THUẾ XUẤT THUẾ NHẬP KHẨU

Tìm thấy 5,285 tài liệu liên quan tới từ khóa "THUẾ XUẤT THUẾ NHẬP KHẨU":

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN NHẰM THỰC HIỆN TỐT THUẾ NHẬP KHẨU

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN NHẰM THỰC HIỆN TỐT THUẾ NHẬP KHẨU

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi Pháp luật Thuế nhập khẩu ở nước ta trong năm 2013 và đề xuất ý kiến pháp lý nhằm thực hiện tốt thuế nhập khẩu Bài tập học kỳ Luật Tài chính 8,5đ Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Tài chính Hội nhập với thế giới là một một xu hướng chung của bất kì các quốc gia nào trong thời kì hiện nay, một trong những phương thức để hội nhập với kinh tế toàn cầu đó là xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hóa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Và Việt Nam cũng không nằm ngoài xư hướng chung đó của toàn thế giới, chúng ta cũng không ngừng nỗ lực để phát triển nền kinh tế đất nước. Luật Thuế xuất nhập khẩu năm 2005 ra đời đã kịp thời điều chỉnh những quan hệ trong quá trình thu và quản lí hàng hóa xuất nhập khẩu. Để làm rõ hơn về vấn đề này, nhóm chúng em xin chọn đề tài “Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi Pháp luật Thuế nhập khẩu ở nước ta trong năm 2013 và đề xuất ý kiến pháp lý nhằm thực hiện tốt thuế nhập khẩu”. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ NHẬP KHẨU 1. Một số nét về thuế nhập khẩu a. Khái niệm về thuế nhập khẩu Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế nhập khẩu tùy thuộc và từng góc độ tiếp cận như : Xét về phương diện kinh tế, thuế Nhập khẩu được quan niệm là khoản đóng góp bằng tiền của tổ chức và cá nhân vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi nhập khẩu hàng hoá qua biên giới một nước. Xét về phương diện pháp lý, thuế nhập khẩu có thể hình dung như là quan hệ pháp luật phát sinh giữa nhà nước (người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên trong quá trình hành thu thuế nhập khẩu. Ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về thuế nhaaph khẩu như sau: Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào hành vi dịch chuyển hàng hóa qua biên giới của một quốc gia b. Đặc trưng của thuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu có 3 đặc trưng dễ nhận thấy nhất như sau: Thuế nhập khẩu có đối tượng chịu thuế là các hàng hoá được phép vận chuyển qua biên giới. Thuế nhập khẩu không hoàn toàn là thuế trực thu hoặc thuế gián thu. Thuế nhập khẩu có chức năng đặc trưng là bảo hộ sản xuất trong nước và điều tiết hoạt động nhập khẩu. c. Vai trò thuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu có 3 vai trò lớn sau đây: Tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước. Thuế Nhập khẩu không chỉ trực tiếp tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn có tác động tới số lượng và cơ cấu các nguồn thu từ các sắc thuế khác có liên quan. Trong mối quan hệ hữu cơ với các sắc thuế khác, thuế nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến số thu ngân sách từ những hình thức thuế gắn với hoạt động kinh doanh, thương mại như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp… Điều tiết hoạt động kinh tế. Thuế Nhập khẩu là công cụ điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà nước đối với nền kinh tế. Thông qua thuế nhập khẩu nhà nước điều chỉnh quá trình phân bổ và phân bổ lại các nguồn lực của nền kinh tế. Với việc tác động trực tiếp đến giá cả của hàng hóa trong thương mại quốc tế, thuế nhập khẩu điều chỉnh khả năng cạnh tranh của hàng hóa chịu thuế trên thị trường và như vậy tạo ra sự phân bổ lại nguồn lực trong các ngành sản xuất. Thuế Nhập khẩu là công cụ hỗ trợ và bảo vệ nền sản xuất trong nước. Thông qua thuế nhập khẩu nhà nước gián tiếp tác động vào việc điều tiết sản xuất trong nước. Thuế nhập khẩu đánh thuế ở mức khác nhau đối với từng loại hàng hóa nhập khẩu, từ đó điều chỉnh khả năng cạnh tranh của hàng hóa chịu thuế trên thị trường và từ đó tạo ra sự phân bổ lại nguồn lực cho các ngành sản xuất. 2. Pháp luật về thuế nhập khẩu a. Khái niệm về pháp luật thuế nhập khẩu: Pháp luật về thuế nhập khẩu là danh từ dùng để chỉ tập hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đăng ký kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế và xử lý các vi phạm, tranh chấp về thuế nhập khẩu phát sinh giữa nhà nước với người nộp thuế b.Nội dung pháp luật thuế nhập khẩu b1. Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế nhập khẩu Gồm người nộp thuế là tổ chức,cá nhân có hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế nhập khẩu theo quy định của Luật thuế xuất khẩu,nhập khẩu( điều 4 luật thuế xuất khẩu,nhập khẩu) và người thu thuế là Nhà Nước trong đó có những cơ quan đại diện cho nhà nước để thu thuế nhập khẩu như cơ quan hải quan và một số cơ quan chức năng khác. b2. Căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật về thuế nhập khẩu Gồm: Các quy phạm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về thuế nhập khẩu Các sự kiện pháp lí b3. Căn cứ xác định nghĩa vụ thuế nhập khẩu Đối với những mặt hàng áp dụng thuế suất theo tỉ lệ phần trăm (%), căn cứ tính thuế là: Số lượng,đơn vị từng mặt hàng thực tế nhập khẩu được ghi trong tờ khai hải quan Giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu Thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với hàng hóa nhập khẩu Đối với những mặt hàng nhập khẩu ấp dụng thuế tuyệt đối Số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế nhập khẩu được ghi trong tờ khai hải quan Mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vi hàng hóa nhập khẩu b4.Phương pháp tính thuế Thuế nhập khẩu = số lượng đơn vị mặt hàng ghi trong tờ khai hải quan x giá tính thuế x thuế suất(%) của từng mặt hàng ghi trong biểu thuế tại thời điểm tính. Trong trường hợp mặt hàng áp dụng thuế tuyệt đối: Thuế nhập khẩu = số lượng đơn vị từng mặt hàng ghi trong tờ khai hải quan x mức thuế tuyệt đối quy định trên 1 đơn vị hàng hóa tại thời điểm tính b5. Đồng tiền tính thuế nhập khẩu; đồng Việt Nam, trong trường hợp được phép nộp bằng ngoại tệ thì phải nộp bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. b6. Trình tự, thủ tục nộp thuế nhập khẩu 1: Kê khai thuế và tính thuế nhập khẩu 2. Nộp thuế và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu II. TÌNH HÌNH THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA Luật thuế Xuất khẩu,thuế Nhập Khẩu đầu tiên của Việt Nam được ban hành năm 1991 (được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1993 và 1998). Tuy nhiên, luật này đã bộc lộ nhiều bất cập, quy định không hợp lý dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật thuế, gây thất thu lớn cho ngân sách và ảnh hưởng đến sản xuất trong nước. Để khắc phục, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 đã ra đời. Bên cạnh đó là hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Đạo luật này đã khắc phục được nhiều bấp cập của Luật Thuế xuất khẩu, thuế Nhập Khẩu 1991. Trong quá trình thực thi từ 112006 đến nay, đạo luật này đã thể hiện nhiều ưu điểm, song vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Từ khi Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2005 ra đời đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các chính sách thuế, góp phần thúc đẩy hoạt động nhập khẩu hàng hóa. Trong điều kiện quốc tế hóa nền kinh tế, Việt Nam gia nhập WTO, chính sách về thuế Nhập khẩu ngày càng được mở rộng, mức độ mở cửa thị trường ngày càng cao đòi hỏi các nhà sản xuất trong nước phải thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng, cải tiến khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu. Pháp luật thuế nhập khẩu đã phản ảnh chủ trương mở rộng kinh tế quốc tế, mở rộng ngoại giao của nước ta. Việc xóa bỏ hàng rào thuế quan, có các ưu đãi thuế quan, xác định giá tính thuế phù hợp với pháp luật quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa. Từ đó, thúc đẩy quan hệ ngoại giao với các quốc gia liên quan. Nguồn thu từ thuế Nhập khẩu là một nguồn thu ổn định của ngân sách nhà nước. Theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan, tính từ 112011 đến 3132111, thu ngân sách nhà nước của ngành hải quan ước đạt 44.000 tỷ đồng, tăng khoảng 12,6% so với cùng kỳ năm trước. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 ra đời đã góp phần đáng kể trong việc nâng cao sự minh bạch trong hoạt động hải quan, theo hướng hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy vậy vẫn còn một số hạn chế trong việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu như sau: Việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu chưa thật sự triệt để, pháp luật thuế có nhiều chỗ còn lỏng lẻo tạo điều kiện cho đối tượng nộp thuế luồn lách. Việc kê khai thuế, nộp thuế còn mất nhiều thời gian và còn quá nhiều uẩn khúc. Còn nhiều cán bộ thuế chưa có đủ năng lực và trách nhiệm trong bộ máy quản lý thuế nhập khẩu…. III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Những nhân tố chung ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế nhập khẩu nói riêng Pháp luật thuế nhập khẩu chịu ảnh hưởng chung với các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế ở Việt Nam như: Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế, chính sách thương mại của nhà nước; Xu hướng và trào lưu hội nhập kinh tế thế giới;Chính sách phát triển chung của nhà nước; Nhu cầu của Ngân sách a. Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế, chính sách thương mại của nhà nước ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu. Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế ở một thời kì nhất định là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến nội dung chính sách thuế xuất nhập khẩu và nội dung pháp luật thực định về thuế xuất nhập khẩu trong giai đoạn đó. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi lẽ suy cho cùng chính sách và pháp luật về thuế xuất nhập khẩu chỉ là tấm gương phản chiếu thực trạng tình hình kinh tế và xã hội trong nước và quốc tế mà thôi. Xuất phát từ nhu cầu đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích chung của từng quốc gia với lợi ích riêng của từng doanh nghiệp, từng cá nhân và hộ gia đình, chính sách thuế xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ có thể sẽ được xây dựng và thực hiện theo hướng thiên về mục tiêu bảo hộ; mục tiêu tăng thu ngân sách hoặc và mục tiêu tự do hóa thương mại. . Tình hình kinh tế Hiện nay nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến tích cực so với những năm trước đây bình quân đầu người tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm, tỷ lệ lạm phát được giữ ở mức ổn định, đời sống của người dân được cải thiện. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như thất nghiệp, sản xuất suy giảm, hàng hóa sản xuất ngày càng kém cạnh tranh với hàng nước ngoài. Đặc biệt, trong những năm gần đây, hàng hóa tiêu dùng, hàng điện tử của các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… ngày càng tràn lan trên thị trong nước hàng nội địa gần như không có khả năng cạnh tranh, không còn chỗ đứng trên chính thị trường quốc gia của mình. Vì vậy, Thuế nhập khẩu đã ra đời với chức năng cơ bản của một loại thuế và quan trọng hơn nó còn có vai trò đặc thù đó là bảo hộ nền sản xuất trong nước và chống lại xu hướng cạnh tranh không cân sức giữa hàng hóa trong nước và hàng hóa ngoại nhập. Vai trò này xuất phát từ nguồn gốc của hàng hóa, hàng nhập khẩu sẽ có giá cả cao hơn do phải chịu một mức thuế nhất định khi nhập khẩu qua các cửa khẩu, cảng biển trong khi hàng hóa trong nước lại không phải chịu phần thuế nhập khẩu này ( trừ những nguyên liệu, linh kiện phải nhập từ nước ngoài về).Vì vậy, Chính phủ xem việc đánh thuế vào hàng hóa nhập khẩu là một biện pháp quan trọng để góp phần đảm bảo sức cạnh tranh cho hàng hoa strong nước, hanjc hế được phần nào sự độc chiếm thị trường của hàng ngoại nhập . Tình hình trính trị Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước pháp quyền xã hôi chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.Hiện nay tình hình chính trị nước ta tương đối ổn định, không xảy ra các cuộc chiến tranh, khủng bổ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có những thành phần chống phá Nhà nước, những người có hành động phản Đảng và những thế lực thù địch bên ngoài nên phải hết sức đề phòng. Trong thời gian qua, một số vụ tham nhũng, hối lộ đang diễn ra một cách phức tạp nổi cộm như vụ án Dương Chí Dũng với sự nhũng tay của không ít các quan chức cấp cao nhà nước đã gây ra những chấn động lớn đối với cục diện chính trị, kinh tế trong nước. Đặc biệt, gần đây, Trung Quốc đã sử dụng nhiều chiêu trò để thao túng thị trường nông sản trong nước gây ra những bất lợi nhất định đối với quá trình hội nhập kinh tế nước ta. Chính vì vậy, bên cạnh chính sách duy trì nền chính trị trong nước ổn định, Đảng và nhà nước ta cần siết chặt hơn nữa công tác quản lý hàng hóa nhập vào trong nước, tránh để trường hợp lợi dụng chính sách hội nhập để thực hiện âm mưu về chính trị, thao túng thị trường trong nước gây nên nhiều bất lợi cho quốc gia. b. Xu hướng và trào lưu hội nhập kinh tế thế giới Trên thế giới xu hướng chung là các nước cùng liên minh thành lập lên những liên minh kinh tế thế giới để cùng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Theo đó các nước thành viên sẽ có những thỏa thuận tạo lên khung pháp lý mà muốn tham gia thì quốc gia đó phải đáp ứng được những tiêu chí đó. Trên thực tế, luật thuế nhập khẩu của mỗi quốc gia sẽ phán ánh tình trạng hội nhập của quốc gia đó và vì vậy nó chịu sự tác động và chi phối mạnh mẽ của các điều ước quốc tế. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, pháp luật thuế nhập khẩu ở mỗi nước( trong đó có cả Việt Nam) được xây dựng và hoàn thiện theo hướng cơ bản sau: Chuyển hóa các cam kết quốc tế thành các quy định pháp luật trong nước bằng cách đưa vào luật những quy định mới hoặc sửa đổi, điều chỉnh những quy định đã có cho tương thích với các quy định của Điều ước quốc tế mà quốc gia đó đã hoặc sẽ tham gia. Thừa nhận các quy định quốc tế để áp dụng, sau đó sửa đổi luật pháp cho phù hợp với các quy định quốc tế( Ở Việt Nam hiện nay, giải pháp này được goi là “nội luật hóa” các điều ước quốc tế). Những chính sách trên đã có tác động lớn tới pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam và dẫn tới những thay đổi trong pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam.Ở Việt Nam,những thay đổi lớn lao và quan trọng trong chính sách thuế xuất nhập khẩu thực sự đã được khởi động từ năm 1998 (để thực hiện cam kết giảm thuế theo quy định của AFTA). Ngày 7112006 Việt Nam gia nhập WTO và trở thành thành viên chính thức của WTO từ ngày 1112007. Trước khi gia nhập tổ chức này, Việt Nam đã tiến hành cải cách hệ thống pháp luật như ban hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2005,…để tương thích với các quy chế của WTO. Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật bổ sung, hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật thời hậu WTO. Và gần đây nhất là những thay đổi trong chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đến hoặc từ Hoa Kỳ, nhằm thực hiện các cam kết giảm thuế theo hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ. Hầu hết những thay đổi này đều được thể chế hóa thành các quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, nhằm đảm bảo tính khả thi và tính hiện thực cho các chính sách đó trong thực tiễn. Như vậy có thể nói, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế có ảnh hưởng quan trọng đến nội dung và thực thi chính sách thuế nhập khẩu ở Việt Nam c. Chính sách phát triển chung của nhà nước Dựa trên bối cảnh tình hình kinh tế trong nước và thế giới,Đảng ta đề ra đường lối hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kì. Đảng và nhà nước đã đưa ra hai xu hướng để phát triển kinh tế đất nước đó là:Bảo hộ mậu dịch, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các ngành sản xuất trong nước. Xu hướng thứ hai là tự do hóa thương mại, cắt giảm tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan của xu hướng tự do hóa thương mại. Trong văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001), Đảng ta nhận định: “Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh”. Để phù hợp với xu thế chung của thế giới,Việt Nam là lần lượt trở thành quốc gia thành viên của WTO, APEC, IMF, ASEAN…Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do đa phương với các nước ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc. Việt Nam cũng đã ký với Nhật Bản một hiệp định đối tác kinh tế song phương. Tuy vậy việc trở thành thành viên của các liên minh kinh tế thế giới, việc kí kết những hiệp ước song phương, đa phương cũng lại trở thành một thách thức lớn cho Việt Nam vì Việt Nam phải cắt giảm quá nhiều loại thuế nhập khẩu đưa tới việc giá thành của những hàng hóa nhập khẩu đó giảm xuống trong khi đó chất lượng lại tốt hơn hàng hóa của Việt nam nên hàng hóa sản xuất trong nước không thể cạnh tranh được. Chính vì thế, để đảm bảo sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và thông lệ về tập quán quốc tế về thuế quan và thương mại,ể bảo vệ được hàng hóa trong nước pháp luật thuế nhập khẩu hiện hành của Việt Nam đã quy định việc áp dụng các biện pháp về thuế tự bảo vệ( nhằm bảo hộ các hàng hóa trong nước do bị cạnh tranh không chính đáng với hàng hóa cùng lọai được nhập khẩu quá mức vào Việt Nam); áp dụng thuế chống bán phá giá( đối với hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam thấp hơn giá thông thường trong giao dịch thương mại; áp dụng thuế chống trợ cấp (đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được trợ cấp từ nước xuất khẩu) và áp dụng thuế chống phân biệt đối xử (đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt nam được xuất xứ từ nước ngoài mà trước đó đã có sự phân biệt đối xử về thuế nhập khẩu đối với hàng hóa của Việt Nam). Đây là biện pháp quan trọng để bảo hộ nền sản xuất trong nước và tạo được nguồn thu đáng kể cho Ngân Sách Nhà nước từ việc “nhập khẩu” hàng hóa d. Nhu cầu thu Ngân Sách Nhà Nước về thuế nhập khẩu. Ngân sách nhà nước được hình thành để Nhà nước thực hiện việc điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội đồng thời tạo ra các hàng hóa, dịch vụ công cộng phục vụ cho người dân. Thuế là nguồn thu chủ yếu cho NSNN trong đó có thuế nhập khẩu. Cũng giống như các quốc gia đang phát triển khác, bên cạnh vai trò bảo hộ hàng hóa, dịch vụ trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ nước ngoài thì ở nước ta, thuế nhập khẩu cũng giữ vai trò quan trọng cho ngân sách nhà nước. Bằng quyền lực chính trị của mình, Nhà nước đã ban hành và điều chỉnh các quy định pháp luật về thuế nhập khẩu cho phù hợp với từng giai đoạn nhất định của đất nước. Cụ thể, nhằm hạn chế tiêu dùng đối với một số hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam, Nhà nước tăng thuế suất thuế nhập khẩu; đồng thời, để thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước, pháp luật thuế nhập khẩu đã có các quy định hạn chế việc nhập khẩu đối với một số loại hàng hóa mang tính chất tiêu dùng xa xỉ như ô tô, thuốc lá, rượu ngoại... Sự hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng có tính chất phân biệt đối với hàng hóa nhập khẩu. Những số liệu về tỷ trọng của số thu hải quan so với tổng thu ngân sách nhà nước đã thể hiện được sự quan trọng của thuế nhập khẩu. Tiêu biểu, theo số liệu từ phòng thuế xuất nhập khẩu chỉ riêng tại Cục Hải quan Quảng Ninh, tính tới ngày 3032014, Hải quan Quảng Ninh đã thu nộp ngân sách nhà nước đạt 4,734 tỷ đồng, đạt 25,3% kế hoạch Bộ Tài chính giao cho, tăng 62% so với cùng kì năm 2013. Trong đó, đặc biệt là thu từ xăng dầu nhập khẩu. Cụ thể, số thu từ nhóm mặt hàng này đã đạt 2,985 tỷ đồng, chiếm 63% tổng thu toàn Cục; tăng 57% (tương đương 1,087 tỷ đồng) so với cùng kì 2013. Yếu tố tác động tới việc tăng kim ngạch, số thu từ nhóm mặt hàng xăng dầu nhập khẩu được lí giải là do mức thuế suất thuế nhập khẩu nhóm hàng này tăng hơn 4% so với mức thuế suất cùng kì 2013, lượng xăng dầu nhập là 453.000 tấn, tăng 23% (tương đương 87.000 tấn), kim ngạch tăng 14% (tương đương 54 triệu USD) so với năm 2013. Trước áp lực hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là các quy định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã cam kết ràng buộc toàn bộ biểu thuế nhập khẩu gồm 10.689 dòng thuế, mức giảm bình quân từ 17,4% xuống còn 13,4% với lộ trình thực hiện sau 5 đến 7 năm. Việc cắt giảm thuế nhập khẩu – một trong những loại hình thuế gián thu quan trọng, đang đặt ra những thử thách mới cho việc xây dựng chính sách thuế gián thu, đó là làm sao tiếp tục bảo hộ sản xuất trong nước, tối đa hóa nguồn thu cho ngân sách nhà nước, không quá ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Thực tế đã cho thấy, khi thuế nhập khẩu bị cắt giảm, giá cả của một số nhóm hàng hóa như máy móc, nguyên vật liệu nhập khẩu từ nước ngoài cũng bị giảm theo. Do nhu cầu trong nước vẫn không giảm và có thể còn tăng lên nên những sản phẩm trong nước có cơ hội tăng lên về số lượng và giảm giá thành. Hệ quả này thúc đẩy nhu cầu mua sắm, tiêu dùng hàng hóa trong nước và làm tăng thu ngân sách nhà nước thông qua các loại thuế khác như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân,… Bên cạnh đó, ngoài việc bù đắp cho ngân sách bằng khoản thu của các loại thuế khác, việc cắt giảm thuế nhập khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh, nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng nếu không muốn bị loại ra khỏi cuộc chơi. Như vậy, có thể thấy, với nhu cầu của ngân sách nhà nước để đảm bảo cho các khoản chi tiêu phục vụ lợi ích công cộng vì sự phát triển của đất nước, Nhà nước bằng quyền lực của mình đã có những tác động không nhỏ tới các chính sách cũng như các quy định về pháp luật thuế nói chung và thuế nhập khẩu nói riêng. 