sinh trưởng dài, năngsuất thấp, bằng các giống ngô lai năng suất cao như: LVN10, LVN11,LVN12… và một số giống ngô nhập nội như: Bioseed, 9607, DK999,NK4300...Nhờ áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và giống lai mớiđược nông dân ứng dụng vào sản xuất, nên diện tích, năng suất và sảnlượng ngô ở Hà giang đã không ngừng tăng nhanh trong những năm gầnđây. Tuy nhiên năng suất ngô của tỉnh Hà giang vẫn thấp hơn nhiều so vớinăng suất ngô của cả nước, năng suất ngô hiện tại của tỉnh chỉ bằng 68%năng suất ngô của cả nước.10Bảng 1.6: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô các huyện trong tỉnhtừ năm 2010 - 2012
Xem thêm

104 Đọc thêm

ĐẢNG LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở TÂY NGUYÊN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 1954)

ĐẢNG LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở TÂY NGUYÊN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 1954)

đẩy đồng bào vào cuộc sống ngày càng bần hàn, nạn đói triền miên.Tuy nhiên, với quyết tâm không chịu sống kiếp đời nô lệ, phát huytruyền thống bất khuất được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, đặc biệtbằng tinh thần thượng võ và ý chí kiên cường, đồng bào các dân tộc TâyNguyên đã đứng lên cầm vũ khí chiến đấu chống quân xâm lược.Trong những năm 1885-1886, nhân dân vùng An Khê đã hưởng ứngmạnh mẽ chiếu Cần Vương cứu nước, hội tụ dưới cờ khởi nghĩa của MaiXuân Thưởng (Bình Định), tiến hành san bằng nhiều cơ sở bàn đạp của quânxâm lược và thành lập các đội nghĩa quân. Trong đó, nhân dân làng Tio (vùngJrai) đã chặn đánh đoàn công cán của Công sứ Pháp Na-ven, buộc chúng phảirút chạy về Quy Nhơn. Cùng thời gian này, đồng bào Ba Na, Xê Đăng ở KonTum đã sát cánh cùng nghĩa quân Bình Định, Quảng Ngãi đánh thực dânPháp xâm lược. Tiếp đó là cuộc nổi dậy quật khởi của đồng bào Xê Đăng ởKon Tum (trong các năm 1901, 1909 và 1914); cuộc đấu tranh chống sưuthuế của nhân dân An Khê, Cheo Reo hưởng ứng phong trào Duy Tân; nổi bậtlà cuộc khởi nghĩa của đồng bào Mơ Nông do Nơ Trang Lơng lãnh đạo, kéodài hơn 20 năm (1912-1936).Nhìn chung, những cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào các dân tộcTây Nguyên đã gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất nặng nề. Ở nhiều vùng,nhân dân vẫn làm chủ núi rừng, nhiều buôn làng sống hiên ngang như nhữngpháo đài bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, các phong trào đấu tranh trên đềuchưa có một đường lối đúng đắn, chưa có một phương hướng lãnh đạo phùhợp và chưa có sự liên kết rộng rãi giữa các dân tộc, các lực lượng, các vùngmiền. Lực lượng nhỏ, yếu, phân tán, chiến đấu đơn lẻ nên tuy rất anh dũng,kiên cường nhưng cuối cùng đã thất bại.15Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đảm nhậnsứ mệnh lãnh đạo con thuyền cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi thành lập và
Xem thêm

128 Đọc thêm

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2005

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2005

ngoài. Hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách đến thăm. Bên cạnh đó lànhững tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng với trữ lượng lớn nhưthan đá, đất sét, cát thủy tinh, đá vôi… Tuy nhiên, giàu có và nổi tiếng bậcnhất là phải kể đến than đá, không một địa phương nào có được nguồn thanđá dồi dào đến như vậy. Đây cũng chính là thế mạnh của Quảng Ninh trongviệc phát triển ngành CN khai khoáng nói riêng và phát triển kinh tế nóichung.Phân chia đơn vị hành chính, Quảng Ninh có 4 thành phố, 2 thị xã và8 huyện: Thành phố Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí; Thị xãQuảng Yên, Đông Triều; Huyện Ba Chẽ, Bình Liêu, Cô Tô, Vân Đồn,Hoành Bồ, Đầm Hà, Tiên Yên, Hải Hà.Với vị trí địa lý thuận lợi cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên, du lịchhết sức phong phú, đa dạng là một trong những nguồn lực để phát triểnkinh tế nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng. Khai thác và sử dụng cóhiệu quả, hợp lý nguồn tài nguyên này sẽ phụ thuộc vào các thành phầnkinh tế, trong đó triệt để và toàn diện nhất phải nói đến kinh tế tư nhân. Sựgóp mặt của thành phần này trên tất các các ngành nghề, lĩnh vực đã tậndụng, phát huy tối đa lợi thế của tỉnh Quảng Ninh, tạo điều kiện, cơ sở thúcđẩy kinh tế - xã hội phát triển. Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong việc đưara các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế ngày càng được thể hiện rõnét, nổi bật hơn. Cùng với Hà Nội và Hải Phòng, Quảng Ninh trở thànhmột trong ba cực phát triển kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.Sau khi đất nước thống nhất (năm 1975), Quảng Ninh bước vào giaiđoạn khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh. Năm1979, chiến tranh biên giới nổ ra, nhân dân Quảng Ninh lại phải tiếp tục12đứng lên đấu tranh để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc thêm mộtlần nữa. Khắc phục hậu quả và chăm lo đời sống nhân dân là mục tiêu hàng
Xem thêm

