TRUYỆN NÀNG BẠCH TUYẾT VÀ 7 CHÚ LÙN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TRUYỆN NÀNG BẠCH TUYẾT VÀ 7 CHÚ LÙN":

Hãy kể về giấc mơ của một bông hoa

HÃY KỂ VỀ GIẤC MƠ CỦA MỘT BÔNG HOA

II. BÀI LÀM 1 Bình minh đã bắt đầu le lói phía trời Đông. Những tia nắng hồng rực rỡ báo hiệu một ngày mới. Một tia nắng tinh nghịch nhẹ nhàng lay gọi bông Hồng Nhung dậy muộn. Hồng Nhung khẽ chớp chớp hàng mi ngái ngủ. Những giọt sương đêm long lanh lăn tròn trên những cánh hoa đỏ thắm. Bông hoa ngẩng cao đầu, quay nhìn bốn phía rồi mỉm cười nhớ lại giấc mơ đêm qua. ôi! Giấc mơ thật đẹp! ... Mặt trời lặn đã lâu, khu vườn chìm trong bóng đêm dịu dàng, yên tĩnh. Đang thiu thiu ngủ, chợt Hồng Nhung cảm thấy lâng lâng như được nhấc bổng lên cao. Hóa ra là chị Mây Trắng bồng bềnh vừa sà xuống. Chị hôn nhẹ vào đôi má mịn màng của Hồng Nhung rồi thì thầm: Em đi chơi với chị nhé! Ngồi trong lòng chị Mây Trắng, cô bé Hồng Nhung rực rỡ như một đốm lửa hồng. Nương theo làn gió nhẹ, chị Mây đưa Hồng Nhung bay qua một cánh đồng bát ngát lúa xanh, nhấp nhô như sóng biển. Lá lúa đung đưa trong gió như những cánh tay vẫy gọi, mời mọc Hồng Nhung hãy ghé chơi và thưởng ngoạn vẻ đẹp của đồng quê. Lần đầu tiên được nhìn hàng ngàn, hàng vạn khóm lúa tươi tốt mọc san sát bên nhau, Hồng Nhung thích lắm. Cô bé khoan khoái hít căng lồng ngực hương thơm ngan ngát của lúa làm đòng. Không ghé thăm được, Hồng Nhung gửi xuống cho các bạn lúa một nụ hôn thay lời chào thân ái. Cuộc hành trình tiếp tục. Loáng một cái, trước mắt Hống Nhung hiện ra một bãi cỏ bao la, ngào ngạt mùi thơm cỏ mật. Âm thanh réo rắt văng vẳng đâu đây. À thì ra là tiếng sáo của mấy chú mục đồng cưỡi trên lưng những con trâu béo mượt đang ung dung gặm cỏ. Cảnh đẹp như tranh. Hồng Nhung xuýt xoa khen ngợi và say mê nhìn ngắm mãi. Chị Mây Trắng đưa Hồng Nhung ra thăm biển. Quen sống trong khu vườn nhỏ nên Hồng Nhung rợn ngợp trước cảnh trời nước mênh mông. Cô bé sung sướng thốt lên: Biển rộng quá chị Mây Trắng nhỉ! Ôi! Biển mới đẹp làm sao! Dưới mắt Hồng Nhung, biển xanh thăm thẳm. Những cánh buồm trắng, buồm nâu giống như những cánh bướm khổng lồ chập chờn trên sóng nước. Chị Mây Trắng mỉm cười nói với Hồng Nhung: Còn có nhiều cảnh đẹp kì diệu hơn nữa, cô bé ạ! Vượt qua đại dương, chị Mây Trắng đưa Hồng Nhung đến xứ sở của những Kim tự tháp Ai Cập sừng sững trên sa mạc với những bức tượng nhân sư bằng đá uy nghiêm canh giữ lối vào. Rồi đến với tháp Epphen cao vút, ngạo nghễ giữa trời xanh; tháp nghiêng Pida đồ sộ và cổ kính... Mỗi kì quan có một vẻ đẹp khác nhau khiến Hồng Nhung mải mê ngắm nhìn không chán mắt. Bỗng cô bé reo lên: “Chị Mây Trắng ơi, chúng ta đến thăm khu vườn cổ tích đi!”. Chị Mây Trắng gật đầu đồng ý. Chẳng mấy chốc, hai chị em đã tới khu công viên nổi tiếng. Tuyệt vời làm sao! Trên mặt đất, cả một rừng hồng đang tỏa hương, khoe sắc. Hồng trắng, hồng đỏ, hồng vàng... loại nào cũng đẹp! Chúng vây quanh nàng công chúa ngủ trong rừng. Nàng đẹp vẻ đẹp ngây thơ, trong trắng như một thiên thần. Tòa lâu đài, rừng cây cổ thụ, con đường mòn đẫn tới lâu đài... Tất cả đều như mơ, như thực, đưa du khách vào cõi thần tiên. Và kìa, nàng Bạch Tuyết với bảy chú lùn dễ thương đang quây quần nhảy múa. Hồng Nhung và chị Mây Trắng ghé xuống tham dự cuộc vui với họ. Nàng Bạch Tuyết âu yếm đặt Hồng Nhung lên ngực áo trắng muốt của mình. Hồng Nhung biết rằng, bên cạnh nàng Bạch Tuyết, mình sẽ đẹp lên rất nhiều. Hai chị em đã đến tận Thiên Đình. Tây Vương Mẫu đang mở hội thi hoa. Chị Mây Trắng khuyên Hồng Nhung nên tham dự. Cô bé e thẹn chối từ vì thấy quanh mình là hàng trăm loài hoa muôn hồng, ngàn tía. Mọi người xúm lại khuyến khích nên Hồng Nhung đồng ý và cô bé không ngờ rằng mình lại được bầu làm hoa hậu của các loài hoa. Hồng Nhung rất sung sướng nhưng cô bé vẫn khiêm tốn nghĩ rằng mình chỉ là một vẻ đẹp trong muôn ngàn vẻ đẹp, một hương thơm trong hàng vạn hương thơm. Cuộc du ngoạn thế giới của hai chị em kết thúc tốt đẹp. Trở về khu vườn quen thuộc, Hồng Nhung mừng rỡ gặp lại các bạn thân yêu. Hồng Nhung cảm ơn chị Mây Trắng đã giúp mình hiểu biết về thế giới rộng lớn xung quanh... Hồng Nhung thấy xao xuyến trong lòng. Lát nữa, cô bé sẽ kể cho tất cả các bạn nghe về giấc mơ đẹp đẽ đêm qua. Những cánh hồng đỏ thắm rung rinh như muốn nói: Các bạn ơi! Cuộc sống quanh ta đẹp đẽ và đáng yêu biết mấy! Bài 2
Xem thêm

2 Đọc thêm

Tả con chim bồ câu

TẢ CON CHIM BỒ CÂU

Bải 1: Hôm nay là ngày chủ nhật , em lại được về thăm ngoại. Nhà ngoại có trồng rât nhiều cây và nuôi nhiều con vật . Trong đó ,đàn bồ câu là xinh đẹp nhất . Duyên dáng hơn cả là con bồ câu trắng mà ngoại đặt tên cho nó là Bạch Tuyết . Bạch Tuyết thuộc giống bồ câu Hà Lan. Đúng với cái tên, cô nàng nổi bật với bộ lông trắng tinh. Lông Bạch Tuyết mềm mại, mịn màng làm sao ! Thân nó nhỏ như cái bình trà của ông em . Đầu to hơn hột mít một chút, cứ lắc la lắc lư thật khó hiểu .Đôi mắt đen láy ,tròn xoe như hạt nút nhỏ .Đôi mắt đẹp ấy trông thật hiền lành.Bạch Tuyết có cái mỏ nhỏ, xinh xinh. Nó thường rỉa lông , lâu lâu lại dụi mỏ vào cánh . Đôi cánh xếp gọn hai bên mình. Hai chân nó nhỏ nhưng rất nhanh nhẹn. Dáng cô nàng bước đi trông kiêu sa và duyên dáng với cái đuôi xoè rất đẹp mà chỉ riêng giống bồ câu Hà Lan mới có. Đôi khi , dường như thích thú hoặc vui sướng vì một điều gì đó , cô nàng xoè chiếc đuôi xinh đẹp ,rung rung trong nắng . Có lẽ vì vậy mà trong sân nhà ngoại thường xuất hiện mấy anh chàng bồ câu lạ hoắt. Bạch Tuyết không nhát người như những chú bồ câu khác . Cô nàng thường mổ hạt kê trên bàn tay em. Điều này làm em vô cùng thích thú. Được ngắm đàn bồ câu sà xuống sân nhà em cảm thấy thật thanh thản. Em rất thích cô nàng Bạch Tuyết. Em sẽ học thật giỏi để ba tháng hè được về vui chơi với nàng Bạch Tuyết … Bài 2: Trong các loài chim em thích nhất là chim bồ câu vì đó là loài chim tượng trưng cho hòa bình. Chú thật duyên dáng với bộ lông trắng muốt, mịn màng. Thân nó nhỏ như cái ấm pha trà. Đầu to hơn hạt mít một chút, cứ lúc lắc thật khó hiểu. Đôi mắt đen láy, tròn xoe như hạt na nhỏ trông thật hiền lành. Bồ câu có cái mỏ nhỏ, xinh xinh. Nó thường rỉa lông, lâu lâu lại dụi mỏ vào đôi cánh xếp gọn hai bên mình. Hai chân của chim nhỏ nhưng rất nhanh nhẹn. Dáng bước đi trông thật kiêu sa với cái đuôi xoè rất đẹp rung rung trong nắng. Khi xem ti vi, em thấy người ta thả những chú chim bồ câu cho nó bay đi. Đôi cánh chim rập rờn như múa làm em vô cùng thích thú. Được ngắm đàn bồ câu bay lượn em cảm thấy thật vui. Em rất yêu thích và quý mến loài chim này.  loigiaihay.com
Xem thêm

1 Đọc thêm

Đề thi thử vào lớp 10 môn ngữ văn đề số 84

ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN ĐỀ SỐ 84

I. trắc nghiệm Bài tập 1 Khoanh tròn vào chữ cái đầu dòng ghi các ý đúng : 1. Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn : A. Đầu thế kỉ XVII – cuối thế kỉ XVIII. B. Cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX. C. Thế kỉ XIX. 2. Nguyễn Du đã từng làm quan cho  : A. Triều Tây Sơn. B. Triều Nguyễn. C. Cả A và B. 3. Các yếu tố nào sau đây có ảnh hưởng tới sự nghiệp văn học của Nguyễn Du ? A. Thời đại và gia đình. B. Sự hiểu biết sâu rộng và vốn sống phong phú của Nguyễn Du. C. Trái tim giàu yêu thương của ông. D. Gồm cả A, B, C. 4. Nguyễn Du sáng tác văn học bằng : A. Chữ Hán và chữ Nôm. B. Chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. C. Chữ Hán và chữ Quốc ngữ. D. Chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. 5. Các sáng tác nào sau đây của Nguyễn Du được viết bằng chữ Nôm : A. Truyện Kiều, Thanh Hiên thi tập. B. Văn chiêu hồn, Nam trung tạp ngâm. C. Truyện Kiều, Văn chiêu hồn. D. Gồm cả A, B, C. 6. Truyện Kiều được viết theo thể thơ : A. Song thất lục bát. B. Thất ngôn. C. Lục bát. 7. Giá trị hiện thực của Truyện Kiều là : A. Phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị và số phận những con người bị áp bức đau khổ, đặc biệt là số phận bi kịch của người phụ nữ ; đồng thời bộc lộ niềm thương cảm sâu sắc trước những khổ đau của con người. B. Phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị và số phận những con người bị áp bức đau khổ, đặc biệt là số phận bi kịch của người phụ nữ. C. Phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị và số phận những con người bị áp bức đau khổ, đặc biệt là số phận bi kịch của người phụ nữ ; trân trọng, đề cao con người từ vẻ đẹp hình thức, phẩm chất đến những ước mơ, khát vọng chân chính. D. Gồm cả ba ý trên. 8. Truyện Kiều mang những giá trị nhân đạo cơ bản nhất là : A. Niềm thương cảm sâu sắc trước những đau khổ của con người. B. Sự lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo. C. Sự trân trọng, đề cao con người từ vẻ đẹp hình thức, phẩm chất đến những ước mơ, khát vọng chân chính. D. Gồm cả ba ý trên. 9. Giá trị nổi bật về mặt nghệ thuật của Truyện Kiều là : A. Với Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học của dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ. B. Với Truyện Kiều, nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc hoạ tính cách và miêu tả tâm lí con người. C. Cả A và B. 10. Đoạn thơ sau trong Truyện Kiều của Nguyễn Du : Đầu lòng hai ả tố nga, Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân Mai cốt cách tuyết tinh thần, Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười. Giới thiệu khái quát hai nhân vật Thuý Kiều và Thuý Vân. Miêu tả vẻ đẹp của hai chị em Thuý Kiều. Kể về cuộc đời của Kiều và Vân. 11. Câu thơ Làn thu thuỷ nét xuân sơn miêu tả : Vẻ đẹp nét mặt của Thuý Kiều. Vẻ đẹp đôi mắt, đôi lông mày của Thuý Kiều. Cả A và B. 12. Nhận định nào sau đây đúng khi đề cập đến việc miêu tả hai chị em Thuý Kiều của Nguyễn Du ? A. Khi tả Thuý Vân, tác giả chủ yếu gợi tả nhan sắc mà không thể hiện cái tài, cái tình của nàng. Thế nhưng, khi tả Thuý Kiều, nhà thơ tả sắc một phần còn dành đến hai phần để tả tài năng. B. Khi tả Thuý Vân, tác giả tả nhan sắc và cái tài, cái tình của nàng.   Thuý Kiều cũng được tả như thế nhưng sắc và tài, cái tình của nàng được tô đậm nét hơn, dụng công hơn. C. Khi tả Thuý Vân, tác giả chủ yếu gợi tả nhan sắc mà không thể hiện cái tài, cái tình của nàng. Thế nhưng, khi tả Thuý Kiều, nhà thơ tả sắc hết sức sơ lược và chỉ chú trọng tả cái tài năng hơn người của nàng. 13. Nhận định nào sau đây đúng ? A. Chân dung Thuý Kiều là chân dung không mang tính cách, số phận. Chân dung Thuý Vân là chân dung mang tính cách, số phận. B. Chân dung  Thuý Kiều và Thuý Vân là chân dung mang tính cách, số phận. C. Chân dung Thuý Kiều là chân dung  mang tính cách, số phận, còn chân dung Thuý Vân không mang tính cách, số phận. 14. Cách miêu tả Thuý Kiều của Nguyễn Du trong hai câu thơ sau :                                             Làn thu thuỷ nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh. A. Mang tính cụ thể. B. Mang tính ước lệ. C. Vừa mang tính cụ thể vừa mang tính ước lệ. 15. Đoạn thơ sau : Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm. Cung thương làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương. Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân. Ca ngợi vẻ đẹp nào của Kiều ? A. Vẻ đẹp nhân phẩm. B. Vẻ đẹp hình thức. C. Vẻ đẹp tài năng. D. Cả ba nội dung trên. 16. Chân dung Thuý Vân được miêu tả trước Thuý Kiều vì : A. Thuý Vân là em Thuý Kiều. B. Để làm nổi bật chân dung Thuý Vân. C. Làm nền để nổi bật lên chân dung Thuý Kiều. 17. Nhận định nào đúng ? A. Vẻ đẹp của Vân là vẻ đẹp ngoại hình, còn vẻ đẹp của Kiều là cả nhan sắc, tài năng, tâm hồn. B. Nếu vẻ đẹp của Vân chủ yếu là ngoại hình thì vẻ đẹp của Kiều là cả nhan sắc, tài năng và tâm hồn. C. Hai chị em Thuý Kiều đẹp mười phân vẹn mười, đẹp cả ngoại hình lẫn tài năng, tâm hồn. 18. Đoạn thơ Chị em Thuý Kiều thuộc phần nào của Truyện Kiều ? A. Gia biến và lưu lạc. B. Gặp gỡ và đính ước. C. Đoàn tụ. 19. Gợi tả vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều, Nguyễn Du đã : A. Trân trọng, đề cao vẻ đẹp của con người. B. Thể hiện sự ngưỡng mộ đối với con người. C. Cả A và B. 20. Đoạn thơ Cảnh ngày xuân thuộc phần nào của Truyện Kiều ? A. Gặp gỡ và đính ước. B. Gia biến và lưu lạc. C. Đoàn tụ. 21. Bốn câu thơ sau : Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoại sáu mươi. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. A. Tả cảnh lễ hội ngày xuân. B.  Tả cảnh tiết thanh minh. C. Tả cảnh mùa xuân. 22. Nội dung ở bốn câu thơ trên là : A. Tả cảnh mùa xuân. B. Bộc lộ lòng yêu mùa xuân. C. Cả A và B. 23. Bức tranh thiên nhiên ở hai câu thơ : Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. A. Khoáng đạt, trong trẻo. B.  Mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống. C. Nhẹ nhàng, thanh khiết. D. Cả ba ý trên. 24. Nội dung của đoạn thơ sau : Thanh minh trong tiết tháng ba Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh. Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm. Ngổn ngang gò đống kéo lên, Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay. Cảnh thiên nhiên mùa xuân. Cảnh lễ hội ngày xuân. Cảnh mê tín dị đoan. 25. Các từ trong đoạn thơ trên : gần xa, yến anh, chị em, tài tử, giai nhân, nô nức, sắm sửa, dập dìu gợi tả : A.  Sự đông vui, nhiều người cùng đi hội. B.  Sự rộn ràng, náo nhiệt của ngày hội. C. Tâm trạng của người đi lễ hội. D. Cả A, B và C. 26. Câu thơ : Dập dìu tài tử giai nhân Ngựa xe như nước áo quần như nêm. Sử dụng biện pháp nghệ thuật : A. Nhân hoá. B. ẩn dụ. C.So sánh. 27. Nhận định sau đây đúng hay sai ? Cảnh mùa xuân ở câu cuối và bốn câu đầu trong đoạn trích Cảnh ngày xuân (Truyện Kiều – Nguyễn Du), bên cạnh những nét giống nhau còn có sự khác nhau là bởi thời gian, không gian thay đổi, nhưng điều quan trọng là cảnh được cảm nhận qua tâm trạng. Hai chữ nao nao trong câu thơ Nao nao dòng nước uốn quanh đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật. Đúng. Sai. Bài tập 2 Điền vào chỗ trống : 1. Cho các từ : dự cảm, ước lệ, vẻ đẹp điền vào các câu sau: Đoạn thơ Chị em Thuý Kiều sử dụng bút pháp nghệ thuật .  . . . . . . . . . .  , lấy . . . . . . . . . . .  của thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp của con người, khắc hoạ rõ nét chân dung chị em thuý Kiều. Ca ngợi vẻ đẹp, tài năng của con người và . . . . . . . . . . . . . .  về kiếp người tài hoa mệnh bạc là biểu hiện của cảm hứng nhân văn ở Nguyễn Du. 2. Tìm từ thích hợp điền vào câu sau : a) Thuật ngữ là những từ ngữ biểu thị khái niệm . . . . . . . . . . . . . . . . . , công nghệ, thường được dùng trong các văn bản . . . . . . . . . . . . . . . . , công nghệ. Thuật ngữ không có tính . . . . . . . . . . . b) Trong văn bản . . . . . . . . . . . . . . . .  , sự miêu tả cụ thể, chi tiết về cảnh vật, nhân vật và sự việc có tác dụng làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, gợi cảm và sinh động. Bài tập 3 Đọc những định nghĩa sau đây và trả lời câu hỏi : + Đường phân giác là đường thẳng chia một góc phẳng ra làm hai góc bằng nhau. + Anđehit là một hợp chất hữu cơ mùi nồng, có thể  điều chế từ rượu hoặc acetylen. + Đột biến là sự thay đổi đột ngột của một tính trạng ở cá thể sinh vật do thay đổi cấu trúc di truyền. + Electron là hạt cơ bản rất nhỏ, thành phần cấu tạo nguyên tử, mang điện tích âm, khi chuyển động tạo thành dòng điện. + Đường tròn là đường tập hợp tất cả các điểm trong mặt phẳng cách đều một điểm cố định (gọi là tâm) một khoảng không đổi (gọi là bán kính). + Âm tố là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất. + Axêton là một hợp chất lỏng không màu, dễ bay hơi, dễ cháy, dễ tan trong nước, dùng làm dung môi và để tổng hợp nhiều chất hữu cơ. + Trạng ngữ là thành phận phụ trong câu, biểu thị ý nghĩa tình huống : thời gian, địa điểm, nguyên nhân, mục đích, phương tiện v.v.. 1. Em đã học những định nghĩa này ở những môn học nào ? 2.  Các từ in đậm chủ yếu được dùng trong loại văn bản nào ? Bài tập 4 Hãy tìm các chi tiết miêu tả trong câu văn sau : Nhà ta ở phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, trước hiên tiền đường có trồng một cây lê, cao vài trượng, lúc nở hoa, trắng xoá thơm lừng ; trước nhà trung đường cũng trồng hai cây lựu trắng, lựu đỏ, lúc ra quả trông rất đẹp, bà cung nhân ta sai chặt đi cũng vì cớ ấy. Bài tập 5 Hãy tóm tắt tác phẩm  Truyện Kiều. Bài tập 6 Tìm các từ Hán Việt trong đoạn thơ sau (không kể danh từ riêng) : Mai cốt cách tuyết tinh thần, Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười. Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đằn nét ngài nở nang. Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da. (Truyện Kiều – Nguyễn Du) II. Tự luận 1. Phân tích đoạn thơ Chị em Thuý Kiều (trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) để làm nổi bật vẻ đẹp của Thuý Kiều và Thuý Vân. 2. Trình bày những cảm nghĩ của em về bức tranh thiên nhiên và lễ hội mùa xuân trong đoạn thơ Cảnh ngày xuântrích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đáp án Đề số 30 I. Trắc ngiệm Bài tập 1 Khoanh tròn vào các chữ sau : Câu 1 :   B. Câu 2 :   B. Câu 3 :   D. Câu 4 :   A. Câu 5 :   C. Câu 6 :   C. Câu 7 :   B. Câu 8 :   D. Câu 9 :   C. Câu 10 : A. Câu 11:  B. Câu 12 : A. Câu 13 : B. Câu 14 : B. Câu 15 : C. Câu 16 : C. Câu 17 : B. Câu 18 : B. Câu 19 : C. Câu 20 : A. Câu 21 : C. Câu 22 : C Câu 23 : D. Câu 24 : B. Câu 25 : D. Câu 26 : C. Câu 27 : A.     Bài tập 2 Điền vào các chỗ trống : 1. ước lệ, vẻ đẹp, dự cảm. 2. a) khoa học, khoa học, biểu cảm. b) tự sự. Bài tập 3 1. +  Định nghĩa về đường tròn, đường phân giác học ở môn toán. +  Định nghĩa về electron học ở môn vật lí. +  Định nghĩa về axeton và anđehit học ở môn hoá học. +  Định nghĩa về âm tố và trạng ngữ học ở môn tiếng Việt. 2. Các từ in đậm chủ yếu được dùng trong loại văn bản khoa học, công nghệ. Bài tập 4 Các chi tiết miêu tả trong câu văn : cao vài trượng; lúc nở hoa, trắng xoá thơm lừng; lúc ra quả trông rất đẹp. Bài tập 5 Dựa vào sách giáo khoa để tóm tắt. Tuy nhiên, không nên học thuộc lòng để sao chép lại. Cần tóm tắt và diễn đạt theo cách riêng của mình. Bài tập 6 Các từ Hán Việt trong đoạn thơ là : mai, cốt cách,  tuyết,  tinh thần, phân, trang trọng, hoa , ngọc, đoan trang. II. Tự luận 1. Đây là đề nghị luận về một đoạn trích trong tác phẩm truyện thơ, phân tích để làm nổi bật vẻ đẹp của hai nhân vật Thuý Vân và Thuý Kiều. Ngoài yêu cầu chung của kiểu văn bản nghị luận về tác phẩm truyện (hay đoạn trích), cần phân tích để làm nổi bật vẻ đẹp  của từng nhân vật như sau: + Thuý Vân : Tác giả dùng những thứ cao đẹp của thiên nhiên để so sánh vẻ đẹp trang trọng, đoan trang của Vân. Với thủ pháp liệt kê và cách sử dụng từ ngữ cụ thể cũng như những biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, Thuý Vân hiện lên  đẹp một vẻ đẹp trung thực, phúc hậu mà quí phái của người phụ nữ. Chân dung Thuý Vân là chân dung mang tính cách, số phận. Vẻ đẹp của nàng tạo sự  hoà hợp, êm đềm với xung quanh nên nàng sẽ có cuộc đời bình lặng suôn sẻ. + Thuý Kiều : Câu thơ giới thiệu khái quát làm hiện lên một Thuý kiều với vẻ đẹp sắc sảo về trí tuệ và mặn mà về tâm hồn. Vẫn dùng những hình tượng nghệ thuật ước lệ để tả Thuý Kiều, nét vẽ của Nguyễn Du thiên về gợi, tạo ấn tượng chung về vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt sắc; ở đây, nhà thơ tập trung  gợi tả vẻ đẹp của đôi mắt – phần tinh anh của tâm hồn và trí tuệ. Trong 12 câu dùng để tả  Kiều, tác giả dành tới 8 câu để tả tài năng : cầm (đàn), kì (cờ), thi (thơ), hoạ (vẽ), đặc biệt là tài đàn. Khúc đàn bạc mệnh mà nàng tự soạn chính là tiếng nói của một trái tim đa sầu, đa cảm. Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp của cả sắc – tài – tình. Chân dung của Kiều cũng là chân dung mang tính cách, số phận. Vẻ đẹp của nàng làm cho tạo hoá phải hờn, phải ghen nên số phận sẽ éo le, đau khổ. 2. Đây là kiểu văn bản biểu cảm về tác phẩm văn học, cụ thể là về một đoạn trích Cảnh ngày xuân trong Truyện Kiều. Đề yêu cầu phát biểu những cảm nghĩ về bức tranh thiên nhiên và cảnh lễ hội mùa xuân trong đoạn trích. Muốn trình bày tình cảm của mình về các vấn đề đó, trước hết phải nêu ra đối tượng gợi nên cảm xúc, suy nghĩ  cho mình là bức tranh thiên nhiên và cảnh lễ hội mùa xuân. Trên cơ sở đó, trình bày những cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng, suy ngẫm của mình một cách chân thành, phù hợp với đối tượng được nêu ra.
Xem thêm

