GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY":

TIỂU LUẬN CAO HỌC triết quan điểm giáo dục của khổng tử và một số đề xuất về việc áp dụng vào công tác giáo dục ở việt nam hiện nay

TIỂU LUẬN CAO HỌC triết quan điểm giáo dục của khổng tử và một số đề xuất về việc áp dụng vào công tác giáo dục ở việt nam hiện nay

A. ĐẶT VẤN ĐỀ: Ngày nay, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, nhân tố con người và việc phát huy vai trò năng động chủ quan của con người là điều kiện tiên quyết để phát triển đất nước. Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay đang có những vấn đề bức xúc trước đòi hỏi của sự phát triển và hội nhập. Một trong những vấn đề bức xúc đó là việc tìm tòi và vận dụng một triết lý thích hợp cho nền giáo dục mới, vừa phát huy được kinh nghiệm truyền thống của dân tộc, vừa mang tính hiện đại để sánh vai với các cường quốc trên thế giới. Nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã có hàng ngàn năm theo Nho học. Mặc dù, quan điểm giáo dục và đào tạo con người của Nho giáo có những hạn chế nhất định, song vẫn có mặt tích cực. Do vậy, nghiên cứu quan niệm của Nho giáo về vấn đề đào tạo con người là cần thiết vì một số nội dung cơ bản của Nho giáo về vấn đề đào tạo con người Chúng ta có thể kế thừa trong sự nghiệp “trồng người” ở Việt Nam hiện nay Một trong số những vấn đề nên được quan tâm nghiên cứu đó là triết lý giáo dục của Khổng Tử và vận dụng một số quan điểm giáo dục của ông vào công tác giáo dục ở nước ta hiện nay. Trong bài tiểu luận nhỏ này xin phép được trình bày quan điểm giáo dục của Khổng tử và một số đề xuất về việc áp dụng vào công tác giáo dục ở Việt Nam hiện nay.
Xem thêm

Đọc thêm

Ý THỨC ĐẠO ĐỨC SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

Ý THỨC ĐẠO ĐỨC SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

sinh viên.Tr-ơng Văn Ph-ớc (2003)- chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoahọc đặc biệt cấp Đại học Quốc gia HN Đạo đức sinh viên trong qúatrình chuyển sang nền kinh tế thị tr-ờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam- thực trạng, vấn đề và giải pháp, b-ớc đầu phân tích nhữngtác động tích cực và tiêu cực của kinh tế thị tr-ờng với đạo đức sinhviên, đề xuất các giải pháp phát huy tác động tích cực và hạn chế tácđộng tiêu cực của kinh tế thị tr-ờng đối với đạo đức sinh viên hiện nay.Tháng 6-2003, một hội thảo khoa học- thực tiễn với chủ đềThanh niên học tập và hành động theo t- t-ởng Hồ Chí Minh, do BanT- t-ởng- Văn hóa TƯ và TƯ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp tổchức, có một số báo cáo đề cập đến thực trạng đạo đức và việc giáo dụcđạo đức cho thanh niên sinh viên hiện nay.Trung Quốc có công trình Tu d-ỡng đạo đức t- t-ởng do LaQuốc Kiệt (2003) chủ biên, đề cập một cách t-ơng đối toàn diện đặcđiểm của sinh viên Trung Quốc trong bối cảnh hiện nay, tầm quan13trọng cũng nh- một số biện pháp chủ yếu của việc giáo dục t- t-ởngđạo đức cho sinh viên Trung Quốc, đáp ứng yêu cầu của công nghiệphóa, hiện đại hóa.Ngoài ra, còn một số công trình khác có liên quan ít nhiều, đ-ợctrích dẫn trong luận án và chỉ rõ phần danh mục tài liệu tham khảo.Những công trình trên đây, hoặc là nghiên cứu các yếu tố tácđộng đến sinh viên và vấn đề định h-ớng giá trị, lối sống; hoặc lànghiên cứu một hình thái ý thức xã hội (đạo đức, chính trị) biểu hiện ởsinh viên nh-ng nghiêng theo h-ớng giáo dục đạo đức, t- t-ởng vànhân cách; hoặc là nghiên cứu vai trò và sự biến đổi của tri thức gắn
Xem thêm

35 Đọc thêm

Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay

Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay

Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay Lạm phát và phương pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay
Xem thêm

Đọc thêm

QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

thiếu kiến thức về quyền, ngƣời dân không biết tự bảo vệ các quyềncủa mình, đồng thời thiếu ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện cácnghĩa vụ công dân, dẫn đến sự vi phạm các quyền hợp pháp của ngƣờikhác hoặc của cộng đồng.Trong công cuộc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền hiện nay,việc giáo dục nhân quyền có ý nghĩa to lớn hơn bao giờ hết vì nóthúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam với thế giới và khu vực,góp phần xây dựng nền văn hóa nhân quyền toàn cầu. Xuất phát từnhững nhu cầu lý luận và thực tiễn trên đây, việc nghiên cứu làm rõcơ sở lý luận, đánh giá những thành tựu đã đạt đƣợc và nhữngkhuyết điểm còn tồn tại của giáo dục nhân quyền; đồng thời xácđịnh phƣơng hƣớng hoàn thiện hóa giáo dục nhân quyền là việc làmhết sức cần thiết và cấp bách.2. Tình hình nghiên cứuVấn đề giáo dục pháp luật nói chung đã nhận đƣợc sự quan tâmcủa nhiều cơ quan, tổ chức và các nhà khoa học. Từ năm 1995 tới nayđã có nhiều công trình nghiên cứu, có thể kể tên một số công trình tiêubiểu sau:+ Công trình đã viết thành sách:Bàn về giáo dục pháp luật của hai tác giả Trần Ngọc Đƣờng vàDƣơng Thanh Mai, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1995; Sống vàlàm việc theo pháp luật - Một số vấn đề giáo dục pháp luật cho thanhniên, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1997; Giáo dục quyền con người,Những vấn đề lý luận và thực tiễn của GS.TS Võ Khánh Vinh chủbiên, NXB Khoa học xã hội, 2011...5+ Các đề tài khoa học cấp Nhà nƣớc và cấp bộ:
Xem thêm

25 Đọc thêm

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO NGƯỜI THẦY THUỐC Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO NGƯỜI THẦY THUỐC Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

thuốc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.2.2. Nhiệm vụ- Khảo sát, đánh giá những tài liệu chủ yếu liên quan đến đề tài, từ đó, xácđịnh những vấn đề sẽ đƣợc nghiên cứu trong luận án.- Xác định khái niệm giáo dục đạo đức cho ngƣời thầy thuốc; luận chứng sựcần thiết và xác định những nội dung chủ yếu của giáo dục đạo đức cho ngƣời thầythuốc Việt Nam hiện nay.- Phân tích những nhân tố tác động và đánh giá thực trạng giáo dục đạo đứccho ngƣời thầy thuốc nƣớc ta hiện nay, từ đó xác định những vấn đề cần giảiquyết.- Đề xuất quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quảcủa giáo dục đạo đức cho ngƣời thầy thuốc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.TÀI LIỆU THAM KHẢO1.Nguyễn Đình Bắc (2012), "Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về phƣơng pháp "nêugƣơng" trong giáo dục đạo đức cho thanh niên hiện nay", Tạp chí Khoa họcxã hội Việt Nam (1), tr. 3-7.2.Ban Tƣ tƣởng văn hoá Trung ƣơng (2004), Giáo dục đạo đức cho cán bộ,Đảng viên trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, NXBChính trị quốc gia, Hà Nội.3.Hoàng Chí Bảo (1998), “ Đổi mới Việt Nam, một số vấn đề triết học về
Xem thêm

