BỆNH LÙN SỌC ĐEN TRÊN CÂY NGÔ

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "BỆNH LÙN SỌC ĐEN TRÊN CÂY NGÔ":

Tuyển chọn giống lúa kháng rầy lưng trắng và xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp ở Thừa Thiên Huế

Tuyển chọn giống lúa kháng rầy lưng trắng và xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp ở Thừa Thiên Huế

1 MỞ ĐẦU 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng nhất nuôi sống con người, khoảng 3/4 dân số thế giới và 3 tỷ người ở Châu Á sống chủ yếu dựa vào lúa gạo. Trung bình mỗi năm lượng khách hàng tiêu thụ lúa gạo trên thế giới tăng thêm 50 triệu người, theo dự báo năm 2025 nhu cầu lúa gạo sẽ tăng 40% so với năm 2005 (Khush, 2006). Những năm gần đây, biến đổi khí hậu toàn cầu đã tác động trực tiếp đến sản xuất lúa gạo và ảnh hưởng đến vấn đề an ninh lương thực toàn cầu. Cùng với những hiện tượng xâm nhập mặn, hạn hán, lũ lụt thì dịch hại cũng là trở ngại lớn cho quá trình sản xuất lúa trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Trong các loài dịch hại trên lúa, rầy được xem là đối tượng dịch hại nghiêm trọng hàng đầu ở các quốc gia trồng lúa châu Á (Sun và cs, 2005; Brar và cs, 2009; Catindig và cs, 2009). Rầy không chỉ gây hại trực tiếp mà còn là môi giới truyền nhiều loại bệnh do virus gây ra trên cây lúa. Sự gây hại của rầy trên đồng ruộng có thể làm tổn thất đến 60% năng suất lúa (Lang và cs, 2003). Nhiều thập kỷ qua, để diệt rầy hại lúa biện pháp hóa học được xem là một biện pháp hữu hiệu vì nó mang lại hiệu quả nhanh nên phù hợp với tâm lý của người dân. Tuy nhiên, sử dụng thuốc hóa học liên tục trên đồng ruộng đã hình thành nên các chủng rầy kháng thuốc, dẫn đến hiện tượng tái phát dịch hại (Kenmore, FAO, 2011), tiêu diệt nhiều kẻ thù tự nhiên và hủy hoại sinh thái ruộng lúa (Sogawa, 2004). Ngoài ra, dư lượng thuốc hóa học còn tác động đến sức khỏe con người và các loài sinh vật khác. Vì vậy, không thể xem biện pháp hóa học là tối ưu mà cần có sự kết hợp hài hòa các biện pháp trong quản lý rầy hại lúa. Quản lý tổng hợp rầy hại lúa là biện pháp tin cậy, hiệu quả và phù hợp với xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững (Sun và cs, 2005; Gurr, 2009). Trong đó, sử dụng giống lúa kháng rầy được xem là biện pháp chủ động và thân thiện với môi trường (Padmarathi và cs, 2007). Vì vậy, nghiên cứu giống lúa kháng rầy nhiệm vụ cấp thiết được đặt lên hàng đầu với những nhà chọn giống không chỉ ở Việt Nam mà của nhiều quốc gia trồng lúa trên Thế giới. Thêm vào đó, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác lúa theo hướng quản lý cây trồng tổng hợp cũng là việc làm cần quan tâm để sản xuất các giống kháng rầy bền vững trên đồng ruộng. Rầy lưng trắng (Sogatella furcifera Horvath) là sâu hại lúa quan trọng ở các vùng trồng lúa trên cả nước. Ngoài gây hại trực tiếp là chích hút dịch làm cho cây lúa sinh 2 trưởng phát triển kém, làm chậm quá trình đẻ nhánh, gây vàng lá, cây lúa còi cọc, RLT còn là môi giới truyền bệnh virus lùn sọc đen (Hà Viết Cường và cs, 2010; Đào Nguyên, 2010; Trịnh Thạch Lam, 2011). Năm 2009, sự bùng phát RLT trên đồng ruộng kéo theo sự xuất hiện của bệnh lùn sọc đen phương Nam hại lúa ở các tỉnh từ Bình Định đến Đồng bằng sông Hồng đã làm cho đối tượng này trở nên nguy hiểm hơn. Trước thực trạng đó, thông tư số 58/2010/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về quy định phòng, trừ bệnh lùn sọc đen trên lúa đã ban hành và xác định để phòng trừ bệnh lúa lùn sọc đen thì chủ yếu dựa vào việc quản lý môi giới truyền bệnh là RLT hại lúa. Từ năm 2007 đến 2010, RLT đã trở thành dịch hại chiếm ưu thế trên đồng ruộng và dần dần thay thế rầy nâu (Hà Viết Cường và cs, 2010). Tại Thừa Thiên Huế, từ năm 2010 - 2013, diện tích lúa nhiễm rầy có xu hướng tăng dần và RLT ngày càng chiếm ưu thế trên đồng ruộng. Năm 2010, toàn tỉnh có 2.014 ha lúa nhiễm rầy (RLT chiếm 37,5%); đến năm 2013, diện tích lúa nhiễm rầy là 14.699,8 ha, chiếm 53,7% diện tích trồng lúa của tỉnh và RLT chiếm đến 46%, đặc biệt có đến 3.051 ha nhiễm nặng và 14 ha lúa bị mất trắng. Trong khi đó, các giống lúa gieo trồng phổ biến hiện nay tại địa phương như Khang dân, Xi21, Xi23, IR38, HT1, TH5, BT7, HC4, HT6 đều bị nhiễm rầy ở mức nhẹ đến trung bình, với mật độ rầy gây hại phổ biến từ 750 - 1.500 con/m 2 , cục bộ gây hại với mật độ >10.000 con/m (Cái Văn Thám, 2014). Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu về giống lúa kháng RLT và các biện pháp kỹ thuật canh tác giống lúa kháng rầy ở Thừa Thiên Huế còn rất hạn chế. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Tuyển chọn giống lúa kháng rầy lưng trắng và xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp ở Thừa Thiên Huế. 1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1.2.1. Mục tiêu chung Tuyển chọn giống lúa kháng RLT phù hợp với điều kiện sinh thái ở Thừa Thiên Huế nhằm hạn chế phun thuốc trừ rầy trên đồng ruộng, đảm bảo sản xuất lúa gạo an toàn, phù hợp với xu hướng phát triển bền vững tại địa phương. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể - Tuyển chọn được 1 - 2 giống lúa có khả năng kháng RLT có thời gian sinh trưởng ngắn, ít nhiễm sâu bệnh hại khác, năng suất và chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sản xuất ở Thừa Thiên Huế. 2
Xem thêm

Đọc thêm

BÁO HẠI BỆNH hại cây NGÔ

BÁO HẠI BỆNH hại cây NGÔ

Qua điều tra cơ bản nước ta có khoảng 30 loài bệnh phổ biến trên ngô. Trong đó có một số loại bệnh chủ yếu nhất như bệnh khô vằn, bệnh đồm lá lớn,bệnh đốm lá nhỏ, bệnh gỉ sắt, bệnh phấn đen, bệnh bạch tạng…..Sau đây, nhóm chúng em xin trình bày với cô và các bạn 3 loại bệnh hại ngô trong số 30 loài bệnh đó: 1. Bệnh khô vằn hại ngô Bệnh khô vằn là bệnh hại quan trọng nhất trên các giống ngô mới đang được trồng ở nước ta. Bệnh có thể làm giảm 6.391.8% tuỳ theo chiều cao vị trí vết bệnh và chiều cao vị trí đóng bắp. 1.1 Triệu chứng bệnh: Bệnh hại chủ yếu ở thân, bẹ lá, bắp ngô. Vết bệnh không có hình dạng nhất định, lan rộng như vết lan ben, hình đám mây, vằn da hổ, màu xám lục. Bệnh lan dần từ gốc thân, các lá bẹ ở dưới gốc lên gần các đoạn phía trên cho tới áo bắp ngô làm cho các bộ phận bị bệnh: bẹ và lá úa vàng khô lụi sớm, bắp nhỏ thối khô. Bệnh nặng có thể làm giảm năng suất rõ rệt.
Xem thêm

