NỘI DUNG CỦA HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ VE CHAM DUT CHIEN TRANH O DONG DUONG NAM 1954

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "NỘI DUNG CỦA HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ VE CHAM DUT CHIEN TRANH O DONG DUONG NAM 1954":

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Sử THPT chuyên Hoàng Lê Kha 2015

ĐỀ THI THỬ THPT QUỐC GIA MÔN SỬ THPT CHUYÊN HOÀNG LÊ KHA 2015

Đề thi thử THPT Quốc gia môn Sử năm 2015 THPT chuyên Hoàng Lê Kha Câu 1 (3,0 điểm) Trình bày khái quát chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong và sau thời kì Chiến tranh lạnh. Sự kiện nào được coi là mốc đánh dấu sự trở về châu Á của Nhật Bản? Câu 2 (2,0 điểm) Qua việc được tìm hiểu về những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1911 đến 1930, anh/ chị hãy nêu những cống hiến của Người đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này. Cống hiến to lớn nhất là gì? Câu 3 (3 điểm) Trình bày những nội dung cơ bản và ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương. Nêu những điểm khác nhau cơ bản giữa Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) với Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954) để thấy bước tiến của ta trong đấu tranh ngoại giao? Câu 4 (2 điểm) Lập bảng so sánh những điểm giống và khác nhau giữa hai chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965 - 1968) và “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 - 1973) của Mĩ ở miền Nam Việt Nam. Tuyenssinh247 tổng hợp
Xem thêm

1 Đọc thêm

ĐẢNG LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở TÂY NGUYÊN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 1954)

ĐẢNG LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở TÂY NGUYÊN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 1954)

cùng lợi hại có thể khống chế hầu như toàn bộ khu vực xung quanh, giữ vị tríchiến lược quan trọng không những đối với miền Nam nước ta, mà cả vớiphần Nam Đông Dương.Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, rừng ở TâyNguyên còn bạt ngàn, che phủ trên 80% diện tích tự nhiên. Trong 5 cao nguyênKon Tum, Pleiku, Đắk Lắk, Lang Biang, Di Linh có độ cao trung bình từ 700800m, trong đó nổi lên một số dãy núi cao có giá trị khống chế các khu vực xung1Đắk Nông được tách từ Đắk Lắk ra thành lập theo quyết định 23/2003/QH11 ban hành ngày 26 tháng 11năm 2003 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.2Ở đây có nhiều tài liệu dẫn khác nhau, theo Bộ Tư lệnh quân khu 5, Khu 5- 30 năm chiến tranh giải phóng,xuất bản năm 1986, trang 16: Tây Nguyên rộng 67.000km2, còn theo Từ điển Bách khoa quân sự, do Trungtâm từ điển bách khoa quân sự - Bộ Quốc phòng thì Tây Nguyên có diện tích rộng khoảng 55.568,9km2, haytheo Ban chỉ đạo Tây Nguyên, Tây Nguyên trên đường phát triển bền vững ở trang 19 có diện tích rộngkhoảng 54.538km2. Còn theo Bộ Tổng tham mưu, Chuyên đề Chiến tranh du kích trên chiến trường TâyNguyên trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb QĐND, trang 7, thì Tây Nguyên có diện tích rộngkhoảng 37.000 km.9quanh. Hai cao nguyên Pleiku và Đắk Lắk nối liền nhau, hợp thành một vùng đấtrộng ở trung độ Tây Nguyên, vùng đất này lại nối liền với Đông Bắc Campuchiatạo thành một chiến trường có dung lượng lớn ở phía bắc Đông Dương.Nằm vào khoảng giữa nam bán đảo Đông Dương, nơi có chung biêngiới với Lào và Campuchia, Tây Nguyên có mạng lưới giao thông phong phú,đa dạng, có thể ra Bắc, vào Nam, xuống đồng bằng ven biển, sang Lào vàCampuchia. Quốc lộ số 14 chạy từ Đà Nẵng lên phía Tây, xuyên suốt chiềudài Tây Nguyên vào đến Đông Nam Bộ. Đường số 5 (nay là đường số 24) từ
Xem thêm

128 Đọc thêm

CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG 3 - HOÀNG DUNG

CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG 3 - HOÀNG DUNG

cũng cho người khác thấy ông là người ít nói, lặng lẽ. Nhưng không một ai chối cãi được ông là mộtngười tử tế. Ông tử tế với bạn là chuyện đương nhiên, ông tử tế với binh sĩ dưới quyền. Ông là một ysĩ tận tình săn sóc thương binh của ta và của dịch.Thế rồi chúng tôi tan tác trong cuối mùa trận chiến. Đầu thập niên 80, gặp lại nhau trên xứ người.Hoàng Dung đang đi học lại. Ông mới tới Mỹ một thời gian ngắn, lại lao vào việc sách đèn để có thểđì hết con đường ông đã chọn, để tiếp tục tuân thủ lời thề Hyppocrate. Nơi xứ người thỉnh thoảngchúng tôi mới có cơ hội gặp nhau, khi thì tôi sang miền Đông, khi thì Hoàng Dung sang Cai cho đỡnhớ không khí nước Việt.Cách đây gần một năm, Hoàng Dung gọi điện thoại đến tôi, ông muốn tôi đọc hộ một tập bản thảo.Ông dứt khoát không hé lộ một chút gì về nội dung cuốn sách, chỉ vắn tắt một câu: “ông đọc hộ tôicoi nó có ra cái giống gì không” Buông điện thoại xuống tôi nghĩ tới Hoàng Dung, những đồngnghiệp của ông, và thế hệ di dân đầu tiên, mà trong đó có Hoàng Dung và cả tôi.Rất nhiều người trong cộng đồng chúng ta, sau khi đã an tâm về vật chất, con người ta cần một mónăn tinh thần. Mỗi người đến với món ăn tinh thần này một kiểu. Có người thành nhà văn, nhà thơ. Cóngười thành nhạc sĩ, hoạ sĩ. Cũng không thiếu gì người trở thành ca sĩ trình diễn trong vòng thânhữu, trong những party mừng sinh nhật, kỷ niệm thành hôn hay trong các tiệc cưới. Có người trởthành những chuyên viên tranh đấu, có mặt trong năm bẩy đoàn thể, tổ chức. Có người không làm gìcả, chỉ ngơ ngơ ngác ngác nơi xứ người. Hoàng Dung không rơi vào những thông lệ trên. Dù nghĩ gìthì nghĩ tôi không bao giờ tưởng tượng được Hoàng Dung, người bạn thiếu thời, một quân y sĩ nhiềulương tâm, sống giản dị cho tới năm ngoài 40 mới lập gia đình, lại có thể rơi vào cái vòng lợi, danhluẩn quẩn. Suốt mấy ngày liền, tôi bị cuốn sách của Hoàng Dung ám ảnh. Đã có lúc tôi nghĩ là bạntôi chắc là đang cơn quẫn trí, một mình lủi thủi một xó, thành ra viết văn làm thơ cho nó bớt buồn.Dù sao chăng nữa ở nhà viết bất cứ cái gì, cũng còn hơn mải mê trong những canh mạt chược, đắmđuối trong chỗ ánh sáng mờ ảo của vũ trường.Cầm cuốn bản thảo trong tay, một lần nữa những suy nghĩ về bạn cũ lộn tùng phèo. Đó không phải làmột tập truyện ngắn, không phải một tập thơ, tập nhạc. Đó là tất cả những gì Hoàng Dung đọc trongnhững khi nhàn rỗi, bởi vì ông làm việc cho một bệnh viện của một tỉnh nhỏ, thưa người. Tập bảnthảo là kết quả của một thời gian dài cặm cụi, nghiền ngẫm, ghi chép. Hoàng Dung đặt tên cho cuốnsách của ông là: Trận chiến Đông dương hồi III. Bên dưới tên của cuốn sách có chua một hàng chữ:
Xem thêm

119 Đọc thêm

HSG Môn Sử 12: Đề thi số 17

HSG MÔN SỬ 12: ĐỀ THI SỐ 17

Câu 1. Trình bày những điểm giống và khác nhau giữa chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 với chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972. + Giống nhau : – Cả hai đều là những trận đánh lớn nhất mà Pháp và Mĩ đều hy vọng sẽ đánh bại ta, để kết thúc các cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp và Mĩ… – Cả hai đều là những thắng lợi to lớn nhất của ta, là những đòn quyết định buộc Pháp và Mĩ phải ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh (Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương năm 1954, Hiệp định Pari về Việt Nam năm 1973)… + Khác nhau : – Điện Biên Phủ 1954 diễn ra ở Điện Biên Phủ (Lai Châu), ta chủ động mở chiến dịch tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp… – “Điện Biên Phủ trên không” diễn ra trên bầu trời miền Bắc, là trận đánh ta đánh trả cuộc tập kích chiến lược bằng đường không của Mĩ… – Điện Biên Phủ năm 1954 là thắng lợi có tính quyết định trên mặt trận quân sự của ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ 1954… – “Điện Biên Phủ trên không” là thắng lợi có tính quyết định trên mặt trận quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân ta, buộc Mĩ phải tuyên bố ngừng bắn phá miền Bắc và ký Hiệp định Pari năm 1973 rút quân về nước… Câu 2. Nêu và nhận xét nhiệm vụ cách mạng được đề ra tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1 – 1930), Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam (10 – 1930) và Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5 – 1941). a) Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên – Xác định lực lượng cách mạng là công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức; còn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư  sản thì lợi dụng hoặc trung lập. – Nhận xét:  + Hội nghị đã thấy rõ thái độ chính trị và khả năng cách mạng của mỗi giai cấp trong xã hội Việt Nam thuộc địa, xác định đúng vai trò, vị trí của từng giai cấp, tầng lớp. + Phát huy sức mạnh dân tộc, phân hóa và cô lập kẻ thù để thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc. b) Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Đông Dương với bản Luận cương chính trị tháng 10 – 1930: – Xác định động lực của cách mạng là giai cấp công nhân và nông dân. – Nhận xét:  + Đã xác định được động lực cách mạng, nhưng không đánh giá đúng khả năng cách mạng của tầng lớp tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc và phong kiến ở mức độ nhất định của tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo một bộ phận trung, tiểu địa chủ tham gia mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc và tay sai.  + Đây là điểm khác với Cương lĩnh chính trị đầu tiên và cũng là hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10 – 1930. c) Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương – Chủ trương thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, đổi tên các Hội Phản đế thành Hội Cứu quốc, nhằm tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp, giai cấp và cá nhân yêu nước. – Nhận xét: + Chủ trương trên đã huy động đến mức cao nhất lực lượng toàn dân tộc thực hiện nhiệm vụ số một là giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do.  + Khắc phục hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10 – 1930 và khẳng định chủ trương đúng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, góp phần trực tiếp đưa Cách mạng tháng Tám đến thành công.a
Xem thêm