25 Đọc thêm

tiểu luận cao học tư tưởng giáo dục của khổng tử và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đào tạo con người ở việt nam hiện nay

tiểu luận cao học tư tưởng giáo dục của khổng tử và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đào tạo con người ở việt nam hiện nay

1. Tính cấp thiết của đề tài Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt mà thế hệ đi trước truyền lại cho thế hệ đi sau những kinh nghiệm tham gia vào đời sống sản xuất và hoạt động. Giáo dục xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người và chỉ có trong đời sống con người. Trải qua quá trình phát triển lâu dài của lịch sử, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, giáo dục đã khẳng định vai trò ưu việt của mình với việc hoàn thiện nhân cách con người. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển mạnh mẽ thì giáo dục càng cần thiết hơn bao giờ hết. Đó là phương tiện hữu hiệu nhất tạo nên nguồn lực con người, vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Đảng và nhà nước ta đã xác định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là nền tảng thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Giáo dục là yếu tố truyền thống mà điểm khởi đầu và kết thúc đều là con người. Thực tế cho thấy, không có con người trừu tượng, phi lịch sử mà chỉ có con người hiện thực, chịu sự tác động của nhiều yếu tố: gia đình và xã hội, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế. Trong đó, yếu tố truyền thống đóng vai trò cơ sở, nền tảng hình thành những yếu tố hiện đại. Quá trình hình thành phát triển giáo dục nhân loại, có rất nhiều nhà giáo dục tài ba lỗi lạc với những quan điểm đã trở thành chân lý thời đại. Khổng Tử là một trong những nhà giáo dục vĩ đại ấy. Thời Xuân thu Chiến quốc (770221 trước công nguyên) là thời kỳ “bách gia tranh minh”. Nhiều vấn đề cơ bản về tự nhiên, xã hội, nhân sinh được “bách gia chư tử” bàn luận và đấu tranh kịch liệt để tranh giành ảnh hưởng với nhau nhưng không một học phái nào đề cao đúng mức và đạt được thành tựu vầ mặt giáo dục bằng Khổng Tử. Một đời Khổng Tử đề cao việc học và chính ông cũng là tấm gương học tập không mệt mỏi. Ồng cho rằng phàm là con người ai ai cũng phải học, vua phải học để làm vua, quan phải học để làm quan, dân phải học để làm dân. Quan điểm giáo dục của Khổng Tử hướng người ta vươn tới cái “nhân, lễ, trí, dũng”. Để đạt được lý tưởng cao đẹp này, mỗi chúng ta phải được giáo dục, có giáo dục và tự giáo dục. Nghĩa là “dạy và học là việc suốt đời”(Lễ Kí – Học kí biên). Đây là đóng góp hết sức căn bản của Khổng Tử , ngay cả trong thời đại ngày nay, khi mà cánh cửa của nền kinh tế tri thức đang mở ra, hướng nhân loại vào kỷ nguyên tin học, kỷ nguyên khoa học kỹ thuật, khi mà việc học tập thường xuyên, suốt đời đã trở thành hiện thực. Tư tưởng đạo Khổng, một bộ phận của Nho giáo truyền thống, có sức sống dai dẳng và ảnh hưởng không nhỏ đến con người, xã hội Việt Nam. Khổng học là một học thuyết chính trị xã hội luôn lấy đức làm trọng, là công cụ quản lý xã hội của giai cấp thống trị Trung Quốc. Với rất nhiều giáo lý phù hợp với xã hội Việt Nam, Khổng học từng bước được giai cấp thống trị Việt Nam tiếp nhận và đề cao, đặc biệt trong quản lý đất nước, đào tạo con người . Thời gian vừa qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo con người, bên cạnh đó còn bộc lộ nhiều hạn chế đáng lo ngại. Chẳng hạn, sự tụt hậu về tri thức, khoa học công nghệ; đặc biệt là sự tha hóa đạo đức, lối sống… Nếu đặt nền giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhìn tình hình một cách khách quan và có trách nhiệm thì không thể nhắm mắt làm ngơ trước sự tụt hậu ngày càng xa của nền giáo dục Việt Nam so với các nước xung quanh và so với yêu cầu phát triển của xã hội. Nền giáo dục, đào tạo nước ta còn đang đứng trước nhiều khó khăn và yếu kém, đó là: “…chất lượng giáo dục còn thấp; nội dung phương pháp dạy và học còn lạc hậu; các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục còn nhiều; cơ cấu giáo dục và đào tạo còn mất cân đối…” (Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khóa IX ). Những hạn chế này có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có nguyên nhân từ việc chúng ta quá đề cao và hướng theo các giá trị hiện đại, mà bỏ quên hay kế thừa chưa hiệu quả các giá trị truyền thống, cũng như các tinh hóa văn hóa nhân loại, trong đó có tư tưởng giáo dục của Khổng Tử. Mặc dù nhiều nội dung học tập và tu dưỡng của Khổng Tử không còn phù hợp với thời đại ngày nay nhưng tư tưởng giáo dục của Khổng Tử vẫn còn những giá trị thiết thực, có ý nghĩa đối với sự nghiệp giáo dục ở nước ta hiện nay. Nếu chúng ta biết kế thừa có chọn lọc những nhân tố có giá trị trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử thì sẽ có được nhiều bài học kinh nghiệm quý giá, góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra trong sự nghiệp đào tạo con người hiện nay. Vì vậy, hướng tới mục tiêu xây dựng và bảo vệ đất nước thời kỳ đổi mới: công nghiệp hóa hiện đại hóa, xem xét mối quan hệ giữa quan niệm giáo dục của Khổng Tử với sự nghiệp giáo dục đào tạo con người ở Việt Nam hiện nay là việc làm cần thiết. Do tính cấp thiết của đề tài, do tính giới hạn của thời gian cũng như là sự vô cùng trong nội dung nghiên cứu về giáo dục nên trong đề tài này em chỉ tập trung vào thời kỳ phát triển của triết học cổ đại Trung Quốc mà trọng tâm nghiên cứu là quan niệm của Khổng Tử về giáo dục, từ đó đi vào nghiên cứu những ảnh hưởng của nó trong tình hình thực tiễn nước ta hiện nay. Vì vậy, em quyết định chọn đề tài: “Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đào tạo con người ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận của mình.
Xem thêm

Đọc thêm

ĐẠO ĐỨC TRUNG, HIẾU TRONG NHO GIÁO VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC TRÁCH NHIỆM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

ĐẠO ĐỨC TRUNG, HIẾU TRONG NHO GIÁO VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC TRÁCH NHIỆM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