Đọc thêm

NGHIÊN CỨU TẠO DÒNG NGÔ ĐƠN BỘI KÉP (DH) BẰNG PHƯƠNG PHÁP IN VIVO

NGHIÊN CỨU TẠO DÒNG NGÔ ĐƠN BỘI KÉP (DH) BẰNG PHƯƠNG PHÁP IN VIVO

Họ c viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1 MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Ngô (Zea mays L.) là một trong năm loại cây ngũ cốc quan trọng và là cây trồng có tiềm năng năng suất cao. Trên thế giới, ngô được xếp hàng thứ 2 về diện tích sản xuất và đứng thứ nhất về năng suất cũng như sản lượng cây trồng lấy hạt. Tại Việt Nam, ngô là cây lương thực đứng vị trí thứ hai sau cây lúa và có khả năng thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái khác nhau. Trong hạt ngô còn chứa hàm lượng dinh dưỡng cao đặc biệt như tinh bột, các axit amin không thay thế (Leusin, Isoleusin, Tyrosin, Threonin, Lyzin....) Những năm gần đây, nhu cầu sử dụng ngô cho công nghiệp thực phẩm và chế biến ngày càng tăng, đặc biệt là trong công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, công tác sản xuất ngô chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của cả nước. Một phần hạn chế là do năng suất, chất lượng ngô giống thấp và sâu bệnh hại. Để tạo được các giống ngô lai có năng suất cao, ổn định và thích nghi với các vùng sinh thái khác nhau thì yêu cầu số một phải là có bố mẹ có độ đồng hợp tử cao, khả năng kết hợp cao thể hiện ưu thế lai cao. Tuy nhiên theo phương pháp truyền thống thường đòi hỏi từ 68 thế hệ tự thụ để thu được mức đồng hợp tử mong muốn (Michael Morris và cs, 2003). Việc này yêu cầu một quá trình chọn tạo lâu dài và tốn kém. Hiện nay, nhờ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đặc biệt là công nghệ sinh học và di truyền phân tử, công tác chọn tạo dòng đơn bội kép có độ thuần cao trong thời gian rất ngắn (chỉ còn 1 thế hệ) (Lê Huy Hàm và cs, 2005). Trong khi, phương pháp nuôi cấy tạo dòng đơn bội kép in vitro nuôi cấy bao phấn, nuôi cấy noãn chưa thụ tinh không đạt được những kết quả khả quan. Thì việc tạo dòng đơn bội kép in vivo đã được chứng minh có hiệu quả cao hơn; các công trình nghiên cứu tạo dòng đơn bội kép nhờ sử dụng dòng kích tạo đơn bội và đa bội hóa bằng colchicines được công bố là cho các dòng đơn bội hoàn toàn. Chase (1952) nghiên cứu sự tự đơn bội ở nguồn gen ngô CornBelt của Mỹ cho thấy tỷ lệ cây đơn bội trong tự nhiên là 0,1%; một tỷ lệ quá thấp để áp dụng trong thương mại. Sau đó Coe (1959) tìm thấy dòng thuần gọi là Stock6 với tỷ lệ kích tạo 1 2%. Đây
Xem thêm

82 Đọc thêm

PHƯƠNG PHÁP VÀ THÀNH TỰU CHUYỂN GEN TRÊN CÂY NGÔ

PHƯƠNG PHÁP VÀ THÀNH TỰU CHUYỂN GEN TRÊN CÂY NGÔ

A. MỞ ĐẦU Cây ngô là một trong những cây lương thực quan trọng không chỉ đối với thế giới mà còn quan trọng đối với cả Việt Nam. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn diện tích trồng ngô tại Việt Nam trong những năm gần đây có giảm, nhưng vẫn đạt vào khoảng 1,1 triệu ha năm, năng suất bình quân gần 4,0 tấn ha vụ, sản lượng chưa đến 4,0 triệu tấn, vì thất thoát trên đồng ruộng do sâu bệnh (nấm, mối, mọt) sau thu hoạch ước tính thất thoát từ 10 13%. Trong khi đó nhu cầu sử dụng ngô cho ngành chăn nuôi lên đến 5,5 triệu tấn. Và, Việt Nam hàng năm phải bỏ ra nửa tỷ USD để nhập khẩu ngô hạt. Theo số liệu mới nhất của tổng cục thống kê năm 2008 giá trị thu nhập nguyên liệu thô (ngô, đậu tương) cho sản xuất thức ăn chăn nuôi lên tới 1,3 tỷ USD 12. Hàng trăm năm qua con người đã luôn tìm kiếm các phương pháp để cải tiến cây trồng với mục tiêu tăng năng suất cũng như chất lượng. Mặc dù các phương pháp chọn tạo truyền thống đã mang lại nhiều thành tựu trong công tác phát triển giống cây trồng nông nghiệp, nhưng dường như vẫn chưa thỏa mãn những yêu cầu của thực tế. Công nghệ gen ra đời được ví như “chìa khóa đa năng” để mở những nút thắt vốn gây rất nhiều khó khăn cho các nhà chọn tạo giống truyền thống nhằm tạo ra một giống cây trồng “hoàn hảo” hơn khi chúng được kết hợp với nhau. Tính trạng mong muốn sẽ được tạo ra bằng cách đưa một đoạn gen vào hệ gen của cây bằng cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua kỹ thuật chuyển gen. Vì vậy, việc nghiên cứu cây ngô biến đổi gen đang được đầu tư mạnh mẽ. Đến nay, sau 19 năm đưa vào canh tác, cây ngô biến đổi gen đang mang lại những hiệu quả rõ rệt như tăng năng suất, cải thiện chất lượng, giảm ô nhiễm môi trường, nâng cao thu nhập cho người dân,… Cây ngô biến đổi gen đang chiếm một diện tích đáng kể trên toàn cầu và hứa hẹn còn tiếp tục phát triển trong những năm tới. Việc nắm bắt khoa học và theo kịp công nghệ của thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp đang là một thách thức. Việt Nam chúng ta đã có những nghiên cứu tạo ra các giống ngô biến đổi gen tốt nhưng chưa theo kịp được thế giới, chúng ta vẫn đang phải nhập khẩu các giống ngô biến đổi gen có nhiều đặc tính quý (như tính chịu hạn, tính đề kháng với thuốc trừ sâu, và khả năng kháng sâu bệnh). Vậy nên, cập nhật thành tựu chuyển gen trên cây ngô sẽ tạo tiền đề cho nền khoa học nông nghiệp nước ta phát triển hơn. A. NỘI DUNG CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU VỀ KỸ THUẬT CHUYỂN GEN Ở THỰC VẬT 1.1. Kỹ thuật chuyển gen 1.2. Các phương pháp chuyển gen 1.2.1. Chuyển gen gián tiếp 1.2.1.1. Phương pháp gián tiếp sử dụng Agrobacterium tumefaciens 1.2.2. Chuyển gen trực tiếp 1.2.2.1. Phương pháp siêu âm 1.2.2.2. Phương pháp xung điện CHƯƠNG II. THÀNH TỰU CHUYỂN GEN TRÊN CÂY NGÔ 2.1. Một số thành tựu tiêu biểu về chuyển gen ở thực vật 2.1.1. Cây trồng và các tính trạng chuyển gen Theo số liệu báo cáo của Trung tâm dịch vụ Quốc tế về tiếp thu các ứng dụng Công nghệ Sinh học trong Nông nghiệp (ISAAA, 2015), đến nay các nhà khoa học trên thế giới đang tập trung nghiên cứu, phát triển cây trồng biến đổi gen cho 24 loại cây trồng khác nhau với 364 s2.1.2 Những thành tựu quan trọng đánh dấu sự phát triển của kỹ thuật chuyển gen ở thực vật Năm 1980: Lần đầu tiên thực hiện chuyển ADN ngoại lai vào cây nhờ Agrobacterium. Năm 1983: Tạo các marker chon lọc như chỉ thị màu sắc, chỉ thị kháng với kháng sinh.
Xem thêm

Đọc thêm

phân tích phân tử và khả năng kháng bệnh ghẻ thường do vi khuẩn streptomyces scabies ở một số dòng khoai tây chuyển gen mir

PHÂN TÍCH PHÂN TỬ VÀ KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH GHẺ THƯỜNG DO VI KHUẨN STREPTOMYCES SCABIES Ở MỘT SỐ DÒNG KHOAI TÂY CHUYỂN GEN MIR

MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Khoai tây (Solanum tuberosum L.) là cây lương thực đóng vai trò quan trọng thứ 4 trên thế giới. Là cây trồng có hàm lượng nước và dinh dưỡng cao nên khoai tây dễ bị tấn công bởi rất nhiều loại sâu bệnh hại. Trong đó đáng chú ý là bệnh ghẻ thường (Common scap) do vi khuẩn Streptomyces Scabies tấn công. Bệnh được ghi nhận gây hại trên hầu hết các quốc gia trồng khoai tây, trong đó có Việt Nam (Dung và cs., 2003) Bệnh ghẻ thường khoai tây là một trong những bệnh hại nghiêm trọng xuất hiện ở tất cả các vùng trồng khoai tây trên thế giới bao gồm: Mỹ, Ấn Độ, Châu Á và Châu Phi (Waner, 2006). Ở Mỹ, bệnh ghẻ thường là bệnh hại nghiêm trọng thứ 4 trên cây khoai tây, gây thiệt hại cho ngành công nghiệp khoai tây khoảng 3.5 tỉ USD (Meng và cs., 2012). Ở Việt Nam, hầu hết các vùng trồng khoai tây đều bị ảnh hưởng bởi bệnh này (Dung và cs., 2003). Các biện pháp phòng chống bệnh hiện nay như: không dùng phân chuồng, tăng cường tưới nước và giảm pH của đất thực tế là không cho hiệu quả rõ rệt, đồng thời cũng gây ra những tác động xấu đến môi trường và giảm tính bền vững của hệ thống nông nghiệp. Hiện tại có rất ít các giống khoai tây thương mại có tính kháng bệnh cao, trong khi đó khả năng phát triển các giống kháng bệnh lại gặp khó khăn do cho đến nay vẫn chưa tìm thấy nguồn gen kháng bệnh trong các loài khoai tây Solanum tuberosum. Trong khi các nỗ lực nhằm tạo giống kháng bệnh thông qua lai tạo truyền thống còn chưa có kết quả, việc sử dụng công nghệ gen đã cung cấp một công cụ hiệu quả để nâng cao tính kháng của khoai tây đối với bệnh này. Yếu tố gây độc ở Streptomyces Scabies (S.scabies) được xác định là Thaxtomin A (TA) – một loại phytotoxin ức chế sinh tổng hợp cellulose. Cùng với phát hiện này, Scheible và cộng sự (2003) đã tìm ra một đột biến gene kháng TA ở Arabidopsis, gọi là txr1. Gen tương ứng với đột biến này là gen TXR1. Đồng thời, sử dụng công cụ Blast (NCBI) cho thấy TXR1 có mức tương đồng cao trên các loài thực vật khác, như cà chua, đậu tương, ngô, lúa và lúa mì… (khoảng từ 73 đến
Xem thêm

70 Đọc thêm

PHÁT TRIỂN sản XUẤT KHOAI tây ATLANTIC ở THỊ xã từ sơn, TỈNH bắc NINH

PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT KHOAI TÂY ATLANTIC Ở THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

Họ c viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1 1. MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đổi mới đất nước, nền nông nghiệp nông thôn của nước ta đã có những bước phát triển nhanh, liên tục và toàn diện. Đặc biệt là sản xuất lương thực đã góp phần quan trọng vào ổn định cuộc sống, chính trị tạo cơ sở thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp đã thu được nhiều kết quả, trong đó sản xuất cây trồng vụ đông đóng vai trò quan trọng, góp phần nâng cao tổng sản lượng lương thực và sản lượng các loại cây trồng trong năm. Được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp, các ngành, cùng với các chính sách hỗ trợ cho hệ thống các công trình thủy lợi phục vụ công tác tưới tiêu được đầu tư đã tạo điều kiện cho vụ đông trở thành một vụ sản xuất phù hợp với nhiều loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế, nâng cao tổng giá trị sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp. Vụ đông hiện nay, tùy theo trình độ kỹ thuật mức độ thâm canh, tập quán canh tác và nhu cầu thực tiễn về sản xuất và đời sống mà mỗi địa phương có những cây trồng vụ đông khác nhau như: ngô, khoai lang, đậu tương, khoai tây, rau các loại. Mỗi cây trồng đều có những đặc điểm riêng và có những yêu cầu nhất định với ngoại cảnh và thỏa mãn một nội dung kinh tế nhất định làm tăng sản phẩm lương thực, thực phẩm cho xã hội và tăng thu nhập cho người sản xuất nông nghiệp. Vấn đề là tùy từng điều kiện cụ thể của địa phương, cơ sở sản xuất mà lựa chọn cây trồng nào phù hợp và đen lại hiệu quả kinh tế hơn. Cây khoai tây là một trong những cây trồng quen thuộc, vừa là cây lương thực, đồng thời là cây thực phẩm có giá trị kinh tế được trồng ở nhiều nước trên thế giới. Hiện nay trên thế giới, cây khoai tây được coi là một trong 4 cây trồng quan trọng nhất trong các cây lương thực sau lúa mỳ, ngô, lúa nước. Ở Việt Nam, cây khoai tây có vai trò kinh tế quan trọng, là cây trồng tận dụ ng đất trong vụ đông , không ảnh hưởng đến các cây trồng chính trong vụ xuân và vụ mùa, tận dụng lao động nhàn rỗi, phân bón từ chăn nuôi và còn có tác dụng cải tạo đất, hạn chế sâu bệnh, giảm phân bón, công lao động cho vụ sau. Khoai tây
Xem thêm