2 Đọc thêm

Nói về Miền Nam Sơn Nam

NÓI VỀ MIỀN NAM SƠN NAM

Sơn Nam (1926 2008) là một nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam nổi tiếng.Ông tên thật là Phạm Minh Tài sinh ngày 11 tháng 12 năm 1926, tại làng Đông Thái, quận An Biên, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang). Do sự nhầm lẫn của nhân viên hộ tịch, tên khai sinh của ông bị viết sai thành Phạm Minh Tày.Thuở nhỏ ông học tiểu học tại quê nhà, rồi học trung học tại Cần Thơ. Năm 1945, ông tham gia Thanh niên Tiền phong, giành lấy chính quyền ở địa phương, rồi lần lượt tham gia công tác ở Hội Văn hóa cứu quốc tỉnh, phòng Chính trị Quân khu, phòng Văn nghệ Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ. Bút danh Sơn Nam ra đời trong thời gian này, để tưởng nhớ người phụ nữ Khmer đã cho ông bú mớm thời thơ ấu (Sơn là một họ lớn của người Khmer, Nam là để nhắc nhớ mình là người phương Nam)1. Sau Hiệp định Genève 1954, ông về lại Rạch Giá.
Xem thêm

91 Đọc thêm

BÀI 27. CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC KẾT THÚC (1953 - 1954)

BÀI 27. CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC KẾT THÚC (1953 - 1954)

BµI GI¶NG LÞCH SÖ 9: TIÕT36BµI 27cuéc kh¸ng chiÕn toµn quècchèng thùc d©n ph¸p x©m lîc kÕt thóc (1953-1954)(tiÕp theo)TIếT 36-CUẫC KHáNG CHIếN...KếTTHểC(1953-1954)- (TIếP THEO)III.Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiếntranh ở Đông Dơng:1.hoàn cảnh và tiến trình hội nghị:a. hoàn cảnh:đông-đông xuân1953-1954 cùng với mặt trậnxuân1953quân sự,1954 tata còn đấu tranh trên mặt trận ngoại giao.chống Pháp-ta sẵn sàng thơng lợng và giải quyết theotrênlốinhữngmặt trậnhoà bình.quan điẻmnào?của
Xem thêm

17 Đọc thêm

CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

sử dụng, đối tượng hợp đồng cho thuê tài chính không còn, dẫn tới hợpđồng chấm dứt, bên thuê không còn quyền sử dụng tài sản nhưng vẫn phảicó nghĩa vụ hoàn tất thanh toán cho bên cho thuê. Đây cũng là điểm khácbiệt của trường hợp chấm dứt này của hợp đồng cho thuê tài chính so vớicác loại hợp đồng khác.1.2.6. Chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính do hoàn cảnh thay đổi cơ bảnThực tế xảy ra trường hợp bối cảnh thực hiện hợp đồng xảy ra do kháchquan nhưng lại có tác động gây bất lợi đáng kể cho một hoặc nhiều bên thamgia hợp đồng - gọi là trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Hoàn cảnh thayđổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:(1) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giaokết hợp đồng;(2) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước đượcvề sự thay đổi hoàn cảnh;(3) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợpđồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dunghoàn toàn khác;(4) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợpđồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;20(5) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trongkhả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thểngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.Trường hợp này quy định pháp luật có thể xem xét điều chỉnh để hạn chếbớt những thiệt hại ngoài mong muốn của các bên: khi gặp tình huống đó, nếucác bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thờihạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xétchấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định để hạn chế những thiệt hại
Xem thêm

74 Đọc thêm

PHÁP LUẬT VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

PHÁP LUẬT VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

thương điếm và các nhà làm nghề tự do”; Sắc lệnh 77/SL ngà 22/5/1950 u định thêm vềtrường hợp thôi việc vì lý do sức kh e. Tuy nhiên, chỉ đến khi đất nước chuyển t cơ chếtập trung bao cấ sang cơ chế thị trường (năm 1986) thì hành vi đơn hương chấm dứtHĐLĐ mới được quan tâm nghiên cứu một cách đầ đủ, chi tiết t nhiều góc độ khác4nhau trong đó có khía cạnh pháp lý. Với mục đích â dựng và phát triển thị trường laođộng lành mạnh, QHLĐ hài h a thì không thể thiếu các u định phù hợp với thực tiễnViệt Nam, tương thích há luật các nước và quốc tế về chấm dứt HĐLĐ và đơn hươngchấm dứt HĐLĐ. Lịch sử pháp luật về đơn hương chấm dứt HĐLĐ trên thế giới đã có thàng trăm năm, c n ở nước ta là hơn nửa thế kỷ nhưng thực tế các u định nà cũng mớiphát huy hiệu quả trong thời gian gần đâ . Một thời gian dài đất nước trải qua nhiều cuộcchiến tranh, hoạt động lao động chủ yếu nhằm mục tiêu đảm bảo lương thực, xây dựng mộtsố cơ sở vật chất để phục vụ chiến đấu giành độc lập dân tộc nên QHLĐ chủ yếu theo chếđộ tuyển dụng công nhân viên chức trong xí nghiệp, hợp tác xã của nhà nước. Khi nước nhàthống nhất, nền kinh tế vượt qua thời kỳ uá độ và đổi mới toàn diện được thể hiện rõ thôngqua hình thức tuyển dụng th o HĐLĐ. BLLĐ đầu tiên của Việt Nam được ban hành năm1994 với định hướng phát triển nền kinh tế thị trường, mối QHLĐ ngà càng trở nên bìnhđẳng, hài hòa lợi ích các bên chủ thể và lợi ích cộng đồng. Đến na , BLLĐ 2012 đã có hiệulực, các u định về đơn hương chấm dứt HĐLĐ được sửa đổi, bổ sung để bảo vệ quyềnlợi hợp pháp của các chủ thể. Chính vì vậy, khá nhiều tài liệu, giáo trình, bài viết đăng trêncác tạp chí chuyên ngành của các tác giả, của nhiều nhà khoa học pháp lý bàn luận, đánh giánhững nội dung liên uan đến đề tài này. Bên cạnh đó, c n những vấn đề chưa được làm rõ,đó là: Khái niệm chấm dứt HĐLĐ và đơn hương chấm dứt HĐLĐ chưa được u địnhtrong văn bản pháp lý; Sự tác động đa chiều của đơn hương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ,NSDLĐ và ã hội; Tại sao phải điều chỉnh bằng pháp luật về đơn hương chấm dứt HĐLĐ;Các hành vi đơn hương chấm dứt HĐLĐ trái há luật của NSDLĐ và hậu quả pháp lý;Nội dung tương tự đối với NLĐ hoặc các đề tài nghiên cứu về đơn hương chấm dứt HĐLĐtrong một ngành nghề cụ thể, trên địa bàn cụ thể; Thực trạng về đơn hương chấm dứt
Xem thêm

28 Đọc thêm

Câu 35: So sánh quá trình phát triển của Cách mạng Đông Dương

CÂU 35: SO SÁNH QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁCH MẠNG ĐÔNG DƯƠNG

Soạn bài online – Ôn thi lịch sử thế giới  Câu 35. Lập bảng so sánh quá trình phát triển của cách mạng Đông Dương từ năm 1945 đến 1991.   Hướng dẫn làm bài.     Lào Campuchia Việt Nam Giai đoạn 1945 – 1954 – Ngày 12 – 10 – 1945 : Tuyên bố độc lập – Tháng 3 – 1946: Pháp quay trở lại xâm lược. – Tháng 10 – 1945: Pháp quay lại xâm lược. – Ngày 2 – 9 – 1945, Tuyên bố độc lập. – Ngày 19 – 12 – 1946: Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Giai đoạn 1954 – 1975 – Tháng 7 – 1954: Mỹ can thiệp. – Ngày 22 – 12 – 1975: Nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào ra đời – Từ năm 1954: Thi hành đường lối hòa bình trung lập. – Tháng 3 – 1970: Mĩ giật dây lật đổ Xihanúc. – Ngày 17 – 4 – 1975: Giải phóng Phnômpênh. – Ngày 20 – 7 – 1954: Hiệp định Giơnevơ được kí kết. – Ngày 30 – 4 – 1975: Giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước. Giai đoạn 1975 – 1991 Từ sau năm 1975: xây dựng đất nước – Ngày 7 – 1 – 1979: Chế độ Pôn Pốt bị lật đổ. – Ngày 23 – 10 – 1991: Kí kết Hiệp định hoà bình Campuchia. – Tháng 12 – 1986: Đại hội Đảng Cộng sản lần VI, mốc đánh dấu thời kì đổi mới đất nước.
Xem thêm