ĐẠO ĐỨC TRUNG, HIẾU TRONG NHO GIÁOVÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC TRÁCH NHIỆM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, các dân tộc đều đứng trƣớc đòi hỏi tất yếu khách quan, đó là vừa phải hòa mình vào bối cảnh chung, vừa phải khẳng định các tính chất riêng có của quốc gia, dân tộc mình. Với tƣ cách là cái bản chất định vị vai trò, chỗ đứng của các dân tộc, giá trị văn hóa truyền thống luôn là hệ chuẩn nhận diện sức sống và tƣơng lai phát triển của chính dân tộc ấy. Do đó, việc nghiên cứu lý luận nhằm tiếp tục làm rõ vai trò của các giá trị truyền thống với tƣ cách hình thành nên bản sắc văn hóa là điều cần thiết và có ý nghĩa đối với đất nƣớc ta hiện nay. Trong không khí ấy, các giá trị văn hóa tinh thần Đông phƣơng, trong đó có Nho giáo đang nhận đƣợc sự quan tâm ngày càng nhiều sự đóng góp của nó vào sự hình thành các giá trị đó trong thời kỳ lịch sử lâu dài. Chính những thành công của một số nƣớc trong khu vực chịu ảnh hƣởng của Nho giáo đã chứng tỏ điều đó. Không chỉ trong lịch sử, mà ngày nay Nho giáo nói chung, học thuyết đạo đức của nó noia riêng đang tiếp tục tác động đến nhiều lĩnh vực đời sống tinh thần của nhiều dân tộc. Do đó, vấn đề căn bản hiện nay là phải khai thác cái gì ở Nho giáo và vận dụng nó nhƣ thế nào cho phù hợp với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa. Không những thế, yêu cầu này còn xuất phát từ thực tiễn vì mục đích xây dựng xã hội lành mạnh, hài hòa và phát triển. Việc kế thừa và phát huy đạo đức truyền thống nói chung và các giá trị đạo đức Nho giáo nói riêng hiển nhiên không phải là sự lựa chọn mới, mà là một tất yếu khách quan. “Từ xƣa đến nay, bất luận dân tộc nào, bất luận quốc gia nào, dầu vàng, dầu trắng, dầu yếu, dầu mạnh, đã đứng cạnh tranh hơn thua với các dân tộc trên thế giới thì chẳng những thuần nhờ sức mạnh thôi, mà phải nhờ cái đạo đức làm gốc nữa; nhất là dân tộc nào bị té nhào xuống, nay muốn đứng lên khỏi bị ngƣời đè lên trên thì lại cần có một đạo đức vững chặt hơn dân tộc đang giàu mạnh hơn mình” 134, tr.2. Vấn đề xây dựng đạo đức mới hiện nay đang trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết, bởi lẽ, những tác động tiêu cực nảy sinh từ sự chuyển đổi thể chế kinh tế ở nƣớc ta diễn ra trong vài thập niên gần đây đã tạo môi trƣờng thuận lợi cho cái cũ, cái lạc hậu có cơ hội phục hồi, cái bệnh hoạn, suy đồi, biến thái đƣợc dung dƣỡng. Tình trạng lao dốc của đời sống đạo đức tỷ lệ nghịch với sự tăng trƣởng các điều kiện vật chất, sức mạnh đồng tiền đã khiến xã hội đối mặt với thực trạng vô đạo đức, phản văn hóa ngày càng gia tăng. Nhiều ngƣời thừa tiền nhƣng sống thiếu văn hóa, giàu về vật chất nhƣng hủ bại về đời sống đạo đức. Không ít đạo lý vốn đƣợc coi là chân lý sống bị đảo lộn: ngƣời già bị bạc đãi, con trẻ bị bỏ rơi, con ngƣời cảm giác cô đơn ngay trong chính ngôi nhà của mình, không ít ngƣời không thực hiện trách nhiệm của một ngƣời làm con đối với cha mẹ, quên đi trách nhiệm của một công dân đối với tổ quốc… Khi Việt Nam đã và đang tiếp tục đối mặt với những thách thức về suy thoái đạo đức, thì việc trở lại với những giá trị đạo đức căn bản nhƣ hiếu, trung để giáo dục ý thức trách nhiệm cho con ngƣời càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, việc nghiên cứu đạo đức trung, hiếu của Nho giáo từ khía cạnh lịch sử triết học có nhiệm vụ gạn đục khơi trong để tìm lấy ở đó những giá trị hợp lý có thể vận dụng trong điều kiện mới là việc làm không chỉ mang tính học thuật thuần túy, mà còn có ý nghĩa thực tiễn cấp bách đối với xã hội hiện nay. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tui quyết định chọn đề tài “Đạo đức trung, hiếu của Nho giáo và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm ở Việt Nam hiện nay”, cho luận án tiến sỹ triết học của mình với mong muốn đƣợc đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc làm rõ và sâu sắc hơn hai phạm trù đạo đức đó của Nho giáo cũng nhƣ cho việc hoạch định phƣơng hƣớng giải quyết các vấn đề thực tiễn cấp bách nảy sinh trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc trong điều kiện hiện nay. 2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án Mục đích: Từ việc phân tích nội dung căn bản của đạo đức trung, hiếu của Nho giáo và sự tiếp biến của nó ở Việt Nam, luận án làm rõ ý nghĩa của đạo đức trung hiếu đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm ở Việt Nam hiện nay. Nhiệm vụ: Phân tích bối cảnh ra đời và những nội dung của đạo đức trung, hiếu trong tiến trình lịch sử của Nho giáo. Phân tích sự tiếp biến và đạo đức trung, hiếu trong Nho giáo Việt Nam Phân tích về ý nghĩa của trung, hiếu đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án Đối tượng nghiên cứu: Đạo đức trung, hiếu trong Nho giáo. Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu bằng việc chỉ khảo cứu đạo đức trung, hiếu của Nho giáo ở Trung Quốc (Nho giáo Nguyên Thủy, Nho giáo thời Hán, Nho giáo thời Tống) và phân tích nội dung của nó trong Nho giáo Việt Nam qua các đại biểu nho học chọn lọc. Trên cơ sở đó, đánh giá ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm cá nhân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án Cơ sở lý luận của luận án là Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong điều kiện mới. Phƣơng pháp nghiên cứu: Khi áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu lịch sử triết học, luận án đặt toàn bộ vấn đề nghiên cứu dƣới ánh sáng của chủ nghĩa Duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, vì vậy ngoài việc sử dụng các phƣơng pháp: từ trừu tƣợng đến cụ thể, phân tích, tổng hợp, so sánh....luận án còn quán triệt nguyên tắc lịch sử cụ thể và nguyên tắc khách quan, toàn diện trong quá trình triển khai đề tài. 5. Đóng góp mới về khoa học của luận án Luận án trình bày khái quát đƣợc nội dung đạo đức trung, hiếu của Nho giáo ở Trung Quốc đồng thời chỉ ra đƣợc sự tiếp biến của đạo đức trung, hiếu trong Nho giáo ở Việt Nam và nhận định đƣợc về ý nghĩa của đạo đức trung, hiếu đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm cho cá nhân trong giai đoạn hiện nay ở nƣớc ta.
Xem thêm