128 Đọc thêm

chuyên đề mật độ cây lạc

chuyên đề mật độ cây lạc

Mục Lục I.MỞ ĐẦU 1 1.1.Đặt vấn đề 1 1.2.Mục đích, yêu cầu 3 1.2.1.Mục đích 3 1.2.2.Yêu cầu….. ..3 1.3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3 1.3.1.Ý nghĩa khoa học 3 1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn 4 II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5 2.1.Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam 5 2.1.1.Tình hình sản xuất lạc trên thế giới 5 2.1.2.Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam 7 2.1.3.Điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất lạc tại Bắc Giang 9 2.2.Nghiên cứu về kỹ thuật trồng lạc trong và ngoài nước 14 2.2.1.Kết quả nghiên cứu về mật độ cho lạc ở nước ngoài 14 2.2.2.Kết quả nghiên cứu về mật độ trong nước 15 III. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17 3.1.Vật liệu nghiên cứu 17 3.2.Nội dung và Phương pháp nghiên cứu 17 3.2.1.Nội dung nghiên cứu 17 3.2.2.Phương pháp nghiên cứu 18 3.3.Phương pháp theo dõi và phân tích số liệu 19 3.3.1.Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển 19 3.3.2.Theo dõi tình hình phát sinh của các loại sâu bệnh 20 3.3.3.Xử lý số liệu 20 IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21 4.1.Kết quả chọn giống lạc và mật độ phù hợp cho lạc đen tại tỉnh Bắc Giang 21 4.1.1.Khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống lạc đen 21 4.1.2.Khả năng chống chịu sâu bênh của một số giống lạc đen tại tỉnh Bắc Giang 23 4.1.3.Các yếu tố cấu thành năng suất lạc đen tại tỉnh Bắc Giang. 24 V. KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ 30 5.1.Kết luận 30 5.2.Đề nghị 30 VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO 31 DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lạc trên thế giới (2011 – 2013) 5 Bảng 2.2: Sản lượng lạc của Việt Nam 8 Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc 13 Bảng 4.1: Thời gian từ sinh trưởng các giống lạc đen vụ xuân hè 2016 21 Bảng 4.2: Đặc điểm sinh trưởng các giống lạc đen vụ xuân hè 2016 22 Bảng 4.3: Mức độ nhiễm bệnh hại của các giống lạc đen trong vụ Xuân hè 2016 tại huyện Tân Yên và huyện Lạng Giang ở mật độ MĐ 1 23 Bảng 4.4: Các yếu tố tạo thành năng suất và năng suất của các giống lạc đen trồng ở vụ Xuân hè 2016 với mật độ MĐ 1 tại huyện Tân Yên và huyện Lạng Giang 25 Bảng 4.5: Các yếu tố tạo thành năng suất và năng suất của các giống lạc đen trồng ở vụ Xuân hè 2016 với mật độ MĐ 2 tại huyện Tân Yên và huyện Lạng Giang 26 Bảng 4.6: Các yếu tố tạo thành năng suất và năng suất của các giống lạc đen trồng ở vụ Xuân hè 2016 với mật độ MĐ 3 tại huyện Tân Yên và huyện Lạng Giang 28 I. MỞ ĐẦU 1.1. Đặt vấn đề Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn ngày, Từ xưa đến nay, cây lạc đóng vai trò quan trọng trong đời sồng và kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Cây lạc cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp ép dầu. Hầu hết các bộ phận của cây lạc đều được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày. Hạt được sử dụng ở dạng thô như luộc, rang và nhờ hàm lượng prôtêin và dầu cao hạt còn được chế biến thành bánh kẹo, bơ, dầu...Thân, lá lạc sau thu hoạch được ủ chua để làm thức ăn cho gia súc (trâu, bò) hoặc ủ hoai để làm phân hữu cơ (Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006). Hạt lạc chứa nhiều khoáng chất Ca, Fe, Mg, P, K, Zn và một lượng vitamin lớn, đặc biệt là vitamin B. Dầu của hạt lạc chủ yếu chứa axit béo chưa no giúp cơ thể con người dễ hấp thụ và hạn chế lượng cholesterol trong máu. Vì thế, ngoài là thức ăn giàu năng lượng, đủ protein, người ta còn quan tâm đến tác dụng chữa bệnh của hạt lạc. Bằng những nghiên cứu sâu, y học hiện đại đã cho thấy hạt lạc có tác dụng hạn chế được nhiều loại bệnh, đặc biệt hạt lạc Đen giàu selen, Arginine, kẽm,...cao gấp 2 lần lạc thường có tác dụng: Chống oxy hóa, chống lão hóa, ngăn ngừa bệnh ung thư, ngăn ngừa bệnh tim mạch, ngăn ngừa được bệnh đục thủy tinh thể, hình thành hệ thống miễn dịch... Là thức ăn rất tốt đối với bệnh nhân bị tiểu đường vì nó ngăn cản dinh dưỡng gây tăng nhanh nồng độ đường trong máu, và còn bổ sung sự thiếu hụt niacin cho bệnh nhân bị mắc chứng tiêu chảy mãn tính... Lạc là cây trồng có ý nghĩa đối với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt với các nước nghèo vùng nhiệt đới. Ngoài giá trị kinh tế của lạc đối với con người, công nghiệp ép dầu, công nghiệp thực phẩm và chăn nuôi, lạc còn có ý nghĩa quan trọng trong việc cải tạo đất do khả năng cố định ni tơ tự do. Cũng như các loại cây họ đậu khác, rễ lạc có thể tạo ra các nốt sần do sự cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium của bộ rễ để cố định ni tơ tự do và tăng hiệu quả kinh tế khi luân canh hoặc xen canh với các loại cây trồng khác.Trong điều kiện bình thường, lượng đạm do vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trong bộ rễ cố định được
Xem thêm

Đọc thêm

TẢ CÂY KHẾ NƠI VƯỜN QUÊ

TẢ CÂY KHẾ NƠI VƯỜN QUÊ

Đoạn văn miêu tả cây khế. Cây khế thân gỗ, gốc bằng cột nhà, màu đồng đen. Cành khế giòn, dễ gãy. Bài mẫu tả cây khế    Nhà bạn Hội có ba cây khế, toàn khế chua, trồng ở ba nơi: hai cây ở cạnh bờ ao, một cây ở cạnh giếng nước. Cây khế thân gỗ, gốc bằng cột nhà, màu đồng đen. Cành khế giòn, dễ gãy. Hoa khế nở đầu hè, như những ngôi sao bé li ti, màu đo đỏ. Ong bướm rất thích hút mật hoa khế. Chỉ sau hai, ba tuần, những chùm khế xuất hiện trên cành. Có trái bằng hạt ngô, bằng ngón tay, có trái bằng quả cà, quả sung. Khế non màu xanh nhạt, lớn dần lên mang màu xanh thẫm. Mỗi quả khế thường có năm cánh, tạo thành năm múi, bên trong có nhiều hạt màu nâu. Lúc khế chín có màu vàng ươm. Ba cây khế của nhà bạn Hội rất sai trái. Mẹ bạn Hội vẫn mang khế ra chợ bán. Thỉnh thoảng bạn Hội lại đem khế đến lớp. Chúng em vừa chấm muối vừa ăn. Khế chua quá, đứa nào cũng nhăn mặi lại, rất buồn cười.  loigiaihay.com  
Xem thêm

1 Đọc thêm

GIÚP LAN NHANH RA RỄ

GIÚP LAN NHANH RA RỄ

gửi mail Lần đọc: 12333Vân lan - VandaLan MokaraLan Hài - PaplliopedilumRễ lan cần ẩm chứ không ướt và có không khí chuyển động quanh rễ. Nhìn vào rễ có thể biết ngay việctưới nước và bón phân ra sao... Nếu rễ có màu trắng, cứng và đầu rễ có màu xanh là tốt, còn nếu tướiquá nhiều chỉ có một vài rễ tốt, số còn lại mềm nhũn và có màu nâuHồ điệp - PhalaenopsisRễ lan có 2 nhiệm vụ:Vũ nữ - OncidiumNgọc Điểm - Đai ChâuĐịa lan - CymbidiumLan rừngBệnh thối đen cây phong lanLan không ra hoaTrồng phong lan bằng hợpchất filaKỹ thuật thuần dưỡng và chămsóc lan rừng• Hút nước và chất bổ dưỡng để nuôi cây.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Bệnh chết nhanh cây hồ tiêu

