LÀ MỐC ĐÁNH DẤU TRONG LỊCH SỬ TIẾN HÓA CỦA VĂN MINH NHÂN LOẠI THAY ĐỔI TO LỚN TRONG CUỘC SỐNG CỦA CON NGƯỜI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "LÀ MỐC ĐÁNH DẤU TRONG LỊCH SỬ TIẾN HÓA CỦA VĂN MINH NHÂN LOẠI THAY ĐỔI TO LỚN TRONG CUỘC SỐNG CỦA CON NGƯỜI":

Trình bày khái quát về những vấn đề của lịch sử Thế giới

TRÌNH BÀY KHÁI QUÁT VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA LỊCH SỬ THẾ GIỚI

Lịch sử thế giới hay còn gọi là lịch sử loài người, bắt đầu từ thời đại đồ đá cũ. Khác với lịch sử Trái Đất ( nó gồm cả lịch sử địa chất Trái Đất và lịch sử tiến hóa sự sống trước khi có sự xuất hiện của con người ). Lịch sử thế giới được nghiên cứu qua khảo cổ học và các ghi chép truyền miệng còn sót lại từ thuở xưa. Lịch sử cổ đại được lưu giữ lần đầu tiên qua các tài liệu lưu trữ. Tuy nhiên gốc rễ của nền văn minh loài người trải rộng ra từ trước khi có sự xuất hiện của chữ viết. Thời tiền sử mở đầu từ kỷ Paleolithic ( hay thời đại đồ đá cũ ), tiếp sau là kỷ Neolithic ( hay thời đại đồ đá mới ) và chuyển tiếp dân số thời đại đồ đá mới ( Neolithic Revolution ) ( hay cuộc cách mạng nông nghiệp ) ( khoảng 8000 đến 5000 năm TCN ) tại vùng đồng bằng trăng lưỡi liềm ( Feryile Crescent ). Cuộc cách mạng nông nghiệp là mốc dấu thay đổi lịch sử loài người, con người bắt đầu tìm ra phương pháp làm nông nghiệp với những loài cây trồng trong tự nhiên và động vật thuần hóa từ hoang dã. Sự tăng trưởng của nông nghiệp dẫn đến việc con người chuyển dần từ lối sống du mục sang định cư lâu dài. Lối sống du mục vẫn duy trì tại nhiều nơi khác, đặc biệt tại những vùng lãnh thổ bị tách biệt do tự nhiên với loài súc vật và thực vật. Nhu cầu liên kết tự vệ và sự gia tăng sản phẩm nông nghiệp đã cho phép các cộng đồng người mở rộng thành các đơn vị ngày càng lớn hơn, càng được thúc đẩy hơn bởi sự phát triển của giao thông vận tải. Khi nông nghiệp phát triển, canh tác cây lương thực trở nên phức tạp hơn và thúc đẩy việc phân công lao động để tích trữ sản phẩm lương thực dư thừa giữa các mùa cây trồng sinh trưởng. Phân công lao động dẫn đến có nhiều thời gian nhàn hạ cho lớp người thượng lưu và sự phát triển của các thành phố. Xã hội ngày càng phức tạp nhu cầu của con người đòi hỏi phải có hệ thống chữ viết và kế toán. Nhiều thành phố phát triển cạnh hồ và sông. Khoảng đầu năm 3000 TCN, có những điểm nổi bật đầu tiên, các khu định cư ở vùng đồng bằng Lưỡng Hà ( Mesopotamia ), vùng bờ sông Nin, và thung lũng sông Indus mọc lên và phát triển mạnh mẽ. Nền văn minh tương tự có lẽ cũng phát triển dọc các sông chính tại Trung Quốc nhưng thiếu bằng chứng khảo cổ học thuyết phục về khu vực xây dựng đô thị. Lịch sử của cựu thế giới ( đặc biệt ở Châu Âu và vùng Địa Trung Hải ) thông thường chia thành lịch sử cổ đại ( Antiquity ), đến năm 476 CE; Trung cổ từ thế kỷ V đến thế kỷ XV, gồm thời đại hoàng kim của đạo Hồi ( 750 CE1258 CE ) và giai đoạn đầu thời kỳ Phục Hưng ( bắt đầu từ khoảng 1300 CE ); thời kỳ cận đại ( từ TK XV TK cuối XVIII ), bao gồm thời kỳ khai sáng ( Age of Enlightenment ); và thời kỳ hiện đại, từ cuộc cách mạng công nghiệp đến hiện tại, gồm cả lịch sử đương đại. Văn minh Tây Á, Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại là những văn minh nổi bật trong thời kỳ cổ đại. Trong lịch sử của nền văn minh Tây Âu, sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã dưới thời trị vị của hoàng đế Romulus Augustulus năm 476 do sự tấn công của các bộ tộc German, nó được coi là mốc đánh dấu kết thúc thời kỳ cổ đại và là khởi đầu của thời kỳ Trung Cổ. Trong khi đó vùng Đông Âu trải qua sự chuyển tiếp từ đế quốc La Mã sang đế quốc Byzantime, đế chế này còn tồn tại vài thế kỉ mới suy tàn. Vào khoảng giữa thế kỷ XV, Johannes Gutenberg phát minh ra máy in ấn hiện đại, sử dụng đầu mô di động ( Movable type ) làm nên cuộc cách mạng về truyền tin, là nhân tố kết thúc thời kỳ Trung Cổ, báo hiệu sự khởi đầu của cuộc cách mạng khoa học. Đến thế kỷ XVIII, sự tích lũy tri thức và công nghệ, đặc biệt là ở châu Âu, đã đạt đến khối lượng tới hạn ( Critical mass ) dẫn đến cuộc cách mạng công nghiệp.
Xem thêm

43 Đọc thêm

Tiểu luận Văn hóa doanh nghiệp ẤN ĐỘ

TIỂU LUẬN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP ẤN ĐỘ

Ấn Độ là một đất nước có lịch sử từ lâu đời. Thế giới nhìn nhận Ấn Độ như là một trong những nền văn hóa phát triển rực rỡ nhất của văn minh nhân loại. Trong lịch sử, Ấn Độ đã phát triển nền văn hóa của họ đến mức rực rỡ hàng ngàn năm trước công nguyên. Ngày nay những di sản ấy vẫn còn. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, người Ấn Độ đã và đang đóng góp rất nhiều vào kho tàng văn hóa nhân loại. Không chỉ là thơ ca, nghệ thuật, tư tưởng triết học, những công trình kiến trúc nổi bật… mà nổi bật nhất là bao thế hệ con người tài hoa đang duy trì văn hóa của họ và đóng góp ngày càng nhiều cho nhân loại.
Xem thêm

