BÀI GIẢNG CA DAO HÀI HƯỚC LỚP 10

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "BÀI GIẢNG CA DAO HÀI HƯỚC LỚP 10":

TUẦN 10. CA DAO HÀI HƯỚC

TUẦN 10. CA DAO HÀI HƯỚC

TRỞ VỀC H ƠI C H Ữ6. Trong tác phẩm “Nhưngnó phải bằng hai mày”, yếutố gây cười độc đáo nhất làgì?TRỞ VỀCỬ C HỈ7. Lý trưởng không chỉ xửkiện bằng ngôn ngữ, mà còn thểhiện bằng…….…..xòe bàn taytrái úp lênbàn tay mặt.TRỞ VỀCa dao hài hước chiếm một số

24 Đọc thêm

Phân tích những bài Ca dao hài hước( bài 2)

PHÂN TÍCH NHỮNG BÀI CA DAO HÀI HƯỚC( BÀI 2)

Các bài ca dao hài hước đã tạo nên tiếng cười sảng khoái cho người đọc, thông qua đó nhằm mỉa mai, châm biếm một số thói hư,tật xấu trong xã hội. Bài 1. Chuyện dẫn cưới và thách cưới ở đây không có trong đời thực. Chàng trai (nhà trai) đem đến “một con chuột béo”, “miền là có thú bốn chân"; còn cô gái (nhà gái) lại thách cưới bằng “một nhà khoai lang”.       a.  Cả chàng trai và cô gái đều đùa vui hồn nhiên. Nói chuyện cưới xin, chuyện trăm năm là một chuyện hết sức nghiêm túc nhưng vang lên tiếng cười vui vẻ, hài hước, hóm hỉnh, chứng tỏ họ đã rất hiểu hoàn cảnh của nhau và rất yêu nhau. Chỉ những người yêu nhau, không ngần ngại nghèo khó, cũng không sợ hai bên gia đình lo nghèo mới có thể đùa với nhau như thế. Một tinh thần lạc quan, trẻ trung trong cuộc sống của người lao động toát lên qua bài ca dao và để lại dư vị cho bao nhiêu người cùng cảnh ngộ. Nhất là những đôi trẻ yêu nhau, những bậc cha mẹ hai bên lo hạnh phúc cho con cái chỉ thấy cái nghèo. Cho nên đây còn là một sự cảm thông cuộc sống nghèo khó, một ngụ ý phê phán tục thách cưới nặng nề. Bên cạnh đó, điểm thú vị của bài ca dao còn ở chỗ, bộc lộ rất rõ tính cách của hai người trẻ tuổi này. Chàng trai dí dóm, thông minh, phóng khoáng. Cô gái chân chất, tần tảo, căn cơ. Chắc chắn nếu thành đôi trong đời thật, họ sẽ sống với nhau hạnh phúc và sẽ thoát nghèo.         b.  Bài ca sử dụng các biện pháp nói quá. Trong thực tế không ai dẫn cưới bằng “một con chuột béo”. Nhất là phép lập luận loại trừ, thu hẹp dần đến kết luận bất ngờ (lời chàng trai); phép liệt kê (lời cô gái) và lối “nói sang” phóng đại, áp dụng cái lí “cù nhầy” đáng yêu, khó cãi đều cùng tính chất dẫn chuyện để tạo ra tiếng cười giàu ý nghĩa.  2.  Bài 2, 3, 4. Tiếng cười trong các bài ca dao này khác với bài 1 bởi tiếng cười có tính phê phán, không phải là tiếng cười vui: Bài 1 tự trào (cười mình). Các bài còn lại, cười các loài người, thói tật trong cuộc sống cộng đồng lao động.      a.   Bài ca dao số 2, 3 đối tượng cười là những người “không đáng mặt đàn ông”. Nhưng không phải nhằm vào con người mà mục đích để chế giễu sự yếu hèn, không đảm đương được nhiệm vụ trụ cột gia đình. Cung bậc hài hước ở từng bài cũng khác nhau. Bài 2, bằng phép đòn bẩy, tương phản, nói quá là một cái bĩu môi của cô gái đáo để. Bài 3, so sánh tương phản nói quá lên, nhưng là giọng ngậm ngùi thân ái.          Bài ca dao số 4, đối tượng cười có người cho là tình yêu mù quáng của anh chồng đối với vợ. Vì quá yêu nên xấu cũng thành đẹp. Thực ra ngụ ý dân gian không chỉ như vậy. Chủ ý là chê cười những người đàn bà thô vụng. Cũng giống như bài “Cô gái Sơn Tây, yếm thủng tày dần / Răng đen nhạt nhót, chân đi cù nèo / Tóc rễ tre, cô chải lược bờ cào..." Thêm vào đó còn một chút tán thưởng cái rộng lượng của tình yèu chồng vợ dù có khi không thật xứng đôi vừa lứa, ưng ý nhau, dù người này hay người kia có khiếm khuyết. Lấy nhau mà yêu nhau thì nhìn nhau, đánh giá nhau bằng con mắt như thế - con mắt của trái tim hào sảng. Có phê phán nhưng thân mật, vui vẻ. Đây chính là vẻ đẹp của tâm hồn lao động. b.   Nét riêng về nghệ thuật của mỗi bài ca dao. + Bài số 2 sử dụng lối nói ngược (“Làm trai cho đáng sức trai" mà lại chỉ “gánh hai hạt vừng”), nói quá “gánh hai hạt vừng”?). + Bài số 3 sử dụng biện pháp tương phản (giữa “chồng người” với “chồng em”), và cũng có cả biện pháp nói quá (“ngồi bếp” đế’ “sờ đuôi con mèo”?). + Bài số 4 cũng dùng biện pháp nói quá nhưng là 2 lần nói quá (đồng nói quá): vừa nói quá về cái xấu của cô vợ, lại vừa nói quá về tình yêu của ông chồng. Cái hấp dẫn của màn hài hước là ở chỗ sự cường điệu diễn ra song hành, không có điểm dừng, cho thấy tình yêu của anh chồng cũng thiên vị không có điểm dừng. 3.  Ca dao hài hước thường sử dụng các biện pháp nghệ thuật như: tương phản, nói ngược, nói quá, chơi chữ... Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Ngữ Văn năm 2014 Trường THPT Minh Thuận

Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Ngữ Văn năm 2014 Trường THPT Minh Thuận

Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Ngữ Văn năm 2014 Trường THPT Minh Thuận Câu 1 (2 điểm): - Thế nào là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ?  -  Xác định các nhân  tố giao tiếp trong câu ca dao sau:                         “Đêm  trăng thanh anh mới hỏi nàng:                            - Tre non đủ lá đan sàng nên chăng” ?  (Ca dao) Câu 2 (2 điểm): - Hãy chép lại bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm - Anh/chị hãy viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ về quan niệm  sống “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Câu 3 (6 điểm):      Em hãy hóa thân vào nhân vật Tấm kể lại câu chuyện  về cuộc đời mình (có yếu tố miêu tả, biểu cảm).   Đáp án Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Ngữ Văn năm 2014 Trường THPT Minh Thuận Tuyensinh247 tiếp tục cập nhật đề thi học kì 1 môn Ngữ Văn của các trường, các em thường xuyên theo dõi.
Xem thêm

Đọc thêm

Bài giảng khoảng cách ( toán lớp 10 )

Bài giảng khoảng cách ( toán lớp 10 )

bài giảng bằng powpoin khoảng cách lớp 10 mời các thầy cô giáo tham khảo .

Đọc thêm

TỔNG hợp tài LIỆU CHO VIỆC dạy và học môn văn PHỔ THÔNG TRUNG học

TỔNG hợp tài LIỆU CHO VIỆC dạy và học môn văn PHỔ THÔNG TRUNG học

1.Soạn bài Khe chim kêu 2.Soạn bài Nỗi oán của người phòng khuê 3.Soạn bài Lầu Hoàng Hạc 4.Soạn bài Thơ Haikư của Basô 5.Lập kế hoạch cá nhân 6.Trình bày một vấn đề 7.Soạn bài Cảm xúc mùa thu 8.Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ 9.Soạn bài Tại Lầu Hoàng Hạc Tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng 10.Soạn bài Hứng trở về 11.Soạn bài Cáo bệnh, bảo mọi người 12.Soạn bài Vận nước 13.Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (tiếp theo) 14.Soạn bài Độc Tiểu Thanh Ký 15.Soạn bài Nhàn 16.Tóm tắt văn bản tự sự lớp 10 17.Soạn bài Cảnh ngày hè 18.Soạn bài Tỏ lòng 19.Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt 20.Khái quát văn học việt nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX 21.Ôn tập văn học dân gian Việt Nam 22.Luyện tập viết đoạn văn tự sự 23.Soạn bài Lời tiễn dặn 24.Soạn bài Ca dao hài hước 25.Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 26.Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa 27.Soạn bài Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày 28.Soạn bài Tấm Cám 29.Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự 30.Soạn bài Rama buộc tội 31.Soạn bài Uylítxơ trở về 32.Lập dàn ý bài văn tự sự 33.Soạn bài Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy 34.Soạn bài Văn bản lớp 10 (tiếp theo) 35.Viết bài tập làm văn số 1 lớp 10 36.Soạn bài Văn bản lớp 10 37.Soạn bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (tiếp theo) 38.oạn bài Khái quát văn học dân gian Việt Nam 39.Soạn bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 40.Soạn bài Tổng quan văn học Việt Nam lớp 10 41.Viết bài tập làm văn số 2 Lớp 6 42.Hệ thống bài tập tiếng việt cuối bậc tiểu học 43.Cấu tạo từ Hán Việt 44.Cấu tạo tiếng – Cấu tạo vần 45.Quy tắc đánh dấu thanh 46.Quy tắc viết hoa 47.Quy tắc viết nguyên âm i y 48.Quy tắc viết phụ âm đầu “gờ”, “ngờ” 49.Quy tắc viết phụ âm đầu “cờ” 50.Chính tả phân biệt gi r d 51.Chính tả phân biệt x s 52.Chính tả phân biệt ch tr 53.Chính tả phân biệt l n 54.Phương pháp làm bài thể loại viết thư 55.Phương pháp làm bài thể loại kể chuyện 56.Làm thế nào để viết được một bài văn hay 57.Phương pháp chung khi làm bài Tập làm văn 58.Luyện tìm ý cho phần thân bài 59.Luyện viết phần kết bài 60.Luyện viết phần mở bài 61.Bài tập về phép viết đoạn 62.Bài tập về phép viết câu 63.Liên kết câu là gì? 64.Dấu câu là gì? 65.Nối các vế câu ghép bằng cặp từ hô ứng 66.Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ 67.Phân loại câu theo cấu tạo – Câu ghép 68.Câu cảm là gì? 69.Câu khiến là gì? 70.Câu kể là gì? 71.Câu hỏi là gì? 72.Các thành phần của câu 73.Câu là gì? 74.Từ nhiều nghĩa là gì? 75.Từ đồng âm là gì? 76.Từ trái nghĩa là gì? 77.Từ đồng nghĩa là gì? 78.Quan hệ từ là gì? 79.Đại từ là gì? 80.Phân biệt các danh từ, động từ, tính từ dễ lẫn lộn 81.Tính từ là gì? 82.Động từ là gì? 83.Danh từ là gì? 84.Cấu tạo từ phức 85.Cấu tạo từ 86.Hãy kể lại câu chuyện Thạch Sanh 87.Hãy kể lại câu chuyện Em bé thông minh 88.Tưởng tượng và kể lại cuộc gặp gỡ với một nhân vật trong truyện cổ tích 89.Kể lại một câu chuyện cổ tích mà em biết theo lời một nhân vật trong câu chuyện đó 90.Hãy kể tóm tắt truyện Thánh Gióng 91.Viết một đoạn văn ngắn kể về buổi đầu tiên em đi học 92.Viết một đoạn văn ngắn kể về nơi em ở
Xem thêm

Đọc thêm

Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Ngữ Văn năm 2013 (Phần 2)

Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Ngữ Văn năm 2013 (Phần 2)