9 Đọc thêm

Soạn bài: Chị em Thúy Kiều

SOẠN BÀI: CHỊ EM THÚY KIỀU

Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài CHỊ EM THUÝ KIỀU (Trích Truyện Kiều)   I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Tìm hiểu kết cấu đoạn trích: - Bốn câu thơ đầu: giới thiệu về khái quát về hai chị em Thuý Kiều; - Bốn câu thơ tiếp: vẻ đẹp của Thuý Vân; - Mười sáu câu thơ còn lại: vẻ đẹp của Thuý Kiều. Trình tự miêu tả các nhân vật theo kết cấu đoạn trích là miêu tả từ khái quát đến cụ thể. 2. Nét riêng về nhan sắc và tính cách của Thuý Vân được gợi tả bằng các hình ảnh ước lệ (trăng, cười, ngọc, mây, tuyết) trong bốn câu thơ: Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Vẻ đẹp của Thuý Vân được gợi tả là vẻ đẹp sang trọng, quý phái, đầy đặn, nở nang… về nhan sắc; đoan trang, trung thực, phúc hậu… về tính cách. Hình ảnh chân dung, tính cách còn có tác dụng gợi tả số phận: cuộc đời bình lặng, yên ổn. 3. Nhan sắc của Thuý Kiều được gợi tả bằng các hình ảnh mang tính ước lệ: thu thuỷ, xuân sơn, hoa, liễu. Vẻ riêng của Thuý Kiều được nói đến ở những câu thơ giới thiệu khái quát mở đầu đoạn: Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn: “sắc sảo” và “mặn mà” đều có tác dụng vừa gợi tả nhan sắc, vừa gợi tả tính cách, tài trí. Về nhan sắc, mặc dù không gợi tả cụ thể như khi tả Thuý Vân, nhưng qua những hình ảnh đậm màu sắc tượng trưng, ước lệ, tác giả đã tạo được ấn tượng về một vẻ đẹp của giai nhân tuyệt thế. Đặc biệt là việc gợi tả vẻ đẹp của đôi mắt: “làn thu thuỷ”; đôi mắt trong sáng như nước mùa thu, gợi vẻ lanh lợi, sắc sảo hơn người. 4. Bên cạnh vẻ đẹp hình thức, nhan sắc, tác giả còn nhấn mạnh vẻ đẹp tài năng, tâm hồn của Kiều. ở Kiều hội tụ đầy đủ mọi tài năng theo quan niệm của tư tưởng phong kiến: cầm - kì - thi - hoạ. Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh tài đánh đàn của Kiều (Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương) và gợi tả về tính cách đa sầu, đa cảm của Kiều qua khúc nhạc nàng tự sáng tác - một thiên “bạc mệnh”. Cũng như khi miêu tả Thuý Vân, những nét riêng về tài và sắc của Thuý Kiều còn gợi ra những dự cảm về số phận, chỉ khác là những nét riêng về tài sắc của Kiều lại gợi ra cái nghiệt ngã, éo le của số phận (theo quan niệm “tài mệnh tương đố” của tư tưởng trung đại). Cho nên, nói: Sắc đẹp của Thuý Vân “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”, còn sắc đẹp của Thuý Kiều “Hoa ghen đua thắm, liễu hờn kém xanh” là sự dự báo số phận của hai người là có cơ sở. 5. Trong hai bức chân dung Thuý Vân và Thuý Kiều, bức chân dung Thuý Kiều nổi bật hơn. Điều này phù hợp với dụng ý nghệ thuật của tác giả khi sáng tạo Truyện Kiều: toàn bộ tác phẩm tập trung xoay quanh câu chuyện về cuộc đời đầy đau khổ của nàng Kiều. Điều này thể hiện ngay ở sự chênh lệch về số lượng câu thơ dành cho việc miêu tả hai nhân vật (4/12). Vẻ đẹp của Thuý Vân được gợi tả về nhan sắc, tính tình còn vẻ đẹp của Thuý Kiều được gợi tả cả về nhan sắc, tài trí, và tâm hồn. Mặc dù Thuý Vân là em nhưng lại được tả trước là vì tác giả muốn tạo ra một phông nền làm nổi bật chân dung của Kiều. II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG Đoạn thơ này miêu tả vẻ đẹp của hai chị em Thuý Kiều và Thuý Vân. Với ngòi bút tài hoa, khả năng vận dụng khéo léo ngôn ngữ dân tộc kết hợp với các điển tích, điển cố, có thể nói Nguyễn Du đã giúp bạn đọc hình dung được những chuẩn mực về vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội xưa, đó cũng có thể coi là chuẩn mực của cái đẹp trong của văn học trung đại. Không chỉ miêu tả những hình mẫu, chân dung Thuý Kiều và Thuý Vân trong tác phẩm còn thể hiện những dụng ý nghệ thuật sâu xa của tác giả. Mặc dù "Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười" nhưng với mỗi nhân vật, sự miêu tả của Nguyễn Du dường như đã dự báo những số phận khác nhau của hai chị em. Điều đó vừa thể hiện bút pháp miêu tả nhân vật khá sắc sảo của Nguyễn Du nhưng đồng thời cũng cho thấy quan niệm "tài mệnh tương đố" của ông. Khi đọc đoạn trích, cần chú ý giọng miêu tả, thể hiện qua cách ngắt nhịp và gieo vần của thơ lục bát.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Phân tích nhân vật Thuý Kiều để thấy được quan niệm nghệ thuật mới tiến bộ về con người, cá nhân của Nguyễn Du.

PHÂN TÍCH NHÂN VẬT THUÝ KIỀU ĐỂ THẤY ĐƯỢC QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT MỚI TIẾN BỘ VỀ CON NGƯỜI, CÁ NHÂN CỦA NGUYỄN DU.

