KỸ THUẬT GHÉP MẮT CÂY ĂN QUẢ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "KỸ THUẬT GHÉP MẮT CÂY ĂN QUẢ":

Kế hoạch môn công nghệ 9

KẾ HOẠCH MÔN CÔNG NGHỆ 9

Biết vai trò vị trí của nghề trồng cây ăn quả trong nền kinh tế và đời sống Biết triển vọng của nghề Yêu thích nghề trồng cây ăn quả Hiểu được các đặc điểm và yêu cầu của nghề đối với người làm nghề Biết được giá trị của việc trồng cây ăn quả, đặc điểm thực vật và yêu cầu ngoại cảnh của cây ăn quả Có hứng thú học tập về trồng cây Hiểu được các biện pháp gieo trồng , chăm sóc, thu hoạch , bảo quản, chế biến sản phẩm Biết được những yêu cầu kĩ thuật xây dựng vườn ươm cây Có hứng thú tìm tòi trong học tập Hiểu được đặc điểm và yêu cầu kĩ thuật của các phương pháp nhân giống cây ăn quả Biết cách giâm cành theo đúng thao tác kĩ thuật Có ý thức kỉ luật , trật tự, vệ sinh và an toàn lao động Làm được các thao tác của quy trình giâm cành cây ăn quả Biết chiết cành theo đúng quy trình và thao tác kĩ thuật Có ý thức kỉ luật, trật tự, vệ sinh, an toàn lao động Làm được các thao tác kĩ thuật trong quy trình Biết cách ghép đoạn cành theo các thao tác kỹ thuật. Có ý thức kỉ luật, trật tự, vệ sinh, an toàn lao động Ghép được cây ăn quả theo kiểu ghép: đoạn cành, mắt nhỏ có gỗ, chữ T theo đúng quy trình kĩ thuật
Xem thêm

19 Đọc thêm

Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và khả năng phòng chống sâu ăn lá hồng ngọt Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera- Noctuidae) tại Hòa Bình, Việt Nam

ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC VÀ KHẢ NĂNG PHÒNG CHỐNG SÂU ĂN LÁ HỒNG NGỌT HYPOCALA SUBSATURA GUENEE (LEPIDOPTERA- NOCTUIDAE) TẠI HÒA BÌNH, VIỆT NAM

PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Thời tiết khí hậu miền núi phía Bắc nước ta khá đa dạng, những nơi ở độ cao ≥500m so với mặt nước biển, có mùa đông lạnh, mùa hè mát rất thích hợp để phát triển cây ăn quả ôn đới với nhiều chủng loại như: mận, mơ, hồng, đào, lê...với yêu cầu đơn vị lạnh khác nhau. Đây là một lợi thế để trồng các loại cây ăn quả ôn đới mà phần lớn các tỉnh khác trong cả nước, thậm chí kể cả các nước trong khối ASEAN, hoặc chỉ trồng ở mức rất hạn chế. Trong các loại cây ăn quả ôn đới hồng là cây ăn quả truyền thống, được bà con nông dân trồng từ lâu đời ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, các tỉnh Tây nguyên, là những nơi có nhiều tiềm năng về đất đai, điều kiện sinh thái thích hợp cho phát triển cây hồng (Lê Đức Khánh và cs., 2012). Đây cũng là vùng có nhiều bà con dân tộc thiểu số sinh sống, đời sống còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay các giống hồng trồng phổ biến ngoài sản xuất gồm các nhóm hồng giấm và hồng ngâm, đều thuộc chủng loại hồng chát địa bản địa, chất lượng quả thấp, không đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng, nhất là thời kỳ hội nhập hiện nay, dẫn đến hiệu quả kinh tế trồng cây hồng ăn quả không cao, nhiều nơi người dân chặt bỏ để chuyển đổi sang cây trồng khác. Giống hồng ngọt Fuyu, có nguồn gốc từ Nhật Bản đã được đưa vào Việt Nam từ năm 2005. Đây là giống hồng thuộc nhóm hồng không chát, không cần xử lý sau thu hoạch, có thể ăn ngay khi quả chín, chất lượng quả cao, được xem như là những giống cây trồng mới, thích hợp với các tỉnh miền núi phía Bắc, có tiềm năng và ưu thế thương mại đối với Việt Nam, được Bộ Nông Nghiệp và PTNT công nhận tạm thời, quyết định số 3326 QĐ/BNN – TT, ngày 29/10/2007; lấy tên là MC1; công nhận chính thức ngày 15/12/2011, quyết định số 735/QĐTT- CCN. Là giống cây trồng mới, hồng MC1 bị khá nhiều loài sâu hại tấn công làm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của quả hồng đặc biệt là nhóm sâu ăn lá. Chúng tấn công gây hại làm giảm quang hợp của cây dẫn đến cây bị suy yếu đặc biệt chúng tập trung gây hại vào giai đoạn lộc xuân của cây hồng, đây là giai đoạn rất quan trọng quyết định sự sinh trưởng và phát triển của cây hồng. Trên thế giới, các kết quả công bố và nghiên cứu về loài sâu ăn lá hồng chưa nhiều, nhất là những nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học và sinh thái học. Ở Việt Nam, những nghiên cứu về sâu hại hồng còn rất ít, chỉ có một số kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (1999), Lê Văn Thuyết (2002), Lê Đức Khánh và cs. (2012) về thành phần loài sâu hại hồng ở Việt Nam. Chưa có tài liệu nghiên cứu chuyên sâu nào về nhóm sâu ăn lá hồng. Việc thu thập, xác định thành phần sâu hại trên hồng, xác định đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái và diễn biến tình hình gây hại của loài chủ yếu là rất cần thiết, là cơ sở để xây dựng quy trình quản lý tổng hợp sâu hại chính trên hồng một cách hợp lý, an toàn và bền vững, góp phần thúc đẩy sản xuất hồng ăn quả ở nước ta nói chung, các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng. 1.2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1.2.1. Mục đích Từ những hiểu biết về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của đối tượng nghiên cứu, góp phần nâng cao khả năng phòng chống loài sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) theo hướng tổng hợp, đạt hiệu quả kinh tế, an toàn và thân thiện với môi trường. 1.2.2. Yêu cầu - Điều tra thành phần sâu hại chính trên cây hồng ngọt nhập nội MC1. Bước đầu đánh giá vị trí của loài sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) và tác hại của chúng đối với giống hồng ngọt nhập nội MC1. - Xác định được đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae). - Xác định được diễn biến mật độ của loài sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) trong mối quan hệ với các yếu tố khí hậu thời tiết, giống, mùa vụ sinh trưởng, kỹ thuật trồng trọt và kẻ thù tự nhiên. - Thử nghiệm biện pháp phòng chống sâu ăn lá hồng Hypocala subsatura Guenee (Lepidoptera: Noctuidae) theo hướng tổng hợp. 1.3. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI - Bổ sung danh lục 11 loài sâu hại thuộc 3 bộ và 9 họ trên cây hồng ngọt MC1 nhập nội. Lần đầu tiên phát hiện loài ngài cánh trong hại vỏ Ichneumenoptera sp. (Lepidoptera: Sesiidae) trên cây trồng ở Việt Nam.
Xem thêm

136 Đọc thêm

Tả cây vải

TẢ CÂY VẢI

Mời các bạn về thăm quê hương tôi. Quê hương tôi có một loài cây đặc sản nổi tiếng mà gần xa mọi người đều biết. Đó là cây vải thiều Bắc Giang. Đất đai quê tôi không màu mỡ nhưng rất hợp với cây vải thiều. Cây vải thiều đầu tiên được trồng nhiều ở Lục Ngạn, đến nay nó đã có mặt ở khắp nơi nào có những quả đồi đất sỏi quê tôi. Nhìn từ xa, mỗi cây vải như một chiếc ô xanh, cả vườn vải như một đoàn quân đang nhảy dù từ trên máy bay xuống đất. Đến gần, nhìn vườn vải thật thích mắt. Cây vải khép tán, giao cành vào nhau, tán tròn, xoè nở lùm lùm như đĩa xôi. Mùa xuân, vải thiều bắt đầu ra hoa. Hoa đậu từng chùm, màu trắng ngà. Vải ra hoa hàng loạt. Cành nào cũng có hoa, cây nào cũng ra hoa, cả vườn vải ra hoa. Dưới nắng xuân, vườn hoa vải thiều phủ trắng cả một miền đồi. Ong mật tha hồ về đây lấy mật. Tiếng ong rù rì suốt ngày trong vườn vải. Người nào vào trong vườn vải, áo cũng bị mật hoa đọng vào lấm tấm. Những vườn vải quê tôi đã mười năm tuổi. Thân cây vải đã to bằng cái bắp chuối. Thân cây màu nâu đất, đầy những vết khứa ngang. Người trồng vải làm như vậy để cây vải ra hoa đúng thời vụ và cho thu hoạch cao. Những cành vải chắc, khỏe. Lá vải có hình thoi, màu xanh đậm, quanh năm không có mùa rụng lá. Sau những cơn mưa xuân, nắng đã chói chang hơn, vải thiều kết quả. Mỗi chùm hoa hôm trước bây giờ lại là một chùm quả, màu trắng của hoa đã nhường chỗ cho một màu xanh nhạt lẫn vào màu lá. Quả vải mới tạo thành chỉ bằng hạt gạo, mươi ngày sau nó đã lớn bằng đầu đũa, không để ý vài ngày là đã thấy nó lớn bằng đầu ngón tay rồi. Khi những cây lúa ngoài đồng lên đòng, ta nhìn lên vườn vải đã thấy quả chuyển sang màu vàng nhạt. Và đúng mùa thu hoạch lúa chiêm là vào mùa quả vải chín. Những chùm quả vải chín cũng rất nhanh. Vườn vải cứ dần chuyển sang màu đỏ. Đi qua vườn vải đã ngửi thấy mùi mật ngọt, hương của vải chín. Mỗi chùm quả thường có khoảng vài chục quả vải. Vỏ quả vải sần sùi có những cái gai, khi chín, những cái gai đỡ nhọn hơn, những cái gai đó có màu đỏ sậm. Khi quả vải chín, những chùm quả trĩu xuống, cứ tưởng như cành vải không còn đủ sức để đỡ những quả vải nữa. Trông vườn vải đầy quả chín mà thích mắt, thèm thuồng. Bóc quả vải ra, bên trong là một lớp cùi trắng đục mọng nước. Mới đưa miếng cùi vải vào đầu lưỡi, vị ngọt đã thấm vào cổ họng. Ăn một quả rồi lại muốn ăn quả nữa, ăn mười quả vẫn chưa thấy chán. Hột quả vải nhỏ tí chỉ bằng ngón tay đứa bé mới đẻ. Quả vải nào hạt càng bé, quả vải đó càng ngọt. Quả vải thiều vừa ngon lại vừa bổ. Tôi rất thích mùa thu hoạch vải để được ăn vải thoả thích. Quả vải thiều nay đã là nguồn thu nhập chính của nhiều gia đình quê tôi, góp phần nâng cao đời sống cho người nghèo quê tôi. Có nhiều nhà đã xây được nhà cao tầng bằng thu nhập từ cây vải thiều. Sau mỗi mùa thu hoạch vải, nhiều nhà sắm được Ti-vi, xe máy, tủ lạnh, … Quả vải thiều không những là món ăn được ưa chuộng của nhân dân ta mà còn được người nước ngoài cũng rất thích. Vì vậy , hàng năm vải thiều còn là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị cao của người dân quê tôi. Giống cây này đã giúp đời sống của người dân quê tôi khá lên. Tôi rất tự hào về loài cây đặc sản này của quê tôi . Tôi mong muốn giống cây này được trồng nhiều hơn nữa không những để tăng thu nhập mà còn làm cho đất quê tôi trải dài màu xanh mướt mát, là một miền du lịch sinh thái. loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Giới thiệu về một loài cây quen thuộc của quê em

