II TÍNH GDP DN THEO GIÁ TT BẰNG CÁC PHƯƠNG PHÁP

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "II TÍNH GDP DN THEO GIÁ TT BẰNG CÁC PHƯƠNG PHÁP":

Các vấn đề nghiên cứu về kinh tế

Các vấn đề nghiên cứu về kinh tế

Các khái niệm cơ bản: kinh tế học, kinh tế vi mô, kinh tế vĩ mô, kinh tế học thực chứng, kinh tế học chuẩn tắc Thế nào là tổng sản lượng quốc gia? Lạm phát? Thất nghiệp? Chu kỳ kinh tế và sản lượng tiềm năng Mục tiêu của kinh tế vĩ mô Công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô Phân biệt GDP và GNP (GNI) Các loại giá: giá thị trường, giá sản xuất, giá hiện hành, giá cố định Phân biệt chỉ tiêu danh nghĩa và thực Phan biet hang hoa trung gian va hang hoa cuoi cung Phương pháp giá trị gia tăng Phương pháp thu nhập Phương pháp chi tiêu Nhược điểm của cách tính GDP theo phương pháp chi tiêu Cách tính GNP (GNI)
Xem thêm

Đọc thêm

Các biện pháp tính thuế giá trị gia tăng và lý giải vì sao có sự khác biệt trong cách tính

Các biện pháp tính thuế giá trị gia tăng và lý giải vì sao có sự khác biệt trong cách tính

Các biện pháp tính thuế giá trị gia tăng và lý giải vì sao có sự khác biệt trong cách tính Bài tập cá nhân Luật Tài chính Chuyên mục Bài tập cá nhân, Luật Tài chính Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) là loại thuế tiêu dùng nhằm động viên một bộ phận thu nhập của người chịu thuế đã sử dụng để mua hàng hóa, nhận dịch vụ. Điều 2 Luật Thuế GTGT năm 2008 quy định: “Thuế GTGT là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Thuế GTGT được thu qua mỗi khâu của quá trình sản suất kinh doanh. Pháp luật Việt Nam ghi nhận và quy định tại Điều 9 Luật thuế GTGT 2008 hai phương pháp tính thuế GTGT là phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT. 1. Phương pháp khấu trừ thuế (Điều 10 Luật thuế GTGT, Điều 7 Nghị định 1232008NĐCP hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT). Nội dung cơ bản của phương pháp khấu trừ thuế là số thuế GTGT phải nộp được tính trên cơ sở số thuế GTGT đầu ra trừ () đi số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Ta có công thức tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế như sau: Số thuế GTGT phải nộp = (Thuế GTGT đầu ra) – (Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ). Trong đó cần phải xác định các yếu tố: • Thuế giá trị gia tăng đầu ra: Là số thuế xuất hiện ở khâu bán ra, chủ thể nộp thuế đã xác định và tính trong giá bán cho người nhận hàng hóa dịch vụ (trong giá thanh toán). Phần thuế này được tính trên toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn GTGT. Cách tính thuế GTGT đầu ra như sau: Thuế GTGT đầu ra = (giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra) x ( thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó). Giá tính thuế là giá bán chưa có thuế GTGT, theo quy định pháp luật tại Điều 7 Luật thuế GTGT. Thuế suất được quy định rõ cho từng loại ngành nghề kinh doanh, từng chủng loại hàng hóa dịch vụ tại Điều 8 Luật thuế GTGT. Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra. Khi lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán chưa có thuế, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán Trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng đầu ra được xác định bằng giá thanh toán trừ () giá tính thuế xác định theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 7 Luật Thuế giá trị gia tăng. • Thuế GTGT đầu vào: Là thuế xuất hiện ở khâu mua vào, được tính trong tổng giá mà chủ thể nộp thuế đã trả để nhận được hàng hóa, dịch vụ. Cách tính thuế GTGT đầu vào như sau: Thuế GTGT đầu vào bằng = tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế TGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam. • Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ: Là thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT. Thực hiện khấu trừ thuế đầu vào, cần phải lưu ý những điểm sau: Đối với tài sản có định đầu tư để sản xuất hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT,phần thuế tương ứng giá trị tài sản đầu tư được xác định là thuế đầu vào để tính số thuế phải nộp; Không phải phần thuế GTGT của mọi giá trị hàng hóa dịch vụ ở khâu mua vào đều được coi là phần thuế đầu vào. Số thuế đầu vào được xác định tương ứng với phần hàng hóa, dịch vụ dùng cho hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT; Số thuế đầu vào phát sinh trong tháng nào, kê khai trong tháng đó.; Thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải đủ điều kiện luật định. Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế. • Ví dụ: Doanh nghiệp A bán sắt, thép, giá bán chưa có thuế GTGT là 6 triệu đồngtấn; thuế GTGT 5%. Tổng giá trị vật tư mua vào để sản xuất là 2,5 triệu đồng (giá không có thuế GTGT), thuế GTGT là 10%. Thuế GTGT doanh nghiệp A phải nộp như sau: Thuế GTGT đầu vào: 2,5 triệu đồng x 10% = 0,25 triệu đồng; Thuế GTGT đầu ra: 6 triệu đồng x 5% = 0,3 triệu đồng; Thuế GTGT phải nộp: 0,3 triệu đồng – 0,25 triệu đồng = 0,05 triệu đồng. 2. Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT (Điều 11 Luật thuế GTGT 2008, Điều 8 Nghị định 1232008NĐCP hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế GTGT). Theo khoản 1 Điều 11 Luật thuế GTGT 2008 thì phương pháp trừ trực tiếp là phương pháp tính thuế mà theo đó “Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT bằng GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra nhân với thuế suất thuế GTGT.” Ta có công thức tính thuế GTGT phải nộp như sau: Số thuế GTGT phải nộp = (GTGT của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế) x (Thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó). Trong đó cần phải xác định các yếu tố: • GTGT của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế: GTGT của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế được xác định = (giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra trừ) – (giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng). Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra là giá thực tế bán ghi trên hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, bao gồm cả thuế GTGT và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng. Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế GTGT dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra tương ứng. Đối với hàng hóa, dịch vụ ở khâu mua vào, nếu không chứng minh được đã bán ra, đã cung ứng, không được xác định là phần giá trị được phép trừ đi khi tính phần GTGT. Điều này cũng có nghĩa, việc đầu tư tài sản cố định không được xác định là phần giá trị hàng hóa mua vào tương ứng được phép trừ. • Thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó: Thuế suất được sử dụng trong phương pháp tính trực tiếp trên GTGT là thuế suất áp dụng chung cho hàng hóa, dịch vụ mua vào và hàng hóa dịch vụ bán ra mà không có sự bóc tách rõ ràng như ở phương pháp khấu trừ thuế. Đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng: a) Cơ sở kinh doanh, cá nhân, hộ kinh doanh, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; b) Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật Đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; c) Hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý. Trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý và hoạt động chế tác sản phẩm vàng, bạc, đá quý thì phải hạch toán riêng được hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý để áp dụng theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT. • Ví dụ: Một cơ sở sản xuất bánh kẹo, trong tháng bán được 200 thùng bánh kẹo, tổng doanh số bán là 30 triệu đồng. Giá trị vật tư, nguyên liệu mua ngoài để sản xuất là 10 triệu đồng. Thuế suất thuế GTGT là 10%, thuế GTGT cơ sở A phải nộp được tính như sau: GTGT của sản phẩm bán ra: 30 triệu đồng – 10 triệu đồng = 20 triệu đồng; Thuế GTGT phải nộp: 20 triệu đồng x 10% = 2 triệu đồng. 3. Tại sao pháp luật lại quy định có sự khác biệt trong phương pháp tính thuế GTGT? Về cơ bản, thuế GTGT là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Dựa trên đối tượng tính thuế là phần chênh lệch giữa giá trị đầu ra và phần giá trị đầu vào tương ứng, pháp luật quy định có 2 phương pháp tính thuế GTGT. Vậy doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp và phương pháp khấu trừ thuế thì khác nhau thế nào? + Thứ nhất: Đối với phương pháp trực tiếp thì khi tính thuế GTGT, ta sẽ căn cứ vào tổng giá trị doanh thu thu về và chi phí bỏ ra, trong đó đã bao gồm cả thuế mà không tách riêng ra làm hai phần: doanh thu tính thuế (chưa có thuế) và thuế. Đối với phương pháp khấu trừ thì khi tính thuế GTGT, phần doanh thu chưa thuế và thuế được bóc tách ra riêng biệt và theo dõi riêng phục vụ cho mục đích quản lý. Thuế được theo dõi riêng có ưu điểm là có thể tính được tổng thuế phải nộp (khi phát sinh doanh thu) và tổng thuế được khấu trừ (khi phát sinh chi phí) một cách rõ ràng và nhanh chóng. + Thứ hai: Thuế phải nộp theo phương pháp trực tiếp không phải thuế gián thu, số thuế phải nộp sẽ trừ vào doanh thu thuần cuối kỳ để xác định kết quả kinh doanh. Trong khi đó, thuế phải nộp theo phương pháp khấu trừ là thuế gián thu, được theo dõi riêng nên không ảnh hưởng đến doanh thu thuần cuối kì. + Thứ ba: Tính thuế theo phương pháp trực tiếp sẽ có hiện tượng đánh trùng thuế (tức là đánh nhiều lần thuế trên cùng một mức doanh thu), thuế khấu trừ khắc phục được hạn chế này. Lý do pháp luật lại quy định sự khác biệt ? Đó là do điều kiện của các chủ thể chịu thuế GTGT khác nhau, trong đó có điều kiện về kế toán, chứng từ, hóa đơn làm căn cứ tính thuế. Với những đặc điểm, lợi thế của phương pháp khấu trừ thuế, chủ thể nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế phải đạt những điều kiện nhất định: Chủ thể nộp thuế có hoạt động kinh doanh ổn định, chấp hành chế độ hạch toán kế toán, chế độ sử dụng chứng từ hóa đơn theo đúng quy định; Chủ thể phải đăng kí thuế, đã được cơ quan thuế cấp mã số thuế theo đúng trình tự luật định; Chủ thể phải đăng kí với cơ quan thuế và được cơ quan thuế chấp nhận nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Do những yêu cầu như vậy, sẽ có những chủ thể kinh doanh không thể đáp ứng được điều kiện về hóa đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế. Có thể là lo chủ thể đó nhận hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không có khả năng xuất chứng từ hóa đơn hoặc hóa đơn không hợp lệ, cũng có thể là do giá thanh toán của chủ thể ko đủ căn cứ chứng minh nên không không đủ cơ sở để xác định phần “giá trị tăng thêm”. Chính vì vậy mà pháp luật phải quy định một phương pháp tính thuế GTGT khác phù hợp với những đối tượng này. Đó là phương pháp trừ trực tiếp, theo đó chủ thể nộp thuế theo phương pháp trực tiếp là các chủ thể mà chưa đủ điều kiện về kế toán, chứng từ, hóa đơn làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế và cơ sở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quí. KẾT LUẬN: Với xu hướng đổi mới công tác quản lý thuế, đảm bảo sự bình đẳng về nghĩa vụ của các chủ thể nộp thuế, đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế ngày càng lớn và tiến tới áp dụng một phương pháp tính thuế cho tất cả các chủ thể nằm trong diện nộp thuế GTGT.
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ xử lý biến dạng gỗ bạch đàn trắng (Eucalyptus camandulensis Dehn) bằng phương pháp xẻ (TT LA tiến sĩ)

Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ xử lý biến dạng gỗ bạch đàn trắng (Eucalyptus camandulensis Dehn) bằng phương pháp xẻ (TT LA tiến sĩ)

Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ xử lý biến dạng gỗ bạch đàn trắng (Eucalyptus camandulensis Dehn) bằng phương pháp xẻ (TT LA tiến sĩ)Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ xử lý biến dạng gỗ bạch đàn trắng (Eucalyptus camandulensis Dehn) bằng phương pháp xẻ (TT LA tiến sĩ)Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ xử lý biến dạng gỗ bạch đàn trắng (Eucalyptus camandulensis Dehn) bằng phương pháp xẻ (TT LA tiến sĩ)Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ xử lý biến dạng gỗ bạch đàn trắng (Eucalyptus camandulensis Dehn) bằng phương pháp xẻ (TT LA tiến sĩ)Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ xử lý biến dạng gỗ bạch đàn trắng (Eucalyptus camandulensis Dehn) bằng phương pháp xẻ (TT LA tiến sĩ)Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ xử lý biến dạng gỗ bạch đàn trắng (Eucalyptus camandulensis Dehn) bằng phương pháp xẻ (TT LA tiến sĩ)Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ xử lý biến dạng gỗ bạch đàn trắng (Eucalyptus camandulensis Dehn) bằng phương pháp xẻ (TT LA tiến sĩ)Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ xử lý biến dạng gỗ bạch đàn trắng (Eucalyptus camandulensis Dehn) bằng phương pháp xẻ (TT LA tiến sĩ)Nghiên cứu một số yếu tố công nghệ xử lý biến dạng gỗ bạch đàn trắng (Eucalyptus camandulensis Dehn) bằng phương pháp xẻ (TT LA tiến sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY MẸ NĂM 2008 - CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM

BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY MẸ NĂM 2008 - CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM

CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAMðịa chỉ: 184-186-188 Nguyễn ðình Chiểu – Quận 3 – Thành phố Hồ Chí MinhBÁO CÁO TÀI CHÍNHCho năm tài chính kết thúc ngày 31 tháng 12 năm 2008b. Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho:+ Các loại nguyên vật liệu, nhiên liệu, vật tư phụ tùng, thành phẩm, công cụ, hàng hóa ñược ápdụng phương pháp bình quân gia quyền khi xác ñịnh giá xuất kho.+ Hàng tồn kho trong kỳ nhập khẩu ñược ghi nhận tăng trong kỳ theo tỷ giá ngọai tệ thực tế tại thờiñiểm giao hàng.+ Hàng tồn kho tăng giảm trong kỳ bằng các hình thức di chuyển ñiều kho nội bộ sẽ ñược hạchtoán tăng theo giá hạch toán (giá ñiều chuyển cố ñịnh); phần chênh lệch giữa giá hạch toán vàgiá bình quân sẽ ñược hạch toán vào tài khoản chênh lệch. Cuối kỳ, phần chênh lệch sẽ ñượchạch toán vào hàng tồn kho hoặc giá vốn hàng bán (tùy thuộc vào tính chất xuất kho của hàngtồn kho này).c. Phương pháp hạch toán hàng tồn kho:Phương pháp kê khai thường xuyên.d. Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho:+ Công ty thực hiện trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo chính sách 06/CS-KSNB/2006ban hành ngày 28/02/2008 (trên cơ sở tuân thủ Thông tư 13/2006/TT-BTC ngày 27/02/2007 củaBộ Tài Chính )4.Các khoản phải thu thương mại, các khoản phải thu khác và cách thức lập dự phòng nợphải thu khó ñòi:a. Các khoản phải thu thương mại ñược ghi nhận phù hợp với chuẩn mực doanh thu về thời ñiểm ghi nhậncăn cứ theo hóa ñơn, chứng từ phát sinh.b. Các khoản phải thu khác ñược ghi nhận theo hóa ñơn, chứng từ ñã ñược xem xét, phê duyệt .c. Dự phòng nợ phải thu khó ñòi: ðược lập cho từng khoản nợ phải thu khó ñòi căn cứ vào tuổi nợ quá
Xem thêm

36 Đọc thêm

GIẢI PHÁP NÂNG CAOCHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG CỦA VIETTEL TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

GIẢI PHÁP NÂNG CAOCHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG CỦA VIETTEL TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

(5) Khó đo lườngDo dịch vụ là vô hình nên khách hàng khó có thể dự đoán họ sẽ nhận đượcgì trước khi sử dụng. Cùng một loại dịch vụ nhưng nhân viên cung ứng khácnhau, đối với từng khách hàng đánh giá cũng khác nhau. Khi trao đổi hàng hóa,khách hàng sử dụng rất nhiều tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá chất lượng như mẫu11mã, độ bền, màu sắc, nhãn mác,… còn để đánh giá chất lượng dịch vụ thì kháchhàng phải căn cứ vào việc tiếp xúc với nhân viên cung ứng và phụ thuộc vàocảm nhận chủ quan.1.1.2.2. Các đặc điểm riêng của dịch vụ của dịch vụ thông tin di động(1) Dịch vụ thông tin di động là dịch vụ có tính công nghệ caoTrên thực tế, dịch vụ thông tin di động khó có thể được bảo vệ bằng bảnquyền. Đặc biệt, trong tình trạng cạnh tranh ngày càng gay gắt thì việc dẫn đếnhiện tượng các dịch vụ bắt chước sẽ ra đời gần như đồng thời với dịch vụ nguyênbản là điều dễ thấy. Điều này khiến các nhà cung ứng dịch vụ không thể duy trìlợi nhuận cao từ các dịch vụ mới sau khi đối thủ cạnh tranh phát triển các dịchvụ thay thế. Bên cạnh đó, công nghệ viễn thông di động có vòng đời tương đốingắn so với các công nghệ khác nên các nhà cung ứng dịch vụ thông tin di độngthường phải xem xét việc dẫn đầu về công nghệ có đáng chi phí bỏ ra hay không.Vì vậy, dịch vụ thông tin di động là dịch vụ có tính công nghệ cao, tức là vì cógiá trị sử dụng để liên lạc “mọi lúc, mọi nơi” nên dịch vụ thông tin di động cómạng lưới tương đối phức tạp, tính công nghệ cao và tỷ trọng chất xám để vậnhành, khai thác lớn.(2) Dịch vụ thông tin di động là dịch vụ mang tính tiêu chuẩn hóa caoDịch vụ thông tin di động là dịch vụ mang tính tiêu chuẩn hóa cao. Cácthiết bị tham gia quá trình thực hiện cuộc gọi thông tin di động bao gồm chuyểnmạch, truyền dẫn, thu phát tín hiệu, ghi và in cước đều có giao diện được chuẩnhóa để thiết bị của các hãng cung ứng dịch vụ khác nhau có thể giao tiếp được
Xem thêm