2. Các yếu tố mang tính đặc thù ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam a. Ý thức của người tham gia nộp thuế nhập khẩu Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực thi Luật thuế nhập khẩu. Ý thức của người nộp thuế tốt thì việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu sẽ tốt và ngược lại. Nhưng trên thực tế, việc thực thi pháp luật thuế còn gặp nhiều bất cập và một lý do là do ý thức của người nộp thuế chưa được tốt. Trên thực tế, người nộp thuế đã luôn có những hành vi gian lận thuế nhập khẩu như: Khai báo không trung thực về giá tính thuế nhập khẩu,các chủ thể nộp thuế thường không khai báo chính xác mà khai giá nhập khẩu thấp hơn hoặc khai thấp về chất lượng hàng những chủ thể nộp thuế thường khai chất lượng hàng thấp hơn so với thực tế nhằm trốn thuế nhập khẩu… Gian lận giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, khai sai nguồn gốc xuất xứ hàng hóa nhằm hưởng lợi từ việc ưu đãi về thuế đối với các nước mà Việt Nam cam kết giảm thuế. Khai báo gian dối về tên hàng hóa nhập khẩu để được áp mã và hưởng thuế suất thấp hơn… Không kê khai trung thực thuế nhập khẩu Mặt hàng nhập khẩu, số lượng hàng nhập, trị giá hải quan ảnh hưởng đến công tác kiểm tra của hải quan. Một số kiểu lách luật khác…. Chính những hành vi gian lận trên đã có ảnh hưởng xấu tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam. Pháp Luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam vốn dĩ vẫn chưa được hoàn thiện và còn nhiều kẽ hở khiến cho việc người nộp thuế tìm ra những vết nứt để luồn lách khiến cho pháp luật thuế nhập khẩu đã hổng nay còn hổng hơn. Trong khi đó bộ máy quản lý pháp luật thuế nhập khẩu cũng vẫn chưa được hoàn thiện. Vậy nên có thể nói việc thực hiện pháp luât thuế nhập khẩu có tốt hay không phụ thuộc phần nhiều vào ý thức của người đi nộp thuế. Nếu người nộp thuế có ý thức tự giác trong việc nộp thuế, sẵn sàng đóng góp ý kiến để hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế nhập khẩu thì dù có còn lỗ hổng thì việc thực thi và quản lý pháp luật thuế nhập khẩu vẫn sẽ trở nên rất dễ dàng ở Việt Nam. a. Sự quản lý, trình độ quản lý của bộ máy quản lý thuế nhập khẩu Trong những năm vừa qua, Nhà nước ta đã chăm lo nhiều đến công tác đào tạo bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ, phẩm chất đạo đức, tác phong cho đội ngũ cán bộ quản lí thuế, tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho công tác quản lí thuế, đổi mới cơ cấu tổ chức ngành thuế cho phù hợp, đổi mới cải cách thủ tục hành chính,… Nói chung, Nhà nước thực hiện các giải pháp nâng cao trình độ, năng lực quản lí của cả bộ máy quản lí thuế để tiến đến việc ban hành các quy định mới trong pháp luật thuế như: quản lí thuế thực hiện theo cơ chế tự khai, tự nộp; quản lí thuế trên cơ sở dữ liệu thông tin đầy đủ, thực hiện quản lí thuế hiện đại theo chuẩn mực chung. Nhờ đó mà năng lực quản lý của cán bộ thuế ngày càng được bồi dưỡng và đạt được hiểu quả cao trong công tác. Việc thực thi pháp luật thuế trở nên đúng mực, dễ thực hiện hơn. Tuy vậy cũng không thể không kể tới một số không nhỏ cán bộ công chức còn chưa có năng lực thực sự, thêm vào đó là bộ máy quản lý thuế nhập khẩu còn cồng kềnh, chưa thật sự chặt chẽ dẫn đến những kẻ hở để những nhà nhập khẩu có thể lách luật nên công tác tự khai tự nộp thuế nhập khẩu ở nước ta vẫn chưa thể thực hiện được b. Cơ sở vật chất Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động nhập khẩu cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam. Không thể phủ nhận là cơ sở vật chất của ngành hải quan đang ngày càng được hoàn thiện. Hiện nay, chúng ta đang triển khai mô hình thực hiện hải quan điện tử theo Quyết định 1032009QĐTTg, Thông tư 2222009TTBTC. Mô hình này đã đạt được những thành tựu nhất định. Đối với 13 cục hải quan tỉnh, thành phố, số doanh nghiệp tham gia thủ tục hải quan điện tử đã đạt 43.168 doanh nghiệp; số tờ khai thực hiện thủ tục hải quan điện tử đạt 1,58 triệu tờ khai, chiếm tỷ lệ 70%; kim ngạch thực hiện hải quan điện tử đạt 116,7 tỷ USD, chiếm tỷ lệ 70,3% . Hải quan điện tử mang lại nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp như giảm chi phí thủ tục, thời gian…, giảm việc sách nhiễu, tiêu cực. Số chi cục thực hiện hải quan điện tử cũng đã đạt 80 chi cục, chiếm tỷ lệ 95%. Việc này giúp cho hoạt động kiểm tra, giám sát nhập khẩu được dễ dàng, thuận tiện hơn, giúp cho pháp luật thuế nhập khẩu có thể được thực hiện một cách triệt để hơn. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều bất cập, thiếu thốn, là yếu tố trở ngại cho việc thực thi thuế nhập khẩu như:Phương tiện, trang thiết bị trợ giúp cho cán bộ hải quan vẫn còn lạc hậu, gây ra nhiều khó khăn, đặc biệt là trong công tác chống buôn lậu ; Nơi làm việc cho cán bộ công chức tại trụ sở Cục hải quan Thành phố cũng như tại các Chi cục cửa khẩu có nhiều khó khăn do mặt bằng làm việc chật hẹp. Tại các cửa khẩu Hải quan không có đất để xây dựng trụ sở mà phải lệ thuộc vào cơ quan chủ quản trên địa bàn (Cảng biển, sân bay, bưu điện…) nên rất khó khăn, bị động trong triển khai nghiệp vụ. Bên cạnh đó, hệ thống trang thiết bị, công nghệ thông tin cũ, không đồng bộ, phần mềm quản lý chưa hoàn thiện nhưng chưa được trang bị mới, nâng cấp, chưa được trang bị đầy đủ những thiết bị cần thiết như: camera quan sát, máy soi, máy phát hiện ma túy… Chính những khó khăn này đã gây ra những cản trở tới việc quản lý, giám sát các hoạt động thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở nước ta. c. Nhu cầu của người tiêu dùng Đây là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở Việt Nam. Bởi lẽ có “cầu” thì mới có “cung”. Tuy Việt Nam vừa thoát khỏi danh sách những nước nghèo trên thế giới nhưng ở Việt Nam lại có tâm lí “sính hàng ngoại”. Tuy nhiên trước đây do thuế suất những mặt hàng nhập rất cao nên những mặt hàng nhập khẩu chỉ đến được tay giới thượng và đương nhiên tính về mặt bằng chung thì nhu cầu về hàng nhập khẩu cũng không lớn. Phải cho đến mấy năm gần đây, khi mà kinh tế của nước ta bắt đầu có bước phát triển, đời sống của nhân dân được nâng cao, họ đã có nhu cầu nhiều hơn được sử dụng những mặt hàng nhập khẩu với chất lượng tốt, thêm vào đó thuế suất các mặt hàng nhập khẩu có xu hướng giảm,nó đã làm cho nhu cầu của người dân về hàng nhập tăng lên. Như vậy phần nào nó cũng có ảnh hưởng gián tiếp tới việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu bởi lẽ khi người dân có nhu cầu, những nhà nhập khẩu sẽ tìm cách để cung ứng được cho khách hàng. Từ đó, những nhà nhập khẩu sẽ trực tiếp tham gia vào quá trình thực thi việc áp dụng thuế nhập khẩu ở nước ta. Còn vấn đề thực thi thế nào(trung thực hay gian lận) lại phụ thuộc phần nhiều vào ý thức của các nhà nhập khẩu. d. Những yếu tố khác chi phối pháp luật thuế nhập khẩu. Ngoài những vấn đề nêu trên, Thuế nhập khẩu Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của một số các yếu tố khác như những Hiệp định, các văn bản kí kết của Việt Nam với các quốc gia khác. Tính đến giai đoạn hiện tại, Việt Nam đã ký kết gần 50 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các quốc gia, vùng lãnh thổ. Nội dung thỏa thuận trong các Hiệp định có những phần đã thể hiện tại các văn bản pháp luật trong nước nhưng còn nhiều nội dung cần phải tiếp tục nội luật hóa, khả năng thích ứng của đội ngũ cán bộ trong ngành thuế cũng gặp nhiều khó khăn. Thực hiện các cam kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thực chất liên quan đến quyền lực của Nhà nước về thuế trước xu thế toàn cầu hóa.Quan hệ pháp luật thuế không chỉ chịu tác động của quá trình hội nhập mà còn chịu tác động của quá trình tái cơ cấu các quan hệ kinh tế giữa các quốc gia.Chính những tác động này ảnh hưởng đến chính sách thuế và hệ thống pháp luật thuế. Nếu không có chính sách và lộ trình, bước đi cụ thể, tác động của hội nhập có thể ảnh hưởng đến quyền tự quyết và quyền chính trị quốc gia. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta cần đưa ra những đường lối, chính sách đúng đắn và hệ thống pháp luật thuế phải trên cơ sở đường lối, chính sách mà Đảng, Nhà nước đưa ra. Yếu tố liên quan đến việc xây dựng và ban hành pháp luật thuế nhập khẩu như trình độ chuyên môn của nhà lập pháp còn chưa cao, cơ quan lập pháp thể hiện ý chí chủ quan của mình, các văn bản pháp luật liên quan tuy nhiều nhưng chống chéo. Yếu tố liên quan đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu như trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ thực hiện pháp luật thuế chưa cao, trình độ nhận thức của người nộp IV. ĐỀ XUẤT Ý KIẾN PHÁP LÝ NHẰM THỰC THI TỐT PHÁP LUẬT THUẾ NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA 1. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật . Thứ nhất : Cần bổ sung thêm một số quy định chi tiết và cụ thể hơn nữa nhằm tạo một hành lang pháp lý đầy đủ và thống nhất cho hoạt động nhập khẩu, đây là giải pháp đòi hỏi phải có tính đồng bộ nhằm tránh việc mâu thuẫn, chồng chéo trong các quy định của Luật và văn bản dưới luật. Trên cơ sở các cam kết của quá trình hội nhập, chúng ta phải nội luật hóa, từ đó xây dựng một hệ thống pháp luật tương thích với những quy tắc chung trong thương mại quốc tế, hướng đến một hệ thống pháp luật minh bạch, phù hợp và có tính khả thi. Thứ hai: Pháp luật thuế nhập khẩu phải xây dựng một hàng rào bảo hộ thuế quan hợp lý. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế điển hình là việc chúng ta gia nhập WTO đòi hỏi chúng ta phải cắt giảm hàng rào thuế quan, do đó cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện nhanh chóng các loại thuế nhập khẩu bổ sung như thuế nhập khẩu để tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, chống phân biệt đối xử trong nhập khẩu hàng hóa. Trong luật thuế xuất nhập khẩu 2005 thì những quy định về các loại thuế này chỉ mang tính hình thức, quy định cho có chứ chưa làm rõ và chưa phát huy được vai trò của các loại thuế này. Trong hoàn cảnh hội nhập hiện nay, khi vai trò của thuế nhập khẩu buộc phải giảm dần theo các cam kết quốc tế thì việc nâng cao vai trò của các loại thuế nhập khẩu bổ sung là vô cùng cần thiết. Thứ ba: Về cách quy định thuế suất thuế nhập khẩu: theo quy định của luật thì “thuế suất thông thường được quy định không quá 70% so với thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng do chính phủ quy định”. Theo cách tư duy ngôn ngữ của người Việt thì quy định này dễ gây hiểu sang hướng thuế suất thông thường thấp hơn thuế suất ưu đãi, tức là thuế suất thông thường tối đã bằng 70% thuế suất ưu đãi chứ không phải là 170% theo cách hiểu của nhà làm luật. Do vậy luật nên đổi lại cách diễn đạt cho phù hợp và dễ hiểu, nhằm giúp những người không nghiên cứu sâu về luật có được cách hiểu đúng nhất khi đọc luật thuế xuất, nhập khẩu năm 2005. Thứ tư: Về thời hạn nộp thuế: hiện nay luật đưa ra hai tiêu chí để xác định thời hạn nộp thuế là thời hạn xác định theo mặt hàng nhập khẩu và thời hạn xác định theo sự chấp hành pháp luật thuế của chủ thể nộp thuế. Theo em, luật chỉ nên lấy một tiêu chí là mức độ chấp hành pháp luật của chủ thể nộp thuế. Như vậy sẽ vừa phù hợp với Luật hải quan đã sửa đổi, bổ sung năm 2005, vừa khuyến khích sự chủ động, tự giác tuân thủ pháp luật của chủ thể nộp thuế. Nếu dựa trên mặt hàng nộp thuế để xác định thời hạn nộp thuế vô hình chung đã đánh đồng những người chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật với những người không chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đồng thời tạo những kẽ hở cho những doanh nghiệp “ma” lợi dụng chính sách ân hạn thuế của nhà nước để trục lợi, trốn thuế. Thứ năm: Về thuế suất: hiện nay thuế suất thông thường được Bộ tài chính quy định áp dụng thống nhất ở mức bằng 150% thuế suất ưu đãi. Quy định này mang nặng tính duy ý chí và vô hình lấn át cả quy định của luật (luật cho phép dao động ở mức 100% đến 170%). Như vậy Bộ tài chính cần có những quy định cụ thể, trường hợp nào áp dụng thuế suất là bao nhiêu nhằm khắc phục sự cứng nhắc trong áp dụng thuế suất, đồng thời đảm bảo khung thế không bị áp dụng tùy tiện, chủ quan cho từng trường hợp riêng lẻ nào. 2. Cải cách thủ tục hải quan theo hướng giản đơn, thông thoáng, hiệu quả, hợp lý. Thứ nhất: đối với những cải cách trong thủ tục hải quan: hiện nay ngành hải quan đang nỗ lực trong việc cải cách, đơn giản hóa thủ tục hải quan, đây là dấu hiệu đáng mừng cho hoạt động nhập khẩu được thực hiện một cách nhanh gọn, hiệu quả. Song một số quy định của Luật tuy rất tiến bộ nhưng lại chưa phù hợp với thực tế. Theo những quy định của pháp luật thuế và hải quan kể từ năm 2006 chính thức thực hiện quy trình thủ tục hải quan thực hiện kĩ thuật quản lí rủi ro. Quản lý thủ tục hải quan phải hướng tới áp dụng phương pháp kĩ thuật hiện đại, công nghệ số để phù hợp với xu hướng chung của thế giới, hạn chế được những khâu rườm rà trong việc kê khai thủ tục. Cùng với đó, phương thức quản lý này cũng giảm được đáng kể tình trạng khai lậu, trốn thuế, góp phần giảm thiểu đáng kể các khâu trong quá trình thu thuế, khai thuế và nộp thuế ở các cửa khẩu. Công tác này nếu dược thực hiện nghiêm túc sẽ đem lại kết quả cao trong công tác hải quan, quản lí và kiểm soát một cách chặt chẽ, sát thực tế nhất. Thứ hai, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan như Tổng cục hải quan phải kết hợp với Bộ tài chính cải cách và phổ biến cách thức quản lý mới. Chúng ta cần đơn giản hóa bộ hồ sơ hải quan, cụ thể là bỏ bớt một số giấy tờ như giấy giới thiệu, tờ khai trị giá, bộ hồ sơ copy, hợp đồng thương mại. Đặc biệt, nhóm hàng gia công yêu cầu nộp bảng khai nguyên vật liệu cho doanh nghiệp tự cung ứng trong nước là không thực tế. Bên cạnh đó, chúng ta cần cải cách mạnh mẽ khung pháp lý quản lý hàng nhập khẩu theo hướng đơn giản, công khai, minh bạch đồng thời tăng cường hiện đại hóa ngành hải quan thông qua việc áp dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hải quan. 3. Nâng cao chất lượng của cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và chất lượng đội ngũ cán bộ hải quan. Cần đầu tư phát triển cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật giúp các cán bộ hải quan hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ của mình. Đề cập đến vấn đề này tại Hội nghị triển khai công tác chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2011, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã yêu cầu Ban chỉ đạo 127 Trung ương phải khẩn trương tổng hợp và đề xuất bổ sung các phương tiện cụ thể để đáp ứng tốt hơn cho công tác chống buôn lậu trong thời gian tới. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho rằng: “Về phương tiện và trang thiết bị, cần có danh mục và đề xuất phương án cụ thể. Trên cơ sở danh mục, đề xuất cụ thể đó, Chính phủ sẽ có chính sách để tập trung trong 1 số năm đẩy mạnh trang thiết bị cũng như công tác đào tạo cho các đồng chí để chúng ta có thể đáp ứng được yêu cầu”. Đi đôi với việc cải cách thủ tục hành chính, chúng ta cần đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ công chức thực hiện chính sách thuế nhập khẩu vì nếu như có một hệ thống pháp luật khoa học, đúng đắn nhưng người thực hiện không làm đúng, làm tốt nhiệm vụ của mình thì cũng không thể mang lại hiệu quả cao được. Theo đó, chúng ta cần lựa chọn công chức có đạo đức, trình độ để bố trí vào những bộ phận cụ thể, có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại cán bộ hải quan để nâng cao trình độ nghiệp vụ của họ đồng thời xử lí nghiêm minh công chức vi phạm pháp luật thuế nhập khẩu. Bên cạnh đó cần phải đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật thuế nhập khẩu vì công tác thanh tra, kiểm tra có tác dụng bảo đảm việc tổ chức thực hiện pháp luật thuế nhập khẩu đúng đắn hơn, phát hiện những thiếu sót, hạn chế của chính sách để từ đó có thể khắc phục kịp thời, đồng thời tránh tình trạng quan liêu, cửa quyền hay lợi dụng quyền hạn để làm trái pháp luật của một số cán bộ công chức nhà nước. C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Như vậy có thể nói có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế nhập khẩu ở nước ta hiện nay. Những nhân tố trên là nhân tố thúc đẩy pháp luật thuế nhập khẩu ngày một hoàn thiện hơn. Qua đó có thể thấy, pháp luật thuế nhập khẩu vẫn còn nhiều lỗ hổng cần được lấp đầy, sửa đổi, bổ sung hơn nữa .
Xem thêm