GIỚI THIỆU VỀ MỘT LOÀI CÂY QUEN THUỘC CỦA QUÊ EM

Không rậm rạp xanh tốt như cây roi, không tạo thế, đua chen và khoe dáng như lá cọ, na cứng cáp, khẳng khiu đứng riêng rẽ một mình trong khu vườn đồi trọc Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi! Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng chói sông Lô, hò ơ tiếng hát Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca (Tố Hữu) Quê tôi, vùng quê trung du Bắc Bộ có "rừng cọ đồi chè" nhưng với tôi hình ảnh về quê hương và loài cây gắn bó quen thuộc nhất vẫn là cây na. Không rậm rạp xanh tốt như cây roi, không tạo thế, đua chen và khoe dáng như lá cọ, na cứng cáp, khẳng khiu đứng riêng rẽ một mình trong khu vườn đồi trọc. Mỗi năm khi bà già mùa đông mang cái lạnh về, na trút lá khẳng khiu gầy guộc nhưng kiên cường chịu rét giơ những cành những nhánh khô mà chống chọi với những trận gió bấc, mưa phùn, để rồi khi sơn ca báo hiệu xuân về cùng những đợt mưa xuân xôn xao phơi phới thì từ trong những cành khẳng khiu kia, na ươm trồi nảy lộc với những búp lá non xanh đẹp lạ kì. Lá na không to, hình bầu dục, mỗi nhánh nhiều lá giống kiểu xếp của lá phượng, lá me nhưng thưa hơn và thoáng hơn, to hơn, là loài cây ăn quả nên thân na phát triển không to. Trồng được 2 năm là na đã cho quả. Quả na xanh tròn khía theo múi giông hình mắt. Kinh nghiệm của bà về na chín đã được nhà thơ Trần Đăng Khoa đưa vào thơ thật ngộ nghĩnh: "Tiếng gà Giục quả na Mở mắt Tròn xoe...” Na mở mắt, nghĩa là những múi na (mắt na) căng phồng hết cỡ mang màu vàng hồng báo hiệu quả sắp chín. Có thể để na chín cây hoặc ngắt xuống độ một ngày sau na chín là ăn được. Bà tôi bảo: "Na sống ở khắp các tỉnh trong cả nước, nhưng ngon và bổ thì chỉ có na ở quê mình vì chất đất ở đây thích hợp nhất cho loại cây này". Quả đúng vậy na chín, vỏ mỏng, bóc trên tay đã thơm phức mùi hương, quyến rũ lạ thường. Vị ngọt sắc của na như nhắc người ta nhớ đến tháng ngày cây cần mẫn chắt chiu nhựa đất trên dải đất sỏi khô cằn. Hoa na giống hoa lan nhưng dầy cánh và mùi hăng hắc. Hoa không nhiều nhưng có hoa là đậu quả. Mỗi cây trung bình hàng năm cho khoảng vài chục cân. Đến vụ, cả đồi na, bà thu hoạch được gần tấn, cũng được 6-7 triệu đồng. Cứ như thế, mùa tiếp mùa, năm tiếp năm, na trở thành loại quả xuất khẩu và món ăn tráng miệng thường nhật cung cấp vitamin rất tốt. Mỗi cây na như nhắn nhủ với mọi người về sức sống bền bỉ và một cuộc đời cần mẫn chắt chiu như chính người trồng na vậy. Trích: Loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tả cây dứa, quả dứa

TẢ CÂY DỨA, QUẢ DỨA

Đoạn văn tả cây dứa, quả dứa. Lá dứa như lưỡi kiếm uốn cong, đầu lá có gai nhọn,.. Bài mẫu miêu tả về cây dứa, quả dứa      Em rất thích ăn dứa. Đi học về, khát nước quá, nhìn thấy đĩa dứa vàng như mật ong, cắt thành từng khoanh xinh xinh để trên bàn, em đòi mẹ cho ăn. Mẹ bảo:"Không được! Con đang đói ăn vào dễ bị say và cồn ruột! Ăn cơm xong chờ bà nội ăn, con mới được ăn!”. Em đành tuân thủ mệnh lệnh rất nghiêm của mẹ, nhưng bụng vẫn thèm ăn dứa. Dọc bờ ao cuối vườn, bố trồng hơn chục khóm dứa. Lá dứa dài như lưỡi kiếm uốn cong, đầu lá có gai nhọn, xung quanh gờ lá có răng cưa. Lá dứa màu tim xanh xanh. Quả dứa mọc thẳng từ gốc. Mỗi gốc thường chỉ có một quả. Quả dứa hình trụ tròn, giống quả thông nhưng to hơn nhiều lần. Chị gái em cho biết  dứa là loại quả phức do hơn một trăm hoa nhỏ tạo thành. Vỏ ngoài quả dứa lên như hình mai rùa, mỗi “mắt dứa” là do một hoa nhỏ tạo nên, phần ăn được chính là phần đài của các bông hoa nhỏ ấy. Thật kì lạ quá! Đầu mùa thu là mùa thu hoạch dứa. Khi dứa chín, hương thơm lựng mảnh vườn nhà. Bố cắt quả to nhất bày lên bàn thờ. Mẹ bổ hai ba quả dứa mời bà ăn, sau đó bố mẹ và các con cùng ăn, ăn sau bữa cơm. Miếng dứa chín vàng tươi, đẫm nước mật ong, vừa ngọt vừa thơm, em ăn mãi không chán... Mẹ còn xay dứa, pha thêm tí đường, tí muối làm nước giải khát, càng uống, càng mê li. Hiên nay, trong các siêu thị có bán dứa tươi và dứa hộp. Em cứ nghĩ dứa hộp, dứa tươi bán ở siêu thị sao ngon bằng, thơm bằng, ngọt bằng dứa của bố em trồng. loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Tả một loại trái cây mà em thích

TẢ MỘT LOẠI TRÁI CÂY MÀ EM THÍCH

Ông em trồng một cây xoài cát Long Khánh ngon nổi tiếng được bốn năm. Nay, cây đã ra qua. Bài làm tham khảo    Tả một loại trái cây mà em thích.    Ông em trồng một cây xoài cát Long Khánh ngon nổi tiếng được bốn năm. Nay, cây đã ra qua.    Quả xoài rất to, mỗi quả nặng gần nửa ki-lô-gam, hình thon dài. Lúc còn non. quả có màu xanh nhạt, lớn dần quả chuyển sang màu xanh đậm, khi chín quả lại có màu vàng. Những quả xoài lớn trông như hai bàn tay úp lại, tròn căng, trông thật thích mắt. Những quả xoài ngon thường có màu vàng tươi, mùi thơm ngào ngạt lan toả ra xung quanh vô cùng quyến rũ.    Khi xoài chín, ông em lấy cây sào có chiếc giỏ nhỏ, đưa miệng giỏ vào quá xoài chín, khẽ giật. Quả xoài nằm gọn trong lòng giỏ. Năm quả, mười quá... Em bưng những quả xoài tươi ngon vào nhà khoe với bà nội. Bà bảo em lựa những quả lớn đem đề trên bàn thờ thắp hương, những quá còn lại đem biếu mấy nhà hàng xóm.    Em rất thích ăn những quả xoài chín tươi ngon. Xoài rất ngon và bổ. Sau này dù có đi đâu xa em cũng không quên hương vị của quả xoài vườn nhà em.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Giáo án môn công nghệ lớp 9

GIÁO ÁN MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 9

1.Những thuận lợi: Nội dung kiến thức trong chương trình SGK Công nghệ 9 (phần trồng cây ăn quả) nhìn chung gần gũi với điều kiện thực tế tại địa phương nơi trường đóng; thực sự vừa sức so với trình độ nhận thức của học sinh. SGK trình bày những nội dung kiến thức qua hai kênh hình và kênh chữ, thực sự trở thành nguồn tri thức khoa học hiện đại, góp phần quan trọng vào việc kích thích ý thức học tập cho học sinh. Các nội dung thực hành được tăng cường và chiếm thời lượng chủ yếu, điều này đã tăng cường sự liên hệ gắn lí thuyết với thực tiễn cuộc sống sản xuất, giúp cho quá trình nhận thức và vận dụng của học sinh tở nên sinh động hơn, thiết thực hơn. Nguồn mẫu vật dồi dào, thực tiễn để liên hệ rất sinh động, học sinh nhìn chung hăng hái với các hoạt động thực hành thực tế ngoài vườn trường. Cơ sở vật chất và các trang thiết bị dạy học và phục vụ dạy học hiện có trong nhà trường nhìn chung đầy đủ và có chất lượng. 2.Những khó khăn: Trường chưa có phòng học bộ môn, chưa có vườn thực hành đúng tiêu chuẩn. Hoạt động thực hành trên thực được hoàn toàn là tận dụng đất trong vườn trường Vào thời điểm triển khai việc giảng dạy bộ môn này đối với mùa vụ của một số loại cây ăn quả nên vấn đề liên hệ có tính thuyết phục không cao. Biết vai trò vị trí của nghề trồng cây ăn quả trong nền kinh tế và đời sống Biết triển vọng của nghề Yêu thích nghề trồng cây ăn quả Hiểu được các đặc điểm và yêu cầu của nghề đối với người làm nghề Biết được giá trị của việc trồng cây ăn quả, đặc điểm thực vật và yêu cầu ngoại cảnh của cây ăn quả Có hứng thú học tập về trồng cây Hiểu được các biện pháp gieo trồng , chăm sóc, thu hoạch , bảo quản, chế biến sản phẩm Biết được những yêu cầu kĩ thuật xây dựng vườn ươm cây Có hứng thú tìm tòi trong học tập Hiểu được đặc điểm và yêu cầu kĩ thuật của các phương pháp nhân giống cây ăn quả Biết cách giâm cành theo đúng thao tác kĩ thuật Có ý thức kỉ luật , trật tự, vệ sinh và an toàn lao động Làm được các thao tác của quy trình giâm cành cây ăn quả Biết chiết cành theo đúng quy trình và thao tác kĩ thuật Có ý thức kỉ luật, trật tự, vệ sinh, an toàn lao động Làm được các thao tác kĩ thuật trong quy trình Biết cách ghép đoạn cành theo các thao tác kỹ thuật. Có ý thức kỉ luật, trật tự, vệ sinh, an toàn lao động Ghép được cây ăn quả theo kiểu ghép: đoạn cành, mắt nhỏ có gỗ, chữ T theo đúng quy trình kĩ thuật
Xem thêm