Đọc thêm

Mô hình giáo dục đào tạo ở việt nam hiện nay

Mô hình giáo dục đào tạo ở việt nam hiện nay

Hệ thống giáo dục – đào tạo ở Việt Nam được chia thành các cấp bậc như sau:1.Giáo dục cấp nhà trẻ mẫu giáo Là nơi giữ trẻ không bắt buộc dành cho trẻ dưới độ tuổi đi học chính thức (dưới 6 tuổi). Nhà trẻ và mẫu giáo dành cho trẻ dưới 6 tuổi (thậm chí trẻ mới sinh vài tháng đã vào nhà trẻ) mục đích hình thành tư duy cho trẻ. Tạo những thói quen, tập tính ngay trong giai đoạn này hay là nơi giúp trẻ vui chơi để cha mẹ đi làm.2.Giáo dục cơ bảnGiáo dục cơ bản kéo dài 12 năm và được chia thành 3 cấp: cấp I (tiểu học), cấp II (trung học cơ sở), và cấp III (trung học phổ thông).Cấp tiểu họcCấp tiểu học hay còn được gọi là cấp I, bắt đầu năm 6 tuổi đến hết năm 11 tuổi. Cấp I gồm có 5 trình độ, từ lớp 1 đến lớp 5. Đây là cấp học bắt buộc đối với mọi công dân. Học sinh phải học các môn sau: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, 2, và 3), Khoa học (lớp 4 và 5), Lịch sử (lớp 4 và 5), Địa lý (lớp 4 và 5), Âm nhạc, Mỹ thuật, Đạo đức, Thể dục, Tin học (tự chọn), Tiếng Anh (lớp 3, 4, và 5 một số trường cho học sinh học tiếng Anh bắt đầu từ năm lớp 1, lớp 2). Để kết thúc bậc tiểu học, học sinh phải trải qua kỳ thi tốt nghiệp tiểu học. Hiện nay đã chính thức bãi bỏ.Cấp trung học cơ sởCấp II gồm có 4 trình độ, từ lớp 6 đến lớp 9, bắt đầu từ 11 đến 15 tuổi. Đây là một cấp học bắt buộc để công dân có thể có một nghề nghiệp nhất định (tốt nghiệp cấp || có thể học nghề hay trung cấp chuyên nghiệp mà không cần học tiếp bậc Trung học phổ thông).Học sinh đến trường phải học các môn sau: Toán, Vật lý, Hoá học (lớp 8 và 9), Sinh học, Công nghệ, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục Công dân, Ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nga, Trung, Nhật), Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học (máy vi tính hoặc điện toán).
Xem thêm

Đọc thêm

PHẠM TRÙ LỄ TRONG NHO GIÁO SƠ KỲ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

PHẠM TRÙ LỄ TRONG NHO GIÁO SƠ KỲ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

1. Lý do chọn đề tài Nho giáo xuất hiện ở Trung Quốc cách đây khoảng 2500 năm, là hệ tư tưởng thống trị của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Với tư cách một học thuyết đạo đức, Nho giáo đặc biệt quan tâm đến việc giải quyết mối quan hệ giữa con người với con người. Những phạm trù đạo đức cơ bản mà Nho giáo xây dựng là: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trung, Hiếu, Tín... Đây được coi là những phạm trù trung tâm để giải quyết các mối quan hệ xã hội. Lễ là một trong những nội dung chủ yếu trong quan niệm về chính trị xã hội, luân lý đạo đức của Nho giáo. Lễ được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, có nội dung biến đổi cùng với sự biến đổi, phát triển của Nho giáo. Song, dù được hiểu theo khía cạnh nào thì Lễ cũng có một vị trí và ý nghĩa quan trọng trong hệ thống những phạm trù đạo đức của Nho giáo với mục đích bình ổn xã hội. Trong quá trình du nhập vào Việt Nam, tư tưởng của Nho giáo từ chỗ đi theo gót chân của kẻ xâm lược dần dần đã hòa nhập vào đời sống cộng đồng, biến đổi để thích nghi với văn hóa bản địa. Tư tưởng Nho giáo, trong đó có tư tưởng về Lễ, đã sớm chiếm một vị trí quan trọng trong nền giáo dục phong kiến và đời sống tinh thần của người Việt Nam. Từ Lễ trong nền giáo dục phong kiến đến Lễ trong nền giáo dục hiện đại đã có rất nhiều biến đổi nhưng ở bất kỳ thời đại nào, Lễ cũng có giá trị cần phải được bảo tồn và phát huy. Trong những năm gần đây, cùng với quá trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nền giáo dục Việt Nam đã có bước chuyển quan trọng và đạt được nhiều thành tựu nhất định. Tuy nhiên, quá trình đó cũng đưa đến một số thay đổi tiêu cực trong các quan hệ xã hội. Là nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, sinh viên Việt Nam hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực, những giá trị đạt được từ nền giáo dục, từ việc kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc thì một bộ phận không nhỏ cũng đang có những biểu hiện tiêu cực về đạo đức, lối sống. Với những giá trị đã được thẩm định, phát triển qua thực tiễn nhiều thế kỷ cùng sự tiếp biến linh hoạt để đưa vào Lễ giá trị mới của thời đại, ngày nay Lễ vẫn có một ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay. Từ những vấn đề có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Phạm trù Lễ trong Nho giáo sơ kỳ và ý nghĩa của nó với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn cao học.
Xem thêm

Đọc thêm

TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

đạo đức xã hội bị suy đồi, các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, mâu thuẫngiai cấp trong xã hội trở n n sâu sắc, kể cả mâu thuẫn giữa giai cấp thống trịvà nhân dân cũng như giữa giai cấp thống trị với nhau, làm cho xã hội ngàycàng them rối loạn. Lễ nghĩa nhà Chu bị phá hoại, đặc biệt những nghi lễ chặtchẽ, tôn nghi m trước đây đã từng góp phần bảo vệ và làm hung thịnh chế độtông pháp nhà Chu, thì đến nay cũng bị xem thường. Hậu quả tất yếu là mộtvài nơi đã nổi l n các cuộc khởi nghĩa nông dân và nô lệ. Đẩy mâu thuẫn xãhội thời Xuân Thu l n đỉnh cao, đưa chế dộ chiếm hữu nô lệ Trung Quốc đinhanh đến suy tàn và cáo chung.Thời Chiến Quốc, b n cạnh sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, như sựxuất hiện của nhiều trung tâm luyện sắt lớn Hàm Đan nước Triệu, ĐườngKh nước Hàn, Lâm Truy nước Tề. . . kéo theo sự phát triển của nghề thủcông như nghề làm đồ gốm, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, . . . tiền tệ bằngkim loại ra đời, thương nghiệp cũng vì thế mà hưng thịnh. . . thì về mặt chínhtrị, chiến tranh vẫn xảy ra li n mi n, với quy mô lớn hơn và tàn khốc hơn.Mạnh Tử viết: “đánh nhau tranh thành, giết người thây chết đầy thành, đánhnhau giành đất, giết người thây chết đầy đồng” [35, 405 - 406]. Sự phát triểncủa kinh tế hàng hóa và chiến tranh li n mi n làm cho chế độ công xã nôngthôn nhanh chóng tan rã. Chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất dần dần trởthành mối quan hệ thống trị. Việc mua bán ruộng đất được tự do và sự phổbiến của chế độ tư hữu đã mở đường cho sự tập trung ruộng đất một số ít lãnhchúa, còn đa số nông dân nghèo mất hết ruộng đất phải đi làm tá điền. Chế độbóc lột bằng phát canh thu tô xuất hiện. Trong xã hội đã xuất hiện những yếutố của quan hệ sản xuất mới đó là chế độ phong kiến quận huyện. Mâu thuẫngiai cấp đã ngày càng gay gắt hơn, đẩy xã hội tới nguy cơ tan rã nghiêmtrọng, đưa chế độ tông pháp nhà Chu và chế độ chiếm hữu nô lệ Trung Quốcđi nhanh vào hồi kết. Với việc Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc đã12
Xem thêm

86 Đọc thêm

SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO VIỆC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO VIỆC ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