107 Đọc thêm

khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam

khóa luận Xây dựng mô hình tổng cầu hàng hóa và dịch vụ nền kinh tế Việt Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1. Sự cần thiết của đề tài Trong điều hành kinh tế vĩ mô, việc nắm bắt được bản chất, cấu trúc vận hành của nền kinh tế đóng vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, khả năng dự báo và đánh giá tác động của chính sách kinh tế vĩ mô cũng là những yêu cầu hàng đầu đối với các nhà điều hành quản lý, các nhà lập chính sách cho nền kinh tế. Kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới với những biến động phức tạp diễn ra cả trong lẫn ngoài nước. Trong bối cảnh đó, các yêu cầu nêu trên càng trở nên cấp thiết hơn đối với Việt Nam. Một trong những công cụ quan trọng để phân tích cấu trúc, thực hiện dự báo và đánh giá tác động chính sách đối với nền kinh tế là sử dụng mô hình kinh tế lượng vĩ mô (Macroeconometric modelling). Do đó, đề tài này tiến hành xây dựng mô hình kinh tế lượng vĩ mô đơn giản theo cách tiếp cận tổng cầu, nhằm đem lại những hiểu biết cơ bản nhất đối với cấu trúc vận hành cũng như tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô đối với nền kinh tế Việt Nam. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Mục tiêu tổng quát của đề tài là đem lại cái nhìn căn bản và trực tiếp về cấu trúc vận hành của nền kinh tế Việt Nam theo cách tiếp cận tổng cầu. Mục tiêu cụ thể: Với mục tiêu tổng quát nêu trên, đề tài cố gắng thực hiện việc mô hình hoá thị trường hàng hoá dịch vụ, thị trường tiền tệ trong nền kinh tế Việt Nam. Mô hình được thể hiện dưới dạng hệ thống các phương trình hành vi, các phương trình định dạng và định nghĩa. Đề tài cũng cố gắng ước lượng hệ số nhân tổng cầu, và ứng dụng hệ số nhân này để tìm hiểu tác động của chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ đối với biến số kinh tế cơ bản là sản lượng. 1.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Vì mục tiêu của đề tài là đem lại cái nhìn cơ bản và trực tiếp về cấu trúc vận hành và tác động chính sách trong nền kinh tế nên đề tài chỉ thực hiện việc xấy dựng mô hình cấu trúc ở mức độ đơn giản. Mô hình được xây dựng theo cách tiếp cận tổng cầu, chỉ nhằm giải thích sự thay đổi của biến kinh tế cơ bản là sản lượng. Nội dung mô hình không nhằm giải thích toàn bộ các mối quan hệ trong nền kinh tế (ví dụ như khối sản xuất thực, khối ngân sách nhà nước, khối cán cân thanh toán quốc tế, v.v.) Đề tài chỉ tập trung vào phía Cầu của nền kinh tế với các lý do là sau: Thứ nhất, nền tảng lý thuyết của đề tài dựa trên lý thuyết Keynes. Theo đó, Cầu có vai trò quyết định trong nền kinh tế, vì Cầu quyết định Cung, tạo ra mối quan hệ cân bằng cungcầu trên thị trường. Thứ hai, dữ liệu kinh tế vĩ mô của Việt Nam rất hạn chế, không đầy đủ. Do đó, việc xây dựng mô hình bao gồm tất cả các hoạt động của nền kinh tế sẽ gặp trở ngại rất lớn, và độ phù hợp của mô hình cũng khó được đảm bảo. Thứ ba, việc xây dựng một mô hình phức tạp vượt quá khả năng của một luận văn cử nhân. 1.4. Cấu trúc của luận văn Chương 1: Nêu lên sự cần thiết, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Tóm lược các lý thuyết kinh tế và các phương pháp kinh tế lượng dùng để ước lượng kiểm định mô hình. Chương 3: Nêu tổng quan về các tài liệu liên quan đến việc xây dựng mô hình kinh tế lượng vĩ mô đối với nền kinh tế Việt Nam; và tổng quan về các giai đoạn phát triển của nền kinh tế Việt Nam từ năm 1986 đến nay và các mốc quan trọng trong việc thực hiện chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ tại Việt Nam. Chương 4: Mô tả quá trình xây dựng, ước lượng, kiểm định, đánh giá chất lượng mô hình và kết quả thử nghiệm chính sách kinh tế vĩ mô. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Giới thiệu về mô hình kinh tế lượng vĩ mô Mô hình kinh tế lượng vĩ mô là một hệ thống bao gồm các phương trình hành vi, cũng như các quan hệ định nghĩa, mô tả cấu trúc và cơ chế vận hành của một nền kinh tế, chủ yếu dựa vào hành vi của các tác nhân kinh tế (Abbas, 2005). Về lý thuyết, có năm dạng mô hình kinh tế lượng vĩ mô là: mô hình KK, mô hình PB, mô hình WJ, mô hình WL và mô hình MS. Mô hình KK dùng để giải thích các biến động kinh tế vĩ mô hướng về cầu của Keynes. Mô hình tập trung vào các vấn đề ổn định ngắn hạn của sản lượng và việc làm, chủ yếu sử dụng chính sách ổn định hoá. Phương pháp mô hình hoá này không nắm bắt đầy đủ vai trò của thị trường tiền tệ, mức giá tương đối và các kì vọng. Mô hình PB ứng dụng cả lý thuyết Keynes và tân cổ điển trong các mô hình thời gian động và liên tục, dùng để phân tích chính sách ổn định hoá. Việc ứng dụng mô hình này trong thực tế rất phức tạp, đặc biệt là đối với các mô hình có quy mô lớn. Mô hình WJ hay còn gọi là mô hình đa khu vực. Trong đó nền kinh tế được chia thành các thị trường phụ thuộc lẫn nhau, mỗi thị trường đạt đến trạng thái cân bằng thông qua hành vi tối đa hoá lợi nhuận của nhà sản xuất và tối đa hoá thoả dụng của người tiêu dùng trong các thị trường cạnh tranh. Mô hình WL kết hợp các bảng IO (bảng vàora) và hệ cân bằng tổng quát Walras, giúp các nhà phân tích nắm được đầu ra của các ngành kinh tế, giá trị gia tăng hoặc việc làm nếu cho trước các thành phần tổng cầu cuối cùng hoặc các thành phần nhu cầu theo ngành . Mô hình MS dựa vào lý thuyết kỳ vọng hợp lý. Trong mô hình này việc hình thành kỳ vọng không phải dựa vào giá trị quá khứ của biến phụ thuộc. Các biến kỳ vọng trong tương lai chỉ có thể đạt được nhờ vào việc giải toàn bộ mô hình. Mô hình kinh tế lượng vĩ mô đầu tiên cho nước đang phát triển do Narasimham(1956) xây dựng cho Ấn Độ dưới sự cố vấn của Tinbergen. Những mô hình đầu tiên dành cho các nước đang phát triển phần lớn là những phiên bản nhỏ của mô hình KK mô tả phía cầu của nền kinh tế. Tính sẵn có của nhiều dữ liệu trong hầu hết các nước đang phát triển là một yếu tố cản trở việc xây dựng mô hình, vì cơ sở dữ liệu không đáng tin cậy và thường xuyên bị điều chỉnh. Do đó chúng ta nên sử dụng phương pháp ước lượng đơn giản như phương pháp bình phương tối thiểu hai giai đoạn ít nhạy cảm đối với chất lượng của dữ liệu. Kể từ những năm cuối của thập niên 1970, việc xây dựng mô hình kinh tế lượng vĩ mô đối mặt với nhiều lời chỉ trích. Những lời chỉ trích này tựu trung về 6 vấn đề: Thiếu tính dự báo, mâu thuẩn với lý thuyết kỳ vọng hợp lý, tính ổn định của cơ cấu (chỉ trích của Lukas), sự phân chia dữ biến nội sinh ngoại sinh trong mô hình để thông qua điều kiện về nhận dạng, và cuối cùng là vấn đề nghiệm đơn vị và đồng tích hợp cũng như tính chất chuổi thời gian cùa dữ liệu. Tuy nhiên Bodkin và Hsiao (1996) cho rằng mô hình kinh tế lượng vĩ mô rất hữu ích trong việc phân tích cơ cấu, dự báo và đánh giá chính sách với điều kiện là chúng phải được áp dụng các kiểm định thông số trước và sau khi công bố. Các loại kiểm định mà họ khuyến cáo bao gồm hai nhóm chính: kiểm định từng phương trình riêng lẽ trong mô hình và kiểm định toàn bộ hệ thống mô hình. Nhóm thứ nhất bao gồm bốn kiểm định nhỏ: kiểm định t va kiểm định F dùng để kiểm tra mức ý nghĩa thống kê của các hệ số ước lượng, kiểm tra dấu của hệ số ước lượng có đúng với lý thuyết hay không, các kiểm định phân tích dùng để kiểm tra các vi phạm giả thiết như tự tương quan, phương sai không đồng đều, đa cộng tuyến…, kiểm tra tính ổn định của các phương trình được ước lượng thông qua kiểm định Chow hoặc kiểm định RESET của Ramsey… Nhóm thứ hai bao gồm ba kiểm định nhỏ: Đánh giá toàn bộ mô hình thông qua các trị số thống kê về độ phù hợp như phần trăm sai số trung bình, hệ số Theil…, sai số động của toàn bộ mô hinh phải chấp nhận được, trước khi công bố kết quả mô hinh phải kiểm tra xem kết quả mô phỏng chính sách có phù hợp với kỳ vọng về mặt lý thuyết hay không. Các mô hình kinh tế lượng vĩ mô phiên bản mới thường nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn vốn con người, tính chất mở cửa thương mại và các yếu tố nhân khẩu học đối với tăng trưởng GDP. Guisan và Exposito (2001) đã khảo sát toàn diện tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước châu Á và châu Phi trong thời kỳ 19511999. Kết quả thực nghiệm của họ rõ ràng cho thấy các chính sách hướng đến việc phát triển vốn con người và mở cửa thị trường sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong một nghiên cứu khác, Guisan (2004) đã sử dụng dữ liệu chuaỗi thời gian hàng năm giai đoạn 1960 2002 đối với nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và nhận thấy rằng: Việc gia tăng trong vốn con người và vốn tư bản cũng như mức độ mở cửa thương mại cao hơn đều đóng góp vào mức tăng trưởng GDP cao hơn. Thật ra, kết quả kinh tế lượng của ông chỉ ra rằng mức độ mở cửa thương mại cao hơn không những làm tăng cầu nước ngoài như vậy làm tăng GDP mà còn giúp phát triển công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Love và Chandra (2004) sử dụng các kỹ thuật đồng tích hợp khác nhau và dữ liệu giai đoạn 19501992 nhận thấy việc mở cửa thương mại có quan hệ dài hạn với mức gia tăng trong thu nhập thực bình quân đầu người ở Ấn Độ. Vì vậy cần phải kết hợp các yếu tố này trong việc xây dựng mô hinh kinh tế lượng vĩ mô cho các nền kinh tế đang phát triển. 