38 Đọc thêm

NGHỊ LUẬN XÃ HỘI: TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO

NGHỊ LUẬN XÃ HỘI: TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO

Dân tộc ta có truyền thống "tôn sư trọng đạo". Theo anh (chị), truyền thống ấy còn đáng tiếp nối hay không trong thực tế cuộc sống xã hội ta hiện nay? "Tôn sư trọng đạo" không chỉ còn là vấn đề đạo đức mà còn là một truyền thống văn hoá vô cùng tốt đẹp của nhân dân ta. Khi nào cuộc sống còn cần kiến thức, con người còn văn minh thì người thầy còn được tôn trọng. Mà chắc chắn rằng, con người không thể quay trở về với điểm xuất phát với cảnh sống ăn lông ở lỗ được. Vì thế, dù thời kì lịch sử nào, dù xã hội nào "Tôn sư trọng đạo" vẫn là truyền thống vô cùng tốt đẹp, và vô cùng cần thiết, cần được tiếp tục phát huy và gìn giữ. Đó là yếu tố quan trọng làm nên nền tảng đạo đức của xã hội văn minh.  Nhân dân ta từng có những câu nói vô cùng giản dị mà chứa đựng những ý nghĩa rất sâu sắc về vấn đề Đạo và Thầy. Những câu nói ấy vừa tôn vinh người Thầy, vừa nhắc nhở con người phải biết sống cho phải đạo làm người. Thầy là người vạch đường chỉ lối cho mối người "Không thầy đố mày làm nên". Vì thế vị trí của người thầy được đặt ngang hàng với vị trí của cha mẹ, "Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy". Chúng ta vẫn luôn tự nhắc mình:  Muốn sang thì bắc cầu Kiều  Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy Người làm thầy trong bất cứ xã hội nào luôn được xã hội tôn trọng "nhất tự vi sư, bán tự vi sư". Bởi vậy, "tôn sư trọng đạo" không còn là một vấn đề quan niệm sống hay quan niệm về cách cư xử mà đã trở thành một phạm trù đạo đức. Thời xưa Platôn, Aritxtôt, Khổng Tử… từ người thầy đã trở thành những bậc thánh trong lòng học trò. Ngày nay, người thầy tuy không có vị trí tuyệt đối như thế song thầy vẫn là người được xã hội tôn trọng và "nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý". Dù ở phương Đông hay phương Tây, dù mối quan hệ thầy trò có bình đẳng đến đâu, gần gũi đến đâu thì danh giới thầy trò, vị trí đáng kính của người thầy vẫn không hề bị mai một.  Trên thực tế, vấn đề "tôn sư trọng đạo" ngày nay đã có nhiều điều đáng phải bàn. Các thầy cô giáo dù phải đứng trước bao nhiêu khó khăn của cuộc sống vẫn đang ngày đêm lo lắng, nghiền ngẫm để truyền thụ cho học sinh những tri thức quý giá nhất. Còn học sinh, bên cạnh những học sinh chăm chỉ ngoan ngoãn, thực hiện đúng đạo làm trò, kính yêu và tôn trọng thầy cô giáo, đã có không ít bạn chót quên đi đạo nghĩa thầy trò. Những học sinh ấy đã vô tình hoặc cố ý vi phạm đạo làm trò, làm đau lòng các thầy cô giáo. Đã có những câu chuyện đau lòng mà chúng ta không muốn nhắc đến như hiện tượng học trò xúc phạm thầy cô giáo, vô lễ với những người đang ngày đêm dạy bảo mình những điều hay lẽ phải, truyền đạt cho mình những tinh hoa tri thức nhân loại. Xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục lên án những học sinh đó.  "Tôn sư trọng đạo" là một truyền thống văn hoá vô cùng tốt đẹp của loài người. Nếu trẻ em là tờ giấy trắng thì người cầm cây bút viết lên những tờ giấy trắng ấy những tráng thẳng hàng, rõ nét, rõ chữ nhất chính là thầy cô giáo. Tôn trọng những người giữ vai trò truyền đạt tri thức nhân loại cho thế hệ sau là biểu hiện của tình yêu tri thức, của lòng ham học hỏi, của ý chí và khát vọng vươn lên cuộc sống tốt đẹp hơn. Vì thế "tôn sư" không chỉ là vấn đề tôn trọng, kính yêu người làm nghề dạy học mà còn là biểu hiện của tình yêu tri thức, biểu hiện của văn minh, tiến bộ. "Đạo" cũng không chỉ dừng lại ở đạo làm trò, ở những hình thức, thái độ ứng xử với người thầy mà còn là cả vấn đề đạo đức xã hội. Đó là đạo làm người, là đạo học ở đời. Trọng đạo là coi trọng sự hiểu biết, coi trọng tinh thần ham học hỏi, đề cao truyền thống ham học.  Để xã hội ngày càng văn minh con người ngày càng phải chú ý đến chuyện học hành, tiếp thu tri thức. Vì thế, vai trò của người thầy trong xã hội hiện đại đã thay đổi, từ người truyền đạt tri thức đã chuyển thành người dẫn dắt học sinh tìm ra con đường đến với tri thức. Vai trò của người thầy ít nhiều thay đổi nhưng vị trí của người thầy thì không hề suy giảm. Thầy vẫn là thầy và ngày càng quan trọng hơn. Vì vậy, dù xã hội có đi đến đâu, xã hội ấy vẫn có những người muốn học và vẫn có những người thực hiện nhiệm vụ dạy bảo người đi sau. Trong cuộc sống ngày nay, khi mà vấn đề học hành ngày càng phức tạp và sự xuống cấp về đạo đức xã hội đang khiến nhiều người có lương tâm trách nhiệm phải quan tâm suy nghĩa thì vấn đề "tôn sư trọng đạo" càng phải tiếp tục được kế thừa và phát huy hơn nữa.  Tôn sư trọng đạo là một truyền thống đạo đức vô cùng tốt đẹp của dân tộc ta. Đứng trước những hiện tượng đáng suy nghĩ hiện nay về vấn đề đạo đức học đường, chúng ta cần phải có những hoạt động cần thiết để nhắc nhở mỗi người nhìn lại thái độ và cách ứng xử của mình đối với những người làm thầy trong xã hội này. Tôn sư trọng đạo cần phải được quan tâm hơn nữa. 
Xem thêm

2 Đọc thêm

Hiện thực chiến tranh trong văn xuôi Việt Nam hiện đại qua ba tác phẩm tiêu biểu - Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)

HIỆN THỰC CHIẾN TRANH TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI QUA BA TÁC PHẨM TIÊU BIỂU - DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH (NGUYỄN MINH CHÂU), ĐẤT TRẮNG (NGUYỄN TRỌNG OÁNH), NỖI BUỒN CHIẾN TRANH (BẢO NINH)

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Trong văn học nhân loại, chiến tranh là một đề tài lớn. Điều này có thể xem như một tất yếu bởi để phản ánh một cách chân thực và sinh động nhất hiện thực cuộc sống, cuộc đấu tranh sinh tồn trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt quan trọng của mỗi quốc gia và của cả loài người, chiến tranh là một đề t ài thường trực có ý nghĩa trung tâm không thể thay thế. Soi chiếu vào lịch sử văn học của cả phương Đông và phương Tây, ta có thể thấy sự hiện diện đậm nét và chi phối mạnh mẽ của siêu đề tài này với hàng loạt những tác phẩm có giá trị. Văn học phương Tây với rất nhiều những tác giả, tác phẩm tiêu biểu đã để lại cho nhân loại những kiệt tác có thể coi là đã đạt đến đỉnh cao của văn học về đề tài chiến tranh như Chiến tranh và hòa bình của Lep Tônxtôi, Sông Đông êm đềm của Sôlôkhốp, Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh, Một thời để yêu, Một thời để chết, Đêm Lisbone, Ba người bạn, Khải hoàn môn… của E.M. Remarque. Văn học phương Đông cũng không hề thua kém về thành tựu của mảng đề tài hiện thực chiến tranh với những pho tiều thuyết chương hồi nổi tiếng có quy mô phản ánh hết sức rộng lớn, đồ sộ và hoành tráng như Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am trong văn học Trung Quốc. 1.2. Trong bối cảnh đó, văn học Việt Nam với tư cách là một bộ phận vận động đương nhiên không thể nằm ngoài quỹ đạo của văn học nhân loại. Ngoài ra, văn học Việt Nam còn gánh vác một sứ mệnh cao cả và vô cùng quan trọng, đó là nhiệm vụ phải luôn song hành với với lịch sử dân tộc, với vận mệnh đất nước và gắn liền với những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Chiến tranh đã, đang và sẽ còn rất lâu nữa vẫn là một đề tài lớn của văn học Việt Nam, là nguồn mạch, cảm hứng bất tận cho nhiều thế hệ nhà văn tìm tòi, thể nghiệm. Đó cũng là một hiện tượng rất dễ lý giải, bởi chỉ tính riêng trong thế kỷ XX vừa qua, dân tộc Việt Nam đã có ngót bốn mươi năm sống trong không khí của chiến tranh bom đạn. Nhìn xa hơn nữa về quá khứ, chúng ta hẳn vẫn chưa quên một nghìn năm dân tộc Việt Nam bị phong kiến phương Bắc đô hộ, gần một thế kỷ dưới ách cai trị của thực dân Pháp… Không gì khác, chính văn học là tấm gương phản ánh một cách chân thực, sinh động nhất cuộc chiến đấu hào hùng đánh đuổi giặc ngoại xâm và bảo vệ bờ cõi của dân tộc Việt Nam. Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam hình thành và phát triển như một sự tất yếu, trưởng thành qua từng giai đoạn, thời kỳ của lịch sử và văn học dân tộc. Tuy nhiên, ở từng giai đoạn, mỗi chặng đường, đề tài chiến tranh lại được khai thác, tiếp cận và phản ánh ở nhiều góc độ theo những cảm hứng khác nhau. Ba mươi năm kháng chiến trường kỳ với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã đem lại cho dân tộc Việt Nam độc lập tự do và đồng thời đem lại cho văn học Việt Nam một nền văn học hiện đại viết về chiến tranh tương đối đồ sộ. Văn học giai đoạn 1945- 1975 là giai đoạn văn học mang âm hưởng sử thi, với cảm hứng chủ đạo là ngợi ca mà khi tiếp cận người ta thấy tầng tầng lớp lớp những sự kiện lịch sử, những chiến công hiển hách, những chí khí oai hùng… Ở đó, có thể do yêu cầu của lịch sử, những gì thuộc về con người thân phận dường như chưa được đề cập đến, cũng có thể là né tránh, hoặc nếu có cũng chỉ lướt qua, khá mờ nhạt, chưa định hình, rõ nét. Một đất nước có chiến tranh, những người cầm bút sống và xúc cảm cùng chiến tranh, nhìn và viết về chiến tranh đương nhiên sẽ có một dòng văn học viết về chiến tranh. Tuy nhiến viết về chiến tranh, cảm nhận về chiến tranh khi cuộc chiến đã lùi vào quá khứ hay việc phản ánh về cuộc sống và con người thời hậu chiến khi người viết đã có một “độ lùi” cần thiết lại là vấn đề hoàn toàn khác. Văn học sau năm 1975 đã chuyển sang một diện mạo mới, có thể gọi đó là giai đoạn văn học mang cảm hứng thế sự, đời tư. Nếu trong chiến tranh, văn học viết về đề tài chiến tranh ít nói đến mất mát hy sinh, ít nói về buồn vui của cuộc sống thường nhật, ít quan tâm đến số phận con người thì những tác phẩm viết về đề tài này sau chiến tranh đã có xu hướng viết về sự thật của đời sống, viết về sự ác liệt, gian khổ, thậm chí cả những sai lầm, vấp ngã của người lính trước những cám dỗ thường nhât. Cuộc sống thời hậu chiến bộn bề phức tạp làm thay đổi hệ quan niệm nghệ thuật về đời sống xã hội và con người đòi hỏi các nhà văn phải có những sự cách tân mạnh mẽ về nội dung cũng như hình thức để tạo dấu ấn, phong cách riêng. Sau chiến tranh, với một độ lùi cần thiết, những tiểu thuyết viết về chiến tranh giai đoạn này đã dần chuyển sang một âm điệu mới, không chỉ có hào hùng mà còn có cả bi tráng, không chỉ ở chiến trường mà cả ở hậu phương, bên cạnh những con người anh hùng còn có những con người mang số phận bi kịch, thất cơ lỡ vận… 1.3. Ba cuốn tiểu thuyết: Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) có thể coi là ba tác phẩm xuất sắc, tiêu biểu, đánh dấu những mốc quan trọng trong quá trình vận động của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1945. Dấu chân người lính là tác phẩm tiêu biểu cho tiểu thuyết sử thi trong văn học cách mạng (1945 – 1975). Đất trắng tiêu biểu cho tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh giai đoạn mười năm đầu sau giải phóng, từng được giải thưởng của Bộ Quốc phòng năm 1984 và Giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986. Nỗi buồn chiến tranh được đánh giá là một tác phẩm đặc sắc với nhiều ý tưởng cách tân, tiêu biểu cho tiểu thuyết Việt Nam sau Đổi mới (1986), từng được Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng giải Nhất về tiểu thuyết năm 1991. Cùng viết về đề tài chiến tranh, song cái nhìn nghệ thuật và hiện thực chiến tranh trong mỗi tác phẩm lại có những cách tiếp cận, phản ánh và thể hiện khác nhau. Đó có thể xem là quy luật vận động sự đổi thay, phát triển tất yếu của văn học. Dẫu cảm hứng sử thi đang ngày càng phai nhạt, song tự trong sâu thẳm ký ức dân tộc, chiến tranh vẫn là một bộ phận chính yếu trong đời sống văn học, đề tài chiến tranh vẫn là một đề tài lớn chưa thể thay thế và hứa hẹn nhiều bất ngờ trong tương lai. Xuất phát từ lý do đó, chúng tôi chọn đề tài “Hiện thực chiến tranh trong văn xuôi Việt Nam hiện đại qua ba tác phẩm tiêu biểu: Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)” cho luận án Tiến sĩ của mình với mục đích làm rõ diện mạo, khuynh hướng, giá trị hiện thực cũng như những cách tân về thi pháp trong ba tác phẩm tiêu biểu nhất của văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về chiến tranh chống Mỹ.
Xem thêm

169 Đọc thêm

NÊU VAI TRÒ CỦA SÁCH ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG NHÂN LOẠI

NÊU VAI TRÒ CỦA SÁCH ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG NHÂN LOẠI

Chừng nào con người vẫn còn nhu cầu nhận thức về thế giới và thưởng thức vẻ đẹp của trí tuệ, chừng nào loài người còn biết đề cao văn hóa, và các giá trị tinh thần, thì chừng ấy sách vẫn còn là một công cụ hữu hiệu và vô giá trong công cuộc khai hóa nền văn minh.      Sách có từ bao giờ? Có lẽ sách chỉ ra đời khi con người có nhu cầu ghi lại những gì mà người ta nhận thức về thế giới xung quanh, nhằm lưu giữ và truyền lại cho hậu thế.      Ta được biết, ban đầu sách có nguồn gốc là những chiếc mai rùa, xương thú có ghi chữ viết, sau đó là thẻ tre, da động vật. Chỉ đến khi nền công nghiệp giấy ra đời, công nghệ in phát triển, ta mới có những quyển sách được in giấy như bây giờ. Sự có mặt của sách trên thế gian này là như thế.       Trước khi có sách, tri thức của nhân loại được tích lũy bàng con đường truyền khẩu. Những kinh nghiệm gieo trồng, cách đoán biết về thời tiết, những phát hiện về đời sống về vũ trụ, về giới tự nhiên... tất cả đều đã được lưu giữ trong những ca dao tục ngữ, thậm chí cả trong những truyện ngụ ngôn, cổ tích..., và được truyền miệng từ đời này sang đời khác.       Cùng với chữ viết, sách là phương tiện để con người ghi lại những nhận thức của mình về thế giới. Sự ghi lại ấy lại được chia thành những lĩnh vực khác nhau: khoa học, triết học, thơ ca... Mỗi lình vực lại là một cuộc hành trình dài của con đường chiếm lĩnh và khám phá thế giới tự nhiên và tâm hồn con người. Các thế hệ nối tiếp nhau đã ghi lại những thành quả lao động, học thuật của mình. Vì thế, Chu Quang Tiềm cho rằng: sách là “kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần nhân loại, củng có thể nói đó là những cột mốc trên con đường tiến hóa học thuật của nhân loại" (Bàn về đọc sách)       Cũng với ý nghĩa này, sách đã trở thành chiếc cầu nối vững chắc giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Con người các thế hệ tiếp nối nhau, trong hành trình tìm hiểu, chiếm lĩnh thế giới, vừa tiếp thu những thành quả nhận thức của các thế hệ cha anh, vừa không ngừng làm dày thêm kho tàng tri thức nhân loại bằng những phát hiện của mình, làm cho sách ngày càng trở thành tòa lâu đài nguy nga, tráng lệ. Chúng ta, những người đọc thế hệ sau, có thể nhìn thấy qua sách hình ảnh con đường mà xã hội loài người đi dến tương lai.       Bên cạnh vai trò là phương tiện tri thức nhân loại, sách còn là phương tiện để con người tim hiểu về thế giới quanh mình. Đối với mỗi cá nhân, sách luôn mở ra những chân trời mới (chữ dùng của Lê-nin). Những tư tưởng khoa học, những phát hiện, những dự đoán, những đánh giá., của thế hệ trước là những gợi ý quý giá để con người tiếp tục khát vọng chinh phục vũ trụ của mình.      Tuy nhiên, cũng có khi, sách với tất cả những kết tinh quý giá của tinh thần nhân loại, lại chỉ là đối tượng thưởng lãm của con người. Cũng giống như một bức tranh, một tia nắng hay một bài thơ, sách mang lại cho con người cảm giác thư thái, bình yên. Trong những thú vui tao nhã của nhà Nho, không thể không kể đến thú vui đọc sách. Nguyễn Trãi - nhà Nho, nhà tư tưởng thế kỉ XV đã từng có câu thơ rằng: “Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn. Khách tục không ai bén mảng gần”. Đây là một cách để tạo ra một không gian đầy thú vị cho thú đọc sách, ngâm thơ của minh.       Ngày nay, cùng với sách, các phương tiện thông tin ngày càng trở nên đa dạng. Văn hóa đọc hình thành từ khi có sách, đến nay không còn giữ nguyên ý nghĩa là đọc trong sách mà mở rộng thêm: đọc trong báo, đọc trên mạng... Sách tồn tại trong cuộc sống không chỉ là sách được bán ở hiệu sách mà sách được đưa lên mạng... Dù dưới hình thức nào, đối với con người, nhu cầu tìm hiểu thế giới tự nhiên và thế giới con người không bao giờ vơi cạn. Vì thế, sách mãi mãi vẫn giữ vai trò quan trọng của mình trong đời sống nhân loại, là phương tiện giúp con người nhận thức về thế giới và khám phá thế giới.       Chừng nào con người vẫn còn nhu cầu nhận thức về thế giới và thưởng thức vẻ đẹp của trí tuệ, chừng nào loài người còn biết đề cao văn hóa, và các giá trị tinh thần, thì chừng ấy sách vẫn còn là một công cụ hữu hiệu và vô giá trong công cuộc khai hóa nền văn minh. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

2 Đọc thêm

Hệ quản trị nội dung SMS portal

HỆ QUẢN TRỊ NỘI DUNG SMS PORTAL

Ngày nay, Công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, hàng loạt phát minh mới trong lĩnh vực này góp phần to lớn thúc đẩy nền văn minh nhân loại, đưa con người vào một cuộc sống tốt đẹp hơn, tiện nghi và hạnh phúc hơn. Song song với thời đại bùng nổ CNTT, đó là sự lan rộng của mạng lưới Internet toàn cầu, mà nơi đó con người có thể trao đổi thông tin với nhau (nói chuyện, giao dịch mua bán, đọc tin tức,…) cũng từ đó nhu cầu về các trang web không ngừng gia tăng, mặc dù hàng loạt các trang tin tức, giải trí, mạng xã hội, đến thương mại điện tử được ra đời; tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng hết nhu cầu của con người. Mã nguồn mở Web hình thành là một trong những nhân tố góp phần to lớn trong việc phát triển hệ thống website trên thế giới, đánh dấu một tầm cao mới của công nghệ lập trình Web. Qua môn học Đồ an II của Viện Toán ứng dụng Tin học – ĐH Bách Khoa Hà Nội, em xin trình bày những hiểu biết của mình về hệ quản trị nội dung (CMS) và sâu hơn đó là Web Publishing System (ứng dụng CMS trong việc quản trị nội dung website). Hơn nữa, ứng dụng trong việc xây dựng website hiển thị tin nhắn từ tổng đài. Với sự nỗ lực và cố gắng của bản thân, sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo– TS. Lê Cường, em đã hoàn thành đồ án II nhưng còn hạn chế về kiến thức và thời gian nên không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ thầy cô để hoàn thiện hơn nữa. Em xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