... khóa luận nhằm làm rõ vận dụng quan điểm toàn diện vào việc đổi giáo dục đào tạo Việt Nam; từ đó, đưa số giải pháp nhằm đổi giáo dục đào tạo Việt Nam sở vận dụng quan điểm toàn diện 3.2 Nhiệm vụ... chung quan điểm toàn diện nội dung vận dụng quan điểm toàn diện vào việc đổi giáo dục đào tạo - Xem xét thực trạng giáo dục đào tạo Việt Nam - Đề xuất số giải pháp phát triển giáo dục đào tạo nhằm... công đổi toàn diện giáo dục đào tạo Việt Nam 25 1.3 Nội dung vận dụng quan điểm toàn diện vào việc đổi giáo dục đào tạo Giáo dục đào tạo nước ta đạt những thành tựu không nhỏ , góp phần quan
Xem thêm

77 Đọc thêm

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN PHÂN HÓA VÀ BÌNH ĐẲNG XH TRONG GIÁO DỤC

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN PHÂN HÓA VÀ BÌNH ĐẲNG XH TRONG GIÁO DỤC

Phân hóa xã hội là gì? Phân hóa xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào? Hãy nêu một số chỉ báo hay đơn vị đo lường, đánh giá sự phân hóa xã hội trong giáo dục? Công bằng xã hội là gì? Công bằng xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào? Bình đẳng xã hội là gì? Bình đẳng xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào? Nêu một số chỉ báo hay đơn vị đo lường sự bình đẳng xã hội trong giáo dục. Phân tích mối quan hệ giữa “công bằng xã hội” và “bình đẳng xã hội”. Liên hệ thực tế giáo dục ở Việt Nam Phân tích thực trạng phân hóa xã hội và bình đẳng xã hội trong giáo dục từ tiểu học đến đại học ở Việt Nam. Kể tên các hình thức bất bình đẳng xã hội trong giáo dục. Phân tích một hình thức biểu hiện rõ nhất tình trạng bất bình đẳng xã hội trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay. Chức năng sàng lọc của giáo dục có ảnh hưởng như thế nào đến phân hóa và bình đẳng xã hội trong giáo dục. Liên hệ thực tế ở Việt Nam. Thiết chế kinh tế có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng phân hóa và bình đẳng xã hội trong giáo dục. Liên hệ thực tế ở Việt Nam Thiết chế văn hóa có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng phân hóa và bình đẳng xã hội trong giáo dục. Liên hệ thực tế ở Việt Nam Thiết chế pháp luật có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng phân hóa và bình đẳng xã hội trong giáo dục. Liên hệ thực tế ở Việt Nam. Dân số có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng phân hóa và bình đẳng xã hội trong giáo dục. Liên hệ thực tế ở Việt Nam. Xã hội hóa (sự nghiệp) giáo dục có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng phân hóa và bình đẳng xã hội trong giáo dục. Liên hệ thực tế ở Việt Nam.
Xem thêm

49 Đọc thêm

Vận dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học môn Hoá học 10 nâng cao nhằm phát triển một số năng lực cho học sinh

Vận dụng lí thuyết kiến tạo trong dạy học môn Hoá học 10 nâng cao nhằm phát triển một số năng lực cho học sinh

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Giáo dục Việt Nam đang đổi mới căn bản và toàn diện theo chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 66, nhằm khắc phục những điểm yếu hiện nay và hướng đến sự phát triển bền vững. Sau gần 30 năm mở cửa, cải cách, Việt Nam đã vượt qua đói nghèo và gia nhập các nước có thu nhập trung bình thấp của thế giới. Tuy nhiên, đã qua thời kì phát triển nhờ mở rộng đầu tư, nhờ khai thác nguồn tài nguyên và nhân công giá rẻ. Theo một nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO – International Labour Organization), năng suất lao động của Singapo năm 2013 cao gần gấp 15 lần, của Malaysia cao gấp 5 lần, của Thái Lan cao gấp 2,5 lần năng suất lao động của Việt Nam 81. Nguồn nhân lực chất lượng thấp có nguyên nhân sâu xa từ những điểm yếu của giáo dục Việt Nam hiện nay. Giáo dục định hướng phát triển năng lực (NL) đã được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục tất yếu. Ở Việt Nam, mục tiêu phát triển NL người học đã được Nghị quyết Hội nghị Trung Ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn mạnh mục tiêu cụ thể đối với giáo dục phổ thông là: “Tập trung phát triển trí tuệ, ... Nâng cao… NL và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn (TT). Phát triển khả năng sáng tạo, tự học (TH), khuyến khích học tập suốt đời…” 21. Đề án “Đổi mới chương trình (CT) và sách giáo khoa (SGK) giáo dục phổ thông sau 2015” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã và đang triển khai thực hiện, nhằm đáp ứng mục tiêu trên 14. Trong giáo dục phổ thông, môn Hoá học thuộc nhóm môn khoa học tự nhiên, ngoài các phương pháp (PP) riêng của mình nó còn sử dụng thành quả và các PP của các khoa học khác như: Vật lí, Toán học, Triết học,… Với khối lượng kiến thức khổng lồ và luôn phát triển của môn học mâu thuẫn sâu sắc với thời gian có hạn của học đường, thì việc phát triển NL TH cho HS là rất cần thiết. Môn Hóa học có ứng dụng rộng rãi để phát triển NL vận dụng kiến thức hóa học (VDKTHH) vào TT cho HS. Khảo sát thực trạng thực hiện CT và SGK Trung học phổ thông (THPT) cho thấy nội dung và cách dạy học của giáo viên (GV) và HS còn ít chú ý tới việc phát triển NL TH và NL VDKTHH vào TT.
Xem thêm

Đọc thêm

Nạo phá thai ở tuổi vị thành niên tại Hà Nội và sự cần thiết của giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THPT hiện nay

Nạo phá thai ở tuổi vị thành niên tại Hà Nội và sự cần thiết của giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THPT hiện nay

MỞ ĐẦU11. Tính cấp thiết của đề tài12. Tình hình nghiên cứu33. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu của đề tài53.1 Đối tượng nghiên cứu53.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài54. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài54.1 Mục đích nghiên cứu54.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài65. Phương pháp nghiên cứu65.1 Phương pháp phỏng vấn sâu65.2 Phương pháp quan sát65.3 Phương pháp khảo cứu tài liệu66. Kết cấu của đề tài6NỘI DUNG8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN81.1 Cơ sở lí luận chung91.1.1 Một số khái niệm liên quan sức khỏe sinh sản vị thành niên91.1.1.1 Sức khỏe sinh sản91.1.1.2 Vị thành niên111.1.2 Một số khái niệm liên quan đến giáo dục sức khỏe sinh sản151.1.2.1 Giáo dục giới tính151.1.2.2 Giáo dục sức khỏe sinh sản16CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NẠO PHÁ THAI TUỔI VỊ THÀNH NIÊN Ở HÀ NỘI HIỆN NAY182.1 Tình hình nạo phá thai ở Việt Nam hiện nay182.2 Tình hình nạo phá thai ở Hà Nội hiện nay212.2.1 Thực trạng nạo phá thai ở Hà Nội hiện nay212.2.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nạo phá thai242.2.3 Hậu quả của việc nạo phá thai lứa tuổi vị thành niên tại Hà Nội hiện nay352.2.3.1 Hậu quả về mặt sinh học352.2.3.2 Hậu quả về tâm lí362.2.3.3 Hậu quả về mặt kinh tế xã hội.37CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN ĐỂ HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG NẠO PHÁ THAI TUỔI VỊ THÀNH NIÊN TẠI HÀ NỘI HIỆN NAY39
Xem thêm

Đọc thêm

Tài liệu ôn thi đầy đủ môn Quản Lí Hành Chính Nhà Nước

Tài liệu ôn thi đầy đủ môn Quản Lí Hành Chính Nhà Nước

đề cương chi tiết 1. Anhchị hiểu như thế nào về khái niệm viên chức theo quy định của pháp luật: 2. Anhchị hãy phân tích và cho ví dụ minh hoạ các đặc điểm của hoạt động quản lý hành chính nhà nước CHXHCN Việt Nam. 3. Anh (chị) hãy nêu những thành tựu và nguyên nhân những thành tựu của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. (6 điểm) 4. Anh (chị) hãy nêu những hạn chế và nguyên nhân những hạn chế của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. (5 điểm)

Đọc thêm

Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn)

Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn)

Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn) Xác định được tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục trong thời kì đổi mới, văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội”. Quan điểm chỉ đạo trên đây của Đảng đã đặt ra hệ thống tổng hợp của các nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, trong đó việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành cho HS là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Để nâng cao chất lượng dạy học theo định hướng phát huy năng lực sáng tạo và khả năng thực hành cho HS hiện nay, vấn đề tạo hứng thú học tập và năng lực nhận thức tích cực cho HS trong dạy học luôn là nhân tố cơ bản và có ảnh hưởng quyết định tới việc thực hiện mục tiêu nói trên. Bộ môn LS ở trường phổ thông với đặc trưng riêng của mình có vị trí quan trọng trong việc bồi dưỡng nhận thức và giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ. Nội dung học tập nhằm trang bị cho học sinh những tri thức lịch sử cơ bản hiện đại, những tri thức về quy luật xã hội, những kinh nghiệm và bài học lịch sử. Trên cơ sở đó dần hình thành cho các em có được hệ thống thế giới quan duy vật biện chứng khoa học, xây dựng niềm tin vững chắc vào sự phát triển của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay. Đồng thời qua dạy học lịch sử, phải phát triển các năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực tư duy độc lập và tích cực cho học sinh.Đề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chƣơng trình chuẩn) 2 Tuy nhiên, thực tế nhiều năm trở lại đây, việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông, bên cạnh mặt tích cực, còn không ít những bất cập. Chúng ta thường quan tâm đến việc học sinh nhận thức được cái gì? nhận thức được bao nhiêu? mà ít coi trọng việc học sinh nhận thức như thế nào? Các vấn đề về kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành, trong đó có kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh, ít được quan tâm đầy đủ. Do vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học để phát triển kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh là một vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay. Nhận thức tích cực là một trong những nội dung cơ bản và chủ yếu của lý luận dạy học hiện đại. Đó cũng là một trong những khác biệt cơ bản giữa dạy học theo lối truyền thống và lối dạy học theo phương pháp hiện đại. Theo đó, tính chủ động và tích cực nhận thức của người học luôn chiếm vị trí chủ đạo và chi phối toàn bộ quá trình dạy học. Có thể nói, sự chuyển hướng từ lối dạy học thụ động “thầy đọc trò chép” sang lối dạy học tích cực “thầy thiết kế, trò thi công” thực sự là một cuộc cách mạng lớn trong dạy học và là xu hướng chủ đạo trong dạy học hiện nay. Luật Giáo dục 2011 (sửa đổi bổ sung), Điều 28.2, đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” 1 Nhận thức tích cực là yêu cầu quan trọng, có giá trị quyết định tới chất lượng dạy học, và theo đó cũng có ảnh hưởng quyết định tới hiệu quả của hoạt động dạy học. Nhưng nhận thức tích cực không phải tự nhiên mà có. Để có nhận thức tích cực, phải hiểu bản chất của nhận thức tích cực và quan 1 [http://vi.wikisource.org].Đề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chƣơng trình chuẩn) 3 trọng hơn, phải hình thành được kỹ năng nhận thức tích cực và thường xuyên rèn luyện kỹ năng ấy trong thực tiễn nhận thức. Không quan tâm tới kỹ năng nhận thức tích cực và thường xuyên rèn luyện kỹ năng ấy, mục tiêu của nhận thức tích cực, mặc dù rất quan trọng và cần thiết, nhưng mãi sẽ chỉ là khẩu hiệu xuông mà thôi. Vấn đề này càng trở nên quan trọng hơn trong dạy học lịch sử hiện nay, khi mà việc học tập lịch sử theo lối nhận thức thụ động, nhồi nhét, thầy đọc trò chép vẫn đang còn là phổ biến và dẫn đến thực trạng báo động: học sinh chán sử, thờ ơ với lịch sử, không hứng thú học tập lịch sử. Xuất phát từ quan điểm trên, chúng tôi chọn vấn đề “Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chƣơng trình chuẩn) làm đề tài Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của mình. Với bản thân tôi, đây là vấn đề mới và khó, nhưng xác định được ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của vấn đề này, tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu và tin tưởng, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nhất định vào việc nâng cao năng lực nghề nghiệp cho bản thân và hy vọng góp một phần nhỏ bé vào nhiệm vụ nâng cao chất lượng DHLS ở trường THPT hiện nay. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy học lịch sử nói riêng, trong đó có vấn đề kỹ năng và nhận thức tích cực đã và đang được các nhà lý luận dạy học, các nhà giáo dục lịch sử trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau đây: 2.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Từ thời cổ đại, các nhà sư phạm tiền bối đã từng nói đến tầm quan trọng to lớn cũng như nói đến phương pháp và biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức, chủ động của HS. Socrat (469 – 339 TCN) nhà triết học, người thầy vĩ đại của Hy Lạp cổ đại đã từng dạy các trò của mình bằng cách luôn đặt ra các câu hỏi gợi mở nhằm giúpĐề tài: Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trƣờng trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chƣơng trình chuẩn) 4 người học dần dần phát hiện ra chân lý. Phương châm sống của ông là: “... sự tự nhận thức, nhận thức chính mình...” [68; tr.29] Khổng Tử (551 - 479 TCN) – nhà sư phạm kiệt xuất của giáo dục phương Đông cổ đại đã rất coi trọng vai trò của giáo dục, đòi hỏi người ta phải học và tìm tòi, suy nghĩ, đào sâu trong quá trình học. Montaigne (1533 – 1592) nhà quý tộc người Pháp, chuyên nghiên cứu lý luận, đặc biệt là về giáo dục, ông đề ra phương pháp giáo dục “học qua hành”. Ông cho rằng: “Muốn đạt được mục tiêu này, tốt nhất, hiệu quả nhất là bắt trò liên tục hành để học, học qua hành. Vậy vấn đề không phải là giảng dạy một cách giáo điều, thầy nói liên tục, thao thao bất tuyệt. Trái lại, chủ yếu là bắt trò hoạt động, vận dụng khả năng xét đoán của mình...”. Như vậy, Montaigne đã chú ý đến kỹ năng nhận thức tích cực và đặc biệt nhấn mạnh đến kỹ năng thực hành. Tác phẩm “Lí luận dạy học vĩ đại” của J.A Comenxki (1592 – 1670), cha đẻ của nền giáo dục cận – hiện, đã đưa ra những yêu cầu cải tổ nền giáo dục theo hướng phát huy sự tích cực, chủ động, sáng tạo nhu cầu người học. Theo ông, dạy học thế nào để người học thích thú học tập và có những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức. Sang những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, J.Dewey với tác phẩm “The school and Societ”, 1899 (Trường học và xã hội), ông cho rằng: vừa học vừa làm nghĩa là giáo dục không nên quá coi trọng vào lý thuyết mà phải chú trọng đến rèn luyện kỹ năng, chú ý đến nhận thức tích cực và kỹ năng thực hành cho học sinh. Nửa sau thế kỷ XX, Kixegof X.I với tác phẩm “Hình thành các kỹ năng và kỹ xảo sư phạm cho sinh viên trong điều kiện của nền giáo dục Đại học” (Vũ Năng Tính (dịch) – 1977. Tác giả chỉ ra và nhấn mạnh rằng: “việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo khái quát có liên quan đến việc phát triển tư duy và Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn) Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn) Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn) Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn)Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn) Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn) Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn) Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn) Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn) Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn) Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn) Đề tài Rèn luyện kỹ năng nhận thức tích cực cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (vận dụng qua phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 – chương trình chuẩn)
Xem thêm