2.2. Giới thiệu hệ thống tài khoản quốc gia SNA Trong SNA, các chỉ tiêu phản ánh về kết quả sản xuất, về mức thu nhập mà nền kinh tế đạt được được chia thành hai nhóm: Nhóm chỉ tiêu tính theo lãnh thổ gồm: Tổng sản phẩm quốc nội GDP và Sản phẩm quốc nội ròng NDP. Nhóm chỉ tiêu tính theo quyền sở hữu gồm: Tổng sản phẩm quốc dân GNP, Sản phẩm quốc dân ròng NNP, Thu nhập quốc dân NI, Thu nhập cá nhân PI, Thu nhập khả dụng DI. 2.2.1 Phân biệt GDP và GNP GDP là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của toàn bộ sả phẩm cuối cùng được sản xuất ra trên lãnh thổ một nước tính trong khoảng thời gian nhất định thường là một năm. GNP là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cuối cùng do công dân một nước sản xuất ra trong khoảng thời gian nhất định thường tính cho một năm. GNP = GDP + NIA Trong đó, NIA = thu nhập từ các yếu xuất khẩu – Thu nhập từ các yếu tố nhập khẩu 2.2.2. Đo lường GDP GDP được tính theo 3 phương pháp: a) Phương pháp sản xuất: được xác định qua hai bước: Bước một: xác định giá trị tăng thêm của từng ngành kinh tế: Giá trị tăng thêm= Giá trị sản xuất Chi phí trung gian Bước hai: xác định GDP: GDP= Giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế+ Thuế nhập khẩu b) Phương pháp phân phối (còn gọi là phương pháp thu nhập) GDP được xác định theo công thức sau: GDP= Khấu hao +Tiền lương +Tiền thuê +Tiền lãi +Lợi nhuận +Thuế gián thu Khấu hao là khoản tiền dùng để bù đắp giá trị hao mòn của tài sản cố định. Tiền lương là lượng thu nhập nhận được do cung cấp sức lao động. Tiền thuê là khoản thu nhập có được do cho thuê đất đai nhà cửa và các loại tài sản khác. Tiền lãi là thu nhập có được do cho vay tính theo một mức lãi suất nhất định. Lợi nhuận là khoản thu nhập còn lại của xuất lượng sau khi trừ đi chi phí sản xuất. Thuế gián thu là những loại thuế gián tiếp đánh vào thu nhập . c) Phương pháp chi tiêu cuối cùng GDP được xác định theo công thức sau: GDP= Tiêu dùng cuối cùng +Đầu tư +Xuất khẩu Nhập khẩu Tiêu dùng cuối cùng là một phần của tổng thu nhập quốc gia dùng để mua sản phẩm vật chất và dịch vụ nhằm thỏa mãn đời sống vật chất và tinh thần của dân cư và nhu cầu chung của xã hội. Tiêu dùng cuối cùng được chia thành: chi tiêu dùng của dân cư hộ gia đình, chi tiêu dùng cuối cùng của nhà nước, chi tiêu dùng của các tổ chức không vị lợi phục vụ nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạt của hộ gia đình. Đầu tư là lượng tiền dung để mua các loại tài sản tư bản như máy móc thiết bị, kho bãi, nhà xưởng… Số tiền này được gọi là tiền mua tư bản mới. Ngoài ra, đầu tư còn bao gồm phần chênh lệch tồn kho giữa cuối năm và đầu năm. Xuất khẩu là lượng tiền thu được do bán hàng hoá và dịch vụ ra nước ngoài. Nhập khẩu là lượng tiền dùng để mua hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài. 2.2.3. Giá cả trong SNA Trong mức giá của sản phẩm bán trên thị trường có chứa thuế gián thu. Theo các nhà kinh tế, thuế gián thu nhiều hay ít là do chính phủ tự định, nó không phản ánh được chi phí thực của quốc gia để sản xuất sản phẩm. Do đó, cần phải có một loại chỉ tiêu không bị tác động bởi sự thay đổi các khoảng thuế này. Đó là chỉ tiêu tính theo giá yếu tố sản xuất. Chỉ tiêu tính theo = Chỉ tiêu tính theo Thuế gián thu giá yếu tố sản xuất giá thị trường Ngoài ra, khi so sánh các chỉ tiêu qua các năm, nếu sử dụng chỉ tiêu tính theo mức giá của từng năm thì có thể xảy ra trường hợp là: do giá tăng làm cho chỉ tiêu của năm này cao hơn năm khác, nhưng giá trị định lượng thực tế có thể không cao hơn đến mức như vậy. Để tránh trường hợp trên, người ta phân biệt hai loại chỉ tiêu tính theo giá hiện hành (gọi là chỉ tiêu danh nghĩa) và giá so sánh (gọi là chỉ tiêu thực) Chỉ tiêu thực = Chỉ tiêu danh nghĩa Chỉ số giá Nếu xét theo mốc thời gian, có hai loại chỉ số giá: chỉ số giá so với năm trước và chỉ số giá so với năm gốc. Chỉ số giá so với năm gốc là chỉ tiêu phản ánh mức giá trung bình ở một năm nào đó bằng bao nhiêu phần trăm so với năm được chọn làm gốc. 2.3. Mô hình ISLMBP Với mô hình ISLMBP, chúng ta có thể khảo sát được tác động của các chính sách tài khoá, tiền tệ và tỷ giá đối với cân bằng trên thị trường sản phẩm, tiền tệ và cán cân thanh toán. 2.3.1. Giới thiệu mô hình ISLMBP Đường IS (Investment equals Saving) phản ánh các tổ hợp khác nhau giữa lãi suất r và sản lượng Y mà ở đó thị trường sản lượng cân bằng. Bất cứ mức sản lượng nào nằm trên đường IS cũng đều thoả mãn phương trình: Y= C +G +I +XM (1) Đường LM (Liquidity preference – Money supply) phản ánh các tổ hợp khác nhau giữa sản lượng và lãi suất mà ở đó thị trường tiền tệ cân bằng. Các mức lãi suất nằm trên đường LM luôn thoả mãn phương trình: Cung tiền = Cầu tiền (2) Đường BP (Balance of Payment) phản ánh các tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và sản lượng mà ở đó đảm bảo sự cân bằng của cán cân thanh toán. Các điểm nằm trên đường BP luôn thoả mãn phương trình: Vốn đi vào Vốn đi ra = Nhập khẩu Xuất khẩu (3) Sự cân băng bên trong khi sản lượng và lãi suất được duy trì ở mức mà cả thi trường sản phẩm lẫn thị trường tiền tệ cân bằng. Sự cân bằng bên ngoài xảy ra khi cán cân thanh toán cân bằng. Như vậy nền kinh tế cân bằng toàn bộ cả bên trong lẫn bên ngoài tại điểm mà ở đó phải đồng thời thoả mãn ba phương trình (1), (2), (3). Đó chính là giao điểm của ba đường IS –LM – BP trên hình bên. 2.3.2 Tác động của chính sách tài khoá Giả sử chính phủ thực hiện chính sách tài khoá mở rộng bằng cách tăng G hoặc giảm T. Đường IS dịch chuyển sang phải thành IS2, cho trạng thái cân bằng bên trong tại E’ nhưng lại mất cân bằng bên ngoài  cán cân thương mại thặng dư  cung ngoại tệ tăng lên  tỷ giá hối đoái giảm đồng tiền Việt Nam có giá hơn đồng tiền nước ngoài. Nền kinh tế điều chỉnh như sau: a) Trong cơ chế tỷ giá thả nổi Tỷ giá giảm làm sức cạnh tranh của hàng trong nước giảm tăng nhập khẩu và giảm xuất khẩu dẫn đến hai kết quả: Lượng ngoại tệ đi vào giảm và lương ngoại tệ đi ra tăng làm đường BP dịch chuyển sang trái. Tổng cầu đối với hàng hoá và dịch vụ trong nước giảm làm cho đường IS dịch chuyển sang trái. Đường BP và IS dịch chuyển sang trái cho đến khi đạt đến điểm cân bằng mới tại E2: Lãi suất và sản lượng cân bằng cùng tăng. b) Trong cơ chế tỷ giá cố định Ngân hàng trung ương phải dùng nội tệ để mua ngoại tệ vào nhằm chống áp lực sụt giảm tỷ giá làm cho LM dịch chuyển sang phải cho đến khi tạo được điểm cân bằng mới tại E2: Lãi suất và sản lượng đều tăng. 2.3.3. Tác động của chính sách tiền tệ Giả sử ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách tăng lượng cung tiền LM dịch chuyển sang phải thành LM2 cắt IS tại E’: Nền kinh tế cân bằng bên trong nhưng lại mất cân bằng bên ngoài, cán cân thanh toán thâm hụt ngoại tệ đi vào nhiều hơn ngoại tệ đi ra Tỷ giá tăng. a) Cơ chế tỷ giá thả nổi Tỷ giá tăng xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm tổng cầu trong nước tăng IS dịch chuyển sang phải. Lượng ngoại tệ đi vào tăng, ngoại tệ đi ra giảm đường BP dịch chuyển sang phải. Đường BP và IS dịch chuyển cho tới khi tạo thành điểm cân bằng mới tại E2 sản lượng cân bằng tăng, lãi suất cân băng có thể tăng giảm hoặc không đổi. b) Trong cơ chế tỷ giá cố đinh Ngân hàng trung ương phải bán ngoại tệ ra và thu nội tệ vào làm cho đường LM dịch chuyển sang trai. Đường LM2 dịch chuyển cho tới khi trở về vị trí LM cũ. Kết quả là sản lượng và lãi suất quay về mức cũ. 2.3.4. Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái Ngân hàng trung ương chủ động phá giá khi sản lượng nhỏ hơn mức sản lượng tiềm năng, nền kinh tế bị thất nghiệp nhiêu. Khi sản lượng lớn hơn mức sản lượng tiềm năng, có lạm phát cao thi ngân hàng trung ương chủ động tăng giá để kéo lạm phát xuống. Một khi đã thực hiện chính sách phá giá hay nâng giá thì có nghĩa là quốc gia đang theo cơ chế tỷ giá cố định. Giả sử chính phủ thực hiện chính sách phá giá làm tăng tỷ giá để khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu tăng tổng cầu và tăng lượng ngoại tệ đi vào đường IS và BP dịch chuyển sang phải. Ngoài ra khi phá giá ngân hàng trung ương phải bỏ nội tệ ra mua ngoại tệ vào đường LM dịch chuyển sang phải. Cả ba đường IS LMBP cùng dịch chuyển sang phải làm cho sản lượng cân bằng tăng, lãi suất cân bằng có thể tăng, giảm hoặc không đổi. Tóm lại: Trong cơ chế tỷ giá thả nổi: Chính sách tài khoá có tác động yếu, chính sách tiền tệ có tác động mạnh. Trong cơ chế tỷ giá cố định: Chính sách tiền tệ không có tác dụng, chính sách tài khoá và chính sách tỷ giá có tác dụng hữu hiệu. 2.4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng các phương pháp sau: 2.4.1.Phương pháp kinh tế lượng: được áp dụng trong việc ước lượng, kiểm định phân tích mô hình, bao gồm:. Thủ tục Bình phương tối thiểu hai giai đoạn (TSLS) Phương pháp TSLS cũng dựa trên nguyên tắc tương tự như trong phương pháp Bình phương tối thiểu thông thường (OLS) là cực tiểu tổng các phần dư bình phương. Tuy nhiên, nếu dùng thủ tục OLS để ước lượng các thông số của hệ thống các phương trình đồng thời, thì giá trị ước lượng sẽ bị thiên lệch và không nhất quán. Các dự báo dựa vào chúng cũng sẽ bị thiên lệch và không nhất quán, các kiểm định giả thuyết về các thông số không có hiệu lực. Để có thể khắc phục những vấn đề trên, một trong những phương pháp có thể thay thế là TSLS. Thủ tục TSLS được tiến hành qua hai giai đoạn như sau: Giai đoạn một: Trước tiên, ước lượng dạng rút gọn đối với tất cả các biến nội sinh xuất hiện ở vế bên phải của các phương trình. Lưu lại các giá trị ước lượng này. Giai đoạn hai: Ước lượng phương trình cấu trúc nhưng sử dụng công cụ là các biến nội sinh dự đoán thu được trong giai đoạn một Kiểm định t và pvalue Kiểm định t dùng để kiểm định ý nghĩa thống kê của từng hệ số ước lượng riêng lẽ. Các bước thực hiện như sau: Giả sử phương trình ước lượng là: Yt= α + ∑(βiXit) + ut Bước 1: Giả thiết H0: βi= β0, H1:βiβ0 Bước 2: Kiểm định thống kê tc= (β β0)sβ, được tính dựa trên mẫu. Theo giả thiết không, kiểm định thống kê có phân phối t với bậc tự do là nk (n là số quan sát, k là hệ số ước lượng). Bước 3: Chọn mức ý nghĩa α và xác định điểm tnk, α sao cho P(t>t)=α. Bước 4: Bác bỏ H0 nếu │tc│> t. Kiểm định t có thể được thực hiện theo một phương pháp khác tương đương. Trước tiên tính xác suất: pvalue = P(t>tc hoặc t β0 một cách đáng kể ở mức ý nghĩa α. Kiểm định hiện tượng tự tương quan Ta có thể sử dụng kiểm định DW để kiểm định hiện tượng tự tương quan . Tuy nhiên kiểm đinh DW có hạn chế trong nhiều trường hợp: Kiểm định cho các kết quả không thể kết luận được. Kiểm định DW không hợp lệ nếu các biến giải thích bao gồm biến phụ thuộc trễ. Kiểm định không thể áp dụng nếu các sai số từ hồi quy có bậc cao hơn 1. Trong những trường hợp nêu trên, một lựa chọn khác thay thế là kiểm định nhân tử LM. Tuy nhiên, kiểm định LM thường là kiểm định mẫu lớn. Các bước thực hiện kiểm định LM như sau: Bước 1: Ước lượng phương trình chính và tính toán các phần dư Bước 2: Hồi quy ut theo một hằng số, các biến giải thích trong phương trình chính và utk. Tính toán trị kiểm định LM = (nk)R2 từ hồi quy phụ này. Bước 3: Bác bỏ giả thuyết H0 cho rằng không có hiện tượng tự tương quan nếu LM > χk2(α). Kiểm định đặc trưng của mô hình Một trong những cách dùng để kiểm định xem mô hình đã được đặc trưng đúng hay chưa là sử dụng kiểm định RESET (kiểm định sai số đặc trưng hồi quy) do Ramsey (1969) đề ra. Cơ sở của thủ tục RESET là các phần dư ước lượng mà đại diện cho tác động của biến bị loại bỏ có thể được tính xấp xỉ bằng tổ hợp tuyến tính của các luỹ thừa của các giá trị được thích hợp. Nếu các luỹ thừa này có tác động có ý nghĩa thì mô hình gốc được coi như đã bị đặc trưng sai. Tuy nhiên, thủ tục RESET không chỉ ra được loại đặc trưng sai và cũng không gợi ý dạng hàm thích hợp cần sử dụng. Các bước thực hiện thủ tục RESET như sau: Bước 1: Ước lượng mô hình theo thủ tục OLS và lưu các giá trị được thích hợp Yt
Xem thêm