39 Đọc thêm

Cho câu chủ đề Đọc sách là công việc vô cùng bổ ích vì nó giúp ta hiểu biết thêm về đời sống. Em hãy viết một đoạn văn theo kiểu quy nạp

CHO CÂU CHỦ ĐỀ ĐỌC SÁCH LÀ CÔNG VIỆC VÔ CÙNG BỔ ÍCH VÌ NÓ GIÚP TA HIỂU BIẾT THÊM VỀ ĐỜI SỐNG. EM HÃY VIẾT MỘT ĐOẠN VĂN THEO KIỂU QUY NẠP

Sách là kho tàng tri thức khổng lồ của nhân loại. Nhờ có sách mà ngày nay, ta ngồi trong nhà mà có thể biết về mọi nơi trên thế giới Sách là kho tàng tri thức khổng lồ của nhân loại. Từ xưa, cha ông ta đã lưu lại những hiểu biết phong phú về mọi mặt đời sống xã hội và muôn hình vạn trạng thái vận động của tự nhiên. Và như vậy, sách cung cấp cho ta những tri thức về hầu hết các lĩnh vực của đời sống. Nhờ đó, khi tiếp xúc với sách, con người có cơ hội tiếp xúc với toàn bộ kho tàng văn hoá của văn minh nhân loại. Đọc sách, ta biết về những gì đã xảy ra trong lịch sử loài người. Có xuất phát điểm từ loài vượn thông minh, con người dần gây dựng được những nền văn minh rực rỡ: văn minh Lưỡng Hà, văn minh Ai Cập, văn minh Hi Lạp - La Mã,... và từ đó trải qua bao hình thái kinh tế xã hội phức tạp mới có xã hội văn minh, hiện đại như ngày nay. Đọc sách, ta còn biết về những phát minh có ảnh hưởng quan trọng đến sự tiến bộ xã hội: đèn điện, máy bay, điện thoại,... Đặc biệt, nhờ có sách mà ngày nay, ta ngồi trong nhà mà có thể biết về mọi nơi trên thế giới, giống với đi du lịch vậy! Đọc sách quả là công việc vô cùng bổ ích vì nó giúp ta hiểu biết thêm về đời sống. Trích: Loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

TIỂU LUẬN CAO HỌC TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

I.Hoàn cảnh ra đời của triết học cổ điển Đức:1.Bối cảnh châu Âu cận đạiĐến cuối thế kỷ 19, CNTB ra đời và phát triển ở hang loạt các nước châu Âu như: Anh, Pháp, Hà Lan, Italia đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có cho nhân loại. PTSX TBCN đã tỏ ra ưu việt hơn hẳn PTSX PK bảo thủ, lạc hậu. Nó tạo ra 1 năng suất lao động cao, lượng của cải làm ra = 19 thế kỷ trước cộng lại.Cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 làm rung chuyển cả châu Âu tác động mạnh mẽ đến đời sống, xã hội châu Âu. Mác nói: “triết học của Kant là lý luận của người Đức về cuộc CMTS Pháp”.Cuộc cách mạng công nghiệp Anh đánh dấu sự mở đầu của nền văn minh công nghiệp trong lịch sử nhân loại.Những thành tựu về kinh tế, văn hóa và khoa học do cuộc cách mạng công nghiệp tạo ra càng khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới.Tóm lại: cuối thế kỷ 18 đầu 19 PTSX TBCN đã trở thành 1 xu thế tất yếu của lịch sử nhân loại2.Hoàn cảnh nước Đứca.Kinh tế:Đên đầu thế kỷ 19 nước Đức vẫn là 1 nước phong kiến lạc hậu. sự cát cứ phong kiến làm nước Đức bị chia thành nhiều tiểu vương quốc tách biệt nhau. Thực trạng này là trở ngại đối với sản xuất hang hóa, trở ngại cho sự phát triển của CNTB ở Đức.+ năm 1822 cả nước Đức mới có 2 đầu máy hơi nước+ Nông nghiệp bị đình đốn.b.Chính trịVua Phổ Phridrich Vinhem trở nên phản động, ngoan cố tăng cường quyền lực, duy trì chế độ quân chủ phong kiến thối nát, cản trở đất nước đi lên con đường TBCN.Không khí chính trị ngột ngạt của xã hội Đức đã tạo sự bất bình cho đông đảo quần chúng.c.Văn hóa – tư tưởngTuy lạc hậu về kinh tế, chính trị nhưng về mặt văn hóa nói chung, nhất là triết học và nghệ thuật ở Đức thời kỳ này rất phát triển, có nhiều nhà thơ nhiều nhà tư tưởng lớn như: Gớt, Héctơ, Sitlơ,..Các nhà tư tưởng Đức đã nhận được sự cổ vũ to lớn của phong trào Khai sáng Pháp. Đặc biệt là cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp đã thức tỉnh các nhà tư sản Đức đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đứcd. cải cách tôn giáoDo những mâu thuẫn giữa quần chúng với giáo hội ở Đức phát triển gay gắt phong trào chống giáo hội ở Đức nổ ra gay gắt. Đầu thế kỷ XVI, sự căm ghét giáo hội của mọi tầng lớp nhân dân Đức đã trở thành phổ biến và rộng lớn. Trong tình hình đó một mục sư có tên là Martin Luther (1483 – 1546) đã tiến hành vận động cải cách tôn giáo.
Xem thêm

35 Đọc thêm

Vì sao nói Sách là ngọn đèn bất diệt của trí tuệ loài người

VÌ SAO NÓI SÁCH LÀ NGỌN ĐÈN BẤT DIỆT CỦA TRÍ TUỆ LOÀI NGƯỜI

Đời sống ngày một nâng cao, yêu cầu về học thức của mỗi con người ngày càng cần thiết. Phương tiên để học hữu hiệu, đạt kết quả tốt nhất đó chính là sách. Sách đối với trí tuệ con người là quan trọng. Nó tu dưỡng nhân cách, ý thức của mỗi chúng ta. Chính vì vậy mới có câu rằng: Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người. Sách không chỉ là vật dụng mà nó còn chứa đựng những tư tưởng nhân văn, ý nghĩa sâu sa khiến người ta phải ngẫm nghĩ. Không chỉ vậy sách còn là món ăn tinh thần trong cuộc sống, tô điểm chút thi vị cho đời thường. Thế giới trong sách không đơn thuần khi ta mới nhìn qua mà đọc từng câu từng từ, xem từng hình ảnh mới cảm nhận được nét tinh hoa, sự giàu đẹp của nó. Đồng thời nó cũng là chiếc chìa khoá trước hết là mở ra cánh cổng tri thức và sau đó là mở ra cánh cổng của thành công, thăng hoa. Có thể nói tuy chỉ là một vật dụng nhỏ bé do con người tạo ra, về giá trị vật chất có thể không có mấy nhưng về giá trị tinh thần thì rất lớn. Sách là một kho tàng về tri thức. Trải qua hàng trăm năm con người đã biết ghi chép lại những hình ảnh, sự việc, vấn đề để tích luỹ, ghi nhớ và dạy dỗ con người. Nó thể hiện những sự kiện lịch sử quan trọng, những vùng miền đất mới, những công trình kiến trúc khoa học, văn hoá nghệ thuật, hay những phát minh khoa học, những công thức toán học. Đã từ lâu sách đã đi vào cuộc sống của mỗi con người, khuyên răn, chỉ bảo con người thêm hiểu biết và như người ban thân song hành. Khi chưa biết, sách là người thầy của chúng ta, khi căng thẳng, sách là nguồn đông viên an ủi giúp ta tiến bước. Khi buồn bã, giận hờn thì sách là liều thuốc xoa dịu vết thương. Sách gợi lại cho chúng ta những kỉ niệm đáng nhớ, liên tưởng cho chúng ta về một thế giới tưởng chừng vô hình trừu tượng mà lại hiển hiển trong cuộc sống. Sách còn là nguồn thông tin, trao đổi kiến thức, giao lưu giữa hàng nghìn vùng miền xa lạ, kho tàng kiến thức cho nhân loại. Có thể chứng minh rằng ý nghĩa to lớn của sách dành cho chúng ta là rất lớn. Nó tái hiện lại trạng thái, sự sống, hoạt động của con người. Nó chỉ ra một tương lai mới, hay quay về quá khứ để lấy lại những kinh nghiệm. Những trang sách thuần tuý ấy đã đi vào trong cả nền giáo dục mỗi con người. Sách không chỉ là hành trang của con người trong trường học, mà còn là hành trang của con người trong đời thường, cuộc sống, xã hội. Sách mở rộng tầm nhìn cho chúng ta về cuộc đời, chỉ bảo, thâm nhập vào tâm hồn của cuộc sống. Thế giới có sách vở là thế giới giàu tri thức, nhiều công nghệ. Thế giới không có sách là thế giới nghèo nàn lạc hậu. Những cuốn sách đã dạy chúng ta biết bao điều kì diệu trong cuộc sống, tu dưỡng đạo đức cho ta ngày một văn minh. Tất cả những điều trên đều chứng tỏ một chân lí rằng: Sách là ngọn đèn bất diệt của trí tuệ loài người. ấy vậy mà một số hành vi lại xâm phạm đến ý nghĩa cao đẹp của sách. Những cuốn sách không phù hợp tính nhân văn vẫn được bày bán công khai. Những nội dung ngang trái khiến người đọc phải bất mãn vẫn được tung ra thị trường. Thử hỏi xem phẩm chất cao quý của sách đã bị xoá mờ đi bởi những bàn tay vô trách nhiệm, những ý nghĩ xấu xa kia. Việc đọc sách để mở mang tầm hiểu biết nhưng việc chọn sách lại là nền tảng cho muc đích ấy. Một cuốn sách hay sẽ đem lại cho con người một tư tưởng, một định hướng có lợi nhất định. Những một cuốn sách xấu lại mang lại cho con người tư tưởng lệch lạc, thiếu chín chắn dẫn đến những hậu quả khó lường. Do đó chúng ta cũng thấy được cái tốt từ sách để học tập. Nhắc đến sách là nhắc tới một thế giới sáng trong, một thế giới mang tinh nhân văn, hiện thực. Do đó ta phải nhận ra được rằng: đọc sách không chỉ là tu dưỡng kiến thức mà còn là mở ra một con đường, một lối mở dẫn đến thành đạt. Một trong những thiệt thòi lớn nhất của con người là không đọc sách vì đó như một thế giới thông tin thu nhỏ dễ hiểu, dễ cảm nhận. Ngay cả những vị danh nhân thành tài, những nhà bác học uyên bác không thể phủ nhận được giá trị của sách. Tri thức của con người càng được tu dưỡng bao nhiêu thì con người lại càng cảm nhận được vai trò của sách, hiêu thêm được tác dụng mà sách đem lại. Có thể nói sách chính là phương tiện để chúng ta học tập, là nguồn động lực để chúng ta vươn xa. Do đó chúng ta trước hết phải hiểu được vai trò, giá trị của nó, biết chọn lựa, sau đó là hãy biết sử dụng nó đúng mục đích để sách luôn luôn mang một vị trí quan trọng trong đời sống mỗi con người hay nói rõ hơn là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ loại người.
Xem thêm