1 Đọc thêm

BÀI 14: MIỀN NAM CHỐNG CHIẾN TRANH ĐƠN PHƯƠNG CỦA MĨ DIỆM ( 1954 1960)

BÀI 14: MIỀN NAM CHỐNG CHIẾN TRANH ĐƠN PHƯƠNG CỦA MĨ DIỆM ( 1954 1960)

Soạn bài online – Ôn thi môn Lịch Sử Việt Nam BÀI 14: MIỀN NAM CHỐNG “CHIẾN TRANH ĐƠN PHƯƠNG” CỦA MĨ – DIỆM (1954 – 1960) 1. Âm mưu chiến lược của Mĩ – Diệm ở miền Nam sau Hiệp định Giơ – ne – vơ :  Sau khi thực dân Pháp thất bại, Mĩ trực tiếp can thiệp vào Việt Nam. Ngày 7/11/1954, Mĩ cử tướng Cô-lin sang làm đại sứ ở miền Nam Việt Nam với âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới để làm bàn đạp tiến công miền Bắc và ngăn chặn làn sóng cách mạng XHCN ở Đông Nam Á. Dựa vào Mĩ, Ngô Đình Diệm đã nhanh chóng dựng lên một chính quyền độc tài, gia đình trị ở miền Nam và ra sức chống phá cách mạng.  Giữa năm 1954, Diệm lập ra đảng Cần lao nhân vị làm đảng cầm quyền. Cuối năm 1954, chúng thành lập “phong trào cách mạng quốc gia” và đưa ra mục tiêu: “chống cộng, đả thực, bài phong”.  Tháng 10/1955, Diệm tổ chức trưng cầu dân ý, phế truất Bảo Đại. Tháng 3/1956, Diệm tổ chức bầu cử và thành lập Quốc hội lập hiến ở miền Nam, bất chấp hiệp định Giơ-ne-vơ; đến tháng 10/1956, Diệm cho ban hành Hiến pháp và lập ra cái gọi là “Nước Việt Nam Cộng Hòa”. Sau khi đứng vững ở miền Nam, Diệm bắt đầu đẩy mạnh chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”; vây bắt, tàn sát, tù đày những người kháng chiến cũ, những người đấu tranh đòi tuyển cử thống nhất đất nước và cả những người không phục tùng chúng với phương châm “tiêu diệt cộng sản không thương tiếc”, “thà giết lầm còn hơn bỏ sót”… nhằm làm nhụt ý chí đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam. Chính quyền Diệm còn thực hiện chương trình cải cách điền địa nhằm lấy lại ruộng đất mà cách mạng đã giao cho nhân dân, lập ra các khu dinh điền, khu trù mật để kìm kẹp nhân dân. Chính quyền Ngô Đình Diệm còn gây nhiều tội ác đối với nhân dân: Ngày 04/9/1954, chúng tàn sát nhân dân ở Chợ Được – Quảng Nam làm 39 người chết, 37 người bị thương. Ngày 21/01/1955, chúng trả thù những người kháng chiến cũ ở Vĩnh Trinh (Quảng Nam). Ngày 01/12/1958, chúng đầu độc 6000 người yêu nước ở nhà tù Phú Lợi, làm hơn 1000 người chết. Nghiêm trọng hơn, Diệm ra sắc lệnh “đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật” và tháng 5/1959, ra đạo luật 10/59, lê máy chém khắp miền Nam giết hại những người vô tội.   2. Nhân dân miền Nam đấu tranh chống chế độ Mĩ – Diệm, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng (1954 – 1959). Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ  mới cho cách mạng miền Nam là: chuyển từ cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp sang cuộc đấu tranh chính trị chống Mĩ – Diệm đòi chúng thi hành Hiệp định để củng cố hòa bình, giữ gìn và xây dựng lực lượng cách mạng. Dưới sự chỉ đạo đó, tháng 8 năm 1954, phong trào hòa bình của tri thức và các tầng lớp nhân dân ra đời ở Sài Gòn – Chợ Lớn đã tổ chức nhiều cuộc Mittinh đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, hiệp thương tổng tuyển cử…, nhưng đã bị chính quyền Diệm đàn áp và khủng bố. Tiếp sau đó, phong trào chống “trưng cầu dân ý”, chống bầu cử quốc hội, đòi hiệp thương tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước, chống khủng bố, đàn áp, chống chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, đòi quyền tự do dân chủ… lại tiếp tục dâng cao và lan rộng từ thành thị đến nông thôn.  Các cuộc đấu tranh chính trị hòa bình của ta đã bị chính sách khủng bố và tàn sát dã man của Diệm dìm trong bể máu, lực lượng cách mạng tổn thất nặng nề: nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt bớ, giam cầm và giết hại. Nhưng cũng chính sự tàn bạo đó của Diệm đã làm cho tinh thần cách mạng của quần chúng ngày càng dâng cao. 3. Phong trào Đồng Khởi 1959 – 1960 Những tổn thất to lớn của cách mạng miền Nam trong giai đoạn 1954 – 1959 cho thấy, chủ trương đấu tranh chính trị hòa bình đã không còn thích hợp, cách mạng miền Nam cần phải có một đường lối đấu tranh mới. Tháng 01/1959, Trung ương Đảng đã tiến hành hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 15; Hội nghị đã ra nghị quyết xác định: con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân bằng lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân. Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của nghị quyết 15 như một ngọn gió thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng; phong trào Đồng Khởi bùng lên khắp miền Nam. Mở đầu là cuộc khởi nghĩa ở Vĩnh Thạnh (Bình Định) và Bắc Ái (Ninh Thuận) vào 02/1959. Sau đó lan đến Trà Bồng (Quảng Ngãi) – 8/1959 và đặc biệt là cao trào Đồng Khởi ở Bến Tre: Ngày 17/01/1960, tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp và Bình Khánh (Mỏ Cày) với gậy, gộc, súng ống… đồng loạt nổi dậy đánh đồn bốt và giải tán chính quyền địch. Cuộc nổi dậy lan khắp huyện Mỏ Cày và tỉnh Bến Tre, phá tan từng mảng lớn bộ máy cai trị của địch, thành lập chính quyền cách mạng, chia ruộng đất cho dân cày nghèo. Từ Bến Tre, phong trào lan rộng khắp Nam Bộ, Tây Nguyên và một số nơi ở Trung Trung bộ. Đến cuối năm 1960, ta đã giải phóng được 600/1298 xã ở Nam bộ, 904/3829 thôn ở Trung bộ, 3200/5721 thôn ở Tây Nguyên. Trên đà thắng lợi, ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, trực tiếp lãnh đạo thống nhất phong trào cách mạng miền Nam.   * Ý nghĩa của phong trào Đồng Khởi Phong trào Đồng Khởi đã giáng một đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của Mĩ ở miền Nam; làm lung lay tận gốc chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Đánh dấu bước nhảy vọt của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công và làm thất bại chiến lược “chiến tranh đơn phương” của Mĩ – Diệm.   Câu hỏi và bài tập: Câu 1: Bối cảnh, diễn biến của phong trào Đồng Khởi ở miền Nam Việt Nam năm 1960. Tại sao nói phong trào Đồng khởi đã đánh dấu bước chuyển của cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công?
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM (TT)

ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM (TT)

tác giả Nguyễn Hữu Chí, năm 2001.-3-- Luận án tiến sỹ “Pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động –những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Hoa Tâm”, trường Đạihọc Luật TP.HCM năm 2013.Ngoài ra, trên các tạp chí khoa học luật còn có rất nhiều bài viết về vấn đề đơnphương chấm dứt hợp đồng lao động, có thể kể đến là bài viết: “Quyền đơn phương chấmdứt hợp đồng lao động” của tác giả Đào Thị Hằng, đăng ở Tạp chí Luật học, số 4, năm2001; bài “Một số kiến nghị sửa đổi những quy định về kỷ luật lao động” của tác giả ĐỗNgân Bình, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 10, năm 2001; bài “Đặc trưng của hợp đồnglao động” của tác giả Nguyễn Hữu Chí, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 10, năm 2002và bài “Chấm dứt hợp đồng lao động” đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 9, năm2002; bài “Một số vấn đề về chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật lao độngvà Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động” của tác giả Nguyễn Hữu Chí,Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4, năm 2003; bài “Hợp đồng lao động và các tranh chấpphát sinh từ hợp đồng lao động” của tác giả Nguyễn Việt Cường, Tạp chí Nhà nước vàPháp luật số 4, năm 2003; bài “Bàn về chế độ trợ cấp thôi việc” của tác giả Nguyễn ThịKim Phụng, Tạp chí Luật học năm 2003; bài báo “Hoàn thiện quy định về trách nhiệm củangười sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật” của tác giảTrần Hoàng Hải, Đỗ Hải Hà đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8, năm 2011.Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến HĐLĐ nóichung và chấm dứt HĐLĐ nói riêng nhưng chưa có một công trình khoa học nàochuyên sâu về vấn đề “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sửdụng lao động theo pháp luật Việt Nam”. Thêm vào đó,BLLĐ năm 2012 ra đời vàcó hiệu lực đã có những sửa đổi, bổ sung về vấn đề đơn phương chấm dứt HĐLĐ củaNSDLĐ nhưng đây vẫn là một nội dung có nhiều điểm bất cập trong quy định phápluật và gặp nhiều vướng mắc khi thực hiện.
Xem thêm