138 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN QUAN HỆ QUỐC TẾ

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN QUAN HỆ QUỐC TẾ

dõi, đôn đốc các bên liên quan thực hiện nghiêm túc và hiệu quả các nội dung đã ký kết gópphần nâng cao năng lực của công tác ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế của tỉnh.- Coi trọng và nâng cao hiệu quả của công tác ngoại giao nhân dân, tỉnh Lào Cai đã tăngcường nhiều hoạt động giao lưu, củng cố và thắt chặt mối quan hệ hữu nghị giữa nhân dân cácdân tộc hai bên biên giới; tạo tiền đề cơ bản để đẩy nhanh tiến độ công tác Phân giới cắm mốctrên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, đoạn biên giới do tỉnh Lào Cai đảm nhiệm. Qua đó, trongsuốt tiến trình phân giới, cắm mốc song phương, tỉnh Lào Cai luôn dẫn đầu trên toàn tuyến cảvề tiến độ và chất lượng kỹ thuật phân giới, cắm mốc. Năm 2007, Lào Cai là tỉnh đầu tiên trêntoàn tuyến hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc trên thực địa, được Chính phủ tổ chức “Lễmừng công”. Sự kiện này đã ghi nhận sự phấn đấu nỗ lực thường xuyên của nhân dân hai tỉnhLào Cai – Vân Nam, khẳng định đường lối chỉ đạo đúng đắn của Chính phủ hai nước Việt –Trung và là nguồn động viên, cổ vũ các tỉnh biên giới khác phấn đấu để hoàn thành tốt nhiệmvụ trọng đại, mang tính lịch sử của dân tộc.- Bên cạnh việc duy trì và củng cố các mối quan hệ hữu nghị truyền thống của tỉnh LàoCai với tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, Sở Ngoại vụ đã tham mưu cho tỉnh tăng cường mở rộngcác mối quan hệ hợp tác mới với các tổ chức, địa phương nước ngoài như Vùng Aquitaine Cộng hoà Pháp, Vùng Vancouver - Canada và các tỉnh miền Tây Nam Trung Quốc.....Qua đó,tỉnh Lào Cai đã ký kết thêm nhiều chương trình hợp tác quốc tế, làm cơ sở để phát triển toàndiện các lĩnh vực công tác mà điển hình là Chương trình hợp tác phi tập trung giữa tỉnh Lào Caivới vùng Aquitaine – Cộng hoà Pháp.Đây là Chương trình hợp tác với nhiều nội dung quan trọng, đã và đang được triển khaitích cực tại tỉnh Lào Cai. Kết quả thực hiện giai đoạn I của Chương trình (2002 – 2007), hai bênđã hợp tác triển khai hiệu quả các dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp, xây dựng quy hoạch đô thịvà du lịch. Cũng trong giai đoạn I của Chương trình, phía Aquitaine đã giúp Lào Cai nghiên cứutrồng thực nghiệm để tìm ra những giống cây ăn quả ôn đới, giống cây nho quý của Pháp phùhợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của tỉnh; kết quả đã di thực được tập đoàn cây ăn quả ônđới đặc sắc và những giống nho quý hiếm của Pháp để trồng khảo nghiệm tại tỉnh Lào Cai bướcđầu cho những kết quả tốt.11
Xem thêm

12 Đọc thêm

BÀI THU HOẠCH NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ XII

BÀI THU HOẠCH NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ XII

phát triển ổn định; chương trình xây dựng nông thôn mới được tập trung chỉ đạothực hiện và có kết quả bước đầu. Môi trường đầu tư, kinh doanh, tiếp tục được cảithiện. Thu ngân sách trên địa bàn năm sau cao hơn năm trước. Lĩnh vực văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân ổn định, tiếp tục được cải thiện. Chính trị - xã hội ổn định, khốiđại đoàn kết các dân tộc được củng cố vững chắc. Quốc phòng, an ninh được tăngcường, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, chủ quyền biên giới quốc gia được giữvững. Hệ thống chính trị được xây dựng, củng cố ngày càng vững mạnh; năng lựclãnh đạo, quản lý của các cấp ủy đảng, chính quyền được nâng lên, công tác lãnhđạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có nhiều chuyển biến tiến bộ và có quyết tâm caohơn, tạo được sự ổn định mọi mặt cho phát triển.Về kết quả đạt được: Trong 5 năm (2010 - 2015), tỉnh đã hoàn thành và hoànthành vượt mức hầu hết các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu: Tốc độ tăng trưởngtổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) bình quân hằng năm giai đoạn 2011 - 2015 đạt8,65%, trong đó ngành nông, lâm nghiệp tăng 3,62%; công nghiệp - xây dựng tăng9,86%; dịch vụ tăng 10,76%. GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 34,76 triệuđồng (Gấp 2,1 lần so với năm 2010), tương đương 1.620 USD. Tổng vốn đầu tưtoàn xã hội trên địa bàn liên tục tăng qua các năm, trong 5 năm 2011 - 2015 ướcđạt 43,3 nghìn tỷ đồng. Đã tập trung chỉ đạo phát triển Khu kinh tế cửa khẩu ĐồngĐăng - Lạng Sơn, xây dựng và nâng cấp, mở rộng các tuyến đường quan trọng rakhu vực cửa khẩu; Lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch tiếp tục phát triển khátoàn diện, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn tăng trưởng khá, năm 2015ước đạt 3.500 triệu USD, gấp 1,7 lần năm 2010, tăng bình quân 11,04%; Lĩnh vựcvăn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, cơ sở vật chất trường, lớp được tăng cường, đếnhết năm 2015 toàn tỉnh có 130 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia; Côngtác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phòng chống dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh4/9an toàn thực phẩm, dân số, kế hoạch hoá gia đình có nhiều cố gắng, từng bướcnâng cao về chất lượng; Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
Xem thêm

9 Đọc thêm

PHƯƠNG PHÁP dạy học CHUYÊN NGÀNH

PHƯƠNG PHÁP dạy học CHUYÊN NGÀNH

hoa Năm 1937, nhằm thi hành các chủ trương của Xứ ủy Trung kì, tại Đại An (Nhơn Mỹ, An Nhơn), Đảng bộ Hồng Lĩnh đã họp và quyết định các việc quan trọng, trong đó có việc đề cử người vào Ban Cán sự liên tỉnh và Tỉnh ủy lâm thời Bình Định. Sự phát triển của phong trào toàn tỉnh, nhất là phong trào các huyện phía nam đòi hỏi sự lãnh đạo thống nhất và kịp thời hơn nữa của Đảng bộ. Nhằm đáp ứng tình hình đó, vào cuối năm 1937, đồng chí Nguyễn Trí, người phụ trách phong trào các tỉnh trong vùng, đã chọn một số cán bộ lãnh đạo của Đảng bộ Hồng Lĩnh đưa vào Ban tỉnh ủy lâm thời Bình Định, chỉ định đồng chí Nguyễn Văn làm bí thư. Cuối năm 1937, nhất là đầu năm 1938, lợi dụng những khả năng thuận lợi có được, ta đẩy mạnh các hoạt động công khai, hợp pháp tại thành phố Quy Nhơn. Khoảng giữa năm 1938, để thu hút lực lượng trẻ vào trận tuyến đấu tranh cách mạng, tại gò Hương Sơn (Bình An, Tây Sơn), vốn là một căn cứ chống Pháp của nghĩa quân Cần Vương Bình Định (18851887), Tỉnh ủy Lâm thời Bình Định đã lập Đoàn Thanh niên Dân chủ An Nhơn, Bình Khê. Bấy giờ, để lợi dụng thế hợp pháp, đoàn lấy tên là Hội đá bóng An – Bình. Câu2: Đoàn tỉnh Bình Định đã có những tên gọi khác nhau qua các thời kì: 1939, Đoàn Thanh niên Phản đế; 1941, Đoàn Thanh niên cứu quốc; 1956, Đoàn TNLĐ Việt Nam; 1970, Đoàn TNLĐ Hồ Chí Minh; 1976, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Đoàn Thanh niên Dân chủ An Bình đã nhanh chóng tập hợp được nhiều tầng lớp thanh niên nông thôn, nhất là thanh niên học sinh các trường sơ đẳng và hương sư, thợ thủ công huyện Bình Khê (Tây Sơn), An Nhơn và Phù Cát. Đoàn tổ chức những trận đấu bóng giao hữu trên các sân vận động Phú Phong, Kiên Mỹ, Trương Định (Tây Sơn); An Thái, Đạp Đá (An Nhơn); An Hành (Phù Cát)… để giúp thanh niên có dịp tiếp xúc rộng rãi với nhau. Đoàn đưa thanh niên đi thăm một số di tích lịch sử và thắng cảnh ở địa phương (Hầm Hô, Hương Sơn, núi Ông Bình…) để tìm hiểu đất nước và quê hương. Đi đôi với việc tập một số bài hát cách mạng như Thanh niên xích vệ, Cùng nhau ta đi hồng binh, Đoàn chú trọng vận động thanh niên đọc sách báo tiến bộ để tìm hiểu chính sách, chủ trương của Đảng. Đồng thời tổ chức một số cuộc mạn đàm trao đổi các vấn đề chính trị và xã hội nóng hổi: tự do, dân chủ, chống phát xít,
Xem thêm

Đọc thêm

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH

nguyên mang tính tiêu cực gây ảnh hƣởng xấu đến các loài động, thực vật có giá trịvề thẩm mỹ và kinh tế cũng nhƣ môi trƣờng sống quanh họ.- Các hoạt động mang tính giáo dục, giảng giải nâng cao nhận thức về hệ sinhthái và môi trƣờng sống là yếu tố quan trọng của du lịch sinh thái: Du lịch sinh tháidu lịch sinh thái là phƣơng tiện tốt để truyền đạt thông tin vì nó có khả năng đƣacon ngƣời tiếp cận trực tiếp và thấy rõ vai trò của thiên nhiên đối với đời sống conngƣời. Khác với các hình thức du lịch khác thì việc đẩy mạnh các hoạt động mangtính giáo dục về các hệ sinh thái và môi trƣờng sống là một trong những đặc điểmnổi trội của du lịch sinh thái. Các hoạt động giáo dục này bao gồm việc giảng dạyvề lịch sử, nguồn gốc hình thành, tập quán sinh hoạt, mối quan hệ tƣơng tác qua lạigiữa các loài động thực vật và vai trò của chúng trong thiên nhiên. Du lịch sinh tháihƣớng dẫn cách thức để những ngƣời làm du lịch và khách du lịch tiến hành hoạtđộng du lịch đúng cách với thái độ trân trọng, giữ gìn và bảo vệ môi trƣờng sống.- Dựa vào việc khai thác tiềm năng tự nhiên và nhân văn du lịch sinh tháimang lại lợi ích cho cộng đồng dân cƣ bản địa: du lịch phát triển và mở rộng đãgiúp cho nhiều địa phƣơng thoát khỏi cảnh đói nghèo, ngƣời dân tiếp cận với cácdịch vụ giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng. Nếu du lịch đại trà tập trung vào phát triển, mởrộng quy mô kinh doanh của họ mà không quan tâm đúng mức vai trò và sự có mặtcủa ngƣời dân bản địa trong việc triển khai các dự án và các chƣơng trình du lịch tạinhững nơi có tài nguyên thiên nhiên nhƣ vƣờn quốc gia, các khu dự trữ thiên nhiênthì du lịch sinh thái đã khơi dậy và đánh thức những tiềm năng sẵn có này để manglại thu nhập đáng kể cho cƣ dân địa phƣơng bằng các hoạt động dịch vụ du lịchnhƣ: phục vụ lƣu trú, ăn uống, bán hàng lƣu niệm và các dịch vụ bổ trợ khác. Ngoàira còn kéo theo sự phát triển các khách sạn, nhà nghỉ với mục đích mang lại nhiềulợi nhuận, những vật liệu xây dựng có mục đích chính đảm bảo độ bền vững, kinh tếmà không coi trọng đến việc thân thiện với môi trƣờng và đảm bảo cho phát triểnbền vững thì ngƣợc lại du lịch sinh thái luôn quan tâm đến việc tôn tạo cảnh quan16
Xem thêm

124 Đọc thêm

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRIỂN KHAI QUÁN TRIỆT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG TIỂU LUẬN CAO HỌC

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRIỂN KHAI QUÁN TRIỆT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG TIỂU LUẬN CAO HỌC

động trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội.Phương thức quán triệt nghiêm túc và có chất lượng hơn. Khả năng nắmbắt yêu cầu, nội dung nghị quyết tương đối sâu sắc; truyền đạt khá đầy đủ,đúng đắn, biết lý giải bằng lý luận, gắn với những nhiệm vụ của địa phương,cơ sở, phù hợp với trình độ của cán bộ, đảng viên ở cơ sở. Qua đó, vừa tạolòng tin, sự đồng tình với đường lối, chủ trương của Đảng, vừa định hướng tưtưởng, nhận thức và hành động cho đảng viên và nhân dân.Trên cơ sở nội dung nghị quyết và thực tế tình hình cơ sở đã rất cốgắng cụ thể hoá thành chương trình, kế hoạch, xác định được những nhiệm vụcông tác và phân công, bố trí lực lượng để thực hiện. Đặc biệt là việc tổ chứcphát động các phong trào hành động cách mạng theo định hướng của nghịquyết, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ củanghị quyết nói riêng, của nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ sở nói chung.Mặt khác, qua tổ chức thực hiện nghị quyết, cở sở còn phát hiện ra những hạnchế, bất cập, từ đó có phản ánh tính thực tiễn của nghị quyết để các cấp ủyđảng cấp trên điều chỉnh và hoàn thiện nghị quyết. Đúng như Chủ tịch Hồ ChíMinh khẳng định: “Cấp xã mà làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”.2.2.2. Những tồn tại, hạn chế trong công tác triển khai, tổ chức thực12hiện các chỉ thị nghị quyết của Đảng trên địa bàn tỉnh Kiên GiangViệc thực hiện công tác này còn nhiều hạn chế. Việc chỉ đạo, hướng dẫntriển khai, tuyên truyền, vận động của các đoàn thể đối với từng chỉ thị, nghịquyết chưa chặt chẽ; nhiều nơi chưa chú trọng việc tuyên truyền và đánh giáhiệu quả sau tuyên truyền; phương pháp tuyên truyền còn đơn điệu, thiếu chiềusâu. Công tác tuyên tuyền vận động chưa gắn kết giữa nội dung chỉ thị, nghịquyết với việc làm cụ thể của địa phương, trách nhiệm và quyền lợi của nhândân nói chung, của đoàn viên, hội viên nói riêng.
Xem thêm

27 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH (TT)

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH (TT)

nghiệp Giáo dục - Đào tạo của Việt Nam đã có những biến đổi mạnh mẽ cảvề quy mô và hình thức đào tạo, có bước phát triển đáng kể về chất lượng vànội dung đào tạo; trong đó, có sự đóng góp tích cực của các trường Đại học,Cao đẳng ở địa phương. Đội ngũ giảng viên đã không ngừng phát triển cả vềsố lượng và chất lượng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhânlực có trình độ cao, từng bước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá.Song, vấn đề phát triển đội ngũ giảng viên của các trường Đại học,Cao đẳng (đảm bảo cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng) vẫn đang cònkhoảng cách so với thực tiễn xã hội đặt ra. Do đó, việc phát triển đội ngũgiảng viên trong trường Đại học, Cao đẳng trên toàn quốc nói chung, cáctrường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nói riêng đang làmột vấn đề có ý nghĩa cấp thiết.Xuất phát từ yêu cầu trên, hơn lúc nào hết, các trường Đại học, Caođẳng phải tìm được lời giải đáp cho vấn đề cốt lõi ở trên. Để góp phần quantrọng, thiết thực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh NinhBình khoá XIX về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; giải quyết côngăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ngay trên địa bàn tỉnh, tôi đãmạnh dạn lựa chọn đề tài “Phát triển đội ngũ giảng viên các trường Đạihọc, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” làm luận văn Thạc sĩ Kinhtế, chuyên ngành Kinh tế Chính trị.Thông qua việc phân tích lý luận và thực tiễn về đội ngũ giảng viêncác trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, luận văn trìnhbày phương hướng và đề xuất những giải pháp cơ bản, nhằm phát triển độingũ giảng viên các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.Những thành công của luận văn:Chƣơng 1: Trên cơ sơ khẳng định: Đội ngũ giảng viên các trườngĐại học và Cao đẳng là đội ngũ những trí thức làm nghề lao động trí óc, có
Xem thêm

9 Đọc thêm

1 ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN TÁI LẬP BƯỚC VÀO THỜI KỲ đẩy MẠNH CNH, hđh (1997 2015) (sửa)

1 ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN TÁI LẬP BƯỚC VÀO THỜI KỲ đẩy MẠNH CNH, hđh (1997 2015) (sửa)

ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN VỚI SỰ NGHIỆP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ (19972015) Sau những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa quan trọng. Với những nền tảng tạo được, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (61996) quyết định chuyển đất nuớc sang thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” . Để đáp ứng với tình hình và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn mới, ngày 6111996, Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ X ra Nghị quyết về việc chia tỉnh Hải Hưng thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Quốc hội, bắt đầu từ ngày 0111997, tỉnh Hưng Yên chính thức được tái lập sau 29 năm hợp nhất với tỉnh Hải Dương (từ tháng 11968). 1. Những thuận lợi, khó khăn và thách thức mới của tỉnh Hưng Yên sau khi tái lập Sau khi tái lập, tỉnh Hưng Yên có những thuận lợi cơ bản, đồng thời phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách to lớn. Những thuận lợi cơ bản Một là, Hưng Yên là vùng đất văn hiến, giàu truyền thống. Đất đai trù phú, cây trồng và vật nuôi phong phú, đa dạng. Một số nghề truyền thống đang từng bước được khôi phục. Sau hơn mười năm tiến hành công cuộc đổi mới, Hưng Yên đã có những cơ sở vật chất nhất định được xây dựng; Đảng bộ và chính quyền đã có thêm kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo; một số địa phương có kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển sản xuất, dịch vụ, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Hai là, với vị trí nằm trong trọng điểm kinh tế phía Bắc, là cửa ngõ phía Đông của Thủ đô Hà Nội, có 23 km Quốc lộ 5, đường sắt chạy qua, Hưng Yên có thế mạnh lớn trong việc thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, dịch vụ và du lịch có nhiều triển vọng. Ba là, việc tái lập tỉnh có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo không khí hồ hởi, phấn khởi, là động lực phát triển giúp Đảng bộ và chính quyền tỉnh Hưng Yên có sự chỉ đạo sát sao hơn với thực tế địa phương, khai thác triệt để thế mạnh và tiềm năng của tỉnh, bắt kịp với tình hình mới và cơ chế mới, từ đó nhanh chóng ổn định và thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói riêng và của đất nước nói chung. Cùng với những thuận lợi cơ bản trên, tỉnh Hưng Yên cũng đứng trước những khó khăn, thách thức rất lớn. Thứ nhất, điểm xuất phát của tỉnh sau tái lập còn thấp: GDP bình quân đầu người năm 1996 khoảng 180 USD, thu ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ đáp ứng 13 so với yêu cầu. Trong những năm đổi mới, mặc dù có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế bước đầu nhưng nhìn chung vẫn là một tỉnh thuần nông, sản xuất manh mún, hàng hóa nông nghiệp ít, chất lượng chưa cao. Tài nguyên khoáng sản hạn chế. Kết cấu hạ tầng ít được chú trọng phát triển. Hệ thống giao thông vận tải khó khăn, đường bộ tỉnh và liên huyện chủ yếu rải đá lại hẹp. Thứ hai, trong nông nghiệp, cùng với việc chuyển dịch cơ cấu thì việc khảo nghiệm, đánh giá các loại cây trồng từng vùng, từng vụ chưa tốt, chưa gắn với quy trình kỹ thuật đã hạn chế sản xuất; hệ thống cơ sở hạ tầng nông nghiệp chưa phát triển đồng bộ; lực lượng lao động thừa còn lớn, tỷ lệ được đào tạo có trình độ kỹ thuật, tay nghề còn thấp. Ngành thương mại, dịch vụ du lịch của tỉnh kém phát triển do chưa được đầu tư, quan tâm. Sự quản lý của chính quyền và sự hỗ trợ cuả các ngành chức năng cho sự phát triển của thương mại, du lịch chưa được đúng mức. Ngành du lịch hầu như chưa phát triển, chưa có khách sạn lớn. Các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh như Phố Hiến, Đa Hòa Dạ Trạch… chưa được tu bổ tôn tạo, nâng cấp đúng mức. Thứ ba, cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ phát triển văn hóa, xã hội còn nghèo nàn, lạc hâu. Mạng lưới giáo dục đào tạo không đồng bộ, thiết bị dạy và học thiếu thốn, giản đơn, đặc biệt là đối với ngành học mầm non. Nhiều địa phương, trường cấp I, II còn dùng chung cơ sở vật chất, còn 3 trường liên cấp II và III. Phần lớn các bệnh viện xây dựng từ những năm trước tuy được nâng cấp, sửa chữa, hoặc xây dựng cao tầng cho một số khu điều trị, cấp cứu nhưng một số bệnh viện vẫn còn sử dụng nhà cấp 4 cho bệnh nhân nằm điều trị. Trang thiết bị cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh của bệnh nhân. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao tuy được đẩy mạnh dưới nhiều hình thức song cơ sở vật chất còn thiếu. Đứng trước những thuận lợi và khó khăn nói trên, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã khẩn trương kiện toàn và ổn định tổ chức, lãnh đạo nhân dân vượt qua những khó khăn ban đầu, mau chóng ổn định kinh tế xã hội. 2. Chủ trương và và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh nhằm đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH Căn cứ vào tình hình cụ thể của tỉnh, để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XIV (111997) chủ trương: huy động mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đưa công cuộc đổi mới phát triển một cách toàn diện và đồng bộ, tăng trưởng kinh tế nhanh, vững chắc và có hiệu quả đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng, cải thiện một bước mức sống nhân dân, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nâng cao tích luỹ nội bộ, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao. Nhằm tạo điểu kiện cho việc tăng trưởng của tất cả các ngành nghề và thu hút đầu tư trong tỉnh, Tỉnh uỷ Hưng Yên đã chủ động ban hành Nghị quyết số 04 ANQTU về phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; Nghị quyết số 03NQTU ngày 2061998 về đẩy mạnh hợp tác đầu tư trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Đây là những quyết định hợp lý, kịp thời phát huy nội lực, thu hút ngoại lực để phát triển kinh tế địa phương. Trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI của Đảng, Đại hội lần thứ XV Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2001) xác định: Cần phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm xây dựng Hưng Yên giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đảng bộ tỉnh chủ trương xây dựng, phát triển đồng bộ và lành mạnh hóa thị trường. Đổi mới cơ chế thu hút các nguồn vốn đầu tư và cơ cấu đầu tư. Ra sức khai thác, phát huy nội lực và tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài để thu hút các nguồn vốn đầu tư; kết hợp nội lực và ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp. Tiếp tục đổi mới cơ cấu đầu tư, tăng tỷ trọng đầu tư và thúc đẩy nhanh hơn công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn. Ưu tiên đầu tư cho các vùng kinh tế có khả năng phát triển nhanh như thị xã, đô thị Phố Nối, các khu công nghiệp, các thị trấn, huyện lỵ, để tạo động lực thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển; chú ý đến đầu tư hỗ trợ các xã khó khăn, vùng có khó khăn để vươn lên. Khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài, tỉnh ngoài đầu tư kinh doanh vào Hưng Yên. Trong chiến lược phát triển đất nước đến năm 2010, nhằm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong nông nghiệp, phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVI (122005) xác định: Huy động tối đa các nguồn lực để tập trung cho đầu tư phát triển, huy động vốn đầu tư. Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, hỗ trợ vùng khó khăn, lĩnh vực cần quan tâm như: xử lý chất thải, môi trường, phát triển văn hoá du lịch... Đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hoá hiện đại hoá, chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế thị trường. Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trước hết là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; quan tâm đào tạo và thu hút nhân tài, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề. Tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế bằng các giải pháp cụ thể. Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý đảm bảo đưa nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững. Chuyển dần lao động nông nghiệp sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; tăng năng suất lao động, đạt hiệu quả kinh tế cao. Nhằm nâng cao chất lượng phát triển kinh tế xã hội, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVII (2010), chỉ rõ: Nhiệm vụ cấp thiết là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá, phát triển nhanh và bền vững gắn với tập trung xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với xây dựng nông thôn mới. Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giầu đẹp, kinh tế phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tếxã hội đồng bộ, hiện đại; giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống và các ngành nghề truyền thống ở từng địa phương. Phát triển nhanh công nghiệp theo hướng hiện đại, thích ứng và hội nhập nhanh với nền kinh tế quốc tế. Tập trung phát triển công nghiệp theo hướng ưu tiên mạnh những ngành, sản phẩm có nhiều lợi thế, có ý nghĩa chiến lược, hiệu quả và bền vững. Tiếp tục rà soát hoàn chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp; bổ sung cơ chế kịp thời, tạo sự hấp dẫn hơn nữa đối với các nhà đầu tư; ưu tiên các dự án lớn, có sản phẩm và sức cạnh tranh cao, có hàm lượng công nghệ tiên tiến và đóng góp nguồn thu nhiều cho ngân sách, sử dụng nguyên liệu và lao động tại chỗ, thân thiện với môi trường. Phát huy lợi thế, phát triển mạnh các loại hình dịch vụ, khuyến khích và tạo cơ chế hấp dẫn để phát triển các loại hình dịch vụ nhà ở công cùng với dịch vụ vui chơi giải trí, văn hoá, thể thao cho người lao động ở các khu công nghiệp tập trung; ưu tiên phát triển dịch vụ phụ trợ, phục vụ phát triển công nghiệp. Để thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp, cải thiện môi trường đầu tư, bổ sung cơ chế, chính sách tạo sự hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh, Đại hội lần thứ XVIII của Đảng bộ Hưng Yên (112015), chỉ đạo tập trung thu hút đầu tư, phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp tạo nền tảng cho công nghiệp hóa hiện đại hóa; rà soát, bổ sung các quy hoạch phát triển công nghiệp, cụm công nghiệp, công nghiệp phụ trợ để thực hiện các nội dung định hướng tái cơ cấu ngành sản xuất, phát huy tối đa lợi thế, gắn kết giữa sản xuất với tiêu thụ sản phẩm và phát triển bền vững. Có cơ chế, chính sách tạo vốn, huy động cao các nguồn lực cho đầu tư hạ tầng, phát triển các khu, cụm công nghiệp; đặc biệt ưu tiên phát triển các khu, cụm công nghiệp lớn để thu hút các dự án công nghiệp công nghệ cao, tiên tiến, hiện đại, công nghiệp sạch... có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, tăng thu ngân sách, tập trung. 3. Những thành tựu quá trình phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh Hưng Yên Trải qua 75 năm thành lập và phát triển, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh. Từ Chi bộ Cộng sản đầu tiên (Chi bộ Sài Thị) Khoái Châu, đến nay toàn Đảng bộ đã có hàng vạn đảng viên. Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân chuyển sang cơ chế mới, thực hiện kinh tế thị trường và sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng đa dạng hoá sở hữu, tạo ra một bước chuyển căn bản trên chặng đường đổi mới. Từ một tỉnh nông nghiệp, tình trạng thiếu lương thực trầm trọng và phổ biến, công nghiệp kém phát triển, ngày nay Hưng Yên đã trở thành vùng quê trù phú với cơ cấu kinh tế hợp lý, phát huy cao độ tiềm năng, nguồn lực của địa phương, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không ngừng được đầu tư nâng cấp, có những cơ sở công thương nghiệp dịch vụ đáng kể, là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao, thu hút được sự hợp tác đầu tư của các thành phần kinh tế. Thắng lợi đầu tiên mang tính quyết định và có ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là kinh tế Hưng Yên phát triển với tốc độ cao và khá ổn định.Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm trên 12,%năm những năm (19972000), 12,8% những năm đầu thế kỷ XXI (2001 – 2005); 11,7% những năm (2005 – 2010). Bước vào những năm 2011 – 2015, mặc dù suy thoái kinh tế toàn cầu, kinh tế đất nước tăng trưởng chững lại song tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hưng Yên vẫn đạt 7,8%. Thu ngân sách của tỉnh tăng từ dưới 1.00 tỷ đồng trước khi tách tỉnh lên 3.000 tỷ đồng năm 2010 và 8.000 tỷ đồng năm 2015, vượt kế hoạch Trung ương giao và vượt chỉ tiêu hằng năm. Thu nhập bình quân trên đầu người tăng từ 160 USD năm 1996 lên 20 triệu đồng năm 2010 và 40 triệu đồng năm 2015. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, theo hướng tăng tỷ lệ ngành công nghiệp, thương mại – dịch vụ và giảm ngành tỷ trọng ngành nông nghiệp.Cơ cấu công nghiệp chuyển dịch tích cực. Các khu công nghiệp hoạt động hiệu quả, tỷ lệ lấp đầy đạt khá, đóng góp nhiều vào nguồn thu ngoại tệ qua các hoạt động xuất khẩu hàng hóa như khu công nghiệp Thăng Long II, khu công nghiệp Phố Nối A… Đến năm 2015, toàn tỉnh có 1.225 dự án với tổng số vốn đầu tư đăng ký tương đương là 7,1 tỷ USD. Cơ cấu nông nghiệp có chuyển dịch tích cực, thu nhập trên 1ha canh tác đạt trên 150 triệu đồng. Sau 4 năm thực hiện xây dựng nông thôn mới, tổng nguồn vốn đã huy động đạt gần 40 nghìn tỷ đồng, hết năm 2015 bình quân toàn tỉnh đạt 14,7 tiêu chíxã, 18 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Cùng với những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnh cúng có nhiều mặt tiến bộ. Sự nghiệp giáo dục đào tạo tiếp tục phát triển, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Đến năm 2015, toàn tỉnh có 157 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng 75 trường so với năm 2005. Hưng Yên là tỉnh thứ 6 đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, là tỉnh thứ 7 đạt chuẩn giáo dục tiểu học mức độ II. Tỉnh đã triển khai tích cực y tế dự phòng, hạn chế và dập tắt kịp thời các dịch bệnh, không để dịch bênh lớn xảy ra trên địa bàn; đầu tư mua sắm nhiều thiết bị vật tư y tế hiện đại. Trên địa bàn tỉnh, thành lập mới nhiều bệnh viện chuyên khoa cấp tỉnh, trung tâm y tế tuyến huyện, xã được đầu tư, mở rộng hoặc xây mới. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” từng bước đi vào chiều sâu. Tổ chức tốt các hoạt động nhân dịp lễ kỷ niệm các ngày lễ lớn, trong đó có lễ kỷ niệm 180 năm thành lập tỉnh Hưng Yên và Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 100 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh.Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được chú trọng, trong đó Khu di tích Phố Hiến được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế xã hội của tỉnh còn nhiều hạn chế. Mặc dù nằm trong tam giác kinh tế phát triển Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh nhưng Hưng Yên chưa khai thác và tận dụng triệt để lợi thế để phát triển: Một số chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế xã hội chưa đạt mục tiêu đề ra.Sản xuất nông nghiệp quy mô còn nhỏ, tiến độ xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp còn chậm. Một số dự án trọng điểm không đạt tiến độ. Chất lượng đào tạo, nhất là đào tạo nghề chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển. Việc triển khai học tập, quán triệt thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng ở một số địa phương chất lượng chưa cao. Công tác phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn, doanh nghiệp ngoài nhà nước còn hạn chế. Còn hiện tượng nhũng nhiễu, gây bức xúc cho doanh nghiệp và người dân. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí kết quả chưa cao. Trong những năm tới, để xây dựng tỉnh Hưng Yên sớm trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh phải khai thác triệt để động lực của tam giác kinh tế Bắc Bộ; đổi mới tư duy trong thu hút đầu tư trong nuớc và nước ngoài theo hướng tập trung xây dựng các khu công nghiệp lớn với kết cấu hạ tầng, hiện đại, sử dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất; chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới hiện đại, đồng bộ, trong đó chú trọng sản xuất nông nghiệp hàng hóa và đưa công nghệ sạch vào sản xuất nông nghiệp nhằm tăng giá trị nông sản hàng hóa và bảo vệ môi trường, xây dựng nông thôn phát triển bền vững; tăng cường chất lượng xây dựng văn hóa và con người Hưng Yên; đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và Đảng bộ trong sạch, vững đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
Xem thêm

Đọc thêm

Đánh giá mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại Bản Lác xã Chiềng Châu huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình

ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI BẢN LÁC XÃ CHIỀNG CHÂU HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HÒA BÌNH

1.Lí do chọn đề tàiPhát triển du lịch cộng đồng là một phương thức mới để phát triển du lịch và là một khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam. Vào những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, phương thức phát triển du lịch dựa vào cộng đồng ở nước ta mới được bắt đầu nghiên cứu và thử nghiệm tại một số địa phương có nhiều tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn. Do đó nhiều vấn đề về nhận thức, lý luận cũng như thực tiễn đang trong quá trình phát triển.Do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ năm 2008, nhu cầu thị trường đối với mặt hàng thủ công sụt giảm dẫn đến việc nhiều gia đình thuộc các làng nghề thủ công nông thôn phải đóng cửa sản xuất và tìm kiếm việc làm khác ở các đô thị lớn. Điều này làm trầm trọng làm tăng thêm phân tầng xã hội ở các đô thị và đánh mất sự gắn kết của các cộng đồng nông thôn truyền thống Việt Nam.Tạp chí Business Insider (2013) – Mỹ bình chọn Mai Châu ( Hòa Bình) là 1 trong 10 điểm du lịch thú vị nhất châu Á. Để có thể đạt được điều đó là nhờ người dân địa phương đã biết cách làm du lịch. Từ chỗ chỉ dệt những chiếc khăn, chiếc áo thổ cẩm để mặc, phụ nữ trong bản đã biến những sản phẩm may mặc đó thành những món đồ lưu niệm bán cho du khách. Nhờ phát triển du lịch, đời sống của người dân được nâng cao, diện mạo nông thôn thay đổi đáng kể. Du lịch gần như là nguồn thu nhập chính của bà con nơi đây.Trước tình hình đó Ủy Ban Đảng Ủy huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình đã thực hiện chủ trương triển khai đề án “Đề án xây dựng quy hoạch mạng lưới phát triển du lịch cộng đồng gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015” và được triển khai từ tháng 32012. Hiện tại có 10 bản thuộc huyện đang thực hiện chủ trương của đề án.Bản Lác cũng 1 trong 10 bản thuộc huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình phát triển mô hình du lịch cộng đồng với các loại hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa lễ hội, du lịch ngành nghề truyền thống, văn hóa ẩm thực, văn hóa lịch sử…Chính vì lý do đó, tác giả chọn đề tài “Đánh giá mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại Bản Lác xã Chiềng Châu huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
Xem thêm

91 Đọc thêm

pp đề tài ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH, GIAI ĐOẠN 2010 2012

PP ĐỀ TÀI ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH, GIAI ĐOẠN 2010 2012

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH, GIAI ĐOẠN 2010 2012Lạc Thủy là huyện miền núi của tỉnh Hòa Bình. Trong những năm gần đây các hoạt động trong lĩnh vực đất đai đã diễn ra sôi nổi nhưng cũng không kém phần phức tạp. Đặc biệt là chuyển QSDĐ là một hoạt động diễn ra thường xuyên từ xưa tới nay và tồn tại dưới nhiều hình thức đa dạng. Xuất phát từ vấn đề trên, em tiến hành nghiên cứu

31 Đọc thêm

LUẬN văn đảng bộ tỉnh nam định lãnh đạo công tác thanh niên từ năm 2001 đến năm 2011

LUẬN văn đảng bộ tỉnh nam định lãnh đạo công tác thanh niên từ năm 2001 đến năm 2011

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, thanh niên luôn được xem là rường cột và tương lai của đất nước. Thanh niên luôn là lực lượng xung kích trong các cuộc đấu tranh cách mạng, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Thanh niên có trong mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Họ ở trong độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình. Song, thanh niên cũng chứa đựng rất nhiều vấn đề phức tạp: do độ tuổi còn trẻ, thiếu kinh nghiệm, lại không phải là một khối thuần nhất; từ đó đòi hỏi phải được quan tâm, định hướng và chăm lo giải quyết. Thanh niên rất cần sự giúp đỡ của các thế hệ đi trước và toàn xã hội. Họ là lớp đối tượng chưa từng trải nên dễ hoang mang dao động trước khó khăn, dễ bị kích động, nhẹ dạ cả tin, tiếp nhận thông tin ít chọn lọc, tạo nên yếu tố tiêu cực trong cuộc sống. Họ đang ở độ tuổi năng động, hăng hái, sôi nổi, nhiệt tình song cũng dễ sa vào trạng thái cực đoan, chạy theo lối sống thực dụng. Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh rằng: không phải thời đại nào sức mạnh thanh niên cũng được phát huy một cách cao nhất mà nó phụ thuộc vào sự tiến bộ trong nhận thức và chính sách, chủ trương của lãnh đạo thời kỳ đó. Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng luôn đề cao vai trò, vị trí của thanh niên, coi công tác thanh niên là nhiệm vụ sống còn của Đảng và dân tộc. Đồng thời, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức thanh niên thành lực lượng hùng hậu, kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng. Dù bất cứ hoàn cảnh nào các thế hệ thanh niên đều hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình.Thực tế, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, quán triệt tới tận các cấp ủy địa phương nhằm phát huy vai trò làm chủ to lớn của thanh niên. Trên tinh thần chỉ đạo của Đảng, Đảng bộ tỉnh Nam Định bằng nhiều hình thức, ph¬ương pháp khác nhau đã thu hút thanh niên đi đầu trong việc thực hiện thắng lợi chiến l¬ược phát triển kinh tế xã hội. Công tác thanh niên của tỉnh đã có những chuyển biến rõ rệt về nội dung và hình thức sinh hoạt. Tuy nhiên bên cạnh những thành tích đạt được vẫn còn nhiều hạn chế: Công tác thanh niên còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp bởi vì: thanh niên đi làm ăn nhiều, ít tham gia vào các hoạt động của tổ chức; hình thức sinh hoạt chư¬a đ¬ược th¬ường xuyên; đội ngũ cán bộ lãnh đạo ít đ¬ược đào tạo về kỹ năng, nghiệp vụ nên hoạt động của công tác thanh niên chưa đạt được hiệu quả cao. Là một người con sinh ra trên mảnh đất Thành Nam, nhằm góp phần làm cho công tác thanh niên thêm sôi động và phong phú, mặc dù còn nhiều khó khăn trong công tác thu thập tài liệu nhưng tôi vẫn quyết định chọn đề tài: Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo công tác thanh niên từ năm 2001 đến năm 2011 làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG THI CAO CẤP CHÍNH TRỊ MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNG THI CAO CẤP CHÍNH TRỊ MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội.Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng và pháttriển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ nghĩaMác-lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần củanhân dân, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người phát triển toàn diện, xâydựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước.Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định con đường cứu nước đúng đắn để giải phóngdân tộc đã phát huy lòng yêu nước truyền thống và nâng thành lòng yêu nước xãhội chủ nghĩa. Tinh thần, ý chí độc lập, tự chủ, tự cường và lòng yêu nước phát huyđược sức mạnh to lớn, tạo nên truyền thống đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm nổi bật sức mạnh của con người Việt Nam, đó làsức mạnh thể lực và trí tuệ, sức mạnh của bề dày lịch sử và trong cuộc đấu tranhhiện tại, sức mạnh của sự thông minh và dũng cảm, của lòng tin chân chính khônggì lay chuyển. Sức mạnh ấy bền vững và được nhân lên nhiều lần dưới sự lãnh đạocủa Đảng cộng sản Việt Nam.Thời đại ngày nay, đặc biệt là giai đoạn hiện nay đang diễn ra một cuộc đấutranh gay gắt trên mặt trận tư tưởng cũng như về hoạt động thực tiễn mà chúng tacần nhận thức đúng đắn để tiến hành những hoạt động quốc tế phù hợp phục vụ sựnghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN.Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, Tỉnh ủy, HĐND, UBND luôn chú trọngtuyên truyền giáo dục cho nhân dân có niềm tin về lý tưởng XHCN trong điều kiệnthế giới có nhiều biến đổi; xử lý nghiêm minh, công bằng đối với những hành vi viphạm pháp luật làm suy thoái tư tưởng, băng hoại đạo đức xã hội; Không ngừngbảo vệ và pháy huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, làm cho bản sắc vănhoá được giữ vững và phát triển; Giữ vững tinh thần độc lập tự chủ trong tiếp thusức mạnh bên ngoài, kết hợp sức mạnh nội lực. Việc giáo dục tinh thần yêu nước,lòng tự hào dân tộc chính đáng, ý thức bảo vệ văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọcvăn hoá nước ngoài là những yêu cầu cấp thiết được đặt ra đối với việc “mở cửa”.
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG (1991 2011)

ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG (1991 2011)

Năm 2004, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành cuốn Kết hợpgiải quyết tố cáo với kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiện viphạm ở Đảng bộ tỉnh Yên Bái. Cuốn sách tổng kết, đánh giá thực trạng tìnhhình thực hiện công tác kiểm tra của Đảng bộ tỉnh Yên Bái trong 8 năm1996 - 2003, quá trình thực hiện việc kết hợp giải quyết tố cáo với kiểm trađảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm ở Đảng bộ tỉnh Yên Bái.Trên cơ sở thực tiễn những kết quả thu được, Đảng bộ tỉnh Yên Bái đã bướcđầu rút ra được những bài học kinh nghiệm cần thiết, xác định những giảipháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra trong những năm tiếp theo.Cuốn sách đã cung cấp những số liệu cụ thể về công tác kiểm tra đảng viênvà tổ chức đảng, giúp tác giả luận án bổ sung vào phân tích dữ liệu liên quanđến nội dung công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ.Năm 2005, cuốn sách Đảng bộ Yên Bái 60 năm xây dựng và trưởngthành (1945 - 2005) hoàn thành. Cuốn sách giúp cho người đọc có một cáinhìn tổng quát về sự ra đời và những bước phát triển của Đảng bộ Yên Báitrong những năm 1945 - 2005. Cuốn sách tập hợp gồm 36 bài viết đề cậpđến những chủ trương của Đảng bộ tỉnh Yên Bái cũng như Đảng bộ các địaphương trong tỉnh Yên Bái về thực hiện những yêu cầu đặt ra đối vớinhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó có hai bài viết đề cập mộtphần nào đến nội dung xây dựng Đảng là: phát huy truyền thống vẻ vang,xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo hoàn thành thắng lợinhiệm vụ của tỉnh trong thời kỳ mới (2001 - 2005) và chăm lo công tác xâydựng Đảng đáp ứng yêu cầu lãnh đạo xây dựng tỉnh Yên Bái phát triểnnhanh, bền vững và toàn diện. Mặc dù nội dung hai bài viết chỉ đề cập đếnxây dựng Đảng ở một giai đoạn ngắn nhưng giúp cho tác giả có thêmnguồn tư liệu để so sánh về sự thay đổi chủ trương của Đảng bộ Yên Báicũng như kết quả đạt được trong công tác xây dựng Đảng vào những thờiđiểm khác nhau.17
Xem thêm

165 Đọc thêm

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỈNH TRÀ VINH (1992–2015)

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỈNH TRÀ VINH (1992–2015)

Trà Vinh là một tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam về sản xuất lúa gạo và thủy sản, với vị trí địa lý thuận1lợi đó Trà Vinh có diện tích tự nhiên khá lớn, và có tiềm năng phát triển nôngnghiệp. Trong những năm vừa qua, nông nghiệp Trà Vinh đã có sự phát triểntoàn diện. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng tích cực.Đời sống, vật chất và tinh thần của nông dân không ngừng được nâng lên.Tuy nhiên, kinh tế nông nghiệp của Trà Vinh vẫn còn tồn tại nhiều bất cập.Việc nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Trà Vinhtừ năm 1992 đến 2015 sẽ góp phần làm rõ những thành công cũng như hạnchế của việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước để phát triển nông nghiệp thời gian qua. Từ đó chỉ ra được những bàihọc kinh nghiệm và phương hướng trong việc triển khai chương trình hiện đạihóa nông nghiệp tại các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long.Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề “Chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Trà Vinh (1992–2015)” làm đề tài nghiên cứucho luận văn Thạc sĩ của mình.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.Nông nghiệp có vị trí quan trọng trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đấtnước, vì vậy đã có nhiều công trình của các nhà khoa học đề cập đến vấn đềnày ở những góc độ khác nhau.Tác giả Nguyễn Sinh Cúc trong các công trình “Thực trạng nôngnghiệp, nông thôn và nông dân nước ta” NXB Thống kê (1990), và Nôngnghiệp Việt Nam 1945–1995 NXB Thống kê, Hà Nội (1995), đã phân tíchthành tựu và hạn chế của nông nghiệp Việt Nam. Tác giả bước đầu cũng đềcập tới những tác động to lớn của kinh tế nông nghiệp đối với đời sống của xãhội nông thôn. Trong công trình Nông nghiệp Việt Nam 1945–1995, tác giả
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề