NÉT KHÁC BIỆT TRONG LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHO GIA AMP ĐẠO GIA

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NÉT KHÁC BIỆT TRONG LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHO GIA AMP ĐẠO GIA":

Bải tập lớn: Quan hệ Việt Nam ASEAN

Bải tập lớn: Quan hệ Việt Nam ASEAN

Cách đây tròn 21 năm, ngày 2871995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Sự kiện chính trị quan trọng này đã thể hiện rõ nét chính sách chủ động hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam, mở ra một thời kỳ hội nhập sâu vào khu vực của Việt Nam trên các lĩnh vực chính trịan ninh, kinh tế và chuyên ngành. Việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã mở ra một trang mới trong lịch sử ASEAN. Từ đây chấm dứt tình trạng chia rẽ, đối đầu trong khu vực. ASEAN chính thức là một tổ chức của cả khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên qua mỗi giai đoạn quan hệ Việt Nam – ASEAN có nhiều khác biệt, chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác. Vì vậy em chọn đề tài: “Quan hệ Việt Nam – ASEAN” để làm rõ nội dung trên. B. NỘI DUNG I. Sự hình thành và phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ( ASEAN ) 1. Tổng quan về ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam á (Association of Southeast Asian NationsASEAN) được thành lập ngày 881967 bởi Tuyên bố Băngcốc, Thái Lan, đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của khu vực. Khi mới thành lập ASEAN gồm 5 nước là Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Xingapo và Thái Lan. Năm 1984 ASEAN kết nạp thêm Brunây Daruxalam làm thành viên thứ 6. Ngày 2871995 Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội. Ngày 2371997 kết nạp Lào và Mianma. Ngày 3041999, Cămpuchia trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN, hoàn thành ý tưởng về một ASEAN bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam á, một ASEAN của Đông Nam á và vì Đông Nam á.
Xem thêm

Đọc thêm

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ TRIẾT HỌC ĐẠO GIA Ở TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ TRIẾT HỌC ĐẠO GIA Ở TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI

và đạogia. Nho gia và Đạo gia là hai trường phái triết học lớn, được hình thành và pháttriển trong thời Xuân thu, Chiến quốc. Hai trường phái triết này có ảnh hưởng lớn đếnthế giới quan của Triết học sau này, không những của người Trung Hoa mà cả nhữngnước chịu ảnh hưởng của nền Triết học Trung Hoa, trong đó có Việt Nam.Nho gia đã để lại cho đời những tư tưởng triết học về luân lý, đạo đức chính trị –xã hội rất sâu sắc và vô cùng quý giá. Trong khi đó, Đạo gia đã cung cấp cho chúng tamột số hạt nhân hợp lý về sự tồn tại, vận động và biến đổi không ngừng của thế giớikhách quan, độc lập với ý thức con người. Hé lộ cho chúng ta những khát vọng chânchính về một xã hội công bằng, bình đẳng, xóa bỏ mọi bất công, áp bức, bóc lột, conngười được sống tự do.Bài viết này sẽ giới thiệu về sự hình thànhphát triển cũng như những tư tưởngcơ bản của hai trường phái triết học Nho gia (nguyên thủy) và Đạo gia, phân tíchnhững nét tương đồng và khác biệt giữa hai trường phái triết học này. Từ đó rút ra ýnghĩa phương pháp luận trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn.Tài liệu chính người viết sử dụng là cuốn “Triết học phần I – Đại cương về lịch sửtriết học dành cho học viên cao học & nghiên cứu sinh” – Tiểu ban triết học, khoa lýluận chính trị trường Đại học Kinh tế TP. HCM; và những kiến thức đã được TS. BùiVăn Mưa truyền dạy và hướng dẫn. Ngoài ra người viết cũng tham khảo một số tàiliệu khác về lịch sử triết học phương Đông, triết học trung Quốc, và một số bài viết vềNho gia và Đạo gia. Tuy nhiên do còn nhiều hạn chế về thông tin, nên bài viết có thểcòn nhiều thiếu sót. Mong thầy góp ý để bài tiểu luận được tốt hơn.Hà Thị Sen-Nhóm6-K22 Ngày 4Trang 2Sự tương đồng và khác biệt giữa Nho gia và Đạo giaCHƢƠNG I: Giới thiệu chung về Nho giaĐạo gia1.1. Khái quát về Nho Gia
Xem thêm

7 Đọc thêm

TỔNG HỢP NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHƯƠNG IV: QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY CHO ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH GIỎI LỚP 9

TỔNG HỢP NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHƯƠNG IV: QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY CHO ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH GIỎI LỚP 9

Lịch sử là bộ môn khoa học mang tính xã hội và nhân văn. Môn học này trang bị cho học sinh (HS) khối lượng kiến thức rất đồ sộ về tiến trình lịch sử nhân loại. Không phải ngẫu nhiên khi nhà chính trị Rôma cổ là Xixêrông cho rằng Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống. Bởi nói đến lịch sử là nói đến tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ. Tất cả mọi điều đã xảy ra trong quá khứ đều là những tri thức lịch sử, tri trức của nhân loại và nó dạy cho cuộc sống của con người cả hiện tại và tương lai rất nhiều điều. Để nắm vững kiến thức về một vấn đề nào đó đã khó nhưng để nắm khái quát, rồi đến nắm vững toàn bộ kiến thức lịch sử nhân loại lại là vấn đề khó hơn. Nắm chắc lịch sử là biết rõ bản chất của những vấn đề lịch sử. Trong dạy học, để HS học tốt môn Lịch sử, giáo viên (GV) cần có những định hướng phương pháp tốt.Lí luận dạy học chỉ rõ trong thực tiễn ở trường trung học cơ sở (THCS) có nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau như xêmina, tham quan học tập, hoạt động ngoài lớp đang được áp dụng rộng rãi. Trong đó hình thức lên lớp là hình thức tổ chức dạy học cơ bản.Quá trình dạy học lịch sử có bản chất là một quá trình nhận thức đặc thù. Nhận thức của HS trong học tập lịch sử cũng giống như quá trình nhận thức các môn học khác nói chung. Nhưng nét khác biệt trong nhận thức học tập lịch sử của HS là xuất phát từ sự kiện, từ việc tri giác tài liệu, GV hướng dẫn cho HS tạo biểu tượng, nắm được khái niệm lịch sử, từ đó rút ra quy luật, bài học kinh nghiệm của quá khứ để HS vận dụng vào hoạt động thực tiễn.Quan điểm chỉ đạo chuyên môn lại chỉ rõ trước hết GV phải xây dựng kế hoạch dạy học toàn diện cho cả năm học, từng học kỳ, từng chương, từng bài. GV lựa chọn kiến thức cơ bản, cần thiết mà HS phải nắm vững. Những kiến thức đó là cơ sở để hình thành thế giới quan, giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức và phát triển toàn diện HS.Xuất phát từ lí luận dạy học, nội dung kiến thức là một cơ sở để người thầy hình thành phương pháp dạy học đúng, phù hợp.Quan hệ quốc tế là một nội dung nằm trong hệ thống kiến thức lịch sử nhân loại, “Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến nay” là một trong năm nội dung chính của lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến nay nằm trong chương trình lịch sử thế giới của môn lịch sử lớp 9. Trong thời đại ngày nay, các nước, các tổ chức trên thế giới đều chú trọng đến tình hình thế giới, đến mối quan hệ giữa các nước với nhau. Thông qua mối quan hệ quốc tế giúp các nước hiểu nhau, và các nước có đường lối, chính sách đúng và phù hợp, có thể tạo nên sự phát triển cho đất nước. Như vậy vị trí, vai trò của quan hệ quốc tế là rất cao, quan trọng không thể thiếu trong thời hiện đại này và cho sự phát triển của mỗi nước. Việc giúp HS có nhận thức đúng về quan hệ quốc tế là việc làm phải theo đúng phương pháp bộ môn, HS sẽ có phương pháp học tập đúng, học giỏi môn lịch sử.Để làm được như vậy thì đòi hỏi người thầy phải tổng hợp được nhiều kiến thức về quan hệ quốc tế. Phân loại các đối tượng HS, rồi thực hiện kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học phù hợp với kiến thức, với đối tượng HS. Rõ ràng vai trò của người thầy là rất to lớn.
Xem thêm

41 Đọc thêm

Pháp gia trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Trung Quốc cổ đại và ảnh hưởng của nó đối với xã hội phong kiến Việt Nam

PHÁP GIA TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI XÃ HỘI PHONG KIẾN VIỆT NAM

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Danh gia, Âm dương gia với tư cách là sản phẩm của “Bách gia tranh minh” thì Pháp gia là một trong sáu học phái lớn nhất, có tầm ảnh hưởng đến toàn xã hội Xuân Thu - Chiến Quốc ở Trung Quốc. Pháp gia và học thuyết của trường phái này có lịch sử phát triển khá độc đáo trong quá trình hình thành nhà nước quân chủ chuyên chế Trung Hoa cổ đại. Vai trò của học thuyết Pháp gia không chỉ ở việc Tần Thủy Hoàng đã áp dụng thành công học thuyết này trên đất Tần để kết thúc cục diện Xuân Thu – Chiến Quốc, mà còn tiếp tục tác động đến xã hội phong kiến Trung Hoa và các nước phương Đông đồng văn, trong đó có Việt Nam. Sở dĩ như vậy là vì nội dung tư tưởng biến pháp, cách dựng luật, những phương thuật dùng người; các biện pháp để cải tạo xã hội, phương pháp xây dựng nhà nước mạnh, cách thức phát triển kinh tế - xã hội… trong đường lối trị nước là điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của bất kỳ triều đại phong kiến nào. Với giá trị to lớn đó, Pháp gia đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả cũng như các nhà hoạt động chính trị từ trước đến nay trên thế giới. Ở Việt Nam, trong 70 năm qua kể từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, việc nghiên cứu về Pháp gia và tư tưởng trị nước của trường phái này luôn được các học giả quan tâm. Tuy nhiên, trên thực tế những nghiên cứu về vị thế và vai trò của Pháp gia trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Trung Quốc cổ đại được đề cập còn khá mờ nhạt, đặc biệt là sự tiếp thu những giá trị lý luận trong học thuyết đó cho việc thiết lập thể chế, kiến tạo xã hội và hình thành nên một hệ thống pháp luật đồng bộ cho xã hội phong kiến Việt Nam như thế nào, cho đến nay vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ. Chính vì vậy, việc trình bày một cách có hệ thống nhằm lý giải nguyên nhân ra đời của Pháp gia và những nội dung căn bản về tư tưởng chính trị - xã hội của nó cũng như những tác động của hệ tư tưởng này đến đời sống chính trị - xã hội phong kiến nước ta là một việc làm có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn. Về lý luận, những kết quả nghiên cứu mới sẽ góp phần làm rõ thêm diện mạo của trường Pháp gia trong lịch sử triết học chính trị, chỉ ra những giá trị và đóng góp của nó cho kho tàng văn hóa của phương Đông nói riêng, của toàn nhân loại nói chung. Về thực tiễn, do nhu cầu quản lý xã hội không thể thiếu pháp luật trong bất kỳ thời đại nào cũng như cách thức vận dụng những nội dung phù hợp của tư tưởng pháp trị, cho nên việc tìm hiểu mức độ ảnh hưởng, cách thức ảnh hưởng của Pháp gia trong lịch sử cũng như ngày nay là việc làm có ý nghĩa. Trải qua 70 năm chính thể mới của chúng ta, đặc biệt là sau 30 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong lĩnh vực pháp luật. Đó là đổi mới, hoàn thiện Hiến pháp cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể, đáp ứng nhu cầu về luật pháp để "đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận… tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” [31, tr.103]. Để hoàn thiện mục tiêu trên, chúng ta phải tiếp tục đổi mới toàn diện và triệt để các lĩnh vực đời sống chính trị - xã hội, đặc biệt là hệ thống chính trị XHCN, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân. Do đó, việc kế thừa có chọn lọc những tư tưởng và học thuyết chính trị - xã hội trong lịch sử có vai trò rất quan trọng, trong đó có những giá trị tiến bộ của học thuyết Pháp gia. Để góp phần thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, với tinh thần “ôn cố nhi tri tân” cũng như “tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của nhân loại” [30, tr.115], chúng tôi mạnh dạn lựa chọn “Pháp gia trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Trung Quốc cổ đại và ảnh hưởng của nó đối với xã hội phong kiến Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ Triết học của mình. 2. Mục đích, nhiệm vụ của luận án * Mục đích: Làm rõ vị thế, vai trò của Pháp gia trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Trung Hoa cổ đại và ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị trong học thuyết này đến chế độ phong kiến Trung Hoa, Việt Nam trên một số phương diện tiêu biểu.
Xem thêm

169 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

BÀI GIẢNG TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

Phần I: Khái lược về triết học và lịch sử triết học Chương I: Khái lược về Triết học I Triết học là gì ? 1. Triết học và đối tượng của triết học a) Khái niệm Triết học Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp. ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người. ở ấn Độ, thuật ngữ darsana (triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải. ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người. Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội. Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý. Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây: Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ. Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời. Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội. b) Đối tượng của triết học Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử. Ngay từ khi mới ra đời, triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực không có đối tượng riêng. Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm cho rằng, triết học là khoa học của mọi khoa học, đặc biệt là ở triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại. Thời kỳ này, triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của nó còn in đậm đối với sự phát triển của tư tưởng triết học ở Tây Âu. Thời kỳ trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì triết học trở thành nô lệ của thần học. Nền triết học tự nhiên bị thay bằng nền triết học kinh viện. Triết học lúc này phát triển một cách chậm chạp trong môi trường chật hẹp của đêm trường trung cổ. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo một cơ sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập. Sự phát triển xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của cả khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học. Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo và đã đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan, với những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)... V.I.Lênin đặc biệt đánh giá cao công lao của các nhà duy vật Pháp thời kỳ này đối với sự phát triển chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học trước Mác. Trong suốt cả lịch sử hiện đại của châu Âu và nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở nước Pháp, nơi đã diễn ra một cuộc quyết chiến chống tất cả những rác rưởi của thời trung cổ, chống chế độ phong kiến trong các thiết chế và tư tưởng, chỉ có chủ nghĩa duy vật là triết học duy nhất triệt để, trung thành với tất cả mọi học thuyết của khoa học tự nhiên, thù địch với mê tín, với thói đạo đức giả, v.v.1. Mặt khác, tư duy triết học cũng được phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức. Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò khoa học của các khoa học. Triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó. Hêghen tự coi triết học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học. Hoàn cảnh kinh tế xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm khoa học của các khoa học, triết học mácxít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác với mọi khoa học cụ thể. Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học. Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận. Chính vì tính đặc thù như vậy của đối tượng triết học mà vấn đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay. Nhiều học thuyết triết học hiện đại ở phương Tây muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu riêng cho mình như mô tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn bản... Mặc dù vậy, cái chung trong các học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh. 2. Vấn đề cơ bản của triết học Triết học cũng như những khoa học khác phải giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan với nhau, trong đó vấn đề cực kỳ quan trọng là nền tảng và là điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề còn lại được gọi là vấn đề cơ bản của triết học. Theo Ăngghen: Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại. Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn. Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Trả lời cho hai câu hỏi trên liên quan mật thiết đến việc hình thành các trường phái triết học và các học thuyết về nhận thức của triết học. II Chức năng thế giới quan của triết học 1. Triết học hạt nhân lý luận của thế giới quan Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó. Trong thế giới quan có sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin. Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, song nó chỉ gia nhập thế giới quan khi nó đã trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của con người. Có nhiều cách tiếp cận để nghiên cứu về thế giới quan. Nếu xét theo quá trình phát triển thì có thể chia thế giới quan thành ba loại hình cơ bản: Thế giới quan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học. Thế giới quan huyền thoại là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thủy. ở thời kỳ này, các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người, v.v. của con người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới. Trong thế giới quan tôn giáo, niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu; tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thực, cái thần vượt trội cái người. Khác với huyền thoại và giáo lý của tôn giáo, triết học diễn tả quan niệm của con người dưới dạng hệ thống các phạm trù, quy luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức thế giới. Với ý nghĩa như vậy, triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành và phát triển của thế giới quan. Nếu thế giới quan được hình thành từ toàn bộ tri thức và kinh nghiệm sống của con người; trong đó tri thức của các khoa học cụ thể là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành những quan niệm nhất định về từng mặt, từng bộ phận của thế giới, thì triết học, với phương thức tư duy đặc thù đã tạo nên hệ thống lý luận bao gồm những quan niệm chung nhất về thế giới với tư cách là một chỉnh thể. Như vậy, triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan; triết học giữ vai trò định hướng cho quá trình củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử. Những vấn đề được triết học đặt ra và tìm lời giải đáp trước hết là những vấn đề thuộc về thế giới quan. Thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của con người và xã hội loài người. Tồn tại trong thế giới, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình. Những tri thức này dần dần hình thành nên thế giới quan. Khi đã hình thành, thế giới quan lại trở thành nhân tố định hướng cho quá trình con người tiếp tục nhận thức thế giới. Có thể ví thế giới quan như một thấu kính, qua đó con người nhìn nhận thế giới xung quanh cũng như tự xem xét chính bản thân mình để xác định cho mình mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức hoạt động đạt được mục đích, ý nghĩa đó. Như vậy thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực và trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như của mỗi cộng đồng xã hội nhất định. Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học. Các trường phái chính của triết học là sự diễn tả thế giới quan khác nhau, đối lập nhau bằng lý luận; đó là các thế giới quan triết học, phân biệt với thế giới quan thông thường. 2. Chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết a) Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhà triết học thành hai trường phái lớn. Những người cho rằng vật chất, giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức của con người được coi là các nhà duy vật; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật. Ngược lại, những người cho rằng, ý thức, tinh thần có trước giới tự nhiên được gọi là các nhà duy tâm; họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm. Chủ nghĩa duy vật: Cho đến nay, chủ nghĩa duy vật đã được thể hiện dưới ba hình thức cơ bản: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng. + Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại. Chủ nghĩa duy vật thời kỳ này trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất đã đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể và những kết luận của nó mang nặng tính trực quan nên ngây thơ, chất phác. Tuy còn rất nhiều hạn chế, nhưng chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại về cơ bản là đúng vì nó đã lấy giới tự nhiên để giải thích giới tự nhiên, không viện đến Thần linh hay Thượng đế. + Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật, thể hiện khá rõ ở các nhà triết học thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII và đỉnh cao vào thế kỷ thứ XVII, XVIII. Đây là thời kỳ mà cơ học cổ điển thu được những thành tựu rực rỡ nên trong khi tiếp tục phát triển quan điểm chủ nghĩa duy vật thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc phương pháp nhìn thế giới như một cỗ máy khổng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trong trạng thái biệt lập và tĩnh tại. Tuy không phản ánh đúng hiện thực nhưng chủ nghĩa duy vật siêu hình cũng đã góp phần không nhỏ vào việc chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo, điển hình là thời kỳ chuyển tiếp từ đêm trường trung cổ sang thời phục hưng. + Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được V.I.Lênin phát triển. Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và sử dụng khá triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình và là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật. Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ phản ánh hiện thực đúng như chính bản thân nó tồn tại mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp những lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực ấy. Chủ nghĩa duy tâm: Chủ nghĩa duy tâm chia thành hai phái: chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan. + Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người. Trong khi phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực, chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, của chủ thể. + Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức nhưng theo họ đấy là là thứ tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người. Thực thể tinh thần khách quan này thường mang những tên gọi khác nhau như ý niệm, tinh thần tuyệt đối, lý tính thế giới, v.v.. Chủ nghĩa duy tâm triết học cho rằng ý thức, tinh thần là cái có trước và sản sinh ra giới tự nhiên; như vậy là đã bằng cách này hay cách khác thừa nhận sự sáng tạo ra thế giới. Vì vậy, tôn giáo thường sử dụng các học thuyết duy tâm làm cơ sở lý luận, luận chứng cho các quan điểm của mình. Tuy nhiên, có sự khác nhau giữa chủ nghĩa duy tâm triết học với chủ nghĩa duy tâm tôn giáo. Trong thế giới quan tôn giáo, lòng tin là cơ sở chủ yếu và đóng vai trò chủ đạo. Còn chủ nghĩa duy tâm triết học lại là sản phẩm của tư duy lý tính dựa trên cơ sở tri thức và lý trí. Về phương diện nhận thức luận, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm bắt nguồn từ cách xem xét phiến diện, tuyệt đối hóa, thần thánh hóa một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức mang tính biện chứng của con người. Cùng với nguồn gốc nhận thức luận, chủ nghĩa duy tâm ra đời còn do nguồn gốc xã hội. Sự tách rời lao động trí óc với lao động chân tay và địa vị thống trị của lao động trí óc đối với lao động chân tay trong các xã hội cũ đã tạo ra quan niệm về vai trò quyết định của nhân tố tinh thần. Các giai cấp thống trị và những lực lượng xã hội phản động ủng hộ, sử dụng chủ nghĩa duy tâm làm nền tảng lý luận cho những quan điểm chính trị xã hội của mình. Một học thuyết triết học thừa nhận chỉ một trong hai thực thể (vật chất hoặc tinh thần) là nguồn gốc của thế giới được gọi là nhất nguyên luận (nhất nguyên luận duy vật hoặc nhất nguyên luận duy tâm). Trong lịch sử triết học cũng có những nhà triết học xem vật chất và tinh thần là hai nguyên thể tồn tại độc lập, tạo thành hai nguồn gốc của thế giới; học thuyết triết học của họ là nhị nguyên luận. Lại có nhà triết học cho rằng vạn vật trong thế giới là do vô số nguyên thể độc lập tạo nên; đó là đa nguyên luận trong triết học (phân biệt với thuyết đa nguyên chính trị). Song đó chỉ là biểu hiện tính không triệt để về lập trường thế giới quan; rốt cuộc chúng thường sa vào chủ nghĩa duy tâm. Như vậy, trong lịch sử tuy những quan điểm triết học biểu hiện đa dạng nhưng suy cho cùng, triết học chia thành hai trường phái chính: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Lịch sử triết học cũng là lịch sử đấu tranh của hai trường phái này. b) Thuyết không thể biết Đây là kết quả của cách giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học. Đối với câu hỏi Con người có thể nhận thức được thế giới hay không?, tuyệt đại đa số các nhà triết học (cả duy vật và duy tâm) trả lời một cách khẳng định: thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người. Học thuyết triết học phủ nhận khả năng nhận thức của con người được gọi là thuyết không thể biết. Theo thuyết này, con người không thể hiểu được đối tượng hoặc có hiểu chăng chỉ là hiểu hình thức bề ngoài vì tính xác thực các hình ảnh về đối tượng mà các giác quan của con người cung cấp trong quá trình nhận thức không bảo đảm tính chân thực. Tính tương đối của nhận thức dẫn đến việc ra đời của trào lưu hoài nghi luận từ triết học Hy Lạp cổ đại. Những người theo trào lưu này nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt đến chân lý khách quan. Tuy còn những mặt hạn chế nhưng Hoài nghi luận thời phục hưng đã giữ vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống hệ tư tưởng và quyền uy của Giáo hội thời trung cổ, vì hoài nghi luận thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh và các tín điều tôn giáo. Từ hoài nghi luận (scepticisme) một số nhà triết học đã đi đến thuyết không thể biết (agnosticisme) mà tiêu biểu là Cantơ ở thế kỷ XVIII. III Siêu hình và biện chứng Các khái niệm biện chứng và siêu hình trong lịch sử triết học được dùng theo một số nghĩa khác nhau. Còn trong triết học hiện đại, đặc biệt là triết học mácxít, chúng được dùng, trước hết để chỉ hai phương pháp chung nhất đối lập nhau của triết học. Phương pháp biện chứng phản ánh biện chứng khách quan trong sự vận động, phát triển của thế giới. Lý luận triết học của phương pháp đó được gọi là phép biện chứng. 1. Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng a) Phương pháp siêu hình Phương pháp siêu hình là phương pháp: + Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối. + Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có sự biến đổi thì đấy chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng. Phương pháp siêu hình làm cho con người chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng1. Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng nào trước hết con người cũng phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Song phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm. b) Phương pháp biện chứng Phương pháp biện chứng là phương pháp: + Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau. + Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng. Như vậy phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt. Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái hoặc là... hoặc là... còn có cả cái vừa là... vừa là... nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau2. Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại. Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới. 2. Các giai đoạn phát triển cơ bản của phép biện chứng Cùng với sự phát triển của tư duy con người, phương pháp biện chứng đã qua ba giai đoạn phát triển, được thể hiện trong triết học với ba hình thức lịch sử của nó: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật. + Hình thức thứ nhất là phép biện chứng tự phát thời cổ đại. Các nhà biện chứng cả phương Đông lẫn phương Tây thời kỳ này đã thấy các sự vật, hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận. Tuy nhiên, những gì các nhà biện chứng hồi đó thấy được chỉ là trực kiến, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học. + Hình thức thứ hai là phép biện chứng duy tâm. Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện trong triết học cổ điển Đức, người khởi đầu là Cantơ và người hoàn thiện là Hêghen. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng. Song theo họ biện chứng ở đây bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần, thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm nên biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức là biện chứng duy tâm. + Hình thức thứ ba là phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật được thể hiện trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin phát triển. C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất. 3. Chức năng phương pháp luận của triết học Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống các quan điểm chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp. Xét phạm vi tác dụng của nó, phương pháp luận có thể chia thành ba cấp độ: Phương pháp luận ngành, phương pháp luận chung và phương pháp luận chung nhất. Phương pháp luận ngành (còn gọi là phương pháp luận bộ môn) là phương pháp luận của một ngành khoa học cụ thể nào đó. Phương pháp luận chung là phương pháp luận được sử dụng cho một số ngành khoa học. Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận được dùng làm điểm xuất phát cho việc xác định các phương pháp luận chung, các phương pháp luận ngành và các phương pháp hoạt động khác của con người. Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất. Trong triết học Mác Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau. Phép biện chứng duy vật là lý luận khoa học phản ánh khái quát sự vận động và phát triển của hiện thực; do đó, nó không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là sự diễn tả quan niệm về thế giới, là lý luận về thế giới quan. Hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa duy vật mácxít, do tính đúng đắn và triệt để của nó đem lại đã trở thành nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận. Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng, đề phòng và chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình vừa là kết quả, vừa là mục đích trực tiếp của việc học tập, nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triết học Mác Lênin nói riêng. Câu hỏi ôn tập 1. Đặc trưng của tri thức triết học. Sự biến đổi đối tượng của triết học qua các giai đoạn lịch sử? 2. Vấn đề cơ bản của triết học. Cơ sở để phân biệt chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học? 3. Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình? 4. Vai trò của triết học trong đời sống xã hội? Chương II: Khái lược về lịch sử triết học trước mác A. Triết học phương đông I triết học ấn Độ cổ, trung đại 1. Hoàn cảnh ra đời triết học và đặc điểm của triết học ấn Độ cổ, trung đại Điều kiện tự nhiên: ấn Độ cổ đại là một lục địa lớn ở phía Nam châu á, có những yếu tố địa lý rất trái ngược nhau: Vừa có núi cao, lại vừa có biển rộng; vừa có sông ấn chảy về phía Tây, lại vừa có sông Hằng chảy về phía Đông; vừa có đồng bằng phì nhiêu, lại có sa mạc khô cằn; vừa có tuyết rơi giá lạnh, lại có nắng cháy, nóng bức... Điều kiện kinh tế xã hội: Xã hội ấn Độ cổ đại ra đời sớm. Theo tài liệu khảo cổ học, vào khoảng thế kỷ XXV trước Công nguyên (tr. CN) đã xuất hiện nền văn minh sông ấn, sau đó bị tiêu vong, nay vẫn chưa rõ nguyên nhân. Từ thế kỷ XV tr. CN các bộ lạc du mục Arya từ Trung á xâm nhập vào ấn Độ. Họ định cư rồi đồng hóa với người bản địa Dravida tạo thành cơ sở cho sự xuất hiện quốc gia, nhà nước lần thứ hai trên đất ấn Độ. Từ thế kỷ thứ VII trước Công nguyên đến thế kỷ XVI sau Công nguyên, đất nước ấn Độ phải trải qua hàng loạt biến cố lớn, đó là những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các vương triều trong nước và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài. Đặc điểm nổi bật của điều kiện kinh tế xã hội của xã hội ấn Độ cổ, trung đại là sự tồn tại rất sớm và kéo dài kết cấu kinh tế xã hội theo mô hình công xã nông thôn, trong đó, theo Mác, chế độ quốc hữu về ruộng đất là cơ sở quan trọng nhất để tìm hiểu toàn bộ lịch sử ấn Độ cổ đại. Trên cơ sở đó đã phân hóa và tồn tại bốn đẳng cấp lớn: tăng lữ (Brahman), quý tộc (Ksatriya), bình dân tự do (Vaisya) và tiện nô (Ksudra). Ngoài ra còn có sự phân biệt chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo. Điều kiện về văn hóa: Văn hóa ấn Độ được hình thành và phát triển trên cơ sở điều kiện tự nhiên và hiện thực xã hội. Người ấn Độ cổ đại đã tích lũy được nhiều kiến thức về thiên văn, sáng tạo ra lịch pháp, giải thích được hiện tượng nhật thực, nguyệt thực... ở đây, toán học xuất hiện sớm: phát minh ra số thập phân, tính được trị số π, biết về đại số, lượng giác, phép khai căn, giải phương trình bậc 2, 3. Về y học đã xuất hiện những danh y nổi tiếng, chữa bệnh bằng thuật châm cứu, bằng thuốc thảo mộc. Nét nổi bật của văn hóa ấn Độ cổ, trung đại là mang dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng, tôn giáo. Văn hóa ấn Độ cổ, trung đại được chia làm ba giai đoạn: a) Khoảng từ thế kỷ XXV XV tr. CN gọi là nền văn minh sông ấn. b) Từ thế kỷ XV VII tr. CN gọi là nền văn minh Vêda. c) Từ thế kỷ VI I tr. CN là thời kỳ hình thành các trường phái triết học tôn giáo lớn gồm hai hệ thống đối lập nhau là chính thống và không chính thống. Hệ thống chính thống bao gồm các trường phái thừa nhận uy thế tối cao của Kinh Vêda. Hệ thống này gồm sáu trường phái triết học điển hình là Sàmkhya, Mimànsà, Védanta, Yoga, Nyàya, Vaisesika. Hệ thống triết học không chính thống phủ nhận, bác bỏ uy thế của kinh Vêda và đạo Bàlamôn. Hệ thống này gồm ba trường phái là Jaina, Lokàyata và Buddha (Phật giáo). Triết học ấn Độ cổ đại có những đặc điểm sau: Trước hết, triết học ấn Độ là một nền triết học chịu ảnh hưởng lớn của những tư tưởng tôn giáo. Giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt. Tư tưởng triết học ẩn giấu sau các lễ nghi huyền bí, chân lý thể hiện qua bộ kinh Vêda, Upanisad. Tuy nhiên, tôn giáo của ấn Độ cổ đại có xu hướng hướng nội chứ không phải hướng ngoại như tôn giáo phương Tây. Vì vậy, xu hướng trội của các hệ thống triết học tôn giáo ấn Độ đều tập trung lý giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự giải thoát tức là đạt tới sự đồng nhất tinh thần cá nhân với tinh thần vũ trụ (Atman và Brahman). Thứ hai, các nhà triết học thường kế tục mà không gạt bỏ hệ thống triết học có trước. Thứ ba, khi bàn đến vấn đề bản thể luận, một số học phái xoay quanh vấn đề tính không, đem đối lập không và có, quy cái có về cái không thể hiện một trình độ tư duy trừu tượng cao. Nhận định về triết học ấn Độ cổ, trung đại Triết học ấn Độ cổ, trung đại đã đặt ra và bước đầu giải quyết nhiều vấn đề của triết học. Trong khi giải quyết những vấn đề thuộc bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan, triết học ấn Độ đã thể hiện tính biện chứng và tầm khái quát khá sâu sắc; đã đưa lại nhiều đóng góp quý báu vào kho tàng di sản triết học của nhân loại. Một xu hướng khá đậm nét trong triết học ấn Độ cổ, trung đại là quan tâm giải quyết những vấn đề nhân sinh dưới góc độ tôn giáo với xu hướng hướng nội, đi tìm cái Đại ngã trong cái Tiểu ngã của một thực thể cá nhân. Có thể nói: sự phản tỉnh nhân sinh là một nét trội và có ưu thế của nhiều học thuyết triết học ấn Độ cổ, trung đại (trừ trường phái Lokàyata), và hầu hết các học thuyết triết học này đều biến đổi theo xu hướng từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến duy tâm hay nhị nguyên. Phải chăng, điều đó phản ánh trạng thái trì trệ của phương thức sản xuất châu á ở ấn Độ vào tư duy triết học; đến lượt mình, triết học lại trở thành một trong những nguyên nhân của trạng thái trì trệ đó 2. Tư tưởng triết học của Phật giáo (Buddha) Đạo Phật ra đời vào thế kỷ VI tr. CN. Người sáng lập là Siddharta (Tất Đạt Đa). Sau này ông được người đời tôn vinh là Sakyamuni (Thích ca Mâu ni), là Buddha (Phật). Phật là tên theo âm Hán Việt của Buddha, có nghĩa là giác ngộ. Phật giáo là hình thức giáo đoàn được xây dựng trên một niềm tin từ đức Phật, tức từ biển lớn trí tuệ và từ bi của Siddharta. Kinh điển của Phật giáo gồm Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Phật giáo cũng luận về thuyết luân hồi và nghiệp, cũng tìm con đường giải thoát ra khỏi vòng luân hồi. Trạng thái chấm dứt luân hồi và nghiệp được gọi là Niết bàn. Nhưng Phật giáo khác các tôn giáo khác ở chỗ chúng sinh thuộc bất kỳ đẳng cấp nào cũng được giải thoát. Phật giáo nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng như nhân sinh bằng sự phân tích nhân quả. Theo Phật giáo, nhân quả là một chuỗi liên tục không gián đoạn và không hỗn loạn, có nghĩa là nhân nào quả ấy. Mối quan hệ nhân quả này Phật giáo thường gọi là nhân duyên với ý nghĩa là một kết quả của nguyên nhân nào đó sẽ là nguyên nhân của một kết quả khác. Về thế giới tự nhiên, bằng sự phân tích nhân quả, Phật giáo cho rằng không thể tìm ra một nguyên nhân đầu tiên cho vũ trụ, có nghĩa là không có một đấng Tối cao (Brahman) nào sáng tạo ra vũ trụ. Cùng với sự phủ định Brahman, Phật giáo cũng phủ định phạm trù(Anatman, nghĩa là không có tôi) và quan điểm vô thường. Quan điểm vô ngã cho rằng vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự giả hợp do hội đủ nhân duyên nên thành ra có (tồn tại). Ngay bản thân sự tồn tại của thực thể con người chẳng qua là do ngũ uẩn (5 yếu tố) hội tụ lại là: sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức). Như vậy là không có cái gọi là tôi (vô ngã). Quan điểm vô thường cho rằng vạn vật biến đổi vô cùng theo chu trình bất tận: sinh trụ dị diệt. Vậy thì có có không không luân hồi bất tận; thoáng có, thoáng không, cái còn thì chẳng còn, cái mất thì chẳng mất. Về nhân sinh quan, Phật giáo đặt vấn đề tìm kiếm mục tiêu nhân sinh ở sự giải thoát (Moksa) khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn Nirvana. Nội dung triết học nhân sinh tập trung trong thuyết tứ đế có nghĩa là bốn chân lý, cũng có thể gọi là tứ diệu đế với ý nghĩa là bốn chân lý tuyệt vời. 1. Khổ đế Duhkha satya. Phật giáo cho rằng cuộc sống là khổ, ít nhất có tám nỗi khổ (bát khổ): sinh, lão (già), bệnh (ốm đau), tử (chết), thụ biệt ly (thương yêu nhau phải xa nhau), oán tăng hội (oán ghét nhau nhưng phải sống gần với nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn nhưng không được), ngũ thụ uẩn (năm yếu tố uẩn tụ lại nung nấu làm khổ sở). 2. Tập đế hay nhân đế (Samudayya satya). Phật giáo cho rằng cuộc sống đau khổ là có nguyên nhân. Để cắt nghĩa nỗi khổ của nhân loại, Phật giáo đưa ra thuyết thập nhị nhân duyên đó là mười hai nguyên nhân và kết quả nối theo nhau, cuối cùng dẫn đến các đau khổ của con người: 1 Vô minh, 2 Hành; 3 Thức; 4 Danh sắc; 5 Lục nhập; 6 Xúc; 7 Thụ; 8 ái; 9 Thủ; 10 Hữu; 11 Sinh; 12 Lão Tử. Trong đó vô minh là nguyên nhân đầu tiên 3. Diệt đế (Nirodha satya). Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ có thể tiêu diệt để đạt tới trạng thái Niết bàn. 4. Đạo đế (Marga satya). Đạo đế chỉ ra con đường tiêu diệt cái khổ. Đó là con đường tu đạo, hoàn thiện đạo đức cá nhân gồm 8 nguyên tắc (bát chính đạo): 1 Chính kiến (hiểu biết đúng tứ đế); 2 Chính tư (suy nghĩ đúng đắn); 3 Chính ngữ (nói lời đúng đắn); 4 Chính nghiệp (giữ nghiệp không tác động xấu); 5 Chính mệnh (giữ ngăn dục vọng); 6 Chính tinh tiến (rèn luyện tu lập không mệt mỏi); 7 Chính niệm (có niềm tin bền vững vào giải thoát); 8 Chính định (tập trung tư tưởng cao độ). Tám nguyên tắc trên có thể thâu tóm vào Tam học, tức ba điều cần học tập và rèn luyện là Giới Định Tuệ. Giới là giữ cho thân, tâm thanh tịnh, trong sạch. Định là thu tâm, nhiếp tâm để cho sức mạnh của tâm không bị ngoại cảnh làm xáo động. Tuệ là trí tuệ. Phật giáo coi trọng khai mở trí tuệ để thực hiện giải thoát. Sau khi Siddharta mất, Phật giáo đã chia thành hai bộ phận: Thượng toạ và Đại chúng. Phái Thượng tọa bộ (Theravada) chủ trương duy trì giáo lý cùng cách hành đạo thời Đức Phật tại thế; phái Đại chúng bộ (Mahasamghika) với tư tưởng cải cách giáo lý và hành đạo cho phù hợp với thực tế. Khoảng thế kỷ II tr. CN xuất hiện nhiều phái Phật giáo khác nhau, về triết học có hai phái đáng chú ý là phái Nhất thiết hữu bộ (Sarvaxtivadin) và phái Kinh lượng bộ (Sautrànstika). Vào đầu công nguyên, Phật giáo Đại thừa xuất hiện và chủ trương tự giác, tự tha, họ gọi những người đối lập là Tiểu thừa. ở ấn Độ, Phật giáo bắt đầu suy dần từ thế kỷ IX và hoàn toàn sụp đổ trước sự tấn công của Hồi giáo vào thế kỷ XII. II Triết học trung hoa cổ, trung đại 1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Trung Hoa cổ, trung đại Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn có hai miền khác nhau. Miền Bắc có lưu vực sông Hoàng Hà, xa biển, khí hậu lạnh, đất đai khô khan, cây cỏ thưa thớt, sản vật hiếm hoi. Miền Nam có lưu vực sông Dương Tử khí hậu ấm áp, cây cối xanh tươi, sản vật phong phú. Trung Hoa cổ đại có lịch sử lâu đời từ cuối thiên niên kỷ III tr. CN kéo dài tới tận thế kỷ III tr. CN với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa bằng uy quyền bạo lực mở đầu thời kỳ phong kiến tập quyền. Trong khoảng 2000 năm lịch sử ấy, lịch sử Trung Hoa được phân chia làm hai thời kỳ lớn: Thời kỳ từ thế kỷ IX tr. CN về trước và thời kỳ từ thế kỷ VIII đến cuối thế kỷ III tr. CN. Thời kỳ thứ nhất có các triều đại nhà Hạ, nhà Thương và Tây Chu. Theo các văn bản cổ, nhà Hạ ra đời khoảng thế kỷ XXI tr. CN, là cái mốc đánh dấu sự mở đầu cho chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Hoa. Khoảng nửa đầu thế kỷ XVII tr. CN, người đứng đầu bộ tộc Thương là Thành Thang đã lật đổ Vua Kiệt nhà Hạ, lập nên nhà Thương đặt đô ở đất Bạc, tỉnh Hà Nam bây giờ. Đến thế kỷ XIV tr. CN, Bàn Canh dời đô về đất Ân thuộc huyện An Dương Hà Nam ngày nay. Vì vậy, nhà Thương còn gọi là nhà Ân. Vào khoảng thế kỷ XI tr. CN, Chu Vũ Vương con Chu Văn Vương đã giết Vua Trụ nhà Thương lập ra nhà Chu (giai đoạn đầu của nhà Chu là Tây Chu) đưa chế độ nô lệ ở Trung Hoa lên đỉnh cao. Trong thời kỳ thứ nhất này, những tư tưởng triết học đã xuất hiện, tuy chưa đạt tới mức là một hệ thống. Thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí là thế giới quan thống trị trong đời sống tinh thần xã hội Trung Hoa bấy giờ. Tư tưởng triết học thời kỳ này đã gắn chặt thần quyền và thế quyền và ngay từ đầu nó đã lý giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị xã hội với lĩnh vực đạo đức luân lý. Đồng thời, thời kỳ này đã xuất hiện những quan niệm có tính chất duy vật mộc mạc, những tư tưởng vô thần tiến bộ đối lập lại chủ nghĩa duy tâm, thần bí thống trị đương thời. Thời kỳ thứ hai là thời kỳ Đông Chu (thường gọi là thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc) là thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến. Dưới thời Tây Chu, đất đai thuộc về nhà Vua thì dưới thời Đông Chu quyền sở hữu tối cao về đất đai thuộc tầng lớp địa chủ và chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất hình thành. Từ đó, sự phân hóa sang hèn dựa trên cơ sở tài sản xuất hiện. Xã hội lúc này ở vào tình trạng hết sức đảo lộn. Sự tranh giành địa vị xã hội của các thế lực cát cứ đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt liên miên. Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu, hình thành xã hội phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển. Sự biến chuyển sôi động đó của thời đại đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm các kẻ sĩ luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra những hình mẫu của một xã hội trong tương lai. Lịch sử gọi thời kỳ này là thời kỳ Bách gia chư tử (trăm nhà trăm thầy), Bách gia minh tranh (trăm nhà đua tiếng). Chính trong quá trình ấy đã sản sinh các nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh. Đặc điểm các trường phái này là luôn lấy con người và xã hội làm trung tâm của sự nghiên cứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị đạo đức của xã hội. Theo Lưu Hâm (đời Tây Hán), Trung Hoa thời kỳ này có chín trường phái triết học chính (gọi là Cửu lưu hoặc Cửu gia) là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Âm Dương gia, Danh gia, Pháp gia, Nông gia, Tung hoành gia, Tạp gia. Có thể nói, trừ Phật giáo được du nhập từ ấn Độ sau này, các trường phái triết học được hình thành vào thời Xuân Thu Chiến Quốc được bổ sung hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sử trung cổ, đã tồn tại trong suốt quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Trung Hoa cho tới thời cận đại. Ra đời trên cơ sở kinh tế xã hội Đông Chu, so sánh với triết học phương Tây và ấn Độ cùng thời, triết học Trung Hoa cổ, trung đại có những đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, nhấn mạnh tinh thần nhân văn. Trong tư tưởng triết học cổ, trung đại Trung Hoa, các loại tư tưởng liên quan đến con người như triết học nhân sinh, triết học đạo đức, triết học chính trị, triết học lịch sử phát triển, còn triết học tự nhiên có phần mờ nhạt. Thứ hai, chú trọng chính trị đạo đức. Suốt mấy ngàn năm lịch sử các triết gia Trung Hoa đều theo đuổi vương quốc luân lý đạo đức, họ xem việc thực hành đạo đức như là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của một đời người, đặt lên vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội. Có thể nói, đây chính là nguyên nhân triết học dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luận và sự lạc hậu về khoa học thực chứng của Trung Hoa. Thứ ba, nhấn mạnh sự hài hoà thống nhất giữa tự nhiên và xã hội. Khi khảo cứu các vận động của tự nhiên, xã hội và nhân sinh, đa số các nhà triết học thời Tiền Tần đều nhấn mạnh sự hài hòa thống nhất giữa các mặt đối lập, coi trọng tính đồng nhất của các mối liên hệ tương hỗ của các khái niệm, coi việc điều hoà mâu thuẫn là mục tiêu cuối cùng để giải quyết vấn đề. Nho gia, Đạo gia, Phật giáo... đều phản đối cái thái quá và cái bất cập. Tính tổng hợp và liên hệ của các phạm trù thiên nhân hợp nhất, tri hành hợp nhất, thể dụng như nhất, tâm vật dung hợp... đã thể hiện đặc điểm hài hòa thống nhất của triết học trung, cổ đại Trung Hoa. Thứ tư là tư duy trực giác. Đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy của triết học cổ, trung đại Trung Hoa là nhận thức trực giác, tức là có trong sự cảm nhận hay thể nghiệm. Cảm nhận tức là đặt mình giữa đối tượng, tiến hành giao tiếp lý trí, ta và vật ăn khớp, khơi dậy linh cảm, quán xuyến nhiều chiều trong chốc lát, từ đó mà nắm bản thể trừu tượng. Hầu hết các nhà tư tưởng triết học Trung Hoa đều quen phương thức tư duy trực quan thể nghiệm lâu dài, bỗng chốc giác ngộ. Phương thức tư duy trực giác đặc biệt coi trọng tác dụng của cái tâm, coi tâm là gốc rễ của nhận thức, lấy tâm để bao quát vật. Cái gọi là đến tận cùng chân lý của Đạo gia, Phật giáo, Lý học, v.v. nặng về ám thị, chỉ dựa vào trực giác mà cảm nhận, nên thiếu sự chứng minh rành rọt. Vì vậy, các khái niệm và phạm trù chỉ là trực giác, thiếu suy luận lôgíc, làm cho triết học Trung Hoa cổ đại thiếu đi những phương pháp cần thiết để xây dựng một hệ thống lý luận khoa học. Nhận định về triết học Trung Hoa thời cổ, trung đại: Nền triết học Trung Hoa cổ đại ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ lên xã hội phong kiến. Trong bối cảnh lịch sử ấy, mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng Trung Hoa cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị đạo đức của xã hội. Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã có tác dụng rất lớn, trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị đạo đức phong kiến phương Đông. Bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết học Trung Hoa thời cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâu sắc về sự biến dịch của vũ trụ. Những tư tưởng về Âm Dương, Ngũ hành tuy còn có những hạn chế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc mang tính chất duy vật và biện chứng của người Trung Hoa thời cổ, đã có ảnh hưởng to lớn tới thế giới quan triết học sau này không những của người Trung Hoa mà cả những nước chịu ảnh hưởng của nền triết học Trung Hoa. 2. Một số học thuyết tiêu biểu của triết học Trung Hoa cổ, trung đại a) Thuyết Âm Dương, Ngũ hành Âm Dương và Ngũ hành là hai phạm trù quan trọng trong tư tưởng triết học Trung Hoa, là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa đối với sự sản sinh biến hóa của vũ trụ. Việc sử dụng hai phạm trù Âm Dương và Ngũ hành đánh dấu bước tiến bộ tư duy khoa học đầu tiên nhằm thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng do các khái niệm Thượng đế, Quỷ thần truyền thống đem lại. Đó là cội nguồn của quan điểm duy vật và biện chứng trong tư tưởng triết học của người Trung Hoa. Tư tưởng triết học về Âm Dương Dương nguyên nghĩa là ánh sáng mặt trời hay những gì thuộc về ánh sáng mặt trời và ánh sáng; Âm có nghĩa là thiếu ánh sáng mặt trời, tức là bóng râm hay bóng tối. Về sau, Âm Dương được coi như hai khí; hai nguyên lý hay hai thế lực vũ trụ: biểu thị cho giống đực, hoạt động, hơi nóng, ánh sáng, khôn ngoan, rắn rỏi, v.v. tức là Dương; giống cái, thụ động, khí lạnh, bóng tối, ẩm ướt, mềm mỏng, v.v. tức là Âm. Chính do sự tác động qua lại giữa chúng mà sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trong trời đất. Trong Kinh Dịch sau này có bổ sung thêm lịch trình biến hóa của vũ trụ có khởi điểm là Thái cực. Từ Thái cực mà sinh ra Lưỡng nghi (âm dương), rồi Tứ tượng, rồi Bát quái. Vậy, nguồn gốc vũ trụ là Thái cực, chứ không phải Âm Dương. Đa số học giả đời sau cho Thái cực là thứ khí Tiên Thiên, trong đó tiềm phục hai nguyên tố ngược nhau về tính chất là Âm Dương. Đây là một quan niệm tiến bộ so với quan niệm Thượng đế làm chủ vũ trụ của các đời trước. Hai thế lực Âm Dương không tồn tại biệt lập mà thống nhất, chế ước lẫn nhau theo các nguyên lý sau: Âm Dương thống nhất thành thái cực. Nguyên lý này nói lên tính toàn vẹn, tính chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cái duy nhất. Chính nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và biến đổi. Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực. Các nguyên lý trên được khái quát bằng vòng tròn khép kín, có hai hình đen trắng tượng trưng cho Âm Dương, hai hình này tuy cách biệt hẳn nhau, đối lập nhau nhưng ôm lấy nhau, xoắn lấy nhau. Tư tưởng triết học về Ngũ hành Từ Ngũ hành được dịch là năm yếu tố. Nhưng ta không nên coi chúng là những yếu tố tĩnh mà nên coi là năm thế lực động có ảnh hưởng đến nhau. Từ Hành có nghĩa là làm, hoạt động, cho nên từ Ngũ hành theo nghĩa đen là năm hoạt động, hay năm tác nhân. Người ta cũng gọi là ngũ đức có nghĩa là năm thế lực. Thứ nhất là Thủy, hai là Hỏa, ba là Mộc, bốn là Kim, năm là Thổ. Cuối Tây Chu, xuất hiện thuyết Ngũ hành đan xen. Ngũ hành được dùng để giải thích sự sinh trưởng của vạn vật trong vũ trụ. Thổ mộc hỏa đan xen thành ra trăm vật, hoà hợp thì sinh ra vật, đồng nhất thì không tiếp nối (Quốc ngữ trịnh ngữ). Tức là nói những vật giống nhau thì không thể kết hợp thành vật mới, chỉ có những vật có tính chất khác nhau mới có thể hóa sinh thành vật mới. Tiếp theo là thuyết Ngũ hành tương thắng, rồi xuất hiện thuyết Ngũ hành tương sinh đã bổ khuyết chỗ chưa đầy đủ của thuyết Ngũ hành đan xen. Tư tưởng Ngũ hành đến thời Chiến Quốc đã phát triển thành một thuyết tương đối hoàn chỉnh là Ngũ hành sinh thắng. Sinh có nghĩa là dựa vào nhau mà tồn tại, thắng có nghĩa là đối lập lẫn nhau. Như vậy, tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng phân tích cấu trúc của vạn vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau, nhưng tương tác với nhau. Năm yếu tố này không tồn tại biệt lập tuyệt đối mà trong một hệ thống ảnh hưởng sinh khắc với nhau theo hai nguyên tắc sau: + Tương sinh (sinh hóa cho nhau): Thổ sinh Kim; Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc sinh Hỏa; Hoả sinh Thổ, v.v.. + Tương khắc (chế ước lẫn nhau): Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim; Kim khắc Mộc; và Mộc khắc Thổ, v.v.. Thuyết Âm Dương và Ngũ hành được kết hợp làm một vào thời Chiến Quốc đại biểu lớn nhất là Trâu Diễn. Ông đã dùng hệ thống lý luận Âm Dương Ngũ hành tương sinh tương khắc để giải thích mọi vật trong trời đất và giữa nhân gian. Từ đó phát sinh ra quan điểm duy tâm Ngũ đức có trước có sau. Từ thời Tần Hán về sau, các nhà thống trị có ý thức phát triển thuyết Âm Dương Ngũ hành, biến thành một thứ thần học, chẳng hạn thuyết thiên nhân cảm ứng của Đổng Trọng Thư, hoặc Phụng mệnh trời của các triều đại sau đời Hán. b) Nho gia (thường gọi là Nho giáo) Nho gia do Khổng Tử (551 479 tr. CN sáng lập) xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI tr. CN dưới thời Xuân Thu. Sau khi Khổng Tử chết, Nho gia chia làm tám phái, quan trọng nhất là phái Mạnh Tử (327 289 tr. CN) và Tuân Tử (313 238 tr. CN). Mạnh Tử đã đi sâu tìm hiểu bản tính con người trên cơ sở đạo nhân của Khổng Tử, đề ra thuyết tính thiện, ông cho rằng, thiên mệnh quyết định nhân sự, nhưng con người có thể qua việc tồn tâm dưỡng tính mà nhận thức được thế giới khách quan, tức cái gọi tận tâm, tri tính, tri thiên, vạn vật đều có đủ trong ta. Ông hệ thống hóa triết học duy tâm của Nho gia trên phương diện thế giới quan và nhận thức luận. Tuân Tử đã phát triển truyền thống trọng lễ của Nho gia, nhưng trái với Mạnh Tử, ông cho rằng con người vốn có tính ác, coi thế giới khách quan có quy luật riêng. Theo ông sức người có thể thắng trời. Tư tưởng triết học của Tuân Tử thuộc chủ nghĩa duy vật thô sơ. Kinh điển của Nho gia thường kể tới bộ Tứ thư và Ngũ kinh. Tứ thư có Trung dung, Đại học, Luận ngữ, Mạnh Tử. Ngũ kinh có: Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu. Hệ thống kinh điển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít viết về tự nhiên. Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia. Những người sáng lập Nho gia nói về vũ trụ và tự nhiên không nhiều. Họ thừa nhận có thiên mệnh, nhưng đối với quỷ thần lại xa lánh, kính trọng. Lập trường của họ về vấn đề này rất mâu thuẫn. Điều đó chứng tỏ tâm lý của họ là muốn gạt bỏ quan niệm thần học thời Ân Chu nhưng không gạt nổi. Quan niệm thiên mệnh của Khổng Tử được Mạnh Tử hệ thống hóa, xây dựng thành nội dung triết học duy tâm trong hệ thống tư tưởng triết học của Nho gia. Về đạo đức Nho giáo sinh ra từ một xã hội chiếm hữu nô lệ trên đường suy tàn, vì vậy, Khổng Tử đã luyến tiếc và cố sức duy trì chế độ ấy bằng đạo đức. Đạo theo Nho gia là quy luật biến chuyển, tiến hóa của trời đất, muôn vật. Đối với con người, đạo là con đường đúng đắn phải noi theo để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp. Đạo của con người, theo quan điểm của Nho gia là phải phù hợp với tính của con người, do con người lập nên. Trong Kinh Dịch, sau hai câu Lập đạo của trời, nói âm và dương, Lập đạo của đất, nói nhu và cương là câu Lập đạo của người, nói nhân và nghĩa. Nhân nghĩa theo cách hiểu thông thường thì nhân là lòng thương người, nghĩa là dạ thủy chung; bất nhân là ác, bất nghĩa là bạc; mọi đức khác của con người đều từ nhân nghĩa mà ra cũng như muôn vật muôn loài trên trời, dưới đất đều do âm dương và nhu cương mà ra. Đức nhân xét trong mối liên hệ với đức nghĩa thì nhân là bản chất của “nghĩa”, bản chất ấy là thương người. Đức nghĩaxét trong mối liên hệ với nhân thì nghĩa là hình thức của nhân. Nghĩa là phần ta phải làm. Đó là mệnh lệnh tối cao. Với Nho gia, nghĩa và lợi là hai từ hoàn toàn đối lập. Nhà Nho phải biết phân biệt nghĩa và lợi và sự phân biệt này là tối quan trọng trong giáo dục đạo đức. Đ
Xem thêm

485 Đọc thêm

Đề tài Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam

ĐỀ TÀI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VỚI TỰ NHIÊN TRONG ĐẠO GIA VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI KIẾN TRÚC PHONG THỦY Ở VIỆT NAM

Đề tài Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam 7 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƢỜI VỚI TỰ NHIÊN TRONG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA 1.1. Một số khái niệm cơ bản 1.1.1. Khái niệm “con người” trong triết học Đạo gia Vấn đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các nhà triết gia Trung Quốc cổ đại. Ở mỗi điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể và góc độ tiếp cận khác nhau mà các trường phái triết học, các triết gia lại có những quan điểm khác nhau về việc lý giải vấn đề con người theo lập trường khác nhau. Khác với các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia khi giải quyết vấn đề này ở góc độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội thì các nhà tư tưởng của Đạo gia lại tiếp cận giải quyết vấn đề về bản tính tự nhiên của con người. Trong triết học Đạo gia, khái niệm “con người” chưa được định nghĩa một cách rõ ràng mà nó được biểu hiện thông qua mối quan hệ với phạm trù “Đạo”, “Đức”, “vô vi” và “vị ngã”. Có lẽ ở thời Xuân thu – Chiến quốc, Tử Sản là người đầu tiên đề cập đến “Đạo”. Chúng ta thường gặp chữ “Đạo” trong danh pháp của Nho gia khi thể hiện lý tưởng đạo đức. Có thể thấy, phạm trù “Đạo” không chỉ được dùng trong trường phái Đạo gia mà nó còn được dùng cho nhiều trào lưu tư tưởng của triết học Trung Quốc cổ đại. Phạm trù “Đạo” trong triết học Đạo gia có nhiều nghĩa khác nhau thể hiện tư tưởng của các triết gia. Theo nghĩa đen, “Đạo” là con đường, lối đi hoặc có nghĩa là dẫn dắt, giao tiếp bằng ngôn ngữ với người khác,… Trong Kinh Dịch, “Đạo” chỉ một nguyên lý tối cao bao gồm và chi phối sự luân phiên của Âm và Dương. Từ đó, “Đạo” trở thành một nguyên lý chỉ trật tự của tự nhiên hay đạo đức, chính trị. Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam 8 Phạm trù “Đạo” thời xưa đều mang hàm ý nhân đạo (đạo làm người) và cho đến Lão Tử thì “Đạo” mang một ý nghĩa riêng – Đạo không chỉ có nghĩa là con đường mà còn bao gồm nội dung như bản thể luận, quy luật hay chuẩn mự c. Tư tưởng về “Đạo” chiếm vai trò cực kì quan trọng trong triết học của Lão Tử. Nó là nền tảng của mọi vận động khác và chi phối xuyên suốt toàn bộ học thuyết của ông. Xét về phương diện bản thể luận, “Đạo” được Lão Tử diễn đạt theo hai nội dung là: thể (bản chất) và dụng (công dụng, chức năng). Về mặt thể của “Đạo”: Bản chất của “Đạo” theo Lão Tử thể hiện ở hai tính chất tự nhiên, thuần phác và trống không. Về mặt dụng của “Đạo” thể hiện ở cái không tên là cái thể của Đạo, nó chỉ trạng thái ban đầu, nguyên thủy của Đạo khi chưa vận động, chưa biểu lộ tính chất; còn cái có tên, chính là dụng của Đạo – là trạng thái vận động, biến đổi với năng lực sản sinh và huyền đồng vạn vật. Lão Tử cho rằng trời đất và vạn vật đều sinh ra từ một nguyên lý chung đó được gọi là “Đạo”. Đạo là nguyên lý chung sinh ra vạn vật, tác dụng của Đạo cũng là tác dụng của vạn vật, nhưng vạn vật thành là do Đạo. “Đạo” vô hình, vô thanh, nhìn không thấy, không nghe được và không nắm bắt được. Lão Tử viết: “Đạo thường vô vi nhi vô bất vi.” (Đạo thường không làm gì, nhưng qua nó cái gì cũng được làm.) [27; chương 37] Đối với Lão Tử, “Đạo” là một thực thể nguyên thủy và vĩnh viễn (trường), là hư, là vô. Nó có trước mọi vật hữu hình và người ta không thể nắm được nó bằng giác quan, nó là cái không tri giác được (vô). Từ cái vô này nảy sinh thế giới hữu hình (hữu) và cuối cùng nảy sinh các sự vật riêng biệt. Các phạm trù “vô” và “hữu” là cốt lõi trong tư duy của ông. Hữu và Vô là hai phương diện của Đạo. Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam 9 Lão Tử viết: “Thiên địa vạn vật sinh ư Hữu, Hữu sinh ư Vô.” (Muôn vật trong thiên hạ đều sinh ra từ cái Hữu, cái Hữu sinh ra từ cái vô.) [27; chương 40] “Đạo” theo Lão Tử là cội nguồn của muôn loài, là chủ của trời đất và là cơ sở đầu tiên của vạn vật. “Đạo” là hư, là vô và là cái ban đầu của vạn vật, là bản nguyên của vũ trụ, “huyền diệu mà bất kì một ngôn từ nào cũng không thể diễn tả được” [24; tr.15]. Lão Tử viết: “Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật. Vạn vật phụ Âm nhi bão Dương, xung khí dĩ vi hòa.” (Đạo sinh Một, Một sinh Hai, Hai sinh Ba, Ba sinh vạn vật. Vạn vật đều cõng Âm, ôm Dương, và là sự dung hòa của hai khí Âm Dương.) [27; chương 42] Đạo luôn vận hành theo quy luật, quy luật đó không phải cái gì khác mà chính là lẽ tự nhiên. Lão Tử cho rằng toàn bộ vũ trụ bị chi phối bởi hai quy luật cơ bản nhất đó là luật quân bình (bắt nguồn từ tư tưởng của dịch học ở quẻ Thái của dịch ở thế cân bằng trung dung) và luật phản phục (khuynh hướng tất yếu trong quá trình vận động, biến đổi của vạn vật là trở về trong “Đạo” và trở về với tĩnh lặng, hư không). “Đạo” mang ý nghĩa là quy luật chung của mọi sự biến hóa của vạn vật, vừa có trước sự vật lại vừa nằm trong sự vật. Con người được sinh ra, tồn tại và không tách rời “Đạo”. Vì vậy, con người mang tính thuần phác, tự nhiên, vô vi của “Đạo” và không nên hữu vi, không nên làm gì trái với bản tính tự nhiên của mình cũng như của vạn vật. Quy luật biến hóa tự thân của sự vật được Lão Tử gọi là “Đức”. “Đức” là sự thể hiện của “Đạo” trong hiện thực. “Đức” là nguyên lý sinh ra một vật, tức là cái lý được Hàn Phi Tử nhắc tới. “Đức” là “Đạo” cư ngụ trong vạn vật; nói cách khác, đức là cái mà vật nhận được từ “Đạo” để vật là chính nó. Theo Lão Tử, “Đạo” sinh “Đức” dưỡng. Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam 10 Lão Tử viết: “Đạo khả đạo phi thường Đạo. Danh khả danh phi thường danh.” (Đạo có thể gọi được thì nó không phải là Đạo vĩnh hằng; tên có thể gọi được thì không thể là tên vĩnh hằng.) Hay: (Đạo vĩnh hằng không làm mà làm tất cả.) [27; chương 1] Từ đó, Lão Tử đưa ra quan niệm về “vô vi”. “Vô vi” theo nghĩa thông thường là không làm gì. Trong triết học Lão Tử, “vô vi” nghĩa là con người không áp đặt, không can thiệp, sống và hoạt động theo lẽ tự nhiên. “Vô vi” là con người không hành động có tính chất giả tạo, gò ép, trái với bản tính tự nhiên của mình, không can thiệp vào “guồng máy tự nhiên của vạn vật” và nhờ có vô vi mà được tất cả [35; tr.129]. “Vô vi” cũng có nghĩa là bảo vệ, giữ gìn bản tính tự nhiên của mình và của vạn vật. Lão Tử viết: “Ngã hữu tam bảo, trì nhi bảo chi; nhất viết từ, nhị viết kiệm, tam viết bất cẩn vi thiên hạ tiên.” (Ta có ba bảo vật thường giữ cẩn thận. Một là lòng từ ái, hai là tính cần kiệm, ba là không dám hiếu thắng ở trước mặt người khác.) [27; chương 67] Như vậy, theo Lão Tử “Đạo” là bản nguyên, là khởi thủy của mọi thứ trên đời. Mặc dù quan niệm của Lão Tử còn huyền bí nhưng đã giải thích nguồn gốc của vũ trụ và lần đầu tiên xác lập vũ trụ quan của người Trung Quốc. Lão Tử khẳng định vũ trụ có từ sự biến hóa vô cùng, vô tận của “Đạo” và con người phải sống trong “Đạo”. Trang Tử trong quan niệm về “Đạo” có những điểm khác biệt với Lão Tử. Ông được coi là nhà tư tưởng lớn trong trường phái Đạo gia với quan điểm “tề vật luận” (mọi sự không có sự phân biệt) đã mang lại những tư tưởng sâu sắc về vấn đề con người. Đề tài: Tƣ tƣởng triết học về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam 11 Trang Tử cho rằng, con người sinh ra từ đạo tự nhiên, vô danh; mỗi vật, mỗi người đều có một bản tính, khả năng, sở thích tự nhiên của mình và thuận theo bản tính tự nhiên ấy mỗi vật, mỗi người đều có chỗ cho là phải, là trái, là lớn, là nhỏ, là tốt,… không người nào giống người nào. Nhận thức của con người cũng là tương đối và trí thức chỉ là sản phẩm chủ quan của con người tạo ra áp đặt cho sự vật mà thôi. Trang Tử đề ra học thuyết vứt bỏ phán đoán về mặt lý luận và thủ tiêu đấu tranh về mặt thực tiễn khi cho rằng: “đây” cũng là “kia”, “kia” cũng là “đây”. “Kia” có phải trái của nó. “Đây” cũng có phải trái của nó… Phải cũng là một lẽ vô cùng, trái cũng là một lẽ vô cùng... [28; Tề vật luận]. Từ đó, Trang Tử dạy người ta đối với những điều phải trái tự nhiên phát triển, không cần phân biệt chân lý, sai lầm. Theo Trang Tử con người và vạn vật sinh ra từ “Đạo” đều có bản tính và khả năng tự nhiên của mình. Ông đưa ra học thuyết cơ bản “Trời đất cùng ta đồng sinh, vạn vật cùng ta là Một.” [28; Tề vật luận]. Đề tài Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam Đề tài Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam Đề tài Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam Đề tài Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam Đề tài Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam Đề tài Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam Đề tài Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam Đề tài Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam Đề tài Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam Đề tài Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam Đề tài Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Đạo gia và ý nghĩa của nó đối với kiến trúc phong thủy ở Việt Nam
Xem thêm

85 Đọc thêm

LỊCH SỬ KIẾN TRÚC PHƯƠNG ĐÔNG KIẾN TRÚC TRUNG QUỐC

LỊCH SỬ KIẾN TRÚC PHƯƠNG ĐÔNG KIẾN TRÚC TRUNG QUỐC

Tự nhiện: Nước lớn nhất thế giới. Có hai sông lớn Hoàng Hà (4000km) và Trường Giang (5000km) chảy từ đồi núi cao phía Tây về biển phía Đông. Xã hội: Dân tộc chủ thể là Hoa Hạ. Văn minh Trung Hoa hình thành thời cổ đại (TNK III tcn) trên lưu vực 2 sông trên. Thời Chiến Quốc (tk V tcn) chiến tranh liên miên giữa các chư hầu, sự ra đời nhà nước phong kiến tập quyền thống nhất được lãnh thổ (Tần Thủy Hoàng - 220 tcn). Nhiều tư tưởng, học thuyết ra đời ảnh hưởng lâu dài đến nhân sinh quan xã hội Trung Hoa và các nước Đông Á: Nho gia, Đạo gia, Âm-dương, Ngũ hành, phong thủy… Các triều đại phong kiến lấy tư tưởng Nho giáo làm chính thống để cai trị, “vua là con trời”. Các giai đoạn phát triển của xã hội Trung Hoa: Từ thời Chiến quốc → thời Tần, Hán (475tcn- 225cn) Thời Tam Quốc → thời Tùy, Đường (225- 907) Thời Ngũ Đại, Lục Triều → thời Tống, Nguyên (907- 1368) Thời Minh Thanh (1368- 1911)
Xem thêm

14 Đọc thêm

Công ty hợp danh, thực trạng, giải pháp và kiến nghị

CÔNG TY HỢP DANH, THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

Công ty Hợp Danh (CTHD) là một trong những hình thức công ty ra đời sớm nhất trong lịch sử hình thành công ty. Khái niệm về “hợp danh” bắt đầu xuất hiện và tồn tại từ khi con người bắt đầu hợp tác với nhau. Khái niệm hợp danh xuất hiện từ thời Babylone, Hy Lạp và La Mã cổ đại. Đạo Luật Hammurabi năm 2300 (TCN) cũng đã có chế định về hình thức hợp danh. Khái niệm hợp danh theo Đạo Luật Justinian của đế chế La Mã cổ đại vào thế kỷ VI, xét về bản chất không có sự khác biệt trong pháp luật hiện nay. Sau đó, đến các thời kì Trung đại, đến cuối thế kỉ XVII, rồi ở Thụy Điển, dần dần hình thành hình thức “hợp danh” rõ ràng hơn. Năm 1776, Mỹ giành được độc lập và áp dụng hệ thống luật thông lệ của Anh. Từ đó, luật pháp về CTHD bắt đầu được áp dụng ở Mỹ. Đến đầu thế kỷ XIX, CTHD trở thành loại hình kinh doanh quan trọng nhất ở Mỹ. Ngày nay, hệ thống pháp luật thông lệ điều chỉnh, CTHD được thay thế bằng đạo luật CTHD hay còn gọi là Luật thống nhất về CTHD (Uniform Partnership). Thêm nữa, CTHD được hình thành và phát triển từ những nguyên tắc của chế định đại diện (agency) xuất phát từ những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường về liên kết kinh doanh; tập trung và tích tụ tư bản ở những mức độ và dưới những dạng thức khác nhau.
Xem thêm

21 Đọc thêm

NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ ĐẠO GIA Ở TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI

NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ ĐẠO GIA Ở TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI

Nam.Ngày nay , khi quá triǹ h giao lưu văn hóa – tư tưởng, hô ̣i nhâ ̣p kinh tế ngày càngphát triển, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra các chủ trương và chương trình hành động đểhội nhập sâu và giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới, thì yế u tố tươngđồ ng về văn hóa trở thành một cầu nối quan trọng giúp chúng ta hội nhập dễ dàng vớicác quốc gia trong khu vực. Chính vì thế viêc̣ nghiên cƣ́u đề tài này giúp chúng tatìm hiể u và khám phá những yếu tố tích cực của hai trƣờng phái triết học Nho giavà Đạo gia đã ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến sự phát triển thần kì của các nƣớc nhƣTrung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc(vố n có nét tương đồ ng về văn hóa ) tƣ̀ đó rút rabài học thực tiễn cho Việt Nam.Phƣơng pháp thƣc̣ hiêṇ : nghiên cứu tài liê ̣u, mô tả đưa ra nhâ ̣n đinh.̣Bài tiểu luận tham khảo trong nhiều tài liệu và bài viết trong đó sử dụng như tàiliệu chính là cuốn: Triết học (phần 1) của nhóm tác giả do Ts. Bùi Văn Mưa chủ biên.Ngoài ra bài viết còn tham khảo nhiều phần tài liệu của các tác giả khác và những bàiviết được công bố trên mạng Internet.Đề tài : Sự tương đồ ng và khác biê ̣t giữa nho giáo và đạo giáoTrang 3HVTH : Ngô Quang ThanhCHƢƠNG I:KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ CỦA NHO GIAĐẠO GIA1.Khái quát về Nho gia:1.1. Sơ lƣợc lịch sử hình thànhphát triển của Nho gia:Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên, dưới thời Xuân Thu,
Xem thêm

10 Đọc thêm

Lịch sử hình thành và phát triển của công ty amazon

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY AMAZON

đây là tài liệu giới thiệu về công ty amazon :lịch sử hình thành phát triển ,thành tựu , viễn cảnh và sứ mệnh của công ty. Amazon.com, Inc (NASDAQ: AMZN) là một công ty thương mại điện tử đa quốc gia đóng tại Hoa Kỳ. Trụ sở chính tại thành phố Seattle, bang Washington, đây là nhà bán lẻ trực tuyến lớn nhất Hoa Kỳ, với doanh số bán hàng trên mạng Internet gấp gần ba lần so với doanh thu của hãng xếp hạng nhì trong cùng lĩnh vực Staples, Inc

6 Đọc thêm

LUẬN văn THẠC sĩ ẢNH HƯỞNG của tư TƯỞNG đạo đức PHẬT GIÁO đến đạo đức của THANH NIÊN QUÂN đội NHÂN dân VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN văn THẠC sĩ ẢNH HƯỞNG của tư TƯỞNG đạo đức PHẬT GIÁO đến đạo đức của THANH NIÊN QUÂN đội NHÂN dân VIỆT NAM HIỆN NAY

Trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển hơn hai nghìn năm qua, Phật giáo đã kế thừa nhiều thành tựu văn hóa của nhân loại và để lại những giá trị riêng có của nó. Phật giáo có những đóng góp làm nên bản sắc văn hóa độc đáo của không ít các quốc gia, dân tộc nơi nó du nhập. Ở Việt Nam, Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc qua bao thăng trầm, biến động của lịch sử; đã hoà nhập vào nếp sống, suy nghĩ của bao thế hệ người dân. Trong suốt tiến trình lịch sử ấy, điều không thể phủ nhận được rằng, Phật giáo là một trong những thành tố quan trọng góp phần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc, là một phần không thể thiếu trong nền văn hóa Việt Nam. Phật giáo đã để lại dấu ấn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nó tác động, ảnh hưởng sâu sắc tới tâm lý, tình cảm, lối sống, ứng xử, phong tục tập quán… trong đó có những ảnh hưởng khá đậm nét và góp phần hình thành những giá trị, chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam.
Xem thêm

Đọc thêm

LUẬN VĂN PHONG TỤC CƯỚI HỎI CỦA DÂN TỘC TÀY, NÙNG KHU VỰC BIÊN GIỚI TỈNH CAO BẰNG, VIỆT NAM VÀ DÂN TỘC CHOANG KHU VỰC BIÊN GIỚI PHÍA NAM QUẢNG TÂY, TRUNG QUỐC

LUẬN VĂN PHONG TỤC CƯỚI HỎI CỦA DÂN TỘC TÀY, NÙNG KHU VỰC BIÊN GIỚI TỈNH CAO BẰNG, VIỆT NAM VÀ DÂN TỘC CHOANG KHU VỰC BIÊN GIỚI PHÍA NAM QUẢNG TÂY, TRUNG QUỐC

Tục lệ là một bộ phận cấu thành không thể thiếu được của nền văn hóa truyền thống. Nó chịu sự chi phối của yếu tố lịch sử và hoàn cảnh địa lý. Vì vậy, tục lệ không chỉ là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để phân loại dân tộc mà còn là một trong những nội dung cốt lõi của nền văn minh. Tục cưới hỏi là nghi thức của con người, vì cưới hỏi là chuyện trọng đại của đời người, cho nên nội dung của nó cũng vô cùng phong phú và luôn luôn thu hút được sự quan tâm của mọi tầng lớp, dân tộc. Đó là ý thức đối với gia đình, đối với dòng họ và đối với nam nữ thanh niên đến tuổi trưởng thành. Đó là niềm trân trọng đối với bước ngoặt quan trọng trong đời người. Từ một con người tự do bước sang một tư cách mới: thành vợ thành chồng. Những nghi lễ về cưới hỏi đánh dấu cho sự hệ trọng ấy. Việt Nam là một nước nhiều dân tộc với những bức tranh văn hóa khác nhau. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, các dân tộc đã kề vai, đoàn kết bên nhau đấu tranh giành độc lập dân tộc, tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Cả 54 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hình thành một truyền thống tốt đẹp từ ngàn xưa, đó là xây dựng cuộc sống đan xen, hoà bình, trong đó mỗi dân tộc đều có tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán và văn hoá khác nhau góp phần tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử nghi lễ hôn nhân của các dân tộc đã có nhiều thay đổi, theo chiều hướng tiên tiến song vẫn giữ được nét đặc trưng truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc. Mỗi dân tộc đều có nét đẹp riêng trong phong tục cưới hỏi của mình. Vì dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam và dân tộc Choang ở Trung Quốc là ba dân tộc thiểu số có dân số khá lớn. Ba dân tộc này thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái với địa bàn cư trú chủ yếu là vùng Lưỡng Quảng (tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây)và một phần vùng đông nam tỉnh Vân Nam thuộc Trung Quốc và vùng đông bắc bắc bộ Việt Nam. Hiện nay, dân tộc Tày, Nùng cư trú tại Trung Quốc được xếp vào nhóm các dân tộc có nguồn gốc từ dân tộc Choang. Dân tộc Tày, Nùng xưa kia là những dân tộc có chung nguồc gốc lịch sử, ngày nay tuy tách thành hai dân tộc nhưng sự gần gũi về văn hóa, ngôn ngữ của họ vẫn còn rõ nét, điểm khác biệt của họ là do sự tiếp xúc ngôn ngữ và văn hóa trong quá trình phát triển lịch sử khác nhau. Người Nùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán nhiều hơn trong khi ngươi Tày chịu ảnh hưởng của văn hóa Việt. Người Tày, Nùng sống chủ yếu trong các bản ven đường, mỗi bản thường là sự quy tụ của nhiều dòng họ, có bản có đến 10 họ. Người Tày, Nùng đều theo gia đình phụ hệ, vai trò của người đàn ông được coi trọng, ý thức trọng nam khinh nữ thể hiện đậm nét từ gia đình đến cộng đồng. Cả ba dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam và Choang ở Trung Quốc đều có chữ viết từ rất sớm nên từ xa xưa, nền văn hóa của họ đã rất phong phú và đa dạng. Phong tục tập quán của ba dân tộc có nhiều nét tương đồng, nhưng theo sự phân bổ dân số trên những địa bàn khác nhau, mỗi dân tộc vẫn có những bản sắc riêng.
Xem thêm

25 Đọc thêm

WTO LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

WTO LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Hội nghị Bretton Woods vào năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nhằm thiết lập các quy tắc và luật lệ cho thương mại giữa các nước. Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Việc làm tại La Habana tháng 3 năm 1948. Tuy nhiên, Thượng nghị viện Hoa Kỳ đã không phê chuẩn hiến chương này.567 Một số nhà sử học cho rằng sự thất bại đó bắt nguồn từ việc giới doanh nghiệp Hoa Kỳ lo ngại rằng Tổ chức Thương mại Quốc tế có thể được sử dụng để kiểm soát chứ không phải đem lại tự do hoạt động cho các doanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ (Lisa Wilkins, 1997). ITO chết yểu, nhưng hiệp định mà ITO định dựa vào đó để điều chỉnh thương mại quốc tế vẫn tồn tại. Đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). GATT đóng vai trò là khung pháp lí chủ yếu của hệ thống thương mại đa phương trong suốt gần 50 năm sau đó. Các nước tham gia GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán, kí kết thêm nhiều thỏa ước thương mại mới. Vòng đám phán thứ tám, Vòng đàm phán Uruguay, kết thúc vào năm 1994 với sự thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT. Các nguyên tắc và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý, và mở rộng. Không giống như GATT chỉ có tính chất của một hiệp ước, WTO là một tổ chức, có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể. WTO chính thức được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995.8
Xem thêm

30 Đọc thêm

Kinh tế hộ đồng bào dân tộc Khmer tỉnh An Giang hiện nay

KINH TẾ HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER TỈNH AN GIANG HIỆN NAY

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có những nét đặc thù và bản sắc riêng. Trong đó, đồng bào dân tộc Khmer với trên 1,3 triệu người, sống chủ yếu ở 9 tỉnh, thành phố thuộc khu vực ĐBSCL, đông nhất ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang,v.v...Trong đó, đồng bào Khmer ở An Giang hiện có trên 85.600 người, chiếm 4,05% dân số toàn tỉnh. Sống tập trung chủ yếu ở hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên (trên 80.000 người), số còn lại sống rải rác ở các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn. Lịch sử hình thành cộng đồng dân tộc Khmer ở ĐBSCL và sự hội nhập của họ vào cộng đồng dân tộc Việt Nam diễn ra khá phức tạp và có nhiều vấn đề nhạy cảm chính trị. Do vậy, việc thực hiện tốt chính sách phát triển KT XH vùng ĐBDT Khmer sẽ góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, ổn định chính trị xã hội và phát triển bền vững của khu vực cũng như cả nước.
Xem thêm

116 Đọc thêm

giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh cần thơ

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH CẦN THƠ

... VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH CẦN THƠ 3.1 VÀI NÉT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH CẦN THƠ 3.1.1 Lịch sử hình thành 3.1.1.1 Ngân. .. hàng điện tử, sản phẩm tài công nghệ cao” Xuất phát từ thực tế đó, đề tài: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ ... Chương 3: KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH CẦN THƠ 26 3.1 Vài nét Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ 26 3.1.1
Xem thêm

134 Đọc thêm

TIỂU LUẬN hồ CHÍ MINH sự TIẾP THU tư TƯỞNG và văn hóa PHƯƠNG ĐÔNG

TIỂU LUẬN hồ CHÍ MINH sự TIẾP THU tư TƯỞNG và văn hóa PHƯƠNG ĐÔNG

Trong lịch sử phát triển của các dân tộc mỗi giai đoạn lịch sử đều có những phát sinh về tư tưởng, quan điểm với tính cách là bộ phận của ý thức xã hội đều có quá trình phát sinh hình thành và phát triển trong điều kiện thực tiễn của lịch sử xã hội nhất định. Đó chính là cơ sở tiền đề nguồn gốc hình thành phát triển phản ánh những ý chí và nguyện vọng của các dân tộc thông qua những vĩ nhân của thời đại mà cuộc đời và sự nghiệp tư tưởng, hành động và hoạt động thực tiễn luôn gắn với một giai đoạn lịch sử có tác động vào sự phát triển của thời đại mà khi nhắc đến đó chính là Mác – Ăngghen, Hồ Chí Minh là những con người như vậy.
Xem thêm

Đọc thêm

Lịch sử hình thành và phát triển của hệ điều hành IOS

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ ĐIỀU HÀNH IOS

Lịch sử hình thành và phát triển của hệ điều hành IOS

68 Đọc thêm

Tính khả thi của dự án kinh doanh nhà hàng ẩm thực việt”

TÍNH KHẢ THI CỦA DỰ ÁN KINH DOANH NHÀ HÀNG ẨM THỰC VIỆT”

LỜI MỞ ĐẦU Bản sắc Văn Hoá Việt Nam đã được hình thành và phát triển từ hàng ngàn năm nay. Trải qua bao nhiêu năm lịch sử cho đến nay. Văn hoá Việt Nam đã được đúc kết và tôi luyện dần trở nên tinh tuý. Những nét văn hoá đặc sắc của Việt Nam được cả thế giới biết đến. Tuy nhiên cùng với sự hội nhập sâu rộng nền kinh tế thế giới. Chạy theo những nỗi lo về cơm áo gạo tiền và du nhập những nét văn hoá nước ngoài mà ngày nay nhiều nét Văn hoá Việt Nam đang dần trở nên lu mờ. Văn hoá ẩm thực cũng là một trong những nét văn hoá tiêu biểu trong kho tàng văn hoá miền Nam nói riêng và văn hoá Việt Nam nói chung. Ngày nay, sự thay đổi về môi trường văn hóa đã làm thay đổi nhu cầu ăn uống của khách hàng, do đó đòi hỏi phải nâng ẩm thực lên tầm nghệ thuật. Khách hàng đang đòi hỏi ngày càng cao sự sáng tạo của đầu bếp, cung cấp nhiều món ăn mới lạ nhưng vẫn giữ được nét truyền thống Việt Nam, hầu hết ngày nay các nhà hàng đều được Tây hóa nên việc thành lập nên một nhà hàng hoạt động chuyên môn về món ăn truyền thống là hết sức cần thiết trong trong thời điểm hiện tại. Nhà hàng sẽ được xây dựng có tính chủ đề rõ nét như nhà hàng Việt Nam... Khách hàng của nhà hàng xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội với trình độ văn hóa khác nhau. Là người cung cấp dịch vụ, nhà hàng là người “làm dâu trăm họ”, cần phải đáp ứng ở mức tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng.
Xem thêm

33 Đọc thêm

Kết quả kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thăng Long

KẾT QUẢ KINH DOANH CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH THĂNG LONG

MỤC LỤC LÊI NÓI ĐẦU 1 I. Sơ lược lịch sử và quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn chi nhánh Thăng Long. 2 1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. 2 2. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Thăng Long. 2 II. Cơ cấu tổ chức nhân sự. 2 III. Các đặc điểm kinh tế xã hội ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng 2 1. Yếu tố bên trong 2 2. Yếu tố bên ngoài 2 IV. Kết quả kinh doanh chủ yếu của Ngăn hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Thăng Long. 2 1.Cho vay ở chi nhanh Ngăn hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Thăng Long 2 2. Cơ cấu đầu tư qua các năm của Ngăn hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Thăng Long. 2 3.Nợ quá hạn của chi nhánh qua các năm 2 KẾT LUẬN 2
Xem thêm

23 Đọc thêm

Phố cổ hà nội trong quá trình đô thị hóa

PHỐ CỔ HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

... tài: Phố cổ Hà Nội trình đô thị hóa • • • Xác định từ khóa: phố cổ Hà Nội, trình đô thị hóa Cấu trúc ngữ pháp tên đề tài:  danh từ trung tâm: phố cổ Hà Nội  danh từ phụ nghĩa: trình đô thị hóa. .. tích đô thị - Đô thị hóa trình hình thành phát triển đô thị, kể đô thị hóa nông thôn, đô thị hóa ngoại thành, đô thị hóa ngoại vi… - Đô thị hóa trình phát triển rộng rãi lối sống thành thị thể... người viết chọn đề tài phố cổ Hà Nội Mục đích nghiên cứu: - Nghiên cứu việc giữ gìn nét đẹp truyền thống phố cổ Hà Nội trình đô thị hóa Đô thị hóa thành phố không làm phố cổ Lịch sử nghiên cứu
Xem thêm

17 Đọc thêm

Cùng chủ đề