15 Đọc thêm

ĐẢNG BỘ NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở ĐỊA PHƯƠNG (1946 1954)

ĐẢNG BỘ NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở ĐỊA PHƯƠNG (1946 1954)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬHÀ NỘI – 2004LỜI CAM ĐOANLuận văn: "Đảng bộ Nam Định lãnh đạo chiến tranh du kích ở địaphương (1946 - 1954)" là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướngdẫn của Phó giáo sư, Tiến sỹ Triệu Quang Tiến.Các số liệu, tài liệu tôi sử dụng trong luận văn là trung thực và cóxuất xứ rõ ràng.Hà Nội, tháng 5 năm 2004Tác giả luận vănTrần Duy HưngTRANGMỞ ĐẦU1.2.3.4.5.6.Lý do chọn đề tài

12 Đọc thêm

Hướng dẫn ôn TNTHPT quốc gia môn sử

Hướng dẫn ôn TNTHPT quốc gia môn sử

Hướng dẫn ôn thi TNPT quốc gia môn Sử năm 2017 ÔN THI THPT QUỐC GIA LỚP 12 Buổi 7 NỘI DUNG I. I 1954 1960 1. Tình hình nước ta sau hiệp định Giơnevơ Ngày 16 – 5 – 1955, Pháp rút khỏi đảo Cát Bà, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Tháng 5 – 1956, Pháp rút quân khỏi miền Nam khi chưa thực hiện cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Ở miền Nam, Mĩ thay thế Pháp ở miền Nam, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, thực hiện âm mưu chia cắt Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ ở Đông Nam Á. 2. Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam Miền Bắc: Khôi phục kinh tế, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Miền Nam: Tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước. Mối quan hệ của cách mạng hai miền: Miền Bắc là hậu phương có vai trò quyết định nhất, còn miền Nam là tiền tuyến có vai trò quyết định trực tiếp trong việc thực hiện nhiệm vụ chung. 3. Miền Bắc Hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (1954 1957)Cải tạo quan hệ sản xuất, bước đầu phát triển kinh tế xã hội (1958 1960) a. Hoàn thành cải cách ruộng đất Từ 1954 1956 miền Bắc diễn ra đợt 6 giảm tô và 4 đợt cải cách ruộng đất. Kết quả: 81 vạn ha ruộng đất, 10 vạn trâu bò và 1,8 triệu nông cụ chia cho 2 triệu hộ nông dân.Khối liên minh công nông được củng cồ. b. Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (HS đọc thêm) 4. Miền Nam a. Đấu tranh chống chế độ Mĩ Diệm, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng (1954 1959) (HS đọc thêm)
Xem thêm

Đọc thêm

CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á VÀ ẤN ĐỘ

CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á VÀ ẤN ĐỘ

I. 1. Sự thành lập các quốc gia độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai a. Quá trình đấu tranh giành độc lập của các nước Đông Nam Á Trước Chiến tranh thế giới hai là thuộc địa của các nước đế quốc (trừ Thái Lan) Trong Chiến tranh thế giới hai, là thuộc địa của Nhật Sau khi Nhật đầu hàng, nhiều nước đã giành được độc lập (Inđônêxia, Việt Nam, Lào) Sau đó, thực dân Âu – Mĩ trở lại chiếm Đông Nam Á, nhân dân Đông Nam Á kháng chiến chống xâm lược và giành thắng lợi (Philippin, Miến Điện, Mã lai, Xingapo) Năm 1975, Việt Nam, Lào, Campuchia kháng chiến chống Mĩ thắng lợi Năm 1984, Brunây độc lập Năm 2002, Đông Timo độc lập b. Kháng chiến chống Pháp, Mĩ của nhân dân Lào (1945 – 1975) Kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) Sau khi Nhật đầu hàng, nhân dân Lào nổi dậy giành chính quyền. Ngày 12101945, Lào tuyên bố độc lập. Tháng 31946, Pháp trở lại xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và sự giúp đỡ của Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Pháp ở Lào phát triển. Năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ ở Việt Nam buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Lào. Kháng chiến chống Mĩ (1954 – 1975) Năm 1954, Mĩ xâm lược Lào. Đảng Nhân dân Lào lãnh đạo nhân dân chống Mĩ trên cả 3 mặt trận: quân sựchính trịngoại giao giành nhiều thắng lợi, đánh bại các kế hoạch chiến tranh của Mĩ. Đầu những năm 70, vùng giải phóng chiếm 45 lãnh thổ. Năm 1973, các phái ở Lào kí Hiệp định Viêng chăn lập lại hòa bình, hòa hợp dân tộc ở Lào. Năm 1975, nhân dân Lào nổi dậy giành chính quyền. Ngày 2121975, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thành lập. Lào bước sang thời kì xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội. c. Kháng chiến chống Pháp, Mĩ, Pôn Pốt của nhân dân Campuchia (1945 – 1993) Kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) Tháng 101945, Pháp trở lại xâm lược. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhân dân Campuchia kháng chiến chống Pháp. Ngày 9111953, do sự vận động ngoại giao của Xihanúc, Pháp trao trả độc lập cho Campuchia nhưng vẫn chiếm đóng. Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, Pháp kí Hiệp định Giơ ne vơ công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Campuchia. Kháng chiến chống Mĩ (1954 – 1975) 1954 – 1970, chính phủ Xihanúc thực hiện đường lối hòa bình, trung lập. Tháng 31970, tay sai Mĩ lật đổ Xihanúc. Được sự giúp đỡ của Việt Nam, nhân dân Campuchia kháng chiến chống Mĩ và giành thắng lợi. 1741975, Phnôm Pênh giải phóng. Chống Khơ me đỏ: Tập đoàn Khơ me đỏ thi hành chính sách diệt chủng. Được sự giúp đỡ của Việt Nam, nhân dân Campuchia lật đổ Khơ me đỏ. 711979, nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia thành lập. Từ 1979, Campuchia diễn ra cuộc nội chiến. Được sự giúp đỡ của quốc tế, 23101991, Hiệp định hòa bình về Campuchia được kí kết. 1993, Vương quốc Campuchia thành lập. Campuchia bước sang thời kì mới.
Xem thêm