Bài làm: Đời người, với những nỗi buồn sầu thế và những bất hạnh khôn cùng trải dài ra mênh mông, vô tận, cập bến lửa thiêng và đến với nhà thơ Nguyễn Du- một đại thi hào của dân tộc. Thân phận con người, đặc biệt là thân phận người con gái trong xã hội phong kiến suy tàn với bao bất công ngang trái, coi trọng thế lực đồng tiền đã đi vào trái tim nhà thơ với bao rung cảm và bao xót xa đau đớn. Hình tượng Thuý Kiều ra đời trong bao dồn nén về cuộc đời, về thân phận con người của nhà thơ. Đó là đại diện cho một kiếp người, một lớp người trong xã hội phong kiến hủ bại và thối nát. Qua hình tượng nàng Kiều và với những giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo sâu sắc trong tác phẩm “Truyện Kiều”, ta có thể thấy rõ được quan niệm nghệ thuật mới tiến bộ về con người, về cá nhân của đại thi hào Nguyễn Du. “Truyện Kiều” được sáng tác dựa trên cơ sở cốt truyện của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc “Kim Vân Kiều truyện”. Tuy nhiên Nguyễn Du đã sáng tạo nên một tác phẩm mới, với cảm hứng mới, nhận thức lý giải về nhân vật theo cách của riêng ông, với thể loại truyện thơ khác hẳn “Kim Vân Kiều truyện” là tác phẩm tự sự văn xuôi. Nhân vật nàng Kiều hiện lên trên nền bi kịch của cuộc đời. Nàng có ý thức về nhân phẩm của mình nhưng lại bị xã hội hủ bại chà đạp nhân phẩm. Đó là bi kịch lớn nhất của đời người. Nỗi xót xa, đau đớn bao trùm lên một con người mà “hoa ghen đua thắm liễu hờn kém xanh”, “một hai nghiêng nước nghiêng thành- Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai”. Văn học trung đại viết về con người đã ít, viết về số phận con người, đặc biệt là số phận của người phụ nữ lại càng ít hơn. Với cái xã hội trọng nam khinh nữ thì một Nguyễn Du và một “Truyện Kiều” xuất hiện như toả sáng nền văn học tối tăm, soi đường chỉ lối và tôn lên giá trị nhân phẩm cao quý của con người. Thuý Kiều- một người con gái tài hoa, xinh đẹp- một vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà, một tài năng hiếm thấy, nổi bật về cả cầm, kì, thi, hoạ. Nguyễn Du đã dồn hết tâm huyết của mình vào sáng tạo hình tượng Thuý Kiều, tôn lên vẻ đẹp của người phụ nữ vốn không được coi trọng trong xã hội đương thời bằng một tấm lòng trân trọng yêu thương. Đó là điều hiếm, hoặc thậm chí không tìm thấy trong các tác phẩm trước “Truyện Kiều”, và các nhà thơ khác trước Nguyễn Du. Nghệ thuật đòn bẩy được sử dụng thật tài tình, cái đẹp “mười phân vẹn mười”, “sắc sảo mặn mà”, Thuý Kiều quả là một giai nhân hiếm có trên đời. Nếu như Thuý Vân có một vè đẹp “mây thua”, “tuyết nhường”, hài hoà với cảnh vật xung quanh, với thiên nhiên, tính cách đoan trang thuỳ mị như ngầm báo trước một tuơng lai êm đềm, phẳng lặng thì Thuý Kiều với vẻ đẹp khiến cho “hoa ghen”, “liễu hờn”, ngầm dự báo trước số phận của nàng sẽ gặp nhiều bất trắc, nhiều sóng gió bão táp. Nàng Kiều đã tự viết lên khúc nhạc ai oán, não nùng. Phải chăng nàng đã tự dự đoán trước được tương lai, số phận của mình- tương lai, số phận của người con gái tài hoa nhưng bạc mệnh trong cái xã hội chỉ coi trọng đồng tiền mà vùi dập, chà đạp lên thân thể, danh dự và cả nhân phẩm của con người. Qua hình ảnh nàng Kiều, ta thấy được cái nhìn yêu quý, trân trọng, cảm thông của Nguyễn Du với nhân vật lý tưởng của mình, cũng như với những kiếp người nhỏ bé trong xã hội. Đó là quan niệm nghệ thuật mới tiến bộ về con người, cá nhân của nhà thơ Nguyễn Du. Biết cảm thông, chia sẻ, Kiều đã cảm thấy rất buồn và thương cho nấm mộ Đạm Tiên bên đường cỏ mọc hoang, không ai chăm sóc. Người con gái mang kiếp cầm ca, sống thì bị dè bỉu, chết đi thì nấm mồ cũng vẫn cô đơn hiu quạnh. “Kiếp hồng nhan có mong manh Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương” Phải chăng, cũng từ đây mà một cơn giông tố đang sắp ập đến trên đầu người thiếu nữ vô tội. Nấm mồ hoang kia phải chăng như một sự báo thức, như đánh dầu bước ngoặt cuộc đời của Kiều: “Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” Kiều- một con người có vẻ đẹp ngoại hình, có tâm hồn trong sáng, lương thiện, tài năng, đồng thời nàng cũng là người có khát vọng tình yêu, hạnh phúc, vượt ra khỏi lễ giáo phong kiến: “Tình trong như đã mặt ngoài còn e Chập chờn cơn tỉnh cơn mê” Đặc biệt là hình ảnh “xăm xăm băng nẻo đường khuya một mình” của Thuý Kiều để tìm Kim Trọng, tìm đến hạnh phúc của mình. Kiều đã vượt qua những gò bó của thời cuộc để đi tìm hạnh phúc, điều mà khó tìm thấy nơi những người con gái khác trong khi quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” vẫn đang tồn tại rất mạnh mẽ trong xã hội. Nguyễn Du đã làm cho nhân vật của mình thật nổi bật trên nền xã hội đồng tiền, xã hội phong kiến hủ bại, thối nát. Ông coi trọng con người, coi trọng sự tự do, hạnh phúc và quyền được tìm hạnh phúc cho mình của mỗi người mặc cho định kiến xã hội đang vây lấy tất cả. “Thuý Kiều sắc sảo khôn ngoan Vô duyên là phận hồng nhan đã đành Lại mang lấy một chữ tình Khư khư mình buộc lấy mình vào trong” Con người sinh ra tài hoa không phải là một cái tội, nhưng đặt trong hoàn cảnh lễ giáo phong kiến, những người có tài, có sắc, đặc biệt là người phụ nữ lại hay phải chịu những truân chuyên, vất vả. Đang ở độ tuổi đẹp nhất của thời con gái, vừa gặp được mối tình đầu của mình, tưởng như cuộc sống sẽ chuyển mình bước trên một con đường hạnh phúc, nhưng ông trời thường hay thử lòng người. Phải chăng, khúc nhạc mà Kiều sáng tác trước kia đã trở thành chính cuộc đời nàng, ai oán và não nùng. Chỉ vì đồng tiền, bọn sai nha đã gây nên vụ án oan trong gia đình Kiều, vì đồng tiền mà bọn chúng đã phá hoại hạnh phúc gia đình Kiều, từ một mái ấm êm đềm bỗng tan hoang, lạnh lẽo. Thuý Kiều, với tư cách là một người chị cả phải đứng ra lo liệu mọi chuyện, nàng phải hi sinh mối tình với Kim Trọng, bán mình lấy tiền hối lộ cho sai nha để cứu cha và em khỏi bị tra khảo dã man. Bi kịch cuộc đời bắt đầu từ đây, khi mà con người , khi mà nhân phẩm bị người ta mua đi bán lại như một món hàng. Mã Giám Sinh, Tú Bà xuất hiện càng làm nổi bật lên hình tượng một Thuý Kiều bất hạnh, đau đớn ê chề: “Đắn đo cân sắc cân tài Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ … Cò kè bớt một thêm hai” Cái tài, cái sắc giờ đây bị mang ra cân đong đo đếm, bị quy ra thành tiền: “Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm” Cảnh mua bán hiện lên thật sinh động, có người mua, kẻ bán, có sự thử hàng, trả giá, mặc cả, giao kèo. Từ “ép”, “thử” đã lột trần bản chất của Mã Giám Sinh, đồng thời khắc hoạ được rõ nét nỗi đau đớn, bất hạnh khi bị coi như một món hàng mua bán của Thuý Kiều. Từ một nghìn mà bị ngã giá xuống bốn trăm lạng, trong xã hội đồng tiền, con người chỉ đáng giá thế thôi sao? Xã hội phong kiến đã chà đạp lên nhân phẩm và đạo đức của con người. Phẩm giá bị xúc phạm, Thuý Kiều căm tức những kẻ đã gây ra cho gia đình nàng nỗi ô nhục này: “nỗi mình thêm tức nỗi nhà”. Nàng đau xót, nàng khóc cho số phận hẩm hiu của mình: “Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng Ngại ngùng dợn gió e sương” Hình ảnh Thuý Kiều hiện lên thật tội nghiệp. Nàng đau khi nghĩ đến “nỗi mình”- tình duyên dang dở, “nỗi nhà” bị vu oan giáng hoạ. Mỗi bước đi của nàng nước mắt tuôn mà lòng quặn thắt. Là một tiểu thư khuê các mà giờ đây lại trở thành một món hàng nên càng tủi thẹn, xấu hổ ê trề khi phải đối mặt với sự thật. Nhưng Thuý Kiều càng buồn bao nhiêu thì lại càng đẹp bấy nhiêu: “Nét buồn như cúc điệu gầy như mai”. Với bút pháp ước lệ tượng trưng, tác giả đã khắc hoạ thành công nỗi buồn của Kiều, đồng thời thể hiện niềm cảm thông sâu sắc trước thực trạng con người bị chà đạp. Thuý Kiều hiện lên trên bức tranh khổ đau vẫn thật đẹp về cả ngoại hình lẫn nhân phẩm. Dù bị xã hội dồn ép, đè nén, nhưng hình ảnh một người con gái hi sinh hạnh phúc của mình và gia đình hiện lên thật đáng quý, đáng trọng. Đó cũng là nét nghệ thuật tiến bộ về con người, cá nhân của Nguyễn Du khi mà trong văn học cũ, con người không được đề cao. Biết rằng cuộc đời mình sẽ chuyển sang một trang mới, biết rằng mối tình Kim- Kiều sẽ chẳng đi về đâu. Sau những đêm trắng nghĩ đến thân phận và tình yêu, Kiều quyết đinh nhờ Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng: “Cậy em em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa Giữa đường đứt gánh tương tư Kheo loan chắp mối tơ thừa mặc em”. Là chị mà Kiều phải lạy, phải thưa với em của mình, một thái độ vừa kính trọng, vừa biết ơn. Kiều đã nghĩ rất chu toàn, biết rằng việc này rất khó cho Vân nên nàng rất khó để mở lời. Nàng tâm sự với em về mối tình trong sáng, cao đẹp của mình đối với chàng Kim. Đối với Kiều, giữa chữ hiếu và chữ tình, nàng đều muốn trọn vẹn cả hai. Đau đớn nhất trong đời người là nhân phẩm bị chà đạp, và nỗi đau đớn đó càng nhân lên gấp bội khi phải từ bỏ tình yêu của mình. Kiều trao duyên cho Thuý Vân mà lòng đau xót, nuối tiếc, nhớ lại tất cả những kỉ niệm đã qua, nhận ra mình là người bạc mệnh: “Chiếc vành với bức tờ mây Duyên này thì giữ vật này của chung Dù em nên vợ nên chồng Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên Mất người còn chút của tin Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa Mai sau dù có bao giờ Đốt lò hương ấy so tơ phím này”. Kiều tưởng tượng về tương lai mờ mịt của mình, nàng nghĩ mình sẽ chết, nhưng dù có chết vẫn trở về lời nguyền thuỷ chung: “Trông ra ngọn cỏ lá cây Thấy hiu hiu gió thì hay chị về Hồn còn mang nặng lời thề Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai” Đau đớn đến cực điểm, tâm hồn nàng như mê man, đang nói với em mà lòng như hướng về chàng Kim và mong chàng hiểu cho nỗi niềm oan khuất của mình: “Trăm nghìn gửi lạy tình quân Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi! Phận sao phận bạc như vôi! Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng” Nỗi đau đớn, xót xa, nghẹn ngào đến xé lòng. Trong đau thương, Kiều vẫn sáng ngời lên vẻ đẹp của mình, giàu lòng vị tha và đức hi sinh” “Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây” Từ một cô gái tiểu thư khuê các, vô lo vô nghĩ về cuộc đời, hạnh phúc tình yêu đang chớm nở, giờ đây Kiều đã mất tất cả, hạnh phúc lứa đôi, mái ấm gia đình. Nguyễn Du đã nhìn nhân vật của mình bằng một ánh mắt cảm thông, chia sẻ, cho nàng được bộc lộ nỗi đau đớn của mình. Mỗi dòng thơ, mỗi câu chữ đều thâm đẫm tình cảm của tác giả với số phận của Kiều, của những người con gái như Kiều, không chỉ thế, ông còn gián tiếp tố cáo xã hội phong kiến đã gây ra cho con người bao tang thương, mất mát, bao đau đớn, ê chề, xã hội coi trọng đồng tiền hơn cả con người, cái xã hội mà tại đây, bao con người, bao người con gái đã bị dẫm đạp lên nhân phẩm, đã phải sống cuộc đời của một con người mà sống không bằng chết, đau đớn, nhục nhã. “Đau đớn thay phận đàn bà Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu” Từ lúc gặp biến cố, phải bán mình chuộc cha, trao duyên lại cho em là Thuý Vân, Kiều đã trải qua 15 năm lưu lạc, trong 15 năm ấy, Kiều đã gặp phải bao sự lọc lừa nhưng có lẽ đau đớn nhất là lần Kiều bị Mã Giám Sinh lừa bán đến lầu xanh. Đó là bước ngoặt bẻ ngang cuộc đời Kiều sang một hướng khác. Rơi vào tay Tú Bà, Kiều rút dao tự vẫn nhưng không thành. Ở lầu Ngưng Bích, Kiều lại mắc bẫy Sở Khanh, bị đánh đập tơi bời “Thân lươn bao quản lần đầu- Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”. Sống ở lầu Ngưng Bích, trong cảnh cô đơn tuyệt đối, Kiều không biết tâm sự với ai, nàng đành tự tâm sự với chính mình. Trước hết nàng nhớ đến chàng Kim, nhớ đến lời thề đôi lứa: “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng- Tin sương luống những rày trông mai chờ”. “Tưởng”, đó là tâm trạng của những người yêu nhau trong xa cách. Nàng nhớ đến lời thề nguyền dưới ánh trăng. Hình dung ra nỗi nhớ, sự chờ mong nàng trong vô vọng của chàng Kim. Nàng nghĩ đến chàng Kim trong cảnh cô đơn, bơ vơ nơi chân trời, góc bể. Thuý Kiều là một người con hiếu thảo nhưng tác giả lại để cho Kiều nhớ đến chàng Kim trước , nhớ đến cha mẹ sau. Điều này thể hiện sự tinh tế của tác giả phù hợp với quy luật tâm sinh lý bởi vì Kiều đã bị Mã Giám Sinh làm nhục, ép tiếp khách làng chơi nên nỗi đau lớn nhất của Kiều là “tấm son gột rửa bao giờ cho phai”. Có thể hiểu theo hai nghĩa, tấm son là tấm lòng nhớ tới chàng Kim không bao giờ nguôi hoặc tấm lòng son của Kiều bị vùi dập hoen ố không biết bao giờ mới gột sạch được. Nàng nhớ đến cha mẹ sau vì dù sao, khi bán mình chuộc cha, nàng cũng đã phần nào báo đáp được cha mẹ. Nàng nhớ và thương cha mẹ khi sớm chiều tựa cửa ngóng trông con. Nàng xót xa lúc cha mẹ ốm đau mà nàng không được tự tay chăm sóc, phụng dưỡng. Nàng tưởng tượng cảnh quê hương tất cả đã thay đổi, và thay đổi lớn nhất là cha mẹ ngày càng già yếu. Trong cảnh ngộ bị giam lỏng trong lầu Ngưng Bích, không lúc nào là nàng không nhớ về Kim Trọng, về gia đình. Kiều đã bộc lộ phẩm chất đáng quý, một tấm lòng vị tha đáng trọng, một con người thuỷ chung, hiếu thảo. Nguyễn Du hiểu thấu tâm trạng và suy nghĩ của nhân vật của mình. Với ngòi bút xuất sắc của mình, kèm các điểm tích, điển cố, tác giả đã làm tôn lên sáng ngời vẻ đẹp trong tâm hồn của người con gái bất hạnh, dù bị hoàn cảnh xô đẩy nhưng tâm hồn vẫn luôn trong sáng, lương thiện, luôn hướng về mái ấm gia đình, hạnh phúc lứa đôi. Đây cũng chính là phẩm chất đáng quý của người phụ nữ Việt Nam trong mọi thời đại, ngời sáng những lý tưởng cao đẹp. Nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, Kiều càng thấm thía nỗi cô đơn trống vắng của mình: “Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu Buồn trong ngọn cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh Ầm ấm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” Người buồn, cảnh cũng buồn. Nỗi buồn vô vọng, kéo dài, trải rộng ra mênh mang. Tiếng sóng như báo trước sóng gió dữ dội của cuộc đời hay là tiếng kêu đau đớn của Kiều đồng vọng với thiên nhiên? Kiều không chỉ buồn mà còn lo sợ, kinh hãi trước sóng gió, bão táp của cuộc đời đang sắp đổ xuống đầu nàng! Nỗi buồn thoảng thốt lo âu, dự cảm hãi hùng của một người con gái lần đầu lạc bước giữa cuộc đời lắm sóng gió và truân chuyên. Lúc này Kiều trở nên tuyệt vọng để rồi “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”. Tiếng sóng gầm lên dữ dội như muốn hất tung, nhấn chìm người con gái cô đơn, tội nghiệp trên chiếc ghế đời mỏng manh. Qua đó, ta càng thấy rõ được tấm lòng chân trọng, cảm thông của tác giả đối với số phận người con gái tài hoa bạch mệnh. “Trăm năm trong cõi người ta- Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” Kiều- một nhân phẩm quá đỗi cao đẹp, một tâm hồn trong sáng, một bông hoa từ cảnh sống “êm đềm chướng rủ mành che” bỗng nhiên bị ném vào bùn nhơ, giữa cái xót. Sống trong cảnh lầu xanh biết bao “bướm lả ong lơi” mà Kiều vẫn giữ được một tâm hồn trong sáng. Giật mình lúc nửa đêm khi tỉnh rượu, nàng chợt nhận rõ tình cảnh của bản thân. Sống trong cảnh lầu xanh, Thuý Kiều vẫn không quên đi nỗi nhục của bản thân. Phải chăng, nếu nàng quên được thì đã không đau khổ đến thế này? Đau khổ vẫn ở trước mắt, quá khứ tươi đẹp lại quá xa xôi. Cảnh thiên nhiên đẹp nhưng thấm đậm nỗi buồn: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ? …. Vui là vui ngượng kẻo là, Ai chi âm đó mặn mà với ai?” Nàng chán chường vì không tìm ra được người tri âm tri kỉ. Câu hỏi được đặt ra giống như nàng đang đi tìm tri âm của mình, nhưng cũng chính là tự khẳng định: không có ai cả. Thuý Kiều rơi vào một tình cảnh trớ trêu, dễ làm con người đánh mất nhân phẩm. Kiều ý thức rõ nhân phẩm đau khổ của mình, tiếc nuối quá khứ, khinh ghét bản thân, thờ ơ với những thú vui ở lầu xanh. Nguyễn Du không thương xót chung chung mà ông chú ý đến nỗi đau cá nhân của con người. Sau lối xưng “ta” đặc trưng của văn học trung đại, ta chợt nghe thấy một giọng ca riêng cùng nỗi thương thân của cái “tôi”. Thương mình là nền tảng vững chắc cho lòng thương người. Mà đây là “nỗi thương mình” của con người dưới đáy xã hội nên nó càng mới lạ và giàu tính nhân đạo. Nó cho thấy Nguyễn Du quan tâm tới mọi tầng lớp trong xã hội chứ không chỉ ở tầng lớp trên. Không phải những người ở hoàn cảnh xấu đều xấu. Đó là quan điểm nghệ thuật mới tiến bộ về con người, cá nhân của Nguyễn Du. Bên cạnh những phẩm chất đáng quý trong tâm hồn, ở Kiều còn nổi bật lên hình ảnh một con người bao dung, giàu lòng vị tha. Đối với Thúc Sinh, kẻ đã cứu nàng thoát khỏi bùn lầy nhơ nhuốc, nàng đã rất trân trọng biết ơn: “Nàng rằng nghĩa nặng nghìn non Lâm tri người cũ chàng còn nhớ không? Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng Tại ai há dám phụ lòng cố nhân” Còn đối với Hoạn Thư, nàng cũng rộng lòng tha thứ: “Dã lòng tri quá thì nên- Truyền quân lịnh xuống trướng tiền tha ngay”. Thuý Kiều trong toàn tác phẩm hiện lên luôn thật cao đẹp và sáng ngời. Nguyễn Du đã thổi hồn vào cây bút, làm nên một Thuý Kiều đẹp về cả thể xác lẫn tâm hồn. Tuy cuộc sống luôn gặp nhiều bất trắc nhưng tâm hồn vẫn nở hoa giữa bùn nhơ của cuộc đời, của xã hội bất công chà đạp con người. Trên một nền tảng nhân đạo chủ nghĩa vững chãi, với tài năng điêu luyện, sự lựa chọn thể truyện thơ kết hợp nhuần nhuyễn với chất tự sự và trữ tình, với sự am hiểu đồng thời cả ngôn ngữ bình dân cũng như ngôn ngữ văn học bác học, Nguyễn Du đã sáng tạo một kiệt tác độc nhất vô nhị của văn học trung đại Việt Nam. Qua hình tượng Thuý Kiều, cái mới trong quan điểm nghệ thuật về con người và cá nhân của Nguyễn Du được bộc lộ khá rõ nét. Ông đề cao, cảm thông sâu sắc đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, bất hạnh, những người phụ nữ. Những con người vốn bị coi rẻ trong xã hội vẫn được ông đề cập đến một cách trân trọng, thương yêu. Đồng thời ông cũng khái quát bản chất tàn bạo của xã hội phong kiến, bộc lộ sự phẫn nộ đối với những kẻ chỉ vì đồng tiền mà hãm hại người khác, chà đạp lên nhâm phẩm của người khác. Ông là người đầu tiên trong văn học trung đại đã nêu lên một cách tập trung vấn đề về thân phận những người phụ nữ có sắc đẹp và tài năng văn chương nghệ thuật. Ông đã đề cập đến một số vấn đề rất mới nhưng cũng rất quan trọng của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học: xã hội cần phải trân trọng những giá trị tinh thần, do đó cần phải trân trọng những chủ thể đã sáng tạo ra những giá trị tinh thần đó. “Truyện Kiều” thấm đẫm tinh thần ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp kì diệu của tình yêu đôi lứa. Tham khảo thêm : Qua việc tìm hiểu cốt truyện và các đoạn trích trong SGK ngữ văn 9, tập I, em hãy phân tích nhân vật Thuý Kiều để làm nổi bật giá trị nhân đạo của Truyện Kiều. Kiệt tác truyền Kiều của đại thi hào Ng.Du có 2 giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Truyện Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo (nửa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX - cuối Lê đầu Nguyễn), là tiếng nói của thương cảm trước số phận (thời đại) bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, công lý, khát vọng tình yêu hạnh phúc... Tiếng nói nhân đạo ấy toát lên từ hình tượng nhân vật Thuý Kiều trong truyện Thuý Kiều. Thuý Kiều là hiện thân của nổi đau và bất hạnh. Nàng là một người con gái tài sắc, giàu tình cảm nhưng bị xã hội phong kiến vùi dập, đoạ đày. Nhân vật Thuý Kiều là hiện thân những bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến trước đây. Đời Kiều là một tấm gương oan khổ. Số phận Kiều hội đủ những bi kịch của người phụ nữ. Tuy nhiên hai bi kịch lớn nhất ở Kiều là bi kịch tình yêu tan vỡ và bi kịch bị chà đạp nhân phẩm. Tình yêu Kim Trọng- Thuý Kiều là một tình yêu lí tưởng với “Người quốc sắc,kẻ thiên tài”, nhưng cuối cùng “giữa đường đứt gánh tương tư”, “nước chảy hoa trôi lỡ làng”. Tình yêu tan vỡ và không bao giờ hàn gắn được-tuy “màn đoàn viên” có hậu về cơ bản cũng chỉ là “một cung gió thảm mưa sầu”.Hạnh phúc nàng toan được nắm trong tay thì cuộc đời cướp mất. Kiều là người luôn có ý thức về nhân phẩm nhưng cuối cùng lại bị chà đạp về nhân phẩm. Nàng trở thành “món hàng” để kẻ buôn người họ Mã “cò kè bớt một thêm hai”. Rồi nàng phải thất thân với những kẻ như Mã Giám Sinh, phải “Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”- Nổi đau nhất của cuộc đời Kiều chính là: “Thân lươn bao quản lần đầu- chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”. Có nổi đau nào lớn hơn khi con người trọng nhân phẩm, luôn có ý thức về nhân phẩm mà cuối cùng phải tuyên bố từ bỏ nhân phẩm? Đời Kiều không phải chỉ là một tấm bi kịch, mà là những chuổi dài những bi kịch nối tiếp nhau, mỗi lần nàng cố cất đầu ra khỏi bùn nhơ là một lần bị dúi xuống, bị đạp xuống sâu thêm một tầng nữa. Thuý Kiều là hiện thân của một vẻ đẹp nhan sắc, tài hoa. Sắc và tài của Kiều đã đạt tới mức lí tưởng. Thể hiện vẻ đẹp, tài năng của Kiều Ng.Du đã sử dụng bút pháp ước lệ của văn học cổ có phần lí tưởng hoá để trân trọng một vẽ đẹp. “ Một hai nghiêng nước nghiêng thành-sắc đành đồi một tài đành hoạ hai”. Tâm hồn đẹp đẽ của người con gái họ Vương thể hiện ở tấm lòng vị tha, nhân hậu. Nàng hi sinh tình yêu để cứu gia đình, cha mẹ. Khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều nhớ tới cha mẹ với những tình cảm chân thực. Nàng tưởng tượng bóng dáng tội nghiệp “Tựa cửa hôm mai” của người sinh dưỡng Nàng. Kiều day dứt không nguôi vì một nổi là không được chăm sóc cha mẹ già: “Quạt nồng ấm lạnh những ai đó giờ”. Thuý Kiều là người chí tình chí nghĩa “Ơn ai một chút chẳng quên”. Khi có điều kiện, nàng đã trả ơn, hậu tạ những người cưu mang mình, nhưng nàng vẫn thấy công ơn đó không gì có thể đền đáp nổi “Nghìn vàng gọi chút lễ thường-mà lòng phiếu mẫu mấy vàng cho cân”. Thuý Kiều là hiện thân của nổi khát vọng tình yêu tự do, khát vọng hạnh phúc và khát vọng về quyền sống. Khát vọng tình yêu tự do đậm màu sắc lãng mạn được thể hiện qua mối quan hệ Thuý Kiều- Kim Trọng. Mới gặp chàng Kim lần đầu, hai bên chưa tiện nói với nhau một lời, mà mối tình không lời ấy đã như một chén rượu nồng, khiến người ta choáng váng đê mê: “Tình trong như đã mặt ngoài còn e Chập chờn cơn tỉnh cơn mê...” Yêu nhau nàng chủ động xây dựng tương lai với người yêu. Gót chân nàng thoăn thoắt đi sang nhà Kim Trọng, cái hình ảnh nàng “Xăm xăm băng nẻo vườn khuya một mình” Thật là nhiệt thành cho một mối tình đầu trong trắng. Ng.Du đã dành tất cả tài năng và tâm huyết để viết lên một bản tình ca say đắm có một khong hai trong lịch sử văn học Việt Nam. Mối tình Kim-Kiều vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến bằng tình yêu tự do , chủ động của hai người. Khác với nhiều người phụ nữ xưa phải chịu sự sắp đặt của cha mẹ, Kiều chủ động đến với tình yêu theo tiếng gọi của trái tim. Kiều táo bạo, chủ động nhưng đồng thời cũng là người thuỷ chung nhất trong tình yêu. Khát vọng về hạnh phúc, về quyền sống đã đưa Kiều trở thành đại diện cho con người bị áp bức vùng lên làm chủ số phận của mình trong tư thế chiến tháng, tư thế chính nghĩa: “Nàng rằng: Lồng lộng trời cao Hại nhân nhân hại sự nào tại ta”. Ở đây, Thuý Kiều đẫ gặp gở bao nhiêu người phụ nữ bị áp bức khác vùng lên đòi quyền sống, đòi lẽ công bằng, trừng trị kẻ ác. “Cái thế giằng co giữa sự sống và sự chết ở trong Tấm Cám, Thạch Sanh, trong nhiều truyện nôm khuyết danh khác cũng như trong truyện Kiều, về căn bản nào có khác gì nhau, chỉ khác... Một bên nhiều khi con người mượn yếu tố thần linh phụ trợ, một bên đã vươn tới tư tưởng trị nhân dân và con người quyết định theo công lí của mình”- (Cao Huy Đỉnh) Với nhân vật Thuý Kiều Ng.Du là nhà nhân đạo chủ nghĩa rất mực yêu thương rất mực đề cao con người, đề cao những khát vọng chân chính của con người- đặc biệt là thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy bất công, tàn bạo và lễ giáo phong kiến
Xem thêm

6 Đọc thêm

GIÁO ÁN ĐỌC TIỂU THANH KÍ

GIÁO ÁN ĐỌC TIỂU THANH KÍ

Giáo án thi giáo viên giỏi môn Ngữ Văn 10 Hoạt động trải nghiệm (3’): Giáo viên chiếu một số đoạn thơ viết về tài năng, nhan sắc và số phận của nàng Kiều. Khái quát đề tài sáng tác trong các tác phẩm của ND. GV dẫn vào bài: Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du, ngoài “Truyện Kiều”, “Văn chiêu hồn” viết bằng chữ Nôm, còn ba tập thơ viết bằng chữ Hán gồm 294 bài. Nhưng dù viết bằng chữ Nôm hay chữ Hán thì cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Du vẫn nhất quán hướng tới những con người bị áp bức, bị chà đạp với tình thương mênh mông và trân trọng, ngưỡng mộ những tài hoa, trí tuệ, những vẻ đẹp lý tưởng bị vùi dập. “Độc Tiểu Thanh ký” là một bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du mang đậm cảm hứng chủ đạo này. Hoạt động 1: Tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm. (7’) GV chiếu một số hình ảnh về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm của Nguyễn Du và giới thiệu vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của ông. HS: Quan sát, lắng nghe. GV: Vì sao Nguyễn Du lại quan tâm đặc biệt tới người phụ nữ như vậy? (Bản chất xã hội) > Chốt kiến thức. GV: Trình bày hoàn cảnh ra đời bài thơ? HS: Suy nghĩ trả lời GV: Tiểu Thanh là ai? Tiểu Thanh có cuộc đời và số phận như thế nào? Nhan đề bài thơ có mấy cách hiểu? HS: Suy nghĩ và trả lời. GV: Chốt về cuộc đời của nàng Tiểu Thanh, nói thêm về cách hiểu nhan đề bài thơ. (Có hai cách hiểu: + Đọc tập thơ của Tiểu Thanh + Đọc tập truyện viết về Tiểu Thanh) GV: Chú ý về thể thơ và bố cục cho học sinh.
Xem thêm