1 Đọc thêm

TIỂU LUẬN TRIẾT- LÊNIN BẢO VỆ HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI TRONG TP NHỮNG NGƯỜI BẠN DÂN - Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

TIỂU LUẬN TRIẾT- LÊNIN BẢO VỆ HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI TRONG TP NHỮNG NGƯỜI BẠN DÂN - Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

Lịch sử tư tưởng nhân loại phát triển như một dòng chảy liên tục, mặc dù có những bước quanh co, nhưng về cơ bản là không ngừng tiến lên cùng với sự phát triển trình độ nhận thức của con người. Tuy vậy, xuyên suốt lịch sử phát triển cho thấy, chỉ đến khi triết học Mác ra đời, đánh dấu một bước ngoặt cách mạng vĩ đại, tạo ra một hệ thống triết học đó, được hiểu là sự thay đổi căn bản, tạo ra sự nhảy vọt về chất, một hệ thống triết học khác về chất so với tất cả các hệ thống triết học trong lịch sử, sự ra đời đó phù hợp với quy luật khách quan. Trong đó, chủ nghĩa duy vật lịch sử được đánh giá là một nội dung bước ngoặt cách mạng, trong đó cùng với phát kiến giá trị thặng dư, phát kiến về hình thái kinh tế xã hội là học thuyết đặc biệt quan trọng, chiếm vị trí cốt lõi trong chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác.
Xem thêm

Đọc thêm

Văn chương với cuộc đời.

VĂN CHƯƠNG VỚI CUỘC ĐỜI.

Quả thực văn chương luôn gắn bó với cuộc sống. Bắt nguồn từ cuộc sống, trước hết, văn chương là tấm gương phản chiếu cuộc sống. Đọc văn chương kim cổ đông tây, ta như được quay trở về với quá khứ của nhân loại từ thời hoang dại đến thế kỉ văn minh. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã từng nhận xét về văn chương như sau: Văn chương sẽ là hình dung của cuộc sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống  (Ý nghĩa văn chương). Quả thực văn chương luôn gắn bó với cuộc sống. Bắt nguồn từ cuộc sống, trước hết, văn chương là tấm gương phản chiếu cuộc sống. Đọc văn chương kim cổ đông tây, ta như được quay trở về với quá khứ của nhân loại từ thời hoang dại đến thế kỉ văn minh. Chỉ riêng văn học Việt Nam đã là những thước phim hoành tráng về cuộc sống mấy nghìn năm của dân tộc. Từ thuở các các vua Hùng dựng nước Văn Lang, công cuộc đấu tranh gian khổ để chinh phục thiên nhiên đã in dấu đậm nét trong thần thoại Sơn Tinh, Thủy Tinh rồi công cuộc khai phá đất đai, mở mang bờ cõi đã đi vào những thần thoại như Thần Trụ Trời, Đi săn mặt đất... Cùng với công cuộc chinh phục thiên nhiên là công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Hình ảnh người anh hùng làng Gióng đánh tan giặc Ân trong thần thoại Thánh Gióng là những kì tích của cha ông. Cứ thế, các thời đại nối tiếp nhau qua đi, thời đại nào mà chẳng in dấu trong văn chương. Sông núi nước Nam là bản tuyên ngôn độc lập khẳng định vị thế và chủ quyền của dân tộc Đại Việt trong buổi đầu xây dựng quốc gia phong kiến độc lập. Hịch tướng sĩ là hồi kèn xung trận vang vọng núi sông trong cuộc quyết chiến với một tên đế quốc hùng mạnh bậc nhất của thế kỉ XIII, để bảo toàn giang sơn xã tắc. Bình Ngô đại cáo là khúc khải hoàn tráng lệ, hào hùng ngợi ca cả một dân tộc anh hùng trong chiến thắng lẫy lừng đánh tan ngoại xâm ở thế kỉ XV... Trong những năm của thế kỉ XX, hai cuộc kháng chiến lớn của dân tộc đã hiện diện sinh động trong thơ Tố Hữu, Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm..., trong văn Kim Lân, Nguyên Ngọc, Anh Đức, Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu. Ta hãy thử sống lại những giây phút gian khổ của chiến sĩ Điện Biên- những người đã làm nên một chiến thắng “chấn động địa cầu” tháng 5 năm 1954: Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt Máu trộn bùn non Gan không núng Chí không mòn! Những đồng chí thân chôn làm giá súng Đầu bịt lỗ châu mai Băng mình qua núi thép gai ào ào vũ bão Những đồng chí chèn lưng cứu pháo Nát thân nhắm mắt còn ôm (Tố Hữu) Hay cái giây phút hào hùng đánh Mĩ những năm 60- 70: Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất Nhưng anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng (Lê Anh Xuân) Bên cạnh những trang hào hùng của cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, còn có những bức tranh chân thực về những cuộc sống bình dị đời thường. Một cảnh lao động đầy thơ mộng: Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi (Ca dao) Một tâm trạng xao xuyến bồi hồi của một cậu học trò lần đầu tiên đến trường: Con đường này tôi đã quen đi lại nhiều lần, nhưng lần này tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học. (Thanh Tịnh) Những rung động tinh tế của con người trước thiên nhiên: Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai (Nguyễn Trãi) Văn chương không chỉ là tấm gương phản chiếu đời sống, văn chương còn là ước mơ của con người về cuộc đời. Truvền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh là ước mơ chiến thắng lũ lụt. Cổ tích Sự tích chú Cuội cung trăng là ước mơ có thứ thuốc thần tiên để cải tử hoàn sinh. Thạch Sanh, Sọ Dừa, Tấm Cám và một loạt các truyện cổ tích khác là ước mơ về cái đẹp, cái thiện, về sự chiến thắng của cái thiện chống cái ác. Em bé thông minh là ước mơ về tài trí của con người. . Kể cả những ước mơ nho nhỏ, những ước nguyện từ sâu thẳm bên trong tâm hồn con người cũng được văn chương nói hộ. Ta hãy lắng nghe tiếng lòng và khát khao hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội xưa: Chàng ơi phụ thiếp làm chi Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng (Ca dao) Những ước vọng ấy có khi chỉ được bộc lộ bằng một lời than ngắn, có lúc lại là một câu chuyện dài đầy xúc động. Cuộc chia tay của những con búp bê là một ví dụ. Truvện là những trang văn thấm đầy nước mắt đau thương của hai đứa trẻ phải chia lìa vì sự tan vỡ của gia đình, ước mong thổn thức của hai đứa trẻ hay chính khát vọng mãnh liệt của nhà văn về quyền sống của trẻ em? Một khát vọng đầy tinh thần nhân bản có thể lay động tâm thức hàng triệu người. Và đây, nỗi sầu da diết, mênh mang sâu thẳm của người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm khúc lại làm bùng cháy lên trong ta niềm mong mỏi thiết tha về một thế giới không có chiến tranh để không còn nỗi sầu chia li oái oăm, nghịch chướng, chỉ có nụ cười và ánh mắt hạnh phúc của con người. Khát khao ấy đã từng là khát vọng cao đẹp của vị thân vương quý tộc nhà Trần trên đường phò giá: Thái bình nên gắng sức Non nước ấy ngàn thu (Trần Quang Khải) Và cũng là niềm vui tràn ngập trong tâm hồn hoàng đế Trần Nhân Tông trước cảnh thái bình của nhân dân: Mục đồng sáo vẳng trâu về hết Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng Làm sao có thề kể hết những ước mơ đẹp về cuộc đời được gửi gắm vào trong những trang thơ văn. Văn chương là như thế đấy. Nó chính là cuộc đời. Nó đẹp như cuộc đời và đẹp hơn cả cuộc đời. Cuối cùng, xin được lấy lời của Hoài Thanh làm lời kết cho bài viết này: Nếu trong pho lịch sử loài người xoá các thi nhân, văn nhân và đồng thời trong tâm linh loài người xoá hết những dấu vết còn lưu lại thì cái cảnh tượng nghèo nàn sẽ đến mức nào. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

3 Đọc thêm

Tài liệu Văn hóa Trung Hoa

Tài liệu Văn hóa Trung Hoa

Như đã biết,với nhưng ưu thế vốn có của mình, Trung Quốc đã có một nền văn minh vô cùng rực rỡ về nhiều mặt, trong đó nổi bật như chữ viết, văn học, sử học, khoa học – tự nhiên… Đặc biệt Trung Quốc rất coi trọng việc giáo dục thể hiện trong việc mở các trường học và tổ chức các khoa cử trong các triều đại trước. Với một đất nước có bề dày về mặt lịch sử, bề rộng về mặt địa lí, ngay từ thời cổ đại, Trung Quốc đã có những phát minh lớn có tiếng vang và ảnh hưởng đến toàn thế giới,trong đó tiêu biểu nhất là giấy,la bàn,thuốc nổ…Việc phát minh ra giấy là cuộc cách mạng quan trọng trong truyền bá chữ viết, trao đổi tư tưởng và phổ biến kiến thức. Những phát minh đó cho thấy con người Trung Quốc rất năng động, sáng tạo. Hơn nữa, suốt 5000 năm tồn tại và phát triển, văn minh Trung Quốc không chỉ có ảnh hưởng đến các dân tộc Châu Á, mà còn có những đóng góp lớn cho tiến trình phát triển của văn minh loài người. Những phát minh lớn của Trung Quốc trong lịch sử khoa học – kĩ thuật của thế giới. Những phát minh lớn đó đã làm thay đổi bộ mặt thế giới, loại thứ nhất trên bình diện văn học, loại thứ hai trên bình diện chiến tranh, loại thứ ba trên bình diện hàng hải… Từ một nước nghèo nàn lạc hậu, thì Trung Quốc đã phấn đấu lên thành một nước có chỉ số phát triển đầu người cao nhất thế giới. Chính trị từ khủng hoảng đến ổn định. Những đóng góp của văn minh Trung Quốc cho nhân loại là rất lớn, chúng ta không thể phủ nhận nó. Thực tế đã cho thấy điều đó. Ảnh hưởng của nền văn minh Trung Quốc là rất lớn, trong đó không thể ngoại trừ Việt Nam. Việt Nam cần học tập con người Trung Quốc về sự nhạy bén với thời cuộc, sáng tạo hơn nữa trong các lĩnh vực. Với những thành tựu đó, người Trung Quốc hoàn toàn có thể ngẩng cao đầu trên trường quốc tế, người Trung Quốc có thể tự hào về con người và đất nước mình. Trung Quốc xứng đáng để cả thế giới ngưỡng mộ và học tập.
Xem thêm

Đọc thêm

TỔNG HỢP NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHƯƠNG IV: QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY CHO ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH GIỎI LỚP 9

TỔNG HỢP NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHƯƠNG IV: QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY CHO ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH GIỎI LỚP 9

Lịch sử là bộ môn khoa học mang tính xã hội và nhân văn. Môn học này trang bị cho học sinh (HS) khối lượng kiến thức rất đồ sộ về tiến trình lịch sử nhân loại. Không phải ngẫu nhiên khi nhà chính trị Rôma cổ là Xixêrông cho rằng Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống. Bởi nói đến lịch sử là nói đến tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ. Tất cả mọi điều đã xảy ra trong quá khứ đều là những tri thức lịch sử, tri trức của nhân loại và nó dạy cho cuộc sống của con người cả hiện tại và tương lai rất nhiều điều. Để nắm vững kiến thức về một vấn đề nào đó đã khó nhưng để nắm khái quát, rồi đến nắm vững toàn bộ kiến thức lịch sử nhân loại lại là vấn đề khó hơn. Nắm chắc lịch sử là biết rõ bản chất của những vấn đề lịch sử. Trong dạy học, để HS học tốt môn Lịch sử, giáo viên (GV) cần có những định hướng phương pháp tốt.Lí luận dạy học chỉ rõ trong thực tiễn ở trường trung học cơ sở (THCS) có nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau như xêmina, tham quan học tập, hoạt động ngoài lớp đang được áp dụng rộng rãi. Trong đó hình thức lên lớp là hình thức tổ chức dạy học cơ bản.Quá trình dạy học lịch sử có bản chất là một quá trình nhận thức đặc thù. Nhận thức của HS trong học tập lịch sử cũng giống như quá trình nhận thức các môn học khác nói chung. Nhưng nét khác biệt trong nhận thức học tập lịch sử của HS là xuất phát từ sự kiện, từ việc tri giác tài liệu, GV hướng dẫn cho HS tạo biểu tượng, nắm được khái niệm lịch sử, từ đó rút ra quy luật, bài học kinh nghiệm của quá khứ để HS vận dụng vào hoạt động thực tiễn.Quan điểm chỉ đạo chuyên môn lại chỉ rõ trước hết GV phải xây dựng kế hoạch dạy học toàn diện cho cả năm học, từng học kỳ, từng chương, từng bài. GV lựa chọn kiến thức cơ bản, cần thiết mà HS phải nắm vững. Những kiến thức đó là cơ sở để hình thành thế giới quan, giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức và phát triển toàn diện HS.Xuất phát từ lí luận dạy học, nội dung kiến thức là một cơ sở để người thầy hình thành phương pháp dạy học đúng, phù hợp.Quan hệ quốc tế là một nội dung nằm trong hệ thống kiến thức lịch sử nhân loại, “Quan hệ quốc tế từ năm 1945 đến nay” là một trong năm nội dung chính của lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến nay nằm trong chương trình lịch sử thế giới của môn lịch sử lớp 9. Trong thời đại ngày nay, các nước, các tổ chức trên thế giới đều chú trọng đến tình hình thế giới, đến mối quan hệ giữa các nước với nhau. Thông qua mối quan hệ quốc tế giúp các nước hiểu nhau, và các nước có đường lối, chính sách đúng và phù hợp, có thể tạo nên sự phát triển cho đất nước. Như vậy vị trí, vai trò của quan hệ quốc tế là rất cao, quan trọng không thể thiếu trong thời hiện đại này và cho sự phát triển của mỗi nước. Việc giúp HS có nhận thức đúng về quan hệ quốc tế là việc làm phải theo đúng phương pháp bộ môn, HS sẽ có phương pháp học tập đúng, học giỏi môn lịch sử.Để làm được như vậy thì đòi hỏi người thầy phải tổng hợp được nhiều kiến thức về quan hệ quốc tế. Phân loại các đối tượng HS, rồi thực hiện kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học phù hợp với kiến thức, với đối tượng HS. Rõ ràng vai trò của người thầy là rất to lớn.
Xem thêm

41 Đọc thêm

Đọc sách là một hoạt động mang lại nhiều lợi ích. Viết bài văn bày tỏ những suy nghĩ của em về hoạt động này