Đọc thêm

KTK35CD do thanh tan ban thao x

KTK35CD do thanh tan ban thao x

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN 1.1. Khái niệm và đặc điểm vốn bằng tiền Vốn bằng tiền của doanh nghiệp là một bộ phận của tài sản lưu động,được biểu thị dưới hình thái tiền tệ, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, kho bạc hoặc các công ty tài chính và tiền đang chuyển. Vốn bằng tiền có tính lưu hoạt (thanh khoản) cao nhất trong các loại tài sản của doanh nghiệp, được dùng để đáp ứng nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp, thực hiện việc mua sắm hoặc chi phí. 1.2. Nhiệm vụ kế toán vốn bằng tiền Phản ánh kịp thời các khoản thu chi vốn bằng tiền, thực hiện việc kiểm tra đối chiếu số liệu thường xuyên với thủ quỹ để đảm bảo giám sát chặt chẽ kế toán vốn bằng tiền; Phản ánh tình hình tăng giảm và số dư tiền gửi ngân hàng hằng ngày, giám sát việc chấp hành chế độ thanh khoản không dùng tiền mặt; Phản ánh các khoản tiền đang chuyển, kịp thời phát hiện nguyên nhân tiền đang chuyển bị ách tắc để doanh nghiệp có biện pháp thích hợp giải phóng nhanh tiền đang chuyển kịp thời; Tổ chức thực hiện các quy định về chứng từ thủ tục hạch toán về kế toán vốn bằng tiền. Thông qua việc ghi chép kế toán vốn bằng tiền kế toán thực hiện chức năng kiểm soát và phát hiện các trường hợp chi tiêu lãng phí, sai chế độ, phát hiện các chênh lệch vốn bằng tiền. 1.3. Các quy định chung về công tác kế toán vốn bằng tiền Hạch toán vốn bằng tiền cần tôn trọng một số nguyên tắc sau: + Hạch toán vốn bằng tiền phải sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất là đồng Việt Nam, trừ trường hợp được sử dụng một đơn vị tiền tệ thông dụng khác. + Ở những đơn vị có ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt hoặc gửi vào ngân hàng phải quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch (tỷ giá hối đoái giao dịch thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh) để ghi sổ kế toán. + Trường hợp mua ngoại tệ về nhập quỹ tiền mặt, gửi vào ngân hàng hoặc thanh toán công nợ bằng ngoại tệ thì được quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá mua hoặc tỷ giá thanh toán. Bên có các TK 1112, TK 1122 được quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá trên sổ kế toán TK 1112 hoặc TK 1122 theo một trong các phương pháp: Bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước, giá thực tế đích danh. + Nhóm tài khoản vốn bằng tiền có nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam, đồng thời phải hạch toán chi tiết ngoại tệ theo nguyên tệ. Nếu có chênh lệch tỷ giá hối đoái thì phải phản ánh số chênh lệch này trên các tài khoản doanh thu, chi phí tài chính (nếu phát sinh trong giai đoạn sản xuất kinh doanh kể cả doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản) hoặc phản ánh vào TK 413 (nếu phát sinh trong giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản – giai đoạn trước hoạt động). Số dư cuối kỳ của các tài khoản vốn bằng tiền có gốc ngoại tệ phải được đánh giá lại theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố ở thời điểm lập báo cáo tài chính năm. + Ngoại tệ được kế toán chi tiết theo từng loại nguyên tệ trên TK 007 “Ngoại tệ các loại” (Tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán). + Đối với vàng, bạc, kim khí quý, đá quý phản ánh ở nhóm tài khoản vốn bằng tiền chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp không đăng ký kinh doanh vàng, bạc, kim khí quý, đá quý. Vàng, bạc, kim khí quý, đá quý phải theo dõi số lượng trọng lượng, quy cách, phẩm chất và giá trị của từng thứ, từng loại. Giá trị của vàng, bạc, kim khí quý, đá quý được tính theo giá thực tế (giá hóa đơn hoặc giá được thanh toán) khi tính giá xuất vàng, bạc, kim khí quý, đá quý có thể áp dụng một trong 4 phương pháp tính giá hàng tồn kho. 1.4. Kế toán tiền tại quỹ Tiền tại quỹ của DN bao gồm tiền Việt Nam, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng, bạc,
Xem thêm

Đọc thêm

THỊ TRƯỜNG YẾU TỐ SẢN XUẤT

THỊ TRƯỜNG YẾU TỐ SẢN XUẤT

11BT 1: Cho Hàm SX một hãng dạng Q = 50.K0,5.L0,5.Giả sử K = 100 đv, W = 50đ, r = 30đ và P (giá hhtrên thị trường đầu ra CTHH) = 2đ.a. Xác định mức L mà hãng quyết định mua đểPrmax.b. Prmax là bao nhiêu?c. Điều gì xảy ra khi P hàng hóa trên TT đầu ra tănghêm 1đ.d. Lượng lao động mà hãng thuê mua có tăng lênhay không khi hãng quyết định tăng lượng vốn K từ100 lên 150.12BT 2 Cho hàm SX của DN là Q = 12L – 0,5L2.a. Xác định và vẽ đường cầu L của DN, nếu giá sp đượcbán 20USD trên tt cạnh tranh.b. DN thuê bao nhiêu LĐ với mức lương 20USD/ngày.BT 3 Cho hàm cung và cầu LĐ có dạng:W = 25 + 0,02L & W = 150 – 0,03L. DNA là người chấpnhận P trên TT lao động, cầu LĐ của DNA là W = 150 – La. Tìm mức lương và số lượng LĐ cân bằng của TT cạnhtranh.b. DNA thuê bao nhiêu LĐ và trả mức lương bao nhiêu?c. Vẽ đồ thị minh họa.d. Nếu những người LĐ hợp nhau thành nghiệpđoàn, các hãng vẫn là người nhận giá.
Xem thêm

25 Đọc thêm

Hoach dinh chien luoc ma tran IFE

Hoach dinh chien luoc ma tran IFE

Ngành công nghiệp chế biến gỗ đã trở thành ngành hàng xuất khẩu chủ lực đứng thứ 5 của Việt Nam sau dầu thô, dệt may, giày dép và thủy sản. Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu đồ gỗ đứng đầu Đông Nam Á. Chất lượng sản phẩm đồ gỗ Việt Nam luôn được nâng cao, có khả năng cạnh tranh được với các nước trong khu vực. Về lao động, ngành công nghiệp chế biến gỗ chiếm khoảng từ 250.000 – 300.000 lao động. Trong đó, 10% lao động có trình độ đại học trở lên; 4550% lao động thường xuyên được đào tạo, còn lại 3540% lao động giản đơn theo mùa vụ. Mặc dù số lượng lao động trong ngành hàng chế biến gỗ rất lớn nhưng đa số lao động chưa được đào tạo bài bản, hoạt động thiếu chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, sự phân công lao động chưa hợp lý, giảm sát, quản lý vẫn còn thiếu hiệu quả đang là những vấn đề nổi cộm hiện nay. Năng suất lao động trong ngành chế biến gỗ ở Việt Nam còn thấp: bằng 50% của Philippines, 40% năng suất lao động của Trung Quốc và chỉ bằng 20% năng suất lao động của Liên minh Châu Âu (EU). Với hiện trạng lao động như hiện tại, vấn đề đào tạo và bổ sung nguồn nhân lực có kỹ thuật cao, có khả năng sử dụng tốt các công nghệ hiện đại trong sản xuất là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với ngành hàng chế biến gỗ. 2.2 Ma trận IFE 2.2.1 Ý nghĩa ma trận  Tổng hợp những đánh giá điểm mạnh, điểm yếu  Giúp đánh giá được nguồn lực chiến lược và năng lực lõi của tổ chức  Cung cấp dữ liệu để xây dựng ma trận SWOT và ma trận QSPM 2.2.2 Các bước thực hiện ma trận IFE Bước 1: Xác định từ 1020 yếu tố điểm mạnh, điểm yếu quan trọng đối với DN trong ngành Bước 2: Xác định tầm quan trọng Ti của từng yếu tố đối với DN trong ngành (Ti = 0 ÷ 1). Tổng Ti = 1 Bước 3: Tính điểm phân lọai của DN (ta nghiên cứu) đối với từng yếu tố (Pi = 1 ÷ 4). Pi còn gọi là điểm năng lực Bước 4: Tính điểm năng lực theo trọng số (Qi) của từng yếu tố đối với DN (DN ta nghiên cứu): Qi = Ti Pi Bước 5: Tính tổng điểm năng lực : S = ∑TiPi, trong đó S = 1 ÷ 4 và S trung bình = 2.5 Vận dụng ma trận IFE vào Công ty Cổ Phần Tập Đoàn Kỹ Nghệ Gỗ Trường Thành 3.1 Bước 1 Bước 1: Xác định từ 1020 yếu tố điểm mạnh, điểm yếu quan trọng đối với DN trong ngành Từ danh mục khoảng 130 yếu tố bên trong (được chọn lựa từ lý thuyết) > Bằng phương pháp phỏng vấn chuyên gia bằng bảng hỏi> nhóm đã chọn 10 20 yếu tố bên trong quan trọng đối với DN trong ngành.
Xem thêm

Đọc thêm

TỔNG HỢP BÀI TẬP KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CÓ LỜI GIẢI

TỔNG HỢP BÀI TẬP KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CÓ LỜI GIẢI

Có tài liệu về TSCĐ tại một Công ty trong tháng 6N ( 1.000 đồng ):1. Ngày 7, nhận vốn góp liên doanh dài hạn của công ty V bằng một TSCĐ dùng cho sản xuất theo giá thỏa thuận như sau : Nhà xưởng sản xuất : 300.000 , thờ gian sử dụng 10 năm: Thiết bị sản xuất : 360.000, thời gian sử dụng 5 năm. Bằng sáng chế : 600.000, thời gian khai thác 5 năm.2. Ngày 10, tiến hành mua một dây chuyền sản xuất của công ty K dùng cho phân xưởng sản xuất .Giá mua phải trả theo hóa đơn ( cả thuế GTGT 5%) 425.880.; trong đó : giá trị hữu hình của thiết bị sản xuất 315.000 ( khấu hao trong 8 năm ); giá trị vô hình của công nghệ chuyển giao 110.880 ( khấu hao trong 4 năm ). Chi phí lắp đặt chạy thử thiết bị đã chi bằng tiền tạm ứng ( cả thuế GTGT 5% ) là 12.600. Tiền mua Công ty đã thanh toán bằng tiền vay dài hạn 50%. Còn lại thanh toán bằng chuyển khoản thuộc quỹ đầu tư phát triển.3. Ngày 13, Công ty tiến hành thuê ngắn hạn của công ty M một thiết bị dùng cho bộ phận bán hàng. Giá trị TSCĐ thuê 240.000. Thời gian thuê đến hết tháng 10N. Tiền thuê đã trả toàn bộ ( kể cả thuế GTGT 10% ) bằng tiền vay ngắn hạn 16.500.4. Ngày 16, phát sinh các nghiệp vụ : Thanh lý một nhà kho của phân xưởng sản xuất , đã khấu hao hết từ tháng 5 N., nguyên giá 48.000, tỷ lệ khấu hao bình quân năm 12%. Chi phí thanh lý đã chi bằng tiền mặt 5.000, phế liệu thu hồi nhập kho 10.000. Gửi một thiết bị sản xuất đi tham gia liên kết dài hạn với Công ty B , nguyên giá 300.000 ; giá trị hao mòn lũy kế 55.000, tỷ lệ khấu hao bình quân năm 10%. Giá trị vốn góp được Công ty B ghi nhận là 320.000, tương ứng 21% quyền kiểm soát.5. Ngày 19 , mua một thiết bị quản lý sự dụng cho văn phòng Công ty. Giá mua ( cả thuế GTGT 5% ) là 315.000, đã trả bằng tiền gửi ngân hàng. Chi phí vận chuyển , bốc dỡ , lắp đặt đã chi bằng tiền mặt 2.100 ( cả thuế GTGT 5%). Tỷ lệ khấu hao bình quân năm của TSCĐ là 15 % và thiết bị đầu tư bằng nguồn vốn kinh doanh..6. Ngày 22, nghiệm thu nhà văn phòng quản lý do bộ phận XDCB bàn giao. Giá quyết toán của ngôi nhà là 1.000.800, vốn xây dựng công trình là nguồn vốn đầu tư XDCB. Thời gian tính khấu hao 20 năm.7. Ngày 25, tiến hành nghiệm thu công trình sửa chữa nâng cấp một quầy hàng của bộ phận bán hàng bằng nguồn vốn khấu hao. Chi phí sửa chữa nâng cấp thuê ngoài chưa trả cho công ty V ( cả thuế GTGT 5% ) là 189.000. Dự kiến sau khi sửa chữa xong , TSCĐ này sẽ sử dụng trong vòng 5 năm nữa. Được biết nguyên giá TSCĐ trước khi sửa chữa là 300.000, hao mòn lũy kế 240.000, tỷ lệ khấu hao bình quân năm 10%.8. Ngày 28, tiến hành nghiệm thu một thiết bị sản xuất thuê ngoài sửa chữa lớn đã hoàn thành, bàn giao cho bộ phận sử dụng. Chi phí sửa chữa lớn thuê ngoài chưa trả cho công ty W ( cả thuế GTGT 5% ) là 56.700. Được biết DN đã trích trước chi phí sửa chữa lớn theo kế hoạch của thiết bị này là 50.000.Yêu cầu:1. Định khoản các nghiệp vụ nêu trên2. Xác định mức khấu hao tăng, giảm theo từng bộ phận trong tháng 6N, biết DN tính khấu hao theo ngày và tháng 6N có 30 ngày.3. Xác định mức khấu hao TSCĐ trích trong tháng 6N biết:Tháng 5N không có biến động tăng giảm TSCĐ Mức khấu hao TSCĐ đã trích trong tháng 5N ở bộ phận sản xuất : 30.000, bán hàng 7.000, quản lý DN 10.000.4. Giả sử tháng 7N không có biến động về TSCĐ . Hãy xác định mức khấu hao TSCĐ trích trong tháng 7 ở từng bộ phận.Giải
Xem thêm

92 Đọc thêm

Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)

Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)

Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)Phương pháp thống kê tổng sản phẩm trong nước (GDP xanh) ở Việt Nam (LA tiến sĩ)
Xem thêm

Đọc thêm

CÔNG CỤ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TRONG CHỨNG KHOÁNG

CÔNG CỤ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TRONG CHỨNG KHOÁNG

Chỉ số sức muabán tương đối RSI Năm 1978 J. Welles Wilder giới thiệu chỉ số RSI, từ đó đến nay RSI và trở thành một trong các chỉ số phổ biến và hiệu quả được sử dụng trong phân tích kỹ thuật. Đây là một chỉ số thuộc nhóm các phương pháp tương quan phản ánh tương quan sức mạnh sự tăng giá và giảm giá trong một thời kỳ RSI phản ánh mối quan hệ giữa sức tăng giá và sức giảm giá của một Cổ phiếu trong một thời kỳ xác định bằng cách lấy tỷ số giá trung bình của các phiên tăng và giá trung bình các phiên giảm trong thời kỳ đó. Gọi n là số các phiên trong thời kỳ xác định cần tính RSI. Gọi giá trung bình các phiên tăng trong n phiên là AIn = Tổng giá các phiên tăng n Gọi giá trung bình các phiên giảm trong n phiên là ADoanh nghiệp = Tổng giá các phiên giảm n Chỉ số sức bền tương đối được tính bằng công thức RSI = 100 – 100 (1 + RS) (1) Trong đó RS = AIn A Doanh nghiệp là tỷ số giá trung bình các phiên tăng và giá trung bình các phiên giảm Xét ví dụ về một phương pháp phân tích kỹ thuật sử dụng trung bình động. Giá Chứng khoán trong 5 phiên đến ngày 18052007 của Công ty cổ phần nhựa Đồng Nai – Mã Chứng khoán Doanh nghiệp
Xem thêm

27 Đọc thêm

NỘI DUNG ÔN TẬP MÔN HỌC NGUYÊN LÍ KẾ TOÁN

NỘI DUNG ÔN TẬP MÔN HỌC NGUYÊN LÍ KẾ TOÁN

Nội dung ôn tập môn học Nguyên lí kế toánChương1: Tổng quan chung về kê toán1.Sự khác nhau giữa 3 loại hạch toán: hạch toán nghiệp vụ, hạch toàn thống kê vàhạch toán kế toán.2.Tìm hiểu kế toán dưới các góc độ khác nhau: là công cụ quản lí kinh tế, là nghềnghiệp chuyên môn, là khoa học.3.Phân tích các định nghĩa khác nhau về kế toán từ đó rút ra đặc trưng của kế toánvà đưa ra định nghĩa kế toán theo quan điểm cá nhân.4.Tìm hiểu sự ra đời và phát triển của kế toán (Đóc thêm).5.Phân tích quy trình của kế toán.6.Nội dung và hệ quả các khái niệm: đơn vị ké toán, kì kế toán và thước đo tiền tệ.Cho ví dụ minh họa các khái niệm đã nêu.7.Phân tích các yêu cầu đối với thông tin kế toán yêu cầu tính hữu ích và tính tincậy. cho ví dụ mnh họa.8.Tìm hiểu các nguyên tắc kế toán:Nhóm nguyên tắc sử dụng để tính giá+Nguyên tắc giâ gốc+Nguyên tắc giá thị trường+Nguyên tắc thấp hơn giữa giá gốc và giá thị trường(Yêu cầu nghiên cứu; nội dung, cơ sở hình thành nguyên tắc, cho ví dụ minh họa tính gáivới tài sản và đưa ra cách xử lí tình huống để thấy được sự khác nhau của 3 nguyên tắcnày)- Nhóm nguyên tắc sử dụng ghi nhận thu nhập, chi phí:
Xem thêm

6 Đọc thêm

MÔ HÌNH CAMP TRONG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

MÔ HÌNH CAMP TRONG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

đầu tư nằm trên đường cong đồ thò hữu hiệuvà là giao điểm của đường đồ thò này vớiđường T-BillsLÝ THUYẾT MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN(CAPM) (tt)• Xây dựng công thức cho đường thò trường vốn• Giả sử rằng một nhà đầu tư tạo ra một danh mụcđầu tư trong đó Wf đầu tư vào tài sản không có rủiro và Wm đầu tư vào danh mục thò trường.• Vì vậy: Wf + Wm = 1 hoặc Wf = 1-m• Thu nhập kỳ vọng của danh mục đầu tư, E(Rp) là:• E(Rp) = WfRf + WmE(Rm). Vì Wf = 1- Wm, nên:• E(Rp) = 1-Wm) Rf + WmE(Rm), hoặc:LÝ THUYẾT MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN(CAPM) (tt)Để tính rủi ro của DMĐT phải tính phương sai:Ta có công thức đường CML:E(Rp) = Rf + [E(Rm) – Rf]std(Rp)Std(Rm)Trong đó: + std(Rp): Độ sai lệch chuẩn của DMĐT+ std(Rm): Độ lệch chuẩn thò trườngÝ nghóa của đường thò trường vốn ( CML):Tử số thể hiện phần thu nhập kỳ vọng > thu nhậpan toàn của thò trường
Xem thêm

25 Đọc thêm

Đề thi liên thông đại học trường Học viện tài chính môn kế toán tài chính đợt 1 năm 2012

Đề thi liên thông đại học trường Học viện tài chính môn kế toán tài chính đợt 1 năm 2012

        BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH ĐỀ THI TUYỂN SINH HỆ LIÊN THÔNG ĐẠI HỌC KỲ THI THÁNG 5/2012 Môn thi: Kế toán tài chính ( Thời gian làm bài 180 phút)   Câu 1: Trình bày nội dung, cơ sở số liệu và phương pháp lập chỉ tiêu “ Hàng tồn kho”trên Bảng cân đối kế toán giữa niên độ ( Dạng tóm lược)? Cho ví dụ minh họa và lập chỉ tiêu trên tại một doanh nghiệp cho Bảng cân đối kế toán ngày 30/9/N? Câu 2: Một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm A, kế toán hàng tồn kho theo phương pháp KKTX, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ ( đvt: 1.000đ):             A. số dư ngày 31/3:             TK 155: 42.750 (số lượng: 150)             TK 157: 28.500 (số lượng: 100) (đại lý H)             B. Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng 4:             1. Xuất kho vật trực tiếp chính dùng cho sản xuất sản phẩm: 90.000             2. Chi phí nhân công trực tiếp: 43.000             3. Chi phí sản xuất chung tập hợp được như sau: chi phí vật liệu quản lý 10.000, chi phí tiền lương của nhân viên quản lý phân xưởng 8.000, chi phí khấu hao TSCĐ ở bộ phận sản xuất 18.000, chi phí tiền điện dùng cho máy móc thiết bị sản xuất 12.000 và cho phục vụ chung ở phân xưởng 2.000, chi phí bằng tiền khác cho các hoạt động  ở bộ phận sản xuất 20.000. Trong đó, chi phí sản xuất chung cố định dưới công suất thiết kế là: 5.000. 4. Công ty M ứng trước tiền hàng bằng tiền mặt: 60.000 5. Trong tháng thực tế sản xuất hoàn thành: X1 sản phẩm, trong đó nhập kho: 500 sản phẩm, giao bán ngay cho công ty Nthu ngay tiền mặt: X2 sản phẩm, gửi bán ngay cho đại lý H: 100 sản phẩm. 6. Xuất kho 300 sản phẩm gửi bán cho đại lý K và 250 sản phẩm giao bán ( trả) cho công ty M. 7. Đại lý H đã thanh toán tiền hàng cho tất cả số hàng đã nhận bằng TGNH sau khi trừ hoa hồng được hưởng là 5% doanh thu bán hàng (không bao gồm thuế GTGT) 8. CPBH (chưa bao gồm hoa hồng đại lý) và CPQLDN tập hợp được trong tháng là 30.000 và 40.000. Yêu cầu: 1. Tính toán, xác định và cho số liệu hợp lý vào X1 và X2? Tính giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm sản xuất trong kỳ? 2. Tính toán, xác định kết quả kinh doanh và phản ánh các nghiệp vụ trên (cả các nghiệp vụ kết chuyển và xác định kết quả kinh doanh) vào Sổ Nhật Ký chung tháng 4. Tài liệu bổ sung: Không  có sản phẩm dở dang đầu kỳ, cuối kỳ; Công suất thiết kế của máy móc thiết bị trong tháng là  1.000 sản phẩm; Tiền lương của nhân viên quản lý phân xưởng trả theo  sản phẩm gián tiếp; TSCĐ khấu hao theo thời gian; số giờ máy móc thiết bị hoạt động trong kỳ phụ thuộc vào sản lượng; Các khoản chi phí khác trong chi phí sản xuất chung đều thay không thay đổi giữa các kỳ; Tính giá thành phẩm xuất kho theo phương  pháp bình quân gia quyền cả kỳ; DN áp dụng đơn giá bán thống nhất(kể cả tại các đại lý) chưa có thuế GTGT là: 350, thuế xuất thuế GTGT là 10%; DN nộp thuế suất 25%, giả thiết lợi nhuận bán hàng bằng lợi nhuận kế toán trước thuế và bằng thu nhập chịu thuế. Câu 3: Một công ty vận tải mua xăng dầu phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Số lượng xăng mua theo hóa đơn là 1.000 lít với đơn giá mua là 22.000đ/lít (giá mua đã bao gồm thuế GTGT 10%). Khi vận chuyển về đến kho của công ty số lượng xăng nhập kho thực tế là 950 lít.Chi phí vận chuyển xăng là 825.000đ chưa bao gồm thuế GTGT 10%. Tỷ lệ hao hụt cho phép trong quá trình vận chuyển là 3%. Công ty  kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên và nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Yêu cầu: 1. Trình bày nội dung các nguyên tắc kế toán cơ bản liên quan đến việc xác định giá trị vật liệu nhập kho do mua ngoài? Công thức xác định giá thực tế vật liệu nhập kho do mua ngoài? 2. Dựa vào công thức trên hãy xác định giá tổng giá và đơn giá thực tế của lượng xăng mà công ty mua vào trong trường hợp trên? Hãy sử dụng các nguyên tắc kế toán để giải thích cho việc xác định giá thực tế vật liệu mua vào trong trường hợp này. 3. Đối với lượng xăng thiếu hụt còn lại, hãy đề xuất các biện pháp xử lý do từng nguyên nhân cụ thể và định khoản kế toán nghiệp vụ trong các trường hợp này? Câu 4: Tại một doanh nghiệp sản xuất trong năm N phát sinh một nghiệp vụ sau: do tính toán nhầm đó là cho giá trị giá vốn hàng xuất bán  (đã xác định tiêu thụ) bị lớn hơn so với thực tế là 100.000đ. Yêu cầu: 1. Thực hiện các bút toán sửa chữa sai sót trên theo quy định hiện hành. 2. Xác định ảnh hưởng của việc hạch toán sai như trên đến các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinhdoanh năm N của doanh nghiệp? Biết rằng: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%.                                                                   Ghi chú: Cán bộ coi thi không giải thích thêm./.
Xem thêm

Đọc thêm

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY TNHH TIẾP VẬN HIỆP SĨ

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI CÔNG TY TNHH TIẾP VẬN HIỆP SĨ

ngƣời bán.- Giúp ngƣời chuyên chở đẩy nhanh tốc độ xoay vòng các phƣơng tiệnvận tải, tận dụng tối đa công suất, hiệu quả dung tích cũng nhƣ trọng tải củacác phƣơng tiện vận tải.Tạo điều kiện cho nhà nhập khẩu lẫn nhà xuất khẩu tập trung, chuyên mônhóa vào công việc chính của mình là sản xuất và bán lại từ đó góp phần làmgiảm giá thành của sản phẩm hàng hóa xuất nhập khẩu.Nhƣ vậy trong lĩnh vực giao nhận vận tải, logistics không phải là một dịchvụ đơn lẽ mà luôn luôn là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hóa nhƣ:làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, đóng gói, bao bì sản phẩm, lƣu kho,lƣu bãi, phân phát hàng hóa, chuẩn bị hàng hóa luông trong điều kiện sẵnsàng. Chính vì vậy khi nói đến logistics bao giờ cũng là một chuỗi hệ thốngcác dịch vụ (Logistics System Chain).2.1.1.3 Các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động logistics ở ViệtNama. Chính sách pháp luật và hành lang pháp lýHiện nay, có khá nhiều các văn bản pháp luật, thông tƣ, nghị định liênquan tới lĩnh vực này tuy nhiên chƣa thực sự hoàn thiện và không theo kịp sựphát triển cùa ngành Logistics. Logistics liên quan đến nhiều bộ ngành khácnhau nhƣ: Giao thông vận tải, Hải quan, kiểm định…mỗi bộ ban hành nhữngquy định khác nhau đôi khi chồng chéo nhau gây không ít khó khăn cho ngànhLogistics. Ví dụ nhƣ: Logistics đã xuất hiện trong Luật Thƣơng mại (2005) và6NĐ 140/2007/NĐ-CP nhƣng chƣa thực sự đi vào đời sống doanh nghiệp vàcác cấp quản lý, đôi khi còn có sự nhầm lẫn giữa hậu cần và Logistics…Vềmặt quản lý Nhà nƣớc, Logistics quản lý đa ngành: Bộ Công thƣơng(NĐ140/2007), Bộ GTVT (QĐ 1601), Bộ KH Đầu tƣ… Sự quản lý này ảnhhƣởng và hạn chế lớn đến tính đồng bộ, tính chiến lƣợc, quy hoạch và bất cập
Xem thêm

95 Đọc thêm

GIAO AN BAN TAY NAN BOT VAT LY LOP 10 CHUONG 7

GIAO AN BAN TAY NAN BOT VAT LY LOP 10 CHUONG 7

TIEP THEO CAC CHUONG TRUOC Chương VII: CHẤT RẮN VÀ CHẤT LỎNG. SỰ CHUYỂN THỂ Tiết thứ: 58 Ngày dạy:....................................................... Bài: 34 CHẤT RẮN KẾT TINH CHẤT RẮN VÔ ĐỊNH HÌNH I. MỤC TIÊU BÀI HỌC: Sau khi học bài này người học có thể: 1. Về kiến thức: Phân biệt được chất rắn kết tinh và chất rắn vô định hình dựa trên cấu trúc vi mô và những tính chất vĩ mô của chúng. Phân biệt được chất rắn đơn tinh thể và chất rắn đa tinh thể dựa trên tính dị hướng và tính đẳng hướng. 2. Về kỹ năng: Kể ¬ra được những ứng dụng của các chất rắn kết tinh và chất rắn vô định hình trong sản xuất và đời sống. 3. Về thái độ: Nghiêm túc trong giờ học, cũng như trong công việc. Cẩn thận trong công việc. II. YÊU CẦU CHUẨN BỊ ĐỐI VỚI HỌC SINH: 1. Chuẩn bị kiến thức: Học bài cũ. Đọc bài mới. 2. Chuẩn bị tài liệu học tập; thí nghiệm, thực hành, dụng cụ học tập: Sách giáo khoa. Sách bài tập. IV. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN: 1. Chương trình giảng dạy: Vật lý lớp 10 ban cơ bản 2. Thiết bị, đồ dùng dạy học: Giáo án. Ví dụ về va chạm 3. Dự kiến hình thức, phương pháp đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh: Nêu vấn đề. V. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP: 1. Ổn định tổ chức:(Thời gian: 1 phút) Kiểm tra sĩ số. Nhắc nhở học sinh. 2. Giới thiệu về chương 4:(Thời gian: 4 phút) 3. Bài mới TT NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TG HOẠT ĐỘNG CỦA GV HOẠT ĐỘNG CỦA HS 1 Dẫn nhập Giới thiệu bài học. Ghi nhận 2 2 I. Chất rắn kết tinh. 1. Cấu trúc tinh thể. Cấu trúc tinh thể hay tinh thể là cấu trúc tạo bởi các hạt (nguyên tử, phân tử, ion) liên kết chặt với nhau bằng những lực tương tác và sắp xếp theo một trật tự hình học không gian xác định gọi là mạng tinh thể, trong đó mỗi hạt luôn dao động nhiệt quanh vị trí cân bằng của nó. 2. Các đặc tính của chất rắn kết tinh. SGK 3. Ứng dụng của các chất rắn kết tinh.SGK Trước hết chúng ta tìm hiểu thế nào là chất rắn kết tinh. + Cho hs quan sát các hạt muối ăn bằng mắt thường và bằng KHV (hình 34.1 SGK). Rút ra nhận xét về hình dạng của những hạt muối này? Giới thiệu cấu trúc tinh thể. Các em trả lời C1 Hs quan sát các hạt muối ăn bằng mắt thường và bằng KHV (nếu có). Rút ra nhận xét… Theo dõi để trả lời C1 (tinh thể được hình thành trong quá trình đông đặc) 8 II. Chất rắn vô định hình Không có cấu trúc tinh thể Không có dạng hình học xác định Có tính đẳng hướng Không có to nóng chảy xđ VD: Thuỷ tinh, nhực đường, các chất dẻo… Đặc tính: dễ tạo hình, không bị gỉ, không bị ăn mòn, giá rẻ… Chúng ta tiến hành 2 so sánh sau: + So sánh các tính chất của chất rắn kết tinh và chất rắn vô định hình. + So sánh các tính chất của chất đơn tinh thể và đa tinh thể. Gv gợi ý hs thảo luận: + Đầu tiên chúng ta hãy đọc SGK (phần a mục 2 và mục II) để so sánh chất rắn kết tinh với chất rắn vô định hình. + Thảo luận nhóm về câu C2. Tiến hành làm việc theo nhóm dưới sự hướng dẫn của gv. Hoàn thành theo hướng dẫn của gv C2 (Chất răn đa tinh thể được cấu tạo bởi vô số các tinh thể nhỏ sắp xếp hỗn độn. Vì thế tính dị hướng của mỗi tinh thể nhỏ được bù trừ trong toàn khối chất, nên chất rắn đa tinh thể không có tính dị hướng như chất rắn đơn tinh thể) 15 Ví dụ Nêu ví dụ. Làm bài tập ví dụ 10 3 Củng cố kiến thức Yêu cầu học sinh hệ thống lại các nội dung đã học trong bài Thực hiện yêu cầu 3 4 Nhiệm vụ về nhà Học bài cũ. Đọc bài mới. Ghi nhận yêu cầu 2 4. Rút kinh nghiệm sau tiết giảng: Về nội dung:................................................................................................................................................ Về phương pháp:......................................................................................................................................... Về phương tiện:........................................................................................................................................... Về thời gian:................................................................................................................................................ Về học sinh:................................................................................................................................................ HIỆU TRƯỞNG TTCM THÔNG QUA Lang chánh, ngày ...... tháng ...... năm 201..... NGƯỜI SOẠN BÀI
Xem thêm

Đọc thêm

PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM TỪ KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VỀ CÁC THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG

PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM TỪ KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VỀ CÁC THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG

PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM TỪ KHÍA CẠNH LÝ THUYẾT VỀ CÁC THẤT BẠI THỊ TRƯỜNG. I.Thực trạng nông sản Việt Nam hiện nay: 1. Khái quát tình hình nông sản Việt Nam Việt Nam cất cánh từ nền kinh tế nông nghiệp, nông sản chiếm 30% xuất khẩu, chiếm 26% GDP cả nước với 65% dân số sống ở nông thôn Một số mặt hàng nông sản chủ lực đem về nguồn kinh tế lớn cho cả nước như: gạo, cà phê, hồ tiêu, các loại hoa quả,… Kim ngạch xuất khẩu nông sản 11 tháng đầu năm 2018 đạt 36,3 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2017. Điểm nổi bật của xuất khẩu nông sản năm 2018 là thị phần xuất khẩu đều duy trì, củng cố và mở rộng, 5 thị trường XK các mặt hàng nông lâm thủy sản chính của Việt Nam là Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, ASEAN và Hàn Quốc chiếm thị phần lần lượt là 22,9% (giá trị tăng 3,6% so với năm 2017), 17,9% (tăng 9,4%), 19,1% (tăng 7,1%); 10,64% (tăng 11,0%) và 6,9% (tăng 29,4%). Các thị trường mới nổi, thị trường ngách (Trung Đông, châu Phi, Đông Âu) đều được lực chọn phát triển bài bản, có tính bổ trợ cho các thị trường trọng điểm. Bên cạnh đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng chủ lực đều tăng. Trong số các mặt hàng nông sản chủ lực xuất khẩu của Việt Nam, có một số mặt hàng phải chịu áp lực giảm giá mạnh trong năm 2018, tuy nhiên cũng có những mặt hàng có sự tăng giá trên thị trường thế giới, điển hình là gạo, rau quả, cá tra, đồ gỗ và lâm sản. Cụ thể: đối với mặt hàng gạo, khối lượng gạo XK 11 tháng đầu năm 2018 ước đạt 5,7 triệu tấn và 2,9 tỷ USD, tăng 5,6% về khối lượng và tăng 17,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Tiếp đó là rau quả với giá trị XK 11 tháng năm 2018 ước đạt 3,5 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2017, cá tra đạt trên 2 tỷ USD tăng 27,4%. 2. Vấn đề xuất thô nông sản: Các mặt hàng nông sản chủ yếu được sản xuất thô: Hàng nông sản của VN chỉ tham gia ở khâu ít giá trị gia tăng, rủi ro cao và nhiều lệ thuộc. Cao su, tiêu, cà phê hay điều VN tuy chiếm giữ thị phần xuất khẩu không nhỏ trên thế giới nhưng chủ yếu ở khâu trồng cấy và thu gom sản phẩm thô. Những sản phẩm này được xuất cho các công ty nước ngoài. Họ chế biến, chắt lọc, phân đoạn làm nhiều tầng, thu nhiều khoản lời và đóng nhãn mác của họ bán cho người tiêu dùng. Vì chiếm giữ những phần ít rủi ro, lại nắm được thông tin đầu nguồn nên họ chủ động tránh được thiệt hại. Phần bất lợi đẩy về phía những khu vực sản xuất như nông dân Trong xã hội tự cung tự cấp, những biến động thị trường, thậm chí những biến động của toàn nền kinh tế, cũng khó đe dọa được sự sống còn của nông dân. Bởi vì chỉ cần canh tác tốt, nông dân không cần mua bán giao thương cũng có thể sống được nhờ vào sản vật nuôi trồng của mình. Nhưng hiện nay nông sản là sản phẩm hàng hóa và chịu sự chi phối của thị trường chung thì nông dân cũng là thành viên của xã hội thị trường. Nếu như các lực lượng khác có thể tự bảo vệ được mình bởi những sức mạnh mà họ thu được từ thị trường, thì nông dân lại không thu được nguồn lợi đủ để bảo vệ mình khi rủi ro mà thị trường đem lại. Nói cách khác, nông dân và người làm công ăn lương khi tham gia xã hội thị trường đã trở thành một lực lượng nghèo tiềm tàng vì cơ hội và rủi ro của họ không tỉ lệ thuận. Hệ thống thị trường nông sản của chúng ta gần như bị tách rời quyền lợi, trách nhiệm giữa nhà sản xuất, tức là nông dân và nhà kinh doanh các DN thu mua, xuất khẩu. Các DN này thực chất chỉ chọn công đoạn đơn giản nhất trong chu trình phân phối sản phẩm tức là thu mua. Họ có thể sơ chế đơn giản rồi bán sang tay cho các nhà chế biến nước ngoài. Người nông dân gánh chịu các biến động rủi ro của toàn bộ hệ thống vật tư, nguyên liệu đầu vào như giống, phân bón, đất đai, thời tiết... cho ra đời sản phẩm thô với mức lợi nhuận khá thấp. DN thương mại cơ bản chủ động được giá mua, khối lượng, thời điểm và cả đầu ra. Vì vậy họ có điều kiện và luôn cố thủ một tỉ lệ lợi nhuận. Khi giá đầu ra cao, họ điều chỉnh giá thu mua cao hơn một chút. Nhưng khi giá đầu ra xuống thấp, hàng thừa thì DN thu mua vẫn giữ tỉ lệ lợi nhuận cố định đó, đẩy thiệt thòi về phía nông dân. Xuất thô ngông sản của Đồng Nai: Năm 2018, 4 loại nông sản xuất khẩu chính của Đồng Nai gồm: điều, cà phê, tiêu, cao su đều tăng sản lượng từ 5,569% so với năm trước đó, nhưng giảm mạnh về giá. Tuy những nông sản trên đang đứng đầu về sản lượng xuất khẩu nhưng không chi phối được thị trường vì chủ yếu vẫn xuất hàng thô, chưa xây dựng được thương hiệu. Nông dân bị ảnh hưởng lớn nhất vì khó về đầu ra khiến nhiều loại nông sản buộc phải bán dưới giá thành sản xuất. Tăng giá nhưng giảm lời Năm 2018, Đồng Nai xuất khẩu 37 ngàn tấn nhân hạt điều với kim ngạch 329 triệu USD, tăng 5,5% về lượng so với năm trước nhưng giá chỉ bằng 98% so với cùng kỳ năm ngoái. Tương tự, cà phê xuất khẩu trên 221 ngàn tấn được 388,7 triệu USD, tăng 24% về lượng nhưng giá chỉ đạt 90,5%. Hạt tiêu xuất khẩu tăng 69% về lượng nhưng giá chỉ đạt trên 99%. Cao su xuất khẩu tăng 14% về lượng nhưng giá giảm gần 200 USDtấn. Lệ thuộc lớn vì xuất thô Hiện nông sản của Việt Nam hầu hết là xuất thô, nhiều loại chưa xuất được trực tiếp nên giá trị gia tăng chưa cao. Điểm yếu này càng bộc lộ rõ khi thị trường nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chính của Việt Nam đang rơi vào cảnh cung vượt cầu. .
Xem thêm

Đọc thêm

QUY ĐINH CHO THUÊ TÀI SẢN BẰNG CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ

QUY ĐINH CHO THUÊ TÀI SẢN BẰNG CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ

Điều 19. Trách nhiệm của ngân hàng xin vay cầm cố1. Cung cấp đầy đủ, kịp thời hồ sơ, tài liệu theo quy định tại Thông tư này và chịu tráchnhiệm trước pháp luật về tính chính xác, hợp pháp của số liệu, tài liệu cung cấp cho Ngânhàng Nhà nước.2. Thực hiện đúng các cam kết với Ngân hàng Nhà nước khi vay cầm cố về sử dụng tiềnvay đúng mục đích, hoàn trả nợ vay bao gồm cả gốc, lãi đầy đủ và đúng hạn.3. Chuyển giao đầy đủ giấy tờ có giá sử dụng làm tài sản cầm cố và nhận lại toàn bộ tàisản cầm cố sau khi đã trả hết nợ vay (gốc và lãi) cho Ngân hàng Nhà nước.4. Chịu sự kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian vay vốn.MỤC III. TỔ CHỨC THỰC HIỆNĐiều 20. Trách nhiệm của các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước1. Vụ Chính sách tiền tệa. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xác định mức cung ứng tiền cho mục tiêutái cấp vốn hàng quý, hàng năm, trong đó bao gồm cả hình thức tái cấp vốn bằng cầm cố giấytờ có giá trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt và thông báo tới các đơn vị liênquan.b. Tham mưu cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố lãi suất tái cấpvốn để có cơ sở áp dụng đối với nghiệp vụ cầm cố giấy tờ có giá.c. Phối hợp với các đơn vị liên quan giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinhtrong quá trình thực hiện cho vay cầm cố.2. Vụ Tín dụnga. Tiếp nhận và thẩm định hồ sơ đề nghị vay cầm cố của các ngân hàng.b. Trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt đề nghị cho vay cầm cố giấy tờ cógiá của các ngân hàng, ủy quyền cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương thực hiện (nếu có) và thông báo tới ngân hàng xin vay về việc chấp thuậnhay không chấp thuận cho vay cầm cố.c. Chuyển hồ sơ đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt tới Sở Giao dịchNgân hàng Nhà nước để thực hiện cho vay cầm cố.d. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan giải quyết những khó khăn, vướng mắc
Xem thêm

14 Đọc thêm

Bài tập Phương Pháp tính có giải chi tiết

Bài tập Phương Pháp tính có giải chi tiết

bài tập phương pháp tính giá có lời giải×bài tập phương pháp tính có lời giải×30 bài tập phương pháp tính có lời giải×các bài tập phương pháp tính có lời giải×bai tap phuong phap tinh co huong dan×bài tập phương pháp tính có giảibài tập phương pháp tính giá có lời giải×bài tập phương pháp tính có lời giải×30 bài tập phương pháp tính có lời giải×các bài tập phương pháp tính có lời giải×bai tap phuong phap tinh co huong dan×bài tập phương pháp tính có giải

Đọc thêm

Cùng chủ đề