Bệnh chết nhanh cây hồ tiêu

Nội dung: Lời nói đầu: Triệu chứng bệnhNguyên nhân gây bệnhĐặc điểm phát sinh phát triển bệnhBiện pháp phòng trừKết luậnTài liệu tham khảo1.Lời nói đầu:+ Từ xưa đến nay nói đến cây hồ tiêu trước hết là nói đến bệnh hại ,đó là vấn đề lớn nhất với người trồng tiêu, trong đó lưu ý nhất vẫn là bệnh thối gốc, chết dây hay còn gọi là bệnh chết nhanh + Có tên gọi như vậy là vì từ khi thấy cây tiêu “ủ rũ”, dây héo, xuống lá bắt đầu chuyển vàng, rụng nhiều lá chỉ để lại dây, cành trơ trọi (các triệu chứng như trên chỉ diễn ra trong vòng từ 7 – 10 ngày) sau đó cây tiêu chết rất nhanh trong vòng vài tuần lễ. 2. Triệu chứng bênh: Bệnh có thể xâm nhập và gây hại ở tất cả các bộ phận của cây từ thân, lá, hoa, trái cho đến cổ rễ và rễ. Nhưng nguy hiểm nhất và cho cây tiêu bị chết hàng loạt là khi tấn công vào phần cổ rễ và rễ.Triệu chứng là cây tiêu đang tươi tốt thì đột ngột bị héo rũ, khô đen rất nhanh, hoặc xuất hiện một ít lá bị vàng úa, thân thối đen ,sau đó các lá tiếp tục bị vàng hoặc thâm đen lây lan dần lên trên, cây tiêu héo rũ rất nhanh, có khi lá héo rũ trên cây đến sáng sớm có thể thấy cây tiêu tươi trở lại do ướt sương vào ban đêm. Sau đó các đốt thân cũng biến màu thâm đen và rụng. Hiện tượng rụng lá và đốt thường bắt đầu từ ngọn trở xuống. Bệnh xâm nhiễm vào cây tiêu bắt đầu ở vùng cổ rễ(ngang mặt đất) hoặc phần bên dưới mặt đất làm thối cổ rễ , sau đó phần hư thối này lan dần lên trên và cây tiêu biểu hiện các triệu chứng đã nêu,thân bắt đầu xì mủ,thâm đen các đốt . Bênh tiến triển rất nhanh từ khi phát hiện thấy lá tiêu hơi rũ xuống cho đến khi lá rụng ào ạt có khi chỉ 27 ngày và đến khi tiêu chết hoàn toàn có thể trong vòng 12 tuần. Nguyên nhân chính do nấm Phytophthora palmivora gây ra. Nấm Phytophthora palmivora là nấm thủy sinh nên chúng ưa thích và rất cần sự ẩm ướt để sinh sản, phát triển và gây hại. Bệnh phát triển, lây lan mạnh trong mùa mưa, nhiệt độ không khí thích hợp từ 15 đến  30ºC, đặc biệt vào thời gian mưa nhiều, mưa dầm, ẩm độ cao.  Khi cây bị nhiễm bệnh ngoài Phytophthora còn có một số chủng nấm như Fusarium, Pythyum, Rhizoctoniasolanii,…và nhiều loại khuẩn có hại khác  cùng đồng loạt gây hại cho cây.  Đặc biệt cây lây lan ngầm qua sự tiếp giáp của hai lớp rễ giữa cây bị bệnh và cây không bị bệnh, mặt khác khi cây trưởng thành thường bộ rễ ăn rất xa, có thể rễ của cây bị bệnh lại nằm ngay trong gốc của cây khác và ngược lại, chúng ta thường biết khi cây bị chết nhanh thì toàn bộ bộ rễ của cây đều bị thối nhũn, nguyên nhân gây bệnh cũng từ đây. Do vậy ta cần đào rãnh sâu để cách ly khu vực bệnh, nên đào sâu để cho các mạch rễ đứt và không có sự tiếp giáp với nhau. Qua đó ta phân lô, khoanh vùng để có hướng điều trị phù hợp cho tùng khu vực bệnh.biện pháp phòng trừKhông trồng tiêu trên các vườn cà phê, vườn tiêu vừa bị tuyến trùng phải nhổ bỏ, nếu muốn trồng lại thì phải tiến hành cày xới, thu gom rễ, phơi đất, sau đó luân canh ít nhất 23 vụ màu. Để diệt mầm tuyến trùng còn sót lại trong đấtXử lý hom tiêu ngay khi cắt và ươm bầu bằng các loại thuốc trị nấmHố trồng tiêu cần xử lý bằng các loại thuốc trị nấm và phải chuẩn bị trước 1015 ngày trước khi trồng tiêuChọn các giống tiêu có khả năng sinh trưởng khỏe mạnh và kháng bệnh tốt như: Giống tiêu Vĩnh Linh, Giống tiêu trâu, Giống tiêu ghépTạo môi trường thông thoáng cho vườn tiêu nhất là vào mùa mưa. Đối với cây trụ sống làm trụ tiêu cần rong tỉa mạnh đầu mùa mưaKhi trồng tiêu tốt nhất không nên tạo bồn, đồng thời cần phải có rãnh thoát nước ở giữa các hàng tiêu, tránh hiện tượng đọng nước ở gốc tiêu tạo điều kiện sinh sôi các loại nấmTủ gốc trong mùa khô cũng không nên tủ vào sát gốc mà cách gốc 2030cm, tưới nước vừa đủ, hạn chế tưới tràn làm bệnh lây lan nhanh hơn
Xem thêm

Đọc thêm

DỊCH BỆNH CÂY BÀI 2

DỊCH BỆNH CÂY BÀI 2

Dịch bệnh cây (Epidemiology in phytopathology) Phân loại dịch bệnh Dịch bệnh đơn chu kỳ: Bệnh héo fusarium cà chua (F. oxyssporum), Bệnh thán thư quả xoài (và nhiều quả khác (C. gloeosporioides) trong bảo quản Dịch bệnh đa chu kỳ: Bệnh mốc sương cà chua, khoai tây (P. infestans) Dịch bệnh hỗn hợp: Bệnh ghẻ táo (Venturia inequalis), Bệnh đốm nâu lúa mỳ (Pyrenophora triticirepentis), Dịch bệnh đa vụ: Vd. Bệnh đốm Sigatoka đen (Mycosphaerella fijiensis) Bệnh đốm Sigatoka đen (M. fijiensis)

23 Đọc thêm

Bệnh hại do nấm gây ra trên cây trồng

Bệnh hại do nấm gây ra trên cây trồng

1. Bệnh nấm hại trên cây lương thực 1.1. Bệnh Đạo ôn hại lúa (Pyricularia oryzae Cav. Et Bri. ) Bệnh đạo ôn là một trong những bệnh phổ biến và gây hại có ý nghĩa kinh tế nhất ở các nước trồng lúa trên thế giới. Bệnh phá hoại nghiêm trọng ở nhiều nơi trên nước ta. Bệnh nấm quan trọng nhất trên lúa ở Việt Nam và thế giới. 1.1.1. Triệu chứng Bệnh có thể phát sinh từ thời kì sinh mạ đến lúa chín và gây hại ở bẹ lá, lá, lóng thân, cổ bông, gié và hạt. Bệnh trên mạ Vết bệnh trên mạ lúc đầu hình bầu dục sau đó thành hình thoi nhỏ hoặc dạng tương tự hình thoi, màu nâu hồng hoặc vàng. Khi bệnh nặng, từng đám vết bệnh kế tiếp nhau làm cho cây mạ có thể héo khô hoặc chết. Vết bệnh trên lá Lúc đầu có những chấm nhỏ màu xanh lục hoặc mờ vết dầu, sau chuyển sang màu xám nhạt. Trên giống lúa mẫn cảm các vết bệnh to, hình thoi, dày, màu nâu nhạt, có khi có quầng màu vàng nhạt, phần giữa vết bệnh có màu nâu xám. Trên giống lúa chống chịu, vết bệnh là các chấm rất nhỏ hình dạng không đặc trưng. Ở giống lúa có phản ứng trung gian, vết bệnh hình tròn hoặc hình bầu dục nhỏ, xung quanh vết bệnh có viền màu nâu. Vết bệnh ở cổ bông, cổ gié và trên hạt lúa Các vị trí khác nhau của bông lúa đều có thể bị bệnh với triệu chứng các vết màu nâu xám hơi teo thắt lại. Vết bệnh trên cổ bông xuất hiện sớm thì bông lúa bị lép, bạc lá. Nếu bệnh xuất hiện muộn hạt đã vào chắc thì gây ra gãy cổ bông. 1.1.2. Nguyên nhân gây bệnh Nấm Pyricularia grisea thuộc họ Moniliales, lớp Nấm Bất toàn. Cành bào tử phân sinh hình trụ, đa bào không phân nhánh, đầu cành thon và hơi gấp khúc. Nấm thường sinh ra các cụm cành từ 35chiếc. Bào tử phân sinh hình quảlê hoặc hình nụ sen, thường có từ 23 ngăn ngang, bào tử không màu, kích thước trung bình của bào tử nấm 1923 x 1012µm. Nhìn chung kích thước của bào tử nấm biến động điều kiện ngoại cảnh khác nhau cũng như trên các giống lúa khác nhau. Nấm đạo ôn sinh trưởng thích hợp ở nhiệt độ 25280C và ẩm độkhông khí là 93% trởlên. Phạm vi nhiệt độnấm sinh sản bào tửtừ10300C. Ở280C cường độsinh bào tửnhanh và mạnh nhưng sức sinh sản giảm dần sau 9 ngày, trong khi đó ở160C, 200C và 240C sựsinh sản bào tử tăng và kéo dài tới 15 ngày sau đó mới giảm xuống. Điều kiện ánh sáng âm u có tác động thúc đẩy quá trình sinh sản bào tửcủa nấm. Bào tửnảy mầmtốt nhất ởnhiệt độ24280C và có giọt nước. Quá trình xâm nhập của nấm vào cây phụthuộc rất nhiều vào nhiệt độ, ẩm độkhông khí và ánh sáng. Ởđiều kiện bóng tối, nhiệt độ 240C và ẩm độbão hoà là thuận lợi nhất cho nấm xâm nhập vào cây. Trong quá trình gây bệnh nấm tiết ra một số độc tố như axit α pycolinic (C6H5NO2) và pyricularin (C18H14N2O3) có tác dụng kìm hãm hô hấp và phân hủy các enzyme chứa kim loại của cây, kìm hãm sựsinh trưởng của cây lúa. Nấm đạo ôn có khảnăng biến dịcao, tạo ra nhiều chủng, nhóm nòi sinh học. Các vùng trồng lúa trên thếgiới đã có tới 256 loài xuất hiện. 1.1.3. Quy luật phát sinh phát triển bệnh Sự phát sinh phát triển của bệnh phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố ngoại cảnh và mức độ nhiễm bệnh của giống. Ảnh hưởng của thời tiết khí hậu tới bệnh Nấm đạo ôn ưa nhiệt độ tương đối thấp, điều kiện nhiệt độ20280C, ẩm độ không khí bão hoà và thời tiết âm u trong vụ lúa đông xuân là rất thích hợp cho bệnh phát sinh gây hại nặng nhất. Trong điều kiện khô hạn, ẩm độđất thấp hoặc ở điều kiện úng ngập kéo dài cây lúa dễ bị nhiễm bệnh, ẩm độ không khí cao lại thuận lợi cho vết bệnh phát triển. Ởcác vùng nhiệt đới có mưa thường xuyên kéo dài tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh gây hại nghiêm trọng. Ảnh hưởng của đất đai, phân bón đến bệnh Những chân ruộng nhiều mùn, trũng ẩm, khó thoát nước; những vùng đất mới vỡhoang, đất nhẹ, giữ nước kém, khô hạn và những chân ruộng có lớp sét nông rất phù hợp cho nấm bệnh đạo ôn phát triển và gây hại. Ảnh hưởng của giống lúa tới bệnh đạo ôn Ngoài các yếu tốkhí hậu thời tiết, đất đai và phân bón, đặc tính của giống có ảnh hưởng rất lớn tới mức độphát triển của bệnh trên đồng ruộng. Những giống nhiễm bệnh nặng (giống mẫn cảm) không những là điểm bệnh phát sinh ban đầu là còn là điều kiện cho bệnh dễdàng lây lan hàng loạt hình thành nên dịch bệnh trên đồng ruộng. Đặc tính chống bệnh của cây lúa tăng khi tỷlệSiO2N tăng. Giống lúa chống bệnh chứa nhiều polyphenol hơn ởgiống nhiễm bệnh. 1.1.4. Biện pháp phòng trừ Bệnh đạo ôn là loại bệnh gây hại nghiêm trọng, dễ phát triển nhanh trên diện rộng. Vì vậy, muốn phòng trừđạt hiệu quả cao cần làm tốt công tác dự tính dự báo bệnh, điều tra theo dõi và phân tích các điều kiện liên quan tới sự phát sinh của bệnh như: vị trí tồn tại của nguồn bệnh, diễn biến yếu tốkhí hậu thời tiết, tình hình sinh trưởng của cây và điều kiện đất đai, phân bón, cơcấu giống lúa. Dọn sạch tàn dưrơm rạvà cây cỏdại mang bệnh ởtrên đồng ruộng. Bón phân N, P, K hợp lý, đúng giai đoạn, không bón đạm tập trung vào thời kỳlúa dễnhiễm bệnh. Khi có bệnh xuất hiện phải tạm ngừng bón thúc đạm và tiến hành phun thuốc phòng trừ. Tăng cường sửdụng giống lúa chống chịu bệnh có nhiều gen kháng trong cơcấu giống ởnhững vùng bệnh thường hay xảy ra và ởmức độgây hại nặng. Cần kiểm tra lô hạt giống, nếu nhiễm bệnh ởhạt cần xửlý hạt giống tiêu diệt nguồn bệnh bằng nước nóng 540C trong 10 phút hoặc xửlý bằng thuốc trừ đạo ôn. Khi phát hiện ổbệnh trên đồng ruộng cần tiến hành phun thuốc sớm và trừnhanh. 1.2. Bệnh gỉ sắt hại ngô(Puccinia maydis Ber.) 1.2.1. Triệu chứng Bệnh hại chủ yếu ở phiến lá, có khi ở bẹ lá và áo bắp. Vết bệnh lúc đầu rất nhỏ chỉ là một chấm vàng trong, xếp không có trật tự, khó phát hiện, nhưng về sau to dần, vết vàng nhạt tạo ra các vết đốm nổi (1mm), tế bào biểu bì nứt vỡ, chứa một khối bột nâu đỏ, vàng gạch non, đó là giai đoạn hình thành ổ bào tử hạ.Đến cuối giai đoạn sinh trưởng của ngô, trên lá bệnh có thể xuất hiện một số vết bệnh là những ổ nổi màu đen, đó là giai đoạn hình thành các ổ bào tử đông. Vết bệnh thường dầy đặc trên lá dễ làm lá cháy khô. 1.2.2. Nguyên nhân gây bệnh Bệnh gỉ sắt do nấm Puccinia maydis gây ra thuộc bộUredinales, lớp Nấm Đảm. Trên cây ngô nấm phát triển hai giai đoạn chính: bào tửhạvà bào tử đông. Trong một sốtrường hợp, giai đoạn bào tửxuân hình thành trên cây chua me đất (Oxalis),thường là loài P. polysora. Bào tửhạđơn bào, hình cầu hoặc hình bầu dục, màu vàng nâu, có vỏdày gợn gai nhỏ; bào tử đông thon dài có hai tếbào, vỏdày có màu nâu, có cuống dài màu nâu. 1.2.3. Quy luật phát sinh phát triển bệnh Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết ôn hoà, nhiệt độ trung bình, có mưa. Bào tử hạ có thể tồn tại lâu dài trên tàn dư lá bệnh ở ruộng và trên hạt qua năm, bào tử hạnảy mầm ở nhiệt độ14320C nhưng thích hợp nhất là 17180C trong điều kiện có độ ẩm bão hoà, sau khi xâm nhập khoảng một tuần lễ có thể xuất hiện vết bệnh với ổ bào tử mới, từ đó lại lây lan rộng ra nhiều đợt kế tiếp trong thời kỳ sinh trưởng của cây ngô. Ngô xuân hè và hè thu bị bệnh nặng hơn ởmiền trung du, miền núi trên các giống ngô mới nhập nội và ngô lai, vào cuối vụ bệnh có thể phát triển mạnh trên toàn cây làm lá nhỏ và cây lụi, bắp nhỏ đi rất nhiều. Các giống ngô đường, ngô nếp thường bị bệnh nặng hơn các giống ngô đá, ngô răng ngựa. Ởnước ta, sự lây lan và bảo quản nguồn bệnh bằng bào tử hạ. Một phần nguồn bệnh còn là bào tử đông và sợi nấm trong tàn dư cây bệnh.
Xem thêm

Đọc thêm

bệnh hại cây công nghiệp

bệnh hại cây công nghiệp

BỆNH THỐI GỐC VÀ LỠ CỔ RỄ (Root and Stem Rot) Fusarium solani f.s. phaseoli; Thielaviopsis sp; Rhizoctonia solani Kuhn I.Phân bố. Bệnh hại phổ biến ở nhiều vùng trồng đậu trên thế giới. Ở Việt Nam, bệnh xuất hiện hầu hết ở các vùng đồng bằng, trung du và miền núi trên các loại đậu làm thực phẩm vụ đông xuân và xuân hè. Bệnh phá hoại suốt thời lì sinh trưởng của cây nhưng chủ yếu là thời kì cây con. II. Triệu chứng bệnh. Biểu hiện đặc trưng nhất của triệu chứng bệnh là ở rễ, cổ rễ và gốc thân sát mặt đất bị thâm đen, thối mục, cây bệnh héo chết đổ gục. Ban đầu vết bệnh chỉ là 1 chấm nho màu đen ở gốc thân, cổ rễ sau đó lan rộng bao bọc quanh cổ rễ. Bộ phận bị bệnh thối mục, màu nâu đen ủng nước hoặc hơi khô, cổ rễ teo tóp, bộ phận lá, thân héo rũ nhưng vẫn giữ màu xanh. Sau 5 6 ngày bị héo rũ cây bệnh đỗ gục chết lụi hàng loạt. Khi gặp ngày ẩm độ cao, nơi vết bệnh xuất hiện những hạch nấm màu nâu đen mọc trên các đám tơ nấm màu trắng.
Xem thêm

Đọc thêm

Tả vẻ đẹp cây xanh bóng mát

TẢ VẺ ĐẸP CÂY XANH BÓNG MÁT

Đoạn văn tả màu xanh của quê hương. Con sông Yên nước trong xanh bốn mùa, có cầu gỗ dài gần 30m, rộng 6m bắc qua. Bài mẫu miêu tả màu xanh của quê hương    Làng Xuân Vọng, nơi chôn nhau cắt rốn của em có ngôi đình Xuân, có chùa Vọng, hai di tích văn hoá nổi tiếng quanh vùng, là niềm tự hào của bà con làng xã. Vẻ đẹp của làng em còn là vẻ đẹp của màu xanh. Màu xanh của cây cỏ, màu xanh của sự sống và màu xanh của lúa, ngô, khoai... Vườn trường em có hàng ngàn cây bạch đàn chín, mười tuổi tạo thành một bức tường xanh. Hoa bạch đàn cho ong mật. Hương bạch đàn làm ngây ngất tuổi thơ chúng em. Con sông Yên nước trong xanh bốn mùa, có cầu gỗ dài gần 30m, rộng 6m bắc qua. Chúng em đi học về vẫn đứng vịn lan can soi mình xuống dòng sông, nhìn đàn cá bơi lượn. Quê em có màu xanh bát ngát mênh mông của lúa, ngô, khoai,... trên các cánh đồng Vạc, cánh đồng Cò, cánh đồng Lùn, cánh đồng Chẹt, cánh đồng Cối. Màu xanh ấy đã thấm vào hồn quê luyện thành ca dao bao đời nay: "Đồng Cò, đổng Vạc xanh xanh, Có về Xuân Vọng với anh thì về..., Tết trồng cây hằng năm của làng em đã trở thành ngày hội xuống đồng của già, trẻ, gái, trai, của hàng ngàn thầy giáo, học trò trường Tiểu học, trường Trung học cơ sở Xuân Vọng. Đường làng đi về các ngõ xóm, dọc các bờ mương, bờ kênh đểu xanh ngắt bóng cây. Cây đa cổ thụ ở đình Xuân, cây muỗm già ở chùa Vọng như hai chiếc lọng xanh căng lên giữa bầu trời. Đó là nơi trú ngụ, vui chơi của bầy sáo, của đàn cò, suốt sáng đến chiều ríu ran tiếng hót. Em yêu làng em. Em yêu màu xanh của quê tôi. Tôi tự hào về dân làng tôi, có cả trẻ con chúng tôi đã làm nên và giữ gìn màu xanh ấm no, thanh bình ấy.  loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Bệnh thối đen hạt lúa do vi khuẩn pseudomonas glumae

Bệnh thối đen hạt lúa do vi khuẩn pseudomonas glumae

Bệnh thối đen hạt lúa ( còn gọi là bệnh lép vàng vi khuẩn hại lúa) do vi khuẩn Pseudomonas glumae ( còn có tên gọi là Burkholderia glumae) Kurita và Tabei gây ra. Bệnh được phát hiện đầu tiên tại Nhật Bản vào năm 1956. Từ những năm 1980 trở lại đây, bệnh thối đen hạt lúa xuất hiện và gây hại ở nhiều vùng trồng lúa trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, Việt Nam ... Bệnh nặng có khả năng làm giảm đến 75% năng suất lúa Ở Việt Nam bệnh được ghi nhận tại đồng bằng sông Hồng vào năm 1993. Ở đồng bằng sông Cửu Long, bệnh xuất hiện và gây hại trong hàng chục năm qua, làm giảm năng suất lúa 10 20% Vi khuẩn Pseudomonas glumae(tên gọi khác Burkholderia glumae) Giới(Kingdom): Bacteria Ngành(Phylum): Proteobacteria Lớp(Class): Beta Proteobacteria Bộ(Order): Burkholderiales Họ(Family): Burkholderiaceae Loại(Genus): Burkholderia Cây mạ mọc lên từ hạt giống bị nhiễm bệnh thì vết bệnh trên bẹ lá là những mảng bị thối (hoại tử), màu nâu có viền phân biệt với vùng không bị bệnh; vết bệnh lan rộng, cây mạ chuyển dần sang màu nâu và chết . Trên bẹ lá cờ, vết bệnh có màu nâu . Trên bông, bệnh tấn công sớm làm cho hoa lúa bị biến màu, vỏ trấu trở nên màu xám nhạt hay vàng rơm và không thụ phấn được khiến hạt lúa bị lép. Khi bông lúa chín, vỏ trấu của các hạt lép nầy vẫn có màu vàng. Trên phiến lá vết bệnh là những đường sọc. Bệnh xuất hiện muộn hơn (khi lúa đã vào chắc) sẽ làm hạt gạo bị thối đen, teo tóp lại Do vi khuẩn Psedomonas glumae( còn có tên gọi là Burkholderia glumae) gây ra  Vi khuẩn có hình trụ, kích thước 1,52,5 x 0,50,7 micron, có 1 3 lông roi ở một đầu, Gram âm, không sinh nha bào, có vỏ bọc Trên môi trường nuôi cấy bằng khoai tây, khuẩn lạc có màu trắng sữa, hơi vàng. Vi khuẩn tồn tại được ở nhiệt độ từ 1140oC, phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 3035oC, vi khuẩn chết ở nhiệt độ 70oC. Mầm bệnh vi khuẩn lưu tồn trên các bộ phận cây lúa bị bệnh, mầm bệnh cũng thường được tìm thấy trong không khí, đất và nước. Sự phân bố của mầm bệnh trong môi trường tùy thuộc vào loại đất, độ pH, kỹ thuật canh tác và điều kiện thời tiết Vi khuẩn cũng tồn tại trên cỏ dại trong đồng ruộng và ngay cả trên rơm rạ của vụ trước (bị nhiễm bệnh) được chôn vùi trong đồng ruộng. Bệnh phá hoại nặng trong vụ hè thu, vụ lúa mùa ở các vùng trồng chính ở miền bắc và miền trung nước ta. Hệ sinh thái lúa nước ở vùng nhiệt đới là điều kiện thuận lợi để bệnh phát sinh, phát triển và gây hại. Bệnh xuất hiện ngay từ giai đoạn ôm đòng, vết bệnh ban đầu thường xuất hiện ở bẹ lá cờ nhưng khó phát hiện; bệnh thể hiện rõ triệu chứng trên hạt khi lúa đã trổ đều – ngậm sữa hoặc vào chắc. Mức độ bệnh trên bẹ lá là chỉ dấu để dự báo mức độ bệnh trên hạt bởi vì trong thời gian bông trổ thoát khỏi bẹ thì khoảng cách giữa bông và vết bệnh trên bẹ rất gần, mầm bệnh từ bẹ lá dễ dàng lây lan sang bông và hạt lúa trong thời điểm lúa trổ thoát khỏi. Chế độ nước tưới có ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của bệnh Khi có nguồn bệnh nếu sử dụng chế độ phân bón không hợp lý thì diễn biến bệnh nhanh Bệnh có khuynh hướng bộc phát trong điều kiện nhiệt độ cao, đặc biệt là vào ban đêm, và mưa liên tục Giống nhập nội diễn biến bệnh nhanh hơn giống địa phương. Giống mẫn cảm với bệnh nhất hiện nay là giống CR203
Xem thêm

Đọc thêm

BÀI TIỂU LUẬN MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

BÀI TIỂU LUẬN MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Chọn 3 loài sâu, 3 loài nấm, 3 loài bệnh virus, 3 loài bệnh vi khuẩn, 3 loài tuyến trùng. Tìm hình ảnh, phân loại, phân bố địa lý, khí hậu, đất đai, mô tả vắn tắt đặc điểm các loài đó?Trứng: dài khoảng 0,45 mm. Trứng mới đẻ có màu trắng vàng và trở nên tối hơn trước khi nở. Ấu trùng: Màu sắc cơ thể nói chung của ấu trùng thường được thống nhất, có các lỗ thở và thay đổi từ màu xám sáng sang màu đen và không có sọc hoặc dấu hiệu khác biệt. Bụng với nhiều đốm nhạt. Giữa lưng có sọc. Đầu là màu nâu có sọc đen hào quang và đan vào nhau như mặt lưới Các lỗ thở có màu đen Nhộng: màu nâu đến màu nâu sẫm và dài khoảng 1725 mm và rộng 56 mm. Nhộng xuất hiện gần như màu đen ngay trước khi nở thành sâu bướm. Trưởng thành: Cánh trước dài và hẹp, đậm hơn so với các cánh sau và đánh dấu bằng dấu gạch ngang màu đen, hai phần ba của cánh trước tối, với màu xám nhạt. Râu con đực có lông. Sải cánh rộng khoảng 3550 mm. d. Phân bố địa lý Là một trong những loài phân bố rộng rãi nhất trên toàn thế giới.
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (Tóm tắt LA tiến sĩ)

Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (Tóm tắt LA tiến sĩ)

Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (LA tiến sĩ)Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (LA tiến sĩ)Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (LA tiến sĩ)Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (LA tiến sĩ)Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (LA tiến sĩ)Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (LA tiến sĩ)Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (LA tiến sĩ)Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (LA tiến sĩ)Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (LA tiến sĩ)Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (LA tiến sĩ)Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (LA tiến sĩ)Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (LA tiến sĩ)Nghiên cứu bệnh đốm đen (Phaeoisariopsis personata) hại lạc tại Nghệ An (LA tiến sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

Bài tiểu luận chọn tạo giống ngô chịu hạn

Bài tiểu luận chọn tạo giống ngô chịu hạn

Cây ngô (Zea mays. L) là cây lương thực được phát hiện cách đây 7000 năm tại Mêxicô và Pêru. Từ đó đến nay, cây ngô đã nuôi dưỡng 13 dân số thế giới và được coi là nguồn lương thực chủ yếu của nhiều dân tộc như Mêxicô, Ấn Độ, Philippin và một số nước Châu Phi khác. Có tới 90% sản lượng ngô của Ấn Độ và 66% ở Philippin được dùng làm lương thực cho con người. Ngay như ở nước ta nhiều vùng như Tây Bắc, Việt Bắc và Tây Nguyên người dân đã dùng ngô làm lương thực chính. Ngoài việc cung cấp lương thực nuôi sống con người, cây ngô còn là thức ăn cho gia súc, hiện nay ngô là nguồn thức ăn chủ lực để chăn nuôi cung cấp thịt, trứng, sữa... Những năm gần đây ngô còn là cây có giá trị thực phẩm cao như, ngô nếp, ngô đường, ngô rau và là nguồn nguyên liệu lớn cho ngành công nghiệp chế biến. Từ ngô có thể chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau: Rượu, cồn, nước hoa . . . giá trị sản lượng ngô rất lớn đã tạo ra 670 mặt hàng khác nhau của ngành lương thực thực phẩm, công nghiệp nhẹ và dược.
Xem thêm

Đọc thêm

 TẤT NHIÊN VÀ NGẪU NHIÊN – KHÁI NIỆM QUAN HỆ BIỆN CHỨNG VÀ ÝNGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN

TẤT NHIÊN VÀ NGẪU NHIÊN – KHÁI NIỆM QUAN HỆ BIỆN CHỨNG VÀ ÝNGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN

hệ giữa nguyên nhân và kết qur trong nó là mối quan hệ đa trị (một nguyênnhân có thể có kết quả như thế này, có thể có kết quả như thế khác). Ví dụ, tagieo đồng xu xuống đất thì có thể sấp, có thể ngửa. số lần gieo càng nhiều thìtỷ lệ sấp và ngửa càng giống nhauNgẫu nhiên: là phạm trù triết học chỉ cái không phải do bản chất kết cấu bêntrong sự vật mà do những nguyên nhân bên ngoài sự vật hoặc do sự ngẫu hợpcủa những hoàn cảnh bên ngoài sự vật quyết định. Ví dụ, trồng hạt ngô (tấtnhiên ) phải mọc lên cây ngô, chứ không thể lên cây khác. Nhưng cây ngô tốt,hay không tốt là do chất đất, thờ tiết, độ ẩm bên ngoài hạt ngô quy định. Đâychính là ngẫu nhiên
Xem thêm

3 Đọc thêm

Cùng chủ đề