Cập nhật Đề thi học kì 1 lớp 10 môn Ngữ Văn năm 2013 phần 2 gồm 2 đề (đề số 3 và đề số 4) ngày 5/12/2013  Đề thi học kì 1 lớp 10 môn ngữ văn - đề số 3 1.Câu 1 ( 2 điểm) a.Phân tích các nhân tố giao tiếp thể hiện trong câu ca dao sau: Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai b. Tìm và phân tích các biện pháp tu từ trong những ví dụ sau: - Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già               ( Tố Hữu)  - Bàn tay ta làm nên tất cả  Có sức người sỏi đá cũng thành cơm                ( Hoàng Trung Thông) 2.Câu 2( 2 điểm) Tóm tắt “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ” dựa theo nhân vật An Dương Vương 3.Câu 3 ( 6 điểm): Nỗi nhớ thương da diết, quay quắt của cô gái đối với người yêu đã biểu hiện một cách cụ thể, sinh động trong bài “ Khăn thương” . Anh( chị) hãy phân tích để làm rõ  nội dung của  bài ca dao.  Đáp án đề thi học kì 1 lớp 10 môn ngữ văn - đề số 3  Câu                                          Nội dung Điểm Câu 1 Câu a. Các nhân tố giao tiếp thể hiện trong câu ca dao sau - NVGT :Cô gái - HCGT: Trong xã hội phong kiến  - NDGT: nói lên vẻ đẹp và thân phận bị phụ thuộc.( tấm lụa đào), lên án sự bất công của XHPK đối với người phụ nữ -  Cách nói: lối mở đầu, , thể thơ lục bát, hình ảnh so sánh, ẩn dụ. Câu b. * Hoán dụ: Rừng núi - PT: Rừng núi chỉ người dân ở Việt Bắc, lấy vật thể thiên nhiên để gọi thay cho người * Hoán dụ: Bàn tay, Ẩn dụ: Sỏi đá - PT: Bàn tay chỉ bộ phận của cơ thể, T/g lấy bàn tay chỉ toàn bộ con người lao động và sức mạnh trí óc, thể lực cải tạo thiên nhiên và xã hội   1.0 0.25 0.25 0.25   0.25 1.0 0.25 0.25   0.25 0.25   Câu 2 Tóm tắt truyện dựa theo nhân vật An Dương Vương.    ADV nước Âu Lạc xây loa thành cứ đắp xong lại đổ. Sau đó nhà vua được thần rùa vàng giúp đỡ mới xây xong thành. Thần còn cho ADV chiếc vuốt để làm lấy nỏ chống giặc ngoại xâm. Triệu Đà đem quân sang xâm lược nhưng bị đánh bại. Ít lâu sau, TĐ  cầu hôn MC, TT  đã đánh tráo nỏ thần mang về nước cho TĐ, TĐ đem quân sang xâm lược Âu Lạc. Mất lấy nỏ thần, ADV thua trận bèn cùng MC chạy trốn về phươngNam. Nhà vua cầu cứu Rùa vàng được thần cho biết “kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó” hiểu người con, vua rút kiếm chém MC sau đó cầm sừng tê giác theo RV xuống biển   2.0   1.0         1.0   Câu 3   Phân tích bài ca dao * Yêu cầu về kỹ năng - Biết cách làm bài văn nghị luận văn học - Kết cấu rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, văn cảm xúc, gợi hình - Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, viết câu * Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần đạt được những ý cơ bản sau: a. Mở bài - Giới thiệu ca dao - Giới thiệu về bài ca dao khăn thương b. Thân bài - Nỗi niềm của cô gái đối với người yêu đọng lại trong tấm khăn( PT- DC): Hình ảnh biểu tượng khăn, mắt, đèn - nỗi niềm cô gái đối với người yêu -  Tâm trạng ngổn ngang, trăm mối tơ vò.Nỗi nhớ ấy dẫn đến cảnh khóc thầm.( PT -DC): Con người đang trằn trọc thâu đêm trong nỗi nhớ thương đằng đẳng với thời gian. - Nhớ thương ngừơi yêu nhưng vẫn lo lắng cho số phận của mình, duyên phận đôi lứa “Không yên 1 bề”( PT –DC) - Trong cuộc sống của người phụ nữ xưa và hệ thống của những bài ca dao than thân về hôn nhân gia đình ó Ý nghĩa: Hạnh phúc lứa đôi của họ thường bấp bênh vì tình yêu tha thiết đâu đã dẫn đến hôn nhân cụ thể nơm nớp một nỗi lo sợ. * Nghệ thuật. Hình ảnh biểu tượng. -Cách so sánh, ẩn dụ, thể thơ lục bát, song thất lục bát c. Kết bài Ngợi ca và khẳng định vẻ đẹp đời sống tâm hồn, tư tưởng tình cảm của người bình dân VN xưa trong CD-DC              6.0     0.5       1,0     1.0   1.0   1.5   0.5       0.5  Đề thi học kì 1 lớp 10 môn ngữ văn - đề số 4 1.Câu 1 ( 2 điểm) a.Phân tích các nhân tố giao tiếp thể hiện trong câu ca dao sau:               Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng:            - Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?  b. Tìm và phân tích các biện pháp tu từ trong những ví dụ sau:    - Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ      Mặt trời chân lí chói qua tim               ( Tố Hữu)  -  Sen tàn cúc lại nở hoa   Sầu dài, ngày ngắn, đông đà sang xuân          ( Nguyễn Du)   2.Câu 2( 2 điểm):Tóm tắt “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ” dựa theo nhân vật Mị Châu 3.Câu 3 ( 6 điểm): Ca dao hài hước thể hiện tâm hồn yêu đời, tinh thần lạc quan của người bình dân xưa. Anh( chị) hãy phân tích bài ca dao “Dẫn cưới” để làm rõ vấn đề trên.  Đáp án đề thi học kì 1 lớp 10 môn ngữ văn - đề số 4  Câu Nội dung Điểm Câu 1 Câu a. Các nhân tố giao tiếp thể hiện trong câu ca dao sau - NVGT: chàng trai &cô gái đều ở độ thanh xuân.0.25 - HCGT: Vào đêm trăng thanh thời gian thích hợp cho những câu chuyện tâm tình nam nữ trẻ tuổi, bộc bạch tình cảm.0.25 - NDGT: nhân vật anh nói về việc tre non đủ lá & đặt v/đ “chuyện đan sàng→ ngụ ý nói chuyện tình duyên của hai người.0.25 - Cách nói của chàng trai rất phù hợp với nd gt & mđ bởi nó vừa tế nhị dễ hiểu.0.25 Câu b.  Tìm BPTT….. *Ẩn dụ: Mặt trời chân lí, bừng nắng hạ - PT: - Bừng nắng hạ: chói chang, rực rỡ, niềm vui sướng khi TH giác ngộ lí tưởng CM.Mặt trời: ánh sáng của thiên nhiên, đảng soi đường dẫn lối tiếng reo vui khi gặp lí tưởng của Đảng  * Hoán dụ: Sen, Cúc - PT: - Sen nở vào mùa hạ.Cúc nở vào mùa thu →Tác giả lấy loài hoa chỉ mùa trong năm     1.0 0.25 0.25   0.25   0.25   1.0 0.25 0.25       0.25 0.25   Câu 2 Tóm tắt truyện dựa theo nhân vật Mị Châu.    MC là con gái ADV, sau khi vua cha xây đựơc thành và có được lẫy nỏ thần. MC được gả cho TT con trai của TĐ, người đã cử binh sang xâm lược Âu Lạc bị ADV đánh bại. Tin yêu chồng và mất cảnh giác MC bị TT đánh tráo nỏ thần. TĐ cất quân sang AL đánh bại ADV, MC theo cha chạy trốn vừa chạy vừa rắc lông ngỗng chỉ đường cho chồng.  Thần RV hiện lên báo cho nhà vua biết MC chính là giặc. Trước khi bị vua cha chém MC khấn: Nếu mình có lòng phản nghịch thì chết đi sẽ hóa thành cát bụi, mà nếu một lòng trung hiếu mà bị lừa dốí thì chết sẽ hoá thành châu ngọc. MC chết, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu 2.0   1.0       1.0                 Câu 3 Phân tích bài ca dao * Yêu cầu về kỹ năng - Biết cách làm bài văn nghị luận văn học - Kết cấu rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, văn cảm xúc, gợi hình - Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, viết câu * Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần đạt được những ý cơ bản sau: a. Mở bài - Giới thiệu - Giới thiệu về bài ca dao “Dẫn cưới” b. Thân bài - Đây là tiếng cười tự trào của người bình dân trong bài ca dao. Người lao động tư cười mình trong hoàn cảnh nghèo  - Lối nói khoa trương, phóng đại, đối lập ( PT- DC) - Chi tiết hài hước: “Miễn là  …mời làng”  nói đùa, nói vui, giàu ý nghĩa, làm vơi nhẹ nỗi vất vả  về cuộc sống thường ngày. - Một lời thách cưới “một nhà khoai lang”,thật vô tư, vô tư thanh thản mà lạc quan yêu đời.Khiến cho lời thách cưới trở nên dí dỏm, đáng yêu và cao đẹp - Triết lí nhân sinh của người lao động: đặt tình nghĩa cao hơn của cải. * Nghệ thuật. Hư cấu, dựng cảnh tài tình, khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình. -Cường điệu, phóng đại, tương phản. -Dùng ngôn từ đời thường mà đầy hàm ý. c. Kết bài Cuộc sống tuy nghèo khổ nhưng tâm hồn lạc quan yêu đời  và triết lí nhân sinh lành mạnh của người lao động VN trong CD- DC 6,0             0.5       0.5   1.0 1.0   1.5     1.0         0.5  Trên đây là tổng hợp 2 đề thi môn ngữ văn lớp 10 phần 2, Tuyensinh247 sẽ tiếp tục cập nhật phần 3 các em thường xuyên theo dõi tại đây: 
Xem thêm

Đọc thêm

bai 33: các nguyên lí nhiệt động lực học

bai 33: các nguyên lí nhiệt động lực học

các nguyên lí nhiệt động lực học, tiết 01 vật lí lớp 10 ban cơ bản mong nhận được sự đóng góp từ quý thầy cô để bài giảng ngày càng tốt hơn bài giảng nằm trong chương 6 cơ sở nhiệt động lực học lớp 10 các nguyên lí nhiệt động lực học, tiết 01 vật lí lớp 10 ban cơ bản mong nhận được sự đóng góp từ quý thầy cô để bài giảng ngày càng tốt hơn bài giảng nằm trong chương 6 cơ sở nhiệt động lực học lớp 10

Đọc thêm

Bài 34. Sự phát sinh loài người

BÀI 34. SỰ PHÁT SINH LOÀI NGƯỜI

Bài giảng liên môn với lịch sử lớp 10 kết hợp đổi mới phương pháp theo hướng phát triển năng lực học sinh

34 Đọc thêm

ĐỀ TÀI: PHỐI HỢP NHIỀU PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH TÌM HIỂU VỀ BÀI TOÁN VÀ THUẬT TOÁN

ĐỀ TÀI: PHỐI HỢP NHIỀU PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH TÌM HIỂU VỀ BÀI TOÁN VÀ THUẬT TOÁN

Trước đây chúng ta thường sử dụng phương pháp thuyết trình, vấn đáp đơn thuần trên lớp do chưa đủ phương tiện. Nhưng mới đây, được sự quan tâm của Bộ giáo dục_Sở giáo dục đào tạo đã trang bị cho các trường phổ thông một số máy tính (Computer) và máy chiếu (Projector), vì vậy chúng ta hoàn toàn có điều kiện dùng "Giáo án điện tử" để trình chiếu bài giảng cho học sinh. Tôi xin trình bày phương pháp giảng dạy của mình thông qua một ví dụ về một bài giảng cụ thể trong chương trình Tin học lớp 10, đó là bài "Tìm hiểu bài toán và thuật toán"- Đây được coi là bài học khó trong chương trình giáo khoa lớp 10 và có liên quan chặt chẽ đến kiến thức lớp 11 sau này.
Xem thêm