ĐỌC SÁCH LÀ MỘT HOẠT ĐỘNG MANG LẠI NHIỀU LỢI ÍCH. VIẾT BÀI VĂN BÀY TỎ NHỮNG SUY NGHĨ CỦA EM VỀ HOẠT ĐỘNG NÀY

Sách là tài sản quý giá đối với mỗi con người và toàn nhân loại. Đọc sách là một cách để con người tự học hỏi và trau dồi thêm kiến thức, đồng thời, giúp mỗi người luôn theo kịp xu thế của thời đại, trở thành người có tri thức tiên tiến để có thể giúp ích cho xã hội.       Sách là tài sản quý giá đối với mỗi con người và toàn nhân loại. Đọc sách là một cách để con người tự học hỏi và trau dồi thêm kiến thức, đồng thời, giúp mỗi người luôn theo kịp xu thế của thời đại, trở thành người có tri thức tiên tiến để có thể giúp ích cho xã hội.       Mỗi cuốn sách là nơi lưu trữ kiến thức để truyền lại cho con người những hiểu biết về thế giới xung quanh. "Cuộc đời con người là hữu hạn nhưng kiến thức là vô hạn" nên con người sẽ chẳng bao giờ có thể biết hết, khám phá hết thế giới xung quanh mình. Qua thời gian, nhân loại đã tích luỹ được lượng kiến thức vô cùng to lớn, được lưu trữ dưới nhiều dạng, trong đó dạng phổ biến nhất, thuận tiện nhất chính là những cuốn sách. Có thể nói, sách là nơi mà ta có thể cập nhật thông tin, kiến thức một cách nhanh nhất. Vì thế, đọc sách có lợi cho mỗi người. Sách đưa ta đến sự hiểu biết về vũ trụ, về thế giới, về lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người, về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, về đất nước, thiên nhiên... mà ta chưa được biết tới. Hơn thế nữa, sách còn là người bạn trung thành dẫn dắt ta trên con đường tìm kiếm, học hỏi kiến thức. Có lẽ vì thế mà sách luôn gắn bó với con người từ khi còn bé với các câu chuyện cổ tích hướng tới cái thiện, cái đẹp cho tới khi lớn với những cuốn sách về khám phá tự nhiên, xã hội... Trong xu thế phát triển đất đất nước hiện nay, sách bây giờ đã không còn khan hiếm như trước. Hàng loạt những cuốn sách ra đời hằng ngày với những nội dung mới lạ, hình thức đẹp mắt. Chúng ta có thể mua sách ở rất nhiều nơi với giá không quá đắt.       Để đọc sách, mỗi người lại có một chỗ đọc riêng. Người đọc ở ngay tại nhà, người thì tìm đến các thư viện ở trường, ở thành phố để tìm đọc những cuốn sách hay, bổ ích. Có thể nói, bây giờ, trong cuộc sống bận rộn, công việc đọc sách đã diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi: lúc nghi ngơi, trước khi đi ngủ, khi xem tivi...       Trong thực tế, lượng sách phát hành mỗi ngày quá lớn mà không phải cách thế nào cũng đều có chất lượng tốt. Vì thế, chọn sách để đọc cũng là một công việc không hề dễ dàng. Khi chọn được những cuốn sách hay, phù hợp vổi mỗi người thì việc suy nghĩ về những kiến thức đã thu nhận được cũng là một cách dể trau dồi sự hiểu biết. Một cách đọc để nhớ lâu là ghi chép, tóm tắt những nội dung cơ bản trong cuốn sách. Điều này rất cần thiết: mỗi khi cần, ta có thể vận dụng các kiến thức đó vào cuộc sống để những kiến thức đó không còn là sách vở, là lý thuyết suông. Chính vì vậy sách là một người thầy, một người bạn trung thành dạy ta những điều hay, lẽ phải trong cuộc sống, là một thứ của cải tinh thẩn vô giá với mỗi người. Chúng ta cần phải giữ gìn, nâng niu, quý trọng và bảo quản sách, vận dụng những kiến thức trong sách vào đời sống để xứng đáng với những gì mà sách đem lại cho ta.       Đối với tôi, là một học sinh, giữ gìn những cuốn sách hay, bổ ích cũng là cách giữ gìn những gì mà mình đã học được từ đó. Đồng thời, công việc đọc sách cũng là một cách tự học hiệu quả nhất để có một "phông văn hoá" rộng lớn và sâu sắc. Trích: loigiaihay.com  
Xem thêm

1 Đọc thêm

Công việc đọc sách.

CÔNG VIỆC ĐỌC SÁCH.

Sách là tài sản quý giá đối với mỗi con người và toàn nhân loại. Đọc sách là một cách để con người tự học hỏi và trau dồi thêm kiến thức, đồng thời, giúp mỗi người luôn theo kịp xu thế của thời đại, trở thành người có tri thức tiên tiến để có thể giúp ích cho xã hội. Sách là tài sản quý giá đối với mỗi con người và toàn nhân loại. Đọc sách là một cách để con người tự học hỏi và trau dồi thêm kiến thức, đồng thời, giúp mỗi người luôn theo kịp xu thế của thời đại, trở thành người có tri thức tiên tiến để có thể giúp ích cho xã hội. Mỗi cuốn sách là nơi lưu trữ kiến thức để truyền lại cho con người những hiểu biết về thế giới xung quanh. Cuộc đời con người là hữu hạn nhưng kiến thức là vô hạn nên con người sẽ chẳng bao giờ có thể biết hết, khám phá hết thế giới xung quanh mình. Qua thời gian, nhân loại đã tích luỹ được lượng kiến thức vô cùng to lớn, được lưu trữ dưới nhiều dạng, trong đó dạng phổ biến nhất, thuận tiện nhất chính là những cuốn sách. Có thể nói, sách là nơi mà ta có thể cập nhật thông tin, kiến thức một cách nhanh nhất. Vì thế, đọc sách có lợi cho mỗi người. Sách đưa ta đến sự hiểu biết về vũ trụ, về thế giới, về lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người, về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, về đất nước, thiên nhiên... mà ta chưa được biết tới. Hơn thế nữa, sách còn là người bạn trung thành dẫn dắt ta trên con đường tìm kiếm, học hỏi kiến thức. Có lẽ vì thế mà sách luôn gắn bó với con người từ khi còn bé với các câu chuyện cổ tích hướng tới cái thiện, cái đẹp cho tới khi lớn với những cuốn sách về khám phá tự nhiên, xã hội... Trong xu thế phát triển đất nước hiện nay, sách bây giờ đã không còn khan hiếm như trước. Hàng loạt những cuốn sách ra đời hàng ngày với những nội dung mới lạ, hình thức đẹp mắt. Chúng ta có thể mua sách ở rất nhiều nơi với giá không quá đắt. Để đọc sách, mỗi người lại có một chỗ đọc riêng. Người đọc ở ngay tại nhà, người thì tìm đến các thư viện ở trường, ở thành phố để tìm đọc những cuốn sách hay, bổ ích. Có thể nói, bây giờ, trong cuộc sống bận rộn, công việc đọc sách đã diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi: lúc nghỉ ngơi, trước khi đi ngủ, khi xem vô tuyến,... Trong thực tế, lượng sách phát hành mỗi ngày quá lớn mà không phải sách thế nào cũng đều có chất lượng tốt. Vì thế, chọn sách để đọc cũng là một công việc không hề dễ dàng. Khi chọn được những cuốn sách hay, phù hợp với mỗi người thì việc suy nghĩ về những kiến thức đã thu nhận được cũng là một cách để trau dồi sự hiểu biết. Một cách đọc để nhớ lâu là ghi chép, tóm tắt những nội dung cơ bản trong cuốn sách. Điều này rất cần thiết: mỗi khi cần, ta có thể vận dụng các kiến thức đó vào cuộc sống để những kiến thức đó không còn là sách vở, là lí thuyết suông. Chính vì vậy, sách là một người thầy, một người bạn trung thành dạy ta những điều hay, lẽ phải trong cuộc sống, là một thứ của cải tinh thần vô giá với mỗi người. Chúng ta cần phải giữ gìn, nâng niu, quv trọng và bảo quản sách và biết vận dụng nhửng kiến thức trong sách vào đời sống để xứng đáng với những gì mà sách đem lại cho ta. Đối với tôi, là một học sinh, giữ gìn những cuốn sách hay, bổ ích cũng là cách giữ gìn những gì mà mình đã học được từ đó. Đồng thời, công việc đọc sách cũng là một cách tự học hiệu quả nhất để có một phông văn hoá rộng lớn và sâu sắc. Trích: loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

những thành tựu tiêu biểu của nghệ thuật trung quốc

NHỮNG THÀNH TỰU TIÊU BIỂU CỦA NGHỆ THUẬT TRUNG QUỐC

Thời gian đi qua xóa nhòa nhiều thứ, chỉ còn lại với đời những tinh hoa. Những tinh hoa ấy không tập trung mà phân tán trên khắp địa cầu. Từ thời cổ đại đã có nhiều nền văn minh lớn có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới nhân loại. Ngoài Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ phải kể đến Trung Quốc. Trung Quốc nằm trong số những cái nôi khởi đầu cho sự tiến bộ của loài người. Bởi nền văn minh này có sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực, nó còn lan tỏa sang các quốc gia lân cận. Người Trung Quốc thích và giỏi sáng tạo. Bởi vậy những thành tựu họ để lại là rất đáng ghi nhận, đặc biệt là trên lĩnh vực nghệ thuật. Nghệ thuật Trung Quốc là sự kết tinh của trí óc lẫn sự dẻo dai. Điều đó thể hiện qua những thành tựu to lớn còn tồn tại đến bây giờ.
Xem thêm

45 Đọc thêm

Ebook 10+ thuyết âm mưu học giỏi bất chất demo phiên bản 2

Ebook 10+ thuyết âm mưu học giỏi bất chất demo phiên bản 2

Tất nhiên háo hức quá đi rồi! Bỏ tiền ra ai chả háo hức. Lão tác giảnày thật nhảm nhí mà, viết sách thì lo viết đi hỏi độc giả làm gì, màtui cũng đâu có trả lời ông được đâu mà cứ hỏi. Rõ là lắm lời cái ôngtác giả trẻ ạ!Haha…chắc bạn cũng khá ấn tượng về phong cách văn vẻ của tôi,hoặc cũng có thể bạn sẽ hơi vội vàng mà không chịu thư giản để từ từkhai thác cuốn sách thế rồi cũng trách tôi như vậy không? Hãy ngheđây, trước khi bạn tới với thuyết âm mưu số 1, tôi muốn bạn phảihiểu rằng mọi thứ chỉ thay đổi khi bạn bắt đầu thật chậm rãi và nhẹnhàng, đó là lí do có thuyết âm mưu số 0 này. Chúng ta chỉ đang nói[ DEMO ] 10+ THUYẾT ÂM MƯU HỌC GIỎI BẤT CHẤP.| Tác giả diễn giả thầy tmt23tới cái môn vật lý chết tiệt mà tôi rất ghét đúng không nhỉ? Tôi đangnói tới định luật Newton, bạn có nhớ định luật thứ 1 của Newton nữakhông? Tôi nhắc lại cho bạn đây!Định luật I Newton: “Nếu một vật không chịu tác dụng của lực nào hoặcchịu các lực có hợp lực bằng không thì vật đang đứng yên sẽ tiếp tụcđứng yên, vật đang chuyển động thẳng đều sẽ tiếp tục chuyển độngthẳng đều”.Điều đó có nghĩa là trong cuộc sống của bạn, nếu không chịu tác dụngcủa bất cứ một ngoại cảnh nào cả. Bạn sẽ tiếp tục giữ nguyên trạngthái ban đầu mà không hề có sự thay đổi nào diễn ra, đây là một sựthật thú vị bạn nên biết.Chẳng phải bạn biết mình cần học bài vào đêm nay hoặc cần hoànthành bài tập càng sớm càng tốt nhưng vì không có một tác động nào
Xem thêm

Đọc thêm

Thực vật Thực phẩm và Sức khỏe Con người

THỰC VẬT THỰC PHẨM VÀ SỨC KHỎE CON NGƯỜI

Thực Vật, Thực Phẩm, và Sức Khỏe Con Người: Ăn Gì Bổ Nấy? TẠI SAO CHÚNG TA ĂN VÀ CHÚNG TA ĂN NHỮNG GÌ ĂN GÌ BỔ NẤY? THỰC PHẨM VÀ NGHIÊN CỨU DINH DƯỠNG Chúng ta cần thức ăn để tồn tại, và thực vật giữ một vai trò quan trọng trong mọi bữa ăn của con người, cho dù ăn trực tiếp, hay gián tiếp (bằng cách tiêu thụ động vật ăn thực vật hay sản phẩm động vật), hay những thứ bị biến đổi bởi công nghiệp chế biến. Sự thay đổi trong chế độ ăn uống của chúng ta, được mang lại bởi sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp chế biến thực phẩm, có cả tác động tích cực và tiêu cực đến sức khỏe toàn cầu. Con người tiến hóa chỉ tiêu thụ thực phẩm đã tăng trưởng và được chăn thả tự nhiên, với những thay đổi mùa vụ linh hoạt và những giai đoạn khan hiếm lương thực. Sự phát triển nông nghiệp cách đây khoảng 10,000 năm đã làm thay đổi mô hình tiêu thụ thực phẩm của con người, dẫn đến sự gia tăng các loại ngũ cốc và khả năng có một nguồn cung thức ăn nhiều hơn dự đoán. Như là một hệ quả của cuộc cách mạng trong nông nghiệp, năng lực sản xuất lương thực của chúng ta đã tăng lên rất nhiều, cũng như tuổi thọ của chúng ta. Gần đây hơn, những thay đổi hậu công nghiệp hóa trong sản xuất lương thực và những thay đổi trong lối sống đã dẫn đến việc nhiều người có thói quen ăn những thức ăn có thành phần nằm ngoài những thành phần đã được gặp trong lịch sử tiến hóa của chúng ta. Tốc độ thay đổi thói quen ăn uống của chúng ta đã vượt xa tốc độ thay đổi tiến hóa, dẫn đến việc thường xuyên có sự mất cân bằng giữa những gì cơ thể cần và những gì cơ thể nhận được. Trong khi có rất nhiều người bị đói kinh niên và suy dinh dưỡng, hiện tại trên thế giới ngày càng có nhiều người chịu tác động xấu của việc ăn quá nhiều thứ, và với sự cân bằng dinh dưỡng kém (đó là, có quá nhiều loại thực phẩm hỏng và không đủ thực phẩm có chất lượng). Việc tăng tỷ lệ mắc các bệnh mãn tính hầu hết có thể được truy trở lại bởi sự mất cân bằng trong chế độ ăn uống hiện đại với nhu cầu của cơ thể chúng ta. Khoảng 80% ca mắc bệnh tiểu đường loại 2 và 30% bệnh tim và ung thư có thể quy cho béo phì, chế độ ăn uống kém chất lượng, và ít vận động, cùng với việc tăng tuổi thọ đã cung cấp thêm thời gian cho các bệnh mãn tính phát triển. Bài báo cáo này mô tả các thành phần hóa học của thực phẩm, làm thế nào các loại thực phẩm khác nhau có thể ảnh hưởng đến sinh lý chúng ta và có thể góp phần ngăn chặn hoặc phát triển các bệnh mãn tính, và nghiên cứu dinh dưỡng như thế nào, thực hành nông nghiệp ra sao, và các chương trình nhân giống cây trồng có thể góp phần làm cho bữa ăn có lợi cho sức khỏe hơn.
Xem thêm

2 Đọc thêm

CHỦ NGHĨA DUY vật BIỆN CHỨNG và CHỦ NGHĨA DUY vật LỊCH sử TRONG tác PHẨM LUTVICH PHOI o BAC về sự cáo CHUNG của TRIẾT học cổ điển đức

CHỦ NGHĨA DUY vật BIỆN CHỨNG và CHỦ NGHĨA DUY vật LỊCH sử TRONG tác PHẨM LUTVICH PHOI o BAC về sự cáo CHUNG của TRIẾT học cổ điển đức

sự ra đời triết học Mác xít có ý nghĩa to lớn trong lịch sử nhân loại. chủ nghĩa duy vật biến chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong tác phẩm này là sự kế thừa một cách biện chứng tư duy của nhân loại. Bằng bộ óc thiên tài, Enghen đã luận giải những vấn đề tự nhiên và xã hội một cách hết sức khách quan, làm nền tảng cho một hệ thống lý thuyết cách mạng và khoa học

Đọc thêm

báo cáo thực tập tốt nghiệp : Nghiên cứu kỹ thuật bón phân lân và tưới nước cho lúa mùa trên đất vùi rơm rạ vụ Xuân

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP : NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT BÓN PHÂN LÂN VÀ TƯỚI NƯỚC CHO LÚA MÙA TRÊN ĐẤT VÙI RƠM RẠ VỤ XUÂN

Chuyên ngành: Nông Lâm Ngư nghiệp Sơ lược: Mục đích: Xác định thời kỳ bón phân lân thích hợp trên đất cầy vùi rơm rạ vụ Xuân làm phân bón cho vụ lúa mùa 1.1 Đặt vấn đề. Cây lúa (Oryza sativa L.) từ ngàn đời nay đã gắn bó với con người, làng quê Việt Nam đồng thời cũng trở thành tên gọi cho một nền văn minh nền văn minh lúa nước. Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa và tinh thần. Hạt lúa và người nông dân cần cù, mộc mạc là mảng màu không thể thiếu trong bức tranh của đồng quê Việt Nam hiện nay và mãi mãi về sau. Là cây trồng thuộc nhóm ngũ cốc,lúa cũng là cây lương thực chính của người dân Việt Nam nói riêng và người dân Châu Á nói chung.Cây lúa ,hạt gạo đã trở nên thân thuộc gần gũi đến mức từ bao đời nay người dân Việt Nam coi đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống.Từ những bữa cơm đơn giản đến các bữa tiệc quan trọng không thể thiếu sự góp mặt của cây lúa, chỉ có điều nó được chế biến dưới dạng này hay dạng khác. Không chỉ giữ vai trò to lớn trong đời sống kinh tế, xã hội mà còn có giá trị lịch sử, bởi lich sử phát triển của cây lúa gắn với lịch sử phát triển của cả dân tộc Việt Nam, in dấu ấn trong từng thời kỳ thăng trầm của đất nước.Trước đây cây lúa hạt gạo chỉ đem lại no đủ cho con người, thì ngày nay nó còn có thể làm giàu cho người nông dân và cho cả đất nước nếu chúng ta biết biến nó thành thứ hàng hóa có giá trị.
Xem thêm

61 Đọc thêm

Cùng chủ đề