27 Đọc thêm

ĂN QUẢ NHỚ KẺ TRỒNG CÂY

ĂN QUẢ NHỚ KẺ TRỒNG CÂY

Ăn quả nhớ kẻ trồng câyCó danh có vọng nhớ thầy khi xưa”Đó chính là những câu thơ nói về nghề giáo, nghề mà luôn được yêu quý, kính trọng.Tôi rất yêu mến các thầy cô giáo của mình, nhưng người để lại cho tôi những ấn tượngsâu sắc nhất chính là cô Kim Anh- cô giáo chủ nhiệm của chúng tôi.Cô có mái tóc rất dài, mượt mà, đen nhánh và luôn phảng phất hương thơm. Đôi mắtcô to tròn, đen láy, vô cùng cương nghị nhưng cũng không kém phần dịu dàng. Khichúng tôi đạt thành tích cao trong học tập, cô luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến.Còn mỗi khi chúng tôi mắc lỗi, đôi mắt cương nghị của cô lại đượm buồn. Đôi bàn taycô thon dài, luôn viết ra những mạch văn giàu cảm xúc để chuyển tải bài học đến vớichúng tôi. Cô còn giúp chúng tôi nhớ bài lâu hơn bằng giọng nói của mình. Giọng nóicủa cô thật truyền cảm, khi thì dịu dàng, ấm áp, lúc lại dí dỏm, vui tươi khiến cho chúngtôi luôn tập trung vào bài học, quên cả thời gian. Tính cách cô hiền lành, chính trực, côluôn nghiêm túc với công việc của mình. Hàng ngày, cô rất hay vui đùa với chúng tôinhưng khi đã vào tiết học, cô cũng rất nghiêm khắc. Với cô dạy học không chỉ là mộtnghề, mà còn là một niềm đam mê. Cô luôn chuẩn bị rất kỹ cho bài giảng của mình,nhiều khi cô còn sử dụng cả những đoạn clip ngắn về bài học, giúp chúng tôi có thể tiếpthu bài nhanh nhất. Dù cô đã là một giáo viên nhưng cô vẫn học, đó là sở thích của cô.Cô luôn thức đến ba, bốn giờ sáng mới đi ngủ vì sau khi soạn giáo án, cô lại tiếp tụchọc bài. “Học như một con đò ngược dòng vậy, các con ạ!” Lời cô nói thấm thía lòngchúng tôi.Tôi nhớ nhất là khi cô đi thăm quan với lớp chúng tôi. Lúc ấy, trên nét mặt cũng nhưtrong đôi mắt của cô thể hiện sự lo lắng, bồn chồn không yên. Sau đó, chúng tôi mới vỡlẽ, ra là hôm ấy, cô có bài thi môn triết học nhưng cô đã nghỉ thi để đi cùng với lớpchúng tôi vì cô sợ rằng có vấn đề gì không hay với chúng tôi, cô sẽ ân hận cả đời.Một kỉ niệm đáng nhớ khác là khi tôi học hè. Khi ấy, tôi khá lo sợ do tôi đã nghỉ mất haituần. Tôi bước vào lớp với tâm trạng lo lắng. Cô biết là tôi đã nghỉ học, cô bèn giảng lạicho tôi những chỗ tôi chưa biết, chưa hiểu, rồi nhờ bạn cho tôi mượn vở để chép bùbài. Lúc đó tôi thấy mình nhẹ nhõm, thầm cảm ơn cô và các bạn.Quả thật, nghề giáo thật là cao quý, giống như câu ví: “Nghề giáo là người lái đò trithức qua sông”. Đó cũng là nghề mà tôi mong ước sau này khi trưởng thành. Nhân
Xem thêm

1 Đọc thêm

KY THUAT CANH TAC CAY AN QUA O DBSCL GUI LAN3 2 1 20131

KY THUAT CANH TAC CAY AN QUA O DBSCL GUI LAN3 2 1 20131

17góp phân khắc phục hiện tượng cây ra quả cách năm. Khi thấy xoài bị nứt thì có thể là dothừa kali hoặc thiếu canxi. Lúc này cần bón bổ sung vôi, hoặc phun Na(NO3)2 hoặc bónCaSO4. Xoài bị thiếu kali cho quả nhỏ, chát. Vì vậy, cần bón đủ K để quả xoài to và ngọt.3.6 Sầu riêng (Durio zebethinus)Ở vùng ĐBSCL, cây sầu riêng được trồng tập trung ở Chợ Lách (Bến Tre), Cai Lậy (TiềnGiang, năm 2010, diện tích khoảng hơn 5280 ha, kế hoạch năm 2015 là 5820 ha) (Sở NN &PTNT Tiền Giang (2011));3.6.1 GiốngGiống sầu riêng Ri 6, Sầu riêng hạt lép Tiền Giang (chuồng bò), cơm vàng sữa hạt lép ChínHóa, sầu riêng Monthong (nguồn gốc Thái lan), sầu riêng khổ qua xanh là các giống thươngmại phổ biến. Nong dân thường trồng 2-3 giống trên cùng một vườn để giúp cây thị phấnchéo tốt hơn và cũng thụ phấn bổ sung cho cây thì năng suất mới cao.Sầu riêng Ri 6: nguồn gốc từ Long Hồ, Vĩnh Long, được trồng phổ biến ở Tiền Giang, BếnTre, Vĩnh Long, Đông Nam Bộ. Cây sinh trưởng mạnh, cây ghép có thể cho quả sau khitrồng khoảng 4 năm, cây dễ ra hoa và tỷ lệ đậu quả khá. Thời gian từ khi ra hoa đến thuhoạch khoảng 105 – 120 ngày. Vụ quả chính từ tháng 5-7, tuy nhiên có thể xử lý ra hoa rãi vụcác tháng trong năm khi áp dụng kỹ thuật xiết nước kết hợp đậy plastic ở gốc và phun haytưới Paclobutrazol. Cây cho năng suất khá cao và ổn định, khoảng 46 kg quả/cây/năm đối vớicây 5 năm tuổi.Quả có hình elip, vỏ quả có màu xanh hơi vàng khi chin, có gai cao, thưa, chân gai hình ngũcạnh rất rõ. Trọng lượng quả trung bình 2 – 2.5 kg, cơm quả ráo, có màu vàng đậm không xơ,thường rất ít sượng, tỷ lệ cơm ăn được cao (33%), vị béo ngọt (độ Brix 27.3%), mùi thơm,hạt lép, tỷ lệ hạt so với trọng lượng trái thấp (6%).Sầu riêng Cơm vàng sữa hạt lép (Chín Hóa): nguồn gốc từ Chợ Lách, Bến Tre, được trồngphổ biến ở Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đông Nam Bộ. Cây ghép có thể cho quả sau khitrồng khoảng 4 năm, thời gian từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 100 – 110 ngày. Vụ quảchính từ tháng 5-6, tuy nhiên có thể xử lý ra hoa rãi vụ các tháng trong năm khi áp dụng kỹ
Xem thêm

20 Đọc thêm

Nghiên cứu lựa chọn giống bầu (Lagenaria siceraria) chịu mặn làm gốc ghép cho dưa hấu (Citrullus lanatus)

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN GIỐNG BẦU (LAGENARIA SICERARIA) CHỊU MẶN LÀM GỐC GHÉP CHO DƯA HẤU (CITRULLUS LANATUS)

1. Lý do chọn đề tài Những thiệt hại do điều kiện bất lợi của môi trường, ví dụ như khô hạn, ngập úng, mặn, phèn, nóng, lạnh… đã ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất các sản phẩm nông nghiệp của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng. Mặn ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây trồng. Đã có nhiều nghiên cứu ở các mức độ khác nhau chẳng hạn như nghiên cứu chuyển gen, lai tạo các giống cây trồng để tạo ra các giống mới, thích nghi với điều kiện bất lợi của môi trường mà vẫn cho năng suất ổn định. Một trong những phương pháp được ứng dụng là sử dụng giống cây ghép trong quá trình tạo giống và sản xuất. Sử dụng giống cây ghép là một trong các kỹ thuật cốt yếu trong sản xuất một số loại rau ở nhiều vùng trên thế giới, trong đó gốc ghép là một giống cây có khả năng chịu mặn tốt 11, 28, 29, 34. Kỹ thuật ghép lần đầu tiên được ứng dụng tại Hàn Quốc và Nhật Bản trong những năm 20 ở dưa hấu ghép trên gốc bầu. Hiện nay, hơn 95% dưa hấu và dưa thơm (oriental melon) sản xuất ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan được ghép trên gốc bầu hoặc bí 38, 50, 64. Dưa hấu ghép đã bước đầu du nhập và được trồng ứng dụng ở một số vùng của nước ta. Kỹ thuật ghép dưa hấu trên gốc bầu từ Trung Quốc được một số nông dân huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn ứng dụng sản xuất cây ghép cho nông dân trong vùng. Để hạn chế dưa hấu chết, nông dân tỉnh Long An cũng tiến hành ghép dưa hấu trên gốc bầu để sản xuất cây giống dưa hấu. Với hình thức sản xuất tự phát, công tác tuyển chọn giống gốc ghép đặc biệt đối với cây giao phấn trong họ bầu bí chưa được chú ý. Tỉ lệ sống và khả năng sinh trưởng của cây ghép do nông dân tự sản xuất không đồng đều và còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, bầu bí có khả năng chịu được độ mặn cao, bộ rễ lan rộng nên thích nghi cao với điều kiện của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Đây là ưu điểm có thể khai thác dùng làm gốc ghép cho sản xuất dưa hấu ở vùng đất nhiễm mặn 47, 51. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn giống bầu (Lagenaria siceraria) chịu mặn làm gốc ghép cho dưa hấu (Citrullus lanatus)”.
Xem thêm

79 Đọc thêm

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐỒNG PHÚC HUYỆN ĐỒNG PHÚC TỈNH BẮC KẠN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐỒNG PHÚC HUYỆN ĐỒNG PHÚC TỈNH BẮC KẠN

đặc biệt là ở các nước đang phát triển thì vấn đề đảm bảo lương thực cho sựgia tăng dân số đã trở thành sức ép ngày càng mạnh mẽ lên đất đai. Tác độngcủa con người đã làm cho độ phì nhiêu của đất ngày càng bị suy giảm và dẫnđến thoái hoá đất, lúc đó khó có thể phục hồi lại độ phì nhiêu của đất nếumuốn phục hồi lại thì cần phải chi phí rất lớn. Đất có những chức năng chínhlà: Duy trì vòng tuần hoàn sinh hoá học và địa hoá học, phân phối nước, tíchtrữ và phân phối vật chất, mang tính đệm và phân phối năng lượng. Các chứcnăng trên của đất là những trợ giúp cần thiết cho các hệ sinh thái. Sử dụng đấtđai một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại vàtương lai phát triển của con người. Vì vậy tìm kiếm những biện pháp sử dụngđất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tếquan tâm. Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” (Sustainable land use) đã trở lênthông dụng trên thế giới như hiện nay.11Nông nghiệp bền vững không có nghĩa là khước từ những kinh nghiệmtruyền thống mà phối hợp, lồng ghép những sáng kiến mới từ các nhà khoa học, từnông dân hoặc cả hai. Điều trở nên thông thường với những người nông dân, bềnvững là việc sử dụng những công nghệ và thiết bị mới vừa được phát kiến, nhữngmô hình canh tác tổng hợp để giảm giá thành đầu vào. Đó là những công nghệ vềchăn nuôi động vật, những kiến thức về sinh thái để quản lý sâu hại và bệnh dịch.Để tạo nông nghiệp bền vững cần có 3 điều kiện đó là: công nghệ bảo tồntài nguyên, những tổ chức từ bên ngoài và những tổ chức về các nhóm địaphương. Tác giả cho rằng xu thế phát triển nông nghiệp bền vững được các nướcphát triển khởi xướng và hiện nay đã trở thành đối tượng mà nhiều nước nghiêncứu theo hướng kế thừa, chắt lọc cái tinh tuý của nền nông nghiệp chứ không chạytheo cái hiện đại để bác bỏ những cái thuộc về truyền thống. Trong nông nghiệpbền vững việc chọn cây gì, con gì trong một hệ sinh thái tương ứng không thể áp
Xem thêm

84 Đọc thêm

đề án kinh doanh vifruit full

đề án kinh doanh vifruit full

Mà thay vào đó là tràn lan các loại trái cây đầy chất bảo quản , thuốc bảo vệ thực vật Có nguồn gốc từ TRUNG QUỐC , bên cạnh đó trái cây Việt Nam cần gắn kết với các kênh phân phối bán lẻ khu vực, địa phương và những nơi tập trung đông dân cư. Đó là một phương tiện để trái cây Việt Nam xâm nhập vào thị trường trong cũng như ngoài nước. Với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi, Việt Nam có khá nhiều vùng chuyên canh cây ăn quả lớn. Trong đó, khu vực Nam Bộ được đánh giá là vùng trồng cây ăn quả lớn nhất cả nước. Do đa dạng về sinh thái nên chủng loại cây ăn quả Nan Bộ rất đa dạng, có tới trên 30 loại cây ăn quả khác nhau, thuộc 2 nhóm là: cây ăn quả nhiệt đới (chuối, dứa, xoài…), á nhiệt đới (cam, quýt, vải, nhãn…)Theo Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Nam Bộ hiện có trên 400.000 ha cây ăn quả, cho sản lượng hơn 4 triệu tấnnăm, trong khi đó diện tích cả nước đạt khoảng hơn 900 nghìn ha, sản lượng khoảng 10 triệu tấn (chiếm 52,6% diện tích và 57,41% về sản lượng so với cả nước). Trong đó, các tỉnh Tiền Giang, Đồng Nai, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp có diện tích trồng lớn nhất toàn khu vực. Đáng chú ý là ngày càng có nhiều nhà vườn áp dụng mô hình kĩ thuật sản xuất tiên tiến theo tiêu chuẩn
Xem thêm

Đọc thêm

Thuyết minh về một loài cây ăn quả [Cây chuối]

THUYẾT MINH VỀ MỘT LOÀI CÂY ĂN QUẢ [CÂY CHUỐI]

Thuyết minh về một loài cây ăn quả [Cây chuối] Bài làm: A. Mở bài: Đi khắp đất nước Việt Nam nơi đâu ta cũng bắt gặp cây chuối. Hầu như ở nông thôn nhà nào cũng trồng chuối. B. Thân bài: 1) Đặc điểm: a. Hình dáng: Cây chuối thân mềm, hình trụ, vòm tán lá xanh mượt che rợp vườn tược, núi rừng. Gốc chuối tròn như đầu người, lớn dần theo thời gian, có rễ chùm nằm dưới mặt đất. Mỗi cây chuối đều cho một buồng chuối. Có buồng chuối trăm quả, cũng có buồng chuối cả nghìn quả. Không thiếu những buồng chuối dài từ ngọn cây uốn trĩu xuống tận gốc cây. Cây chuối rất ưa nước nên người ta thường trồng bên ao hồ. Ở rừng, bên những khe suối hay thung lũng, chuối mọc thành rừng bạt ngàn. Chuối phát triển rất nhanh, chuối mẹ đẻ chuối con, chuối con đẻ chuối cháu. b. Nơi sinh sống: Cây chuối rất ưa nước nên người ta thường trồng bên ao hồ. Ở rừng, bên những khe suối hay thung lũng, chuối mọc thành rừng bạt ngàn. c. Sinh sản: Chuối phát triển rất nhanh, chuối mẹ đẻ chuối con, chuối con đẻ chuối cháu. 2) Các loại chuối: Có nhiều loại chuối: chuối hương, chuối ngự, chuối sứ, chuối mường. Loại chuối nào khi chín cũng đều cho ta vị ngọt ngào và hương thơm hấp dẫn. Đặc biệt, có một loại chuối là chuối trứng cuốc rất được ưa thích vì vị thơm ngon của nó. 3) Cây chuối gắn bó với đời sống con người: Cây chuối gắn liền với công việc của người phụ nữ bởi vì họ phải làm vườn, chăn nuôi, nội trợ. Cây chuối là thức ăn, thức dùng thông dụng từ thân, lá, hoa đến quả. Quả chuối là một món ăn ngon. Chuối chín là món tráng miệng bổ dưỡng lại có công dụng làm đẹp da. Chuối xanh có vị chát là món ăn kèm rất tuyệt vời với các món tái hay món gỏi và còn có thể nấu với các thực phẩm có vị tanh như cá, ốc, lươn,… Người ta có thể chế biến ra nhiều món ăn từ quả chuối như: chuối ép, mứt chuối, kẹo chuối, bánh chuối,… Chuối còn là phẩm vật thờ cúng từ ngàn đời trên mâm ngũ quả vào ngày lễ tết. Thân chuối, hoa chuối, củ chuối đều có thể chế biến thành nhiều món ăn dân dã, ngon và lạ miệng: thân chuối thái ghém dùng kèm với rau sống, hoa chuối làm nộm, củ chuối nấu với lươn, ốc,… Lá chuối cùng với thân chuối còn là thức ăn của vật nuôi. Lá chuối còn dùng để gói bánh, gói xôi,… C. Kết bài: Chuối rất gần gũi với đời sống của người Việt Nam như cây dừa, cây tre, cây cau,… Chuối cũng được yêu mến, trân trọng đưa vào ca dao và được so sánh với Mẹ: “Mẹ già như chuối ba hương”, “Mẹ già như chuối chín cây”,… Như thế cũng đủ thấy chuối gắn bó với cuộc sống hằng ngày của chúng ta biết bao. Bài 1 Chuối có tới năm bảy loại, nào là hương chuối, chuối ngự, chuối mường, chuối tiêu... Mỗi loại chuối đều có hương vị thơm ngon riêng, tạo ra nét đặc biệt không thể lẫn với những loại khác. Thế nhưng các loại chuối lại mang một vẻ bề ngoài giống nhau. Thân cây tròn, thấp, trơn bóng, và có cây còn to bằng cả cái cột đình. Lá cây xanh non, to, dài và các gân đối xứng nhau. Thế nhưng lá chuối khô lại có màu nâu, giòn là cứng. Bắp chuối có màu đỏ, thuôn dài, còn gọi là hoa chuối. Nõn chuối xanh non, mịn và mỏng. Mỗi cây chuối trưởng thành đều có thể cho ta một buồn chuối. Tùy theo từng loại, có loại cho ta hàng trăm quả một buồng, có cả loại mỗi buồng cho ta hàng nghìn quả. Nhiều cây còn trĩu trịt quả từ ngọn xuống gốc. Để có được vai trò quan trọng như hiện nay trong đời sống con người Việt Nam, chuối đã "cống hiến" cho đời sống vật chất không biết bao nhiêu. Thân cây thái nhỏ ra có thể làm thức ăn cho lợn hoặc hươu nhà, trâu bò rất tốt. Còn lá cây thì giúp ta trong các việc như là để gói xôi, gói bành rất tiện lợi và dễ kiếm. Lá chuối khô có thể làm chất đốt, để quấn bánh gai hoặc ở nông thôn ta còn thấy là chuối khô còn có thể quấn làm nút chai rượu. Không chỉ thế, hoa chuối còn dùng để làm rau. Món nộm hoa chuối được rất nhiều người ưa thích, đặc biệt sinh viên vì nó vừa ngon lại vừa rẻ. Thái một ít nõn chuối ra cho vào đĩa rau muống xanh mướt là ta đã cso được một đãi rau vừa ngon vừa đẹp mắt. Quả chuối có lẽ là nhiều công dụng nhất. Các chị, các cô, các bà hay ăn chuối vì chủ yếu chuối thường chứa rất nhiều vitamin rất tốt cho một làn da mịn màng. Và chủ yếu chuối thường dùng để ăn nhiều hơn vì nó rất ngon. Người ta còn dùng chuối thắp hương như một lễ vật dâng cho thần linh để thể hiện lòng tôn kính. Chính vì vậy, chuối là một loại cây khá quan trọng, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế còn nhiều eo hẹp. Ở nông thôn, mỗi khi chuối chín, người ta thường cắt thành từng nải đem đi bán, những nải chuối đó đều rất rẻ nên nhiều người mua. Còn trong đời sống văn hóa của người Việt, cây chuối cũng như bưởi hay hồng, nóc ũng là một trong năm loại quả dâng lên tổ tiên, nhất là các dịp lễ Tết. Trong tâm thức mỗi người, cây chuối là một loại cây tượng trưng cho sự thanh bình của làng quê, nhất là thời thơ ấu. Cây chuối từ lâu đã chiếm một phần to lớn trong cộc sống của người Vệt Nam. Đối với mỗi người, cây chuối đã trở thành một loại cây vô cùng gần gũi, thân thiết. Bài 2: Nói đến cây chuối, đã là người Việt Nam thì không ai là không biết. Cây chuối đã tồn tại cùng con người như một người bạn thân thiết.Có thể nói, cây chuối đã trở thành một thứ không thể thiếu trong đời sống người Việt Nam xưa và nay. Chuối có tới năm bảy loại, nào là hương chuối, chuối ngự, chuối mường, chuối tiêu... Mỗi loại chuối đều có hương vị thơm ngon riêng, tạo ra nét đặc biệt không thể lẫn với những loại khác. Thế nhưng các loại chuối lại mang một vẻ bề ngoài giống nhau. Thân cây tròn, thấp, trơn bóng, và có cây còn to bằng cả cái cột đình. Lá cây xanh non, to, dài và các gân đối xứng nhau. Thế nhưng lá chuối khô lại có màu nâu, giòn là cứng. Bắp chuối có màu đỏ, thuôn dài, còn gọi là hoa chuối. Nõn chuối xanh non, mịn và mỏng. Mỗi cây chuối trưởng thành đều có thể cho ta một buồn chuối. Tùy theo từng loại, có loại cho ta hàng trăm quả một buồng, có cả loại mỗi buồng cho ta hàng nghìn quả. Nhiều cây còn trĩu trịt quả từ ngọn xuống gốc. ĐỂ có được vai trò quan trọng như hiện nay trong đời sống con người Việt Nam, chuối đã "cống hiến" cho đời sống vật chất không biết bao nhiêu. Thân cây thái nhỏ ra có thể làm thức ăn cho lợn hoặc hươu nhà, trâu bò rất tốt. Còn lá cây thì giúp ta trong các việc như là để gói xôi, gói bành rất tiện lợi và dễ kiếm. Lá chuối khô có thể làm chất đốt, để quấn bánh gai hoặc ở nông thôn ta còn thấy là chuối khô còn có thể quấn làm nút chai rượu. Không chỉ thế, hoa chuối còn dùng để làm rau. Món nộm hoa chuối được rất nhiều người ưa thích, đặc biệt sinh viên vì nó vừa ngon lại vừa rẻ. Thái một ít nõn chuối ra cho vào đĩa rau muống xanh mướt là ta đã cso được một đãi rau vừa ngon vừa đẹp mắt. Quả chuối có lẽ là nhiều công dụng nhất. Các chị, các cô, các bà hay ăn chuối vì chủ yếu chuối thường chứa rất nhiều vitamin rất tốt cho một làn da mịn màng. Và chủ yếu chuối thường dùng để ăn nhiều hơn vì nó rất ngon. Người ta còn dùng chuối thắp hương như một lễ vật dâng cho thần linh để thể hiện lòng tôn kính. Chính vì vậy, chuối là một loại cây khá quan trọng, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế còn nhiều eo hẹp. Ở nông thôn, mỗi khi chuối chín, người ta thường cắt thành từng nải đem đi bán, những nải chuối đó đều rất rẻ nên nhiều người mua. Còn trong đời sống văn hóa của người Việt, cây chuối cũng như bưởi hay hồng, nóc ũng là một trong năm loại quả dâng lên tổ tiên, nhất là các dịp lễ Tết. Trong tâm thức mỗi người, cây chuối là một loại cây tượng trưng cho sự thanh bình của làng quê, nhất là thời thơ ấu. Cây chuối từ lâu đã chiếm một phần to lớn trong cộc sống của người Vệt Nam. Đối với mỗi người, cây chuối đã trở thành một loại cây vô cùng gần gũi, thân thiết.
Xem thêm

3 Đọc thêm

CÁC LOẠI SÂU BỆNH CHÍNH HẠI CÂY CÓ MÚI

CÁC LOẠI SÂU BỆNH CHÍNH HẠI CÂY CÓ MÚI

tiên của sâu.3. Bệnh vàng lá greeningĐặc tính sâu bệnh:Bệnh gây hại trên tất cả các giống cam, quýt, chanh,bưởi… Mới đầu bệnh hại trên từng cành sau đó lan dần ra cảcây. Lá bị bệnh có mầu vàng loang lổ. Lá nhỏ lại và thường bịlệch tâm. Quả bị bệnh nhỏ, chậm phát triển và cũng bị lệchtâm. Khi bổ quả bị bệnh thường thấy hạt bị lép. Quả từ cây bịbệnh khi chín thường loang lổ màu xanh, vàng xen kẽ. Trongkhi quả từ trên các cây không bị bệnh có mầu vàng tươi. Câybị bệnh nặng thường thấy hiện tượng ra hoa trái vụ. Cáccành lá vàng và khô dần cả cành, rồi khô đi. Chính vì thếnhiều nơi gọi bệnh này là hiện tượng cây khô lá vàng. Tácnhân gây bệnh do vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây ra.Bệnh lây lan qua cành chiết và mắt ghép lấy từ cây bị bệnhđể nhân giống. Trên đồng ruộng, rầy chổng cánh (Diaphorinacitri) là môi giới truyền bệnh từ cây bịbệnh sang cây khoẻ.Cách phòng và trị:Bệnh này cực kỳ nguy hiểm, khó phòng trừ nên phòngchống bằng cách không nhân giống hoặc trồng mới bằnggiống lấy cành chiết và mắt ghép từ các cây đã bị bệnh, haykhông biết cây có bị bệnh hay không. Trồng mới bằng giốngsạch bệnh mua từ các cơ sở nhân giống cây có múi sạchbệnh. Thường xuyên thăm vườn và đốn tỉa những cây, cành
Xem thêm

Đọc thêm

NGHỊ LUẬN ĂN QUẢ NHỚ KẺ TRỒNG CÂY

NGHỊ LUẬN ĂN QUẢ NHỚ KẺ TRỒNG CÂY

Bài 1 Trong cuộc sống, đạo đức là một yếu tố rất quan trọng, nó thể hiện sự văn minh, lịch sự, nếp sống, tính cách, và phần nào có thể đánh giá được phẩm chất, giá trị bản thân con người. Và có rất nhiều mặt để đánh giá đạo đức, phẩm chất của con người. Một trong số đó là sự biết ơn, nhớ ghi công lao mà người khác đã giúp đỡ mình. Đó cũng là một chân lí thiết thức trong đời thường. Chính vì vậy ông cha ta có câu : “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” hay “Uống nước nhớ nguồn” . Cả hai câu tục ngữ trên đều mang một triết lí nhân văn sâu sa. Đó là cần phải biết ơn những người đã mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho chúng ta. Câu đầu tiên mượn hình ảnh “ăn quả” và “trồng cây” ý muốn nói, khi được hưởng thụ những trái ngọt, trái thơm, cần nhớ tới công sức, mồ hôi nước mắt của người đã làm ra nó. Điều đó được ẩn dụ nhằm khuyên răn thái độ của mỗi con người xử sự sao cho đúng, cho phải đối với những người đã giúp đỡ mình để không phải hổ thẹn với lương tâm. Hành động đó đã thể hiện một tư tưởng cao đẹp, một lối ứng xử đúng đắn. Lòng biết ơn đối với người khác đó chính là một truyền thống tốt đẹp của ông cha ta từ xưa tới nay. Đó cũng chính là biết sống ân nghĩa mặn mà, thuỷ chung sâu sắc giữa con người với con người. Tất cả những gì chúng ta đang hưởng thụ hiện tại không phải tự dưng mà có. Đó chính là công sức của biết bao lớp người. Từ những bát cơm dẻo tinh trên tay cũng do bàn tay người nông dân làm ra, một hạt lúa vàng chín giọt mồ hôi mà. Rồi đến tấm áo ta mặc, chiếc giày ta đi cũng đều bởi những bàn tay khéo léo của người thợ cùng với sự miệt mài, cần cù trong đó. Những di sản văn hoá nghệ thuật, những thành tựu độc đáo sáng tạo để lại cho con cháu. Còn nhiều, rất nhiều những công trình vĩ đại nữa mà thế hệ trước đã làm nên nhằm mục đích phục vụ thế hệ sau. Tất cả, tất cả cũng chỉ là những công sức lớn lao, sự tâm huyết của mỗi người dồn lại đã tạo nên một thành quả thật đáng khâm phục để ngày nay chúng ta cần biết ơn, phục hồi, tu dưỡng, phát triển những di sản đó. Những lòng biết ơn, kính trọng không phải chỉ là lời nói mà còn cần hành động để có thể thể hiện được hết ân nghĩa của ta. Đó chính là bài học thiết thực về đạo lí mà mỗi con người cần phải có. Đến câu tục ngữ thứ hai “Uống nước nhớ nguồn”. Cũng giống câu tục ngữ thứ nhất. Câu tục ngữ này đều mang ý ẩn dụ dưới hình thức cụ thể, sinh động. Nước chính là thứ chúng ta hưởng thụ còn nguồn chính là người tạo ra cái để chúng ta hưởng thụ đó. Câu tục ngữ này chỉ vẻn vẹn có bốn chữ mà ý tứ sâu xa ẩn dưới cấu trúc mô hình điều kiện, hệ quả. Nói đến nước trong nguồn là nói đến sự mát mẻ, thanh tao. Và nguồn nước sẽ mãi không bao giờ vơi cạn. Chữ “nhớ” trong câu là một từ quan trọng, tâm điểm của câu tục ngữ. Ý nghĩa câu tục ngữ này thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người. Lòng nhớ ơn luôn mang một tình cảm cao đẹp, thấm nhuần tư tưởng nhân văn. Nó giáo dục chúng ta cần biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những anh hùng vĩ đại đã hi sinh, lấy thân mình, mồ hôi xương máu để bảo vệ nền độc lập cho đất nước, giữ vững bình yên vùng trời Tổ quốc cho chúng ta có những năm tháng sống vui sống khoẻ và có ích cho xã hội, phần để thực hiện đúng trách nhiệm, bổn phận của chúng ta, phần vì không hổ thẹn với những người ngã xuống giành lấy sự độc lập. Có ai hiểu được rằng, một sự biết ơn được thể hiện như một đoá hoa mai ửng hé trong nắng vàng, một lòng kính trọng bộc lộ như một ánh sao đêm sáng rọi trên trời cao. Đó là những cử chỉ cao đẹp, những hành động dù chỉ là nhỏ nhất cũng đều mang một tấm lòng cao thượng. Những người có nhân nghĩa là những người biết ơn đồng thời cũng biết giúp đỡ người khác mà không chút tính toan do dự. Chính những hành động đó đã khơi dậy tấm lòng của biết bao nhiêu con người , rồi thế giới này sẽ mãi là một thế giới giàu cảm xúc. Tóm lại hai câu tục ngữ trên giúp ta hiểu được về đạo lí làm người. Lòng tôn kính, sự biết ơn không thể thiếu trong mỗi con người, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay. Chúng ta luôn phải trau dồi những phẩm chất cao quý đó, hãy biết rèn luyện, phấn đấu bằng những hành động nhỏ nhất vì nó không tự có trong mỗi chúng ta. Chúng ta cần phải biết ơn những người đã có công dẫn dắt ta trong cuộc sống nhất là đối với những người trực tiếp giúp đỡ chỉ bảo ta như cha mẹ, thầy cô. Bài học đó sẽ mãi là một kinh nghiệm sống ẩn chứa trong hai câu tục ngữ trên và nó có vai trò, tác dụng rất lớn đối với cuộc sống trên hành tinh này. bài 2 Truyền thống đạo đức đó được thể hiện rõ nét qua câu tục ngữ "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Đây là một lời giáo huấn vô cùng sâu sắc. Khi ăn những trái cây chín mọng với hương vị ngọt ngào ta phải nhớ tới công lao vun xới, chăm bón của người trồng nên cây ấy. Từ hình ảnh ấy, người xưa luôn nhắc nhở chúng ta một vấn đề đạo đức sâu xa hơn: Người được hưởng thành quả lao động thì phải biết ơn người tạo ra nó. Hay nói cách khác: Ta phải biết ơn những người mang lại cho ta cuộc sống ấm no hạnh phúc như hôm nay. Tại sao như vậy? Bởi vì tất cả những thành quả lao động từ của cải vật chất đến của cải tinh thần mà chúng ta đang hưởng thụ không phải tự nhiên có được. Những thành quả đó là mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của biết bao lớp người đã đổ xuống để tạo nên. Bát cơm ta ăn là do công lao khó nhọc vất vả "một nắng hai sương" của người nông dân trên đồng ruộng. Tấm áo ta mặc, ngôi nhà ta ở, cả những vật dụng hàng ngày ta tiêu dùng là do sức lao động cần cù, miệt mài của những người thợ, những chú công nhân. Cũng như những thành tựu văn hoá nghệ thuật, những di sản của dân tộc còn để lại cho đời sau hôm nay là do công sức, bàn tay, khối óc của những nghệ nhân lao động sáng tạo không ngừng... Còn rất nhiều, nhiều nữa những công trình vĩ đại... mà ông cha ta làm nên nhằm phục vụ cho con người. Chúng ta là lớp người đi sau, thừa hưởng những thành quả ấy, lẽ nào chúng ta lại lãng quên, vô tâm không cần biết đến người đã tạo ra chúng ư? Một thời gian đằng đẵng sống trong những đêm dài nô lệ, chúng ta phải hiểu rằng đã có biết bao lớp người ngã xuống quyết tâm đánh đuổi kẻ thù... để cho ta có được cuộc sống độc lập, tự do như hôm nay. Chính vì vậy, ta không thể nào được quên những hi sinh to lớn và cao cả ấy. Có lòng biết ơn, sống ân nghĩ thuỷ chung là đạo lí làm người, đó cũng là bổn phận, nhiêm vụ của chúng ta đối với đời. Tuy nhiên, lòng biết ơn không phải là lời nói suông mà phải thể hiện bằng hành động cụ thể. Nhà nước ta đã có những phong trào đền ơn đáp nghĩa, xã dựng những ngôi nhà tình nghĩa cho các bà mẹ anh hùng, các gia đình thương binh liệt sĩ. Việc đền ơn đáp nghĩa này đã trở thành phong trào, là chính sách lan rộng trên cả nước. Đây không chỉ là sự đền đáp công ơn đơn thuần mà nó trở thành bài học giáo dục thiết thực về đạo lí làm người của chúng ta. Cho nên mỗi người ai ai cũng cần phải có ý thức bảo vệ và phát huy những thành quả đạt được ấy ngày càng tốt đẹp hơn, có nghĩa là ta vừa là "người ăn quả" của hôm nay, vừa là "người trồng cây" cho ngày mai. Cũng từ đó ta càng thấm thía hiểu được rằng: Cha mẹ, thầy cô cũng chính là người trồng cây, còn ta là người ăn quả. Vì vậy ta cần phải thực hiện tốt bổn phận làm con trong gia đình, bổn phận người học trò trong nhà trường. Làm được như vậy tức là ta đã thể hiện được lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với những người đã hi sinh, thương yêu, lo lắng cho ta. Đây là một việc làm không thể thiếu được ở thế hệ trẻ hôm nay. Tóm lại, câu tục ngữ trên giúp ta hiểu rõ về đạo lí làm người. Lòng biết ơn là tình cảm cao quý và cần phải có trong mỗi con người. Vì vậy, chúng ta cần phải luôn trau dồi phẩm chất cao quý đó, nhất là đối với cha mẹ, thầy cô... với những ai đã tạo ra thành quả cho ta hưởng thụ. Lòng biết ơn mãi mãi là bài học quí báu và câu tục ngữ "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" có giá trị và tác dụng vô cùng to lớn trong cuộc sống của chúng ta.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Tả cây bưởi Diễn

TẢ CÂY BƯỞI DIỄN

Nhà ông bà nội em có một vườn cây ăn quả, gồm nhiều loại cây, trong đó em rất thích những cây bưởi. Đây là giống bưởi Diễn nổi tiếng thơm ngon. Vườn bưởi này được trồng khá lâu rồi, vì ông bà em sinh sống ở đất Diễn đã lâu đời. Cây bưởi cao khoảng hơn một mét, chia thành nhiều cành nhỏ tỏa ra xung quanh. Thân cây to bằng cổ chân, màu rêu xám. Vỏ cây mốc thếch. Rễ cây đâm sâu xuống lòng đất, hút chất dinh dưỡng nuôi cây. Cành cây như những cánh tay to khỏe, rắn chắc, nâng đỡ tán lá và quả. Lá bưởi to như bàn tay người lớn, hơi dài, thắt lại ở giữa như cái nậm rượu.Vào mùa Xuân, từng chùm hoa trắng muốt, hương thơm thoang thoảng theo gió, lấp ló trong những tán lá xanh mơn mởn. Khi có cơn gió thoảng qua, những cánh hoa trắng rơi lả tả quanh gốc cây. Chúng em thường nhặt hoa bưởi để chơi đồ hàng, hoặc để đầu giường cho thơm. Cuối mùa Xuân, hoa kết thành những quả bưởi con. Quả bưởi lớn nhanh như thổi. Lúc đầu, chúng bé bằng hòn bi, sau đó, to bằng quả chanh, rồi bằng nắm tay người lớn, và bằng quả bóng lúc nào không biết. Mỗi cây bưởi có từ hàng chục, đến hàng trăm quả, lúc lỉu trông rất đẹp mắt.Mùa Thu, là mùa bưởi chín. Lúc đó, từng quả bưởi nặng trĩu cành, màu vàng ươm, có mùi thơm ngọt. Gọt lớp vỏ mỏng bên ngoài, ta thấy xuất hiện lớp cùi trắng ngà, rồi đến múi bưởi tròn căng, mọng nước, nhưng bóc rất dóc vỏ. Tép bưởi không bị nát và chảy nước.Cây bưởi không chỉ cho ta quả ăn, mà còn có nhiều công dụng khác. Cây bưởi làm cây cảnh ngày Tết, quả bưởi để bày mâm ngũ quả, làm quà cho họ hàng, bạn bè. Lá và vỏ bưởi dùng để gội đầu, làm lá xông giải cảm, hoặc luộc ốc rất thơm. Hoa bưởi để ướp bột sắn, cho ta mùi thơm thoang thoảng, dịu mát. Giống bưởi Diễn rất đặc biệt. Phải đến gần Tết mới được ăn, không như các giống bưởi khác, khoảng tháng 8 đã chín. Nên vào dịp Trung Thu, người ta thường ăn các loại bưởi khác.Bưởi Diễn, là đặc sản nổi tiếng của đất Diễn. Trước Tết Nguyên Đán khoảng 1 tháng, bà nội em thường trẩy bưởi xuống, bôi vôi vào cuống quả bưởi, để dưới gầm giường, hoặc dưới đất cho bưởi xuống đường. Đến Tết là thời điểm ăn bưởi Diễn ngon nhất. Trông quả bưởi Diễn héo nhăn nheo, xấu xí, nhưng ăn ngọt lịm, thanh mát. Điều đặc biệt nữa là, bưởi Diễn rất thơm, mùi thơm dễ chịu. Khi trẩy hết bưởi, ông nội thường rủ em ra vườn quét vôi cho từng gốc cây. Ông bảo, để năm sau bưởi ra nhiều quả hơn, và không bị sâu gốc.Em rất thích thú khi thấy những chú chim non ríu rít nhảy nhót trên cành. Dường như, chúng cũng muốn thưởng thức đặc sản này. Em sẽ chăm sóc vườn bưởi thật tốt, để giống bưởi Diễn đặc sản quê hương em không bị mất dần theo thời gian.  loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Hãy miêu tả một cây ăn quả trong mùa quả chín

HÃY MIÊU TẢ MỘT CÂY ĂN QUẢ TRONG MÙA QUẢ CHÍN

Cây vú sữa ba trồng đầu hồi nhà thuở em còn là đứa trẻ lên ba, nay đã qua hai mùa trái ngọt. Mùa nào cũng sai bông trĩu quả. Và bây giờ, nó đang bước sang mùa thứ ba ở độ sung sức của tuổi trưởng thành Gốc cây to như bắp vế người lớn với những chiếc rễ ăn sâu xuống đất, tạo cho cây vú sữa một dáng đứng vững chãi. Từ mặt đất lên chừng một mét, thân cây chia thành hai nhánh lớn, vươn thẳng lên cao ước chừng gần bằng nóc nhà em. Vòm lá sum suê tỏa bóng mát xuống cả một góc sân rộng, tạo thành một chỗ vui chơi lí tưởng cho hai chị em và lũ bạn học cùng xóm. Những trò chơi đánh đáo, cướp cờ, bịt mắt bắt dê…thường tổ chức dưới gốc cây vú sữa này. Những lúc mệt mỏi, sau những trò chơi thú vị, bổ ích, chúng em lại quây quần bên chiếc bàn nhỏ đặt dưới gốc cây, bày sẵn hai đĩa vú sữa mà trước lúc đi làm, ba đã hái cho. Nhà em trồng khá nhiều cây ăn trái: cam, bưởi, quýt, sa-bô-chê, táo…mỗi loại được trồng trên một bờ dài thẳng tắp. Tổng cộng có đến một mẫu vườn nhưng chỉ có một cây vú sữa “lò rèn” đặc biệt, không những sai quả mà hương vị của nó còn vượt hơn hẳn giống vú sữa thường thấy ở các vườn cây khác trong vùng. Quả nhiều bao nhiêu cũng không bán. Mùa nào cũng vậy, khi vú sữa chín, ba thường chọn một chục quả ngon nhất, đặt lên bàn thờ tổ tiên, cúng vái đất đai nhà cửa tưởng nhớ đến người mẹ “kì diệu” trong truyện cổ tích đã hóa thân thành cây vú sữa tuyệt vời này. Còn lại, ba dùng để biếu các bác, các chú thân quen trong hai cơ quan của ba mẹ, và dành cho hai chị em bồi dưỡng hàng ngày. Mùa thứ ba này, nhìn cây vú sữa, em cảm thấy như cây thấp xuống và xòe rộng ra hơn mọi năm. Các cành lớn, cành nhỏ lủng lẳng những trái là trái, ước tính đến vài trăm. Trái nào trái ấy căng tròn như những trái cam đường bóng láng. Có những cành chỉ nhỉnh hơn ngón chân cái chút xíu mà có đến bảy, tám trái chín mọng, đeo lúc lỉu từ trong ra ngoài, làm cho cành cây cong vồng hơn cả gọng vó. Nhiều lúc gặp phải những ngọn gió chướng thổi qua, tưởng như chúng sẽ bị gẫy gập cả xuống. Nhưng vú sữa vốn dẻo và dai, bền vững như tình mẹ trong truyện cổ tích. Đúng là một giống cây ăn trái không những quý hiếm mà còn mang một biểu tượng tuyệt vời về người mẹ. Mỗi lần cầm trái vú sữa trên tay, dẫu chưa ăn mà em đã cảm nhận được cái hương vị ngọt ngào chảy ra từ những “bầu sữa kì diệu” ấy của người mẹ. Ôi! Tình yêu của mẹ thật như “biển hồ lai láng” mà suốt cuộc đời chúng em không bao giờ đền đáp được. loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

TIÊU CHUẨN KỸ NĂNG NGHỀ: TRỒNG CÂY ĂN QUẢ

TIÊU CHUẨN KỸ NĂNG NGHỀ: TRỒNG CÂY ĂN QUẢ

Nghề trồng cây ăn quả là nghề thực hiện các công việc trong quy trình trồng cây ăn quả bao gồm: tìm hiểu thị trường, quy hoạch đất trồng, chuẩn bị đất trồng, nhân giống, trồng cây, bón phân, tưới nước, quản lý dịch hại, thu hoạch bảo quản, bảo trì dụng cụ trang thiết bị, tổ chức sản xuất cây ăn quả theo hướng GAP. Các vị trí công việc của nghề bao gồm: Công nhân, kỹ thuật viên, lao động tại các doanh nghiệp, trang trại, hợp tác xã, hộ gia đình, các chương trình và dự án liên quan đến lĩnh vực trồng, kinh doanh cây ăn quả, hướng dẫn học nghề trồng cây ăn quả cho người lao động mới hoặc bậc kỹ năng thấp hơn. Trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ cho nghề trồng cây ăn quả bao gồm: Đất trồng, giống cây ăn quả, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, dao, kéo cắt cành, cưa, cuốc, xẻng, máy phun thuốc, máy tưới nước, xuồng, ghe, máy cày, máy kéo, máy làm đất… nhà kho chứa nguyên vật liệu và bảo quản sản phẩm.
Xem thêm

130 Đọc thêm

NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH NÔNG SINH HỌC VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY LÊ TẠI TỈNH CAO BẰNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH NÔNG SINH HỌC VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY LÊ TẠI TỈNH CAO BẰNG

cứu về nguồn gốc của cây lê đã kết luận là lê bắt nguồn từ vùng núi phía TâyNam của Trung Quốc, tác giả còn cho biết ở Trung Quốc lê được trồng ở hầuhết các tỉnh, chỉ trừ những vùng quá lạnh giá và quá khô hạn. Lê được trồngtập trung và nhiều nhất ở phía Bắc, Đông Bắc và phía Đông.Djukovxki P. M (1971)[31] lại cho rằng: nguồn gốc của cây lê là ở HyLạp, vì tại đây đã có mặt cây lê dại cách đây 1000 năm trước công nguyên, cụthể có giống lê dại Pyrus nivalis là nguồn nguyên liệu được thuần hóa trồng ởvườn nhà vùng Địa Trung Hải. Dẫn theo tài liệu của Ăngđrây Fêdôrốp thìDjukovxki P. M đã chỉ ra các trung tâm khởi nguyên về loài bao gồm: trungtâm Đông Á, cầu nối giữa vùng Đông Á và Trung Á là các loài Pyrus ởHimalaya, Caucuse và các vùng gần đó là Iran và các nước vùng Tiểu Á làvùng khởi nguyên quan trọng có nhiều thành phần loài. Trung tâm khởinguyên thứ 2 là Krưm và vùng phía đông bán đảo Balkan, Châu Âu là trungtâm của giống lê dại P.Communis. Các giống lê trồng nổi tiếng trên thế giớiđược tạo ra từ các giống lai giữa P. Communis và P.Nivalis. Cây lê được trồngở Liên Xô (cũ) từ rất sớm, trong đó Trung tâm cây ăn quả trên đất châu Âu làYcrain. Nhà cây ăn quả Nga ở cuối thế kỷ 18 Bôlôtôva A.T đã mô tả 39 giốnglê và nửa cuối thế kỷ 19 vườn thực vật Nikitxki ở Krưm đã có 1 tập đoàn cácgiống lê rất lớn đến 550 giống.Nguồn gốc của cây lê ở Việt Nam đã có một số tác giả đề cập tới. Theo(Võ Văn Chi, 1997) [4,168] thì lê ở nước ta là lê Pyrus pyrifolia Nakai, câyđược nhập từ Trung Quốc vào trồng ở những vùng núi cao miền Bắc ViệtNam như: Cao Bằng, Lạng Sơn... Cây trồng chủ yếu để lấy quả ăn tươi và quảkhô dùng để làm thuốc chữa bệnh. Các tác giả (Nguyễn Văn Phú, Trần Thế6Tục, 1969) [17,110] khi điều tra về cây ăn quả ở một số tỉnh miền núi phíaBắc đã cho rằng các giống lê ở Cao Bằng đều thuộc dòng họ Salê (Pyruspyrifolia Nakai) và đều có nguyên sản từ vùng Tây Nam Trung Quốc, cho đến
Xem thêm

99 Đọc thêm

ĐƠN GIÁ BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN NĂM 2016

ĐƠN GIÁ BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN NĂM 2016

QUY ĐỊNH Đơn giá bồi thuờng giải phóng mặt bằng đối với cây trồng, vật nuôi khi nhà nuớc thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn (Kèm theo Quyết định số: 012016QĐUBND ngày 25 tháng 01 năm 2016 của UBND tỉnh Bắc Kạn) ______________________ Phần I NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ KHI ÁP DỤNG ĐƠN GIÁ Điều 1. Nguyên tắc áp dụng 1. Đơn giá bồi thường đối với cây trồng kèm theo Quyết định là mức giá bồi thường cho cây trồng là tài sản hợp pháp của chủ sở hữu, trồng đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật, đúng mật độ (trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 3 Phần I Quy định này), phù hợp với tiêu chuẩn cây giống theo quy định của cơ quan quản lý chuyên ngành, được trồng trước thời điểm có thông báo thu hồi đất của cấp có thẩm quyền, trên nguyên tắc thống kê thực tế số lượng cây đang sống trên đất hiện có tại thời điểm tổ chức thống kê và phải được chủ sở hữu bảo vệ cho đến khi thanh toán tiền mới chặt hạ hoặc di chuyển. 2. Đơn giá đền bù đối với vật nuôi (nuôi trồng thủy sản): Được bồi thường cho ao, hồ có nuôi trồng thủy sản theo hai hình thức, bồi thường do phải thu hoạch sớm (chưa đến thời điểm được bán) hoặc bồi thường đối với trường hợp di chuyển vật nuôi đến địa điểm nuôi mới được tính bồi thường chi phí di chuyển và phần thiệt hại trong quá trình di chuyển vật nuôi. Điều 2. Các trường hợp cây trồng, vật nuôi không phải bồi thường 1. Cây con tự mọc ở vườn tạp, cây do vãi hạt tự mọc không đủ tiêu chuẩn vườn ươm, không đảm bảo chất lượng, mật độ... 2. Các trường hợp cây cối, hoa màu trồng sau thời điểm có thông báo thu hồi đất của cấp có thẩm quyền. 3. Các loại thủy sản nuôi trồng đến thời kỳ thu hoạch. 4. Ao, hồ không nuôi thả thủy sản không được bồi thường sản lượng. Điều 3. Phương pháp xác định để tính bồi thường cây trồng 1. Đối với cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lấy gỗ, cây bóng mát: Đơn giá cây có dấu là cây trồng đang ở chu kỳ đầu tư hoặc đang ở thời gian xây dựng cơ bản là đơn giá đã bao gồm toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc đến thời điểm thu hồi đất. Cây lâu năm là loại cây thu hoạch nhiều lần (cây ăn quả, cây lấy dầu, nhựa) đã đến thời hạn thanh lý bồi thường chi phí chặt hạ cho chủ sở hữu vườn cây. Chi phí chặt hạ, thu dọn tính như sau: + Cây có đường kính gốc từ 20cm đến 30cm: 70.000 đồngcây; + Cây có đường kính gốc từ 31cm đến 40cm: 120.000 đồngcây; + Cây có đường kính gốc từ 41cm đến 50cm: 250.000 đồngcây; + Cây có đường kính gốc từ 51cm đến 60cm: 350.000 đồngcây; + Cây có đường kính gốc từ 61cm đến 70cm: 500.000 đồngcây; + Cây có đường kính gốc từ 71cm trở lên: 600.000 đồngcây. Việc xác định cây lâu năm đến thời hạn thanh lý do Hội đồng đền bù căn cứ vào thực tế thống kê đền bù của chủ sở hữu vườn cây để xác định. 2. Đối với cây lương thực, rau màu và các loại cây ngắn ngày: Đơn giá bồi thường bằng giá trị sản lượng thu hoạch của một vụ được tính cho năng suất cao nhất trong 03 năm liền kề của cây trồng chính tại địa phương theo thời giá trung bình của nông sản cùng loại ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất (cây trồng chính trồng trên đất nông nghiệp của tỉnh Bắc Kạn được xác định là cây lúa, nông sản cùng loại ở địa phương là thóc sạch). Trên cơ sở năng xuất, sản lượng cây lúa (cây trồng chính) và giá cả thị trường thóc sạch tại địa phương mức giá bồi thường sản lượng cho từng loại cây được xác định như trong bảng giá áp dụng đối với cây trồng đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật, mật độ. 3. Đối với các loại cây, hoa màu trồng không đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật, mật độ theo quy định của cơ quan quản lý chuyên ngành chỉ được bồi thường bằng 12 (50%) giá trị theo bảng đơn giá. 4. Đối với cây, hoa màu chưa có trong bảng đơn giá thì giao cho Hội đồng bồi thường các cấp đề xuất mức giá bồi thường tương đương với các loại cây, hoa màu đã được quy định trong bảng giá. 5. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị, Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng và các chủ dự án có ý kiến bằng văn bản gửi Sở Tài chính để tổng hợp nghiên cứu giải quyết. Phần II ĐƠN GIÁ BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRẾN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN I. Cây ăn quả S TT Tên cây trồng ĐVT Quy cách Phẩm cấp Đơn giá (đồng) 1 Cây cam, cây quýt các loại Cây Cây mới trồng Cây triết cành mới trồng dưới 01 năm Cây trồng, cành triết chưa có quả ĐK 01cm Cây trồng, cành triết chưa có quả ĐK từ 02cm trở lên Cây trồng, cành triết có quả ĐK  01cm Cây có quả ĐK  02cm Cây có quả ĐK ≥ 03cm Cây có quả ĐK ≥ 04cm Cây có quả ĐK  05cm 06cm Cây có quả ĐK  07cm 22.000 54.000 75.000 90.000 108.000 215.000 269.000 377.00 539.000 643.000 2 Cây bòng, bưởi các loại Cây Cây mới trồng Cây triết cành mới trồng dưới 01 năm Cây trồng, cành triết chưa có quả ĐK từ 01cm đến 02cm Cây trồng, cành triết có quả ĐK từ 01cm đến 02cm Cây có quả ĐK > 02cm Cây có quả ĐK ≥ 03cm Cây có quả ĐK ≥ 04cm Cây có quả ĐK  05cm Cây có quả ĐK  07cm Cây có quả ĐK  10cm 11.000 43.000 50.000 76.000 87.000 108.000 162.000 216.000 270.000 323.000 3 Cây chanh Cây Cây mới trồng Cây triết cành mới trồng dưới 01 năm Cây trồng, cành triết chưa có quả ĐK  01cm Cây trồng, cành triết có quả ĐK  01cm Cây có quả ĐK  02cm Cây có quả ĐK ≥ 03cm Cây có quả ĐK ≥ 04cm Cây có quả ĐK  05cm Cây có quả ĐK  07cm trở lên 11.000 32.000 54.000 86.000 129.000 151.000 194.000 269.000 375.000 4 Cây vải thiều, nhãn lồng, nhãn Hương Chi Cây Cây mới trồng Cây triết cành mới trồng dưới 01 năm Cây trồng, cành triết chưa quả ĐK  01cm Cây có quả ĐK  02cm Cây có quả ĐK ≥ 03cm Cây có quả ĐK ≥ 04cm Cây có quả ĐK  05cm Cây có quả ĐK  07cm Cây có quả ĐK  10cm Cây có quả ĐK  12cm Cây có quả ĐK  15cm Cây có quả ĐK  20cm trở lên 32.000 75.000 140.000 161.000 215.000 323.000 430.000 646.000 864.000 1.298.000 1.508.000 1.830.000 5 Cây nhãn khác, vải ta Cây Cây mới trồng, cây gieo hạt còn nhỏ Cây trồng, cành triết chưa quả ĐK  01cm Cây có quả ĐK  02cm Cây có quả ĐK ≥ 03cm Cây có quả ĐK ≥ 04cm Cây có quả ĐK  05cm Cây có quả ĐK  07cm Cây có quả ĐK  10cm Cây có quả ĐK  12cm Cây có quả ĐK  20cm trở lên 16.000 33.000 54.000 87.000 108.000 161.000 269.000 378.000 484.000 592.000 6 Cây mận, mơ (các loại), đào táo, hồng có hạt và không có hạt, hồng xiêm, bơ Cây Cây nhỏ, cây trồng Cây cành triết ĐK  01cm Cây có quả ĐK  02cm Cây có quả ĐK ≥ 03cm Cây có quả ĐK  04cm Cây trồng có quả ĐK ≥ 05cm Cây có quả ĐK ≥ 06cm Cây có quả nhiều năm ĐK ≥ 08cm Cây có quả ĐK ≥ 10cm trở lên 11.000 32.000 54.000 108.000 162.000 216.000 322.000 430.000 536.000 7 Cây lê, lựu, mỏc mật , roi, ổi (các loại), khế, trứng gà, thị, vú sữa, dâu da, hồng bì, chay, bứa, dọc Cây Cây mới trồng Cây chiết, cây ghép, cây trồng ĐK  0,5cm Cây chiết, cây ghép, chưa có quả ĐK từ 01cm đến 06cm Cây chiết, cây ghép, có quả ĐK  01cm Cây chiết, cây ghép, cây trồng có quả ĐK  02cm Cây chiết, cây ghép, cây trồng có quả ĐK  03cm 06cm Cây có quả nhiều năm ĐK > 06cm 08cm Cây có quả nhiều năm ĐK > 08cm10cm trở lên 11.000 22.000 32.000 54.000 86.000 108.000 215.000 323.000 8 Cây na (mãng cầu) Cây Cây mới trồng Cây chiết, cây ghép, cây trồng ĐK  0,5cm Cây chiết, cây ghép, cây trồng chưa có quả ĐK  01cm Cây chiết, cây ghép, cây trồng chưa có quả ĐK  02cm Cây chiết, cây ghép, cây trồng chưa có quả ĐK  03cm Cây chiết, cây ghép, cây trồng chưa có quả ĐK  4cm Cây chiết, cây ghép, cây trồng có quả ĐK ≥ 05cm đến 07cm Cây có quả nhiều năm ĐK ≥ 08cm trở lên 21.000 32.000 65.000 108.000 162.000 215.000 324.000 433.000 9 Cây xoài Cây Cây mới trồng Cây chiết, cây ghép, cây trồng ĐK  0,5cm Cây chiết, cây ghép, chưa có quả ĐK  01cm đến 05cm Cây chiết, cây ghép, chưa có quả ĐK  0cm Cây có quả ĐK  06 08cm Cây có quả ĐK  09 15cm Cây có ĐK  16 20cm Cây có ĐK  21 25cm Cây trồng có quả ĐK ≥ 26cm trở lên 22.000 54.000 76.000 80.000 109.000 215.000 323.000 539.000 754.000 10 Cây sấu, trám Cây Cây mới trồng Cây có ĐK < 02cm Cây có ĐK >02cm đến 05cm Cây có ĐK > 05cm đến 10cm Cây có quả 01 02 năm đầu ĐK > 10cm Cây có quả nhiều năm ĐK > 20cm 16.000 32.000 75.000 108.000 215.000 430.000 11 Cây mít Cây Cây mới trồng Cây có ĐK gốc > 01cm 02cm Cây trồng có ĐK gốc > 02cm 05cm Cây trồng có ĐK gốc > 05cm 08cm Cây có ĐK gốc > 8cm 12cm Cây có ĐK gốc > 12cm 15cm Cây có ĐK gốc > 15cm 20cm Cây có ĐK gốc > 20cm 25cm trở lên 11.000 27.000 43.000 75.000 107.000 216.000 431.000 647.000 12 Cây nhót, dâu ăn quả, chanh dây Cây Cây mới trồng Cây chưa có quả ĐK 01 02cm Cây mới có quả ĐK 03 05cm Cây đã có quả ĐK 06 10cm Cây đã có quả ĐK 11 20cm 5.000 20.000 54.000 108.000 162.000 13 Cây dừa, cau ăn quả Cây Cây mới trồng Cây chưa có quả cao < 50cm Cây chưa có quả cao > 50cm Cây đã có quả năm đầu tiên Cây đã có quả từ năm thứ 02 trở đi 30.000 54.000 108.000 161.00 269.000 14 Cây đu đủ Cây Cây trồng chưa có quả Cây trồng sắp có quả (đang ra hoa) Cây trồng đã có quả non 11.000 43.000 76.000 15 Cây dứa Cây bụi m dài Cây mới trồng từ 03 06 tháng Cây trồng trên 06 tháng đến 01 năm Cây trồng trên 01 năm (01m trồng 03 bụi) 5.500 11.000 16.000 16 Cây nho, gấc Giàn Mới trồng Trồng trên 01 tháng Giàn trồng diện tích phủ giàn < 04m² Giàn trồng diện tích phủ giàn > 04m² Giàn có quả diện tích phủ giàn  10m² 5.500 16.000 27.000 40.000 76.000 17 Cây trầu không Giàn Mới trồng Trồng trên 01 tháng Giàn leo rộng < 05m2 Giàn leo rộng > 05m2 5.500 16.000 54.000 75.000 18 Cây thanh long Cây Mới trồng chưa ra quả Đang có quả non 21.000 108.000 19 Sắn dây Gốc Trồng > 06 tháng Trồng từ 06 tháng đến < 12 tháng 54.000 108.000 20 Cây lấy vỏ ăn trầu Cây Cây còn nhỏ Cây đã lấy được vỏ 50.000 100.000 II. Cây công nghiệp STT Tên cây trồng ĐVT Quy cách Phẩm cấp Đơn giá (đồng) 1 Cây chè xanh m dài luống Mới trồng Cây có ĐK < 0,5cm Cây có ĐK ≥ 0,5cm 11.000 16.000 22.000 2 Cây chè đắng, vối, hoa hoè Cây Cây mới trồng Cây cao từ 01 02m Cây cao từ > 02 05m Cây cao từ > 05m 11.000 22.000 54.000 108.000 3 Cây cà phê Cây Cây mới trồng, trong vòng 01 tháng đầu Cây chưa có quả, mới trồng năm đầu ĐK < 01cm Cây trên 01 năm, ĐK ≥ 01cm Cây đã cho thu hoạch ĐK ≥ 03cm 11.000 16.000 30.000 75.000 4 Cây trẩu, sở, sổ, lai, thông lấy nhựa, chàm Cây Cây mới trồng Cây trồng có ĐK < 05cm Cây có ĐK 05cm 10cm Cây đã cho quả năm đầu ĐK > 10 cm Cây đã cho thu hoạch nhiều năm ĐK > 20cm 11.000 32.000 54.000 86.000 129.000 5 Cây quế, hồi Cây Cây mới trồng Cây trồng cao ≤ 03m Cây trồng cao > 03m Cây cho thu hoạch ĐK từ 05 đến < 10cm Cây cho thu hoạch ĐK từ 10 đến < 20cm Cây cho thu hoạch ĐK từ 20 đến < 30cm Cây đã cho thu hoạch ĐK từ 30cm trở lên 16.000 32.000 54.000 108.000 215.000 323.000 430.000 6 Cây bồ kết Cây Cây mới trồng Cây có ĐK < 02cm Cây đã bắt đầu có quả ĐK< 05cm Cây đã có quả ĐK từ 05cm đến < 10cm Cây đã có quả ĐK từ 10cm đến 20cm trở lên 5.500 11.000 54.000 100.000 216.000 7 Cây cọ, móc Cây Cây mới trồng Cây thấp < 03m Cây cao từ 03 10m Cây cao > 10m 10.000 22.000 54.000 86.000 8 Cây rau ngót rừng Cây Cây mới trồng Cây cao 01m 02m Cây cao trên 02m trở lên 5.500 54.000 108.000 III. Cây lấy gỗ STT Tên cây trồng ĐVT Quy cách phẩm cấp Đơn giá (đồng) 1 Gỗ nhóm I, nhóm II Lim, Lát, Tếch, Đinh, Sến, Tấu, Nghiến, Pơ mu, Hoàng đàn, Trai lý, Sưa Cây Cây mới trồng Cây có ĐK từ 01cm 0 3cm Cây có ĐK từ > 03cm 10cm Cây có ĐK từ > 10 25cm Cây có ĐK từ > 25cm 30cm Cây có ĐK từ > 35cm trở lên 11.000 43.000 129.000 215.000 323.000 539.000 2 Gỗ nhóm III, nhóm IV, nhóm V: Chò Chỉ, Lát Khét, Giổi, De, Vàng tâm, Gội, Dẻ, Muồng, Xà cừ, Thông, Kẹn, Sa mộc, Sau Sau Cây Cây mới trồng, cây có ĐK < 02cm Cây có ĐK thân từ 02cm đến < 05cm Cây có ĐK thân từ 05cm đến < 10cm Cây có ĐK thân từ 10cm đến < 20cm Cây có ĐK từ 20cm đến < 30cm Cây có ĐK 30cm trở lên 11.000 32.000 75.000 108.000 162.000 216.000 3 Gỗ nhóm VI, nhóm VII, nhóm VIII, Gỗ tạp Bạch đàn, Xoan, Keo lá tràm, Mỡ, Sồi, Bồ Đề, Sung, Gạo, Long Não Cây Cây mới trồng, cây có ĐK < 02cm Cây có ĐK thân từ 02cm đến < 05cm Cây có ĐK thân từ 05cm đến < 10cm Cây có ĐK thân từ 10cm đến < 20cm Cây có ĐK từ 20cm đến < 30cm Cây có ĐK 30cm trở lên 11.000 22.000 32.000 54.000 86.000 100.000 4 Cây Tre các loại, Mai, Nghẹ, Ngà, Hốc, Luồng. Cây Cây mới trồng Cây non, cây bánh tẻ Cây già ĐK gốc = 07cm trở lên 5.500 22.000 27.000 5 Cây Vầu, Hóp các loại, Mạy Pùn Cây Cây mới trồng Cây non cây bánh tẻ Cây già 5.500 9.000 11.000 6 Cây nứa các loại (nứa tép, nứa ngộ) Bụi Bụi có số lượng dưới 10 cây Bụi có số lượng trên 10 cây 22.000 27.000 7 Cây vối, cây bo, cây vả, mác bát, me rừng Cây Cây mới trồng Cây có ĐK < 10cm Cây có ĐK từ 10cm – 30cm Cây có ĐK > 30cm trở lên 5.000 11.000 54.000 108.000 8 Cây gỗ trầm hương Cây Cây mới trồng Cây cao dưới 01m Cây cao ≥ 01m đến 02m Cây cao > 02m đến 2,5m Cây cao > 2,5m đến 03m Cây cao > 03m đến 3,5m Cây cao > 3,5m đến 04m Cây cao > 04m đến 4,5m Cây cao > 4,5m đến 05m Cây cao > 05m trở lên 11.000 22.000 54.000 108.000 162.000 216.000 325.000 430.000 646.000 1.078.000 9 Cây Trúc Cây Cây mới trồng Cây non, cây chưa sử dụng được Cây sử dụng được 500 1000 2.000 10 Cây Mây, Song Bụi Mới trồng Trồng từ 01 năm trở lên 5.500 11.000 11 Cây vườn ươm lâm nghiệp và cây ăn quả (đủ tiêu chuẩn) m² Di chuyển cây ăn quả, cây lâm nghiệp trong bầu Di chuyển cây lâm nghiệp trồng đất đủ tiêu chuẩn xuất giống Di chuyển cây ăn quả trồng đất đủ tiêu chuẩn xuất giống 16.000 27.000 38.000 IV. Cây bóng mát, cây cảnh STT Tên cây trồng ĐVT Quy cách Phẩm cấp Đơn giá (đồng) 1 Cây trồng làm hàng rào râm bụt, xương rồng, găng, giành giành, lải keo, cúc tần, thanh thảo m. dài 11.000 2 Cây vạn tuế, cau vua Cây Vạn tuế: ĐK < 05cm Vạn tuế: ĐK từ 05cm đến 10 m trở lên Cau vua: Cao < 01m Cao từ 01m trở lên 130.000 269.000 200.000 376.000 3 Cây dừa cảnh, cọ cảnh Cây 32.000 4 Cây ngũ gia bì Cây 32.000 5 Cây chuối cảnh, trạng nguyên Cây 16.000 6 Cây quỳnh, giao, dạ hương, mây cảnh Cây 27.000 7 Cây thiết mộc lan, trúc nhật Cây 32.000 8 Cây Tùng bách tán Cây 75.000 9 Cây xanh, si, đa, sung, lộc vừng, hoa đại, hải đường, cau cảnh, đào cảnh và các loại cây cảnh khác trồng trên đất Cây 75.000 10 Cây bóng mát: Cây bàng, cây phượng, bằng lăng, hoa sữa, trứng cá, long não Cây Cây mới trồng Cây cao < 02m có ĐK < 05cm Cây cao trên 02m có ĐK < 10cm Cây có ĐK từ 10cm đến < 20cm Cây có ĐK từ 20cm đến < 30cm Cây có ĐK từ 30cm trở lên 5.500 32.000 54.000 75.000 129.000 161.000 11 Cây dây leo: Hoa giấy, châm bầu Khóm Mới trồng Cây đã có hoa 2.000 11.000 12 Cây ngọc lan Cây Cây mới trồng Cây cao từ 02m05m có ĐK ≤ 05cm Cây cao > 05m có ĐK > 05cm Cây có ĐK > 06cm đến < 10cm Cây có ĐK từ 10cm đến < 20cm Cây có ĐK từ 20cm trở lên 11.000 32.300 54.000 70.000 108.000 216.000 13 Cây hoa các loại 13.1 Cây hoa hồng, hoa cúc, hoa ly, lay ơn, huệ m² 54.000 13.2 Cây các loại hoa khác m² 22.000 14 Cây quất Cây Cây mới trồng, cây chưa ra hoa Cây đang ra hoa, cây đã có quả 54.000 108.000 15 Cây cà độc dược, cà gai, xương sông Cây 5.500 16 Chuối tiêu, chuối ngự, chuối tây Cây Cây trồng dưới 6 tháng Cây nhánh có thân cao < 01m Cây cao > 01m chưa có buồng non Cây trồng đang có hoa Cây đã có quả non 8.000 11.000 22.000 32.000 54.000 17 Cây chuối hột Cây Cây cao dưới < 01m Cây cao > 01m Cây có hoa, quả non 3.000 5.500 16.000 18 Cây dược liệu huyết dụ, đinh lăng, actiso, gối hạc, chè hoa vàng, hoàng tinh hoa đỏ, bình vôi, ba kích, tam thất bắc, xả Cây Cây mới trồng Cây sắp thu hoạch 5.500 17.000 19 Tam thất nam, sâm cau, nghệ đen, hà thủ ô Khóm Cây mới trồng Cây sắp thu hoạch 5.000 17.000 20 Diệp hạ châu, bông mã đề, sa nhân, đỗ trọng, si tử, giảo cổ lam, kim ngân, hương nhu, kim tiền thảo, ích mẫu m2 Cây mới trồng Cây sắp thu hoạch 3.500 10.000 V. Cây trồng hàng năm bồi thường theo sản lượng STT Tên cây trồng ĐVT Đơn giá (đồng) 1 Rau muống m2 11.000 2 Rau cải các loại m2 11.000 3 Cây cà bát, cà pháo m2 11.000 4 Cây cà chua, dưa chuột, đỗ đũa, đỗ cô ve m2 11.000 5 Bí xanh, bí đỏ, mướp ngọt, bầu, mướp đắng, thiên lý, su su m2 11.000 6 Bắp cải, xu hào, xúp lơ m2 11.000 7 Hành, tỏi các loại, gừng các loại nghệ, giềng m2 11.000 8 Rau diếp, xà lách, rau thơm các loại m2 11.000 9 Rau đay, mùng tơi m2 11.000 10 Rau ngót nhà mdài 11.000 11 Rau bồ khai m2 11.000 12 Cây ớt m2 11.000 13 Cây lúa m2 9.000 14 Ngô m2 7.000 15 Khoai lang, sắn các loại m2 5.500 16 Khoai tây m2 9.000 17 Khoai sọ, khoai tàu m2 11.000 18 Cây lạc, đỗ xanh, đỗ đen, đỗ tương, vừng m2 9.000 19 Dọc mùng, mon nước m2 3.500 20 Cỏ chăn nuôi, cói đan chiếu, cây lá dong m2 4.500 21 Cây thuốc lá m2 11.000 22 Mía các loại: Mới trồng dưới 03 tháng Trồng trên 03 tháng đến 09 tháng Trồng 09 tháng đến dưới 03 năm Gốc ủ chờ khai thác vụ sau (dưới 03 năm) m dài 22.000 43.000 54.000 22.000 23 Dong giềng: Cây mới trồng Cây sắp đến kỳ thu hoạch m² 3.000 10.000 VI. Vật nuôi (nuôi trồng thủy sản) 1. Ao hồ nuôi trồng thủy sản bồi thường do phải thu hoạch sớm: 10.000đm² mặt nước. 2. Trường hợp có thể di chuyển được thì được bồi thường: a) Chi phí di chuyển: 4.000đm² mặt nước. b) Thiệt hại do di chuyển: 6.000đm² mặt nước. TM. ỦY BAN NHÂN DÂN CHỦ TỊCH Lý Thái Hải
Xem thêm

16 Đọc thêm

Cùng chủ đề