13 Đọc thêm

PHÂN TÍCH NHỮNG BÀI CA DAO HÀI HƯỚC

PHÂN TÍCH NHỮNG BÀI CA DAO HÀI HƯỚC

Các bài ca dao hài hước đã tạo nên tiếng cười sảng khoái cho người đọc, thông qua đó nhằm mỉa mai, châm biếm một số thói hư,tật xấu trong xã hội. Bài 1. Chuyện dẫn cưới và thách cưới ở đây không có trong đời thực. Chàng trai (nhà trai) đem đến “một con chuột béo”, “miền là có thú bốn chân"; còn cô gái (nhà gái) lại thách cưới bằng “một nhà khoai lang”.       a.  Cả chàng trai và cô gái đều đùa vui hồn nhiên. Nói chuyện cưới xin, chuyện trăm năm là một chuyện hết sức nghiêm túc nhưng vang lên tiếng cười vui vẻ, hài hước, hóm hỉnh, chứng tỏ họ đã rất hiểu hoàn cảnh của nhau và rất yêu nhau. Chỉ những người yêu nhau, không ngần ngại nghèo khó, cũng không sợ hai bên gia đình lo nghèo mới có thể đùa với nhau như thế. Một tinh thần lạc quan, trẻ trung trong cuộc sống của người lao động toát lên qua bài ca dao và để lại dư vị cho bao nhiêu người cùng cảnh ngộ. Nhất là những đôi trẻ yêu nhau, những bậc cha mẹ hai bên lo hạnh phúc cho con cái chỉ thấy cái nghèo. Cho nên đây còn là một sự cảm thông cuộc sống nghèo khó, một ngụ ý phê phán tục thách cưới nặng nề. Bên cạnh đó, điểm thú vị của bài ca dao còn ở chỗ, bộc lộ rất rõ tính cách của hai người trẻ tuổi này. Chàng trai dí dóm, thông minh, phóng khoáng. Cô gái chân chất, tần tảo, căn cơ. Chắc chắn nếu thành đôi trong đời thật, họ sẽ sống với nhau hạnh phúc và sẽ thoát nghèo.         b.  Bài ca sử dụng các biện pháp nói quá. Trong thực tế không ai dẫn cưới bằng “một con chuột béo”. Nhất là phép lập luận loại trừ, thu hẹp dần đến kết luận bất ngờ (lời chàng trai); phép liệt kê (lời cô gái) và lối “nói sang” phóng đại, áp dụng cái lí “cù nhầy” đáng yêu, khó cãi đều cùng tính chất dẫn chuyện để tạo ra tiếng cười giàu ý nghĩa.  2.  Bài 2, 3, 4. Tiếng cười trong các bài ca dao này khác với bài 1 bởi tiếng cười có tính phê phán, không phải là tiếng cười vui: Bài 1 tự trào (cười mình). Các bài còn lại, cười các loài người, thói tật trong cuộc sống cộng đồng lao động.      a.   Bài ca dao số 2, 3 đối tượng cười là những người “không đáng mặt đàn ông”. Nhưng không phải nhằm vào con người mà mục đích để chế giễu sự yếu hèn, không đảm đương được nhiệm vụ trụ cột gia đình. Cung bậc hài hước ở từng bài cũng khác nhau. Bài 2, bằng phép đòn bẩy, tương phản, nói quá là một cái bĩu môi của cô gái đáo để. Bài 3, so sánh tương phản nói quá lên, nhưng là giọng ngậm ngùi thân ái.          Bài ca dao số 4, đối tượng cười có người cho là tình yêu mù quáng của anh chồng đối với vợ. Vì quá yêu nên xấu cũng thành đẹp. Thực ra ngụ ý dân gian không chỉ như vậy. Chủ ý là chê cười những người đàn bà thô vụng. Cũng giống như bài “Cô gái Sơn Tây, yếm thủng tày dần / Răng đen nhạt nhót, chân đi cù nèo / Tóc rễ tre, cô chải lược bờ cào..." Thêm vào đó còn một chút tán thưởng cái rộng lượng của tình yèu chồng vợ dù có khi không thật xứng đôi vừa lứa, ưng ý nhau, dù người này hay người kia có khiếm khuyết. Lấy nhau mà yêu nhau thì nhìn nhau, đánh giá nhau bằng con mắt như thế - con mắt của trái tim hào sảng. Có phê phán nhưng thân mật, vui vẻ. Đây chính là vẻ đẹp của tâm hồn lao động. b.   Nét riêng về nghệ thuật của mỗi bài ca dao. + Bài số 2 sử dụng lối nói ngược (“Làm trai cho đáng sức trai" mà lại chỉ “gánh hai hạt vừng”), nói quá “gánh hai hạt vừng”?). + Bài số 3 sử dụng biện pháp tương phản (giữa “chồng người” với “chồng em”), và cũng có cả biện pháp nói quá (“ngồi bếp” đế’ “sờ đuôi con mèo”?). + Bài số 4 cũng dùng biện pháp nói quá nhưng là 2 lần nói quá (đồng nói quá): vừa nói quá về cái xấu của cô vợ, lại vừa nói quá về tình yêu của ông chồng. Cái hấp dẫn của màn hài hước là ở chỗ sự cường điệu diễn ra song hành, không có điểm dừng, cho thấy tình yêu của anh chồng cũng thiên vị không có điểm dừng. 3.  Ca dao hài hước thường sử dụng các biện pháp nghệ thuật như: tương phản, nói ngược, nói quá, chơi chữ... Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Hướng dẫn soạn bài : Ca dao hài hước

HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI : CA DAO HÀI HƯỚC

CA DAO HÀI HƯỚC I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Những bài ca dao đư­ợc giới thiệu trong bài này tiêu biểu cho tiếng cư­ời giải trí, tiếng cư­ời tự trào và tiếng cư­ời châm biếm, phê phán xã hội. 2. Tiếng cư­ời tự trào (tự cư­ời mình) là tiếng cư­ời lạc quan yêu đời của ngư­ời lao động. Họ đã lấy chính cái nghèo của mình để tự trào một cách hồn nhiên, hóm hỉnh. Dù cuộc sống nghèo hèn như­ng họ đã vư­ợt lên để sống một cách lạc quan bằng cách "thi vị hóa" cuộc sống của mình. 3. Tiếng cư­ời giải trí là tiếng cư­ời của niềm lạc quan yêu đời, là sản phẩm của óc hài ư­ớc và trào lộng của nhân dân ta. Tiếng cư­ời giải trí cũng là một cách để quên đi những bộn bề lo âu vất vả của cuộc sống hàng ngày. 4. Tiếng c­ười phê phán, châm biếm là tiếng cư­ời hư­ớng vào những thói xấu trong một bộ phận quần chúng nhân dân nhằm đả kích, cải biến nó hoặc tiêu diệt nó (những hạng ngư­ời lư­ời nhác, ham ăn, những thầy bói dởm, những quan lại bất tài, những người phụ nữ đỏng đảnh, trăng hoa...). Các bài ca dao hài ­ớc đều có cách khắc họa nhân vật rất điển hình, sử dụng nhiều yếu tố, chi tiết c­ời điệu hóa, cách dựng cảnh rất bài tình... để tạo ra những nét hài ­ớc hóm hỉnh mà châm biếm sâu cay. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Có thể sắp xếp bốn bài ca dao thành 2 nhóm : - Nhóm tiếng cư­ời tự trào : bài số 1. - Nhóm tiếng cư­ời châm biếm, phê phán xã hội: các bài 2, 3, 4. 2. a) Cưới xin hôn lễ là một chuyện vô cùng hệ trọng và có ý nghĩa đối với cuộc đời của mỗi con người. Nó thường được chuẩn bị chu đáo và cẩn thận. Thế nhưng việc dẫn cư­ới và thách cư­ới ở đây đều rất khác thư­ờng. Thực ra nó là hai màn tự trào về cảnh nghèo của ngư­ời lao động. Chàng trai mở đầu màn dẫn cư­ới bằng rất nhiều điều "to tát"(dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò). Thế như­ng chàng lại viện đủ lí do (mà lí do nào cũng hợp lí: dẫn voi…sợ quốc cấm, dẫn trâu…sợ họ máu hàn, dẫn bò…sợ họ nhà nàng co gân) để khư­ớc từ tất cả những việc làm này. Vậy là đám cư­ới lí ra có voi, có trâu, có bò như­ng rồi chẳng có gì cả. Không những vậy, chàng trai kia còn táo bạo “nhất quyết” đùa cợt đến cùng: Miễn là có thú bốn chân Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng Lời đáp của cô gái cũng… chẳng vừa. Thách cư­ới mà lại thách "một nhà khoai lang" thì dễ đấy như­ng cũng có khác nào làm khó người ta. Song điều quan trọng không phải ở điểm này mà là ở chỗ cô gái hiểu "hoàn cảnh" của nhà em và nhà anh… cũng giống nhau thôi. Và nh­ư thế đám cư­ới chỉ cần một "nhà khoai lang" là cũng quá đủ rồi. Qua lời thách cư­ới và lời dẫn cư­ới, chúng ta có thể thấy ở đây ngư­ời nông dân đã mang cái nghèo của chính mình ra để mà đùa cợt. Tiếng c­ời ấy hư­ớng vào chính họ như­ng cũng là để cho họ quên đi cảnh khổ mà  lạc quan yêu đời và ham sống hơn. b) Bài ca dao có giọng hài ư­ớc dí dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật : - Lối nói khoa trư­ơng phóng đại : dẫn voi, trâu, bò, nhà khoai lang... - Lối nói giảm dần : voi đ trâu đ bò đ chuột                                 củ to đ củ nhỏ đ củ mẻ đ củ rím, củ hà. - Cách nói đối lập, phủ định : + dẫn voi/ sợ quốc cấm + dẫn trâu/ sợ họ máu hàn + dẫn bò/ sợ họ co gân + dẫn lợn gà/ khoai lang - Chi tiết hài ư­ớc, giàu liên tư­ởng: Miễn là có thú bốn chân Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng. 3. So với tiếng cư­ời trong bài 1, tiếng cư­ời ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cư­ời đả kích, châm biến, phê phán xã hội. Nó hư­ớng vào những thói hư­ tật xấu của một bộ phận trong nội bộ nhân dân. Những tật xấu ở đây tuy không đến mức bị đả kích một cách quyết liệt. Như­ng trong khi nhẹ nhàng, thân tình nhắc nhở, thái độ của nhân dân ta cũng không kém phần sâu sắc. Hai đối tượng được dẫn ra để cười cợt ở đây là những người chồng lười nhác, vô dụng và những người vợ vô duyên xấu tính nhưng lại ưa nịnh hót. Có thể thấy nét riêng hài ước  của từng bài : - Bài 2 và 3 chế giễu loại đàn ông yếu đuối, l­ời nhác trong xã hội :  + Bức tranh thứ nhất : Làm trai cho đáng sức trai Khom lư­ng chống gối, gánh hai hạt vừng. Tiếng cư­ời trong câu thơ này bật lên từ nghệ thuật phóng đại và thủ pháp đối lập. Ngư­ời ta có thể yếu ớt như­ng chắc chắn không ai yếu đến mức "khom lư­ng chống gối" (ráng hết sức) để "gánh hai hạt vừng" (hai vật quá nhỏ) như­ vậy. Vậy ra cách nói kia chỉ là một so sánh kín đáo để chế nhạo những kẻ lười nhác trong lao động. Thông điệp mà bài ca dao muốn nhắc nhở những hạng ngư­ời kia là hãy sống sao cho mạnh mẽ, vững vàng. Làm trai không được ỷ lại, không nên sống nhờ vào người khác. + Bức tranh thứ hai : Chồng người đi ng­ợc về xuôi Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo. H­ướng mũi tên đả kích vào loại đàn ông l­ời nhác, không có chí lớn. Nó có khác gì chú mèo kia cứ hàng ngày ăn rồi lại nằm cuộn tròn nơi xó bếp. Là ngư­ời chủ của gia đình mà l­ời nhác, vô tích sự như­ thế thì hỡi ôi! thảm hại biết chừng nào. - Bài 4 là bài ca dao chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Tiếng c­ười của bài ca dao lại một lần nữa chủ yếu được xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên t­ưởng phong phú của tác giả dân gian. Đằng sau tiếng c­ười hài ư­ớc, giải trí, mua vui, tác giả dân gian vẫn muốn thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng tới loại phụ nữ vô duyên đỏng đảnh - một loại ngư­ời không phải không có trong xã hội. 4. Những biện pháp nghệ thuật thư­ờng đ­ược sử dụng trong ca dao hài ­ước: - Cư­ờng điệu phóng đại, t­ương phản đối lập. - Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao. - Dùng ngôn ngữ đời thư­ờng như­ng thâm thúy và sâu sắc. - Có nhiều liên t­ưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú. 5. Lời thách cư­ới của cô gái : "Nhà em thách c­ưới một nhà khoai lang" là một lời ứng xử khôn khéo, thông minh. Như­ trên đã phân tích, cô gái không những không mặc cảm mà còn bằng lòng với cảnh nghèo, tỏ ra vui và thích thú trong lời thách cư­ới (dù chỉ là lời đối đáp nam nữ trong dân ca). Lời thách cư­ới ấy là tiếng cư­ời tự trào của ngư­ời lao động. Nó tô đậm vẻ đẹp tâm hồn, sự vô tư­, hồn nhiên và niềm lạc quan yêu đời của họ ngay trong cảnh nghèo nàn. 6. Tham khảo một số bài ca dao hài ­ước phê phán dư­ới đây: - Lấy chồng cho đỡ nắng m­ưa Chẳng ngờ chồng lại ngủ tr­ưa đến giờ. - Gái sao chồng đánh chẳng chừa Đi chợ vẫn giữ cùi dừa bánh đa. - Bực mình chẳng muốn nói ra Muốn đi ăn cỗ chẳng ma nào mời - Anh đừng chê thiếp xấu xa, Bởi ch­ưng bác mẹ sinh ra thế này. Anh ham xóc đĩa cò quay, Máu mê cờ bạc, lại hay r­ượu chè. - Lấy chồng từ thuở m­ời lăm Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi. - Sông bao nhiêu n­ước cũng vừa Trai bao nhiêu vợ cũng ch­ưa bằng lòng - Tối tối chị giữ mất buồng Cho em manh chiếu, nằm suông chuồng bò Mong chồng chồng chẳng xuống cho Đến cơn chồng xuống gà o o gáy dồn. - Thầy cúng ngồi cạnh gi­ường thờ Mồm thì lẩm bẩm tay sờ đĩa xôi. - Số cô chẳng giàu thì nghèo Ngày ba m­ơi tết thịt treo trong nhà Số cô có mẹ có cha                                              Mẹ cô đàn bà cha cô đàn ông...
Xem thêm

4 Đọc thêm

Soạn bài Ca dao hài hước

SOẠN BÀI CA DAO HÀI HƯỚC

1. Những bài ca dao đư­ợc giới thiệu trong bài này tiêu biểu cho tiếng cư­ời giải trí, tiếng cư­ời tự trào và tiếng cư­ời châm biếm, phê phán xã hội. 2. Tiếng cư­ời tự trào (tự cư­ời mình) là tiếng cư­ời lạc quan yêu đời của ngư­ời lao động. Họ đã lấy chính cái nghèo của mình để tự trào một cách hồn nhiên, hóm hỉnh. Dù cuộc sống nghèo hèn như­ng họ đã vư­ợt lên để sống một cách lạc quan bằng cách “thi vị hóa” cuộc sống của mình. 3. Tiếng cư­ời giải trí là tiếng cư­ời của niềm lạc quan yêu đời, là sản phẩm của óc hài ư­ớc và trào lộng của nhân dân ta. Tiếng cư­ời giải trí cũng là một cách để quên đi những bộn bề lo âu vất vả của cuộc sống hàng ngày. 4. Tiếng c­ười phê phán, châm biếm là tiếng cư­ời hư­ớng vào những thói xấu trong một bộ phận quần chúng nhân dân nhằm đả kích, cải biến nó hoặc tiêu diệt nó (những hạng ngư­ời lư­ời nhác, ham ăn, những thầy bói dởm, những quan lại bất tài, những người phụ nữ đỏng đảnh, trăng hoa…). Các bài ca dao hài ­ớc đều có cách khắc họa nhân vật rất điển hình, sử dụng nhiều yếu tố, chi tiết c­ời điệu hóa, cách dựng cảnh rất bài tình… để tạo ra những nét hài ­ớc hóm hỉnh mà châm biếm sâu cay. II. RÈN KĨ NĂNG 1. Có thể sắp xếp bốn bài ca dao thành 2 nhóm : - Nhóm tiếng cư­ời tự trào : bài số 1. - Nhóm tiếng cư­ời châm biếm, phê phán xã hội: các bài 2, 3, 4. 2. a) Cưới xin hôn lễ là một chuyện vô cùng hệ trọng và có ý nghĩa đối với cuộc đời của mỗi con người. Nó thường được chuẩn bị chu đáo và cẩn thận. Thế nhưng việc dẫn cư­ới và thách cư­ới ở đây đều rất khác thư­ờng. Thực ra nó là hai màn tự trào về cảnh nghèo của ngư­ời lao động. Chàng trai mở đầu màn dẫn cư­ới bằng rất nhiều điều “to tát”(dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò). Thế như­ng chàng lại viện đủ lí do (mà lí do nào cũng hợp lí: dẫn voi…sợ quốc cấm, dẫn trâu…sợ họ máu hàn, dẫn bò…sợ họ nhà nàng co gân) để khư­ớc từ tất cả những việc làm này. Vậy là đám cư­ới lí ra có voi, có trâu, có bò như­ng rồi chẳng có gì cả. Không những vậy, chàng trai kia còn táo bạo “nhất quyết” đùa cợt đến cùng: Miễn là có thú bốn chân Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng Lời đáp của cô gái cũng… chẳng vừa. Thách cư­ới mà lại thách “một nhà khoai lang” thì dễ đấy như­ng cũng có khác nào làm khó người ta. Song điều quan trọng không phải ở điểm này mà là ở chỗ cô gái hiểu “hoàn cảnh” của nhà em và nhà anh… cũng giống nhau thôi. Và nh­ư thế đám cư­ới chỉ cần một “nhà khoai lang” là cũng quá đủ rồi. Qua lời thách cư­ới và lời dẫn cư­ới, chúng ta có thể thấy ở đây ngư­ời nông dân đã mang cái nghèo của chính mình ra để mà đùa cợt. Tiếng c­ời ấy hư­ớng vào chính họ như­ng cũng là để cho họ quên đi cảnh khổ mà  lạc quan yêu đời và ham sống hơn. b) Bài ca dao có giọng hài ư­ớc dí dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật : - Lối nói khoa trư­ơng phóng đại : dẫn voi, trâu, bò, nhà khoai lang… - Lối nói giảm dần : voi -> trâu -> bò -> chuột củ to -> củ nhỏ -> củ mẻ -> củ rím, củ hà. - Cách nói đối lập, phủ định : + dẫn voi/ sợ quốc cấm + dẫn trâu/ sợ họ máu hàn + dẫn bò/ sợ họ co gân + dẫn lợn gà/ khoai lang - Chi tiết hài ư­ớc, giàu liên tư­ởng: Miễn là có thú bốn chân Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng.   3. So với tiếng cư­ời trong bài 1, tiếng cư­ời ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cư­ời đả kích, châm biến, phê phán xã hội. Nó hư­ớng vào những thói hư­ tật xấu của một bộ phận trong nội bộ nhân dân. Những tật xấu ở đây tuy không đến mức bị đả kích một cách quyết liệt. Như­ng trong khi nhẹ nhàng, thân tình nhắc nhở, thái độ của nhân dân ta cũng không kém phần sâu sắc. Hai đối tượng được dẫn ra để cười cợt ở đây là những người chồng lười nhác, vô dụng và những người vợ vô duyên xấu tính nhưng lại ưa nịnh hót. Có thể thấy nét riêng hài ước  của từng bài : - Bài 2 và 3 chế giễu loại đàn ông yếu đuối, l­ời nhác trong xã hội : + Bức tranh thứ nhất : Làm trai cho đáng sức trai Khom lư­ng chống gối, gánh hai hạt vừng. Tiếng cư­ời trong câu thơ này bật lên từ nghệ thuật phóng đại và thủ pháp đối lập. Ngư­ời ta có thể yếu ớt như­ng chắc chắn không ai yếu đến mức “khom lư­ng chống gối” (ráng hết sức) để “gánh hai hạt vừng” (hai vật quá nhỏ) như­ vậy. Vậy ra cách nói kia chỉ là một so sánh kín đáo để chế nhạo những kẻ lười nhác trong lao động. Thông điệp mà bài ca dao muốn nhắc nhở những hạng ngư­ời kia là hãy sống sao cho mạnh mẽ, vững vàng. Làm trai không được ỷ lại, không nên sống nhờ vào người khác. + Bức tranh thứ hai : Chồng người đi ng­ợc về xuôi Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo. H­ướng mũi tên đả kích vào loại đàn ông l­ời nhác, không có chí lớn. Nó có khác gì chú mèo kia cứ hàng ngày ăn rồi lại nằm cuộn tròn nơi xó bếp. Là ngư­ời chủ của gia đình mà l­ời nhác, vô tích sự như­ thế thì hỡi ôi! thảm hại biết chừng nào. - Bài 4 là bài ca dao chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Tiếng c­ười của bài ca dao lại một lần nữa chủ yếu được xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên t­ưởng phong phú của tác giả dân gian. Đằng sau tiếng c­ười hài ư­ớc, giải trí, mua vui, tác giả dân gian vẫn muốn thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng tới loại phụ nữ vô duyên đỏng đảnh – một loại ngư­ời không phải không có trong xã hội. 4. Những biện pháp nghệ thuật thư­ờng đ­ược sử dụng trong ca dao hài ­ước: - Cư­ờng điệu phóng đại, t­ương phản đối lập. - Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao. - Dùng ngôn ngữ đời thư­ờng như­ng thâm thúy và sâu sắc. - Có nhiều liên t­ưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú. 5. Lời thách cư­ới của cô gái : “Nhà em thách c­ưới một nhà khoai lang” là một lời ứng xử khôn khéo, thông minh. Như­ trên đã phân tích, cô gái không những không mặc cảm mà còn bằng lòng với cảnh nghèo, tỏ ra vui và thích thú trong lời thách cư­ới (dù chỉ là lời đối đáp nam nữ trong dân ca). Lời thách cư­ới ấy là tiếng cư­ời tự trào của ngư­ời lao động. Nó tô đậm vẻ đẹp tâm hồn, sự vô tư­, hồn nhiên và niềm lạc quan yêu đời của họ ngay trong cảnh nghèo nàn. 6. Tham khảo một số bài ca dao hài ­ước phê phán dư­ới đây: - Lấy chồng cho đỡ nắng m­ưa Chẳng ngờ chồng lại ngủ tr­ưa đến giờ. - Gái sao chồng đánh chẳng chừa Đi chợ vẫn giữ cùi dừa bánh đa. - Bực mình chẳng muốn nói ra Muốn đi ăn cỗ chẳng ma nào mời - Anh đừng chê thiếp xấu xa, Bởi ch­ưng bác mẹ sinh ra thế này. Anh ham xóc đĩa cò quay, Máu mê cờ bạc, lại hay r­ượu chè. - Lấy chồng từ thuở m­ời lăm Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi. - Sông bao nhiêu n­ước cũng vừa Trai bao nhiêu vợ cũng ch­ưa bằng lòng - Tối tối chị giữ mất buồng Cho em manh chiếu, nằm suông chuồng bò Mong chồng chồng chẳng xuống cho Đến cơn chồng xuống gà o o gáy dồn. - Thầy cúng ngồi cạnh gi­ường thờ Mồm thì lẩm bẩm tay sờ đĩa xôi. - Số cô chẳng giàu thì nghèo Ngày ba m­ơi tết thịt treo trong nhà Số cô có mẹ có cha Mẹ cô đàn bà cha cô đàn ông… loigiaihay.com  
Xem thêm

3 Đọc thêm

CA DAO hài hước tuổi học trò

CA DAO HÀI HƯỚC TUỔI HỌC TRÒ

CA DAO HÀI HƯỚCI. KIẾN THỨC CƠ BẢN1. Những bài ca dao được giới thiệu trong bài này tiêu biểu cho tiếng cười giải trí, tiếng cười tự trào và tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội.2. Tiếng cười tự trào (tự cười mình) là tiếng cười lạc quan yêu đời của người lao động. Họ đã lấy chính cái nghèo của mình để tự trào một cách hồn nhiên, hóm hỉnh. Dù cuộc sống nghèo hèn nhưng họ đã vượt lên để sống một cách lạc quan bằng cách "thi vị hóa" cuộc sống của mình.3. Tiếng cười giải trí là tiếng cười của niềm lạc quan yêu đời, là sản phẩm của óc hài ước và trào lộng của nhân dân ta. Tiếng cười giải trí cũng là một cách để quên đi những bộn bề lo âu vất vả của cuộc sống hàng ngày.4. Tiếng cười phê phán, châm biếm là tiếng cười hướng vào những thói xấu trong một bộ phận quần chúng nhân dân nhằm đả kích, cải biến nó hoặc tiêu diệt nó (những hạng người lười nhác, ham ăn, những thầy bói dởm, những quan lại bất tài, những người phụ nữ đỏng đảnh, trăng hoa...).Các bài ca dao hài ớc đều có cách khắc họa nhân vật rất điển hình, sử dụng nhiều yếu tố, chi tiết cời điệu hóa, cách dựng cảnh rất bài tình... để tạo ra những nét hài ớc hóm hỉnh mà châm biếm sâu cay “nội dung được trích dẫn từ 123doc.vn - cộng đồng mua bán chia sẻ tài liệu hàng đầu Việt Nam”
Xem thêm

4 Đọc thêm

BÀI GIẢNG TIN HỌC LỚP 9 - PHẦN MỀM TRÌNH CHIẾU

BÀI GIẢNG TIN HỌC LỚP 9 - PHẦN MỀM TRÌNH CHIẾU

HOẠT ĐỘNG 2:Tìm hiểu các công cụ hổ trợ xưa và nay GV yêu cầu HS đọc bài đọc thêm 5 - GV hướng dẫn HS hoạt động nhóm dựa vào bài đọc thêm số 5 để trả lời câu hỏi: + Các công cụ hỗ trợ tr[r]

2 Đọc thêm

Cùng chủ đề