Đọc thêm

tiểu luận cao học PR xây DỰNG kế HOẠCH PR CHO CHUYÊN NGÀNH QUAN hệ QUỐC tế của học VIỆN báo CHÍ và TUYÊN TRUYỀN

tiểu luận cao học PR xây DỰNG kế HOẠCH PR CHO CHUYÊN NGÀNH QUAN hệ QUỐC tế của học VIỆN báo CHÍ và TUYÊN TRUYỀN

LỜI MỞ ĐẦUCó thể hiểu PR là các phương pháp, hoạt động của một tổ chức hoặc cá nhânthực hiện nhằm làm nổi bật mục tiêu mà mình muốn truyền tải đến công chúng, xâydựng mối quan hệ mật thiết với các đối tượng bên ngoài nhằm tạo nên một thươnghiệu mạnh.Cùng với sự phát triển của xã hội, PR không chỉ là hoạt động của riêng cácdoanh nghiệp kinh doanh mà còn có ở nhiều lĩnh vực khác như âm nhạc, điện ảnh,giáo dục ….Hiện nay loại hình PR cho Giáo dục tại Việt Nam còn tương đối mới mẻ,các cơ quan ban ngành có liên quan và trường học chưa có nhiều kinh nghiệmtrong lĩnh vực này. Trong khi đó ở nước ta hiện nay lại có rất nhiều trường Đạihọc lớn, rất nhiều chuyên ngành đào tạo, sự đa dạng này làm cho các bậc phụhuynh gặp nhiều khó khăn trong việc quyết định chọn trường, chọn ngành họcphù hợp cho con em mình.Làm thế nào để PR hiệu quả để xã hội và công chúng hiểu rõ hơn về ngànhhọc, để phụ huynh có thể yên tâm gửi gắm con em họ và thu hút sự quan tâm củanhiều học sinh tiềm năng? Đó là điều mà hiện nay rất nhiều trường đại học đangphải trăn trở, trong đó có trường Học viện báo chí và tuyên truyền
Xem thêm

Đọc thêm

tư tưởng hồ chí minh về phương pháp giáo dục và sự vận dụng sáng tạo của đảng ta trong giai đoạn hiện nay tiểu luận cao học

tư tưởng hồ chí minh về phương pháp giáo dục và sự vận dụng sáng tạo của đảng ta trong giai đoạn hiện nay tiểu luận cao học

1. Tính cấp thiết của vấn đề Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục đã đặt nền móng và xây dựng nền giáo dục dân chủ mới cho nước ta. Với hệ thống những luận điểm khoa học rộng lớn, sâu sắc và phong phú trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, tư tưởng của Người là một kho tàng những giá trị nhân văn cao cả, tư tưởng đó không chỉ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam mà còn có ý nghĩa thiết thực trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phục cho quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay. Để giáo dục thực sự trở thành một trong ba khâu “đột phá” của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng là chúng ta phải nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng đó vào công cuộc đổi mới ở nước ta nói chung, đổi mới sự nghiệp giáo dục nói riêng. Có như vậy chúng ta mới có thể đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta tiến lên một bước mới, xứng đáng với vị trí là “quốc sách hàng đầu”, góp phần quyết định đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tới thành công. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục bao gồm nhiều nội dung, từ các quan điểm về giáo dục toàn diện, giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, giáo dục là nền tảng của phát triển kinh tế xã hội… Trong đó nội dung cơ bản nhất của nó nhằm giáo dục đạo lý làm người, đó là xây dựng con người toàn diện vừa “hồng” vừa “chuyên”, có đức, có tài, có tri thức, sức khỏe, văn hóa, trình độ khoa học – kỹ thuật, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Để chuyển tải nội dung giáo dục có hiệu quả, theo Hồ Chí Minh, cần thiết phải có phương pháp. Phương pháp giáo dục của Bác đa dạng, phong phú làm cho nội dung giáo dục trở nên vừa sinh động, cụ thể, vừa sâu sắc, dễ thực hiện và dễ đi vào lòng người. Tuy Bác không viết một tác phẩm, một bài nào chuyên về phương pháp, nhưng qua những bài viết ngắn gọn, thiết thực, sinh động và qua quá trình hoạt động cách mạng thực tiễn của người đã toát lên những bài học lớn có ý nghĩa về phương pháp giáo dục. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, theo Hồ Chí Minh: “Muốn học tập có kết quả tốt thì phải có thái độ đúng và phương pháp đúng. Hiện nay, trong quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa Đảng và nhà nước ta đã quán triệt thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục nói riêng. Thực tiễn, nền giáo dục Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập, không mang lại hiệu quả cao trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực. Bởi đã không hiểu rõ và thực hiện một cách nghiêm túc, đúng đắn, sáng tạo về các phương pháp trong giáo dục theo tư tưởng của người. Chính vì vậy, mà tôi đã chọn đề tài: “tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp giáo dục và sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay” Tuy nhiên đây là một vấn đề rất rộng lớn mà cá nhân tôi cũng đã cố gắng nghiên cứu tìm hiểu nhưng do thời gian và trình độ nghiên cứu của tôi còn hạn hẹp. Vì vậy bài tiểu luận của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, sai lầm. Rất mong được nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo cũng như của bạn đọc. Tôi xin chân thành cảm ơn
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa môn Sinh học cấp trung học phổ thôngcủa Tổ chức Tú tài Quốc tế

Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa môn Sinh học cấp trung học phổ thôngcủa Tổ chức Tú tài Quốc tế