20 Đọc thêm

Tìm hiểu văn học Chử Đồng Tử

TÌM HIỂU VĂN HỌC CHỬ ĐỒNG TỬ

Một vài điều cần biết về chuyện cổ tích 1. Cổ tích là tích cũ, chuyện xa xưa, ra đời khi xã hội có áp bức, bóc lột. Cổ tích kể về những truyện mang yếu tố hoang đường, sự tích kì lạ về con người, hoặc thế giới muôn loài, chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc. 2. Người ta chia truyện cổ tích thành 3 loại: - Truyện cổ tích loài vật (Quạ và Công; Con thỏ tinh khôn...) - Truyện cổ tích thần kỳ (Chử Đồng Tử, Cây khế…) - Truyện cổ tích sinh hoạt (Chàng ngốc, Cái cân thuỷ tinh...) 3. Cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giàu và nghèo, thống trị và bị thống trị, chính nghĩa và phi nghĩa... Các bài học về ở hiền gặp lành, ác giả ác báo, tham thì thâm... rất dễ bắt gặp trong truyện cổ tích. Cổ tích nêu cao khát vọng về tự do và hạnh phúc, công bằng ở đời. Truyên "Chử Đồng Tử" 1. Tóm tắt. Ngày xưa ở nàng Chử Xá có hai cha con Chử Cù Vân và Chử Đồng Tử, nghèo khổ, mò cua bắt ốc, chỉ có một chiếc khố chung nhau, hễ ai đi đâu thì đóng: Chử Cù Vân ốm sắp chết dặn con cứ táng trần cho cha. Nhưng khi Chử Cù Vân qua đời thì Chử Đồng Tử đã lấy khố đóng cho cha rồi mới chôn cất. Ngày ngày Chử Đồng Tử vẫn xuống sông mò cua bắt cá kiếm sống. Thuở ấy có nàng Tiên Dung, công chúa của vua Hùng thứ ba, nhan sắc tuyệt trần, đã 17, 18 tuổi mà không chịu lấy chồng, chỉ thích chèo thuyền đi xem sông núi. Một hôm, thuyền của nàng đến khúc sông làng Chử Xá, thấy cảnh sông nước bờ bãi xinh đẹp, nàng bèn ra lệnh cho thị nữ vây màn tứ vi vào một nơi có bóng mát để tắm. Không ngờ nơi đó Chử Đồng Tử đang náu mình dưới cát. Tiên Dung giội nước một lúc, nàng giật mình thấy một chàng trai trồi lên. Nàng hỏi duyên cớ thì Chử Đồng Tử nói vì không có quần áo, thấy thuyền quan quân thì sợ nên phải vùi mình xuống cát để ẩn. Tiên Dung nói với Chử Đồng Tử : "Tôi đã nguyện không lấy chồng, nay duyên trời run rủi, lại gặp chàng chốn này mới biết cưỡng không được với trời". Nàng sai thị nữ đem áo quần cho Chử Đồng Tử và sửa soạn tiệc hoa. "Chử Đồng Tử bối rối chối từ, Tiên Dung nói: "Thiếp với chàng là tự trời xe duyên, việc gì mà từ chối!". Hai người nên vợ nên chồng từ đấy. Vua Hùng được tin giận lắm, ra lệnh cho quân quan, người hầu của Tiên Dung phải về kinh đô. Nàng sợ cha, đành cùng chồng ở lại làm ăn. Mấy năm sau, cuộc sống trở nên thịnh vượng. Nàng để chồng ra biển tìm vật lạ đem về đổi lấy các thứ khác. Chử Đồng Tử lên đường. Đến một nơi núi non hữu tình, thấy cái am nhỏ, chàng leo lên núi, may thay gặp sư Phật Quang. Thấy Chử Đồng Tử là người chân thật, sư Phật Quang truyền cho phép lạ, hơn một năm sau thành tài. Chử Đồng Tử xuống núi trở về nhà, lạy tạ nhà sư và được Phật Quang ban cho một cái gậy, một nón có phép mầu nhiệm biến hoá. Chử Đồng Tử đem phép mầu truyền lại cho Tiên Dung rồi hai vợ chồng du ngoạn cảnh sông núi. Có lần trời tối giữa đường, hai vợ chồng cắm cái gậy xuống đất, úp nón lên đầu gậy, hai người tựa vào nhau dưới nón mà ngủ. Nửa đêm tỉnh giấc, hai vợ chồng thấy mình đang sống trong một cung điện tráng lệ... Tin lạ ấy bay đến tai vua Hùng. Vua cả giận, ngỡ là Chử Đồng Tử và Tiên Dung làm phản bèn sai quân quan đi đánh dẹp. Binh mã triều đình chưa qua sông thì trời tối phải dừng lại. Đêm ấy, Tiên Dung và Chử Đồng Tử cùng bay lên trời. Mưa to, gió lớn, cung điện cũng biến mất. Về sau, bãi ấy gọi là bãi Tự Nhiên, đầm ấy gọi là đầm Nhất Dạ. Nghe nói, thời nước ta bị tàu đô hộ, Chử Đồng Tử đã cưỡi rồng xuống giúp Triệu Việt Vương một cái vuốt rồng cắm lên mũ đầu mâu... Nhờ thế mà quân ta phản công, chém được tường giặc Lương là Dương Sằn, khôi phục lại đất nước. 2. Ý nghĩa. - Chử Đồng Tử " là một truyện cổ tích thần kì, có nhiều dị bản đậm sắc thần kỳ" Nó cũng thuộc đề tài về những kẻ hèn mọn "lấy tiên, lấy công chúa... được kể qua nhiều truyện cổ tích thần kì. Truyện "Chử Đồng Tử" cũng vậy. Chử Đồng Tử mò cua, bắt cá, nghèo khổ, một cái khố cũng không có, nhưng rất hiếu thảo, chân thật. Hạnh phúc cầm tay rồi mà chàng vẫn bối rối, muốn chối từ. Với Tiên Dung thì nàng "gặp" và lấy Chử Đồng Tử là do "duyên trời run rủi", là " tự trời xe duyên". Qua đó, ta thấy truyện Chử Đồng Tử nói lên quan niệm của nhân dân ta về vấn đề hôn nhân là do duyên số, đồng thời thể hiện ước mơ tự do và dân chủ trong tình yêu, trong xây dựng hạnh phúc lứa đôi. Tiên Dung đã chủ động kết duyên với Chử Đồng Tử vượt qua lễ giáo và đẳng cấp, vượt qua mọi thử thách để bảo vệ hạnh phúc. Tình tiết Chử Đồng Tử cưỡi rồng xuống hạ thế giúp Triệu Việt Vương chiếc vuốt rồng linh nghiệm... để quân ta chém được tướng giặc là Dương Sằn, Tổ quốc được giải phóng, đã làm cho truyện cổ tích này thêm vị truyền thuyết thể hiện sâu sắc lòng yêu nước của nhân dân ta. Con người Việt Nam dù đi đâu làm đâu cũng nhớ về cội nguồn, tìm mọi cách để giúp nước. Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã sống và hành động như vậy. Nhà sư Phật quang, cái nón và chiếc gậy nhiệm màu, cung điện tự mọc lên, tự mất đi, Chử Đồng Tử và Tiên Dung bay lên trời, Chử Đồng Tử giúp Triệu Quang Phục cái vuốt rồng.... đó là yếu tố hoang đường, kì diệu... làm cho truyện cổ tích này vô cùng hấp dẫn. Các địa danh: làng Chử Xá, bãi Tự Nhiên, đầm Nhất Dạ... nay vẫn còn đó, làm cho truyện cổ tích "Chử Đồng Tử" tuy mang màu sắc hư ảo, thần kì mà như thật, có thật. Rất thú vị về những tên người, tên đất... ấy.
Xem thêm

2 Đọc thêm

ĐỌC CUỐN SÀI GÒN NĂM XƯA CỦA VƯƠNG HỒNG SỂN NGUYỄN HIẾN LÊ

ĐỌC CUỐN SÀI GÒN NĂM XƯA CỦA VƯƠNG HỒNG SỂN NGUYỄN HIẾN LÊ

ĐỌC CUỐN “SÀI GÒN NĂM XƢA” CỦA VƢƠNG HỒNG SỂNNguyễn Hiến Lênăm 1780, Mạc Thiên Tứ mất, đất Hà Tiên sát nhập vào cơ đồ chúa Nguyễn. Tác giả nhấn mạnh vàosự bình định và khai phá cõi Nam, vào công lao của các chúa Nguyễn, của Nguyễn Hữu Kính,Nguyễn Cƣ Trinh, và họ Mạc ở Hà Tiên.Nữ sĩ Mộng Tuyết và học giả Vƣơng Hồng Sển, mỗi ngƣời dùng một thể tài, một nhà viết truyện,một nhà viết sử, hai nhà cùng một lúc nhắc nhở công lao tổ tiên một cách cảm động, sự không hẹnmà gặp đó cho ta thấy rằng phong trào ôn cố lúc này đƣơng lên. 2 [2]Trong phần này, Vƣơng quân đƣa ra một nhận xét rất xác đáng là tổ tiên chúng ta đã không chiếmđất Nam này của ngƣời Miên vì hai lẽ:- Đất này trƣớc kia không phải của ngƣời Miên mà của ngƣời Phù Nam.- Khi tổ tiên ta tới đây thế kỷ 17 thì tuy đã có ngƣời Miên, nhƣng dân thƣa đất rộng, Việt Miên thahồ khai phá không hề xảy ra những sự xung đột để có thể nói rằng dân tộc này tranh của dân tộckhác.- Qua phần thứ nhì, tác giả bắt đầu nói về Sài Gòn. Ông xét vết tích những dân tộc đã ở trên khu đấtmà ngày nay là Sài Gòn, tức là ngƣời Phù Nam, ngƣời Miên, ngƣời Trung Hoa, và tổ tiên ta, để tìmxem danh từ Sài Gòn từ đâu mà ra. Ông kết luận rằng Sài Gòn thời Miên là Prei No**r 3 [3] (nghĩalà xứ ở giữa rừng); Trung Hoa tới lập một khu buôn bán gọi là Đề Ngạn (Chợ Lớn ngày nay), vàngƣời Việt tới lập một khu khác, gọi là Bến Thành (Sài Gòn ngày nay).Đề Ngạn mà phát âm theo giọng Quảng Đông thì nghe ra “Thầy Ngồnn” hay “Thì ngồnn” hay “Tàingòn”. Sài Gòn có lẽ do đó mà ra, chứ không phải do Prei No**r.Tôi không biết các sử cũ có viết là Đề Ngạn hay không, chỉ thƣờng thấy ngày nay nhiều ngƣời viếtchữ Hán chữ Đê Ngạn với Đê: bộ thổ, nghĩa là cái đê, còn Đề Ngạn với Đề: bộ thủ, nghĩa là nắm lấy4 [4] . Nhƣng chắc là Vƣơng quân biết rõ hơn tôi.- Trong phần thứ ba, tác giả nghiên cứu vị trí ba thành xây ở Sài Gòn hồi xƣa và ghi lại những lễ
Xem thêm

9 Đọc thêm

Phân tích đoạn trích "Chị em Thúy Kiều" của Nguyễn Du

PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH "CHỊ EM THÚY KIỀU" CỦA NGUYỄN DU

Nguyễn Du là một thi hào dân tộc ta. Tên tuổi của ông gắn liền với tác phẩm “Truyện Kiều” - kiệt tác số một của văn học trung đại Việt Nam. Truyện Kiều là một bài ca lớn về giá trị nhân đạo, một bản cáo trạng nghiệm khắc về cái ác, cái phản nhân bản, một tập đại thành của nghệ thuật văn chương . Chỉ xét riêng về nghệ thuật miêu tả nhận vật, Nguyễn Du đã đạt đến đỉnh cao chói lọi nhất trong lịch sử tiểu thuyết bằng thơ trích đoạn Chị em Thúy Kiều đả thể hiện được trọn vẹn vè đẹp, tài năng va đức hạnh của hai chị em nàng Thúy kiều. Chỉ bằng 24 câu thơ lục bát, Nguyễn Du đã miêu tả cả tài, sắc và đức hạnh của hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều với tất cả lòng quý mến, trân trọng của nhà thơ. Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” nằm trong phần : “Gặp gỡ và đính ước”, sau phần giới thiệu gia cảnh gia đình Thuý Kiều. Với nhiệt tình trân trọng ngợi ca, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp nghệ thuật ước lệ cổ điển, lấy những hình ảnh thiên nhiên để gợi, tả, khắc hoạ vẻ đẹp chị em Thuý Kiều thành những tuyệt sắc giai nhân. Trước hết, Nguyễn Du cho ta thấy vẻ đẹp bao quát của hai chị em Thuý Kiều trong bốn câu đầu: Đầu lòng hai ả tố nga, Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân. Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười. Nhà thơ dùng từ Hán Việt “tố nga” chỉ những người con gái đẹp tinh tế để gọi chung hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều. Hai chị em được ví von có cốt cách thanh cao như hoa mai, có tâm hồn trong sáng như tuyết trắng. Mỗi người có vẻ đẹp riêng và đều đẹp một cách toàn diện. Từ cái nhìn bao quát ấy, nhà thơ đi miêu tả từng người. Bằng nghệ thuật ước lệ tượng trưng, liệt kê, nhân hoá, tác giả miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân là vẻ đẹp trang trọng, quý phái, phúc hậu: Sau khi giới thiệu vẻ dẹp chung về hình thức lẫn tâm hồn của hai chị em bằng bốn câu thơ , Nguyễn Du bắt đầu miêu tả vẻ đẹp riêng của Thúy Vân : Vân xem trang trong khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười ngóc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc , tuyêếtnhường màu da, Chỉ vài nét chấm phá, bức chân dung của Thúy Vân hiện lên thật nghiêm trang , đứng đắn và phúc hậu. Gương mặt của nàng đầy đặn như mặt trăng tròn. chân mày của nàng đẹp như mày của con bướm tằm. Đuôi mắt của nàng đẹp như mắt phượng . miệng của nàng nở nụ cười tươi như đóa hoa đang khoe sắc , tỏa hương. Tiếng nói của nàng trong như ngọc. Những làn mây trên không trung vẫn không đẹp bằng mái tóc mượt mà của nàng. Tuyết là biểu tượng của màu trắng nhưng không nhường màu cho da mịn màng, trắng trẻo của nàng. Bằng cách phối hợp các biện pháp nghệ thuật ước lệ, tượng trưng, ẩn dụ, nhân hóa, liệt kê, đối ngữ, thậm xưng và cách dùng các từ láy, từ Hán Việt một cách điệu luyện, Nguyễn Du không những miêu tả được vẻ đẹp ưa nhìn của Thúy Vân mà còn dự báo được tương lai của nàng. Đặc biệt, các từ " thua ", "nhương " cho chúng ta thấy số phận bình an, tốt lành của Thúy Vân trên những chặng đường đời . Còn đây là bức chân dung của nàng kiều : Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn Làn thủy tinh , nét xuân sơn Cặp mắt của nàng trong trẻo và long lanh như làn nước mùa thu. Còn lông mày lại thanh nhẹ, tương đẹp như nét núi mùa xuân nghiêng nghiêng, duyên dáng .đây cũng là vẻ đẹp ước lệ, tượg trưng thường gặp trong thơ văn cổ. Những nghệ thuật nhân hóa , thậm xưng, so sánh, hoán dụ, ẩn dụ, điển cố,liệt kê, đối ngữ, tương hỗ đã tiếp tục đưa sắc đẹp của Thúy kiều đến tuyệt điỉnh, khiến cho : Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh "Hoa" và "liễu" là những loài vô tri, vô giác, vậy là phải "ghen" , "hờn", tức giận trước vẻ đẹp "sắc sảo mạn mà", "mười phân vẹn mười" của nàng. Còn đối với con người , nàng Kiều chỉ cần ngoảnh lại một cái thì thành người ta bị xiêu, ngoảnh lại cái nữa thì nước người ta bị đổ Chao ôi ! Thúy Kiều đúng là một tuyệt thế giai nhân Nhưng qua nghệ thuật miêu tả vẻ đẹp lộng lẫy ,đài các, kiêu sao , có sức cuốn hút mãnh liệt của Thúy Kiều . Nhất là các từ "ghen" , "hờn" , Nguyễn Du đã hé mở cho chúng ta thấy những cơn sóng gió bảo tố của cuộc đời như chờ trực để vùi dập thân phận của nàng . Nếu như ở Thúy Vân , Nguyễn Du chỉ miêu tả sắc đẹp thì ở Thúy Kiều , nhà thơ vưa miêu tả nhan sắc , vừa ca ngợi tài năng : Sắc đành tài một , tại đành hoạ hai Như vậy, về sắc thì đành chỉ có một mình Thúy Kiều về tài thì may ra, họa hoằn lắm mới có người thứ hai. Thứ nhất là trí thông minh sẵn có do tạo hóa ban tặng: Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm Cung thương lầu bậc ngũ âm , Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương . Khúc nhà tay lựa nên chương . Xét riêng về tài đánh đàn thì Thúy kiều vượt xa những người khác . Những nốt cung , thương , giốc , chũy , vũ trong âm giai của nạhc cổ trung Quốc và Việt Nam được nàng phối hợp một cách nhuần nhuyễn , tinh thông , dạt dào cảm xúc . Đặt biệt , một bản nhạc nhan đề là " Bạc mệnh " - đưa con tinh thần của Thúy Kiều - đã tác động vào cõi sâu thẳm trong tâm hồn của con người , khiến ai thưởng thức cũng phải đau khổ , sâầunão đến rơi nước mắt , đến buốt nhói tim . Phải chăng " một thiên bạc mệnh lại càng não nhân " ấy như muốn dư báo những đâu khổ , bất hạnh chồng chất trong suốt 15 năm ròng của đời người con gái tài sắc vạn toàn ? Nhìn chung , Nguyễn Du có dụng ý rất rõ trong việc nhấn mạnh tài sắc của Thúy Kiều , nhà thơ đã cực tả Thúy vân , tưởng như sắc đạp của Thúy Vân không ai hơn được nữa , để rồi sau đó , Thúy Kiều xuất hiện thì Thúy Vân trở thành một cái nền làm tôn sắc đẹpcủa Thúy Kiều là tuyệt đỉnh . Còn tài của nàng cũng là tuyệt đỉnh . ( Giáo sư Nguyễn Lộc ) Có thế nói rằng , lần đầu tiên trong lịch sử văn học nước nhà , hình ảnh người phụ nữ hoàn mĩ về hình thức lẫn tâm hồn được thể hiện dưới ngòi bút của thiên tài Nguyễn du một cách say sưa , nồng nhiệt ,tập trung và trân trọng nhất. Đó là một cái nhìn của con gnười có tấm lòng nhân dạo mênh mông như ngọn nước triều dâng . Nguyễn du dã mở đườngbcho tư tưởng của mình đi trước thời đại . Bởi lẽ , trong xã hôi phong kiền đầy rẫy nhưng bất công , ngang trái , hà khắc , phụ nữ luôn bị lép vế , bị ruồn rẫy , chà đạp , xô đẩy đến bức đường cùng . Một lần nữa ở bốn câu kết thúc của trích đoạn Chị em Thúy Kiều , Nguyễn Du miêu tả cuộc sống phong lưu, êm đềm, khuôn phép , mẫu mực và ngợi ca đức hạnh của cá hay chị em : Phong lưu rất mực hồng quần , Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cặp kê , Em đềm trướng rủ màn che . Tường đông ong bướm đi về mặc ai Mặc dù đã đến tuổi búi tóc cài trâm , có thể lấy chồng nhưng Thúy Vân và Thúy Kiều vẫn sống hòa thuận , vui vẻ trong cảnh trướng rủ màn che , không tơ tươởngđến những kẻ dđ tìm tình yêu , đi ve vãn con gái như ong bướm tìm hoa . Chính những nét hồn nhiên , trong sáng . thơ ngây đã nuôi dưỡng , bồi đắp cho sự hình thành - phát triển nhân cách và ý thức làm người cao cả của hai chị em sau này , đặc biệt là Thúy Kiều . Tóm lại . bằng một thế giới ngôn ngữ phong phú , tính tế , kỳ diệu , bằng một bút pháp điêu luyện, bằng một thiên tài khám phá tuyệt vời kết hợp với lòng thương yêu của con người , nhất là người phụ nữa, Nguyễn du vẽ lên bức chân dung vừa điển nhã , vừa có sức gợi cảm mãnh liệt của Thúy Vân và Thúy Kiều trong trích đoạn chị em Thúy Kiều. Có thế nói rằng , lần đầu tiên trong lịch sử văn học nước nhà , hình ảnh người phụ nữ hoàn mĩ về hình thức lẫn tâm hồn được thể hiện dưới ngòi bút của thiên tài Nguyễn du một cách say sưa , nồng nhiệt ,tập trung và trân trọng nhất. Càng nâng niu , quý trọng truyện Kiều ,chúng ta càng cảm phục tài năng và đức độ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Đó là một cái nhìn của con người có tấm lòng nhân dạo mênh mông như ngọn nước tràn ly
Xem thêm

3 Đọc thêm

ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT

ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT

ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT Ở ẦU 1. í do chọn đề tài Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, nữ sĩ Mộng Tuyết (1914- 2007) tuy chỉ giữ một vị trí khiêm nhường, song với những đóng góp loại biệt cho lịch sử văn học dân tộc và nền văn hóa Nam Bộ, bà đã sớm tạo ra cho mình một chỗ đứng riêng không ai thay thế được. Tên tuổi Mộng Tuyết sớm được công chúng trong Nam ngoài Bắc biết đến qua những tác phẩm in trên các tờ báo lớn đương thời như: Nam P on tạp 0c í, Tiểu t u ết t ứ Năm, H Nội báo, Đôn Tâ , Con On , S n , Trun Bắc c ủ n ật, Tri Tân… đặc biệt là qua giải thưởng cao quý do tổ chức văn chương danh giá nhất lúc bấy giờ là Tự lực văn đoàn trao tặng cho tập thơ “P ấn ươn rừn ” của nàng thiếu nữ nơi cực Nam Tổ quốc. Những năm đầu thế kỷ XX, khi nền văn học Quốc ngữ còn phôi thai, Mộng Tuyết đã là một trong những nhà thơ nữ hiếm hoi bên cạnh những Ngân Giang, Đạm Phương, Tương Phố, Nguyễn Thị Kiêm, Mộng Sơn, Vân Đài, Hằng Phương, Anh Thơ. Trong suốt 80 năm cầm bút, nữ sĩ đã tạo được cho mình một tấm hộ chiếu tâm hồn riêng, một phong cách nghệ thuật riêng. Những tác phẩm của bà, dù thơ hay văn xuôi đều mang vẻ đẹp trong sáng của ngôn ngữ, hình ảnh; đều thể hiện sự chân thật trong cảm xúc, khiến cho người đọc vô cùng thích thú. Riêng về thơ của bà, Hoài Thanh và Hoài Chân, trong cuốn T n ân V ệt Nam đã có nhận xét như sau: “…Còn t ơ, oặc n ẹ n n í ởn, oặc m súc lâm l , oặc n ớ n un bát n át, oặc xôn xao rạo rực, tổn c i l lời một t iếu nữ, k i tự tìn , k i đùa iỡn, k i tạ lòn n ười u...” [47,359] Đông Hồ, người thầy – người bạn đời của nữ sĩ, trong lời tựa cuốn D má trăn non của nàng thì cho rằng: “Văn Mộn Tu ết đẹp cũn n ư t ơ Mộn Tu ết”[64,7]. Đặt cây bút tài hoa này trong cái nôi văn học miền Nam, ông càng làm rõ thêm vị trí quan trọng của tác giả: “Miền Nam, miền ít văn c ươn , ít t i oa tự 2 xưa na , n ười con trai a c ữ đ l iếm m n ười con ái a c ữ lại c n iếm lắm” [64,7]. Những ý kiến trên cho thấy, đóng góp của bà thật sự đáng quý, sự nghiệp văn chương của bà xứng đáng được giới thiệu rộng rãi tới toàn bộ công chúng. Việc nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của nữ sĩ Mộng Tuyết không chỉ giúp người đọc thấy rõ hơn những đóng góp đặc sắc của cây bút nữ đất mũi Hà Tiên mà còn thấy được vị trí của nữ phái trên văn đàn và cũng sẽ tìm thấy được những hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn những người dân trên mảnh đất phương Nam, qua đó góp phần lấp đầy những khoảng trống trong lịch sử văn học nước nhà; đồng thời còn là một cách hữu hiệu để mỗi người đọc có thể di dưỡng tâm hồn. ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT ĐỀ TÀI SỰ NGHIỆP THƠ VĂN CỦA NỮ SĨ MỘNG TUYẾT
Xem thêm

109 Đọc thêm

Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong truyện kiều của nguyễn du qua một số đoạn trích đã học

VẺ ĐẸP NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU QUA MỘT SỐ ĐOẠN TRÍCH ĐÃ HỌC

Xưa nay, nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều , người ta thường hay chú ý trước hết đế những chỗ dùng từ chính xác, từ hay , tinh tế thường được gọi là lối dùng từ đắt của Nguyễn Du ,cũng như cách dùng hư từ , khối lượng từ đồng nghĩa , từ có phong cách khẩu ngữ, từ mang phong vị ca dao , thành ngữ, tục ngữ ... Ví như hai từ đầy đặn , nở nang trong câu thơ : Khuôn trăng đầy đặn / Nét ngài nở nang khi tác giả dùng để miêu tả Thuý Vân. Hai từ đó không chỉ đơn thuần là miêu tả khuôn mặt tròn trịa ,đầy đặn như mặt trăng đêm rằm của nàng Vân , cũng như cả cái nét ngài minh bạch ,rõ ràng , uốn cong thanh tú của nàng mà đó còn là sự đầy đặn, mỹ mãn của số phận , của cuộc đời nàng . Hai chữ thua , nhường trong câu thơ Mây thua nước tóc , tuyết nhường màu da dùng để chỉ thiên nhiên và cũng chính là tạo hoá sẽ chịu thua mái tóc mây, dài, xanh mượt, màu da trắng như tuyết để nhường bước cho nàng đi trên con đường bằng phẳng , không hề có chông gai . Hay như chữ thông minh trong câu Thông minh vốn sẵn tính trời dùng để nhấn mạnh trí tuệ thiên bẩm của nàng Kiều mà nhiều người cho rằng đó là một nhãn tự nhờ cách nhà thơ đưa từ này lên đầu câu , nó không chỉ nhằm khắc hoạ một tính cách mà là cả một nhân cách . Kiều đẹp sắc sảo, mặn mà - Một vẻ đẹp vừa rực rỡ , vừa hấp dẫn , rất có hồn , điều đó đã quá rõ rồi. Nhưng Kiều chiếm được cảm tình nơi bạn đọc không phải vì cái vẻ sắc nước hương trời ,cùng tài năng hiếm có cuả nàng , mà chủ yếu là phẩm cách tuyệt vời và một trí tuệ hơn người . Trong tác phẩm Truyện Kiều , Nguyễn Du đã nhiều lần viết về tài hoa và trí tuệ theo kiểu ấy . Chẳng hạn như câu Anh minh phát tiết ra ngoài … Điều đó cho thấy ánh sáng trí tuệ chính là yếu tố nổi bật trong tài hoa của Thuý Kiều . Còn như từ não trong câu Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân . Ở đây , Nguyễn Du đã sử dụng từ não rất chính xác .Nội hàm ý nghĩa của từ này diễn đạt nỗi buồn đã có sẵn tự trong lòng . Nó không chỉ đơn thuần là sầu , buồn , là những từ diễn đạt nỗi buồn trên sắc diện con người mà là não (não lòng , não nuột) . Âm thanh của từ ngữ này dường như xoáy sâu vào tâm can người đọc . Bởi lẽ , khúc nhạc tiêu tao của thiên bạc mệnh ấy đã từng khiến cho biết bao người rung cảm, sầu não theo từng khúc nhạc não nề . Nó đã từng khiến cho Kim Trọng nao nao lòng người , Thúc Sinh phải tan nát lòng và cho cả trái tim vô tình, sắt đá của quan Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến cũng phải cảm thương mà rơi châu nhỏ lệ . Cung đàn bạc mệnh của Kiều đã trở thành một hình tượng nghệ thuật thể hiện tâm hồn đa sầu, đa cảm và số phận bi thương của Kiều là vì thế . Cả câu Não người cữ gió tuần mưa, thì từ não cũng được dùng với ý nghĩa như vậy . Nhiều người cho rằng Nguyễn Du sử dụng từ ngữ rất đắt . Đắt vì nhiều khi chỉ một chữ thôi đã có thể lột tả được bản chất bên trong của con người . Đó là trường hợp câu thơ Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao mà nhà thơ dùng để khắc hoạ nhân vật Mã Giám Sinh lúc đến hỏi Kiều về làm vợ . Một kẻ đã ngoài tứ tuần mà Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao thì thật nực cười và kỳ cục đến không thể chấp nhận được. Bởi nhẵn nhụi là từ ngữ người ta thường dùng để chỉ độ trơn , bóng , láng của đồ vật , chứ không phải dùng để chỉ tính chất trang nhã , lịch sự của con người . Còn từ bảnh bao thường dùng để khen trẻ em có quần áo đẹp lại dùng cho Mã Giám Sinh thì lại có ý chế giễu , mỉa mai . Một kẻ đã nhiều tuổi nhưng lại cố ý tô vẻ , tỉa tót thì lại trở nên kệch cỡm , giả tạo và có phần trai lơ , đàng điếm . Đặc sắc nhất vẫn là cách dùng từ trong câu Ghế trên ngồi tót sỗ sàng - một cử chỉ vội vàng , khiếm nhã khiến Nguyễn Du phải hạ ngay một từ sỗ sàng . Cử chỉ ấy không phù hợp với một người đi hỏi vợ và lại càng không đúng với phẩm cách văn hoá của một giám sinh . Nó qúa bất ngờ so với sự chờ đợi của người đọc, quá phi lý so với vai trò của một sinh viên trường Quốc Tử Giám . Cử chỉ này là tín hiệu đầu tiên để bước đầu khẳng định bản chất của Mã Giám Sinh . Tự định vị một cách vô lễ , trịch thượng, chướng mắt trên chiếc ghế của người bề trên ( những bậc cao niên ) càng cho thấy tính chất vô học và nhất là tâm lý hợm cúa của kẻ buôn người giàu có . Chỉ một chữ tót đã phủ nhận vai trò giám sinh của gã họ Mã . Như thế cũng chưa đủ . Cái cách cò kè thêm bớt đến cả một giờ lâu rồi mới ngã giá vàng ngoài bốn trăm thì Nguyễn Du đã lột tả được bộ mặt gớm ghiếc, giả dối của Mã Giám Sinh . Hắn đã hiện nguyên hình là một gã con buôn lọc lõi chỉ cần biết một điều là làm sao mua được món hàng với giá hời nhất , chỉ cần một vốn mà có đến bốn lời là được .Chỉ với một từ cò kè rất con buôn Nguyễn đã cho ta thấy được bộ mặt tàn ác, dơ bẩn nhất của bọn buôn thịt bán người mà Mã Giám Sinh là đại diện . Và trong đoạn đời đầu tiên của bước lưu lạc, lúc Kiều được đưa ra ở lầu Ngưng Bích . Nàng đã sống trong một tâm trạng buồn tủi , chua xót đến cực độ . Nàng đâu còn cơ hội khoá kín tuổi xuân của mình nữa . Nàng không còn giữ được chữ trinh đối với chàng Kim thì hai chữ khoá xuân lại đầy mỉa mai đối với nàng . Thực chất nàng đang bị Tú Bà giam lỏng để chờ ngày kén chồng tử tế , nhưng thực ra là mụ đang rắp tâm thực hiện một âm mưu mới . Trong cảnh vò võ cô đơn , trơ trọi nàng đã tưởng nhớ đến người yêu . Chỉ một từ tưởng mà nói được bao điều . Nếu mơ là luôn nghĩ đến những kỉ niệm , những điều tốt đẹp về nhau ; hay nhớ cũng là nghĩ đến những điều tốt đẹp nhưng lại có thêm ý mong mỏi có ngày gặp lại thì tưởng cũng là mơ là nhớ nhưng với Kiều chỉ là tưởng , chỉ xem mối tình đầu trong trắng, ngây thơ của mình là một kỉ niệm đẹp , không dám mơ tưởng những gì xa xôi lại càng không dám mong gì ngày gặp lại . Nhớ người yêu , Kiều cũng rất nhớ về cha mẹ . Nhưng Nguyễn Du không dùng thương hay nhớ mà lại dùng một chữ xót ở đầu câu thơ . Bởi xót đâu chỉ đơn thuần là nhớ , là thương mà còn bao hàm cả nỗi giận đời và trách mình . Ngay cả việc sử dụng điệp ngữ buồn trông ở cuối đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích ta càng thấy Nguyễn Du không hề vô tình khi đặt chữ buồn đứng trước chữ trông .Buồn mà trông ,buồn rồi mới trông là nỗi buồn thấm sâu tự đáy lòng Kiều để rồi trông vào mọi vật nàng chỉ thấy thấp thoáng mơ hồ , tàn tạ, héo uá như chính cuộc đời của nàng cùng với nỗi lo sợ hãi hùng về một tương lai mờ mịt . Thật đúng là Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ . Đọc Truyện Kiều ta còn bắt gặp được nhiều câu thơ , nhiều từ ngữ đặc sắc như thế . Chữ cậy em và chữ chịu lời trong câu 723 dùng thật khéo . Cụ Nguyễn Du dùng chữ cậy là tuyệt hay vì nếu thay chữ nhờ và chữ nghe lời vào thì câu thơ sẽ là Nhờ em em có nghe lời thành ra quá áp đặt , câu thơ trở nên tầm thường, nhạt nhẻo , không còn ý vị gì nữa . Vì điều Kiều sắp nói cho em biết thuộc về chữ tình nên chưa chắc em đã nhận lời cho . Do vậy , dùng cậy và chịu lời là hợp lý nhất . Chữ tốc dùng trong câu 1.133 Tú Bà tốc thẳng tới nơi lúc sở khanh đưa Kiều chạy trốn là tuyệt khéo . Chỉ mới nghe câu thơ ấy thôi cũng đủ biết rằng mụ Tú Bà giận dữ lắm , dáng bộ hung hăng, vội vàng lắm , mặc dù điều đó nằm trong âm mưu của mụ nó hoàn toàn khác cái vẻ thong dong khi mụ dạy Kiều nghề chơi. Một chữ tốc thôi nhưng có sức mạnh lạ thường . Như chỗ nàng Kiều vượt tường để trốn khỏi Quan Âm Các của nhà họ hoạn Cất mình qua ngọn tường hoa – câu 2.227 . Chữ cất dùng ở đấy thật tuyệt . Vì ý nó mơ hồ ,ta không thể biết được là nàng Kiều văng mình qua tường hay trèo qua tường để trốn đi . Hay như chữ chặn trong cặp câu thơ 3.181 , 3.182 trong màn Đoàn viên : Thân tàn chặn đục khơi trong/ Là nhờ quân tử khác lòng người ta . Nguyễn Du dùng chặn mà không dùng gạn . Bởi vì từ chặn được dùng với nghĩa chặn dòng đục trong quá khứ của cuộc đời Kiều . Quả thật với hoàn cảnh Kiều lúc bấy giờ thì không thể gạn đục khơi trong được . Chữ chặn vì thế mà có giá trị biểu cảm cao . Nhìn chung, từ ngữ Truyện Kiều không chỉ hay mà còn rất đắt , rất độc đáo. Nhiều chữ được dùng đi, dùng lại rất nhiều lần nhưng với một nét nghĩa mới nên không thấy nhàm chán như 63 trường hợp sử dụng từ thân, 59 từ xuân, 14 từ ngựa , rất nhiều lần sử dụng chữ tâm và chữ tài . Ngay như chữ chút là một uyển ngữ rất khó dùng , thế mà Nguyễn Du sử dụng được 47 chữ như thế … 1. Vấn đề sử dụng từ ngữ ước lệ trong Truyện Kiều : Là nhà thơ thiên tài của dân tộc , Nguyễn Du là người chiụ ảnh hưởng rất lớn thi pháp cổ điển về khắc hoạ , xây dựng hình tượng nhân vật . Vì thế ngôn từ ước lệ được sử dụng nhiều trong Truyện Kiều . Cũng giống như người xưa , nhà thơ đã lấy vẻ đẹp của thiên nhiên như tuyết - mai , trăng - hoa, mây - tuyết , thu thuỷ - xuân sơn , hoa - liễu …Làm chuẩn mực , làm thước đo giá trị , vẻ đẹp của con người . Tác giả đã dùng bút pháp cực tả tuyệt đối hoá , lý tưởng hoá nhan sắc cốt cách hai chị em Kiều . Đó là Mai cốt cách , tuyết iình thần , khuôn trăng , nét ngài , hoa cười ngọc thốt , mây thua, tuyết nhường , làn thu thuỷ, nét xuân sơn , hoa ghen, liễu hờn …Để khắc hoạ cái cốt cách thanh tao , mảnh dẻ như mai ; tinh thần trong trắng như tuyết. Một vẻ đẹp mười phân vẹn mười nhưng mỗi người một vẻ của chị em Kiều . Tả nàng Vân kiều diễm Nguyễn Du dùng : khuôn trăng, nét ngài , hoa cười, ngọc thốt , mây thua , tuyết nhường cùng vơí một số từ nôm na như khác vời và những từ ngữ đầy đặn, nở nang vừa khắc hoạ được vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu của nàng Vân , vừa như dự báo được cuộc sống sau này rất bình lặng của nàng . Còn với Kiều , Nguyễn Du đã dùng vẻ đẹp của Thuý Vân để bẫy vẻ đẹp của Kiều . Nhà thơ đã dùng đến 12 câu thơ để khắc hoạ về Kiều . Điều đó chứng tỏ nhà thơ đã dành cho nhân vật chính của mình một tình cảm hết sức đặc biệt . Nhiều thi liệu cổ đã được huy động để khắc hoạ bức chân dung tuyệt mỹ của giai nhân như : Làn thu thuỷ , nét xuân sơn , hoa ghen , liễu hờn … Với bút pháp lý tưởng hoá , Kiều hiện ra trước mắt người đọc bằng hình ảnh một thiếu nữ có đôi mắt trong sáng , bình lặng như mặt nước hồ thu ; nét mày uốn cong thanh tú như dáng núi mùa xuân .Thật là một dung nhan rực rỡ , sắc sảo mặn mà , vừa có duyên, vừa có hồn . Nhưng đẹp đến độ sắc nước hương trời , chim sa cá lặn , nước thành nghiêng đổ , hoa phải ghen , liễu phải hờn tất cuộc đời sẽ gặp nhiều sóng gió, đau khổ … Mười lăm năm lưu lạc chìm nổi của Kiều đã chứng minh rõ điều đó . Là một nghệ sĩ về ngôn từ , Nguyễn Du không sử dụng những thi liệu cổ ấy một cách máy móc rập khuôn mà sự sáng tạo của nhà thơ là rất lớn . Nói tới nỗi buồn của người đẹp , nhà thơ gắn với những thềm hoa ,lệ hoa , rồi nét buồn như cúc , điệu gầy như mai … Nói chung , qua việc sử dụng những thi liệu cổ nhà thơ đã tạo ra những từ ngữ rất riêng , rất Nguyễn Du , nhưng vẫn là ngôn ngữ dân tộc . 2. Ngôn từ thiên nhiên (vũ trụ thi ca) của Truyện Kiều . Theo tác giả Đặng Tiến thì vũ trụ thi ca trong Truyện Kiều là một không gian với chân trời rộng . Ngoài thảm cỏ non phải xanh tận chân trời ( Cảnh ngày xuân) thì không gian còn là một vũ trụ rộng, trống,mờ xa tít tắp với vẻ non xa , tấm trăng gần ; với cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia (Kiều ở lầu Ngưng Bích). Đó là một vũ trụ từ chối cuộc sống, từ chối con người -một vũ trụ mà cảnh vật bốn bề bát ngát xa trông, bên thì cồn cát nhấp nhô như sóng lượn , bên thì bụi hồng trải dài khắp dặm xa mênh mông . Ngoài ra, trong Truyện Kiều Nguyễn Du còn sử dụng rất nhiều ngôn từ vũ trụ thi ca : Con đường khuya thì phải ngắt tạnh mù khơi , màu của rừng thu phải là màu quan san , khung trời thương nhớ phải gợn áng mây Tần xa xa , đến túp lều cỏ bên sôngTiền Đường cũng phải là Một gian nước biếc mây vàng chia đôi . Bên cạnh đó còn có những dặm vi lô hiu hắt , những bờ liễu loi thoi , những rừng phong quan tái . Rồi đến cảnh màu xanh tơ liễu bên cầu , gió cây trút lá , mấy ngàn dâu xanh xuất hiện trong Truyện Kiều những giờ phút chia phôi , những lúc bước chân ngập ngừng , những lúc tâm hồn phân tán … Dường như nhà thơ muốn thu nhận cả đất trời nhân loại bằng cái nhìn phơi trải trong hình ảnh non phơi bóng vàng , cái nhìn đo lường kích thước cuộc sống hằng ngày để xác định vị trí ,tầm sống của mình trước cuộc đời . 4 . Về ngôn từ chỉ màu sắc trong Truyện Kiều : Truyện Kiều có nhiều từ ngữ chỉ màu sắc (có đến 119 lần) , với nhiều màu khác nhau. Nguyễn Du dùng từ chỉ màu sắc để tạo thành các hình tượng có nội dung khái quát, rộng lớn và giàu giá trị thẩm mỹ . Trước hết cần xét từ ngữ chỉ màu sắc trong các đoạn trích học ( sách Ngữ Văn 9 - tập 1) : Tả nàng Vân với mái tóc dài, mượt còn xanh hơn cả mây ; làn da trắng mịn hơn cả tuyết ( Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da ) . Ở đây Nguyễn Du dùng màu mây thay cho màu đen của mái tóc . Bởi trong Truyện Kiều chưa có màu đen có ý nghĩa đẹp cho nên tóc đen đẹp được gọi là tóc mây . Tả nàng Kiều với đôi môi đỏ thắm khiến hoa phải ghen vì thua thắm và mái tóc xanh mượt khiến liễu phải hờn ( Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh ) . Rồi đến màu cỏ non xanh tận chân trời , một màu xanh trải dài mênh mông tít tắp , mà nổi bật trên cái nền toàn cảnh màu xanh ấy là sự điểm xuyết của một vài bông hoa lê màu trắng . Những màu sắc có sự hài hoà tới mức tuyệt dịêu làm cho bức tranh thiên nhiên càng thêm tươi đẹp - những màu sắc tươi sáng, đầy sức sống . Không chỉ có màu trắng , màu xanh , Nguyễn Du còn đề cập đến màu vàng , màu hồng trong câu Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia . Đó không chỉ đơn thuần là sắc vàng của cồn cát nhấp nhô, sắc hồng của từng đám bụi cuốn lên từng dặm xa mênh mông mà còn là cát bụi của cuộc đời . Đó là màu vàng tàn tạ héo uá của nội cỏ dàu dàu / Chân mây mặt đất một màu xanh xanh – là những màu buồn ,ảm đạm, thiếu sức sống , màu của bế tắt, không lối thoát . Trong Truyện Kiều ,từ ngữ chỉ màu sắc ít có tính chất tả thực mà nặng về tính biểu trưng . Tác giả thường lấy màu của sự vật để tả cảnh, gợi tình. Ở đây có mặt sắt đen sì của Hồ Tôn Hiến , có lờn lợt màu da của mụ Tú Bà, mặt như chàm đổ của Thúc Sinh v.v... Màu cỏ cũng đa dạng : khi thì Cỏ non xanh tận chân trời , khi thì Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh khi thì cỏ lợt màu sương , khi thì cỏ áy bóng tà, khi thì Một vùng cỏ mọc xanh rì … Với Ngyuễn Du màu sắc là sản phẩm của cảnh vật và tâm lý . Màu cỏ non xanh gắn với bao cảm xúc bao la về viễn cảnh của cuộc đời , với vẻ thanh tân, trinh trắng của một vài bông hoa lê đầu mùa , Ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh như cuộc đời dang dở . Cỏ áy bóng tà - cỏ nhuốm ánh vàng của nắng chiều như có cái gì xốn xang, day dứt . Màu sắc trong Truyện Kiều còn là màu sắc của tình cảm . Đó là những màu quan san, màu quan tái , màu khơi trêu , màu của nỗi nhớ Bốn phương mây trắng một màu / Trông vời cố quốc biết đâu là nhà . Hay trời cao trông rộng một màu bao la . Có thể nói, Nguyễn Du không chỉ nắm bắt sắc màu của sự vật mà còn nắm bắt và diễn tả cả sắc màu tình cảm nhuốm đậm lên cảnh vật, không gian làm cho phong cảnh trở nên sinh động, có hồn … 5.Về cách sử dụng hư từ : Theo ý kiến của nhiều người thì vấn đề dùng hư từ chỉ có Truyện Kiều của Nguyễn Du là dùng đúng nhất .Cụ thể là các chữ : bao, bấy được dùng một cách độc chiếc trong Truyện Kiều Trải bao thỏ lặn ác tà ; Quản bao tháng đợi năm chờ ; Trời Liêu non nước bao xa ; Biết bao duyên nợ thề bồi ; Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao . Năm chữ bao ấy đều dùng chữ bằng nào mà cắt nghĩa được cả : trải bằng nào ngày đêm ; đợi chờ đến bằng nào năm tháng ; xa bằng nào ; thề bồi bằng nào ; đội trên đầu bằng nào . Tất cả đều có ý hỏi để tỏ ra nghiã là nhiều không phải ít . Cũng vậy, chữ bấy được dùng độc chiếc như : Khéo vô duyên bấy là mình với ta ; Phủ phàng chi bấy hoá công ; Trời làm chi cực bấy trời ; Thân sao bướm chán , ong chường bấy thân ; Hoa sao hoa khéo đoạ đày bấy hoa . Năm chữ bấy ấy đều dùng bằng ấy mà cắt nghĩa được cả : vô duyên bằng ấy , phũ phàng bằng ấy , cực bằng ấy , chán chường bằng ấy , đoạ đày bằng ấy ; Đều có ý tỏ lòng thương tiếc hoặc trách móc . Rồi đến chữ bây , nhưng chữ này không thể dùng độc chiếc ( Lão kia có giở bài bây) . Nhà thơ Nguyễn Du đã đặt sau các chữ bao , bây , bấy một chữ để làm thành liên tự chỉ thời gian như : bao giờ , bây giờ , bấy giờ … Những hư từ này được sử dụng nhiều trong Truyện Kiều Các liên từ : bao nhiêu , bấy nhiêu cũng được sử dụng một cách linh hoạt trong tác phẩm , cụ thể là 3 trường hợp sau : 1. Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường ; Bao nhiêu của , mấy ngày đường . Bao nhiêu dùng độc chiếc không đi đôi với bấy nhiêu. 2. Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên ; Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình , thì bấy nhiêu dùng độc nhất không đi với bao nhiêu . 3. Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi; Bao nhiêu đi đôi với bấy nhiêu … 6 . Sự sáng tạo của Nguyễn Du trong việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật . a / Trước hết,cần nói đến từ ngữ mang phong vị ca dao , thành ngữ , tục ngữ . Ở đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc nhất trong Truyện Kiều xuất hiện một tứ thơ mang phong cách thành ngữ tục ngữ . Để diễn tả nỗi lòng tưởng nhớ người yêu , xót thương cha mẹ , Nguyễn Du đã biểu đạt tâm tư ấy qua chiều dài của thời gian và khoảng cách của không gian như : dưới nguỵêt chén đồng , rày trông mai chờ , tựa cửa hôm mai cách mấy nắng mưa , chân trời góc bể , tấm son gột rửa, hoa trôi man mác , nội cỏ dàu dàu, chân mây mặt đất , gió cuốn mặt duềnh ,ầm ầm tiếng sóng… Những từ ngữ này làm cho cách sử dụng ngôn từ trở nên gần gũi , dễ hiểu , mang đậm màu sắc dân tộc . b / Cách tạo từ mới đặc sắc trong Truyện Kiều . Nguyễn Du đã tạo ra hàng loạt ngôn từ không có trong thực tế , cũng không có trong từ điển thông thường ; mà theo ông Trần Đình Sử đó là những ngôn từ ý tượng (là hình ảnh chỉ nảy sinh trong tâm tưởng , không phải là hình ảnh sao chép thực tại ) có cấu tạo riêng , nói lên sự cảm thụ chủ quan của tác giả : Nói tới nước mắt thì nói giọt ngọc , giọt châu , giọt tương , giọt hồng , giọt tủi, giọt riêng ... Nói đến giấc ngủ thì ông nói giấc xuân , giấc mai, giấc hoè , giấc tiên, giấc nồng … Nói tới mái tóc , không chỉ là tóc mây , tóc sương mà là mái sầu . Nói tới đường xa , ông nói thành dặm hồng , dặm xanh , dặm băng ,dặm khách , dặm phần … Nói tới chén rượu ông lại nói tới chén xuân , chén quỳnh , chén đưa, chén mời , chén khuyên chén đồng … mang đầy sắc thái khác nhau của tình huống . Nói tới cửa sổ ông cũng nói bằng những từ của riêng ông : song sa , song mai , song hồ , song mây , song trăng , song đào , song phi … Nói tới bóng trăng thì là bóng nga, bóng nguyệt … Nói tói tấm lòng thì ông gọi là tấm riêng , tấm yêu , tấm son ,tấm thành hoặc tấc cỏ ,tấc riêng , tấc son, tấc lòng … Cùng là gió mà có bao nhiêu thứ gió như : gió mưa , gió trăng , gió trúc mưa mai, gió tựa hoa kề , gió tủi mưa sầu … Những ngôn từ ý tượng này cũng là phương diện cơ bản của ngôn từ nghệ thuật Truyện Kiều . Nguyễn Du đã phá vỡ cách tạo từ thông thường để tạo từ mới gây hiệu quả lạ hoá . Nhà thơ cũng đã phá vỡ nhiều cấu trúc cố định để tạo thành những kết hợp không đâu có . Chẳng hạn : ăn gió nằm mưa , bướm chán ong chường , bướm lả ong lơi, cười phấn cợt son ,dày gió dạn sương, gìn vàng giữ ngọc, gió gác trăng sân, gió thảm mưa sầu , gió trúc mưa mai , gió giục mây vần , hoa thải hương thừa , hồn rụng phách rời , lấy gió cành chim , tô lục chuốt hồng , tiếc lục tham hồng , liễu ép hoa nài , liễu chán hoa chê , ngày gió đêm trăng , nắng giữ mưa gìn …Các cấu tạo đặc biệt này diễn đạt một trạng thái sự vật có ý nghĩa phổ quát , diễn ra nhiều lần và chỉ hiểu được trong ngữ cảnh tác phẩm Truyện Kiều mà thôi . Nói tóm lại, trong văn học Tiếng Việt , chỉ đến Truyện Kiều của Nguyễn Du thì ngôn từ mới tự đứng lên biểu diễn như một nghệ thuật . Nói Nguyễn Du là nhà nghệ sĩ lớn về ngôn từ chính là nói đến cách ứng xử nghệ thuật của ông đối với ngôn ngữ dân tộc và hiệu quả của nó . Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với việc sáng tạo ngôn ngữ thi ca nói chung mà Nguyễn Du là một tấm gương tiêu biểu .
Xem thêm