2 Đọc thêm

HSG Môn Sử 12: Đề thi số 22

HSG MÔN SỬ 12: ĐỀ THI SỐ 22

Câu 1. Tại sao trong 3 năm liên tiếp 1939, 1940, 1941, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đều triệu tập hội nghị? Từ việc trình bày nội dung chính của các Hội nghị, hãy cho biết vấn đề quan trọng nhất được các hội nghị đề cập đến là gì ? a. Trong 3 năm liên tiếp 1939, 1940, 1941, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đều triệu tập hội nghị, vì: – Trước những chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước thời gian này đã đặt ra cho Đảng nhiệm phải nắm bắt và đánh giá chính xác, kịp thời tình hình đề ra đường lối đấu tranh phù hợp. Các hội nghị được BCH Trung ương Đảng triệu tập thời gian này là nhằm giải quyết nhiệm vụ đó. – Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi đó là do cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và Pháp là một trong những nước tham chiến. Chính quyền của thực dân Pháp ở Đông Dương phụ thuộc vào tình hình nước Pháp. Khi chiến tranh bùng nổ, chính quyền thực dân đã tăng cường đàn áp, khủng bố lực lượng cách mạng, vơ vét sức người sức của của Đông Dương để cung cấp cho chiến tranh. – Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương được triệu tập (11 – 1939), đã xác định mục tiêu chiến lược trước mắt là đánh đổ đế quốc và tay sai, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, Đảng quyết định rút vào hoạt động bí mật, quyết định dùng hình thức đấu tranh vũ trang để giành chính quyền. – Tháng 9 – 1940, quân đội Nhật Bản vào Đông Dương, Đảng đã họp Hội nghị BCH Trung ương Đảng (11 – 1940), khẳng định nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng (11 – 1939) vẫn đúng đắn. Xác định kẻ thù của cách mạng Việt Nam là Pháp – Nhật. – Năm 1941, tình hình thế giới và trong nước tiếp tục có sự biến chuyển, cho thấy thời cơ giành chính quyền đã đến gần. Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương Đảng (5 – 1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã hoàn chỉnh chủ trương được đề ra từ hội nghị Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương (11 – 1939) của Đảng. b. Vấn đề quan trọng nhất được các hội nghị đề cập đến là: Từ hội nghị Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương (11 – 1939) đến hội nghị tháng 5 – 1941 đã hoàn chỉnh về chủ trương chuyển hướng của Đảng ta. Nhằm giải quyết mục tiêu hàng đầu của cách mạng là độc lập dân tộc (giải phóng dân tộc) từ đó đề ra những chủ trương sáng tạo để thực hiện mục tiêu ấy. Câu 2. Nêu những thắng lợi chung của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia trên các mặt quân sự, chính trị và ngoại giao trong cuộc chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh” của đế quốc Mĩ (1969 – 1973). – Chiến đấu chống “Việt Nam hóa chiến tranh” là chống lại cuộc chiến tranh toàn diện được tăng cường và mở rộng ra toàn Đông Dương. Ta vừa chiến đấu trên chiến trường vừa đấu tranh trên bàn đàm phán với địch. Năm 1969, thực hiện Di chúc của Bác Hồ, cả nước đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. – Thắng lợi về chính trị, ngoại giao: + Ngày 6 – 6 – 1969, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập, được 23 nước công nhận, 21 nước đặt quan hệ ngoại giao. + Trong hai năm 1970 – 1971, nhân dân ta cùng với nhân dân hai nước Campuchia và Lào đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trên mặt trận quân sự và chính trị. + Ngày 24 đến 25 – 4 – 1970: Hội nghị cấp cao 3 nước Đông Dương họp nhằm  đối phó việc Mĩ chỉ đạo bị tay sai làm đảo chính lật đổ Chính phủ trung lập của Xihanúc (18 – 3 – 1970) để chuẩn bị cho bước phiêu lưu quân sự mới; biểu thị quyết tâm đoàn kết chống Mĩ. + Ở các nơi khác, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân và sinh viên, học sinh nổ ra liên tục. + Quần chúng nổi dậy phá “Ấp chiến lược”, chống “bình định”. Đầu năm 1971, cách mạng làm chủ thêm 3.600 ấp với 3 triệu dân. – Thắng lợi quân sự:          + Từ ngày 30 – 4 đến 30 – 6 – 1970, quân dân Việt – Campuchia đập tan cuộc hành quân xâm lược Campuchia của 10 vạn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến 17.000 địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn với 4,5 triệu dân.          + Từ 12 – 2 đến 23 – 3 – 1971, quân dân Việt – Lào đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của Mỹ và quân Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến 22.000 địch, giữ vững hành lang chiến lược của cách mạng Đông Dương. Câu 3. Nêu những điểm giống và khác nhau giữa Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương và Hiệp định Pari năm 1973 về Việt Nam: hoàn cảnh kí kết, nội dung cơ bản và tương quan lực lượng ở miền Nam Việt Nam sau khi Hiệp định có hiệu lực. Về hoàn cảnh: – Giống nhau: Đều có thắng lợi về chính trị và quân sự trên chiến trường,có trận thắng quyết định là Điện Biên Phủ năm 1954 và “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972. – Khác nhau: Hội nghị GiơneVơ là hội nghị quốc tế,có sự chi phối của các nước lớn.Hội nghị Pa ri là Hội nghị hai bên (VN Và Hoa Kì) được quyết định bởi hai bên.  –Nội dung: – Giống nhau: + Đều buộc các nước ĐQ công nhận các quyền dân tộc cơ bản của VN + Đều đưa đến chấm dứt chiến tranh,lập lại hòa bình ở VN + Đều đưa đến Việc ĐQ xâm lược phải rút quân về nước – Khác nhau: + Hiệp định Giơnevơ là hiệp định về ĐD; Hiệp định Pa ri là hiệp định về VN + Thời hạn rút quân của đế quốc: Hiệp định Giơnevơ Pháp rút quân từng bước sau 2 năm; Theo hiệp định Pari, Mĩ rút quân 1 lần sau 2 tháng + Vùng tập kết quân đội 2 bên : Hiệp định Giơnevơ, quân đội 2 bên tập kết ở 2 vùng hoàn chỉnh ở 2 miền; Hiệp định Pa ri quân đội 2 bên ở nguyên tại chỗ  Ý nghĩa: – Giống nhau: + Đều là sự phản ánh,sự ghi nhận thắng lợi giành được trên chiến trường + Đều là hiệp định hòa hoãn đưa đến chấm dứt chiến tranh,lập lại hòa bình; là cơ sở pháp lý để ta tiếp tục đấu tranh. – Khác nhau: + Hiệp định Giơnevơ phản ánh không đầy đủ thắng lợi của ta trên chiến trường; Hiệp định Pa ri phản ánh đúng thắng lợi của ta trên chiến trường + So sánh lực lượng giữa ta và địch sau 2 hiệp định khác nhau: sau Hiệp định Giơnevơ, so sánh lực lượng không có lợi cho ta; sau Hiệp định Pa ri, so sánh lực lượng có lợi cho ta.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Câu 69 : Vì sao Liên Xô và Mĩ chấm dứt “Chiến tranh lạnh”

CÂU 69 : VÌ SAO LIÊN XÔ VÀ MĨ CHẤM DỨT “CHIẾN TRANH LẠNH”

Câu 69. Trình bày và phân tích những sự kiện chứng tỏ xu thế hòa hoãn giữa hai siêu cường Liên Xô và Mĩ; giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong những thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX. Vì sao Liên Xô và Mĩ lại quyết định chấm dứt “Chiến tranh lạnh” ? Hướng dẫn làm bài. 1) Những sự kiện chứng tỏ xu thế hòa hoãn giữa hai siêu cường Liên Xô và Mĩ; giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa : – Từ đầu những năm 70 của thế kỉ XX, hai siêu cường Xô – Mĩ đã xuất hiện những cuộc gặp gỡ thương lượng … Xu hướng hòa hoãn Đông – Tây đã xuất hiện. – Năm 1972, hai siêu cường đã thỏa thuận về việc hạn chế vũ khí chiến lược. Ngày 26 – 5 – 1972, Liên Xô và Mĩ đã kí Hiệp ước về việc hạn chế hệ thống phòng chống tên lửa (ABM) và Hiệp định hạn chế vũ khí tiến công chiến lược… – Ngày 9 – 11 – 1972, Cộng hòa Dân chủ Đức và Cộng hòa Liên bang Đức đã kí Hiệp định về những cơ sở của quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức. – Tháng 8 – 1975, Mĩ và Canađa cùng với 33 nước châu Âu kí Định ước Henxinki, nhằm đảm bảo an ninh châu Âu và sự hợp tác giữa các nước. Định ước đánh dấu sự chấm dứt tình trạng đối đầu giữa hai khối nước tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa ở châu Âu, tạo nên cơ chế giải quyết các vấn đề liên quan đến hòa bình, an ninh châu lục… – Từ năm 1985, các cuộc gặp gỡ cấp cao giữa nguyên thủ hai nước Xô – Mĩ diễn ra hàng năm với các văn kiện hợp tác mà trọng tâm là thỏa thuận về thủ tiêu tên lửa tầm trung ở châu Âu và cắt giảm vũ khí chiến lược. – Tháng 12 – 1989, M.Goócbachốp và G.Busơ (cha) đã chính thức cùng tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh – Chiến tranh lạnh chấm dứt đã mở ra khả năng giải quyết các tranh chấp, xung đột… trên thế giới theo những chiều hướng mới : Vấn đề Ápganixtan, Campuchia, Namibia… – Sự kiện Liên bang Xô viết tan rã 25 – 12 – 1991, đánh dấu sự tan vỡ của một cực, một cường quốc thì Chiến tranh lạnh mới thực sự kết thúc, trật tự hai cực không còn nữa. 2. Sở dĩ hai siêu cường Xô – Mĩ lại chấm dứt “Chiến tranh lạnh” là vì : – Cuộc “Chiến tranh lạnh” kéo dài hơn bốn thập kỉ đã làm cho hai nước tốn kém và bị suy giảm thế mạnh trên nhiều mặt so với các cường quốc khác, đang đứng trước thách thức của sự phát triển thế giới. – Sự vươn lên mạnh mẽ của Nhật Bản và Tây Âu… Các nước nước này đã trở thành những đối thủ đáng gờm đối với Mĩ. Còn Liên Xô lúc này nền kinh tế ngày càng lâm vào tình trạng trì tệ, khủng hoảng. – Cuộc khoa học – kĩ thuật và sự giao lưu quốc tế về kinh tế, thương mại, văn hoá ngày càng phát triển rộng rãi. Cuộc “chiến tranh kinh tế” mang tính toàn cầu đòi hỏi phải có cục diện ổn định, đối thoại, hợp tác cùng phát triển. -> Do vậy, hai siêu cường Liên Xô và Mĩ đều cần phải thoát khỏi thế đối đầu để ổn định và củng cố vị thế của mình.
Xem thêm

1 Đọc thêm

CÂU 32: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁCH MẠNH LÀO

CÂU 32: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁCH MẠNH LÀO

Soạn bài online – Ôn thi lịch sử thế giới  Câu 32. Trình bày quá trình phát triển của cách mạng giải phóng dân tộc ở Lào từ năm 1945 đến năm 1975 . Phân tích điểm giống nhau giữa cách mạng Lào với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn đó. Tại sao có sự giống nhau như vậy ?  Hướng dẫn làm bài    1. Các giai đoạn phát triển của cách mạng giải phóng dân tộc ở Lào từ năm 1945 đến năm 1975 :    a. Giai đoạn 1945 – 1946 : Thời kì kháng chiến chống phát xít Nhật:   Tháng 8 – 1945, thừa cơ Nhật đầu hàng Đồng minh, nhân dân LàO nổi dậy và thành lập chính quyền cách mạng. Ngày 12 – 10 – 1945, chính phủ LàO ra mắt quốc dân và tuyên bố độc lập.    b. Giai đoạn 1946 – 1954: Kháng chiến chống Pháp:    – Tháng 3 – 1946 Pháp trở lại xâm lược, nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Pháp ở Lào ngày càng phát triển, lực lượng cách mạng trưởng thành.    – Từ 1953 – 1954, liên quân Lào – Việt phối hợp mở các chiến dịch Trung, Thượng và Hạ Lào…, giành các thắng lợi lớn, góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ (Việt Nam), buộc Pháp ký Hiệp định Giơnevơ (20 – 7 – 1954) thừa nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Lào, công nhận địa vị hợp pháp của các lực lượng kháng chiến Lào.    c. Giai đoạn 1954 – 1975: Kháng chiến chống Mĩ:   – Năm 1954, Mĩ xâm lược Lào. Đảng Nhân dân cách mạng Lào (thành lập ngày 22 – 3 – 1955) lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mĩ trên cả ba mặt trận: quân sự – chính trị – ngoại giao, giành nhiều thắng lợi. Đến đầu những năm 1960 đã giải phóng 2 – 3 lãnh thổ và 1 – 3 dân số cả nước. Từ 1964 1973, nhân dân Lào đánh bại các chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và “chiến tranh đặc biệt tăng cường” của Mĩ .   – Tháng 2 – 1973, các bên ở Lào ký Hiệp định Viên Chăng lập lại hòa bình, thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào.    – Thắng lợi của cách mạng Việt Nam 1975 tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân Lào nổi dậy giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2- 12 – 1975 nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào chính thức thành lập.   2. Hãy phân tích sự giống nhau giữa cách mạng Lào với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn đó. Tại sao có sự giống nhau như vậy ?    + Những điểm giống nhau giữa cách mạng Lào và Cách mạng Việt Nam.   – Hai nước cùng làm cách mạng tháng Tám 1945 và thành lập chính quyền Cách mạng.    – Từ 1946 – 1954 cả hai nước cùng kháng chiến chống Pháp xâm lược lần 2, đến    tháng 7 – 1954 buộc Pháp phải kí hiệp định Giơnevơ công nhận độc lập của hai nước.    – Từ 1954 – 1975 cùng kháng chiến chống Mĩ thành công.   -> Có sự giống nhau đó là vì: Hai nước cùng nằm trên bán đảo Đông Dương rất gần gũi nhau về mặt địa lí. Cả hai nước đều có chung kẻ thù dân tộc: Pháp, Nhật, Mĩ nên phải đoàn kết, gắn bó để chiến thắng. Giai đoạn đầu 1945 – 1954 cách mạng 2 nước đều diễn ra dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Đông Dương.    Dạng câu hỏi tương tự : Hãy phân chia các giai đoạn phát triển của cách mạng Lào từ năm 1946 đến năm 1975 và tóm tắt diễn biến của từng giai đoạn. (Đề thi Tuyển sinh Đại học năm 2008)
Xem thêm

1 Đọc thêm

Câu 33: Tính đoàn kết chiến đấu giữa Việt Nam và Lào

CÂU 33: TÍNH ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU GIỮA VIỆT NAM VÀ LÀO

Soạn bài online – Ôn thi lịch sử thế giới  Câu 33. Những sự kiện lịch sử tiêu biểu nào thể hiện tính đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào trong thời kì chống Pháp và chống Mĩ (1945 – 1975).   (Đề thi Tuyển sinh Đại học, Cao đẳng năm 2004)     Hướng dẫn làm bài   – Tháng 3 – 1946, thực dân Pháp quay lại xâm lược Lào. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhân dân Lào đã kiên cường đứng dậy kháng chiến để bảo vệ nền độc lập… Dưới sự lãnh đạo của những người Cộng sản, với sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, phong trào kháng chiến ngày càng mở rộng và từ năm 1947, các chiến khu dần dần được thành lập ở Tây Lào, Thượng Lào, Đông Bắc Lào,…   – Bước sang những năm 1953 – 1954, quân giải phóng nhân dân Lào đã kề vai sát cánh cùng các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam mở nhiều chiến dịch lớn (Chiến Trung Lào, Hạ Lào năm 1953, chiến dịch Thượng Lào năm 1954…) nhằm phối hợp chặt chẽ với chiến trường Việt Nam trong thời gian này, đặc biệt quan trọng là chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Các chiến dịch đều đã thu được những thắng lợi to lớn góp phần quan trọng vào việc đánh bại thực dân Pháp, buộc chúng phải kí kết hiệp định Giơnevơ. Tháng 7 – 1954, công nhận độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, Lào, Campuchia.   – Trong những năm chống “Việt Nam hoá chiến tranh”, đặc biệt là thời gian năm 1970, quân tình nguyện của ta ở Lào đã cùng nhân dân bạn lập chiến công, đập tan cuộc hành quân lấn chiếm Cánh đồng Chum, Xiêng KhOảng, giải phóng thị xã Atôpơ, Sanavan, giải phóng vùng rộng lớn của Nam Lào. Từ 12 – 2 đến 21 – 3 – 1971, quân dân ta đã có sự hỗ trợ và phối hợp chiến đấu của quân Lào đã đạp tan cuộc hành quân chiếm giữ đường 9 Nam Lào của 4,5 vạn Mĩ – Nguỵ Sài Gòn mang tên “Lam Sơn 719”. Ta loại khỏi vòng chiến đấu 22.000 Mĩ – Nguỵ, quét hết quân địch khỏi đường 9 Nam Lào, giữ vững hành lang chiến lược của Cách mạng Đông Dương.   – Thắng lợi to lớn của Cách mạng Việt Nam ngày 30 – 4 – 1975 đã cổ vũ và tạo điều kiện thuận lợi cho Cách mạng Lào tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Xem thêm

1 Đọc thêm

HSG MÔN SỬ 12: ĐỀ THI SỐ 20

HSG MÔN SỬ 12: ĐỀ THI SỐ 20

Câu 12. Bốn thắng lợi quân sự nào của quân và dân miền Nam có ý nghĩa đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mĩ ở miền Nam Việt Nam? Hãy giải thích vì sao? a. Thắng lợi cơ bản phá sản hoàn toàn chiến lược chiến tranh đơn phương là phong trào Đồng Khởi (1959 – 1960). – Đối với Mĩ – Diệm: giáng đòn nặng nề về chính sách thực dân mới của Mĩ, làm lung lay tận gốc chế độ tay sai Ngô Đình Diệm. Buộc Mĩ phải chuyển sang hình thức chiến lược Chiến tranh Đặc biệt ngay sau đó 1961. – Về phía ta: đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiên công. Từ khí thế đó, ngày 20/12/1960, Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, đoàn kết toàn dân đấu tranh chống Mĩ – Diệm, lập chính quyền cách mạng dưới hình thức Ủy ban nhân dân tự quản… b. Các trận làm phá sản chiến lược Chiến tranh đặc biệt là: chiến dịch Đông – Xuân 1964 – 1965, tiêu biểu là trận Bình Giã (2/12/1964). – Sau Ấp Bắc đã chứng tỏ quân và dân miền Nam hoàn toàn có khả năng đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ – ngụy; và giấy lên phong trào thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công trên toàn miền Nam. Quân giải phóng nhanh chóng trưởng thành và tiến lên ngày càng đánh lớn nhất là từ cuối năm 1964. – Chiến thắng Bình Giã (12/1964), đã loại khỏi vòng chiến đấu 1700 tên địch (có 60 cố vấn Mĩ), phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, tạo đà cho quân và dân miền Nam liên tiếp phản công và giành thắng lợi. – Năm 1965, Mĩ buộc phải chấm dứt Chiến tranh đặc biệt và chấp nhận thất bại hoàn toàn. Chứng tỏ đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta và sự trưởng thành của quân và dân miền Nam. c. Chiến tranh cục bộ: Thắng lợi quyết định: Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968. Làm lung lay ý chí xâm lược của Mĩ; buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa chiến tranh” (tức thừa nhận thất bại trong chiến tranh cục bộ) và chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đến bàn Hội nghị Pari đàm phán về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. d. Việt Nam hóa chiến tranh: Thắng lợi quyết định: cuộc tiến công chiến lược năm 1972, mở ra bước ngoặc của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, giáng một đòn mạnh mẽ vào quân ngụy và chính sách chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Buộc Mĩ phải tuyên bố “Mĩ hóa lại chiến tranh”, tức là thừa nhận sự thất bại của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.  Câu 13. Trình bày mối quan hệ giữa chiến thắng Điện Biên Phủ với việc kí kết Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương năm 1954. Ý nghĩa quốc tế của chiến thắng Điện Biên Phủ? a) Mối quan hệ giữa chiến thắng Điện Biên Phủ với việc kí kết Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương năm 1954: – Thực tế lịch sử nước ta đã chứng minh rằng: chỉ có đánh tan ý chí xâm lược  của  kẻ địch thì chúng mới chịu thương lượng thực sự để chấm dứt chiến tranh,  lập lại hòa bình. Thắng lợi ở bàn hội nghị, chỉ có thể đạt được khi chúng ta có thực lực, ta đã mạnh, đã thắng, đã đè bẹp được ý chí xâm lược của kẻ thù. – Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đang đi đến hồi kết thúc, ta và Pháp tiến hành đàm phán ở Giơnevơ. Tuy nhiên do thái độ của Pháp vẫn chưa từ bỏ ý chí xâm lược, nên chúng không thành thật đàm phán… Chỉ đến khi thất bại ở Điện Biên Phủ, ý chí xâm lược bị đánh tan, Pháp mới chịu kí kết với ta Hiệp định Giơnevơ. – Do vậy, thắng lợi ở trận Điện Biên Phủ có tác dụng quyết định đối đối với thắng lợi của nhân dân ta trong Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương 1954. – Chiến thắng Điện Biên Phủ và thắng lợi trong Hội nghị Giơnevơ đã kết thúc cuộc kháng chiến trường kì của nhân dân ta chống đế quốc Pháp và sự can thiệp của Mĩ, mở ra một giai đoạn mới cho lịch sử dân tộc. b) Ý nghĩa quốc tế của chiến thắng Điện Biên Phủ 1954: – Giáng một đòn mạnh mẽ vào hệ thống thực dân, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ. – Cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới trước hết là ở châu Á, châu Phi, góp phần thu hẹp trận địa của chủ nghĩa đế quốc. – Nêu tấm gương về chống chủ nghĩa thực dân, một dân tộc đất không rộng  người không đông nếu quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do, có đường lối  quân sự chính trị đúng đắn, được sự ủng hộ quốc tế thì hoàn toàn có khả năng đánh bại một đế quốc hùng mạnh. – Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954.
Xem thêm

2 Đọc thêm

Bí quyết ôn thi đại học môn Lịch Sử nhanh thuộc, nhớ lâu

BÍ QUYẾT ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN LỊCH SỬ NHANH THUỘC, NHỚ LÂU

Trong 3 môn thi đại học, cao đẳng khối C hàng năm, Lịch Sử là môn thi mà số đông thí sinh “ngại” nhất vì khó thuộc, nhanh quên và điểm thi môn này nhiều năm qua thường không cao. Để giúp các em học sinh thi khối C giải đáp những băn khoăn, lo lắng xoay quanh về kiến thức và kỹ năng như thế nào, học và làm bài thi tốt ra sao, chúng tôi xin được cùng chia sẻ đôi điều sau.   Các thí sinh chăm chú ôn luyện chuẩn bị cho kỳ thi ĐH sắp tới. Trong cấu trúc ra đề thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng liên tục nhiều năm nay chủ yếu đều nằm trương chương trình và sách giáo khoa Lịch Sử lớp 12 gồm 2 phần: Lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam. Phần kiến thức lịch sử thế thường chiếm 1/3 kiến thức của chương trình học và thi, phần lịch sử Việt Nam thường chiếm 2/3 lưu lượng kiến thức và số lượng câu hỏi trong đề thi. Vì vậy, tài liệu cơ bản nhất để học sinh có thể ôn và thi là tài liệu sách giáo khoa hiện hành của nhà xuất bản giáo dục.  Phần lịch sử Việt Nam Đây là phần kiến thức chiếm khá nhiều về lưu lượng kiến thức và thời gian học trong cuốn sách giáo khoa hiện hành. Đây cũng là phần kiến thức thi bắt buộc với số lượng nhiều câu hỏi nhất (thông thường khoảng 3 câu hỏi trong đề thi hàng năm). Chương trình thi tuyển sinh lâu nay của phần này là những kiến thức trong khoảng thời kỳ từ 1919 đến năm 2000. Để dễ học, dễ nhớ và có hiệu quả, khi ôn tập, học sinh cần nắm vững kiến thức theo từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử . Mỗi giai đoạn lịch sử giải quyết những nội dung cơ bản gì, những nhiệm vụ cốt lõi gì? Gắn liền mỗi giai đoạn đó có những sự kiện tiêu biểu nào, sự kiện nào là tiêu biểu nhất? Từ đó khái quát được kết quả, ý nghĩa lịch sử và giúp học sinh rèn luyện kỹ năng thông hiểu, vận dụng, xâu chuỗi các sự kiện tiêu biểu lại với nhau trong mối quan hệ tương tác, nhân quả của sự kiện đó. Ở giai đoạn từ 1919-1930: Khi ôn tập giai đoạn này, học sinh phải xác định nội dung chính, nhiệm vụ chính của cách mạng Việt Nam cần phải giải quyết là quá trình đấu tranh để xác lập khuynh hướng cứu nước mới khi ngọn cờ phong kiến đã thất bại và khuynh hướng dân chủ tư sản đã lỗi thời. Kiến thức khởi đầu làm tiền đề cho nhiều vấn đề khác của giai đoạn này là chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân Pháp liên quan đến: sự chuyển biến về kinh tế và sự phân hoá xã hội, phong trào yêu nước, phong trào công nhân, hoạt động cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Sự kiện kết thúc cho giai đoạn này chính là sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930) đánh dấu sự thắng thế hoàn toàn của khuynh hướng cứu nước vô sản và sự xác lập quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản, là bước ngoặt lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Tóm lại, vấn đề cốt lõi nhất của cách mạng Việt Nam giai đoạn này là quá trình chuẩn bị thành lập Đảng về tư tưởng chính trị và tổ chức. Trong quá trình chuẩn bị (hay có lúc gọi đó là quá trình vận động) để thành lập ở Việt Nam một chính đảng vô sản vào năm 1930 không tách rời quá trình hoạt động cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Giai đoạn 1930-1945: Đây là giai đoạn mà lịch sử Việt Nam diễn ra nhiều sự kiện cùng với sự tác động của tình hình thế giới. Nhiệm vụ chính của cách mạng Việt Nam giai đoạn này là quá trình đấu tranh giành chính quyền trong 15 năm với nhiều giai đoạn 1930-1931, 1932-1935, 1936-1939, 1939-1945. Từ bối cảnh, diễn biến của từng giai đoạn đã chuẩn bị (tập dượt) những gì, để lại những bài học kinh nghiệm gì cho giai đoạn kế tiếp, cho sự bùng nổ và thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.    Từ sự thay đổi của tình hình thế giới có ảnh hưởng, tác động đến trong nước như cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 và sự xuất hiện chủ nghĩa phát xít; chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, đặc biệt là những diễn biến quan trọng trên chiến trường châu Á-Thái Bình Dương như Nhật nhảy vào Đông Dương (9/1940), Nhật đảo chính Pháp (3/1945), Nhật đầu hàng quân Đồng Minh (8/1945… để học sinh thấy được hoàn cảnh thay đổi thì chủ trương thay đổi và Đảng ta đã có những đối sách gì trước sự chuyển biến mau lẹ đó thông qua các Hội nghị TW VI (11/1939), Hội nghị TW VII (11/1940), Hội nghị TW VIII (5/1941), Hội nghị Ban Thường vụ TW (3/1945), Hội nghị toàn quốc của Đảng (8/1945)…   Kết thúc giai đoạn này chính là sự thắng lợi của Tổng khởi nghĩa Tháng 8/1945 với sự ra đời của nước VNDCCH kết thúc cho 15 năm đấu tranh của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tóm lại, vấn đề cốt yếu nhất của lịch sử dân tộc giai đoạn này thực chất là quá trình chuẩn bị toàn diện cho Cách mạng tháng Tám thắng lợi, trong đó sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên đảm bảo cho sự thắng lợi là đường lối cách mạng giải phóng dân tộc được vạch ra ngay từ khi Đảng ra đời.   Giai đoạn 1945-1946: Học sinh cần phải khái quát được vấn đề cơ bản nhất của cách mạng nước ta giai đoạn này chính là cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền mới ra đời (nói gắn gọn là giai đoạn giữ chính quyền) - thành quả cơ bản nhất của Cách mạng tháng Tám. Thực trạng “ngàn cân treo sợi tóc” với nhiều khó khăn thử thách đe dọa vận mệnh dân tộc buộc Đảng, Chính phủ đứng đầu là Hồ Chủ tịch phải xác định những khó khăn nào mang tính trước mắt, những khó khăn nào mang tính lâu dài để hoạch định và thực hiện nhiều quốc sách và giải pháp vừa cứng rắn, vừa mềm dẻo để phân hoá kẻ thù và tránh đụng độ cùng một lúc với nhiều kẻ thù, từng bước giữ vững thành quả của cách mạng, giữ vững được chính quyền, bảo vệ được độc lập dân tộc. Giai đoạn 1946-1954: Vấn đề quan trọng đầu tiên trong giai đoạn này mà học sinh phải hiểu là đây là giai đoạn nhân dân ta phải tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhằm bảo vệ và phát triển những thành quả cơ bản của Cách mạng tháng Tám là chính quyền quốc gia và nền độc lập của dân tộc, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Vấn đề mà học sinh cần phải nêu lên và giải quyết là: Vì sao toàn quốc kháng chiến bùng nổ? Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến? Cuộc kháng chiến được mở đầu và kết thúc như thế nào? Từ đó học sinh mới rút ra được nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến. Cuộc kháng chiến được diễn ra trên nhiều mặt: kinh tế, chính trị, quân sự ,văn hoá, ngoại giao nhưng thắng lợi trên mặt trận quân sự mang tính chất quyết định.  Có 4 thắng lợi quân sự mang tính chiến lược là: Mùa đông 1946 ở các đô thị từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc; Việt Bắc Thu - Đông 1947; Biên giới Thu - Đông 1950; Đông - Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên phủ 1954. Cuộc kháng chiến được kết thúc bằng chiến thắng quân sự là Điện Biên Phủ (7/5/1954) và thắng lợi ngoại giao là Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954). Khi học những kiến thức lịch sử giai đoạn này, học sinh cần lưu ý là tránh sự nhầm lẫn về ý nghĩa lịch sử quan trọng nhất của các thắng lợi chiến lược trên đối với tiến trình của cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã đưa cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn mới; còn thắng lợi của chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950 đã mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến. Thắng lợi của cuộc tiến công chiên lược Đông - Xuân 1953-1954 đã làm phá sản về cơ bản Kế hoạch Nava thì thắng lợi chiến dịch Điện Biên phủ 1954 đã làm phá sản hoàn toàn Kế hoạch Nava, làm xoay chuyển chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương. Từ đó, học sinh sẽ xâu chuỗi được mối quan hệ biện chứng, nhân quả giữa 2 mặt trận trong kháng chiến: quân sự và ngoại giao. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta giành thắng lợi trong Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954). Kiến thức lịch sử quan trọng cuối cùng trong giai đoạn này là các em phải phân biệt sự khác nhau giữa 2 khái niệm để tránh sự nhầm lẫn khi ôn tập và làm bài: Hội nghị Giơnevơ và Hiệp định Giơnevơ. Có thể có hội nghị nhưng chưa chắc đã có hiệp định, nhưng một hiệp định chỉ được ký kết và có hiệu lực phải từ một hội nghị. Hội nghị Giơnevơ là một hội nghị quốc tế diễn ra 75 ngày (26/4 đến 21/7/1954) bàn về vấn đề kết thúc chiến tranh ở Triều Tiên và Đông Dương. Hiệp định Giơnevơ được ký kết và có hiệu lực thi hành từ ngày 21/7/1954 là một văn kiện ngoại giao quốc tế giải quyết vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Giai đoạn 1954-1975: Học sinh muốn hiểu được những kiến thức với rất nhiều sự kiện, số liệu, ngày tháng trong giai đoạn này, điều trước tiên phải nắm được đặc điểm nổi bật của nước ta sau Hiệp định Giơnevơ có gì mới, tại sao đất nước lại chia làm 2 miền với 2 hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Từ đó mới xác định đúng nhiệm vụ chiến lược, ví trí, vai trò của cách mạng 2 miền Nam - Bắc có gì khác nhau, giống nhau. Ở phần cách mạng miền Bắc, học sinh phải khái quát được vai trò của hậu phương lớn với tiền tuyến lớn được thể hiện như thế nào? Thắng lợi của công cuộc xây dựng CNXH và đánh bại 2 cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ có tác dụng và ý nghĩa như thế nào đối với cách mạng miền Nam? Vì sao “Điện Biên phủ trên không” (12/1972) là thắng lợi quân sự quyết định buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari (27/1/1973). Ở phần kiến thức cách mạng miền Nam, học sinh phải xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là từng bước đánh bại và đánh bại hoàn toàn các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, đánh cho “Mỹ cút” (1973), “Nguỵ nhào” (1975) nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mỗi chiến lược chiến tranh đều ra đời trong những bối cảnh lịch sử cụ thể khác nhau, âm mưu và thủ đoạn cũng không giống nhau nhưng đều là những hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ ở miền Nam nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta và đều lần lượt bị phá sản. Những thắng lợi quân sự mang tính chiến lược của cách mạng trong giai đoạn 1954-1975 đều là những thắng lợi đánh dấu bước phát triển của cách mạng miền Nam từ phong trào “Đồng khởi” (1959-1960 ) đến Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, từ cuộc tiến công chiến lược Xuân-Hè 1972 đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975.  Khi nắm vững kiến thức cơ bản về bối cảnh lịch sử, nét chính về diễn biến, học sinh sẽ rút ra được sự tác động của các thắng lợi quân sự đối với cục diện của cuộc kháng chiến,mối quan hệ giữa thắng lợi trên mặt trận quân sự với thắng lợi trên mặt trận ngoại giao, giữa cách mạng XHCN ở miền Bắc với cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.  Mỗi thắng lợi lớn của cách mạng 2 miền đều làm phá sản các chiến lược chiến tranh, buộc đế quốc Mỹ từ chỗ “leo thang” chiến tranh phải “xuống thang” chiến tranh. Đó cũng là sự thể hiện nghệ thuật quan sự quan trọng trong chiến tranh cách mạng Việt Nam là nghệ thuật chiến thắng từng bước, từ khởi nghĩa đến chiến tranh, từ tiến công sang tổng tiến công, từ đánh bại từng bước đến đánh đổ hoàn toàn các âm mưu và hành động của địch. Giai đoạn 1975-2000: Học sinh nên nắm được 2 vấn đề cơ bản là quá trình thống nhất đất nước về mặt nhà nước và Đại hội VI của Đảng và công cuộc đổi mới.  Ở phần kiến thức kiến thức thống nhất đất nước về mặt nhà nước, học sinh cần phải phân biệt giữa khái niệm thống nhất đất nước thể hiện trên 2 lĩnh vực gắn liền với 2 giai đoạn của lịch sử Việt Nam: Thống nhất đất nước về mặt lãnh thổ về cơ bản được giải quyết bằng sự thắng lợi của Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 vào ngày 30/4, giải phóng hoàn toàn miền Nam, chấm dứt sự chia cắt đất nước. Thống nhất đất nước về mặt nhà nước được thực hiện trong giai đoạn 1975-1976, kết thúc thắng lợi với thành công của Quốc hội khoá IV, nước CH XHCN Việt Nam ra đời. Thống nhất đất nước về mặt lãnh thổ là cơ sở, điều kiện tiên quyết để dẫn đến quá trình thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Trong quá trình đánh đấu sự trưởng thành của Đảng, sự kiện Đại hội VI (12/1986) là kiến thức cơ bản, đáng lưu ý nhất trong giai đoạn này bởi tầm quan trọng của Đại hội này gắn liền với công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước sau năm 1975 đến nay. Tìm hiểu Đại hội VI của Đảng, học sinh hiểu sâu sắc được đặt lịch sử Việt Nam trong bối cảnh chung của xu thế toàn cầu hoá, vì sao đổi mới là một xu thế tất yếu, cần đổi mới toàn diện và đồng bộ, trong đó xem đổi mới về kinh tế là trọng tâm. Thành tựu cơ bản sau hơn 20 năm đổi mới đã đưa nước ta thoát khỏi thế bao vây, cấm vận, từng bước hội nhập với khu vực và thế giới. Phần lịch sử thế giới Học sinh khi ôn tập, cách học dễ nhớ nhất là ôn tập theo từng vấn đề trên cơ sở bài Tổng kết lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 đến 2000. Để tránh sự nhầm lẫn về kiến thức và sự kiện, học sinh nên lập biểu những sự kiện chính theo từng vấn đề và sơ đồ hoá kiến thức theo từng nội dung chủ yếu theo 6 vấn đề (chủ đề) sau: Thứ nhất: Sự hình thành Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945-1949). Ở phần kiến thức này, học sinh nên nắm được bối cảnh chính của thế giới vào giai đoạn cuối của chiến tranh thế giới thứ 2 cùng với thay đổi tương quan lực lượng và bất đồng, mâu thuẫn của các cường quốc trong phe Đồng minh dẫn đến sự thoả thuận với nhau về mặt quyền lợi để hình thành nên một Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ 2. Gắn liền với trật tự đó là sự ra đời và hoạt động của tổ chức Liên Hợp quốc. Thứ hai: Liên Xô và các nước Đông Âu (1945-1991), Liên bang Nga (1991-2000). Đây là vấn đề mà nhiều học sinh cho rằng rất khó học, khó nhớ bởi nhiều biến động, biến đổi khó lường của nó sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến năm 2000. Các em nên nắm cơ bản 2 vấn đề chính: Những thành tự cơ bản về kinh tế, khoa học-kỹ thuật của các nước (từ 1945 đến nửa đầu thập kỷ 70); sự khủng hoảng và sụp đổ của CNXH ở các nước này. Thứ ba: Các nước Á, Phi, Mỹ latinh (1945-2000). Có 2 kiến thức cơ bản Khái quát những nét chính về vị trí địa lý, diện tích, tài nguyên, dân cư… của các châu lục, khu vực này. Từ đó, nêu những biến đổi lớn của các nước này trong quá trình đấu tranh giành độc lập cũng như sau khi giành độc lập và những khó khăn, thách thức trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay. Thứ tư: Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản (1945-2000). Học sinh nên nắm vững 2 vấn đề cơ bản: sự phát triển vượt trội về kinh tế , khoa học-kỹ thuật sau chiến tranh thế giới thứ 2 đã giúp các nước này trở thành 3 trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học-kỹ thuật phát triển nhất thế giới; nét cơ bản về chính sách đối ngoại của các quốc gia này đã tác động sâu sắc đến Trật tự thế giới và quan hệ quốc tế sau chiến tranh. Thứ năm: Quan hệ quốc tế (1945-2000). Học sinh chỉ cần nắm vững 2 kiến thức cơ bản: đối đầu Đông - Tây, hoà hoãn Đông - Tây và tác đông của xu thế đó đối với cục diện chính trị thế giới sau chiến tranh thế giới thứ 2; Chiến tranh lạnh kết thúc và sự xuất hiện xu thế mới của thế giới sau Chiến tranh lạnh. Thứ sáu: Cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hoá. Học sinh cần xác định có 2 kiến thức cần ôn tập: Những thành tựu cơ bản của cách mạng khoa học-công nghệ và tác động của nó; Xu thế toàn cầu hoá và tác động của nó đối với các nước đang phát triển. Theo chúng tôi, trong cơ cấu điểm của đề thi tuyển sinh môn Sử nhiều năm qua thì phần lịch sử thế giới (chọn 1 trong 2 câu ) với số điểm từ 2 đến 3 điểm, đây cũng là phần kiến thức các em không mất quá nhiều thời gian học như phần lịch sử Việt Nam. Đây là phần thi tự chọn nên nếu học sinh biết phương pháp, có kỹ năng học và ôn tập tốt thì các em có thể làm tốt hơn phần lịch sử Việt Nam. Điều mà chúng tôi xin nhắc nhở các học sinh trong quá trình tự ôn luyện phần lịch sử thế giới là tuỳ thuộc vào những câu hỏi, vấn đề liên quan, học sinh có thể liên hệ đến phần lịch sử Việt Nam trong giai đoạn đó, vấn đề đó thì sẽ giúp bài thi có vốn kiến thức phong phú, sinh động và sâu sắc hơn. Trần Trung Hiếu Giáo viên Sử - Trường THPT Chuyên Phan Bội Châu, Nghệ An (DT)
Xem thêm

4 Đọc thêm

Cùng chủ đề