25 Đọc thêm

Ôn tập kiến thức về bộ môn Thuế

ÔN TẬP KIẾN THỨC VỀ BỘ MÔN THUẾ

1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ 2 Nội dung trình bày Khái niệm, đặc điểm, chức năng và vai trò của thuế; Phân loại thuế; Các yếu tố cấu thành một sắc thuế; Hệ thống thuế Việt Nam Một số nội dung khác 2 3 I. Khái niệm, đặc điểm, chức năng và vai trò của thuế 1. Khái niệm thuế, phí và lệ phí:  Thuế là một khoản thu của Nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, khoản thu đó mang tính chất bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp, được pháp luật quy định.  Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ. Ví dụ: Phí kiểm dịch y tế, Phí cầu đường, Phí thẩm định cấp quyền sử dụng đất  Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước. Ví dụ: Lệ phí cấp hộ chiếu, Lệ phí trước bạ, Lệ phí công chứng 4 2. Đặc điểm của thuế: 2.1. Thuế gắn liền với quyền lực nhà nước Điều 22 và Điều 80 Hiến pháp nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam năm 1992 quy định: “Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật...”, “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật”. 3 5 2.2. Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp  Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá;  Các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế. 6 3. Chức năng, vai trò của thuế 3.1. Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước  Thuế là phương tiện để Nhà nước tập trung một phần tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào Ngân sách Nhà nước, thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm GDP được động viên vào NSNN;  Nhà nước chi tiêu để duy trì sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế xã hội của mình (chi quản lý hành chính Nhà nước, chi đầu tư phát triển, chi quốc phòng an ninh, cung cấp hàng hoá công cộng…);  Hiện nay, thuế là nguồn thu có tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu NSNN của các nước có nền kinh tế thị trường. 4 7 3.2. Điều tiết vĩ mô nền kinh tế  Thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý theo yêu cầu của từng giai đoạn phát triển nền kinh tế. Bằng việc ban hành hệ thống thuế, Nhà nước sẽ quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hoặc thấp vào các ngành nghề, các mặt hàng cụ thể.  Điều chỉnh tích luỹ tư bản: sản xuất chiếm hữu và tư bản hoá lợi nhuận luôn luôn là mục đích cơ bản của hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước cần sử dụng thuế để điều chỉnh sự tích luỹ đó phù hợp lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế và lợi ích xã hội. 8  Thuế góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước. Thông qua điều chỉnh mức thuế xuất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà gây nên áp lực tăng giá hàng nhập khẩu, giảm khả năng cạnh tranh so với hàng sản xuất trong nước, từ đó điều chỉnh khối lượng hàng hoá đưa ra thị trường và đưa vào để thực hiện bảo hộ nền sản xuất trong nước và bảo vệ lợi ích của thị trường nội địa. 3.3. Điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội  Thuế là công cụ để Nhà nước can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội, hạn chế sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. 5 9 II. Phân loại thuế 1. Phân loại theo phương thức đánh thuế 1.1 Thuế trực thu: Ở Việt Nam, các sắc thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế thu nhập cá nhân; thuế tài nguyên; thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế nhà, đất... 1.2. Thuế gián thu: Ở Việt Nam, các sắc thuế gián thu bao gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu... 10 Câu hỏi: Xác định mối quan hệ hợp lý giữa thuế trực thu và thuế gián thu: Thuế trực thu hay thuế gián thu đều có những nét đặc trưng riêng, có ưu điểm và nhược điểm riêng của mỗi loại thuế. Vì vậy, tuỳ theo đặc điểm trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước (tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức thu nhập của dân cư và quy mô tích luỹ của doanh nghiệp...) cũng như yêu cầu của Nhà nước trong hoạt động quản lý của mình, người ta sẽ xác định một tương quan theo tỷ lệ giữa chúng. 6 11 2. Phân loại theo cơ sở tính thuế 2.1. Thuế thu nhập: là loại thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được. Thu nhập kiếm được hình thàn từ nhiều nguồn: từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công; thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức cổ phần... do đó thuế thu nhập cũng có nhiều dạng: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài... 2.2. Thuế tiêu dùng: là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập của tổ chức, cá nhân được mang ra tiêu dùng trong hiện tại. Trong thực tế loại thuế tiêu dùng được thể hiện dưới nhiều dạng như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế tài nguyên…. 2.3. Thuế tài sản: là loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản. Thuế tài sản bao gồm các sắc thuế như thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất. 12 3. Phân loại theo mức thuế 3.1. Thuế đánh theo tỷ lệ %  Thuế lũy tiến: là loại thuế áp dụng tỷ lệ tăng dần theo các mức tăng của cơ sở tính thuế. Đối với thuế lũy tiến từng phần: áp dụng mức thuế suất tăng dần theo từng phần tăng lên của cơ sở đánh thuế. Đối với thuế lũy tiến toàn phần  Thuế lũy thoái  Thuế tỷ lệ cố định 7 13 3.2. Thuế đánh trên mức tuyệt đối  Điểm khác nhau cơ bản giữa thuế đánh trên mức tuyệt đối và thuế đánh theo tỷ lệ phần trăm (%) là thuế đánh trên mức tuyệt đối có mức thu cố định, không phụ thuộc vào giá kê khai tính thuế của đối tượng chịu thuế.  Do vậy, thuế đánh trên mức tuyệt đối có ưu điểm bảo đảm tỷ lệ động viên thuế và chống trốn thuế do khai báo giá tính thuế thấp, đặc biệt đối với các mặt hàng có thuế suất cao và dễ áp dụng trong các trường hợp hàng hóa khó xác định được giá trị hay giá trị thấp mà chi phí xác định giá tính thuế cao. 4. Phân loại theo chế độ phân cấp và điều hành ngân sách 4.1. Thuế trung ương 4.2. Thuế địa phương 14 III. Các yếu tố cấu thành một sắc thuế 1. Tên gọi 2. Người nộp thuế Đối tượng nộp thuế là ai? Là cá nhân hoặc tổ chức phải nộp thuế cho cơ quan thuế theo qui định của luật pháp 3. Đối tượng chịu thuế 8 15 4. Căn cứ tính thuế 4.1. Cơ sở tính thuế 4.2. Thuế suất  Có thể nói, thuế suất là linh hồn của một sắc thuế, vì nó thể hiện nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính cho Ngân sách Nhà nước và biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế xã hội của Nhà nước, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế.  Vì vậy, việc xác định thuế suất trong một sắc thuế phải quán triệt quan điểm vừa coi trọng lợi ích quốc gia, vừa chú ý đến lợi ích thích đáng của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và tích tụ trong việc sử dụng công cụ thuế. 16 5. Ưu đãi thuế • Ưu đãi về thuế suất • Ưu đãi về miễn thuế, giảm thuế • Ưu đãi về khấu hao nhanh • Ưu đãi về chuyển lỗ  Việc thực hiện việc ưu đãi thuế có tính hai mặt, nó chứa đựng những yếu tố tích cực, tạo điều kiện thực hiện các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, nhưng cũng chứa đựng các yếu tố tiêu cực, có thể làm méo mó những ý tưởng ban đầu khi thiết lập các sắc thuế, không phù hợp với những tiêu chuẩn của một hệ thống thuế hiện đại.  Vì vậy khi lựa chọn các biện pháp ưu đãi thuế cần được xem xét dựa trên tính hiệu quả, tính công bằng, đơn giản, minh bạch, công khai và ổn định. 9 17 IV. Hệ thống thuế Việt Nam 1. Một số vấn đề về hệ thống thuế Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau nhằm thực hiện các nhiệm vụ nhất định của Nhà nước trong từng thời kỳ. 1.1. Các yếu tố tác động đến hệ thống thuế  Yếu tố chính trị  Yếu tố kinh tế  Yếu tố xã hội 18 1.2. Các tiêu thức xây dựng hệ thống thuế 1.2.1. Tính công bằng  Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều ngang, nếu các cá nhân có điều kiện về mọi mặt đều như nhau thì được đối xử như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Tuy nhiên, nguyên tắc này khó áp dụng trong thực tiễn không thể chỉ rõ được tiêu thức nào để xác định hai cá nhân có điều kiện về mọi mặt như nhau, mặt khác cũng khó xác định việc đối xử như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế là như thế nào.  Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều dọc, nếu người có khả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế cao hơn những người khác có khả năng nộp thuế ít hơn. Trong thực tế, để áp dụng nguyên tắc này cần xác định rõ hai vấn đề: tiêu thức xác định khả năng và mức độ nộp thuế cao hơn. Hiện nay, người ta thường dùng tiêu thức thu nhập hoặc tiêu dùng để đánh giá khả năng nộp thuế của người nộp thuế. 10 19 1.2.2. Tính hiệu quả Thứ nhất, hiệu quả đối với nền kinh tế là lớn nhất Thứ hai, hiệu quả thu thuế là lớn nhất 1.2.3. Tính rõ ràng, minh bạch 1.2.4. Tính linh hoạt 20 2. Hệ thống thuế Việt Nam 2.1. Chính sách thuế Hệ thống chính sách thuế hiện hành của Việt Nam bao gồm các sắc thuế sau: Thuế giá trị gia tăng. Thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế thu nhập doanh nghiệp. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Thuế tài nguyên. Thuế thu nhập cá nhân. Thuế sử dụng đất nông nghiệp. Thuế nhà, đất. Thuế môn bài. Các loại phí và lệ phí. 11 21 V. Một số nội dung khác 1. Gánh nặng thuế Là số thuế mà một người phải chịu sau cùng 2. Ai phải chịu gánh nặng thuế Người nộp thuế không nhất thiết là Người phải chịu gánh nặng thuế 22 3. Tránh thuế và trốn thuế  Tránh thuế là việc người nộp thuế sắp xếp công việc làm ăn theo đúng luật thuế để được đóng thuế ít nhất. Tránh thuế liên quan đến cơ hội hoạch định thuế Ví dụ: tận dụng các khoản ưu đãi thuế  Trốn thuế là một hành vi phạm pháp do cố tình không chấp hành luật thuế để đóng thuế ít đi. Trốn thuế thường liên quan đến các hành vi: • Khai dấu doanh thu hay thu nhập • Khai tăng chi phí • Kê khai không đúng sự thật (không có xuất khẩu vẫn khai xuất khẩu để xin hoàn thuế) • Không kê khai Tùy theo mức độ nghiêm trọng, việc trốn thuế có thể bị truy tố trách nhiệm hình sự
Xem thêm

11 Đọc thêm

BÀI GIẢNG MÔN THUẾ, THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU

BÀI GIẢNG MÔN THUẾ, THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU

BÀI GIẢNG MÔN THUẾChương IITHUẾ XUẤT NHẬP KHẨUNội dungI. Quá trình hình thành và phát triển1.Khái niệm2.Lịch sử hình thành và phát triểnII. Vai trò của thuế xuất nhập khẩuIII .Nội dung cơ bản của thuế xuất nhập khẩuI. Quátrình hình thành và phát triển1. Khái niệmThuế xuất, nhập khẩu là loại thuếgián thu, đánh vào hàng hóa xuất,nhập khẩu qua cửa khẩu biên giớicủa một quốc gia hoặc một nhómcác quốc gia.2. Lịch sử hình thành và phát triển• Xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với sựxuất hiện, tồn tại và phát triển của hoạt độngngoại thương.• Thế kỷ 17, 18 xuất hiện tại Anh, Pháp
Xem thêm

48 Đọc thêm

BÀI GIẢNG LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT

BÀI GIẢNG LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT

nhân, xe tang lễ; xe thiết kế vừa có chỗngồi, vừa có chỗ đứng chở được từ 24người trở lên; xe ô tô chạy trong khu vuichơi, giải trí, thể thao không đăng ký lưuhành và không tham gia giao thông.7. Điều hoà nhiệt độ có công suất từ 90.000BTU trở xuống, theo thiết kế của nhà sảnxuất chỉ để lắp trên phương tiện vận tải,bao gồm ô tô, toa xe lửa, tàu thuyền, tàubay.Căn cứ và phương pháptính thuếCăn cứ tính thuế Căn cứ để tính thuế TTĐB phải nộp là giá tính thuế củahàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB và TS thuế TTĐB củaHH, dịch vụ đó.Giá tính thuế TTĐB * Hàng hoá sản xuất trong nước Giá tính thuế TTĐB là giá bán của cơ sở sản xuất chưacó thuế GTGT và chưa có thuế TTĐB, Cụ thểGiá bán chưa có thuế GTGTGiá tính thuế TTĐB = --------------------------------------1 + Thuế suất thuế TTĐBĐối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả
Xem thêm

46 Đọc thêm

 3SO SÁNH MỨC ĐỘ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI HÀNG HÓATRONG KHUÔN KHỔ WTO VÀ ASEAN

3SO SÁNH MỨC ĐỘ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI HÀNG HÓATRONG KHUÔN KHỔ WTO VÀ ASEAN

Dầu nhiên liệu (WTO: 40%, ASEAN: 5%); muối ăn (WTO: 60%, ASEAN: 5%); giầydép (WTO: 30%, ASEAN: 0%); xi măng (WTO: 32%, ASEAN: 5%). Mặc dù thuếsuất trong WTO đã được cắt giảm, nhưng mức thuế quan trong WTO vẫn cao hơnnhiều so với ASEAN. Sự chênh lệch thuế suất của hai biểu thuế càng khẳng địnhASEAN cắt giảm thuế quan sâu hơn WTO.Thứ hai, trong WTO chỉ cắt giảm thuế quan theo phụ lục thuộc biểu nhânnhượng của hiệp định GATT, có nghĩa là chỉ những hàng hóa thuộc biểu nhân nhượngtheo phụ lục của hiệp định thì mới được cắt giảm thuế, còn những hàng hóa khôngthuộc biểu nhân nhượng sẽ không cần phải cắt giảm thuế. Còn ASEAN thì cam kết sẽcắt giảm và xóa bỏ tất cả thuế xuất nhập khẩu đối với tất cả các loại hàng hóa. Nhưvậy, ASEAN rõ ràng cắt giảm thuế quan rộng hơn so với WTO, ASEAN không còn ởmức cam kết và liệt kê những mặt hàng được cắt giảm thuế như WTO mà tiến tới cắtgiảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan với tất cả hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho lưuthông thương mại nội khối. Thực tế theo Biểu cam kết khi Việt Nam gia nhập WTOthì Việt Nam cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng thuế (chiếm 35,5% số dòng củabiểu thuế), giữ mức thuế hiện hành với khoảng 3.700 dòng (chiếm 34,5% số dòng củabiểu thuế).6 Còn theo cam kết ATIGA với ASEAN, hiện nay Việt Nam đã cắt giảmđược 8574 dòng thuế xuống thuế suất 0%, tương đương khoảng 90% số dòng thuế củaBiểu thuế ATIGA có mức thuế suất 0% (theo danh mục biểu thuế quan hài hòa 2012).5Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, ASEAN hội nhập: Hàng nghìn dòng thuế Việt Nam về 0%, http://chongbanphagia.vn/diemtin/20150106/asean-hoi-nhap-hang-nghin-dong-thue-cua-viet-nam-ve-0, [truy cập:8/3/2015]6Thông tấn xã Việt Nam, Chính thức cắt giảm một số dòng thuế theo cam kết WTO, http://vietstock.vn/2007 /01/chinh-thuc-cat-giam-mot-so-dong-thue-theo-cam-ket-wto-37-35581.htm, [Truy cập: 8/3/2015]
Xem thêm

12 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ NÂNG CAO

CHUYÊN ĐỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ NÂNG CAO

hoặc sẽ kiếm được của người nộp thuế đem tiêu dùng ở hiện tại.1.3.3. Phân loại theo phương thức đánh thuếPhương thức đánh thuế thể hiện cách nhà nước điều tiết thu nhập của cáctổ chức cá nhân trong xã hội – điều tiết trực tiếp hay điều tiết gián tiếp. Theocách phân loại này, thuế được chia thành thuế trực thu và thuế gián thu.Thuế trực thu là loại thuế do người chịu thuế trực tiếp nộp thuế cho nhà249nước. Thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập hoặc tài sản của người nộpthuế, ví dụ như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. Do thuế trựcthu trực tiếp điều tiết vào thu nhập, tài sản của tổ chức và cá nhân, có xem xétđến hoàn cảnh, điều kiện và khả năng đóng góp của người nộp thuế nên nó rấtcó tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch vềthu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư. Đây cũng là ưu điểm nổi bật củathuế trực thu so với thuế gián thu. Tuy nhiên, thuế trực thu lại có hạn chế lớn làdễ gây phản ứng từ phía người nộp thuế hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn, lậu thuếnếu quy định mức thuế suất cao. Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán và thu thuếphức tạp, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với diện thu thuế rộng và phân tán.Vì vậy, nếu không có biện pháp quản lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chếtác dụng của loại thuế này trong việc tập trung số thu đầy đủ, kịp thời về chongân sách nhà nước.Thuế gián thu là loại thuế do các nhà sản xuất, thương nhân hoặc ngườicung cấp dịch vụ nộp cho Nhà nước thông qua việc cộng số thuế này vào giábán cho người tiêu dùng chịu. Ví dụ như: thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt... Dưới góc độ quy định pháp luật thuế,khác với thuế trực thu, người nộp thuế chính là người phải chịu thuế, với thuếgián thu, người nộp thuế và người chịu thuế (người trả thuế) không đồng nhất.Do điều tiết một cách gián tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịchvụ thông qua cơ chế giá nên với thuế gián thu, người chịu thuế (người tiêu dùng
Xem thêm

268 Đọc thêm

Phân biệt 2 công cụ của chính sách thương mại quốc tế thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu liên hệ thực tiễn việt nam

PHÂN BIỆT 2 CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ THUẾ NHẬP KHẨU VÀ HẠN NGẠCH NHẬP KHẨU LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM

Phân biệt 2 công cụ của chính sách thương mại quốc tế thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu liên hệ thực tiễn việt nam

20 Đọc thêm

TRÌNH BÀY HIỂU BIẾT VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT? PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM DỊCH VỤ ?

TRÌNH BÀY HIỂU BIẾT VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT? PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM DỊCH VỤ ?

Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được chính thức ban hành ở nước ta từ năm 1990, sau đó trải qua nhiều lần sửa đổi bổ sung để phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội, đất nước, đã giúp chúng ta nhận thấy nhiều ưu điểm và hạn chế trong việc ban hành pháp luật và sự áp dụng các quy định vào thực tiễn cuộc sống. Nhóm 5 xin trình bày chủ đề: “Hiểu biết về Thuế tiêu thụ đặc biệt? Phân tích tác động của Thuế tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ”. Để thấy được bức tranh toàn cảnh về thuế tiêu thụ đặc biệt cũng như những tác động của thuế nhập khẩu.
Xem thêm

38 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VÀ HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VÀ HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI 1 1. Chính sách kinh tế đối ngoại: khái niệm, chức năng, vai trò. 2 2. Chính sách thương mại quốc tế: khái niệm, nội dung, công cụbiện pháp 5 3. Chính sách đầu tư quốc tế: khái niệm, công cụbiện pháp 8 4. Chính sách tỷ giá hối đoái: khái niệm, công cụbiện pháp 10 5. Các xu hướng cơ bản chi phối chính sách kinh tế đối ngoại của các quốc gia 11 6. Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu thường được các quốc gia sử dụng: nội dung, xu hướng điều chỉnh trong quá trình hội nhập ktqt và cho ví dụ minh họa 14 7. Các biện pháp để khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được các quốc gia sử dụng: nội dung và cho ví dụ minh họa 15 8. Chính sách thương mại quốc tế của singapore: mô hình, nội dung, các công cụbiện pháp chủ yếu và rút ra bài học kinh nghiệm cho việt nam hoặc đề xuất giải pháp chính sách cho việt nam 19 9. Chính sách đầu tư quốc tế của singapore: mô hình, nội dung, các công cụbiện pháp chủ yếu và rút ra bài học kinh nghiệm cho việt nam hoặc đề xuất giải pháp chính sách cho việt nam 21 10. Chính sách thương mại quốc tế của malaysia: mô hình, nội dung, các công cụbiện pháp chủ yếu và rút ra bài học kinh nghiệm cho việt nam hoặc đề xuất giải pháp chính sách cho việt nam 26 11. Chính sách đầu tư quốc tế của malaysia: mô hình, nội dung, các công cụbiện pháp chủ yếu và rút ra bài học kinh nghiệm cho việt nam hoặc đề xuất giải pháp chính sách cho việt nam 30 1. CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI: KHÁI NIỆM, CHỨC NĂNG, VAI TRÒ. a) Khái niệm: là hệ thống các quan điểm, mục tiêu (1), nguyên tắc công cụ và biện pháp do Nhà nước hoạch định và thực hiện để điều chỉnh các hoạt động kinh tế đối ngoại của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một khối liên kết kinh tế trong một thời gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu (2) phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, vùng, lãnh thổ, khối liên kết đó. Phân tích:  Quan điểm: phụ thuộc vào kinh tế chính trị của mỗi quốc gia. Nước VN: đơn đảng >> chính sách dựa trên quan điểm của Đảng  Mục tiêu (1): mục tiêu ngắn hạn, cụ thể, trực tiếp của chính sách – chỉ thuộc lĩnh vực đó  Nguyên tắc: bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền không can thiêp vào công việc nội bộ của mỗi quốc gia, giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa đã chọn  Công cụ, biện pháp: nhà nước xây dựng và thực hiện các hoạt động kinh tế đối ngoại như công cụ thuế quan, phi thuế quan, công cụ lãi suất…  Mục tiêu (2): mục tiêu dài hạn, mục tiêu tông quát, là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Ví dụ: chính sách khoáng sản: mục tiêu cụ thể chính sách là khai thác hiệu quả khoáng sản, thúc đẩy hoạt động XNK. Nhưng mục tiêu chung: ko gây ô nhiễm môi trường, thất thoát ngân sách, cạn kiệt tài nguyên. Các bộ phận cấu thành của chính sách KTĐN: 1. Chính sách TMQT 2. Chính sách ĐTQT 3. Chính sách tỷ giá hối đoái 4. Chính sách KTĐN khác b) Chức năng: • Chức năng kích thích: với chức năng này chính sách kinh tế đối ngoại tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài, tham gia chủ động và mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu dịch quốc tế, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước, thu hút ngày càng nhiều các nguồn lực từ bên ngoài như vốn, công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến nhằm phát triển kinh tế quốc dân. Ví dụ: Các quốc gia thường thực hiện việc xúc tiến xuất khẩu như hỗ trợ việc nghiên cứu thị trường, cung cấp các thông tin tạo điều kiện cho việc tham gia các hội chợ triển lãm quốc tế hoặc hỗ trợ việc đổi mới công nghệ để đẩy mạnh xuất khẩu. Hỗ trợ lãi suất, vốn từ ngân sách cho hoạt động xuất nhập khẩu. Chính sách thu hút đầu tư quốc tế như thông qua chính sách đầu tư hỗ trợ thuế sử dụng tài nguyên, chính phủ hỗ trợ vốn để doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia… • Chức năng bảo hộ: với chức năng này, chính sách kinh tế đối ngoại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có khả năng đứng vững và vươn lên trong các hoạt động kinh doanh quốc tế, tăng cường sức cạnh tranh với các hàng hóa dịch vụ từ bên ngoài vào, tạo thêm việc làm và đạt tới quy mô tối ưu cho các ngành kinh tế, đáp ứng cho yêu cầu tăng cường lợi ích quốc gia. Ví dụ: trong chính sách TMQT có sử dụng công cụ hạn ngạch, các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm hạn chế lượng hàng hoá nhập khẩul, bảo vệ doanh nghiệp sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu hoặc các ngành công nghiệp non trẻ trong nước • Chức năng phối hợp và điều chỉnh: với chức năng này, chính sách kinh tế đối ngoại tạo điều kiện cho nền kinh tế trong nước thích ứng với sự biến đổi và vận động mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, tham gia tích cực vào quá trình khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, thiết lập cơ chế điều chỉnh thích hợp trong điều kiện tỷ giá hối đoái thường xuyên thay đổi, tác động vào cán cân thanh toán quốc tế theo chiều hướng có lợi cho mỗi quốc gia. Ví dụ: Chính sách tỷ giá hối đoái có thể kết hợp với chính sách tiền tệ nhằm quản lý lượng ngoại tệ trong nước đồng thời quản lý tỷ giá hối đoái ở mức mong muốn. c) Vai trò: • Tạo cơ hội việc phân phối và sử dụng hợp lý các nguồn lực trong nước và thu hút nguôn lực ngoài nước vào việc phát triển các ngành và các lĩnh vực có hiệu quả cao của nền kinh tế quốc dân, khắc phục tình trạng thiếu các nguồn lực cho sự phát triển như nguồn vốn, nguồn công nghệ, sức lao động có trình độ cao và sự hạn hẹp của thị trường nội địa, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước vươn ra thị trường thế giới. • Tạo khả năng cho việc phát triển nhân công lao động quốc tế: giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, bảo đảm đầu vào và đầu ra cho nền kinh tế trong nước một cách ổn định và phù hợp với tốc độ phát triển cao của những thập kỷ gần đây, tạo thuận lợi cho việc hình thành các tập đoàn kinh doanh tầm cỡ quốc gia. Hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Có thể thực hiện qua trình chuyên môn hóa sâu rộng hơn đồng thời tăng khả năng mở rộng sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu, mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ hợp tác đối với đối tác nước ngoài. • Phục vụ cho việc xây dựng các ngành công nghiệp mới có trình độ công nghiệp cao, phát triển các hình thức kinh doanh đa dạng và phong phú, tạo lập các khu vực có hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân, góp phần tăng nhanh GDP cũng như tăng nhanh tích lũy và tiêu dùng. Các lĩnh vực kinh tế mới với trình độ công nghệ vá sức cạnh tranh ngày càng cao, phát huy tốt hơn lợi ích của các quốc gia. • Góp phần vào việc tăng cường sứ mạnh và tiềm lực quốc phòng an ninh, phát triển quan hệ cả về kinh tế cũng như chính trị, ngoại giao, khoa học công nghệ giữa các quốc gia và các dân tộc trên cơ sở độc lập, bình đẳng giữ vững chủ quyền và các bên cùng có lợi. 2. CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ: KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, CÔNG CỤBIỆN PHÁP a) Khái niệm: Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc và các công cụ, biện pháp thích hợp mà Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định phù hợp với định hướng chiến lược, mục đích đã định trong chiến lược phát triển kinh tế–xã hội của quốc gia đó. b) Nội dung: Chính sách thương mại quốc tế của một quốc gia bao gồm nhiều bộ phận khác nhau và có liên quan hữu cơ với nhau. Đó là: • Chính sách mặt hàng: Trong đó bao gồm danh mục các mặt hàng được chú trọng trong việc xuất nhập khẩu, sao cho phù hợp với trình độ phát triển và đặc điểm của nền kinh tế đất nước cũng như những mặt hang cần hạn chế hoặc phải cấm xuất–nhập khẩu, trong một thời gian nhất định, do những đòi hỏi khách quan của chiến lược phát triển kinh tế–xã hội và yêu cầu của việc đảm bảo an ninh, an toàn xã hội. • Chính sách thị trường: Bao gồm định hướng và các biện pháp mở rộng thị trường, xâm nhập thị trường mới, xây dựng thị trường trọng điểm, các biện pháp có đi có lại giữa các quốc gia mang tính chất song phương hoặc đa phương, việc tham gia vào các hiệp định thương mại và thuế quan trong phạm vi khu vực hay toàn cầu nhằm tạo điều kiện cho hoạt động thương mại quốc tế phát triển phục vụ cho các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế–xã hội. • Chính sách hỗ trợ bao gồm các chính sách và biện pháp kinh tế nhằm tác động mét cách gián tiếp đến hoạt động thương mại quốc tế như chính sách đầu tư, chính sách tín dụng, chính sách giá cả và tỷ giá hối đoái, cũng như chính sách sử dụng các đòn bẩy kinh tế…Các chính sách này có thể gây tác động thúc đẩy hay điều chỉnh sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế. c) Công cụbiện pháp: Để thực hiện các mục tiêu của chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia, người ta sử dụng các công cụ chủ yếu sau: Công cụ thuế quan và công cụ phi thuế quan.  Công cụ thuế quan Thuế quan là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất hay nhập khẩu của mỗi quốc gia.Thuế quan bao gồm: Thuế quan xuất khẩu và thuế quan nhập khẩu. • Thuế quan xuất khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu. • Thuế quan nhập khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá nhập khẩu. Bên cạnh thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu còn có một số loại thuế quan đặc thù: Hạn ngạch thuế quan: là một biện pháp quản lý xuất nhập khẩu với 2 mức thuế xuất nhập khẩu; hàng hoá trong hạn ngạch mức thuế quan thấp, hàng hoá ngoài hạn ngạch chịu mức thuế quan cao hơn. Thuế đối kháng: là loại thuế đánh vào sản phẩm nhập khẩu để bù lại việc nhà sản xuất xuất khẩu sản phẩm đó được Chính phủ nước xuất khẩu trợ cấp. Thuế chống bán phá giá: Là một loại thuế quan đặc biệt được áp dụng để ngăn chặn, đối phó với hàng hoá nhập khẩu được bán phá giá vào thị trường nội địa tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. Ngoài ra còn một số loại thuế khác như: Thuế tối huệ quốc, thuế phi tối huệ quốc, thuế thời vụ... Trong bối cảnh xu hướng khu vực hóa toàn cầu hóa, việc sử dụng công cụ thuế xuất nhập khẩu bị hạn chế. Dấu mốc quan trọng là Việt Nam gia nhập TPP, cam kết xóa bỏ gần 100% số dòng thuế nhập khẩu. Tuy nhiên có một số mặt hàng cam kết xóa bỏ thuế luôn như dệt may, giày dép, gạo, có một số mặt hàng sẽ xóa bỏ thuế trong vòng vài năm sau như ô tô (xóa bỏ thuế vào năm thứ 13 đối với các loại ô tô mới) sắt thép, xăng dầu (chủ yếu xóa bỏ thuế vào năm thứ 11)… Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế xuất khẩu đối với phần lớn các mặt hàng hiện đang áp dụng thuế xuất khẩu, cơ bản theo lộ trình từ 515 năm sau khi Hiệp định TPP có hiệu lực. Một số nhóm mặt hàng quan trọng như than đá, dầu mỏ và một số loại quặng, khoáng sản được tiếp tục duy trì thuế xuất khẩu.  Công cụ phi thuế quan • Hạn ngạch: là những quyết định của nhà nước về lượng hàng hoá lớn nhất đuợc phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu từ một thị trường hoặc một khu vực cụ thể trong một thời gian nhất định. • Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: Tiêu chuẩn kỹ thuật là những quy định của nhà nước hay các tổ chức về tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh phòng dịch, tiêu chuẩn đo lường, quy định về an toàn lao động, bao bì đóng gói cũng như các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinh thái, quy định một tỷ lệ nguyên vật liệu nhất định trong nước để sản xuất một loại hàng hoá nào đó…đựơc sử dụng để bảo vệ môi trường sinh thái và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong TMQT. . • Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là yêu cầu của nước nhập khẩu đối với nước xuất khẩu phải cắt giảm lượng hàng hoá xúât khẩu một cách tự nguyện nhằm hạn chế việc gây thiệt hại về lợi ích cho các nhà sản xuất nội địa tại nước nhập khẩu. • Trợ cấp xuất khẩu: Trợ cấp xuất khẩu là biện pháp mà chính phủ các quốc gia xây dựng và hoàn thiện nhằm thúc đẩy hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất khẩu phát triển, khai thác tốt hơn lợi thế của quốc gia. Giảm thiểu, tiến tới loại bỏ các hàng rào phi thuế quan gây cản trở đối với hoạt động thương mại. Những biện pháp phi thuế phổ thông (như giấy phép, tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh kiểm dịch...) cần được chuẩn mực hoá theo các quy định chung của WTO hoặc các các thông lệ quốc tế và khu vực khác.
Xem thêm

42 Đọc thêm

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lí thu thuế tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Thanh Hóa

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÍ THU THUẾ TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU CẢNG THANH HÓA

Chương 1: Tổng quan về quản lí thu thuế xuất nhập khẩu Chương 2: Thực trạng công tác quản lí thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Thanh Hóa Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lí thu thuế xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Thanh Hóa

85 Đọc thêm

thực trạng gian lận thương mại qua giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam

THỰC TRẠNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI QUA GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM

Thuế là một nguồn thu ổn định của Nhà nước, là công cụ phân phối thu nhập quốc dân, thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế và là công cụ bảo vệ kinh tế trong nước, cạnh tranh với nước ngoài. Việc thực thi một số chính sách thuế có hiệu quả là thu đúng, thu đủ và đúng hạn theo quy định của pháp luật về thuế, sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu này và từ đó tạo điều kiện để mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, yêu cầu đơn giản và hài hòa hóa thủ tục hải quan theo Công ước Kyoto và để có được những cơ chế xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu khoa học, phù hợp với quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam hiện nay, đòi hỏi phải nhận thức đúng đắn về cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đề ra những giải pháp thiết thực nâng cao hiệu quả công tác xác định giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam. Tuy nhiên hiện trạng gian lận thương mại qua giá tính thuế hiện nay ngày càng có dấu hiệu gia tăng. Nguyên nhân chính của tình trạng gian lận thuế xuất nhập khẩu có thể do khách quan như chính sách chế độ thay đổi, cũng có thể do nguyên nhân chủ quan như đối tượng nộp thuế cố tình gian lận, trốn thuế... Vì vậy, cùng với việc tổ chức, triển khai thực hiện chính sách thuế xuất nhập khẩu thì việc tìm ra giải pháp để chống gian lận thuế xuất nhập khẩu là một trong những nội dung hết sức quan trọng, cần thiết và cấp bách nhằm đảm bảo hiệu quả chính sách thuế của nhà nước.
Xem thêm

30 Đọc thêm

PHÂN TÍCH NỘI DUNG CƠ BẢN LUẬT THẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THỰC TIỄN ÁPDỤNG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2015 VÀ ĐỀ XUẤT PHÁP LÍ CỦA NHÓM THÔNG QUA VIỆC ÁP DỤNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG THUẾ NILON THUỘC DIỆN CHỊU THUẾ

PHÂN TÍCH NỘI DUNG CƠ BẢN LUẬT THẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THỰC TIỄN ÁPDỤNG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2015 VÀ ĐỀ XUẤT PHÁP LÍ CỦA NHÓM THÔNG QUA VIỆC ÁP DỤNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG THUẾ NILON THUỘC DIỆN CHỊU THUẾ

2. Nội dung cơ bản của Luật thuế bảo vệ môi trường2. 1. Đối tượng chịu thuế.2. 1.1. Nguyên tắc xác định đối tượng chịu thuế.Theo Điều 112 Luật Bảo vệ môi trường: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất,kinh doanh một số sản phẩm gây tác động xấu lâu dài đến môi trường và sức khỏecon người thì phải nộp Thuế môi trường”.Vì vậy, các sản phẩm được lựa chọn đưa vào đối tượng chịu thuế phải là những sảnphẩm được sản xuất, nhập khẩu mà khi sử dụng mới gây tác động xấu đến môitrường và sức khỏe con người. Do đó, những hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuếBVMT nhưng không được sử dụng ở Việt Nam thì sẽ được đưa vào đối tượngkhông chịu thuế BVMT.2.1.2. Đối tượng chịu thuế theo Luật bảo vệ môi trường.Theo quy định của Luật Thuế BVMT đối tượng chịu thuế gồm 8 nhóm hàng hóa:a.Xăng dầuĐây là sản phẩm có chứa một số chất hóa học như chì, lưu huỳnh,… ngay cả khichưa sử dụng các chất chứa trong các loại xăng dầu đã phát thải ra môi trường vàgây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Việc đưa các sản phẩm xăng dầu vào đối tượngchịu thuế nhằm mục tiêu khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả;khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới ápdụng thuế BVMT đối với xăng, dầu. Các nước EU đang đánh thuế đối với nhiênliệu ( Xăng 0,42 Euro/lít, dầu Diesel 0,30 Euro/lít); Singapo: 0,4 đôla Singapo/lítxăng.b.Than đáKhi than được sử dụng cho mục đích đối cháy sẽ thải ra môi trường các loại khí nhưCO2, SO2 đều là các khí gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Phạm vi sử5dụng than cũng rộng khắp và với khối lượng gần 30 triệu tấn/năm. Việc đưa than
Xem thêm

18 Đọc thêm

QUẢN TRỊ KINH DOANH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH

QUẢN TRỊ KINH DOANH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH

Thất thu thuế xuất nhập khẩu gây ảnh hƣởng trực tiếp đến nền kinh tếcủa một quốc gia. Vì hoạt động kinh tế ngầm gia tăng làm triệt hại những giá trịthực, gây mất ổn định sản xuất và kinh tế - xã hội, hơn nữa, thuế xuất nhập khẩulà một nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nƣớc, thông qua quy định mứcthuế để định hƣớng tiêu dùng, khuyến khích sản xuất trong nƣớc phát triển,định hƣớng hoạt động XNK, tác động cân bằng cán cân thƣơng mại quốc gia.Cụ thể:- Thất thu thuế xuất nhập khẩu làm giảm thu ngân sách Nhà nƣớcvà vai trò kiểm soát của chính phủỞ các nƣớc đang phát triển, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thƣờngchiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu ngân sách và giữ vai trò quyết định chitiêu của Chính phủ. Ở Việt Nam, thuế xuất khẩu, nhập khẩu chiếm khoảng 1520% thu ngân sách năm 2009-2013. Do vậy, thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩuThuế xuất khẩu, nhập khẩu còn là công cụ của chính phủ để thực hiệnbiện pháp kiểm soát hoạt động ngoại thƣơng, thực hiện bảo hộ sản xuất trongnƣớc, khuyến khích sản xuất xuất khẩu. Khi tình trạng gian lận thuế xuất khẩu,nhập khẩu trở lên phổ biến, thất thu thuế gia tăng cho thấy sự điều tiết, địnhhƣớng đối với một số lĩnh vực của nền kinh tế không có hiệu quả, chính sáchthuế XNK không đem lại hiệu quả nhƣ mong muốn hoặc mất tác dụng kiểmsoát;- Thất thu thuế tác động tiêu cực đến môi trƣờng kinh doanhViệc khai áp các mức thuế suất khác nhau cho cùng một hàng hóa XNKgây nên mức giá bán khác nhau hoặc doanh nghiệp nào trốn đƣợc thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu cùng chủng loại hàng hóa sẽ có điều kiện mua/bán giáthấp hơn hoặc nếu bán bằng giá sẽ có lợi nhuận cao hơn dẫn đến sự cạnh tranhkhông lành mạnh trong kinh doanh. Nguy hiểm hơn là có những doanh nghiệplợi dụng điều này liên kết lại với nhau để “nhập lậu”, gan lận trốn phải nộp mứcthuế suất cao và núp bóng hàng ngoại “xách tay” giá rẻ cạnh tranh trực tiếp vớihàng của các doanh nghiệp sản xuất nƣớc ngoài đặt tại nội địa(nhƣ đồ điện tử, điện lạnh, đồ nội thất, quần áo, thƣờng có mức thuế suất nhập
Xem thêm

85 Đọc thêm

Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và ý kiến của nhóm thực hiện nhằm khắc phục

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT VÀ Ý KIẾN CỦA NHÓM THỰC HIỆN NHẰM KHẮC PHỤC

Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và ý kiến của nhóm thực hiện nhằm khắc phục MỞ BÀI Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo qui định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế tiêu thụ đặc biệt đảm bảo nguồn thu Ngân sách Nhà nước. Là công cụ rất quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng hướng dẫn, điều chỉnh việc sản xuất, kinh doanh,lưu thông và tiêu dùng một số hàng hóa, dịch vụ mang tính chất xa xỉ, chưa thật cần thiết cho nhu cầu xã hội thể hiện sự tăng cường quản lý, kiểm soát của nhà nước một cách tập trung, chặt chẽ đối với các loại hàng hóa, dịch vụ này. Thuế tiêu thụ đặc biệt là công cụ để nhà nước điều tiết thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước một cách công bằng hợp lý: ai tiêu dùng nhiều các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thì nộp thuế nhiều hơn người tiêu dùng ít hoặc không phải nộp thuế nếu không tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ đó. Đồng thời, khắc phục tình trạng bất đối xứng thông tin trong việc tiêu dùng hàng hóa gây ảnh hưởng đến sức khỏe như thuốc lá, rượu… Việc ban hành thuế tiêu thụ đặc biệt có ý nghĩa quan trọng như trên, vậy đối với việc áp dụng thực tiễn thuế tiêu thụ đặc biệt như thế nào? Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, nhóm chúng em đã chọn đề bài cho bài tập nhóm số 2 của mình như sau đề số 4 : “Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và ý kiến của nhóm thực hiện nhằm khắc phục”. NỘI DUNG I. Những vấn đề chung về thuế tiêu thụ đặc biệt: 1. Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt: Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế đánh vào một số loại hàng hóa dịch vụ đặc biệt, cần điều tiết mạnh nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt có tính chất như sau: Một số hàng hóa, dịch vụ có giá bán cao. Cầu của những hàng hóa này thường kém co giãn so với giá cả. Hàng hóa có thể có hại cho sức khỏe, làm ảnh hưởng không tốt đến môi trường. 2. Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt: Thuế tiêu thụ đặc biệt có diện đánh thuế hẹp. Việc quy định các hàng hóa, dịch vụ nào thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt còn tùy thuộc vào chính sách điều tiết của từng quốc gia, hoạt động sản xuất tiêu dùng của từng nước; thu nhập quốc dân; phong tục và tập quán tiêu dùng của một số loại hàng hóa, dịch vụ trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể. Nhìn chung, các quốcgia thường đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào mộtsố mặt hàng được coi là cao cấp và không thiết yếu, Nhà nước khôngkhuyến khích tiêu dùng như: thuốc hút, rượu, bia, xăng dầu. Thuế suất tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ và thường cao hơn so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác. Thuế suất tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ, tùy theo quan điểm của các nhà làm luật ở mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, áp dụng biểu thuế suất tỉ lệ cho thuế tiêu dùng đặc biệt. Ví dụ : thuốc lá điếu, xì gà và các chế phẩm khác từ cây thuốc lá có thuế suất là 65% ( Điều 7 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2008). Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa chịu thuế một cách gián tiếp thông qua giá cả. Người sản xuất và kinhdoanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là người nộp thuế cho nhà nước, từ đó thấy đây là một loại thuế gián thu. Thuế tiêu thụ đặc biệt thường có mức thuế suất cao nhằm điều tiết sản xuất và hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, thông qua đó nhằm điều tiết một phầnthu nhập của những người tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ này. Thuế tiêu thụ đặc biệt được đánh giá một lần vào khâu sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Đây là loại thuế tiêu dùng một giai đoạn nên không gây sự trùng lặp qua các khâu của quá trình luân chuyển hàng hóa. 3. Nội dung pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt  Chủ thể quan hệ pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt  Chủ thể quyền lực – cơ quan nhà nước Bộ tài chính và tổng cục thuế có thẩm quyền xem xét và quyết định các trường hợp miễn hoặc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt. Cơ quan thu (cơ quan thuế, hải quan, cơ quan tài chính) có thẩm quyền hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thu nộp thuế tiêu thụ đặc biệt và áp dụng các chế tài khi cần thiết.  Chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt :  Đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt, theo Điều 4, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008, là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Trường hợp tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu mua hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của cơ sở sản xuất để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước thì tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu là người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt.  Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt: Nhìn chung, các hàng hoá, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thường có các tính chất sau: Một số hàng hoá, dịch vụ có giá bán cao. Cầu của những hàng hoá này thường kém co giãn so với giá cả. Hàng hoá có thể có hại cho sức khoẻ, làm ảnh hưởng không tốt đến môi trường. Theo quy định tại Điều 2 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 thì các hàng hoá, dịch vụ sau đây là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Hàng hoá: Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm; Rượu; Bia; Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng; Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm3; Tàu bay, du thuyền; Xăng các loại, napta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác để pha chế xăng; Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống; Bài lá; Vàng mã, hàng mã. Dịch vụ: Kinh doanh vũ trường; Kinh doanh mátxa (massage), karaôkê (karaoke); Kinh doanh casinô (casino); trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò chơi bằng máy giắcpót (jackpot), máy sờlot (slot) và các loại máy tương tự; Kinh doanh đặt cược; Kinh doanh gôn (golf) bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi gôn; Kinh doanh xổ số.  Căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt là : Giá tính thuế là giá bán ra, giá cung ứng dịch vụ chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt và chưa có thuế giá trị gia tăng được quy định tại Điều 6 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008. Và thuế suất : Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ được quy định theo Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt qui định tại Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008, từ đó có thể xác định số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp theo công thức: Số thuế TTĐB phải nộp = Giá tính thuế TTĐB x (nhân ) thuế suất. II. Thực tiễn thực hiện luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1. Thành tựu Việc thực hiện Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và các Luật sửa đổi, bổ sung đã cho thấy về cơ bản, thuế tiêu thụ đặc biệt đã đạt được mục tiêu đặt ra là hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng của xã hội, điều tiết thu nhập của người tiêu dùng một cách hợp lý, và tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh đối với một số hàng hoá và dịch vụ. Thuế suất cao áp dụng đối với nhiều mặt hàng như thuốc lá, rượu, bia, ôtô du lịch, kinh doanh vũ trường,... không chỉ nhằm mục tiêu động viên nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn thực hiện vai trò định hướng tiêu dùng. Chính sách miễn, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt được công bố trước theo lộ trình giảm dần bảo hộ đối với doanh nghiệp sản xuất bia hơi, sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước,... tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp xếp lại sản xuất kinh doanh trong nước và cùng với thuế nhập khẩu đã góp phần vào việc hình thành nên một ngành công nghiệp mới. Thuế tiêu thụ đặc biệt góp phần ổn định và tang nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tỷ trọng thu ngân sách nhà nước từ thuế tiêu thụ đặc biệt trong tổng thu ngân sách từ thuế, phí lệ phí đã không ngừng tăng trong những năm qua. Theo quyết toán ngân sách nhà nước, thu ngân sách từ thuế tiêu thụ đặc biệt riêng với hàng hóa sản xuất trong nước năm 2008 đạt 22,123 tỷ đồng, năm 2009 ước đạt 29,728 tỷ đồng, năm 2010 đạt 37,906 tỷ và tính riêng 9 tháng đầu năm 2011 đã đạt 32,425 tỷ đồng. Năm 2013 đạt 38,606 tỷ đồng. Thuế tiêu thụ đặc biệt đã góp phần hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng theo định hướng của Nhà nước. Đối tượng chịu thuế chủ yếu là những loại hàng hoá, dịch vụ mà Nhà nước không khuyến khích hoặc hạn chế tiêu dùng như thuốc lá, rượu, bia, kinh doanh vũ trường hoặc hàng hoá, dịch vụ mà Nhà nước cần điều tiết như ô tô, kinh doanh sân gôn... Quy định này là phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của nước ta cũng như thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, giảm nhập siêu, kiềm chế lạm phát, không gây đột biến trong sản xuất tiêu dùng. Báo cáo sơ bộ tổng cục thống kê cho biết nhập siêu 2011 ở mức 9,5 tỷ USD, giảm so với 2010 ( 12,4 tỷ USD), năm 2009 (12,8 tỷ). Thuế tiêu thụ đặc biệt đã đáp ứng yêu cầu phục vụ cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc quy định lộ trình từng bước điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với một số mặt hàng như ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước; áp dụng một mức thuế suất đối với mặt hàng thuốc lá... Thuế tiêu thụ đặc biệt góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Tổng thu thuế tiêu thụ đặc biệt tăng qua các năm, năm 2003 là 11.046 tỷ đồng, năm 2004 là 14.861 tỷ đồng, tăng 35% so với năm 2003; năm 2005 là 18.326 tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2004; năm 2006 là 20.835 tỷ đồng, tăng 14% so với năm 2005 và năm 2007 là 26.564 tỷ đồng, tăng 27% so với năm 2006. Năm 2013 đạt 38,606 tỷ đồng 2. Hạn chế Bên cạnh những kết quả đạt được, theo yêu cầu của sự phát triển hiện nay và trong thời gian tới, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành đã bộc lộ một số hạn chế cần được tiếp tục hoàn thiện: Thứ nhất, công tác triển khai thực hiện luật thuế tiêu thụ đặc biệt cũng như công tác quản lí thuế còn nhiều bất cập. Việc thiếu phương tiện kĩ thuật hỗ trợ, thiếu hệ thống điện toán toàn diện, thiếu máy kiểm tra chuyên dụng…trong giai đoạn hiện nay gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả áp dụng các loại thuế nói chung và pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt nói riêng. Đây là 1 trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng gian lận trốn thuế, nhất là trong giai đoạn hiện nay tình trạng gian lận thuế ngày càng được thực hiện bằng những thủ đoạn tinh vi hơn. Trong thời gian qua,việc quản lí in, phát hành, sử dụng hóa đơn đã phát huy hiệu quả tích cực góp phần phục vụ cho công tác quản lí thu thuế. Tuy nhiên, việc sử dụng hóa đơn cũng làm phát sinh nhiều vấn đề bất cập. Trong những năm gần đây việc vi phạm về hóa đơn diễn ra khá phổ biến và phức tạp, ví dụ như việc lập hóa đơn chậm, ghi sai lệch thông tin giữa các liên trên hóa đơn, chuyển nhượng hợp đồng in hóa đơn. Chế độ hóa đơn chưa được thực hiện nghiêm chỉnh, nhiều thủ đoạn trốn lậu tinh vi như hóa đơn giả hóa đơn khống, sử dụng hóa đơn bộ tài chính để hợp pháp hóa việc mua bán hàng trốn lậu thuế, ghi danh thu chênh lệch giữa các liên của hóa đơn vẫn diễn ra. Thứ hai, về đối tượng chịu thuế và không chịu thuế: Theo quy định hiện hành thuế tiêu thụ đặc biệt hiện chỉ thu vào 17 loại hàng hóa và dịch vụ. Nhìn chung, đối tượng chịu thuế thuế tiêu thụ đặc biệt hiện nay ở nước ta còn khá hẹp, đi sâu nghiên cứu, cho thấy: có nhiều loại hàng hóa, dịch vụ lẽ ra phải được điều chỉnh bởi thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa được đưa vào diện chịu thuế như các loại thiết bị điện, điện tử gia dụng cao cấp,nước uống có ga…; Ngược lại, có trường hợp có loại hàng hóa đáng lý ra phải được khuyến khích tiêu dùng do yêu cầu sức khỏe, văn minh đô thị thì lại chưa được xem xét đưa ra khỏi diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như xe ôtô từ 1624 chỗ ngồi; Có trường hợp lại thể hiện sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu và hàng hóa sản xuất trong nước. Ví dụ : Luật quy định: cơ sở lắp ráp sản xuất ô tô trong nước được giảm đến 95% thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp. Điều này có nghĩa là nếu ô tô nhập khẩu thì phải chịu mức thuế suất tiêu thụ đặc biệt từ 30% 100%, còn nếu là ô tô sản xuất trong nước thì được giảm đến 95% thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp, tức là chỉ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt với mức thuế suất tương ứng từ 1,5% đến 5% mà thôi. Quy định phân biệt này nhằm bảo hộ cho ngành lắp ráp ô tô còn khá non trẻ ở nước ta trong thời gian qua. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang mở cửa hội nhập sâu rộng, đang thực hiện các cam kết theo chương trình CEPT, hiệp định thương mại Việt Mỹ…., quy định đó không còn phù hợp nữa vì đã vi phạm nguyên tắc đãi ngộ quốc gia ; …Đó là những hạn chế cơ bản về đối tượng chịu thuế của loại thuế này. Theo quy định hiện hành, xì gà và thuốc lá điếu thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên WTO, dự báo trên thị trường nội địa sẽ xuất hiện một số loại sản phẩm thuốc lá khác như: thuốc lá sợi dùng để hút tẩu và các dạng sản phẩm khác dùng để hút, nhai, ngửi. Đây cũng là các sản phẩm thuốc lá, sử dụng là có hại cho sức khoẻ nên không khuyến khích tiêu dùng. Như vậy, quy định như hiện hành không bao quát được tất cả các loại sản phẩm thuốc lá khác, là những sản phẩm tiêu dùng không có lợi cho sức khoẻ. Đối với mặt hàng điều hoà nhiệt độ: Luật hiện hành quy định điều hoà nhiệt độ có công suất dưới 90.000 BTU là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Tuy nhiên do trong Luật chỉ quy định chung điều hoà nhiệt độ có công suất dưới 90.000 thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nên khi thực hiện có sự chưa rõ ràng và nhất quán trong việc thu hay không thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với một số loại điều hoà nhiệt độ có công suất dưới 90.000 BTU sử dụng để lắp trên các phương tiện vận tải như ô tô, tàu hoả, tàu biển. Trên thực tế các loại điều hoà này được coi là tư liệu sản xuất phục vụ cho sản xuất, lắp ráp phương tiện vận tải và trong hoạt động vận tải hành khách, nếu thu thuế tiêu thụ đặc biệt là không hợp lý. Về hàng hoá nhập khẩu vào khu phi thuế quan: Theo quy định của pháp luật về hải quan và về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, quan hệ trao đổi hàng hoá từ thị trường nội địa và từ nước ngoài vào các khu khu phi thuế quan là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của cũng đã có quy định hàng hoá từ thị trường trong nước nhập khẩu vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan thuộc diện không phải chịu các thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Thông lệ quốc tế cũng cho thấy hàng hoá thuộc diện này đều không phải chịu các khoản thuế gián thu. Tuy nhiên, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành lại chưa có quy định này nên đã dẫn đến một số vướng mắc khi thực hiện. Thứ ba, về t Trong 17 mặt hàng, dịch vụ chịu thuế thuế tiêu thụ đặc biệt có đến 12 mức thuế suất cao thấp khác nhau từ 10% trở lên. Đối với mỗi loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau có mức thuế suất tương ứng khác nhau, trong một số trường hợp đối với cùng một loại hàng hóa nhưng lại chia theo các tiêu chí khác nhau để áp dụng các mức thuế suất rất chênh lệch nhau, nên biểu thuế càng thêm phức tạp, làm cho việc xác định mức thuế suất áp dụng chính xác rất khó khăn và dễ bị vận dụng tùy tiện. Ví dụ như cùng một mặt hàng là rượu nhưng có đến 3 mức thuế suất khác nhau : rượu từ 20 độ trở lên là 20%, từ 112010 – 31122012 là 45%, từ 112013 là 50%, còn rượu dưới 20 độ là 25% ; Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành quy định mức thuế suất áp dụng đối với ô tô chở người được phân biệt theo số chỗ ngồi: có tới 7 mức thuế khác nhau.Mặt khác, việc qui định thuế suất đối với ô tô chỉ theo số chỗ ngồi cũng chưa phù hợp, cần phân định theo dung tích xi lanh như đa số các nước đang thực hiện để thực hiện mục tiêu hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng và điều tiết thu nhập hợp lý, tiết kiệm năng lượng và giảm ô nhiễm môi trường. Các hoạt động kinh doanh casino, trò chơi điện tử có thưởng và kinh doanh đặt cược là các dịch vụ Nhà nước không khuyến khích, do đó cần điều chỉnh mức thuế suất cho phù hợp. Đối với kinh doanh gôn, thuế suất 10% cũng cần phải xem xét điều chỉnh cho hợp lý. Thứ ba, về văn bản pháp luật: Thuế tiêu thụ đặc biệt được thể hiện trong các văn bản Luật khác nhau là Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2003 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng năm 2005. Hiện nay, mới nhất là Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2008 và Nghị định số 26 2009, Nghị định số 1132011 sửa đổi Nghị định 26. Với nhiều văn bản cùng có quy định về thuế tiêu thụ đặc biệt nên chưa tạo thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật. Qua thực tiễn áp dụng, chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành ở nước ta đã đặt ra một số vấn đề cần phải được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế cuộc sống, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể theo nhóm có một số vấn đề sau :  Về vấn đề miễn giảm thuế : Theo quy định hiện hành của chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt thì với các cơ sở sản xuất bia quy mô nhỏ (có công suất dưới 10 triệu lítnăm) đang hoạt động nếu nộp đủ thuế tiêu thụ đặc biệt mà bị lỗ, thì được xét giảm thuế tiêu thụ đặc biệt tương ứng với số lỗ trong năm xét giảm thuế. Quy định biệt này nhằm bảo hộ cho ngành lắp ráp ô tô còn khá non trẻ ở nước ta trong thời gian qua. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang mở cửa hội nhập sâu rộng, đang thực hiện các cam kết theo chương trình CEPT, hiệp định thương mại Việt Mỹ…., quy định đó không còn phù hợp nữa vì đã vi phạm nguyên tắc đãi ngộ quốc gia.  Về giá tính thuế : Theo quy định của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá do cơ sở sản xuất bán ra tại nơi sản xuất chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt, tức là giá bán có tính cả chi phí bao bì, vỏ hộp trong đó, thế nhưng trong thực tế thì lại áp dụng không thống nhất, có loại hàng hóa áp dụng trên cơ sở giá bán có bao bì, có trường hợp áp dụng giá bán không có bao bì nên không đảm bảo công bằng giữa các doanh nghiệp cũng như giữa các hàng hóa cùng loại với nhau. Mặt khác, do quy định hiện hành không khống chế về mức giá tính thuế đối với hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nên một số cơ sở sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế đã lách thuế bằng cách thành lập các cơ sở kinh doanh thương mại hạch toán độc lập với cơ sở sản xuất để từ đó hạ giá bán của cơ sở sản xuất bán cho cơ sở kinh doanh nhằm làm giảm số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước. Thứ tư, về ý thức pháp luật và chấp hành pháp luật của cán bộ thuế, đối tượng nộp thuế chưa cao. Hiện nay, tình trạng cán bộ ngành thuế còn thiếu trách nhiệm để xảy ra tình trạng gian lận thuế, trốn thuế còn xảy ra khá phổ biến. Thậm chí, 1 bộ phận cán bộ bị tha hóa, biến chất còn tiếp tay cho hành vi gian lận trốn thuế, trogn khi các văn bản pháp luật hiện nay gần như chưa có chế tài xử lí thích đáng đối với cán bộ thuế khi có vi phạm. Nếu không có chính bản thân cán bộ sẽ gợi ý cho đối tượng nộp thuế có quen biết cách trốn thuế. Đối với đối tượng nộp thuế, khi thực hiện hành vi trốn thuế sẽ bị xử lí bằng các biện pháp hành chính hoặc hình sự tùy vào mức độ vi phạm. Tuy nhiên, thực trạng vi phạm pháp luật thuế vẫn diễn ra 1 cách phổ biến . Chẳng hạn như hiện nay tồn tại khá nhiều các doanh nghiệp thành lập ra không vì mục đích kinh doanh mà để mua bán các hóa đơn của nhà nước rồi bán lại cho các cá nhân, tổ chức khác để sử dụng vào việc khấu trừ khống tiền thuế của nhà nước và hợp thức hóa hàng hóa buôn lậu để trốn thuế, rút ruột tiền chi của ngân sách nhà nước ở các công trình xây dựng cơ bản, những đơn vị hành chính sự nghiệp. Ngoài ra cũng phải kể đến tâm lí chây ỳ nộp thuế của đối tượng nộp thuế. Các doanh nghiệp còn lợi dụng sự thông thoáng và chưa thực sự hoàn thiện của luật doanh nghiệp để chây ỳ nộp thuế. Thứ năm, các chế tài xử lí các trường hợp vi phạm pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt chưa đủ sức răn đe, điều này dẫn đến tâm lí coi thường nghĩa vụ nộp thuế và cố tình trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước. Chẳng hạn như theo báo cáo thống kê của cục hải quan Bình Dương tính đến tháng 4 năm 2012 có tới 34 doanh nghiệp có chủ nước ngoài nợ thuế bỏ trốn, mất tích, không kinh doanh tại địa chỉ đăng kí, ngừng kinh doanh hoặc tạm ngừng hoạt động. Tổng số tiền nợ thuế của các doanh nghiệp này lên tới 43,4 tỷ đồng, nợ thuế tiêu thụ đặc biệt là hơn 4,4 tỷ đồng. III. Giải pháp hoàn thiện Điều cần thiết hiện nay là chúng ta phải từng bước xây dựng ,triển khai ,hoàn thiện luật thuế tiêu thụ đặc biệt trong đó cần tuân thủ các yêu cầu mang tính chất định hướng sau : Một là hoàn thiện pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt Hoàn thiện luật thuế tiêu thụ đặc biệt trên cơ ở kế thừa có chọn lọc những quy định trong pháp luật thuế hiện hành ,đảm bảo phù hợp với thực tiễn và hệ thồng pháp luật của Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế . Ví dụ :Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành quy định mức thuế suất áp dụng đối với ô tô chở người được phân biệt theo số chỗ ngồi: có tới 7 mức thuế khác nhau.Mặt khác, việc qui định thuế suất đối với ô tô chỉ theo số chỗ ngồi cũng chưa phù hợp, cần phân định theo dung tích xi lanh như đa số các nước đang thực hiện để thực hiện mục tiêu hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng và điều tiết thu nhập hợp lý, tiết kiệm năng lượng và giảm ô nhiễm môi trường.Các hoạt động kinh doanh casino, trò chơi điện tử có thưởng và kinh doanh đặt cược là các dịch vụ Nhà nước không khuyến khích, do đó cần điều chỉnh mức thuế suất cho phù hợp. Đối với kinh doanh gôn, thuế suất 10% cũng cần phải xem xét điều chỉnh cho hợp lý… Luật thuế tiêu thụ đặc biệt cần được đảm bảo tiếp thu những thành tựu của các đạo luật về thuế tiêu thụ đặc biệt trước đó đồng thời có những điều chỉnh hợp lý nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt cũ .Việc ban hành luật thuế tiêu thụ đặc biệt lý luận,cơ sở thực tiễn để đảm bảo pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt luôn phù hợp với thực tiễn kinh tế,xã hội đất nước . ( Đồng thời pháp luật cũng phải có tính tiên liệu trước để thực tế có thể xảy ra,tránh tình trạng luật mới đã ban hành đã bị lỗi thời ,nhất là trong điều kiện Việt Nam đã và đang có những chuyển biến chóng mặt như hiện nay ) Với diện đánh thuế hẹp,thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ tập trung điều tiết một số hàng hóa và dịch vụ nhất định .Tùy theo quan điểm và chính sách của nhà nước trong từng thời kì mà pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt cũng cần điều chỉnh và hoàn thiện danh sách hàng hóa,dịch vụ chịu thuế cho phù hợp và kịp thời với mục tiêu phát triển của thực tiễn và chính sách của Nhà nước . Có như vậy việc ban hành và áp dụng luật thuế tiêu thụ đặc biệt mới đảm bảo việc động viên một bộ phận thu nhập cao cho ngân sách nhà nước ; đảm bảo được mục tiêu hướng dẫn ,điều tiết sản xuất và tiêu dùng một số loại hàng hóa,dịch vụ đặc biệt theo của Nhà nước,hạn chế những xu hướng sản xuất hoặc tiêu dùng không có lợi cho nền kinh tế . Do đó pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt phải tiếp tục là công cụ điều tiết thu nhập trong xã hội ,góp phần bớt phân hóa giàu nghèo,thực hiện công bằng xã hội. Ví dụ nên mở rộng đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các loại hàng hóa, dịch vụ sau : các thiết bị điện, điện tử gia dụng cao cấp; điện thoại di động và dịch vụ kinh doanh nó; vật dụng cao cấp làm bằng pha lê, thảm len; mỹ phẩm cao cấp,… không phân biệt đó là hàng hóa sản xuất trong nước hay hàng hóa nhập khẩu. Bởi đây là những loại hàng hóa, dịch vụ cao cấp mà thành phần sử dụng đa số là tầng lớp giàu có. Việc mở rộng diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt với những loại hàng hóa dịch vụ này sẽ góp phần điều tiết thu nhập, định hướng tiêu dùng, mở rộng thêm được nguồn thu. Qua việc mở rộng đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt trên đây, sẽ cho phép tăng thu từ loại thuế này góp phần bù đắp cho việc giảm thu từ các loại thuế khác (thuế nhập khẩu , thuế sử dụng đất nông nghiệp…). Hay như việc không nên áp dụng chế độ miễn giảm thuế tiêu thụ đặc biệt cho các cơ sở sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt bởi đây là loại thuế gián thu do người tiêu dùng chịu thuế, các cơ sở sản xuất chỉ là người nộp hộ nên việc quy định miễn giảm thuế đối với loại thuế này là không hợp lý.Vì đây là những loại hàng hóa dịch vụ mà Nhà nước cần điêu tiết, định hướng cho việc sản xuất, tiêu dùng để đảm bảo lợi ích cộng đồng, hầu hết những loại hàng hóa dịch vụ này không phải là những mặt hàng thiết yếu cho đời sống nhân dân, không thuộc diện khuyến khích tiêu dùng (ngoại trừ những mặt hàng cá biệt như xăng), nên việc quy định miễn giảm thuế đối với các mặt hàng này là không cần thiết. Xây dựng ,hoàn thiện pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt bảo đảm tính minh bạch ,rõ ràng ,dễ hiểu,dễ thực hiện . Điều này không những góp phần tạo điều kiện cho việc thực thi pháp luật tiêu thụ đặc biệt mà còn giúp công tác thanh tra ,kiểm tra được thực hiện dễ dàng hơn. Hai là, nâng cao ý thức pháp luật cho người dân bằng cách tuyên truyền, giáo dục một cách sâu rộng tới tất cả các tầng lớp. Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế mà nhiều người đã nộp mà không biết. Không phải riêng các đối tượng có thu nhập cao mới là người sử dụng các hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của thuế này. Có những đối tượng là người dân bình thường khi sử dụng hàng mã, vàng mã, thuốc lá…Họ không biết mình đang phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt và như vậy cần việc hướng dẫn và điều tiết chi tiêu của Nhà nước. Ba là,cần xác định mức ấn định thuế tiêu thụ đặc biệt tối thiểu có thể sẽ cao hơn mức cần phải nộp thực tế của doanh nghiệp nhưng phải có biện pháp mạnh thì mới có thể răn de và hạn chế sự vi phạm. Tránh hành vi “thỏa thuận ngầm” giữa cán bộ thuế và đối tượng nộp thuế về mức ấn định thấp. Muốn thực thi được thuế tiêu thụ đặc biệt tốt thì trước hết cần có sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ. Các yếu kém của đội ngũ cán bộ có thể do 2 lý do: Thứ nhất là sự yếu kém trong trình độ, thứ hai là sự yếu kém trong quản lý. Đối với yếu kém trong trình độ thì cần có chính sách để đào tạo lại những cán bộ đã làm việc lâu năm, tránh việc hiểu sai, áp dụng sai. Và tạo nguồn cán bộ mới phù hợp với yêu cầu. Đối với yếu kém trong quản lý thì cần có chế tài xử lý nghiêm khắc để răn đe và cần quy định thêm hệ thống cán bộ thanh tra các bộ thuế. KẾT LUẬN Luật thuế tiêu thụ đặc biệt đã đạt được những thành tựu nhất định khi đặt ra mục tiêu và đi vào thực tiễn.Song, để đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế xã hội thì luật thuế TTĐB cần đẩy mạnh hơn nữa những quy định này trong thực tiễn để linh hoạt và đồng bộ hơn; đồng thời cần phải xem xét, sửa đổi và bổ sung kịp thời để khắc phục những hạn chế.
Xem thêm

15 Đọc thêm

LUẬN VĂN NHẬP KHẨU LINH KIỆN LẮP RÁP XE MÁY CỦA CÔNG TY QUAN HỆ QUỐC TẾ ĐẦU TƯ SẢN XUẤT THUẬN LỢI , KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN NHẬP KHẨU LINH KIỆN LẮP RÁP XE MÁY CỦA CÔNG TY QUAN HỆ QUỐC TẾ ĐẦU TƯ SẢN XUẤT THUẬN LỢI , KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP

nghiệp ,làm cho doanh nghiệp dể đi đến phá sản. Nhng khi doanh nghiệp tìm ralối thoát đó nhập khẩu các thiết bị hiện đại và dây chuyền công nghệ thìdoanh nghiệp không những sản xuất đợc sản phẩm có chất lợng tốt đáp ứng nhucầu của thị trơng mà còn sản xuất ra hàng loạt sản phẩm lại rất ích thờigian.Điều trên có thể khẳng định hoạt động nhập khẩu đã tăng đợc năng suấtlao động.3Hoạt động nhập khẩu khiến cho các doanh nghiệp cạnh tranh gay gắt đểchiếm đợc thị trờng tức tăng sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Các doanhnghiệp để đạt đợc mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận ,dĩ nhiên phải quan tâm đếncác đối thủ cạnh tranh để làm sao chiếm đợc thị phần hay thị trờng trong nớc vànớc ngoài. Để đạt đợc điều này ,các doanh nghiệp cần phải cải tiến mẫu mã củamình thông qua việc thúc đâỷ hoạt động nhập khẩu. Chẳng hạn nh :nhập khẩucác máy móc thiết bị ,dây chuyền công nghệ hiện đại. có thế mới có thể hạ đợcđối thủ cạnh tranh và chiếm lĩnh đợc thị trờng.Hoạt động nhập khẩu còn có vai trò khác đối với doanh nghiệp đó là mởrộng quy mô sản xuất ,phân công lao động xã hội.Nhập khẩu là một yếu mang tín quyết định cho việc mở rộng quy mô sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp .Bỡi vì, khi doanh nghiệp đã có thị trờng nhậpkhẩu thuận lợi ,dĩ nhiên việc nhập khẩu có hiệu quả làm cho sản phẩm sản xuấtcó chất lợng cao đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Do vậy, đòi hỏi doanh nghiệpphải mở rộng quy mô để có sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng .khi đãcó đợc một khoản lợi nhuận doanh nghiệp phải chi cho một phần để duy trì chotái sản xuất .qua trên cho thấy hoạt động nhập khẩu có vai trò to lớn đối vớidoanh nghiệp đó là mở rộng quy mô sản xuất và giúp cho quá trình tái sản xuấttốt.Phân công lao động rỏ rệt khi hoạt động nhập có hiệu quả, điều này thểhiện ở chổ khi hoạt động nhập khẩu trở nên thiết yếu của doanh nghiệp thì thìmỗi cá nhân hay tập thể của doanh nghiệp điều có một trình độ chuyên môn ứng
Xem thêm

42 Đọc thêm

TÀI LIỆU ÔN TẬP KẾ TOÁN TÀI CHÍNH

TÀI LIỆU ÔN TẬP KẾ TOÁN TÀI CHÍNH

CHƯƠNG 1: KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ CÁC KHOẢN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH A, Kế toán tổng hợp tài sản cố định I . Các trường hợp tăng TSCĐ 1. Tăng do mua sắm trong nước a. Ghi tăng nguyên giá Nợ TK 211, 213: nguyên giá Nợ TK 1332: thuế GTGT được khấu trừ Có TK 111; 112; 331; 341 b. kết chuyển nguồn vốn Nợ TK 414: đầu tư bằng quỹ đầu tư phát triển Nợ TK 441: đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư XDCBB Nợ TK 353: đầu tư bằng quỹ khen thưởng, phúc lợi Có TK 411: nguồn vốn kinh doanh NOTE: NẾU DOANH NGHIỆP MUA BẰNG VỐN VAY THÌ SẼ KHÔNG CÓ BÚT TOÁN KẾT CHUYỂN NOTE: Trường hợp dùng cho HOẠT ĐỘNG PHÚC LỢI a. ghi tăng nguyên giá Nợ TK 211; 213: nguyên giá Có TK 111;112;331 b. kết chuyển nguồn vốn Nợ TK 3532: quỹ phúc lợi Có TK 3533: quỹ phúc lợi đã hình thành TSCĐ NOTE: Trường hợp được đầu tư bằng QUỸ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ a. ghi tăng nguyên giá Nợ TK 211; 213: nguyên giá Nợ TK 1332: thuế GTGT Có TK 111; 112; 331 b. kết chuyển nguồn vốn Nợ TK 3561: quỹ phát triển khoa học CÔng nghệ Có TK 3562: quỹ pt KHCN hình thành TSCĐ 2. Tăng TSCĐ do nhập khẩu Theo phương pháp khấu trừ Theo phương pháp trực tiếp a. ghi tăng nguyên giá Nợ TK 211; 213: nguyên giá Có TK 333(3): thuế nhập khẩu Có TK 111; 112; 331: Số thuế GTGT nhập khẩu phải nộp Nợ TK 1332: thuế GTGT được k.trừ Có TK 33312: b. kết chuyển nguồn Nợ TK 414;441;353 Có TK 411: a. Ghi tăng nguyên giá Nợ TK 211;213 Có TK 3333: thuế NK Có TK 33312: Thuế GTGT hàng nk Có TK 111;112;331: b. kết chuyển nguồn Nợ TK 414; 441;353 Có TK 411
Xem thêm

22 Đọc thêm

NHẬP KHẨU LINH KIỆN LẮP RÁP XEMÁY CỦA CÔNG TY QUAN HỆ QUỐC TẾ ĐẦU TƯ SẢN XUẤT THUẬN LỢI KHÓ KHĂN VÀGIẢI PHÁP

NHẬP KHẨU LINH KIỆN LẮP RÁP XEMÁY CỦA CÔNG TY QUAN HỆ QUỐC TẾ ĐẦU TƯ SẢN XUẤT THUẬN LỢI KHÓ KHĂN VÀGIẢI PHÁP

được được chi phí giá thành tăng lợi nhuận. Chẳng hạn như ,một doanh nghiệpkhi sản xuất một loại sản phẩm nào đó mà sản phẩm này đã có nhản hiệu uy tíntrên thị trường. Để sản phẩm đạt được đáp ứng nhu cầu khách hàng ,doanhnghiệp cần phải nhập khẩu những linh kiện máy móc, dây chuyền công nghệhiện đại phục vụ cho quá trình sản xuất ,đều này đã tạo cho doanh nghiệp mộtsản phẩm với giá thành rẻ dĩ nhiên sản phẩm sẽ có ưu thế trên thị ,nên doanhthu lớn và lợi nhụân cao .Hoạt động nhập khẩu không những giảm được chi phí giá thành mà còntăng được năng suất lao động.Thực vậy, một doanh nghiệp tự tạo ra sản phẩmmà không cần nhập khẩu các thiết bị vật tư , dây chuyền công nghệ …thì rấtvất vả cho quá trình sản xuất ,tình trạng này có thể nói là quá bảo thủ củadoanh nghiệp ,làm cho doanh nghiệp dể đi đến phá sản. Nhưng khi doanhnghiệp tìm ra lối thoát đó nhập khẩu các thiết bị hiện đại và dây chuyền côngnghệ …thì doanh nghiệp không những sản xuất được sản phẩm có chất lượngLuanvan.onlinePage 3www.Luanvan.onlinetốt đáp ứng nhu cầu của thị trương mà còn sản xuất ra hàng loạt sản phẩm lạirất ích thời gian.Điều trên có thể khẳng định hoạt động nhập khẩu đã tăng đượcnăng suất lao động.Hoạt động nhập khẩu khiến cho các doanh nghiệp cạnh tranh gay gắt đểchiếm được thị trường tức tăng sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Cácdoanh nghiệp để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận ,dĩ nhiên phải quantâm đến các đối thủ cạnh tranh để làm sao chiếm được thị phần hay thị trườngtrong nước và nước ngoài. Để đạt được điều này ,các doanh nghiệp cần phảicải tiến mẫu mã của mình thông qua việc thúc đâỷ hoạt động nhập khẩu. Chẳnghạn như :nhập khẩu các máy móc thiết bị ,dây chuyền công nghệ hiện đại…. có
Xem thêm

47 Đọc thêm

Luận văn thạc sỹ Quản lý trị giá tính thuế hàng tiêu dùng nhập khẩu tại Cục Hải quan TP.Hà Nội

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG TIÊU DÙNG NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN TP.HÀ NỘI

việc nghiên cứu vấn đề xác định trị giá tính thuế là hết sức quan trọng, giúp các bên có liên quan tính đúng, tính đủ số thuế phải nộp, góp phần đẩy nhanh quá trình thông quan hàng hóa, đưa hàng hóa vào lưu thông. Để góp phần thực hiện tốt trọng trách trên, ngành Hải quan nói chung và Cục Hải quan TP.Hà Nội đã có những đóng góp quan trọng trong vấn đề quản lý giá tính thuế. Tuy nhiên trong thời gian qua, do lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng tăng, nên việc tăng cường công tác quản lý giá tính thuế chưa được ưu tiên xem xét.Xuất phát từ những căn cứ nêu trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Quản lý trị giá tính thuế hàng tiêu dùng nhập khẩu tại Cục Hải quan TP.Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu của luận văn này.
Xem thêm

126 Đọc thêm

LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUẢN LÝ THUẾ

LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUẢN LÝ THUẾ

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 512001QH10; Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 782006QH11. Điều 1 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế: 1. Bổ sung các khoản 4, 5 và 6 vào Điều 4 như sau: “4. Áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế: a) Việc áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế bao gồm: thu thập thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế; xây dựng các bộ tiêu chí quản lý thuế; đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế; đề xuất, áp dụng các biện pháp quản lý thuế; b) Cơ quan quản lý thuế quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để đánh giá rủi ro về thuế, mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, lựa chọn đối tượng kiểm tra, thanh tra về thuế và hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ khác trong quản lý thuế. 5. Áp dụng biện pháp ưu tiên khi thực hiện các thủ tục về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nếu người nộp thuế đáp ứng đủ các tiêu chí sau: a) Không vi phạm pháp luật về thuế, về hải quan trong hai năm liên tục; b) Thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật; c) Thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế điện tử; d) Tuân thủ pháp luật về kế toán, thống kê; đ) Có kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hằng năm theo mức quy định. 6. Chính phủ quy định chi tiết khoản 4, khoản 5 Điều này.”
Xem thêm

15 Đọc thêm

LUẬN VĂN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ NHẬP KHẨU XUẤT KHẨU HẠN NGẠCH

LUẬN VĂN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ NHẬP KHẨU XUẤT KHẨU HẠN NGẠCH

bảo hộ sẽ có lợi còn ngời tiêu dùng bị thiệt. Với các hàng rào phi thuế quanthu nhập của Chính phủ thờng không tồn tại bởi thuế quan tơng ứng đã bị ngănchặn hoặc nguồn lợi bị phân tán do đòi hỏi về sử dụng nguồn lực đã làm chiphí của nhà cung ứng nớc ngoài. Tác động đến thơng mại của các hàng rào phithuế quan thờng rất lớn do những thiệt hại bổ sung thờng xuất hiện. Tuy nhiênviệc đánh giá tác động của chúng rất phức tạp do khía cạnh phi thơng mại củagiải pháp này.V. Những quy định việc xuất nhập khẩu hàng hoá quản lý bằng hạnngạch.1. Căn cứ để xác định danh mục, số lợng(hoặc trị giá) của mặt hàng xuất nhậpkhẩu quản lý bằng hạn ngạch. Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên môi trờng, môi sinh.24 Bảo vệ và phát triển sản xuất trong nớc, bảo đảm nhu cầu hợp lý của sảnxuất, kinh doanh và tiêu dùng. Bảo đảm hiệu quả xuất nhập khẩu(chính sách tiết kiệm tiêu dùng, sử dụnghợp lý ngoại tệ) Bảo đảm chính sách thị trờng ngoài nớc và các cam kết quốc tế của Chínhphủ.2.Thủ tục ấn định hạn ngạch.Uỷ ban kế hoạch Nhà nớc chủ trì, cùng Bộ Thơng mại tham khảo ý kiếncác Bộ hữu quan, xây dựng và trình Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trởng phê duyệtdanh mục số lợng (hoặc trị giá) các mặt hàng xuất nhập khẩu quản lý bằng hạnngạch cho từng thời kỳ.Bộ trởng Bộ Thơng mại có trách nhiệm công bố danh mục nói trên.3. Nguyên tắc và thủ tục phân bố hạn ngạch.
Xem thêm

53 Đọc thêm

Cùng chủ đề