5 Đọc thêm

Nghị luận về đoạn thơ "Chị em Thuý Kiều" và nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du

NGHỊ LUẬN VỀ ĐOẠN THƠ "CHỊ EM THUÝ KIỀU" VÀ NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ NHÂN VẬT CỦA NGUYỄN DU

Trong dòng văn học cổ Việt Nam,Truyện Kiều của Nguyễn Du là tác phẩm văn học kiệt xuất . Tác phẩm không chỉ nổi tiếng vì cốt truyện hay, hấp dẫn ,lời văn trau chuốt, giá trị tố cáo đanh thép , giá trị nhân đạo cao cả mà còn vì các nhân vật trong truyện được ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Du miêu tả vô cùng đẹp đẻ, sinh động . Đặc biệt là các nhân vật mà tác giả tâm đắc nhất như Thúy Vân, Thúy Kiều . Ngay phần đầu của Truyện Kiều Nguyễn Du đã khắc họa bức chân dung xinh đẹp của hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân : “ Đầu lòng hai ả tố nga Thúy Kiều là chị , em là Thúy Vân Mai cốt cách tuyết tinh thần Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” Nói đến Mai là nói đến sự mảnh dẻ, thanh tao ; nói đến tuyết là nói đến sự trong trắng ,tinh sạch . Cả mai và tuyết đều rất đẹp .Tác giả đã ví vẻ đẹp thanh tao , trong trắng của hai chị em nhưlà mai là tuyết và đều đạt đến độ hoàn mĩ “ Mười phân vẹn mười” . Tiếp đó tác giả giới thiệu vẻ đẹp của Thúy Vân : “ Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn ,nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.” Nhà thơ đã sử dụng bút pháp ước lệ kết hợp với ẩn dụ để miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân . Nàng có một vẻ đẹp mà hiếm thiếu nữ nào có được với khuôn mặt đầy đặn như trăng rằm ,lông mày cong hình cánh cung như mày ngài . Miệng cười của nàng tươi như hoa nở, giọng nói của nàng trong như ngọc . Lại nữa da trắng mịn đến tuyết phải nhường . Ôi , thật là một vẻ đệp đoan trang, phúc hậu ít ai có được . Nguyễn Du đã miêu tả bức chân dung nàng Thúy Vân có thể nói là tuyệt đẹp .Đọc đoạn này ta thấy rung động trước vẻ đệp tuyệt vời cảu Thúy Vân và thêm thán phục thiên tài Nguyễn Du. Ông đã vận dụng biện pháp tu từ của văn thơ cổ vừa đúng đắn vừa sáng tạo . Nguyễn Du miêu tả Thuý Vân đã khiến ta rung động đến vậy , ông miêu tả Thuý Kiều thì ta còn bất ngờ hơn nữa . Bất ngờ đến kinh ngạc . Bắt đầu từ câu : “ Kiều càng sắc sảo mặn mà So bề tài sắc lại là phần hơn” Nàng Vân đã tuyệt diệu như vậy rồi , nàng Kiều còn đẹp hơn nữa ư ? Có thể như vậy được không ? Ta hãy xem ngòi bút của Nguyễn du viết về nàng Kiều : “ Làn thu thuỷ nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liểu hờn kếm xanh Một hai nghiên nước nghiên thành Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai” Đến đây , chắc hẳn ta sẽ hài lòng và vô cùng thán phục . Nguyễn Du đã miêu tả vẻ đẹp Thuý kiều không dài , chỉ vài cau thôi , vậy mà ta như thấy hiện ra trước mắt một thiếu nữ “ tuyệt thế gia nhân” . Mắt nàng thăm thẳm như làn nước mùa thu , lông mày uốn cong xinh đẹp như dáng núi mùa xuân ; dung nhan đằm thắm đến hoa củng phải ghen , dáng người tươi xinh mơn mởn đén mức liễu cũng phải hờn . Khi đọc đến đoạn này ta không chỉ rung động , thán phục mà có một cảm giác xốn xang khó tả bởi nàng Kiều Xinh đẹp quá . Thủ pháp ước lệ,nhân hoá là biện pháp tu từ phổ biến trong văn học cổ được tác giả sử dụng xuất sắc , kết hợp với việc dùng điển cố “nghiêng nước nghiêng thành” , tác giả đã làm cho ta không chỉ đọc, chỉ nghe, chỉ cảm nhận , mà như thấy tận mắt nàng Kiều . Nàng quả là có một vẻ đẹp “ sắc sảo mặn mà” Ta có thể nói là “có một không hai” làm mê đắm lòng người . Đọc hết những câu trên, ta mới hiểu được dụng ý của Nguyễn Du Khi miêu tả vẻ đẹp “đoan trang phúc hậu” của Thuý Vân trước vẻ đẹp “sắc sảo mặn mà” của Thuý Kiều . Nhà thơ đã sử dụng biện pháp đòn bẩy , dùng vẻ đệp của Thuys Vân để làm để làm tôn thêm vẻ đẹp yêu kiều , quyến rũ của Thuý Kiều rất có hiệu quả . Sắc đã vậy còn tài của nàng Kiều thì sao ? ta sẽ không cảm nhận được hết toàn bộ vẻ đẹp hình thể củng như vẻ đẹp tâm hồn cua Thuý Kiều nếu như ta không biết đến tài của nàng , mặc dù Nguyễn Du đã nói “ Sắc đành đòi một , tài đành hoạ hai” . Về sắc thì chắc chắn chỉ có miònh nàng là đẹp như vậy , về tài hoạ chăng có người thứ hai sánh kịp : : Thông minh vốn sẳn tính trời Pha mùi thi hoạ đủ mùi ca ngâm Cung thương làu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương Khúc nhà tay lựa nên chương Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân” Nàng có cả tài thơ , tài hoạ , tài đàn , tài nào cũng xuất sắc , cũng thành “nghề” cả . Riêng tài đàn nàng đã sáng tác một bản nhạc mang tiêu đề “ Bạc mệnh” rất cuốn hút lòng người . Với hai nhân vật như Thuý Kiều Thuý Vân , Nguyễn Du đã sử dụng các biện pháp tu từ phổ biến trong văn thơ cổ như ước lệ , ẩn dụ , nhân hoá , dùng điển cố . Qua đó ta thấy vẻ đẹp phúc hậu , đoan trang của Thuý Vân Và vẻ đẹp “ sắc sảo măn mà” của Thuý Kiều . Hai bức chân dung của hai chị em Thuý Kiều Thuý Vân , mà Nguyễn Du khắc hoạ phải nói là rất thành công . Đặc biệt là Thuý Kiều nhà thơ đã giành trọn tâm huyết , sức lực và tài năng của mình để sáng tạo nên nàng . Bởi nang là nhân vật chính của Truyện Kiều Như đã nói . Truyện Kiều thu hút người đọc phần lớn là nhờ nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du . Quả vậy nghệ thuật tả người của Nguyễn Du có thể gọi là bạc thầy trong nền văn học cổ Việt Nam . Tả hình dáng bên ngoài của nhân vật ông luôn làm toát lên cái tính cách , tâm hồn bên trong của nhân vật đó . Với Thuý Vân ông đã thực hiện biện pháp ước lệ để miêu tả vẻ đẹp : “ Khuôn trăng dầy đặn , nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da” Tất cả các từ ngữ , hình ảnh được ông sử dụng trong các câu thơ trên đều tập trung làm cho người đọc thấy được vẻ đẹp “ đoan trang , thuỳ mị” của Thuý Vân . Không những khắc hoạ vẻ đẹp hình thể bên ngoài Nguyễn Du còn như dự báo số phận bình lặng, êm ả của nàng qua từ “ thua” và từ “ Nhường”. Mây và tuyết thua avẻ đẹp của Thuý Vân nhưng cả hai đều chịu “ thua” và chịu “ nhường”một cách êm ả . Với Thuý Kiều , Tác giả dùng nhiều biện pháp tu từ để miêu tả vẻ đẹp “sắc sảo , mặn mà” của nàng.Những câu thơ miêu tả nàng có thể xem là tuyệt bút : [FONT=Arial] “ Làn thu thuỷ nét xuân sơn[/FONT] Hoa ghen thua thắm, liểu hờn kém xanh” Trong hai câu thơ ,Nguyễn Du như đã dự báo số phận bấp bênhchìm nổi của Kiều qua các hình ảnh hoa và liễu thua vẻ đẹp của nàng nhưng không cam chịu thua mà còn “ ghen” còn “ hờn” và khúc nhạc bạc mệnh nàng sáng tác cũng như dự báo điều đó . Nói tóm lại , Nguyễn Du có nghệ thuật tả người rất đặc sắc và tiêu biểu . Mỗi nhân vật ông miêu tả dù tốt hay xấu , dù chính diện hay phản diện cũng đề biểu hiện được bản chất tâm hồn bên trong qua hình dáng bên ngoài . Nghệ thuật miêu tả , xây dựng nhân vật của Nguyễn Du rất đáng để chúng ta trân trọng và học tập .
Xem thêm

3 Đọc thêm

MIÊU TẢ VẺ ĐẸP CHỊ EM THÚY KIỀU

MIÊU TẢ VẺ ĐẸP CHỊ EM THÚY KIỀU

Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là một trong những đoạn thơ tả người hay nhất, đẹp nhất không chỉ bởi ngôn ngữ thơ trong sáng mà còn bởi ở đó có hai chị em nhà họ Vương nhan sắc, tài năng đều hội tụ đủ đầy. Đọc truyện Kiều mấy ai không nhớ vẻ đẹp sắc nước hương trời của hai người con gái đầu lòng của ông bà Vương viên ngoại: Đầu lòng hai ả tố nga Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân. Mai cốt cách, tuyết tinh thần Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười Chỉ bốn câu thơ thôi tác giả đã giới thiệu với chúng ta hình ảnh hai người con gái xinh đẹp, dáng hình mảnh dẻ, thanh tao như mai và tâm hồn trắng trong như tuyết. Vẻ đẹp của cả hai đều đạt đến mức “mười phân vẹn mười” nhưng nét bút của Nguyễn Du vẫn muốn đậm nhạt “mỗi người một vẻ”. Trước hết là vẻ yêu kiều của Thuý Vân: Vân xem trang trọng khác vời Khuân trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười, ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Vân mới đẹp làm sao Con người nàng toát lên vẻ trang trọng khác vời, từng đường nét dường như đều là một kỳ công của tạo hoá: gương mặt tròn đầy, tươi sáng như ánh trăng, đôi mày dài thanh thoát, miệng cười tươi thắm như hoa, tiếng nói trong như ngọc, mái tóc mềm hơn mây, làn da trắng mịn màng hơn tuyết …Cô gái ấy đã đẹp người lại ý nhị, đoan trang. Vẻ đẹp của nàng sánh ngang sự sáng trong của trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết những báu vật tinh khôi trong trẻo của đất trời. Dường như phải tả như thế mới nói hết vẻ yêu kiều của một giai nhân. Vẻ đẹp của Thuý Vân đươc thiên nhiên ưu ái nhường nhịn nên có lẽ cuộc đời sẽ phẳng lặng ấm êm.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du qua một số trích đoạn đã học

VẺ ĐẸP NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU QUA MỘT SỐ TRÍCH ĐOẠN ĐÃ HỌC

Xưa nay, nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều , người ta thường hay chú ý trước hết đế những chỗ dùng từ chính xác, từ hay , tinh tế thường được gọi là lối dùng từ đắt của Nguyễn Du ,cũng như cách dùng hư từ , khối lượng từ đồng nghĩa , từ có phong cách khẩu ngữ, từ mang phong vị ca dao , thành ngữ, tục ngữ ... Ví như hai từ đầy đặn , nở nang trong câu thơ : Khuôn trăng đầy đặn / Nét ngài nở nang khi tác giả dùng để miêu tả Thuý Vân. Hai từ đó không chỉ đơn thuần là miêu tả khuôn mặt tròn trịa ,đầy đặn như mặt trăng đêm rằm của nàng Vân , cũng như cả cái nét ngài minh bạch ,rõ ràng , uốn cong thanh tú của nàng mà đó còn là sự đầy đặn, mỹ mãn của số phận , của cuộc đời nàng . Hai chữ thua , nhường trong câu thơ Mây thua nước tóc , tuyết nhường màu da dùng để chỉ thiên nhiên và cũng chính là tạo hoá sẽ chịu thua mái tóc mây, dài, xanh mượt, màu da trắng như tuyết để nhường bước cho nàng đi trên con đường bằng phẳng , không hề có chông gai . Hay như chữ thông minh trong câu Thông minh vốn sẵn tính trời dùng để nhấn mạnh trí tuệ thiên bẩm của nàng Kiều mà nhiều người cho rằng đó là một nhãn tự nhờ cách nhà thơ đưa từ này lên đầu câu , nó không chỉ nhằm khắc hoạ một tính cách mà là cả một nhân cách . Kiều đẹp sắc sảo, mặn mà - Một vẻ đẹp vừa rực rỡ , vừa hấp dẫn , rất có hồn , điều đó đã quá rõ rồi. Nhưng Kiều chiếm được cảm tình nơi bạn đọc không phải vì cái vẻ sắc nước hương trời ,cùng tài năng hiếm có cuả nàng , mà chủ yếu là phẩm cách tuyệt vời và một trí tuệ hơn người . Trong tác phẩm Truyện Kiều , Nguyễn Du đã nhiều lần viết về tài hoa và trí tuệ theo kiểu ấy . Chẳng hạn như câu Anh minh phát tiết ra ngoài … Điều đó cho thấy ánh sáng trí tuệ chính là yếu tố nổi bật trong tài hoa của Thuý Kiều . Còn như từ não trong câu Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân . Ở đây , Nguyễn Du đã sử dụng từ não rất chính xác .Nội hàm ý nghĩa của từ này diễn đạt nỗi buồn đã có sẵn tự trong lòng . Nó không chỉ đơn thuần là sầu , buồn , là những từ diễn đạt nỗi buồn trên sắc diện con người mà là não (não lòng , não nuột) . Âm thanh của từ ngữ này dường như xoáy sâu vào tâm can người đọc . Bởi lẽ , khúc nhạc tiêu tao của thiên bạc mệnh ấy đã từng khiến cho biết bao người rung cảm, sầu não theo từng khúc nhạc não nề . Nó đã từng khiến cho Kim Trọng nao nao lòng người , Thúc Sinh phải tan nát lòng và cho cả trái tim vô tình, sắt đá của quan Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến cũng phải cảm thương mà rơi châu nhỏ lệ . Cung đàn bạc mệnh của Kiều đã trở thành một hình tượng nghệ thuật thể hiện tâm hồn đa sầu, đa cảm và số phận bi thương của Kiều là vì thế . Cả câu Não người cữ gió tuần mưa, thì từ não cũng được dùng với ý nghĩa như vậy . Nhiều người cho rằng Nguyễn Du sử dụng từ ngữ rất đắt . Đắt vì nhiều khi chỉ một chữ thôi đã có thể lột tả được bản chất bên trong của con người . Đó là trường hợp câu thơ Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao mà nhà thơ dùng để khắc hoạ nhân vật Mã Giám Sinh lúc đến hỏi Kiều về làm vợ . Một kẻ đã ngoài tứ tuần mà Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao thì thật nực cười và kỳ cục đến không thể chấp nhận được. Bởi nhẵn nhụi là từ ngữ người ta thường dùng để chỉ độ trơn , bóng , láng của đồ vật , chứ không phải dùng để chỉ tính chất trang nhã , lịch sự của con người . Còn từ bảnh bao thường dùng để khen trẻ em có quần áo đẹp lại dùng cho Mã Giám Sinh thì lại có ý chế giễu , mỉa mai . Một kẻ đã nhiều tuổi nhưng lại cố ý tô vẻ , tỉa tót thì lại trở nên kệch cỡm , giả tạo và có phần trai lơ , đàng điếm . Đặc sắc nhất vẫn là cách dùng từ trong câu Ghế trên ngồi tót sỗ sàng - một cử chỉ vội vàng , khiếm nhã khiến Nguyễn Du phải hạ ngay một từ sỗ sàng . Cử chỉ ấy không phù hợp với một người đi hỏi vợ và lại càng không đúng với phẩm cách văn hoá của một giám sinh . Nó qúa bất ngờ so với sự chờ đợi của người đọc, quá phi lý so với vai trò của một sinh viên trường Quốc Tử Giám . Cử chỉ này là tín hiệu đầu tiên để bước đầu khẳng định bản chất của Mã Giám Sinh . Tự định vị một cách vô lễ , trịch thượng, chướng mắt trên chiếc ghế của người bề trên ( những bậc cao niên ) càng cho thấy tính chất vô học và nhất là tâm lý hợm cúa của kẻ buôn người giàu có . Chỉ một chữ tót đã phủ nhận vai trò giám sinh của gã họ Mã . Như thế cũng chưa đủ . Cái cách cò kè thêm bớt đến cả một giờ lâu rồi mới ngã giá vàng ngoài bốn trăm thì Nguyễn Du đã lột tả được bộ mặt gớm ghiếc, giả dối của Mã Giám Sinh . Hắn đã hiện nguyên hình là một gã con buôn lọc lõi chỉ cần biết một điều là làm sao mua được món hàng với giá hời nhất , chỉ cần một vốn mà có đến bốn lời là được .Chỉ với một từ cò kè rất con buôn Nguyễn đã cho ta thấy được bộ mặt tàn ác, dơ bẩn nhất của bọn buôn thịt bán người mà Mã Giám Sinh là đại diện . Và trong đoạn đời đầu tiên của bước lưu lạc, lúc Kiều được đưa ra ở lầu Ngưng Bích . Nàng đã sống trong một tâm trạng buồn tủi , chua xót đến cực độ . Nàng đâu còn cơ hội khoá kín tuổi xuân của mình nữa . Nàng không còn giữ được chữ trinh đối với chàng Kim thì hai chữ khoá xuân lại đầy mỉa mai đối với nàng . Thực chất nàng đang bị Tú Bà giam lỏng để chờ ngày kén chồng tử tế , nhưng thực ra là mụ đang rắp tâm thực hiện một âm mưu mới . Trong cảnh vò võ cô đơn , trơ trọi nàng đã tưởng nhớ đến người yêu . Chỉ một từ tưởng mà nói được bao điều . Nếu mơ là luôn nghĩ đến những kỉ niệm , những điều tốt đẹp về nhau ; hay nhớ cũng là nghĩ đến những điều tốt đẹp nhưng lại có thêm ý mong mỏi có ngày gặp lại thì tưởng cũng là mơ là nhớ nhưng với Kiều chỉ là tưởng , chỉ xem mối tình đầu trong trắng, ngây thơ của mình là một kỉ niệm đẹp , không dám mơ tưởng những gì xa xôi lại càng không dám mong gì ngày gặp lại . Nhớ người yêu , Kiều cũng rất nhớ về cha mẹ . Nhưng Nguyễn Du không dùng thương hay nhớ mà lại dùng một chữ xót ở đầu câu thơ . Bởi xót đâu chỉ đơn thuần là nhớ , là thương mà còn bao hàm cả nỗi giận đời và trách mình . Ngay cả việc sử dụng điệp ngữ buồn trông ở cuối đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích ta càng thấy Nguyễn Du không hề vô tình khi đặt chữ buồn đứng trước chữ trông .Buồn mà trông ,buồn rồi mới trông là nỗi buồn thấm sâu tự đáy lòng Kiều để rồi trông vào mọi vật nàng chỉ thấy thấp thoáng mơ hồ , tàn tạ, héo uá như chính cuộc đời của nàng cùng với nỗi lo sợ hãi hùng về một tương lai mờ mịt . Thật đúng là Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ . Đọc Truyện Kiều ta còn bắt gặp được nhiều câu thơ , nhiều từ ngữ đặc sắc như thế . Chữ cậy em và chữ chịu lời trong câu 723 dùng thật khéo . Cụ Nguyễn Du dùng chữ cậy là tuyệt hay vì nếu thay chữ nhờ và chữ nghe lời vào thì câu thơ sẽ là Nhờ em em có nghe lời thành ra quá áp đặt , câu thơ trở nên tầm thường, nhạt nhẻo , không còn ý vị gì nữa . Vì điều Kiều sắp nói cho em biết thuộc về chữ tình nên chưa chắc em đã nhận lời cho . Do vậy , dùng cậy và chịu lời là hợp lý nhất . Chữ tốc dùng trong câu 1.133 Tú Bà tốc thẳng tới nơi lúc sở khanh đưa Kiều chạy trốn là tuyệt khéo . Chỉ mới nghe câu thơ ấy thôi cũng đủ biết rằng mụ Tú Bà giận dữ lắm , dáng bộ hung hăng, vội vàng lắm , mặc dù điều đó nằm trong âm mưu của mụ nó hoàn toàn khác cái vẻ thong dong khi mụ dạy Kiều nghề chơi. Một chữ tốc thôi nhưng có sức mạnh lạ thường . Như chỗ nàng Kiều vượt tường để trốn khỏi Quan Âm Các của nhà họ hoạn Cất mình qua ngọn tường hoa – câu 2.227 . Chữ cất dùng ở đấy thật tuyệt . Vì ý nó mơ hồ ,ta không thể biết được là nàng Kiều văng mình qua tường hay trèo qua tường để trốn đi . Hay như chữ chặn trong cặp câu thơ 3.181 , 3.182 trong màn Đoàn viên : Thân tàn chặn đục khơi trong/ Là nhờ quân tử khác lòng người ta . Nguyễn Du dùng chặn mà không dùng gạn . Bởi vì từ chặn được dùng với nghĩa chặn dòng đục trong quá khứ của cuộc đời Kiều . Quả thật với hoàn cảnh Kiều lúc bấy giờ thì không thể gạn đục khơi trong được . Chữ chặn vì thế mà có giá trị biểu cảm cao . Nhìn chung, từ ngữ Truyện Kiều không chỉ hay mà còn rất đắt , rất độc đáo. Nhiều chữ được dùng đi, dùng lại rất nhiều lần nhưng với một nét nghĩa mới nên không thấy nhàm chán như 63 trường hợp sử dụng từ thân, 59 từ xuân, 14 từ ngựa , rất nhiều lần sử dụng chữ tâm và chữ tài . Ngay như chữ chút là một uyển ngữ rất khó dùng , thế mà Nguyễn Du sử dụng được 47 chữ như thế … 1. Vấn đề sử dụng từ ngữ ước lệ trong Truyện Kiều : Là nhà thơ thiên tài của dân tộc , Nguyễn Du là người chiụ ảnh hưởng rất lớn thi pháp cổ điển về khắc hoạ , xây dựng hình tượng nhân vật . Vì thế ngôn từ ước lệ được sử dụng nhiều trong Truyện Kiều . Cũng giống như người xưa , nhà thơ đã lấy vẻ đẹp của thiên nhiên như tuyết - mai , trăng - hoa, mây - tuyết , thu thuỷ - xuân sơn , hoa - liễu …Làm chuẩn mực , làm thước đo giá trị , vẻ đẹp của con người . Tác giả đã dùng bút pháp cực tả tuyệt đối hoá , lý tưởng hoá nhan sắc cốt cách hai chị em Kiều . Đó là Mai cốt cách , tuyết iình thần , khuôn trăng , nét ngài , hoa cười ngọc thốt , mây thua, tuyết nhường , làn thu thuỷ, nét xuân sơn , hoa ghen, liễu hờn …Để khắc hoạ cái cốt cách thanh tao , mảnh dẻ như mai ; tinh thần trong trắng như tuyết. Một vẻ đẹp mười phân vẹn mười nhưng mỗi người một vẻ của chị em Kiều . Tả nàng Vân kiều diễm Nguyễn Du dùng : khuôn trăng, nét ngài , hoa cười, ngọc thốt , mây thua , tuyết nhường cùng vơí một số từ nôm na như khác vời và những từ ngữ đầy đặn, nở nang vừa khắc hoạ được vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu của nàng Vân , vừa như dự báo được cuộc sống sau này rất bình lặng của nàng . Còn với Kiều , Nguyễn Du đã dùng vẻ đẹp của Thuý Vân để bẫy vẻ đẹp của Kiều . Nhà thơ đã dùng đến 12 câu thơ để khắc hoạ về Kiều . Điều đó chứng tỏ nhà thơ đã dành cho nhân vật chính của mình một tình cảm hết sức đặc biệt . Nhiều thi liệu cổ đã được huy động để khắc hoạ bức chân dung tuyệt mỹ của giai nhân như : Làn thu thuỷ , nét xuân sơn , hoa ghen , liễu hờn … Với bút pháp lý tưởng hoá , Kiều hiện ra trước mắt người đọc bằng hình ảnh một thiếu nữ có đôi mắt trong sáng , bình lặng như mặt nước hồ thu ; nét mày uốn cong thanh tú như dáng núi mùa xuân .Thật là một dung nhan rực rỡ , sắc sảo mặn mà , vừa có duyên, vừa có hồn . Nhưng đẹp đến độ sắc nước hương trời , chim sa cá lặn , nước thành nghiêng đổ , hoa phải ghen , liễu phải hờn tất cuộc đời sẽ gặp nhiều sóng gió, đau khổ … Mười lăm năm lưu lạc chìm nổi của Kiều đã chứng minh rõ điều đó . Là một nghệ sĩ về ngôn từ , Nguyễn Du không sử dụng những thi liệu cổ ấy một cách máy móc rập khuôn mà sự sáng tạo của nhà thơ là rất lớn . Nói tới nỗi buồn của người đẹp , nhà thơ gắn với những thềm hoa ,lệ hoa , rồi nét buồn như cúc , điệu gầy như mai … Nói chung , qua việc sử dụng những thi liệu cổ nhà thơ đã tạo ra những từ ngữ rất riêng , rất Nguyễn Du , nhưng vẫn là ngôn ngữ dân tộc . 2. Ngôn từ thiên nhiên (vũ trụ thi ca) của Truyện Kiều . Theo tác giả Đặng Tiến thì vũ trụ thi ca trong Truyện Kiều là một không gian với chân trời rộng . Ngoài thảm cỏ non phải xanh tận chân trời ( Cảnh ngày xuân) thì không gian còn là một vũ trụ rộng, trống,mờ xa tít tắp với vẻ non xa , tấm trăng gần ; với cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia (Kiều ở lầu Ngưng Bích). Đó là một vũ trụ từ chối cuộc sống, từ chối con người -một vũ trụ mà cảnh vật bốn bề bát ngát xa trông, bên thì cồn cát nhấp nhô như sóng lượn , bên thì bụi hồng trải dài khắp dặm xa mênh mông . Ngoài ra, trong Truyện Kiều Nguyễn Du còn sử dụng rất nhiều ngôn từ vũ trụ thi ca : Con đường khuya thì phải ngắt tạnh mù khơi , màu của rừng thu phải là màu quan san , khung trời thương nhớ phải gợn áng mây Tần xa xa , đến túp lều cỏ bên sôngTiền Đường cũng phải là Một gian nước biếc mây vàng chia đôi . Bên cạnh đó còn có những dặm vi lô hiu hắt , những bờ liễu loi thoi , những rừng phong quan tái . Rồi đến cảnh màu xanh tơ liễu bên cầu , gió cây trút lá , mấy ngàn dâu xanh xuất hiện trong Truyện Kiều những giờ phút chia phôi , những lúc bước chân ngập ngừng , những lúc tâm hồn phân tán … Dường như nhà thơ muốn thu nhận cả đất trời nhân loại bằng cái nhìn phơi trải trong hình ảnh non phơi bóng vàng , cái nhìn đo lường kích thước cuộc sống hằng ngày để xác định vị trí ,tầm sống của mình trước cuộc đời . 4 . Về ngôn từ chỉ màu sắc trong Truyện Kiều : Truyện Kiều có nhiều từ ngữ chỉ màu sắc (có đến 119 lần) , với nhiều màu khác nhau. Nguyễn Du dùng từ chỉ màu sắc để tạo thành các hình tượng có nội dung khái quát, rộng lớn và giàu giá trị thẩm mỹ . Trước hết cần xét từ ngữ chỉ màu sắc trong các đoạn trích học ( sách Ngữ Văn 9 - tập 1) : Tả nàng Vân với mái tóc dài, mượt còn xanh hơn cả mây ; làn da trắng mịn hơn cả tuyết ( Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da ) . Ở đây Nguyễn Du dùng màu mây thay cho màu đen của mái tóc . Bởi trong Truyện Kiều chưa có màu đen có ý nghĩa đẹp cho nên tóc đen đẹp được gọi là tóc mây . Tả nàng Kiều với đôi môi đỏ thắm khiến hoa phải ghen vì thua thắm và mái tóc xanh mượt khiến liễu phải hờn ( Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh ) . Rồi đến màu cỏ non xanh tận chân trời , một màu xanh trải dài mênh mông tít tắp , mà nổi bật trên cái nền toàn cảnh màu xanh ấy là sự điểm xuyết của một vài bông hoa lê màu trắng . Những màu sắc có sự hài hoà tới mức tuyệt dịêu làm cho bức tranh thiên nhiên càng thêm tươi đẹp - những màu sắc tươi sáng, đầy sức sống . Không chỉ có màu trắng , màu xanh , Nguyễn Du còn đề cập đến màu vàng , màu hồng trong câu Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia . Đó không chỉ đơn thuần là sắc vàng của cồn cát nhấp nhô, sắc hồng của từng đám bụi cuốn lên từng dặm xa mênh mông mà còn là cát bụi của cuộc đời . Đó là màu vàng tàn tạ héo uá của nội cỏ dàu dàu / Chân mây mặt đất một màu xanh xanh – là những màu buồn ,ảm đạm, thiếu sức sống , màu của bế tắt, không lối thoát . Trong Truyện Kiều ,từ ngữ chỉ màu sắc ít có tính chất tả thực mà nặng về tính biểu trưng . Tác giả thường lấy màu của sự vật để tả cảnh, gợi tình. Ở đây có mặt sắt đen sì của Hồ Tôn Hiến , có lờn lợt màu da của mụ Tú Bà, mặt như chàm đổ của Thúc Sinh v.v... Màu cỏ cũng đa dạng : khi thì Cỏ non xanh tận chân trời , khi thì Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh khi thì cỏ lợt màu sương , khi thì cỏ áy bóng tà, khi thì Một vùng cỏ mọc xanh rì … Với Ngyuễn Du màu sắc là sản phẩm của cảnh vật và tâm lý . Màu cỏ non xanh gắn với bao cảm xúc bao la về viễn cảnh của cuộc đời , với vẻ thanh tân, trinh trắng của một vài bông hoa lê đầu mùa , Ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh như cuộc đời dang dở . Cỏ áy bóng tà - cỏ nhuốm ánh vàng của nắng chiều như có cái gì xốn xang, day dứt . Màu sắc trong Truyện Kiều còn là màu sắc của tình cảm . Đó là những màu quan san, màu quan tái , màu khơi trêu , màu của nỗi nhớ Bốn phương mây trắng một màu / Trông vời cố quốc biết đâu là nhà . Hay trời cao trông rộng một màu bao la . Có thể nói, Nguyễn Du không chỉ nắm bắt sắc màu của sự vật mà còn nắm bắt và diễn tả cả sắc màu tình cảm nhuốm đậm lên cảnh vật, không gian làm cho phong cảnh trở nên sinh động, có hồn … 5.Về cách sử dụng hư từ : Theo ý kiến của nhiều người thì vấn đề dùng hư từ chỉ có Truyện Kiều của Nguyễn Du là dùng đúng nhất .Cụ thể là các chữ : bao, bấy được dùng một cách độc chiếc trong Truyện Kiều Trải bao thỏ lặn ác tà ; Quản bao tháng đợi năm chờ ; Trời Liêu non nước bao xa ; Biết bao duyên nợ thề bồi ; Ai ai cũng đội trên đầu xiết bao . Năm chữ bao ấy đều dùng chữ bằng nào mà cắt nghĩa được cả : trải bằng nào ngày đêm ; đợi chờ đến bằng nào năm tháng ; xa bằng nào ; thề bồi bằng nào ; đội trên đầu bằng nào . Tất cả đều có ý hỏi để tỏ ra nghiã là nhiều không phải ít . Cũng vậy, chữ bấy được dùng độc chiếc như : Khéo vô duyên bấy là mình với ta ; Phủ phàng chi bấy hoá công ; Trời làm chi cực bấy trời ; Thân sao bướm chán , ong chường bấy thân ; Hoa sao hoa khéo đoạ đày bấy hoa . Năm chữ bấy ấy đều dùng bằng ấy mà cắt nghĩa được cả : vô duyên bằng ấy , phũ phàng bằng ấy , cực bằng ấy , chán chường bằng ấy , đoạ đày bằng ấy ; Đều có ý tỏ lòng thương tiếc hoặc trách móc . Rồi đến chữ bây , nhưng chữ này không thể dùng độc chiếc ( Lão kia có giở bài bây) . Nhà thơ Nguyễn Du đã đặt sau các chữ bao , bây , bấy một chữ để làm thành liên tự chỉ thời gian như : bao giờ , bây giờ , bấy giờ … Những hư từ này được sử dụng nhiều trong Truyện Kiều Các liên từ : bao nhiêu , bấy nhiêu cũng được sử dụng một cách linh hoạt trong tác phẩm , cụ thể là 3 trường hợp sau : 1. Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường ; Bao nhiêu của , mấy ngày đường . Bao nhiêu dùng độc chiếc không đi đôi với bấy nhiêu. 2. Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên ; Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình , thì bấy nhiêu dùng độc nhất không đi với bao nhiêu . 3. Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi; Bao nhiêu đi đôi với bấy nhiêu … 6 . Sự sáng tạo của Nguyễn Du trong việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật . a / Trước hết,cần nói đến từ ngữ mang phong vị ca dao , thành ngữ , tục ngữ . Ở đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc nhất trong Truyện Kiều xuất hiện một tứ thơ mang phong cách thành ngữ tục ngữ . Để diễn tả nỗi lòng tưởng nhớ người yêu , xót thương cha mẹ , Nguyễn Du đã biểu đạt tâm tư ấy qua chiều dài của thời gian và khoảng cách của không gian như : dưới nguỵêt chén đồng , rày trông mai chờ , tựa cửa hôm mai cách mấy nắng mưa , chân trời góc bể , tấm son gột rửa, hoa trôi man mác , nội cỏ dàu dàu, chân mây mặt đất , gió cuốn mặt duềnh ,ầm ầm tiếng sóng… Những từ ngữ này làm cho cách sử dụng ngôn từ trở nên gần gũi , dễ hiểu , mang đậm màu sắc dân tộc . b / Cách tạo từ mới đặc sắc trong Truyện Kiều . Nguyễn Du đã tạo ra hàng loạt ngôn từ không có trong thực tế , cũng không có trong từ điển thông thường ; mà theo ông Trần Đình Sử đó là những ngôn từ ý tượng (là hình ảnh chỉ nảy sinh trong tâm tưởng , không phải là hình ảnh sao chép thực tại ) có cấu tạo riêng , nói lên sự cảm thụ chủ quan của tác giả : Nói tới nước mắt thì nói giọt ngọc , giọt châu , giọt tương , giọt hồng , giọt tủi, giọt riêng ... Nói đến giấc ngủ thì ông nói giấc xuân , giấc mai, giấc hoè , giấc tiên, giấc nồng … Nói tới mái tóc , không chỉ là tóc mây , tóc sương mà là mái sầu . Nói tới đường xa , ông nói thành dặm hồng , dặm xanh , dặm băng ,dặm khách , dặm phần … Nói tới chén rượu ông lại nói tới chén xuân , chén quỳnh , chén đưa, chén mời , chén khuyên chén đồng … mang đầy sắc thái khác nhau của tình huống . Nói tới cửa sổ ông cũng nói bằng những từ của riêng ông : song sa , song mai , song hồ , song mây , song trăng , song đào , song phi … Nói tới bóng trăng thì là bóng nga, bóng nguyệt … Nói tói tấm lòng thì ông gọi là tấm riêng , tấm yêu , tấm son ,tấm thành hoặc tấc cỏ ,tấc riêng , tấc son, tấc lòng … Cùng là gió mà có bao nhiêu thứ gió như : gió mưa , gió trăng , gió trúc mưa mai, gió tựa hoa kề , gió tủi mưa sầu … Những ngôn từ ý tượng này cũng là phương diện cơ bản của ngôn từ nghệ thuật Truyện Kiều . Nguyễn Du đã phá vỡ cách tạo từ thông thường để tạo từ mới gây hiệu quả lạ hoá . Nhà thơ cũng đã phá vỡ nhiều cấu trúc cố định để tạo thành những kết hợp không đâu có . Chẳng hạn : ăn gió nằm mưa , bướm chán ong chường , bướm lả ong lơi, cười phấn cợt son ,dày gió dạn sương, gìn vàng giữ ngọc, gió gác trăng sân, gió thảm mưa sầu , gió trúc mưa mai , gió giục mây vần , hoa thải hương thừa , hồn rụng phách rời , lấy gió cành chim , tô lục chuốt hồng , tiếc lục tham hồng , liễu ép hoa nài , liễu chán hoa chê , ngày gió đêm trăng , nắng giữ mưa gìn …Các cấu tạo đặc biệt này diễn đạt một trạng thái sự vật có ý nghĩa phổ quát , diễn ra nhiều lần và chỉ hiểu được trong ngữ cảnh tác phẩm Truyện Kiều mà thôi . Nói tóm lại, trong văn học Tiếng Việt , chỉ đến Truyện Kiều của Nguyễn Du thì ngôn từ mới tự đứng lên biểu diễn như một nghệ thuật . Nói Nguyễn Du là nhà nghệ sĩ lớn về ngôn từ chính là nói đến cách ứng xử nghệ thuật của ông đối với ngôn ngữ dân tộc và hiệu quả của nó . Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với việc sáng tạo ngôn ngữ thi ca nói chung mà Nguyễn Du là một tấm gương tiêu biểu . (Sưu tầm)
Xem thêm

6 Đọc thêm

 PHÂN TÍCH TÂM TRẠNG THÚY KIỀU QUA ĐOẠN THƠ “TRAO DUYÊN”

PHÂN TÍCH TÂM TRẠNG THÚY KIỀU QUA ĐOẠN THƠ “TRAO DUYÊN”

ngọnđènkhuya,Một mình một bóng, đối diện với ngọn đèn suốt canh khuya, “lệ tràn thấm khăn”, nàng ân hận. buồn tủi‘Vì ta khăng khít cho người dở dang”. Nàng sống trong bi kịch, tự thương rồi tự trách mình là con ngườiphụ bạc, “lỗi thề” với người yêu:“ThềhoaLỗi thề thôi đã phũ phàng với hoa”.chưaráochénvàng,Giữa lúc Kiều đang chìm trong đau khổ, bối rối với mặc cảm “Phận dầu, dầu vậy cũng dầu” thì ‘ThuỷVân chợt tỉnh giấc xuân”. Nàng ghé đến, ân cần an ủi: “Một nhà để chị riêng oan một mình…”. Nàng thắcmắc hỏi chị về “nỗi riêng…”. Kiều thoáng nghĩ và chợt hiểu: chỉ có em gái mới cảm thông, mới chia sẻvới nỗi đau riêng của chị. Kiều đang đứng trước những phân vân, khó nói vẻ niềm riêng của mình:“..TơduyêncònHởmôi
Xem thêm

4 Đọc thêm

Hãy tượng tượnq và tả lại một nhân vật trong truyện em đã đọc.

HÃY TƯỢNG TƯỢNQ VÀ TẢ LẠI MỘT NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN EM ĐÃ ĐỌC.

Chắc hẳn các bạn vẫn còn nhớ câu chuyện Nàng tiên Ôc được học ớ lớp Bốn. Nàng tiên hoá thân trong vỏ của con ốc và được một bà lão nông dân mang về nuôi. Hãy tượng tượnq và tả lại một nhân vật trong truyện em đã đọc. Bài làm tham khảo    Chắc hẳn các bạn vẫn còn nhớ câu chuyện Nàng tiên Ôc được học ớ lớp Bốn. Nàng tiên hoá thân trong vỏ của con ốc và được một bà lão nông dân mang về nuôi.    Nàng tiên Ốc mới đẹp làm sao! Dáng người thanh thanh trong bước đi mềm mại, uyển chuyển. Làn da nàng trắng mịn như tuyết. Khuôn mặt trá xoan hiền hậu. đáng yêu. Dưới cặp mi cong vút là đôi mắt bồ câu sáng long lanh. Đôi môi hình trái tim lúc nào cũng đỏ mọng. Nàng mặc một bộ váy màu xanh nước biển, có thắt một chiếc đai màu trắng càng tăng thêm vẻ duyên dáng của nàng.    Hằng ngày, nàng từ trong vỏ ốc chui ra giúp bà lão quét dọn nhà cửa nấu cơm, nhặt cỏ vườn và cho lợn ăn. Động tác của nàng nhanh nhẹn, bước đi của nàng như lướt trên mặt đất. Những công việc nàng làm chẳng mấy chốc là xong. Cơm nàng nấu rất khéo và ngon. Đàn lợn dưới tay nàng chăm sóc lớn nhanh như thổi. Vườn rau tươi ngày càng xanh tốt.    Mỗi lần đi làm đồng về, bà lão nông dân vô cùng ngạc nhiên không biết ai đã giúp mình. Một lần bà giả vờ ra đồng rồi quay trở về, bà bắt gặp nàng tiên Ôc, bà sững sờ trước sắc đẹp lộng lẫy của nàng, bà vội chạy ngay ra chum nước và đập vỡ vỏ ốc đi. Thấy động, nàng tiên Ốc định chay lại chum nước nhưng bà lão đã ôm chầm lấy nàng. Từ đó, nàng trở thành người con hiếu thảo, ngoan ngoãn của bà cụ. Hai mẹ con sống hạnh phúc bên nhau.
Xem thêm

1 Đọc thêm

VIÊN COLLAGEN BẠCH TUYẾT HAPPY HEALTH

VIÊN COLLAGEN BẠCH TUYẾT HAPPY HEALTH

VIÊN COLLAGEN BẠCH TUYẾT1. Thành phần:CollagenCao PuerariaCao ích mẫuCao thục địa hoàngCao ngưu tấtCoenzym Q10Kẽm gluconate500 mg30 mg30 mg30 mg30 mg5 mg10 mgThành phần khác vừa đủ 01 viên nén bao phim.2. Công dụng:- Giúp tăng tính đàn hồi của da, nuôi dưỡng làn da, dưỡng da, hạn chế lão hóada, giảm nám da, sạm da, tàn nhang, làm giảm nếp nhăn trên da, giảm sự lão hóa củada, giúp da mịn màng, trắng sáng.- Cải thiện các triệu chứng bốc hỏa, khô âm đạo ở phụ nữ trong giai đoạn tiền mãnkinh, phụ nữ rối loạn kinh nguyệt.3. Đối tượng dùng:- Dùng cho phụ nữ thiếu máu, nám da, sạm da, tàn nhang, da mỏng, tóc khô.- Phụ nữ tiền mãn kinh, rối loạn nội tiết tố hay bốc hỏa nóng mặt, đau đầu, mất ngủ, damặt bị sạm.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Nói về số phận người phụ nữ phong kiến xưa, Nguyễn Du đã xót xa: "Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung". Hãy làm sáng tỏ nhận xét trên qua Truyện người con g

NÓI VỀ SỐ PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ PHONG KIẾN XƯA, NGUYỄN DU ĐÃ XÓT XA: "ĐAU ĐỚN THAY PHẬN ĐÀN BÀ/ LỜI RẰNG BẠC MỆNH CŨNG LÀ LỜI CHUNG". HÃY LÀM SÁNG TỎ NHẬN XÉT TRÊN QUA TRUYỆN NGƯỜI CON G

Đề bài: Nói về số phận người phụ nữ phong kiến xưa, Nguyễn Du đã xót xa: "Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung". Hãy làm sáng tỏ nhận xét trên qua "Truyện ng` con gái Nam Xương" và "Truyện Kiều" Bài làm: Từ xưa đến nay, người phụ nữ trong xã hội phong kiến luôn chiếm một vị trí trung tâm và là đối tượng chính trong văn học Việt Nam, thể hiện cảm quan hiện thực và khuynh hướng tư tưởng có màu sắc nhân văn. Nhận xét về số phận người phụ nữ, Nguyễn Du đã xót xa: “Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. Ta có thể dễ dàng làm rõ nhận xét trên chỉ bằng hai ví dụ điển hình: nàng Vũ Nương trong tác phẩm Truyện người con gái Nam Xương và nàng Thuý Kiều trong Truyện Kiều. Những biến động vô lường của cuộc sống con ng` là hình tượng “phận đàn bà bạc mệnh” bị vùi dập dưới sự tàn bạo của chế độ phong kiến. Người phụ nữ Việt Nam muôn đời nay được ca ngợi bởi vẻ đẹp dịu dàng, kín đáo và tâm hồn đôn hậu bao dung. Cả hai nàng Vũ Nương và Thuý Kiều đều là mẫu mực của người phụ nữ đẹp người đẹp nết, thông minh tháo vát, sắt son, hiếu thảo. Thế nhưng trong xã hội phong kiến thời kì suy sụp, thối nát, cái đẹp thường đi liền với nỗi bất hạnh và những tai hoạ khôn lường. Nàng Vũ Nương có một nét đẹp vẹn toàn, hài hoà giữa vẻ đẹp ngoại hình và tâm hồn. Xinh đẹp, tiết hạnh như vậy nhưn nàng có một cuộc hôn nhân không được lựa chọn: Trương Sinh vốn là con nhà giàu nhưng không có học, “xin với mẹ trăng lạng vàng” lấy nàng làm vợ. Chàng vốn tính tình đa nghi nóng nảy, nàng lại càng giữ gìn khuôn phép để gia đình luôn yên ấm, hạnh phúc. Nhưng chiến tranh xảy ra, Trương Sinh bị bắt lính. Nàng ở nhà sinh con, chăm sóc chu đáo mẹ già luôn đau ốm và quán xuyến mọi việc. Mẹ chồng mất, nàng lo cho bà mồ yên mả đẹp như chính mẹ đẻ mình, rồi một mình nuôi dạy con thơ. Những tưởng tấm lòng ấy sẽ được đền bù thoả đáng, nhưng không, khi Trương Sinh trở về thì đứa con tên Đản không nhận chàng là cha nó mà nói về người cha khác “đêm nào cũng đến”. Trương Sinh không hiểu rõ câu chuyện nhưng tính đa nghi đã khiến chàng trở nên mù quáng. Chàng nghĩ rằng vợ mình đã làm một việc mà không một ai có thể tha thứ: tội ngoại tình, mà không ngờ “người cha” kia chỉ là chiếc bóng, mỗi khi ngồi buồn Vũ Nương thường chỉ lên và nói là cha bé Đản. Trương Sinh ruồng rẫy, đánh đuổi Vũ Nương đi, không thèm nghe những lời thanh minh của nàng. Bị chồng hiểu làm, bị hàm oan tức tưởi, cuộc đời nàng rơi vào bế tắc: nếu sống thì phải mang tiếng phản chồng đầy ô nhục. Bởi vậy, dẫu còn khao khát, vấn vương hạnh phúc nơi trần thế, nàng đành chấp nhận cái chết trầm mình xuống lòng Hoàng Giang, để chứng minh phẩm tiết. Cái chết oan khuất đó quả là đáng thương, kết thúc kiếp đời ngắn ngủi của ng` con gái thuỷ chug; và còn là lời lên án tính tình của Trương Sinh. Truyện không phải không hé mở các khả năng tránh tấn thảm kịch bi thương cửa Vũ Nương nhưng Trương Sinh đã đánh mất hết cơ hội tận dụng các khả năng đó. Lời nói của bé Đản cũng có ít nhiều vô lí, vả lại Trương Sinh ko nói ra rằng do ai mà chàng cho rằng Vũ Nương ngoại tình. Thêm vào đó, hàng xóm đã phân trần cho Vũ Nương. Nhưng tất cả là do cơn tức giận hồ đồ, sự chủ quan và đa nghi của Trương Sinh, cộng thêm nỗi đau vừa mất mẹ. Nó đã lấn át mọi thứ có thể thanh minh cho Vũ Nương. Chàng quả là phũ phàng, đem uy lực nam nhi để giải quyết mọi chuyện, khư khư cho rằng mình đúng không thèm nghe bất cứ ai. Câu chuyện của Vũ Nương đã vượt ra khỏi khuôn khổ gia đình, mang tính xã hội khi chế độ nam quyền đã đè nặng lên vai người phụ nữ, không cho họ quyền được sống với chính mình, bị lệ thuộc vào nam giới. Người con gái đức hạnh, giỏi giang như Vũ Nương chết vì một chuyện không đâu. Nàng cho đến chết vẫn chẳng biết được nguyên nhân vì sao mình chết, đến chết vẫn ôm nỗi oan. Những lời nói của nàng nào có ai tin, như vậy chỉ còn một cách chứng minh là tực vẫn. Nàng tự vẫn nhưng cũng là do Trương Sinh gián tiếp bức tử, và nguyên nhân sâu xa hơn nữa là do xã hội bất công, đầy ngang trái. Chế độ trọng nam khinh nữ đã thấm sâu vào máu huyết của người đàn ông. Đằng sau cái chết, đằng sau nỗi đau đớn mà “phận đàn bà” luôn phải gánh chịu, đằng sau sự khinh rẻ của mọi người với Vũ Nương ta còn có thể thấy hình ảnh của người người phụ nữ khác. Thân phận nhỏ nhoi, bèo bọt của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến là vậy. Họ luôn là kẻ bị động, hứng chịu những oan khiên, cay đắng. Số phận bất hạnh của Vũ Nương gợi đến bao phong ba bão táp đã đi qua cuộc đời của những Đạm Tiên, Thuý Kiều, Tiểu Thanh, người chinh phụ… Đặc biệt là nàng Thuý Kiều. Nàng xinh đẹp như bậc quốc sắc, thông minh, thạo cầm, kì, thi, hoạ,… có thể coi là hoàn hảo. Nhưng bi kịch thảm thương lại đến với nàng ngay ở tuổi mười tám đôi mươi, giữa gia đình hạnh phúc; ép buộc nàng từ bỏ mối tình đầu đẹp đẽ với Kim Trọng đang độ khao khát và sôi nổi nhất. Vì để làm trọn chữ hiếu, nàng đã từ một tiểu thư quyền quý rơi vào chốn lầu xanh. Những kẻ buôn thịt bán người vô nhân đạo như Tú Bà và Mã Giám Sinh đã làm vẩn đục đoá hoa vốn tinh khiết, đã bao lần hành hạ cho đoá hoa ấy tan nát rã rời. Được Thúc Sinh cứu giúp, nàng những tưởng cuộc đời phong trần thế là hết nhưng ai ngờ một chuyện không may khác lại xảy ra với nàng. Vợ cả của Thúc Sinh- Hoạn Thư là người cực kì gian ngoan, xảo trá và có tính ghen tuông ghê gớm. Với âm mưu thâm độc của Hoạn Thư, Thuý Kiều bị chà đạp cả về thể xác lẫn tinh thần. Nàng nhảy sông tự tử, vừa được sư Giác Duyên cứu thì đã lại rơi vào tay Bạc Bà cũng là “phường buôn thịt bán người”. Sau đó, trời đã xót thương cho Thuý Kiều, đem Từ Hải đến với nàng. Đó là một anh hùng đội trời đạp đất, tung hoành khắp nơi, đã cảm phục tấm lòng son sắt và đức hạnh mà cưới nàng về từ chốn lầu xanh. Từ Hải hết lòng thương quý, trân trọng nàng, giúp nàng báo ân báo oán. Không ngờ Từ Hải bị hại chết chết mà chính nàng là nguyên nhân gián tiếp do khuyên Từ Hải ra hàng, và để rồi mắc lừa quan tổng đốc Đại thần Hồ Tôn Hiến. Đau đớn, hổ thẹn, ân hận biết bao khi lỡ lầm gây ra cái chết uất ức cho Từ Hải, nàng đã khóc cạn nước mắt và liền đó nhảy sông tự tử. Nhưng cuối cùng, sau khi được sư Giác Duyên cứu giúp lần nữa, Thuý Kiều đã gặp lại Kim Trọng- người mà trong suốt mười lăm năm lưu lạc nàng không bao giờ quên- hình bóng của mối tình đầu thắm thiết. Tuy nhiên đó vẫn chưa phải là cái kết cho bi kịch của Thuý Kiều, bởi vì tấm thân nàng đã không còn trong trắng, tai tiếng về số phận “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” chắc chắn vẫn là một làn sóng dư luận hành hạ nàng suốt cuộc đời về sau. Dường như về cuối truyện đã vắng bóng nàng Thuý Kiều tế nhị, dịu dàng đằm thắm ngày xưa, bởi bóng đen của quá khứ đã đè nặng lên hiện tại đời nàng khiến tâm trạng nàng trở nên nặng nề tủi nhục. Cuộc đời nàng thật đầy phong ba, bão táp, bao phen bị xã hội phong kiến đầy rẫy gian dối, lừa lọc đạp xuống bùn lầy. Xã hội phong kiến ấy gồm những thế lực nào? Đó chính là bọn quan lại, sai nha bỉ ổi, dâm ô, tráo trở, một bên là những kẻ đã vì ăn hối lộ của thằng bán tơ mà vu oan cho Vương Ông, và đòi “có ba trăm lạng việc này mới xong”, một bên là Hồ Tôn Hiến nổi tài lật lọng. Đó chính là bọn buôn người Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh Bạc Bà, chuyên nghề kiếm ăn ở miền nguyệt hoa, đã hai lần đưa Kiều vào lầu xanh- chốn bụi trần đầy rẫy nỗi ê chề nhục nhã, “ong qua bướm lại” xấu xa, coi nàng như một món đồ quý hái ra tiền. Đó chính là Hoạn Thư, Hoạn Bà- hai con người nham hiểm nanh nọc, ỷ thế danh gia, sẵn sàng làm những chuyện vô lương tâm nhất, chôn vùi danh dự Kiều vào tận cùng nỗi đau đớn, ê chề để thoả mãn cơn ghen. Nhìn chung, cuộc đời sóng gió đáng thương của nàng là do nhiều người gây ra, nhưng chủ yếu vẫn là chế độ phong kiến hủ tục, coi phụ nữ như một món hàng kiếm lợi, như một dụng cụ mua vui. Khi đã rơi vào tay một kẻ nhẫn tâm thì ngay lập tức, họ bị tước đi quyền con người, gián tiếp bị gán cho cái tên “vật sở hữu”. Cuộc đời long đong của Kiều đã nói lên tiếng nói khát vọng cho một xã hội bình đẳng, hạnh phúc. Như vậy, chế độ phong kiến với nhiều tục lệ, quy định cổ hủ, khe khắt đè nặng lên cuộc đời “phận má hồng”. Người phụ nữ dưới chế độ Nam quyền độc đoán ấy phải chịu nhiều thiệt thòi, đau đớn: Người con gái Nam Xương- Vũ Nương ko thể giãi bày nỗi oan khiên nên phải trầm mình, nàng Kiều phải bán mình, phải mười lăm năm đoạn trường lưu lạc. Cho dù cuối cùng, Vũ Nương đã được “sống lại” ở thế giới tâm linh, Kiều đã vui vầy bên Kim Trọng; nhưng Vũ Nương vẫn không thể nào có đc hạnh phúc như một phụ nữ bình thường, vui vẻ bên chồng con, và vĩnh viễn Kiều không thể nào tìm lại được tình yêu sôi nổi thiết tha mười lăm năm về trước, vẫn phải chịu tai tiếng ê chề. Như vậy, cả hai tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương và Truyện Kiều đã cho thấy rằng hiện thực tàn nhẫn của xã hội cũ sẽ còn đeo đuổi số phận của con người mãi mai. Hoàn cảnh bi kịch đã chấm dứt nhưng tâm lí bi kịch vẫn tồn tại. Và chỉ qua hai tác phẩm trên, chúng ta có thể nhận thấy rõ xã hội phong kiến tàn ác ra sao, nhẫn tâm thế nào, bằng chứng là cuộc đời long đong của Vũ Nương và Thuý Kiều, và ta càng căm phẫn trước những thế lực phong kiến đen tối, hủ lậu chà đạp lên quyền hưởng hạnh phúc, quyền được sống của con người.
Xem thêm

2 Đọc thêm

SOẠN BÀI CHUYỆN BỐN MÙA

SOẠN BÀI CHUYỆN BỐN MÙA

Câu hỏi 1: Bốn nàng tiên trong truyện tượng trưng cho những mùa nào trong năm?Câu hỏi 2: Em hãy cho biết mùa xuân có gì hay? Câu hỏi 3: Mùa Hạ, mùa Thu, mùa Đông có gì hay?Câu hỏi 4: Em thích nhất mùa nào? Vì sao? Câu hỏi 1: Bốn nàng tiên trong truyện tượng trưng cho những mùa nào trong năm? -  Hướng dẫn: Em suy nghĩ xem, một năm có mấy mùa? Tên của các mùa đó. Trả lời được những nội dung đó là em đã tìm được nội dung câu trả lời. *   Bốn nàng tiên trong truyện tượng trưng cho......................... mùa trong năm: mùa.................. mùa.................. mùa.................. mùa................. Câu hỏi 2: Em hãy cho biết mùa xuân có gì hay? -     Hướng dẫn: Em đọc lại lời nói của Đông khi nói về Xuân, và lời của bà Đất, em sẽ tìm được nội dung câu trả lời -      Gợi ý. Mùa xuân về “Vườn..................... Xuân làm cho............................ ”  Câu hỏi 3: Mùa Hạ, mùa Thu, mùa Đông có gì hay? -     Hướng dẫn: Em đọc lại câu nói của Xuân về Hạ, câu nói của Hạ về Thu và câu nói của Thu về Đông kết hợp với lời nói của bà Đất, em sẽ tìm được nội dung câu trả lời. -    Gợi ý: Các mùa hạ, thu, đông, mỗi mùa đều có những vẻ sắc riêng. + Mùa hạ: Cho nắng cây cối mới................ ; học trò mới được.............. + Mùa thu: Giúp bưởi.............. , có trăng............. + Mùa đông: Có bếp lửa............. , ấp ủ mầm............. Câu hỏi 4: Em thích nhất mùa nào? Vì sao? -     Hướng dẫn: Dựa vào những sắc thái và vẻ đẹp riêng của từng mùa,căn cứ vào sở thích riêng của từng em. Từng em có thể nêu ý riêng của mình. Nhưng khi nêu sở thích riêng của mình, em cần giải thích cho mọi người biết.
Xem thêm

1 Đọc thêm