1. Lý do chọn đề tài 1.1. Xuất phát từ nhu cầu xã hội về giáo dục toàn cầu. Trong các thập niên phát triển cuối cùng của thế kỷ XX, vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo (GD ĐT)đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia đã được các chuyên gia quốc tế phân tích, thừa nhận và khẳng định: “GD ĐT đóng vai trò quan trọng, đó là nhân tố chìa khóa, góp phần ổn định chính trị xã hội, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, và trên hết GD ĐT góp phần nâng cao chỉ số phát triển con người”. 1.2. Xuất phát từ chủ chương của Đảng và Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện GD ĐT. Việt Nam là một trong những quốc gia coi trọng sự phát triển của giáo dục, Bộ GD ĐT đã và đang xây dựng nền giáo dục thực sự vững mạnh và có chất lượng. Vì vậy, trong suốt những năm qua Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm và tập trung đầu tư rất nhiều cho nền giáo dục Việt Nam. Ngày 04112013, tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 29–NQTW về đổi mới căn bản, toàn diện GD ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế 3. Thông qua những tổng kết giáo dục, những bài học kinh nghiệm về phát triển giáo dục và theo quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thì việc nghiên cứu học hỏi chương trình (CT) và sách giáo khoa (SGK)của nước ngoài là vô cùng cần thiết. 1.3. Xuất phát từ nhu cầu đổi mới CTvà SGK của Việt Nam hiện nay Hiện nay, CTvà SGK của nước ta thể hiện rõ những bất cập so với các nước phát triển trên thế giới. Nội dung không phù hợp với nền tri thức của nhân loại, thiếu kiến thức thực tiễn. Vì vậy, muốn đảm bảo về lượng kiến thức, đảm bảo tính khoa học, tính mới hiện đại phù hợp với điều kiện đất nước và quốc tế, Bộ GD ĐT đang dự kiến triển khai xây dựng CT và SGK mới bắt đầu được thực hiện. Một trong những nội dung đáng chú ý của chiến lược là thực hiện đổi mới CT và SGKtheo định hướng phát triển năng lực học sinh (HS), nhằm tạo ra những con người năng động, tự chủ, có khả năng làm việc tốt. 1.4. Xuất phát từ ưu điểm của CT giáo dục của Tổ chức Tú tài Quốc tế Tổ chức Tú tài Quốc tế (IBO –International Baccalaureate Oganization) là một tổ chức giáo dục có sức ảnh hưởng lớn trên thế giới, chuyên cung cấp các CT giáo dục có tính thử thách và có chất lượng cao cho cộng đồng các trường học. IBO phối hợp với các nhà trường, chính phủ để xây dựng CT giáo dục quốc tế có nội dung hấp dẫn và cách đánh giá nghiêm túc. Mục đích của IBO là thúc đẩy việc giáo dục toàn bộ con người, nhấn mạnh vào yếu tố trí tuệ, cá nhân, phát triển tình cảm và xã hội thông qua tất cả các lĩnh vực của tri thức. Ngoài ra, SGK thuộc các lĩnh vực tri thức của IBO rất đa dạng, có nhiều hình thức trao đổi và nâng cao kiến thức cho HS như: thảo luận trong lớp, báo cáo thí nghiệm khoa học, bài luyện tập rèn luyện sự sáng tạo... giúp HS hoàn thiện kỹ năng học và nghiên cứu về nhiều mặt. 1.5. Xuất phát từ sự gia tăng nhanh chóng tri thức khoa học Sinh học Hiện nay, các ngành khoa học ngày càng phát triển mạnh mẽ, trong đó khoa học Sinh họcđã có rất nhiều thành tựu về các lĩnh vực như: công nghệ sinh học, công nghệ tế bào, công nghệ gen,…những thành tựu này đã đem lại nhiều ứng dụng thực tiễn cho nhân loại. Do đó, cần nghiên cứu cấu trúc hóa tri thức khoa học Sinh học thànhmôn Sinh học ở các cấp học nhằm góp phần xây dựng CTgiáo dục Sinh học của Việt Nam tiếp cận và hội nhập với CT và SGK của các nước trong khu vực và thế giới. Xuất phát từ những lý do trên đề tài “Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa môn Sinh học cấp trung học phổ thôngcủa Tổ chức Tú tài Quốc tế”có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Xem thêm

Đọc thêm

Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa môn Sinh học cấp trung học phổ thông của Tổ chức Tú tài Quốc tế

Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa môn Sinh học cấp trung học phổ thông của Tổ chức Tú tài Quốc tế

1. Lý do chọn đề tài 1.1. Xuất phát từ nhu cầu xã hội về giáo dục toàn cầu Trong các thập niên phát triển cuối cùng của thế kỷ XX, vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo (GD ĐT)đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia đã được các chuyên gia quốc tế phân tích, thừa nhận và khẳng định: “GD ĐT đóng vai trò quan trọng, đó là nhân tố chìa khóa, góp phần ổn định chính trị xã hội, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, và trên hết GD ĐT góp phần nâng cao chỉ số phát triển con người”. 1.2. Xuất phát từ chủ chương của Đảng và Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện GD ĐT Việt Nam là một trong những quốc gia coi trọng sự phát triển của giáo dục, Bộ GD ĐT đã và đang xây dựng nền giáo dục thực sự vững mạnh và có chất lượng. Vì vậy, trong suốt những năm qua Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm và tập trung đầu tư rất nhiều cho nền giáo dục Việt Nam. Ngày 04112013, tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 29–NQTW về đổi mới căn bản, toàn diện GD ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế 3. Thông qua những tổng kết giáo dục, những bài học kinh nghiệm về phát triển giáo dục và theo quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thì việc nghiên cứu học hỏi chương trình (CT) và sách giáo khoa (SGK)của nước ngoài là vô cùng cần thiết. 1.3. Xuất phát từ nhu cầu đổi mới CTvà SGK của Việt Nam hiện nay Hiện nay, CTvà SGK của nước ta thể hiện rõ những bất cập so với các nước phát triển trên thế giới. Nội dung không phù hợp với nền tri thức của nhân loại, thiếu kiến thức thực tiễn. Vì vậy, muốn đảm bảo về lượng kiến thức, đảm bảo tính khoa học, tính mới hiện đại phù hợp với điều kiện đất nước và quốc tế, Bộ GD ĐT đang dự kiến triển khai xây dựng CT và SGK mới bắt đầu được thực hiện. Một trong những nội dung đáng chú ý của chiến lược là thực hiện đổi mới CT và SGKtheo định hướng phát triển năng lực học sinh (HS), nhằm tạo ra những con người năng động, tự chủ, có khả năng làm việc tốt. 1.4. Xuất phát từ ưu điểm của CT giáo dục của Tổ chức Tú tài Quốc tế Tổ chức Tú tài Quốc tế (IBO –International Baccalaureate Oganization) là một tổ chức giáo dục có sức ảnh hưởng lớn trên thế giới, chuyên cung cấp các CT giáo dục có tính thử thách và có chất lượng cao cho cộng đồng các trường học. IBO phối hợp với các nhà trường, chính phủ để xây dựng CT giáo dục quốc tế có nội dung hấp dẫn và cách đánh giá nghiêm túc. Mục đích của IBO là thúc đẩy việc giáo dục toàn bộ con người, nhấn mạnh vào yếu tố trí tuệ, cá nhân, phát triển tình cảm và xã hội thông qua tất cả các lĩnh vực của tri thức. Ngoài ra, SGK thuộc các lĩnh vực tri thức của IBO rất đa dạng, có nhiều hình thức trao đổi và nâng cao kiến thức cho HS như: thảo luận trong lớp, báo cáo thí nghiệm khoa học, bài luyện tập rèn luyện sự sáng tạo... giúp HS hoàn thiện kỹ năng học và nghiên cứu về nhiều mặt. 1.5. Xuất phát từ sự gia tăng nhanh chóng tri thức khoa học Sinh học Hiện nay, các ngành khoa học ngày càng phát triển mạnh mẽ, trong đó khoa học Sinh họcđã có rất nhiều thành tựu về các lĩnh vực như: công nghệ sinh học, công nghệ tế bào, công nghệ gen,…những thành tựu này đã đem lại nhiều ứng dụng thực tiễn cho nhân loại. Do đó, cần nghiên cứu cấu trúc hóa tri thức khoa học Sinh học thànhmôn Sinh học ở các cấp học nhằm góp phần xây dựng CTgiáo dục Sinh học của Việt Nam tiếp cận và hội nhập với CT và SGK của các nước trong khu vực và thế giới. Xuất phát từ những lý do trên đề tài “Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa môn Sinh học cấp trung học phổ thôngcủa Tổ chức Tú tài Quốc tế”có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề