QUYỀN TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUYỀN TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM":

TRÌNH BÀY ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG VIỆT NAM KÍ KẾT VỚI CÁC NƯỚC

TRÌNH BÀY ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG VIỆT NAM KÍ KẾT VỚI CÁC NƯỚC

Trình bày ủy thác tư pháp quốc tế theo qui định của các điều ước quốc tế song phương Việt Nam kí kết với các nước Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tư pháp quốc tế Bài tập học kỳ Tư pháp quốc tế có đáp án. Đề bài: Trình bày ủy thác tư pháp quốc tế theo qui định của các điều ước quốc tế song phương Việt Nam kí kết với các nước? Thực tiễn thực hiện ủy thác tư pháp quốc tế giữa Việt Nam với các nước kí kết điều ước quốc tế về vấn đề này. 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ 1.1 Khái niệm UTTPQT Ủy thác tư pháp quốc tế là hình thức tương trợ tư pháp của các quốc gia có chủ quyền. UTTPQT do quốc gia được uỷ thác thực hiện bao gồm các hoạt động tiến hành hành vi tố tụng riêng biệt đã được pháp luật của nước đó quy định: tống đạt giấy tờ; khám xét, thu giữ và chuyển giao các vật chứng; tiến hành giám định lấy lời khai của các bị cáo, người làm chứng, người giám định, các bên đương sự và những người khác; xem xét vật chứng tại phiên toà, thi hành các quyết định, dẫn độ người phạm tội, điều tra hình sự, chuyển giao tài liệu và cung cấp các tin khác. UTTPQT được tiến hành thông qua văn bản uỷ thác. Văn bản uỷ thác thường nêu các điểm: 1) Tên cơ quan uỷ thác. 2) Tên cơ quan được uỷ thác. 3) Tên công việc uỷ thác. 4) Họ tên, quốc tịch, nghề nghiệp, nơi cư trú hay tạm trú của các bên đương sự, bị can, bị cáo và những người khác có liên quan đến việc uỷ thác tư pháp. UTTPQT được quy định trong các hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lí về các vấn đề dân sự, hình sự giữa Việt Nam với một số nước trên thế giới. 1.2 Những qui định của pháp luật Việt Nam về UTTPQT Pháp luật Việt Nam qui định về UTTPQT trong hai văn bản qui phạm pháp luật chính đó là trong Bộ Luật tố tụng dân sự tại Phần 9 Thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và tương trợ tư pháp trong trong tố tụng dân sự (Điều 405 đến 418) cụ thể UTTPQT về dân sự được qui định tại Chương 36 Tương trợ tư pháp trong trong tố tụng dân sự (Điều 414 đến 418) và qui định trong Luật tương trợ tư pháp 2008. Trong hai văn bản qui phạm pháp luật này đều có qui định những nội dung chính của UTTPQT đó là: Nguyên tắc tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự Thực hiện ủy thác tư pháp Thủ tục thực hiện việc ủy thác tư pháp Văn bản ủy thác tư pháp Công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận 2. ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ THEO QUI ĐỊNH CHUNG CỦA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG VIỆT NAM KÍ KẾT VỚI CÁC NƯỚC 2.1 Các điều ước quốc tế song phương mà Việt Nam kí kết với các nước về UTTPQT a. Hiệp định TTTP trong lĩnh vực dân sự, thương mại ) Các Hiệp định đã ký Hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực dân sự với các nước được thực hiện trên cơ sở các Hiệp định Tương trợ tư pháp (và pháp lý) được ký kết giữa Nhà nước ta với nước ngoài. Tính đến thời điểm hiện nay, trên đầy đủ các lĩnh vực dân sự, thương mại, hình sự, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án, Việt Nam đã ký 26 Hiệp định TTTP với các nước (trong đó có 15 Hiệp định điều chỉnh TTTP về dân sự, thương mại); đã và đang chuẩn bị đàm phán 18 Hiệp định TTTP trên các lĩnh vực, đã và đang chuẩn bị rà soát, sửa đổi, hiện đại hóa 04 Hiệp định đã ký với các nước XHCN trước đây. Cụ thể về 26 Hiệp định TTTP đã ký như sau: 12 Hiệp định TTTP với phạm vi rộng, điều chỉnh TTTP trên đầy đủ các lĩnh vực dân sự, hình sự và dẫn độ: đó là các Hiệp định với Liên Xô cũ (10121981), Tiệp khắc (12101982), Cu Ba (30111984), Hunggari (18011985), Bungari (03101986), Ba Lan (2231993), CHDCND Lào (0671998), Nga (2581998), Ucraina (1642000), Mông Cổ (1742000), Bêlarút (1492000), CHDCND Triều Tiên (045200)1; 03 Hiệp định quy định riêng về TTTP chỉ trên lĩnh vực dân sự và thương mại: với CH Pháp (24021999), Trung Quốc (19101998) và Angeri (14 42010); 02 Hiệp định quy định riêng về TTTP chỉ trên lĩnh vực hình sự: với Angeri (1442010)2 và Hàn quốc (92003).3 01 Hiệp định ASEAN về TTTP trong lĩnh vực hình sự. 02 Hiệp định quy định riêng về TTTP chỉ trên lĩnh vực dẫn độ: với Hàn Quốc (92003) và Angeri (1442010).4 05 Hiệp định quy định riêng về TTTP trên lĩnh vực chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù với các nước: Vương quốc Anh và Bắc Ailen (1292008)5, với Australia (1292008), Hàn quốc (2952009), Thái Lan (1972010)6, Ấn Độ (đã đàm phán xong và hoàn thành thủ tục ký tắt ngày 1962009). 01 Hiệp định về TTTP trong lĩnh vực hình sự giữa các nước ASEAN (Việt Nam phê chuẩn năm 2008) Ngoài ra, trong lĩnh vực hợp tác về hình sự, trong đó có hợp tác phòng chống tội phạm quốc tế, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, hợp tác phòng chống ma túy, Việt Nam đã ký kết, tham gia rất nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương. Có thể kể đến việc ngay từ năm 1997, Việt Nam đã tham gia ký 03 Công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý của Liên Hợp Quốc (Công ước 1961, 1971 và 1988); đã ký nhiều Hiệp định, Thoả thuận hợp tác quốc tế về phòng chống ma tuý và Hiệp định có liên quan đến phòng chống ma tuý với các nước trong khu vực và trên thế giới; 01 Công ước của Liên Hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Việt Nam tham gia ký ngày 13122000). ). Các Hiệp định đang được đàm phán chuẩn bị đàm phán: Hiện nay, Bộ Tư pháp đang chuẩn bị các điều kiện, thủ tục cần thiết để triển khai việc đàm phán và ký kết mới 06 Hiệp định TTTP về dân sự, thương mại với các nước Anh, Hàn Quốc, Campuchia, Kazakhtan, Ấn Độ. ) Các Hiệp định đang được rà soát và sửa đổi, bổ sung, hiện đại hóa: Đa phần các Hiệp định TTTP với các nước trước đây thuộc hệ thống XHCN được Nhà nước Việt Nam ký vào những năm 80, khi thể chế về TTTP của nước ta còn rất sơ sài. Cùng với sự phát triển của thể chế về tư pháp quốc tế trong đó đặc biệt là về TTTP, nhu cầu rà soát, sửa đổi, bổ sung, hiện đại hóa hoặc thay mới (nếu cần thiết) các Hiệp định đã ký trước đây là rất cần thiết để đảm bảo sự tương thích giữa các Hiệp định đó với Luật Tương trợ tư pháp, các Hiệp định đa phương về TTTP cũng như phù hợp với thực tiễn triển khai công tác tương trợ tư pháp. Vào đầu năm 2010, Bộ Tư pháp đã tiến hành đàm phán với Cộng hoà Séc về việc sửa đổi Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHXHCN Tiệp Khắc ký ngày 12 tháng 10 năm 1982, đã được Cộng hòa Séc và Cộng hòa Xlôvakia kế thừa. Hiện nay Bộ Tư pháp đang chuẩn bị các điều kiện, thủ tục cần thiết để triển khai việc rà soát, hiện đại hóa các Hiệp định TTTP đã ký với các nước XHCN cũ, trước mắt là với 03 nước Ba Lan, Xlovakia, Hungari. 2.2 Nội dung chủ yêu của các điều ước quốc tế về UTTPQT mà Việt Nam kí kết với các nước Nội dung các hoạt động UTTPQT giữa Việt Nam với các nước có nhiều điểm khác nhau tùy thuộc vào quan hệ song phương cũng như ý chí của các bên kí kết. Tuy nhiên có thể thấy nội dung chủ yếu của các điều ước quốc tế song phương mà Việt Nam kí kết với các nước bao hàm 4 phần chính sau: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự. Triệu tập người làm chứng, người giám định. Thu thập, cung cấp chứng cứ. Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự. Các vấn đề mà các quốc gia chủ yếu thực hiện UTTPQT nằm ở 2 giai đoạn: Giai đoạn điều tra: các hoạt động UTTPQT thực hiện việc tống đạt giấy tờ đến các đương sự, lấy lời khai, giám định, thu thập chứng cứ, xác nhận tư cách chủ thể của các bên, xác định tình trạng nhân thân, tài sản của đương sự ở nước ngoài. Giai đoạn công nhận, thi hành quyết định, bản án dân sự của nhau, cơ quan tư pháp cần xác minh làm rõ thông tin liên quan đến một số vụ việc. Cần phân biệt hai loại UTTPQT đó là: Các UTTP do tòa án nước ngoài yêu cầu tòa án Việt Nam thực hiện: đây chủ yếu là các ủy thác về tống đạt giấy tờ và lấy lời khai đương sự trong vụ kiện truy nhận cha và cấp dưỡng nuôi con hoặc yêu cầu tòa án Việt Nam thực hiện giám định nhóm máu trong các vụ việc xác định cha cho con, ủy thác tống đạt giấy tờ liên quan đến các vụ ly hôn. Ngoài ra thì ủy thác tống đạt giấy tờ về vụ kiện thương mại cũng là loại mới và phát sinh ngày càng nhiều. Các UTTP do tòa án Việt Nam yêu cầu tòa án nước ngoài hoặc đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài thực hiện: các ủy thác này chủ yếu là tống đạt giấy tờ và lấy lời khai đương sự là công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài trong vụ kiện ly hôn do tòa án Việt Nam yêu cầu hoặc ủy thác tống đạt giấy tờ lấy lời khai đối với bị đơn là công dân nước ngoài trong các vụ án ly hôn. Ngoài ra, phía Việt Nam cũng ủy thác về việc lấy lời khai của đương sự là công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài trong các vụ kiện về dân sự do tòa án trong nước xét xử. a. Nhận xét chung Có thể nhận thấy rằng các Hiệp định TTTP đã ký trong thời gian qua hoặc đang trong quá trình đàm phán đều có nội dung phù hợp với các quy định của Hiến pháp, Luật TTTP và các văn bản quy phạm pháp luật khác của Việt Nam, pháp luật và tập quán quốc tế, các điều ước đa phương trong cùng lĩnh vực; việc đàm phán, ký kết được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, nguyên tắc quy định tại Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế. b. Phạm vi điều chỉnh và nội dung chính của các Hiệp định TTTP Hiệp định TTTP mà Việt Nam đã ký với các nước XHCN trước đây là loại điều ước song phương có phạm vi rất rộng, bao gồm cả các vấn đề bảo hộ pháp lý, những quy phạm xung đột thống nhất để giải quyết xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền, công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài. Tuy nhiên Hiệp định được ký kết gần đây và các dự thảo Hiệp định TTTP trong lĩnh vực dân sự và thương mại đang được đàm phán mới có phạm vi hẹp hơn, được xây dựng theo nguyên tắc điều chỉnh các vấn đề mang tính nguyên tắc, thủ tục tương trợ tư pháp và dẫn chiếu đến luật tố tụng và nội dung của quốc gia ký kết. Xu hướng ký kết Hiệp định TTTP theo từng lĩnh vực chuyên ngành (hoặc chỉ chuyên về hình sự, dẫn độ, hoặc chuyên về tố tụng dân sự), không quy định xen kẽ, lồng ghép nhiều lĩnh vực với nhau, đang được các quốc gia và các tổ chức quốc tế ngày càng chú trọng. Dự thảo Hiệp định loại này có ưu thế là đơn giản và dễ thống nhất. Đây cũng là mô hình các Hiệp định TTTP mà ta đã ký với Trung Quốc, Pháp, Angiêri, hay Dự thảo Hiệp định đang và sẽ được đàm phán với Vương quốc Anh, Hàn quốc, Kadắcxtan, Ấn Độ v.v… Phạm vi tương trợ tư pháp về dân sự và thương mại quy định trong các dự thảo Hiệp định TTTP giữa Việt Nam và các nước phù hợp với Điều 10 Luật TTTP, bao gồm tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự; triệu tập người làm chứng, người giám định; thu thập, cung cấp chứng cứ và các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự 3. THỰC TIỆN THỰC HIỆN ỦY THÁC TƯ PHÁP QUỐC TẾ GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC KÍ KẾT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ VẤN ĐỀ NÀY (bài học kì mục tài liệu bài tập) Mặc dù Luật tương trợ tư pháp có hiệu lực thi hành từ 172008, nhưng đây cũng chỉ mới là luật khung, chỉ đưa ra các nguyên tắc về UTTP, mà chưa có hướng dẫn cụ thể để thực hiện. Do đó, để bảo đảm việc giải quyết các vụ việc dân sự, TAND TP HCM và Bộ Tư pháp căn cứ trên một số nguyên tắc và văn bản luật thống nhất về UTTP làm căn cứ giải quyết án. Theo đó, đối với đương sự là cá nhân, tổ chức nước ngoài thì hồ sơ UTTP gửi cho Tòa án có thẩm quyền của nước tiếp nhận UTTP thông qua Bộ Tư pháp Việt Nam; đối với cá nhân, tổ chức Việt Nam thì hồ sơ UTTP gửi cho Đại sứ quán Việt Nam ở nước tiếp nhận UTTP thông qua Bộ Tư pháp Việt Nam. Tuy nhiên, theo ông Bùi Hoàng Danh, Chánh án TAND TP HCM trong hầu hết trường hợp UTTP là không có kết quả; không nhận được sự trả lời của đương sự liên quan, không có hồi âm của Bộ Tư pháp và Đại sứ quán Việt Nam đã thực hiện việc chuyển hồ sơ UTTP… Vì vậy, hồ sơ vụ việc dân sự chỉ có bản lưu của hồ sơ UTTP đã gửi đi, các biên nhận của bưu điện về việc đã chuyển hồ sơ của Tòa án cho Bộ Tư pháp… Tòa án lấy đó làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự. Đối với các vụ án hôn nhân gia đình, bị đơn thường là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, công dân nước ngoài, hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đang định cư ở nước ngoài. Với các vụ án dân sự yếu tố nước ngoài thường là những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài. Các vụ kinh doanh thương mại thì công ty chính ở nước ngoài. Các vụ lao động thì chủ doanh nghiệp là người nước ngoài đã trở về nước mà không thanh toán các khoản tiền cho người lao động. Việc UTTP để ghi lời khai của người đang ở những nước mà Việt Nam chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp thì hầu như không có kết quả Các vụ án này thường thời hạn xét xử không đảm bảo, việc kéo dài và bế tắc khi không có kết quả ủy thác sẽ làm người trong nước thiệt thòi. Nếu họ đi bước nữa thì cuộc sống hôn nhân tự nhiên trái pháp luật, do đó các quyền lợi về vợ chồng không được đảm bảo… Đối với án xử xong, nếu có đương sự trong nước kháng cáo thì hồ sơ không thể chuyển ngay để Tòa phúc thẩm giải quyết mà phải chờ kết quả ủy thác bản án đối với người đang ở nước ngoài, kéo dài thời gian thêm thời gian giải quyết vụ án… Ông Bùi Hoàng Danh, Chánh án TAND TP HCM, cho biết TAND TP HCM đã có nhiều công văn đề nghị TAND Tối cao, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao có hướng dẫn thực hiện thủ tục UTTP nhưng đến nay vẫn chưa chuyển biến.
Xem thêm

10 Đọc thêm

CÁCH THỨC ỦY THÁC TƯ PHÁP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THEO CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG MÀ VIỆT NAM THAM GIA

CÁCH THỨC ỦY THÁC TƯ PHÁP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THEO CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG MÀ VIỆT NAM THAM GIA

Cách thức ủy thác tư pháp theo pháp luật Việt Nam và theo các điều ước quốc tế song phương mà Việt Nam tham gia 1. Ủy thác tư pháp quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Hiện nay pháp luật trong nước cũng đã xây dựng một số quy định về tương trợ tư pháp, cụ thể: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã đưa vào một số quy định về tương trợ tư pháp tại Chương XXXVI (từ điều 414 đến điều 418). Luật Tương trợ tư pháp được Quốc hội thông qua ngày 21112007 và có hiệu lực từ ngày 172008. Nghị định số 922008NĐCP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TTTP. Thông qua các văn bản trên có thể thấy, vấn đề ủy thác tư pháp quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành gồm những nội dung chính sau: 1.1 Nguyên tắc thực hiện ủy thác tư pháp quốc tế. Trên phương diện quốc tế, tương trợ tư pháp là biểu hiện của chủ quyền quốc gia, các quốc gia khác không được can thiệp và phải tôn trọng, việc cho phép tiến hành hoặc không cho phép, phạm vi, mức độ thực hiện các hoạt động hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của mỗi quốc gia và việc thực hiện Ủy thác tư pháp quốc tế cũng là một hình thức của TTTP vì thế cũng phải tuân theo những nguyên tắc đó. Vì thế Hiện nay theo quy định tại điều 4 Luật TTTP việc thực hiện các hoạt động ủy thác tư pháp phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì hoạt động tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế. 1.2 Phạm vi nội dung thực hiện ủy thác tư pháp. Nội dung các hoạt động ủy thác tư pháp với các nước cũng có nhiều điểm khác nhau, phụ thuộc quan hệ song phương, cũng như ý chí của các bên ký kết. theo quy định tại điều 10 của Luật TTTP hiện nay thì phạm vi tương trọ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài bao gồm 4 nội dung: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu lien quan đến tương trợ tư pháp về dân sự: Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự có thể bao gồm: + Văn bản của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự. Văn bản này thực chất là công văn hoặc công hàm yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu gửi tới nước nhận yêu cầu. + Văn bản uỷ thác tư pháp về dân sự. Văn bản uỷ thác tư pháp về dân sự thực chất là những nội dung chính trong yêu cầu tương trợ của nước yêu cầu. Văn bản uỷ thác tư pháp về dân sự theo quy định tại Điều 12 Luật Tương trợ tư pháp bao gồm các nội dung như: ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản; tên, địa chỉ cơ quan uỷ thác tư pháp; tên, địa chỉ cơ quan được uỷ thác tư pháp; họ, tên, địa chỉ nơi thường trú hoặc nơi làm việc của cá nhân, tên đầy đủ, địa chỉ hoặc văn phòng chính của cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến uỷ thác tư pháp; nội dung công việc được uỷ thác tư pháp về dân sự (trong phần nội dung công việc này, cơ quan yêu cầu uỷ thác phải nêu rõ mục đích uỷ thác, công việc và các tình tiết liên quan, trích dẫn điều luật có thể áp dụng, các biện pháp để thực hiện uỷ thác và thời hạn thực hiện uỷ thác). + Quyết định của Toà án. Trong vụ việc dân sự, Quyết định của Toà án có thể là Quyết định ly hôn, Quyết định về truy nhận cha cho con, Quyết định về quyền nuôi con, Quyết định về việc phân chia tài sản, Quyết định về phân chia di sản trong thừa kế… + Giấy triệu tập đến Toà án. Trong vụ việc dân sự, Giấy triệu tập có thể liên quan đến việc phân chia tài sản trong ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng, thừa kế… Triệu tập người làm chứng, người giám định: Đối với một số vụ việc dân sự cần đến lời khai hoặc chứng cứ của người người làm chứng, bản kết luận chuyên môn của người giám định như một vụ việc về truy nhận cha cho con, tranh chấp tài sản trong hôn nhân, đòi quyền thừa kế… nhưng người làm chứng, người giám định đang ở nước ngoài, thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải gửi đề nghị triệu tập người làm chứng, người giám định tới cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người làm chứng, người giám định đang có mặt để yêu cầu người làm chứng, người giám định có mặt tại Việt Nam trong một thời gian nhất định để họ tham gia vào việc giải quyết vụ việc dân sự có liên quan. Điều 8 Luật Tương trợ tư pháp quy định cụ thể về triệu tập và bảo vệ người làm chứng, người giám định. Qua đó: + Người làm chứng, người giám định được tạo điều kiện thuận lợi trong nhập cảnh, xuất cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam; + Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải cam kết về việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ, điều kiện ăn ở, đi lại cho người làm chứng, người giám định; người làm chứng; + Người làm chứng, người giám định được triệu tập đến Việt Nam sẽ không bị bắt, bị tam giam, tạm giữ hoặc bị điều tra, truy tố, xét xử vì những hành vi trước khi đến Việt Nam như cung cấp lời khai làm chứng, bản kết luận chuyên môn đối với vụ án mà người đó được triệu tập; phạm tội ở Việt Nam; có quan hệ với đối tượng đang bị điều tra, truy tố, xét xử về hình sự của Việt Nam; có liên quan đến một vụ việc dân sự hoặc hành chính khác ở Việt Nam. Thu thập, cung cấp chứng cứ: Khi giải quyết một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh việc phải có thu thập chứng cứ ở nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không có thẩm quyền thu thập trực tiếp chứng cứ ở nước ngoài mà phải gửi yêu cầu về thu thập và cung cấp chứng cứ tới cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Dựa trên yêu cầu tương trợ này của phía Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài sẽ xem xét việc có hay không thực hiện yêu cầu tương trợ. Các trường hợp cần tương trợ tư pháp về dân sự của nước ngoài như đã nêu ở trên phải được thực hiện thông qua cơ quan đầu mối về tương trợ tư pháp về dân sự. Điều 62 Luật Tương trợ tư pháp quy định “Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động tương trợ tư pháp; tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các uỷ thác tư pháp về dân sự”. Do vậy, Bộ Tư pháp chính là cơ quan đầu mối của Việt Nam trong việc giải quyết các yêu cầu về tương trợ tư pháp về dân sự đối với nước ngoài. Qua đó, khi yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải gửi yêu cầu tương trợ tới Bộ Tư pháp. Thủ tục yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự được quy định cụ thể tại Điều 14 Luật Tương trợ tư pháp. Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự . 1.3 Trình tự thủ tục thực hiện và pháp luật áp dụng. Hiện nay, theo các quy định của các điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam, trình tự thủ tục thực hiện ủy thác tư pháp giữa Việt Nam và các nước được thực hiện qua hệ thống các cơ quan trung ương (Bộ tư pháp hoặc Bộ Ngoại giao) của hai nước hữu quan. Tuy nhiên, quy trình này được đánh giá là phức tạp, qua nhiều cơ quan, tốn thời gian…ảnh hưởng đặc biệt đến quá trình xét xử và quyền lợi của đương sự. Cụ thể, quy trình được thực hiện như sau: a) Đối với các ủy thác tư pháp do Tòa án Việt Nam yêu cầu tòa án nước ngoài thực hiện. Đầu tiên, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc phải chuyển hồ sơ ủy thác cho Bộ Tư pháp (là cơ quan trung ương); Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ chuyển sang cho Bộ tư pháp nước ngoài (hoặc cho Bộ ngoại giao) nước được yêu cầu thực hiện. Tiếp đến Bộ Tư pháp nước ngoài (hoặc Bộ Ngoại giao) chuyển đến các cơ quan tư pháp nước bạn để nhờ thu thập, xác minh chứng cứ…Nếu có kết quả trả lời thì quy trình lại qua các cơ quan trên gửi ngược trở lại cho Tòa án Việt Nam; nhiều trường hợp, không có kết quả, hoặc không thể thực hiện được việc ủy thác tư pháp do không tìm thấy đương sự ở nước ngoài, có thể dẫn đến bế tắc, tòa có thể phải ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ việc. b) Đối với các ủy thác tư pháp do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài yêu cầu Việt Nam thực hiện. Bộ Tư pháp Việt Nam nhận được hồ sơ ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu, vào sổ ủy thác tư pháp, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và chuyển cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện. trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì Bộ tư pháp tra lại cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu và nêu rõ lý do. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sau khi thực hiện phải thông báo kết quả thực hiện ủy thác tư pháp cho Bộ tư pháp; Bộ tư pháp sẽ chuyển văn văn bản dó cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam và nươc yêu cầu là thành viên hoặc thông qua con đường ngoiaj giao. Trường hợp ủy thác tư pháp không thực hiện được hoặc quá thời hạn mà nước ngoài yêu cầu hoặc cần bổ sung thông tin, tài liệu lien quan, cơ quan có thẩm quyền cua Việt Nam thực hiện ủy thác tư pháp phải thông báo bằng văn bản cho Bộ tư pháp và nêu rõ lý do để Bộ tư pháp thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu. Hiện nay, đối với dương sự là cá nhân, tổ chức nước ngoài thì hồ sơ ủy thác tư pháp được gửi cho tòa án có thẩm quyền của nước tiếp nhận thông qua Bộ Tư pháp Việt Nam; đối với cá nhân, tổ chức Việt Nam thì hồ sơ ủy thác gửi cho Đại sứ quán Việt Nam ở nước tiếp nhận ủy thác thông quan Bộ Tư pháp Việt Nam. c) Về pháp luật áp dụng thực hiện ủy thác tư pháp. Hâu hết các Hiệp định đều quy đinh rằng: khi thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp, cơ quan được yêu cầu áp dụng pháp luạt nước mình. theo đề nghị của cơ quan yêu cầu, cơ quan được yêu cầu có thể áp dụng các quy phạm tố tụng của bên ký kết yêu cầu, nếu các quy phạm đó không trái với pháp luật của bên ký kết được yêu cầu. Mỗi bên ký kết chịu các chi phí thực hiện tương trợ tư pháp phát sịnh trên lãnh thổ nước mình. trong trường hợp chi phí thực hiện quá cao, các cơ quant rung ương của hai nươc sẽ thỏa thuận với nhau để giải quyết. 2. Vấn đề ủy thác tư pháp quốc tế theo quy định của các điều ước quốc tế song phương Việt Nam kí kết với các nước. Hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực dân sự với các nước được thực hiện trên cơ sở các Hiệp định Tương trợ tư pháp (và pháp lý) được ký kết giữa Nhà nước ta với nước ngoài. Hiện nay, trên đầy đủ các lĩnh vực dân sự, thương mại, hình sự, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án, Việt Nam đã ký, đã và đang chuẩn bị đàm phán, chuẩn bị rà soát, sửa đổi, hiện đại hóa rất nhiều Hiệp định TTTP với các nước. Dưới đây là một số liệt kê dựa trên hiểu biết của em: Những Hiệp định đã được kí kết: Những hiệp định TTTP với phạm vi rộng, điều chỉnh TTTP trên đầy đủ các lĩnh vực dân sự, hình sự và dẫn độ: đó là các Hiệp định với Liên Xô cũ (10121981), Tiệp khắc (12101982), Cu Ba (30111984), Hunggari (18011985), Bungari (03101986), Ba Lan (2231993), CHDCND Lào (0671998), Nga (2581998), Ucraina (1642000), Mông Cổ (1742000), Bêlarút (1492000), CHDCND Triều Tiên (045200 Hiệp định quy định riêng về TTTP chỉ trên lĩnh vực dân sự và thương mại: với CH Pháp (24021999), Trung Quốc (19101998) và Angeri (14 42010); Hiệp định quy định riêng về TTTP chỉ trên lĩnh vực hình sự: với Angeri (1442010) và Hàn quốc (92003). Hiệp định ASEAN về TTTP trong lĩnh vực hình sự. Hiệp định quy định riêng về TTTP chỉ trên lĩnh vực dẫn độ: với Hàn Quốc (92003) và Angeri (1442010). Hiệp định quy định riêng về TTTP trên lĩnh vực chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù với các nước: Vương quốc Anh và Bắc Ailen (1292008), với Australia (1292008), Hàn quốc (2952009), Thái Lan (1972010), Ấn Độ (1962009). Hiệp định về TTTP trong lĩnh vực hình sự giữa các nước ASEAN (Việt Nam phê chuẩn năm 2008). Ngoài ra, trong lĩnh vực hợp tác về hình sự, trong đó có hợp tác phòng chống tội phạm quốc tế, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, hợp tác phòng chống ma túy, Việt Nam đã ký kết, tham gia rất nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương. Có thể kể đến việc ngay từ năm 1997, Việt Nam đã tham gia ký những Công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý của Liên Hợp Quốc (Công ước 1961, 1971 và 1988); đã ký nhiều Hiệp định, Thoả thuận hợp tác quốc tế về phòng chống ma tuý và Hiệp định có liên quan đến phòng chống ma tuý với các nước trong khu vực và trên thế giới; 01 Công ước của Liên Hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Việt Nam tham gia ký ngày 13122000). Hiện nay, Bộ Tư pháp đang chuẩn bị các điều kiện, thủ tục cần thiết để triển khai việc đàm phán và ký kết mới Hiệp định TTTP về dân sự, thương mại với các nước như Anh, Campuchia, Kazakhtan,... Đa phần các Hiệp định TTTP với các nước trước đây thuộc hệ thống XHCN được Nhà nước Việt Nam ký vào những năm 80, khi thể chế về TTTP của nước ta còn rất sơ sài. Cho nên nhu cầu rà soát, sửa đổi, bổ sung, hiện đại hóa hoặc thay mới (nếu cần thiết) các Hiệp định đã ký trước đây là rất cần thiết để đảm bảo sự tương thích giữa các Hiệp định đó với Luật Tương trợ tư pháp, các Hiệp định đa phương về TTTP cũng như phù hợp với thực tiễn triển khai công tác tương trợ tư pháp.
Xem thêm

8 Đọc thêm

CĂN CỨ PHÁP LÍ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG VẤN ĐỀ MIỄN TRỪ TƯ PHÁP CỦA QUỐC GIA TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

CĂN CỨ PHÁP LÍ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG VẤN ĐỀ MIỄN TRỪ TƯ PHÁP CỦA QUỐC GIA TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Căn cứ pháp lí và thực tiễn áp dụng vấn đề miễn trừ tư pháp của quốc gia trong tư pháp quốc tế Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tư pháp quốc tế 1. Thực tiễn quyền miễn trừ tư pháp quốc gia trong Tư pháp quốc tế Việt Nam Thứ nhất, Tại Việt Nam hiện nay, về mặt lý luận, quyền miễn trừ tư pháp quốc gia bao gồm quyền miễn trừ xét xử, quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của tòa án nước ngoài. Thứ hai, Pháp luật thực định của Việt Nam chưa có quy định chính thức nào về nội dung của quyền miễn trừ tư pháp quốc gia. Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam ngày 0791993 có một số quy định về quyền miễn trừ tư pháp. Theo khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh, “viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xét xử về hình sự tại Việt Nam. Họ cũng được hưởng quyền miễn trừ xét xử về dân sự và xử phạt hành chính”. Và khoản 3 Điều 12 Pháp lệnh quy định: “viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ đối với các biện pháp thi hành án”. Đây chỉ là những quy định về quyền miễn trừ dành cho viên chức ngoại giao và thành viên gia đình của họ (khoản 1 Điều 17 Pháp lệnh). Không có quy phạm cụ thể nào của Pháp lệnh quy định chi tiết nhà nước nước ngoài có quyền miễn trừ tư pháp quốc gia ở Việt Nam. Khoản 4 Điều 2 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 chỉ quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài được hưởng các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc các quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia thì vụ việc dân sự có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức đó được giải quyết bằng con đường ngoại giao”. Nhưng ta có thể theo logic suy luận người đại diện cho quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tư pháp thì đương nhiên bản thân quốc gia cũng là đối tượng được hưởng quyền miễn trừ tư pháp. Trước đây, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (đã hết hiệu lực thi hành) có quy định: “vụ án dân sự có liên quan đến nhà nước nước ngoài hoặc người được hưởng quy chế ngoại giao được giải quyết bằng con đường ngoại giao, trừ trường hợp nhà nước nước ngoài hoặc người được hưởng quy chế ngoại giao đồng ý tham gia tố tụng tại tòa án Việt Nam”. Đây là văn bản pháp luật duy nhất có quy định về quyền miễn trừ của nhà nước nước ngoài trong tố tụng dân sự quốc tế nhưng cũng không đề cập đến nội dung của quyền miễn trừ. Tuy nhiên, từ ngày 01012005 khi Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực pháp luật thì không còn có quy phạm nào thừa nhận quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước nước ngoài ở Việt Nam. Nội dung quyền miễn trừ của quốc gia đã được quy định thống nhất trong các văn bản của LHQ, các điều ước quốc tế có liên quan và được cụ thể hóa vào văn bản pháp luật của nhiều nước. Chính vì vậy, việc quy định một cách rõ ràng, cụ thể nội dung quyền miễn trừ của quốc gia trong pháp luật Việt Nam cũng góp phần đưa TPQT Việt Nam tiến gần hơn với các chuẩn mực của đời sống pháp lý quốc tế trong vấn đề này. Thứ ba, Phần lớn các quan điểm hiện nay đều tán đồng Thuyết quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia.Theo Giáo trình Tư pháp quốc tế của Trường Đại học Luật Hà Nội “nội dung thuyết miễn trừ theo chức năng hoàn toàn trái với các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế cũng như của TPQT, không có lợi cho việc thúc đẩy giao lưu dân sự quốc tế”. Tương tự, theo giáo trình của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội “nội dung thuyết miễn trừ theo chức năng hoàn toàn trái với các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế cũng như của TPQT. Pháp luật Việt Nam cũng như thực tiễn tư pháp Việt Nam luôn luôn bảo đảm tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của nhà nước nước ngoài bằng con đường ngoại giao, trừ trường hợp nhà nước đó đồng ý tham gia tố tụng tại tòa án Việt Nam”. Dường như về mặt lý luận, Việt Nam chỉ chấp nhận Thuyết quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia. Trước đây đã từng xảy ra vụ việc: Năm 1999, một doanh nghiệp có tên là Mohamed Enterprises của Tanzania ký hợp đồng và thanh toán trước toàn bộ số tiền khoảng 1,4 triệu USD để mua 6.000 tấn gạo của Công ty Thanh Hòa ở Tiền Giang. Sau đó, Công ty Thanh Hòa đã thuê một tàu chở gạo để thực hiện hợp đồng trên. Nhưng con tàu mà Công ty Thanh Hòa thuê lại là một con tàu “ma”, trên đường chở gạo đã trốn bặt tăm. Không nhận được gạo, Công ty Mohamed Enterprises đã khởi kiện đối tác của Việt Nam… Sự việc cứ kéo dài không được xử lý dứt điểm. Bốn năm sau (2003), tàu Sài Gòn của Công ty SEA Saigon cập cảng Tanzania đã bị bắt giữ làm con tin nhằm tạo áp lực buộc phía Việt Nam thanh toán số nợ năm 1999. Ngày 2272005, Tòa án Tanzania tuyên phạt phía Việt Nam gần 2 triệu USD bao gồm tiền bồi thường thiệt hại từ hợp đồng gạo với Công ty Mohamed Enterprises và tiền lãi phát sinh. Phán quyết ghi rõ, Chính phủ Việt Nam là bị đơn thứ 12 của vụ án. Theo tòa án, quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước Việt Nam trong trường hợp này không tuyệt đối vì Chính phủ Việt Nam đã tham gia tích cực vào các giai đoạn của việc thực hiện hợp đồng. Vì vậy, Chính phủ Việt Nam không được hưởng quyền miễn trừ xét xử3. Vụ việc trên cho thấy, nếu nhà nước Việt Nam tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài với tư cách một bên chủ thể thì trong những trường hợp cụ thể nhất định sẽ không được hưởng quyền miễn trừ, nghĩa là nhà nước Việt Nam phải tham gia như một chủ thể bình thường khác. Như vậy, rõ ràng việc tuyệt đối hóa quyền miễn trừ tư pháp không có lợi cho nhà nước Việt Nam và đặc biệt là các cá nhân, pháp nhân Việt Nam trong các quan hệ Tư pháp quốc tế. Đây sẽ là cơ sở để nhà nước nước ngoài không tuân thủ một số nghĩa vụ của họ bởi vì nhà nước nước ngoài được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối ở Việt Nam trong khi nhà nước Việt Nam không được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối ở nước ngoài. Tại Việt Nam chưa có Luật về quyền miễn trừ tư pháp quốc gia và trong các văn bản pháp luật hiện hành chưa có quy định chính thức nào quy định trực tiếp về vấn đề này. Tuy nhiên, khi xét một số quy định khác của pháp luật ta có thể thấy một số điểm cần lưu ý. Theo khoản 1 và 3 Điều 12 Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ thì viên chức ngoại giao không được hưởng quyền miễn trừ trong trường hợp họ “tham gia với tư cách cá nhân vào các vụ tranh chấp liên quan đến bất động sản tư nhân có trên lãnh thổ Việt Nam; việc thừa kế; hoạt động thương mại hoặc nghề nghiệp mà viên chức ngoại giao tiến hành tại Việt Nam ngoài phạm vi chức năng chính thức của họ”. Quy định này thể hiện rõ quan điểm đối với viên chức ngoại giao thì quyền miễn trừ của họ chỉ là tương đối, nghĩa là quyền miễn trừ không bị giới hạn ở bất cứ lĩnh vực quan hệ dân sự nào nhưng bị hạn chế, hay không được hưởng, trong một số trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, đối với nhà nước nước ngoài thì pháp lệnh lại không đề cập và Bộ luật Tố tụng dân sự cũng không có quy định nào về vấn đề này. Có thể thấy, việc thừa nhận một cách cứng nhắc quyền miễn trừ tuyệt đối của nhà nước nước ngoài ở Việt Nam sẽ làm thiệt hại cho chúng ta vì chắc chắn trong quy định của pháp luật nhiều quốc gia chỉ dành cho nhà nước Việt Nam quyền miễn trừ tương đối tại quốc gia đó. Nên chăng, trong điều kiện giao lưu kinh tế thương mại hiện nay cũng như cùng với sự phát triển của Tư pháp quốc tế hiện đại, Việt Nam nên chấp nhận thuyết quyền miễn trừ tương đối của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, dân sự quốc tế để bảo vệ hiệu quả lợi ích của các công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam khi tham gia vào các quan hệ dân sự với quốc gia nước ngoài. Pháp luật Việt Nam cần có quy định về những trường hợp cụ thể nhà nước nước ngoài không được hưởng quyền miễn trừ tại Việt Nam khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế. Thứ tư, Nhiều quan điểm hiện nay vẫn hiểu quyền miễn trừ tương đối theo hướng quốc gia bị hạn chế một số lĩnh vực quan hệ dân sự quốc tế không được hưởng quyền miễn trừ, còn trong những lĩnh vực mà quốc gia được hưởng quyền miễn trừ thì quốc gia sẽ được hưởng quyền miễn trừ trong bất cứ trường hợp nào mà quốc gia tham gia. Quan điểm này là không chính xác. Sự tương đối ở đây đó là có những trường hợp cụ thể mà quốc gia không được hưởng quyền miễn trừ, còn phạm vi của quyền miễn trừ vẫn bao trùm tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà quốc gia tham gia. Nếu hiểu không chính xác thuyết miễn trừ sẽ dẫn đến tình trạng không bảo vệ được lợi ích hợp pháp của quốc gia khi tham gia các quan hệ dân sự quốc tế, hoặc không tôn trọng lợi ích hợp pháp của quốc gia khác, vi phạm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của quốc gia. 2. Lý thuyết học thuyết miễn trừ tư pháp quốc gia trong Tư pháp quốc tế a. Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia trong tư pháp quốc tế Quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia thể hiện qua các nội dung: Miễn trừ xét xử tại bất cứ Tòa án nào. Nội dung quyền này thể hiện nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện mà quốc gia là bị đơn (trong lĩnh vực dân sự). Điều đó cũng có nghĩa là khi tham gia vào quan hệ dân sự với một quốc gia, cá nhân và pháp nhân nước ngoài không được phép đệ đơn kiện quốc gia đó tại bất kỳ tòa án nào, kể cả tại tòa án của chính quốc gia đó, trừ khi quốc gia đó cho phép. Các tranh chấp phải được giải quyết bằng thương lượng trực tiếp hoặc bằng con đường ngoại giao giữa các quốc gia. Quốc gia đồng ý cho cá nhân, pháp nhân nước ngoài kiện mình cũng có nghĩa là đồng ý cho tòa án thụ lý xét xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, nếu quốc gia đồng ý cho tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện mình, tức là đồng ý cho Tòa án nước ngoài xét xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn. Nội dung của quyền này thể hiện trong trường hợp nếu một quốc gia đồng ý để tòa án nước ngoài thụ lý, giải quyết một vụ tranh chấp mà quốc gia là một bên tham gia thì tòa án nước ngoài đó được quyền xét xử nhưng tòa án không được áp dụng bất cứ một biện pháp cưỡng chế nào như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia để phục vụ cho việc xét xử. Tòa án chỉ được áp dụng các biện pháp này nếu được quốc gia cho phép. Và như vậy, tài sản của quốc gia hưởng quyền bất khả xâm phạm, không thể bị áp dụng trái với ý nguyện của quốc gia sở hữu. Điều 18 Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “Không có biện pháp cưỡng chế tiền tố tụng nào như tịch thu, chiếm giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…”. Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo thi hành quyết định của Tòa án trong trường hợp quốc gia không đồng ý cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện, đồng ý cho Tòa án xét xử. Trong trường hợp quốc gia đồng ý cho một tòa án nước ngoài giải quyết một tranh chấp mà quốc gia là một bên tham gia và nếu quốc gia là bên thua kiện thì bản án của tòa án nước ngoài đó cũng phải được quốc gia tự nguyện thi hành. Nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia nhằm cưỡng chế thi hành bản án đó. Ngay cả khi quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ xét xử thì quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của tòa án vẫn phải được tôn trọng. Các nội dung nêu trên của quyền miễn trừ tư pháp quốc gia có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Quốc gia có quyền từ bỏ từng nội dung hoặc tất cả các nội dung của quyền miễn trừ tư pháp của mình bởi vì đây là quyền của quốc gia chứ không phải nghĩa vụ của quốc gia. b. Các quan điểm khác nhau về quyền miễn trừ của quốc gia Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế đã được thừa nhận trong pháp luật quốc tế (các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế) và pháp luật hầu hết các nước. Tuy nhiên, pháp luật của các nước lại có những quan điểm khác nhau về mức độ hưởng quyền này của quốc gia. Về cơ bản có hai quan điểm chính về vấn đề này: Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia là tuyệt đối, nghĩa là quốc gia phải được hưởng quyền này trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia và trong bất kỳ trường hợp nào. Những người theo quan điểm này xuất phát từ chủ quyền quốc gia là tuyệt đối và bất khả xâm phạm, bất kỳ chủ thể nào cũng không có quyền vượt lên trên chủ quyền quốc gia. Thậm chí, quyền miễn trừ này còn được mở rộng cho người đứng đầu của quốc gia khi tham gia vào các mối quan hệ với tư cách người đứng đầu quốc gia hay tư cách cá nhân. Cần nhận thức rõ vấn đề ở đây, khi thừa nhận quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế là tuyệt đối thì điều này có nghĩa là quốc gia sẽ được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự quốc tế và trong tất cả các trường hợp mà quốc gia tham gia với tư cách là một bên chủ thể trong quan hệ dân sự quốc tế. Việc quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ tuyệt đối của mình phải được thể hiện rõ rang bằng các quy định trong hợp đồng, trong pháp luật quốc gia, trong điều ước quốc tế mà quốc gia kí kết hoặc tham gia, bằng con đường ngoại giao. Quyền miễn trừ tư pháp quốc gia là tương đối (miễn trừ chức năng), do các học giả của các nước theo chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa khởi xướng và xây dựng nhằm loại trừ khả năng hưởng quyền miễn trừ của các công ty thuộc sở hữu nhà nước của các nước theo chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa khi tham gia vào các quan hệ kinh tế thương mại quốc tế. Học thuyết này nhanh chóng được các nước khác ủng hộ và cụ thể hóa vào các đạo luật quốc gia. Theo học thuyết này, quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế sẽ được hưởng quyền miễn trừ về tài phán và quyền miễn trừ về tài sản trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự. Tuy nhiên, có những trường hợp quốc gia sẽ không được hưởng quyền này mà phải tham gia với tư cách một chủ thể dân sự như các chủ thể thông thường khác. Như vậy, Thuyết quyền miễn trừ tương đối chấp nhận cho quốc gia được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia, nhưng lại hạn chế những trường hợp mà quốc gia sẽ không được hưởng quyền miễn trừ.
Xem thêm

9 Đọc thêm

TẠI SAO LẠI CÓ HIỆN TƯỢNG XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

TẠI SAO LẠI CÓ HIỆN TƯỢNG XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Tại sao lại có hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế Bài tập cá nhân Tư pháp quốc tế Chuyên mục Bài tập cá nhân, Tư pháp quốc tế Mỗi quốc gia đều tự xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật riêng nhằm khẳng định chủ quyền cũng như bảo vệ quyền lợi cho công dân nước mình.. Tuy nhiên, giữa các hệ thống pháp luật này luôn có sự khác nhau, thậm trí là trái ngược nhau do nhiều nguyên nhân. Trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay, ít hay nhiều các quốc gia sẽ xích lại gần nhau để cùng hợp tác và phát triển . Ở đó, xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều HTPL đồng thời đều có thể áp dụng đề điều chỉnh một QHPL nào đó. Trong phạm vi bài viết này, em xin làm rõ vấn đề: “Tại sao lại có hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế ?”. II. NỘI DUNG 1, Khái niệm xung đột pháp luật trong TPQT Hiện tượng pháp luật của hai hay nhiều nước khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài được gọi là hiện tượng xung đột pháp luật. 2. Nguyên nhân làm phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật: Quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, thương mại và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài không được điều chỉnh bằng quy phạm thực chất thống nhất. Việc xây dựng và hình thành các quy phạm thực chất thống nhất của các quốc gia khác nhau là rất cần thiết, nó làm giảm hoặc thậm chí triệt tiêu sự khác biệt trong luật pháp của các quốc gia và có tính chất đơn giản hóa và hữu hiệu hóa trong điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế. Trong những trường hợp nhất định nếu cứ áp dụng luật trong nước để điều chỉnh thì rất khó giải quyết và thậm chí có trường hợp không thể giải quyết nổi, trong khí đó các điều ước quốc tế mà trong đó có các quy phạm thực chất thống nhất, cơ quan có thẩm quyền giải quyết cũng như các bên tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế sẽ chiếu theo đó để xem xét và giải quyết thực chất vấn đề trên cơ sở áp dụng ngay các quy phạm đó. Nó cũng loại trừ việc phải chọn luật và áp dụng luật nước ngoài nữa, mà áp dụng ngay các quy phạm điều ước đó. Có thể nói, quy phạm thực chất đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế những xung đột pháp luật giữa các nước, nó là căn cứ pháp lý chung để các quốc gia làm căn cứ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Chính vì vậy, khi các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, thương mại và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài không được điều chỉnh bằng quy phạm thực chất sẽ dẫn đến những xung đột pháp luật giữa các quốc gia. Có sự khác nhau về nội dung trong pháp luật của các nước; hoặc có sự khác nhau trong việc giải thích và áp dụng những quy định giống nhau về mặt hình thức. Sự phát triển về mặt kinh tế, chính trị, xã hội tạo ra những khác biệt trong quy định của pháp luật các nước, hay nói cách khác chính những sự khác biệt này các quốc gia sẽ phải xây dựng cho mình hệ thống pháp luật phù hợp với những quan hệ đó nhằm điều chỉnh xã hội. Ví dụ: tuổi kết hôn, theo luật pháp Việt Nam là nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên thì mới có quyền kết hôn. Trong khi tại Pháp độ tuổi này là 18 không phân biệt nam hay nữ. Như vậy nếu một công dân nam Việt Nam 19 tuổi muốn kết hôn cùng 1 công dân nữ Pháp 18 tuổi, họ có thể đăng ký kết hôn tại Pháp, nhưng khi có tranh chấp phát sinh trong quan hệ hôn nhân diễn ra tại Việt Nam thì mối quan hệ hôn nhân này có thể không được toà án Việt Nam công nhận. Trong ví dụ trên, mặc dù cùng điều chỉnh nhóm quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân nhưng giữa pháp luật Việt nam và Pháp về tuổi kết hôn, nhưng nội dung trong quy định lại có sự khác nhau trong việc xác định độ tuổi có quyền kết hôn. Có thể nói, mặc dù cùng điều chỉnh chung một vấn đề nhưng nội dung trong pháp luật của các nước có quy định khác nhau, chính điều này đã tạo nên xung đột pháp luật giữa các nước. Một trong những nguyên nhân khác gây nên xung đột pháp luật giữa các quốc gia đó là sự khác nhau trong việc giải thích và áp dụng những quy định giống nhau về mặt hình thức. Trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa, sự giao lưu giữa các quốc gia trong khu vực cũng như hội nhập quốc tế giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng phát triển, các nước có sự hợp tác về nhiều lĩnh vực khác nhau điều này giúp các nước giao lưu, học hỏi và tiếp thu những kinh nghiệm, những tiến bộ về tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực pháp luật. Do vậy, mặc dù có sự khác nhau về những yếu tố nội dung nhưng do tiếp thu những tiến bộ của kĩ thuật lập pháp giữa các nước vẫn có những quy định giống nhau về mặt hình thức. Tuy nhiên, trong việc giải thích và áp dụng luật các nước lại có những quan điểm, cách thức khác nhau trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh. Chính những yếu tố này đã tạo nên xung đột pháp luật giữa các nước trong việc giải quyết các vấn đề trong Tư pháp quốc tế. Do sự khác biệt giữa các nước về kinh tế, chính trị, xã hội: theo quan điểm của triết học Mác – Leenin, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, kiến trúc thượng tầng có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng. Do đó, đối với mỗi quốc gia sự phát triển kinh tế là khác nhau chính vì vậy dẫn đến các yếu tố về hệ thống pháp luật, chính trị là khác nhau; các nước đều có những quan điểm về chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo... là khác nhau do đó cũng có sự khác biệt trong sự vận động của nền kinh tế. Nếu nền kinh tế phát triển kéo theo cả một hệ thống pháp luật được xây dựng hoàn thiện, phát triền và ngược lại nếu nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển thì hệ thống pháp luật cũng có những yếu kém, hạn chế nhất định. sự dung hòa trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ tư pháp quốc tế có thể được giải quyết nếu các nước có sự phát triển tương đương về mặt kinh tế, xã hội. Chính những sự khác biệt về kinh tế, chính trị, xã hội đã tạo ra một rào cản trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết chung một vấn đề phát sinh giữa các nước. III. KẾT LUẬN Sự hợp tác quốc tế về mọi mặt giữa các quốc gia là hiện thực tất yếu khách quan trong mọi thời đại, nhất là trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay. Tìm hiêủ về nguyên nhân xảy ra xung đột góp phần lựa phương pháp giải quyết phù hợp. Việt Nam, một quốc gia đang trên đà phát triển cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Xét về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn, TPQT ở các quốc gia khác nhau còn có nhiều sự khác biệt, điều này tạo ra những rào cản, hạn chế sự giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia. Do đó, TPQT Việt Nam cần không ngừng củng cố và hoàn thiện hơn nữa, nhất là với việc xây dựng ra một phương pháp giải quyết XĐPL khách quan, hợp lý.
Xem thêm

5 Đọc thêm

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LAN

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LAN

Phần 1. MỞ ĐẦU 1.1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ ÁN Viện kiểm sát nhân dân là một trong bốn cơ quan cấu thành nên bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chế định về Viện kiểm sát nhân dân là một đặc điểm riêng có của kiểu Nhà nước xã hội chủ nghĩa theo sáng kiến vĩ đại của V.I Lênin. Cùng với các cơ quan khác trong bộ máy Nhà nước, thời gian qua Ngành Kiểm sát đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh. Từ khi ra đời ngày 2671960 đến năm 2001, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất trong bộ máy Nhà nước thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố. Từ năm 2002 đến nay, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân đó là: “thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”. Chức năng này tiếp tục được ghi nhận tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013. Từ khi ra đời đến nay, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân đã phát huy được vị trí, vai trò và thực hiện tốt chức năng của mình, góp phần vào công cuộc bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích bảo vệ và xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, duy trì và ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, hội nhập khu vực và quốc tế. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội theo cơ chế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, kéo theo đó là tình hình tội phạm gia tăng ở các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đứng trước những đòi hỏi và yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, việc nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đó có Viện kiểm sát nhân dân là một trong những nội dung quan trọng được thể hiện ở nhiều Nghị quyết của Đảng trong thời gian qua, cụ thể: Chỉ thị số 53CT ngày 2132000; Nghị quyết số 08NQTW ngày 02012002, Nghị quyết số 49NQTW ngày 0262005 và Kết luận số 92KLTW ngày 1232014 của Bộ Chính trị. Với mục tiêu không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, Nghị quyết số 08NQTW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã nhấn mạnh: Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác…việc phán quyết của Hội đồng xét xử phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo để banh hành những bản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định 4. Thực tiễn đã chứng minh, trong thời gian qua ngành Kiểm sát trong đó có Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự. Qua đó góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của xã hội, quyền tự do dân chủ của công dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của Ngành Kiểm sát vẫn còn những hạn chế nhất định, phần nào đó chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội và công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Một số nguyên nhân chính có thể nêu ra đó là: Chính sách hình sự, các quy định về tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi bổ sung; Việc chuẩn bị hồ sơ tài liệu, luận tội, đề cương xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa còn chưa được chú trọng; hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng trong vụ án còn hạn chế. Việc truy tố của Viện kiểm sát đối với một người để đưa ra Tòa xét xử phải đảm bảo các điều kiện theo luật định, phải đảm bảo tính có căn cứ, đảm bảo đúng quy định của pháp luật (pháp luật hình sự và tố tụng hình sự). Nếu như điều tra thiếu chứng cứ hoặc chứng cứ không rõ ràng, không chính xác, không được thu thập một cách hợp pháp hoặc với con người cụ thể và hành vi cụ thể của họ không cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự thì không thể bị truy tố xét xử. Trong quá trình tố tụng đối với một vụ án hình sự thì mỗi giai đoạn giữ vị trí, vai trò quan trọng khác nhau. Ví dụ để xét xử đúng người, đúng tội thì trước hết việc điều tra phải đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật. Tuy nhiên, việc điều tra theo pháp luật mới chỉ là một giai đoạn đầu, việc có kết tội bị cáo hay không phải được tiến hành tại phiên tòa. Kết quả điều tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa là căn cứ, là cơ sở để kết tội bị cáo. Do vậy, việc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Kiểm sát viên là rất quan trọng, đây là khâu quyết định của hoạt động tố tụng để Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử ban hành bản án, quyết định đúng pháp luật. Từ những lý do nêu trên, học viên chọn và thực hiện đề án “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La” làm đề án tốt nghiệp là vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách. 1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN Trên cơ sở nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, đồng thời nghiên cứu thực trạng chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La từ năm 2011 đến hết năm 2015, qua đó đề ra giải pháp bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giai đoạn hiện nay. 1.3. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ ÁN Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề án thực hiện các nhiệm vụ sau: Phân tích, làm rõ các khái niệm, những yếu tố bảo đảm và tiêu chí đánh giá chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân. Đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. 1.4. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ ÁN Đối tượng: Đề án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tố, thực hành quyền công tố, chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; thực trạng, một số giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Phạm vi: Đề án tập trung nghiên cứu về lý luận và thực tiễn chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Về không gian: Đề án tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian là cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Về thời gian: Đề án nghiên cứu về mặt thực tế chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; đồng thời đưa ra các giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021. Phần 2. NỘI DUNG 2.1. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 2.1.1. Căn cứ khoa học, lý luận của đề án Khái niệm quyền công tố
Xem thêm

39 Đọc thêm

Tác động của luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em

TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT QUỐC TẾ TỚI QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN CÁC VĂN BẢN LUẬT CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM

Tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” là câu nói bao hàm đầy đủ ý nghĩa về Trẻ em. Trẻ em hôm nay là tương lai của nhân loại, của thế giới, của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, mỗi họ tộc và mỗi gia đình mai sau. Ngày 26 tháng 1 năm 1990, Việt Nam đã ký Công ước về quyền trẻ em 1989 và phê chuẩn Công ước ngày ngày 20 tháng 2 năm 1990, mà không kèm theo bảo lưu nào. Việt Nam là quốc gia thứ hai trên thế giới và cũng là quốc gia đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước này. Việc phê chuẩn Công ước đã tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho việc bảo vệ trẻ em ở Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra những nghĩa vụ ràng buộc Việt Nam đối với việc thực thi Công ước. Tuy nhiên việc đảm bảo và thực hiện quyền trẻ em cũng còn nhiều hạn chế, tình trạng xâm hại trẻ em thực sự đáng báo động, rất nhiều hành vi vi phạm quyền trẻ em mà chưa chịu sự trừng trị của pháp luật. Vì những lí do trên em xin được chọn đề tài: (Phân tích tác động của Luật quốc tế tới quá trình hoàn thiện các văn bản luật của Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em) để làm bài tập lớn học kì. Tuy nhiên do hiểu biết của em còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô để bài làm của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cám ơn B.NỘI DUNG I. KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN TRẺ EM TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1.Khái niệm về trẻ em 1.1Trẻ em theo công ước về quyền trẻ em năm 1989 và pháp luật nước ngoài Điều 1 Công ước về quyền trẻ em đã ghi nhận “Trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Trung quốc: Điều 2, luật Bảo vệ người chưa thành niên quy định, trẻ em còn được gọi là trẻ chưa thành niên, là công dân dưới 18 tuổi. Nhật Bản: Điều 4, luật Phúc lợi trẻ em năm 1947 cũng quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi. Pháp luật tôn trọng và thực thi toàn bộ những quy định để đảm bảo mọi phúc lợi cho trẻ em. Theo Điều 1 Luật liên bang Nga số 124FZ ngày 2171998 (sửa đổi), thì trẻ em được hiểu là người ở độ tuổi dưới 18. 1.2 Trẻ em theo pháp luật Việt Nam Từ những quy định về độ tuổi của người chưa thành niên trong các văn bản pháp luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Hôn nhân gia đình, Bộ luật Lao động hiện hành... trên chúng ta có thể hiểu và đưa ra một khái niệm về trẻ em như sau “Trẻ em là người dưới 18 tuổi”, khái niệm này phù hợp với Công ước quốc tế quyền trẻ em và pháp luật Việt Nam. 2. Quyền trẻ em Quyền trẻ em chính là quyền của con người được cụ thể hóa cho phù hợp với nhu cầu, đặc trưng phát triển và tính chất cuộc sống trẻ em. 2.1Quyền trẻ em theo công ước quốc tế Công ước về quyền trẻ em năm 1989 đã bao quát được tất cả các khía cạnh của quyền trẻ em bao gồm: Quyền sống còn; quyền được phát triển; quyền được bảo vệ quyền được tham gia và một số biện pháp bảo vệ dành cho các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. 2.2Quyền trẻ em theo pháp luật Việt Nam Hiến pháp 1992, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 đã nói rõ quyền cơ bản và bổn phận của trẻ em. Bộ luật Dân sự năm 2005 có những quy định riêng nhằm xác định địa vị pháp lý của trẻ em trong lĩnh vực dân sự, gồm quyền, nghĩa vụ và những đảm bảo pháp lý. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2005 đã có những quy định trẻ em như là một thành viên đặc biệt của gia đình, cần có sự bảo hộ pháp lý đặc biệt. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 xác định trẻ em với tư cách là một cá nhân, nên quyền có quốc tịch là một trong những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của trẻ em. II.TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT QUỐC TẾ TỚI QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN CÁC VĂN BẢN LUẬT CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM 1.Đặc điểm các quan hệ pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em. 1.1. Đặc điểm các quan hệ pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em. Quan hệ pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em, về bản chất thì đó chính là các quan hệ pháp luật điều chỉnh các quyền con người. Nguyên tắc chung của việc thực hiện điều ước quốc tế về quyền trẻ em là nguyên tắc tận tâm thực hiện cam kết quốc tế (nguyên tắc Pacta sutservanda) đòi hỏi các quốc gia có nghĩa vụ thực thi các điều ước quốc tế một các tự nhiên và nghiêm chỉnh. Đối tượng điều chỉnh của các thỏa thuận đó là các quyền trẻ em bao gồm quyền sống còn, quyền được bảo vệ, quyền được phát triển và quyền được tham gia. Công ước về quyền trẻ em ràng buộc nghĩa vụ của các quốc gia đã phê chuẩn hoặc gia nhập trong việc thực hiện các quyền trẻ em. 1.2 Đặc điểm pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền trẻ em. Quyền trẻ em được ghi nhận là các quyền cơ bản của công dân (chương V Hiến pháp 1992) mà nội dung của quyền này chủ yếu là các quyền dân sự, bao gồm: quyền sống còn, quyền được bảo vệ, quyền được phát triển và quyền được tham gia. Chế định quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan do các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia ban hành như: Hiến pháp 1992, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và các văn bản pháp luật khác bao gồm cả văn bản luật và văn bản dưới luật. Việt Nam đã xây dựng một bộ máy các cơ quan Nhà nước để đảm bảo việc thực hiện quyền trẻ em. 2. Sự tác động của luật quốc tế đối với luật Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em. Pháp luật quốc tế có tác động tích cực đến sự phát triển và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền trẻ em. Tính chất tác động của luật quốc tế đối với luật quốc gia được đánh giá bằng thực tiễn thực thi nghĩa vụ thành viên điều ước quốc tế của quốc gia, thể hiện ở những hoạt động cụ thể: Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của luật quốc gia phù hợp với cam kết quốc tế của chính quốc gia đó. Các văn bản pháp luật Việt Nam hiện nay đều thể hiện quan điểm của Nhà nước Việt Nam trong việc nghiêm chỉnh tuân thủ và tôn trọng các nghĩa vụ cũng như các cam kết quốc tế mà Việt Nam chính thức ràng buộc, trên cơ sở bình đẳng, có đi có lại, hợp tác phát triển. 3. Bảo vệ quyền trẻ em theo pháp luật Việt Nam. Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định Nhà nước Việt Nam tôn trọng các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội trong đó có quyền trẻ em. Quyền sống còn Điều 32, 37 Bộ luật Dân sự năm 2005: Cá nhân có quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể. Danh sự, nhân phẩm, uy tín của cá nhâ được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Bộ luật Hình sự cũng đã góp phần bảo vệ quyền sống còn của trẻ em. Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: “1. Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ; 2. Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập.” Quyền được bảo vệ Trong pháp luật Việt Nam, quyền được bảo vệ bao gồm các quyền: Trong lĩnh vực Dân sự; Hành chính; Hình sự; Lao động; Bảo vệ khỏi bị xâm hại tình dục, tệ nạn ma tuý, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Quyền được phát triển Nhóm quyền được phát triển nhằm mục đích đảm bảo cho trẻ em có thể đạt được khả năng phát triển tối đa, cả về thể chất lẫn trí tuệ. Sự phát triển của trẻ em là dự kết hợp của hai yếu tố cá nhân và môi trường, do đó pháp luật Việt Nam quy định khá rõ nét những vấn đề liên quan đến quyền phát triển của trẻ em: Quyền được giáo dục; Quyền được vui chơi, giải trí; Quyền được thu nhận thông tin. Quyền được tham gia Trẻ em cần có một môi trường thuận lợi để thực hiện quyền được tham gia một cách đầy đủ. Người lớn có nghĩa vụ tạo điều kiện cho trẻ em thực hiện quyền tham gia: Quyền được bày tỏ ý kiến; Quyền tham gia lao động và ký kết hợp đồng lao động; Quyền khiếu nại tố cáo III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN CỦA TRẺ EM Hệ thống pháp luật còn tản mạn dẫn tới những quy định không thống nhất. Tình trạng buông lỏng giáo dục từ trong đời sống gia đình. Nền giáo dục còn nhiều hạn chế. Các cơ quan chuyên trách, tổ chức có trách nhiệm trong việc thực hiện quyền trẻ em chưa phát huy được vai trò của mình. Nhận thức của cộng đồng xã hội về việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em chưa được nâng cao. Vì vậy cần thực hiện một số biện pháp sau đây để nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về bảo vệ quyền của trẻ em. 1. Đối với hệ thống pháp luật quốc tế. Cần ban hành quy định cụ thể về công tác làm Báo cáo quốc gia về quyền trẻ em, yêu cầu các quốc gia thành viên phải được thực hiện đúng và đầy đủ các công việc để thống nhất và có báo cáo trung thực, chính xác nhất về tình hình trẻ em ở mỗi nước. Cần đẩy mạnh và kiện toàn cơ chế về bảo vệ và phát triển quyền trẻ em. Công tác giám sát, đánh giá, điều tra việc thực hiện quyền trẻ em ở các quốc gia luôn phải kiện toàn để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ quyền trẻ em một cách thường xuyên và đồng đều ở các quốc gia trên thế giới. 2. Đối với hệ thống pháp luật Việt Nam Phải rà soát và hệ thống hóa các văn bản pháp luật có quy định về quyền trẻ em. Hoạt động này nhằm phát hiện những nội dung văn bản pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với thực tiễn. Tiến hành ban hành các văn bản pháp luật mới, luật hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân. Việc sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản pháp luật về quyền trẻ em cần phải được tiến hành ngay nhưng về lâu dài có thể nghiên cứu để xây dựng Luật về bảo vệ quyền trẻ em một cách chi tiết, cụ thể hơn.Các quy phạm pháp luật quy định về quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em còn tản mạn ở nhiều ngành luật, nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Cần tuyên truyền và giáo dục đối với quyền trẻ em bởi, việc tuyên truyền, giáo dục đóng góp rất lớn vào việc thực hiện, tuân thủ pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của người dân. Cần tăng cường vai trò Nhà nước bởi, nhà nước có vai trò to lớn trong việc thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam, Nhà nước phải xác định mục tiêu trẻ em và đảm bảo quyền trẻ em luôn được đặt trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, cần tăng cường hơn nữa vai trò của Nhà nước với những giải pháp thiết thực. Cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của gia đình vì đây là yếu tố quyết định đảm bảo cho quyền trẻ em được thực hiện tốt ngay từ trong mái ấm gia đình. Cần thành lập Toà án vị thành niên pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam hiện nay có quy định một số thủ tục tố tụng riêng dành cho những người phạm tội là người chưa thành niên nhưng thực tế cho thấy nhiều toà án đã xem nhẹ các quy định này. Vì thế cùng với quá trình cải cách tư pháp cần thiết phải thành lập Toà án vị thành niên và quan trọng hơn là tạo điều kiện tốt nhất, giáo dục các em trở thành những công dân có ích cho gia đình và xã hội. C.KẾT LUẬN Quyền trẻ em được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam như là sự đảm bảo về mặt pháp lý của Nhà nước đối với quyền trẻ em. Hệ thống các thiết chế bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam góp phần quan trọng đưa quyền trẻ em vào thực tiễn. Đây cũng chính là sự cam kết mạnh mẽ của Việt Nam với cộng đồng quốc tế về việc bảo vệ quyền trẻ em. Cùng với sự phát triển nền kinh tế mạnh mẽ thì trẻ em ở Việt Nam đã được hưởng các quyền của mình đầy đủ hơn. Tuy nhiên việc bảo vệ quyền trẻ em không phải là vấn đề đơn giản, chỉ cần sự một cá nhân hay một tổ chức cụ thể thì có thể thực hiện việc này một cách toàn diện, mà việc bảo vệ quyền trẻ em đòi hỏi sự tham gia của toàn xã hội vì nó liên quan đến rất nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, có nhiều vấn đề nảy sinh và cần phải hoàn thiện cả hệ thống pháp luật lẫn các thiết chế để đảm bảo tốt nhất các quyền trẻ em.
Xem thêm

8 Đọc thêm

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠOVÀ QUẢN LÝ CỦA CHÍNH PHỦ THEO HƯỚNG PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠOVÀ QUẢN LÝ CỦA CHÍNH PHỦ THEO HƯỚNG PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

chúng ta phải xây dựng Chính phủ đạt được tiêu chí của Nhà nước pháp quyền,nhất thiết không xem nhẹ tiêu chí nào.2. Nguyên tắc đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo và quản lý củachính phủ theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền.Việc đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo và quản lý của chính phủphải đạt được tiến hành tuân thủ trên nguyên tắc được áp dụng chung cho toànbộ máy Nhà nước. Điều đó đảm bảo cho tính định hướng của việc đổi mới tổchức và phương thức lãnh đạo và quản lý của chính phủ được đúng đắn. Nguyêntắc khi đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo và quản lý của chính phủ là:10Một là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợpchặt chẽ trong công việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.Quyền hành pháp tập trung vào Chính phủ. “Sự phân công không phải là phânchia, nghĩa là không được phân định các quyền lập pháp, hành pháp và tư phápmột cách cắt khúc, cứng nhắc” [3;171]. Quốc hội có thể thực hiện một số việcthuộc quyền hành pháp, tư pháp. Chính phủ trong nhiều trường hợp cũng thamgia lập pháp như xây dựng các dự án luật, pháp lệnh hoặc ban hành các nghịđịnh… Hoàn thiện Chính phủ phải dựa trên quan điểm quan trọng này, vì có nhưthế mới phù hợp với nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, mới pháthuy được cái gốc của quyền lực là nhân dân.Hai là, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quá trình hoàn thiệncơ cấu tổ chức Chính phủ. Tập trung là nhằm đảm bảo tính thống nhất, dân chủchỉ cho chúng ta biết tập trung như thế nào. Sự tập trung chỉ đạo, điều hành củamột trung tâm sẽ đem lại hiệu quả của kỷ luật, giữ vững được kỷ cương phépnước. Muốn vậy phải đề cao trách nhiệm cá nhân trên nền tảng dân chủ, thựchiện nguyên tắc cấp dưới phục tùng cấp trên, nhân viên phục tùng thủ trưởng,đông thời cấp trên tạo mọi điều kiện thuận lợi để cấp dưới chủ động sáng tạothực hiện tót chức năng, nhiệm vụ của mình.
Xem thêm

18 Đọc thêm

Nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong Tố tụng dân sự 2015

NGUYÊN TẮC ĐẢM BẢO TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 2015

Công cuộc hội nhập quốc tế ở nước ta đang được tiến hành ngày một sâu rộng. Việt Nam đã và đang tham gia ngày càng đầy đủ vào các sân chơi quốc tế như: WTO, APEC, ASEAN, TPP…. Trong quá trình hợp tác quốc tế, hệ thống pháp luật và thể chế tư pháp Việt Nam cần phải có những điều chỉnh, sửa đổi, hoàn thiện để bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc pháp lý quốc tế, các cam kết quốc tế, tạo động lực thúc đẩy tự do thương mại và đầu tư quốc tế. Trong đó, đặc biệt việc tăng cường tranh tụng là yêu cầu tất yếu của cải cách tư pháp trong thời kỳ hội nhập. Việc Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vừa qua đã ghi nhận nguyên tắc Bảo đảm tranh tụng trong xét xử và cụ thể hóa nguyên tắc này bằng việc sửa đổi, bổ sung một loạt các quy định để nhằm nâng cao và bảo đảm yếu tố tranh tụng đã phần nào đáp ứng được yêu cầu đề ra trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
Xem thêm

13 Đọc thêm

ĐỀ tài KHÓA LUẬN và TIỂU LUẬN TN môn LUẬT HÌNH sự KHÓA 36

ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN VÀ TIỂU LUẬN TN MÔN LUẬT HÌNH SỰ KHÓA 36

tiểu luận môn luật hình sự phần các tội phạm phân tích và các đánh giá hiện trạng hoạt động tội phạm hiện nay cũng như các biện pháp ngăn chặn, phòng chống. I. Khóa luận 1.Cấu thành tội phạm – Lý luận và thực tiễn. 2.Bảo vệ quyền của người già, phụ nữ, trẻ em trong pháp luật hình sự. 3.Các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam – Lý luận và thực tiễn. 4.Các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự một số nước trên thế giới và vấn đề hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam. 5.Hệ thống hình phạt trong BLHS năm 1999 – Những vấn đề lý luận và thực tiễn. 6.Hình phạt tiền trong luật hình sự Việt Nam – Lý luận và thực tiễn. 7.Hình phạt cải tạo không giam giữ trong luật hình sự Việt Nam – Lý luận và thực tiễn. 8.Hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam – Lý luận và thực tiễn. 9.Biện pháp tư pháp theo qui định của pháp luật hình sự Việt Nam. 10.Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt trong luật hình sự Việt Nam. 11.Án treo – những vần đề lý luận và thực tiễn. 12.Biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999 – Những vấn đề lý luận và thực tiễn. 13.So sánh các biện pháp miễn, giảm trong BLHS Cộng hòa Liên bang Nga và trong BLHS Việt Nam và vấn đề hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam. 14.So sánh các biện pháp miễn, giảm trong BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa với BLHS Việt Nam và vấn đề hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam. 15.Tội hiếp dâm trẻ em trong luật hình sự Việt Nam. 16.Các tội phạm về chức vụ một số vấn đề lý luận và thực tiễn. 17.Các tội phạm hối lộ trong BLHS năm 1999 – Những vấn đề lý luận và thực tiễn. 18.Hình sự hóa (tội phạm hóa) hành vi tham nhũng trong BLHS VN để phù hợp với Công ước của LHS về phòng chống tham nhũng. 19.Nội luật hóa các qui định của Công ước TOC về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.
Xem thêm

12 Đọc thêm

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

quả của quá trình đấu tranh, phát triển lâu dài của tất cả các dân tộc, nhân dân trêntoàn thế giới. Được thúc đẩy từ năm 1945 kể từ khi thành lập Liên Hợp Quốc,quyền con người thu hút sự quan tâm rộng rãi của dư luận và có sự tác động mạnhmẽ tới các quan hệ chính trị, pháp lý, xã hội tất cả các cấp độ quốc gia, khu vựcvà quốc tế. Nó không chỉ là nhận thức, là quan điểm mà hữu hình bằng các quyphạm pháp lý được các quốc gia thừa nhận chung, phản ánh quy luật và hướng tấtyếu của xã hội loài người cũng như sự hình thành các cơ chế bảo đảm để quyền conngười được thực thi trên thực tế.Tại Việt Nam, việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là mục tiêu nhấtquán của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay. Việt Nam luôn tích cực tham giacác Điều ước và hoạt động về quyền con người của Liên Hợp Quốc. Chỉ thị 12/TWcủa Ban Bí Thư, ngày 12/7/1992 khẳng định: “Quyền con người là thành quả củacuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị ápbức trên thế giới và cũng là cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, quađó quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”.Do đó chúng ta cần phải bảo vệ thành quả này trong mọi lĩnh vực, đặc biệt làtrong lĩnh vực TTHS. Việc bảo vệ quyền con người trong TTHS có một ý nghĩa đặcbiệt quan trọng vì trong lĩnh vực này, quyền con người dễ bị xâm phạm, dễ bị tổnthương và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng về vật chất, thể chất lẫn tinhthần. Trong các chủ thể của hoạt động TTHS thì Tòa án giữ vai trò quan trọng.Đảng đã khẳng định khâu trọng tâm của chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020là cải cách hệ thống TAND: “Trung tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạtđộng của TAND” và „„xét xử là trọng tâm” (Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005của Bộ Chính Trị). Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ X (tháng 4/2006)cũng đã chỉ rõ sự cần thiết phải xây dựng cơ chế tài phán đối với những vi phạm1nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ quyền con người bằng nhánh quyền Tư pháp. Đại
Xem thêm

86 Đọc thêm

ĐỘC LẬP TƯ PHÁP VÀ VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

ĐỘC LẬP TƯ PHÁP VÀ VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

Đặt vấn đề1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứuQuyền con ngƣời là một giá trị cao quý, là thành quả đấu tranh chung của toànthể nhân loại. Xây dựng một xã hội mà trong đó tất cả mọi ngƣời đều đƣợc tự do vàhƣởng các quyền con ngƣời một cách thực chất, đầy đủ và bình đẳng là một vấn đềcấp thiết đƣợc đặt ra đối với các quốc gia trên thế giới, nhất là trong xu thế toàn cầuhóa hiện nay.Chính vì vậy, vấn đề bảo đảm, bảo vệ quyền con ngƣời đã trở thành một yếu tốkhông thể thiếu khi hoạch định chính sách, pháp luật và quan hệ đối ngoại của cácquốc gia. Một trong những bảo đảm quan trọng hàng đầu là sự độc lập của tƣ pháp,bởi đó là điều kiện tiên quyết để giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nƣớc, từ đónhằm đảm bảo, bảo vệ quyền con ngƣời.Vấn đề độc lập tƣ pháp đã đƣợc ghi nhận không chỉ trong nhiều văn kiện quốctế mà trong cả Hiến pháp và pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Chẳng hạn,Điều 104 Hiến pháp Ý năm 2003 quy định “Cơ quan tư pháp tự chủ và độc lập vớimọi quyền lực khác” [49, tr.9]; Điều 138 Hiến pháp An-giê-ri năm 2002 quy định“Quyền lực tư pháp là độc lập. Nó được thực thi trong khuôn khổ pháp luật” [49,tr.9]; Điều 64 Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 2005 quy định “Tổng thống nướcCộng hòa là nhà bảo trợ cho sự độc lập của cơ quan tư pháp” [49, tr.9].Riêng đối với Việt Nam, nguyên tắc độc lập tƣ pháp không đƣợc ghi nhận mộtcách trực tiếp và chính thức trong Hiến pháp Việt Nam, mà thông qua một hìnhthức gián tiếp khác, đó là khẳng định tính độc lập của Thẩm phán trong quá trìnhxét xử. Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp Việt Nam khẳng định “Thẩm phán, Hội thẩmxét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhâncan thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” [28].Có thể khẳng định sự độc lập tƣ pháp ngày càng trở thành yếu tố cần thiết trongxây dựng nhà nƣớc pháp quyền, bảo đảm, bảo vệ công lý, mà đó quyền con ngƣờiđƣợc bảo đảm mức độ cao nhất. Đây thực sự là một vấn đề đƣợc rất nhiều nhà
Xem thêm

18 Đọc thêm

Điều kiện pháp lý để người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam và liên hệ thực tiễn

ĐIỀU KIỆN PHÁP LÝ ĐỂ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI, PHÁP NHÂN NƯỚC NGOÀI ĐƯỢC BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TẠI VIỆT NAM VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN

Điều kiện pháp lý để người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam và liên hệ thực tiễn Chuyên mục Bài tập học kỳ, Tư pháp quốc tế Bài tập học kỳ Tư pháp quốc tế có đáp án. A. MỞ BÀI Quyền tác giả là một nhóm quyền của Sở hữu trí tuệ, được Nhà nước bảo hộ cho các tác giả cho một thời hạn nhất định. Mỗi một quốc gia khác nhau thì có những nội dung về bảo hộ quyền cho tác giả khác nhau, không chỉ với các tác giả trong nước mà còn có các chế định để bảo vệ quyền cho tác giả là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài. Các chế định này được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật và là cơ sở pháp lý để thực thi việc bảo hộ quyền tác giả của họ.Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối với các tác giả là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài có tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam hoặc được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam đều được bảo hộ quyền tác giả. Đối với tác phẩm công trình của người nước ngoài được công bố, sử dụng ở Việt Nam dựa trên cơ sở những điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia thì chế độ bảo hộ quyền tác giả sẽ được xác định theo điều ước quốc tế và theo pháp luật Việt Nam. Dựa trên cơ sở pháp lý của những quy định trên, trong phạm vi bài viết này sẽ tìm hiểu cụ thể hơn về điều kiện pháp lý để người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam và liên hệ thực tiễn vấn đề này trong giai đoạn hiện nay. B. NỘI DUNG I. Khái niệm chung về quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả cho người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam 1. Tác giả: Tác giả là những người bằng lao động trí tuệ của mình, trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện dưới dạng vật chất nhất định. Theo quy định tại Điều 736 Bộ luật dân sự, thì: Người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học(sau đây gọi chung là tác phẩm) là tác giả của tác phẩm đó Trong trường hợp có hai người hoặc nhiều người cùng sáng tạo ra tác phẩm thì những người đó là các đồng tác giả Người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh từ tác phẩm của người khác, bao gồm tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác giả của tác phẩm phái sinh đó. Như vậy chỉ những người trực tiếp làm ra tác phẩm thông qua hoạt động của tư duy sáng tạo mới được coi là tác giả. Những người cung cấp tư liệu, góp ý kiến cho việc sáng tạo, làm phản biện, hướng dẫn khoa học không thể là tác giả của tác phẩm. Kết quả của lao động do tư duy sáng tạo mang lại phải định hình dưới dạng vật chất nhất định. 2. Quyền tác giả (thường gọi là bản quyền, bản quyền tác giả) là quyền hợp pháp của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm (văn học, nghệ thuật hay khoa học) do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu (Khoản 2, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ). Quyền tác giả là các quyền về tinh thần và vật chất của tác giả .Quyền tác giả bao gồm : Quyền nhân thân Quyền tài sản + Quyền làm tác phẩm tái sinh + Quyền sao chép tác phẩm + Quyền biểu diễn + Quyền phân phối, nhập khẩu bản sao gốc của tác phẩm + Quyền truyền đạt tác phẩm + Quyền cho thuê tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính 3. Người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam. Pháp nhân là một tổ chức nhất định của con người, được pháp luật nhà nước quy định có quyền năng chủ thể. Phá nhân nước ngoài là tổ chức hưởng tư cách phá nhân theo quy định của pháp luật nước ngoài và được công nhận là có quốc tịch nước ngoài. 4. Quyền tác giả cho người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam: Được quy định tại Điều 774 Bộ Luật dân sự 2005, theo đó Quyền tác giả của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài đối với tác phẩm lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam hoặc được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam được bảo hộ theo quy định của pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 5. Bảo hộ quyền tác giả: là bảo hộ các quyền lợi của tác giả đối với tác phẩm văn học và nghệ thuật hay khoa học. 6.Bảo hộ quyền tác giả người nước ngoài,pháp nhân nước ngoài tại VN: là bảo hộ các quyền lợi của tác giả là người nước ngoài,pháp nhân nước ngoài tại VN đối với tác phẩm văn học và nghệ thuật hay khoa học. Đối với tác giả là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài có tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học lần đầu tiên được công bố, phổ biển tại Việt Nam hoặc được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam đều được nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền tác giả (trừ trường hợp tác phẩm không được nhà nước bảo hộ). II. Điều kiện pháp lý về vấn đề bảo hộ quyền tác giả cho người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam 1. Bảo hộ quyền tác giả cho người nước ngoài , pháp nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Bảo hộ quyền tác giả cho người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật a. Chủ thể và đối tượng bảo hộ quyền tác giả Theo pháp luật Việt Nam, chủ thể của bảo hộ quyền tác giả là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài có tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam hoặc được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam đều được nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền tác giả. Người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố, phổ biến, xuất hiện lần đầu ở nước ngoài, thì chỉ có thể được bảo hộ tại Việt Nam nếu điều ước Quốc tế Việt Nam hoặc gia nhập có quy định. Đối tượng bảo hộ phải là những tác phẩm được nhà nước bảo hộ, không nằm trong trường hợp tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ. b. Nội dung quyền tác giả. Pháp luật hầu hết các nước đều thừa nhận nguyên tắc chung để bảo hộ quyền tác giả là vào thời điểm tác phẩm được sáng tạo hoặc được định hình vật chất. Ngay vào thời điểm này tác phẩm đã được pháp luật Quốc gia bảo hộ. Đây được gọi là quốc gia gốc, hoặc nước xuất xứ của tác phẩm, cụ thể pháp luật quốc gia sẽ điều chỉnh các vấn đề sau. + Xác định tư cách pháp lý của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm; + Xác định đối tượng được bảo hộ. Do pháp luật các nước cũng có quy định khác nhau về định danh đối tượng tác phẩm được bảo hộ, có thể một đối tượng được bảo hộ ở nước này nhưng không được bảo hộ ở nước khác. + Điều kiện bảo hộ đối với tác phẩm. Pháp luật các nước cũng có quy định khác trong việc đưa ra các điều kiện để bảo hộ một tác phẩm. Nhìn chung thì một tác phẩm sẽ được bảo hộ nếu nó có tính độc đáo , tính sáng tạo, không căn cứ vào thể loại, tính chất...tác phẩm. + Xác định nội dung quyền tác giả được quy địn tại Điều 774 BLDS 2005 : “ Quyền tác giả của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài đối với tác phẩm lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam hoặc được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam được bảo hộ theo quy định của pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.” Với quy định trên, điều kiện để bảo hộ quyền tác giả cho người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài được chia thành hai trường hợp: +) Quyền tác giả của người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài sẽ được bảo hộ tại Việt Nam nếu có các tác phẩm được công bố phổ biến lần đầu tiên tại Việt Nam hoặc được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam. Trong trường hợp này người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài đều có các quyền và nghĩa vụ như công nhân và pháp nhân Việt Nam . +) Trong trường hợp người nước ngoài pháp nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố, phổ biến, xuất hiện lần đầu ở nước ngoài, thì chỉ có thể được bảo hộ tại Việt Nam nếu điều ước Quốc tế Việt Nam hoặc gia nhập có quy định. Trong các trường hợp này người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài được đảm bảo các quyền và nghĩa vụ theo quy định của điều ước quốc tế. c. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả. Công ước Berne quy một công thứ chung về thời hạn bảo hộ cho một tác phẩm tại Điều 7 là một tác phẩm sẽ được bảo hộ cả đời tác giả cộng 50 năm sau khi tác giả chết. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tinh thần của công ước cũng có quy định tương tự như Điểu 7 công ước Berne, nội dung thời hạn bảo hộ quyền tác giả được quy định cụ thể tại Điều 27 bảo hộ quyền tác giả Luật SHTT 2009. 2.Bảo hộ quyền tác giả cho người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài theo quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. 2.1, Bảo hộ quyền tác giả cho người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài theo quy định của công ước Berne Nội dung bảo hộ quyền tác giả theo quy định của công ước Berne Nguyên tắc cơ bản Nguyên tắc đối xử quốc gia, là nguyên tắc đặt ra cho các quốc gia thành viên thực hiện bảo hộ tác phẩm có nguồn gốc từ các quốc gia thành viên khác tương tự như sự bảo hộ tác phẩm của công dân quốc gia mình. Sự bảo hộ đó không kém thuận lợi hơn, không thấp hơn sự bảo hộ đối với công dân thuộc quốc gia mình. Nguyên tắc này đặt ra sự bình đẳng trong đối xử với công dân và pháp nhân của các quốc gia thành viên. Nguyên tắc bảo hộ tự động, đây là nguyên tắc đặc thù trong lĩnh vực quyền tác giả, theo đó quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm định hình dưới dạng vật chất nhất định không lệ thuộc vào bất cứ thủ tục nào như đăng ký cấp giấy chứng nhận, nộp lưu chiểu... Nguyên tắc bảo hộ độc lập, được quy định tại khoản 1 Điều 5 Công ước, theo đó được hiểu là việc được hưởng và thực hiện các quyền theo Công ước độc lập với những gì được hưởng tại nước xuất xử của tác phẩm. Nguyên tắc được thể hiện ở chỗ, một tác phẩm được bảo hộ không phụ thuộc vào việc tác phẩm đó có được bảo hộ hay không tại quốc gia gốc của nó. Nói cách khác, một tác phẩm dù có hay không được bảo hộ ở quốc gia gốc nhưng nó vẫn có thể được bảo hộ ở các quốc gia khác là thành viên của Liên hiệp với quy chế pháp lý theo về bảo hộ quyền tác giả ở quốc gia này. Tuy nhiên, ngoại lệ của nguyên tắc này được quy định tại khoản 8 Điều 7 Công ước. Theo đó, về nguyên tắc thì thời hạn bảo hộ của quốc gia sở tại đối với tác phẩm không chịu ảnh hưởng bởi thời hạn bảo hộ của quốc gia gốc, nhưng trên thực tế nếu thời hạn bảo hộ ở quốc gia gốc đã hết thì quốc gia thành viên có quyền từ chối bảo hộ tác phẩm khác mặc dù theo pháp luật của nước này vẫn còn thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm đó. Đối tượng bảo hộ của Công ước Berne là các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được liệt kê khá đầy đủ và toàn diện tại Điều 2, bao gồm: tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào, chẳng hạn như sách, tập in nhỏ và các bản viết khác, các bài giảng, bài phát biểu, bài thuyết giáo và các tác phẩm cùng loại; các tác phẩm kịch hay nhạc kịch, các tác phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản nhạc có lời hay không lời, các tác phẩm điện ảnh và các tác phẩm được diễn tả bằng một kĩ thuật tương tự với điện ảnh...Công ước bảo hộ các tác phẩm được biểu hiện theo phương thức hay hình thức nào. Đồng thời, công ước cũng quy định mở cho các quốc gia thành viên quyền quyết định không bảo hộ các tác phẩm nói chung hoặc những thể loại khác cụ thể nào đó, trong khi các tác phẩm ấy chưa được ấn định trên một hình thái vật chất. Về quyền được bảo hộ, Công ước quy định các quyền độc quyền của tác giả bao gồm quyền sao chép, quyền phân phối, quyền dịch, quyền phóng tác, quyền biểu diễn công cộng, quyền kể lại trước công chúng, quyền phát song, quyền truyền thông tới công chúng, quyền bán lại tác phẩm nghệ thuật gốc. Các quyền này là quyền kinh tế của tác giả, do tác giả trực tiếp thực hiện hoặc cho phép các tổ chức, cá nhân khác thực hiện. Đồng thời Công ước còn đưa ra quy định về giới hạn và ngoại lệ. Tuy nhiên, các giới hạn, ngoại lệ chỉ mở rộng trong các trường hợp đặc biệt, không ảnh hưởng tới việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây thiệt hại về quyền lợi hợp pháp của tác giả. Các quyền tinh thần đề cập trong Công ước là các quyền đững tên tác giả trên tác phẩm, phản đối bất kỳ sự cắt xén, bóp méo, sửa đổi hay bất kì hành vi xâm phạm khác liên quan tới tác phẩm, có thể làm phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Thời hạn bảo hộ, Công ước đưa ra hai nguyên tắc tình thời hạn bảo hộ. Nguyên tắc tính thời hạn bảo hộ theo đời người, được quy định là khoảng thời gian suốt đời tác giả và năm mươi năm sau khi tác giả qua đời. Nguyên tắc tính thời gian bảo hộ dựa vào thời điểm công bố được quy định là khoảng thời gian năm mươi năm đối với tác phẩm điện ảnh hoặc thời điểm tác phẩm được sáng tạo, nếu chưa công bố. Đối với những tác phẩm khuyết danh hay bút danh, thời hạn bảo hộ do công ước này quy định chấm dứt năm mươi năm sau khi tác phẩm được phổ cập tới công chúng một cách hợp pháp. Tuy nhiên, khi bút hiệu tác giả biểu lộ không chút hoài nghi về danh tính của tác giả thì thời hạn bảo hộ được tính theo nguyên tắc tính thời hạn bảo hộ theo đời người. Đối với tác phẩm nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, thời hạn bảo hộ tối thiểu là hai lăm năm kể từ khi tác phẩm được sáng tạo. Đối với tác phẩm đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ được tính như trên chỉ khác là thời hạn tính sau khi người đồng tác giả cuối cùng chết. Quyền tác giả theo công ước Berne được xác lập theo nguyên tắc tự động: không cần phải đăng ký tác quyền, không cần phải viết trong thông báo tác quyền. Ưu đãi dành cho quốc gia thành viên là nước đang phát triển: đây là những điều khoản đặc biệt được quy định tại Công ước Berne về ưu đãi, miễn trừ. Lợi ích này là thỏa thuận của các nước đang phát triển, để các quốc gia đang phát triển có thể tiếp cận việc dịch và xuất bản (làm các bản sao) đối với một số loại hình tác phẩm. 2.2, Bảo hộ quyền tác giả theo quy định của Hiệp định TRIPs Hiệp định đưa ra các điều khoản chung và các nguyên tắc cơ bản , đặc biệt là cam kết đối xử quốc gia mà theo đó các công dân của các nước thành viên phải được đối xử không kém ưu đãi hơn so với công dân của các nước thành viên đó về vấn đề quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng. Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc cũng được đưa ra, đây là một điều khoản mới trong thỏa thuận sở hữu trí tuệ quốc tế, theo đó bất kì thuận lợi nào mà một thành viên dành cho các công dân của một thành viên khác cũng phải được ngay lập tức và vô điều kiện áp dụng cho công dân của tất cả các thành viên khác ngay cả khi sự đối xử này ưu đãi hơn đối xử mà thành viên đó dành cho chình công dân nước mình. Đối tượng được bảo hộ bao gồm các tác phẩm thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học (chương trình máy tính, cơ sở dữ liệu). Tuy nhiên, không phải bất kỳ tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật nào cũng được bảo hộ. Để được bảo hộ, tác phẩm phải là nguyên tác (ý tưởng trong tác phẩm không nhất thiết phải là mới nhưng loại hình biểu hiện phải là nguyên bản sáng tạo của tác giả) Nội dung bảo hộ của Hiệp định bao gồm các nội dung được quy định tại Công ước Berne như đã trình bày ở trên. Thời hạn bảo hộ, trừ tác phẩm nhiếp ảnh và tác phẩm nghệ thuật ứng dụng, nếu thời hạn bảo hộ tác phẩm không được tính theo đời người, Hiệp định TRIPs quy định thời hạn bảo hộ tối thiều đối với QTG. Thời hạn bảo hộ đó không được dưới năm mươi năm kể từ khi kết thúc năm dương lịch mà tác phẩm được công bố một cách hợp pháp, hoặc năm mươi năm tính từ khi kết thúc năm dương lịch mà tác phẩm được sáng tạo nếu tác phẩm này không được công bố một cách hợp pháp trong vòng ba mươi năm kể từ ngày tạo ra tác phẩm. III. Ví dụ về việc thực thi quyền tác giả cho cá nhân nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam Quyền tác giả tại Việt Nam đã được quy định chi tiết trong Bộ luật dân sự 2005, Luật sở hữu trí tuệ và Nghị định 100NĐCP2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả có liên quan. Những năm qua pháp luật về quyền tác giả đã phát huy tác dụng tích cực trên các lĩnh vực. Ngày 20 tháng 2 năm 1987, Hãng bảo hộ quyền tác giả Việt Nam, tiền than của Cục bản quyền tác giả được thành lập. Trong bối cảnh đất nước bước vào thực hiện công cuộc đổi mới, đây là lựa chọn đúng đắn để hướng tới văn minh nhân loại. Một trong những vụ việc gây tranh cãi nhiều nhất thời gian gần đây chính là “phớt lờ các quyền ca khúc nước ngoài”. Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả Việt Nam (VCPMC) vừa lên tiếng về việc VTV không trả tiền tác quyền cho các ca khúc tiếng nước ngoài phát song trên truyền hình. Trong số các chương trình vi phạm về tác quyền do trung tâm này thống kê gồm The Voice, Bước nhảy hoàn vũ, Cặp đôi hoàn hảo, tìm kiếm tài năng,…và nhiều chương trình âm nhạc khác. Theo thống kê, The Voice chủ yếu hát bài hát tiếng nước ngoài nhưng VTV không hề trả tiền bản quyền cho các bài hát này. VTV chỉ trả tiền bản quyền cho bài hát tiếng Việt theo giá thoả thuận giữa hai bên. Đây có thể xem là trường hợp tiêu biểu trong vô số trường hợp VCPMC nhận được hàng năm. Anh, Mỹ, Hàn…đều gửi “trát” đòi tác quyền. Họ đều là những nước có ký thoả ước song phương với Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả. Xét về nguyên tắc kí thoả thuận song phương, cả hai bên đều có trách nhiệm bảo hộ quyền tác giả cho đối tác. Việc kiểm soát lượng sử dụng ca khúc tiếng nước ngoài hiện nay gặp khó khăn vì VTV cũng như các đơn vị phát sóng khác không phải xin phép trước khi sử dụng. Đây không phải lần đầu tiên VCPMC đặt vấn đề về việc trả tác quyền cho ca khúc nước ngoài. Cũng theo VCPMC, chỉ có đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị duy nhất chịu trả tiền tác quyền cho các ca khúc tiếng Việt lẫn tiếng nước ngoài với mức giá ngang nhau (300000 đồng cho chương trình có tài trợ, 100000 đồng cho chương trình không có tài trợ). Với các chương trình mật độ sử dụng ca khúc nước ngoài cao như The Voice, VCPMC vẫn phải thống kê, rà soát trên hệ thống lưu trữ bản quyền quốc tế. gửi thông báo đến từng nước có ca khúc sử dụng và đề nghị cùng hợp tác để thu tiền bản quyền. Phía đại diện của VCPMC cho biết “Không chỉ The Voice, Bước nhảy hoàn vũ mà toàn bộ các chương trình sử dụng ca khúc nước ngoài, VCPMC chưa từng thu một đồng tác quyền từ các nhà đài”??? Đứng trước thực tế này trưởng ban thư kí biên tập VTV cho hay “VTV là đơn vị tiên phong trong vấn đề trả tiền tác quyền, nhưng riêng đối với bài hát nước ngoài thì chưa thực hiện được. Có nhiều lý do nhưng quan trọng là lâu nay VTV tự liên hệ với nhạc sĩ để trả, bắt đầu từ năm 2012 mới thông qua VCPMC. Đối với tác giả nước ngoài, việc liên hệ thông tin với họ là rất khó nên chưa thực hiện được”. Lý do này được nhiều người cho rằng khó chấp nhận. Bởi “muốn làm được minh bạch, chặt chẽ vấn đề bản quyền, tác quyền thì tất cả chúng ta nên tập quen với cuộc sống thượng tôn pháp luật đi đã” (một nhạc sĩ trẻ giấu tên). Hai cuốn sách mới nhất của Pam Scott vừa được xuất bản là Vietnam Revisited (Thăm lại Việt Nam) và Trailblazers of Fortune (Những kẻ đi tìm vận may) viết về câu chuyện có thật của một gia đình người Pháp sống tại Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc từ năm 1858 đến 1954 do Nhà xuất bản Thế giới phát hành. Hai tác phẩm trên của Pam Scott được công bố lần đầu tiên ở Việt nam, tại không gian sách Bookworm, Hà Nội vào tối ngày 19092012 đồng thời 2 cuốn sách này đã được nhà xuất bản Thế giới phát hành. Pam Scott là nhà văn Úc, tuy nhiên bà đã sinh sống ở Việt Nam từ rất lâu và 2 cuốn sách mới nhất của bà là Vietnam Revisited (Thăm lại Việt Nam) và Trailblazers of Fortune (Những kẻ đi tìm vận may) được bà hoàn thành tại Việt Nam cũng như được công bố lần đầu tiên ở Việt Nam. Và theo quy định tại Điều 774 BLDS Việt Nam: “ Quyền tác giả của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài đối với tác phẩm lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại VIệt Nam hoặc được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam được bảo hộ theo quy định của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩ Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” thì Pam Scott hoàn toàn được bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam cũng như hai tác phẩm của bà cũng được bảo hộ tại Việt Nam.
Xem thêm

14 Đọc thêm

Công tác quản lý nhà nước về hộ tịch ở UBND phường Hoà Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH Ở UBND PHƯỜNG HOÀ HIỆP NAM, QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Trong công cuộc cải cách nền hành chính nói chung ở nước ta hiện nay và ngành Tư pháp nói riêng được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm. Nghị quyết số 08–NQTW ngày 02012002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã chỉ ra các nhiệm vụ cụ thể trong các hoạt động bổ trợ tư pháp. Nghị quyết số 49–NQTW ngày 0262005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 định hướng nhiệm vụ và hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp. Và căn cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình và các Luật liên quan khác, Chính phủ đã ban hành 8 Nghị định điều chỉnh lĩnh vực hộ tịch( ) (cả hộ tịch trong nước và hộ tịch có yếu tố nước ngoài). Ngày 20112014, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Hộ tịch và Luật chính thức có hiệu lực từ ngày 01012016. Luật Hộ tịch được ban hành nhằm luật hóa các quy định về đăng ký, quản lý hộ tịch trong các Nghị định của Chính phủ đã được thực tiễn kiểm nghiệm, bảo đảm tính kế thừa và phát triển, cụ thể hóa thẩm quyền và quy trình thực hiện công tác hộ tịch. Trên cơ sở quy định của Luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 1232015NĐCP ngày 15112015 quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; Thông tư số 152015TTBTP ngày 16112015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 1232015NĐCP ngày 15112015 của Chính phủ quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch để bảo đảm các nội dung của Luật được triển khai thực hiện có hiệu quả.
Xem thêm

40 Đọc thêm

HIỆN TƯỢNG XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

HIỆN TƯỢNG XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế Xung đột pháp luật là một vấn đề quan trọng trong Tư pháp Quốc tế. là cơ sở để hình thành nên những phương pháp giải quyết xung đột pháp luật hay phương pháp điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Việc biết được nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xung đột phấp luật trong Tư pháp Quốc tế là khá cấp thiết. Bài viết dưới đây em xin trình bày đề tài “Tại sao lại có hiện tượng xung đột pháp luật trong Tư pháp Quốc tế.” Xung đột pháp luật là hiện tượng pháp lý trong đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia vào điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế nhất định mà nội dung điều chỉnh trong mỗi hệ thống pháp luật có sự khác nhau. Hiện tượng xung đột pháp luật trong Tư pháp Quốc tế xuất phát do mỗi một quốc gia trên thế giới có các điều kiện khác nhau về chính trị, kinh tế xã hội phong tục tập quán, truyền thống lịch sử…, từ đó hình thành nên một hệ thống pháp luật riêng của mình và các hệ thông pháp luật đó khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau. Xung đột pháp luật xảy ra trong các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, tất yếu các quan hệ đó đã liên đới tới điều chỉnh của hai hay nhiều hệ thống pháp luật và vấn đề “lựa chọn” một hệ thống điều chỉnh là rất cần thiết. Trong điều kiện hiện nay khi mà nền kinh tế chính trị các quốc gia ngày càng phát triển, đòi hỏi các nước phải có quan hệ mật thiết với nhau. Và lúc đó, việc bảo hộ cho công dân nước nước mình tại nước ngoài cũng như trong nước sẽ là một vấn đề cần phải được đặt lên hàng đầu. Đặc biệt, các quan hệ pháp luật dân sự, thương mại, gia đình, lao động có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là những quan hệ luôn có tính chất vượt ra khỏi biên giới của quốc gia hay nói cách khác nó luôn luôn liên quan đến một hoặc nhiều quốc gia khác. Tuy nhiên, thực tế cho thấy mỗi quốc gia có một chế độ chính trị, văn hóa và trình độ phát triển khác nhau kể cả có cùng chế độ chính trị, vì vậy khó khăn nằm ở chỗ hệ thống pháp luật của các quốc gia cũng sẽ khác nhau khi quy định về cùng một vấn đề. Chẳng hạn như vấn đề độ tuổi kết hôn của công dân. Một nam công dân Việt Nam muốn kết hôn với một nu công dân Anh. Lúc này, những vấn đề cần giải quyết là luật pháp nước nào sẽ điều chỉnh quan hệ hôn nhân này hay nói chính xác hơn là họ sẽ tiến hành các thủ tục kết hôn theo luật nước nào. Câu trả lời là hoặc luật của Anh hoặc luật của Việt Nam. Giả sử, hai công dân này đều thỏa mãn các điều kiện về kết hôn của pháp luật Anh và Việt Nam, lúc đó, vấn đề chọn luật nước nào không còn quan trọng. Bởi vì, luật nào thì họ cũng được phép kết hôn. Nhưng, nếu nam công dân Việt Nam mới chỉ 19 tuổi, nữ công dân Anh 17 tuổi thì theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam, cả hai đều chưa đủ độ tuổi kết hôn (Điều 9, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định độ tuổi kết hôn với nam – 20 tuổi, nữ 18 tuổi). Trong khi đó, luật hôn nhân của Anh thì quy định độ tuổi được phép kết hôn đối với nam và nữ là 16 tuổi. Như vậy, đều về độ tuổi được phép kết hôn nhưng pháp luật của cả hai quốc gia đều hiểu không giống nhau. Đấy chính là xung đột pháp luật. Không thể có xung đột pháp luật trong các quan hệ về hình sự, hành chính, vì các hệ thống pháp luật này mang tính chất tuyệt đối về lãnh thổ. Nghĩa là, các đạo luật thuộc những lĩnh vực trên, được ban hành để bảo vệ an ninh và trật tự công cộng của quốc gia, nên tất cả mọi người sinh sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đều phải thi hành, dù họ mang quốc tịch của quốc gia nào. Như vậy, trong quan hệ hình sự, hành chính, không có trường hợp nào được áp dụng luật nước ngoài để điều chỉnh. Trong các ngành luật khác Tư pháp Quốc tế, không có hiện tượng xung đột pháp luật bởi khi quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của chúng phát sinh, không có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tham gia vào việc điều chỉnh cùng một quan hệ xã hội ấy, và cũng không có sự lựa chọn luật để áp dụng vì các quy phạp pháp luật của các ngành luật này mang tính tuyệt đối về mặt lãnh thổ. Chỉ khi các quan hệ tư pháp quốc tế xảy ra thì mới có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tham gia điều chỉnh quan hệ đó và làm nảy sinh yêu cầu về chọn luật áp dụng nếu trong trường hợp không có quy phạm thực chất thống nhất. Ngoài ra, xung đột pháp luật cũng có thể xảy ra ở các nhàn nước liên bang khi ở giữa cá bang (hoặc các nước Cộng hòa ở Liên Xô cũ) pháp luật cũng quy định khác nhau. Nhưng ở đó lại có cách giải quyết khác bởi ở đấy đều có luật toàn liên bang và lại có cả các cơ quan có thẩm quyền giải quyết ở mức toàn liên bang. Mọi xung đột pháp luật giữa các bang sẽ giải quyết bằng luật chung của cả liên bang và do các cơ quan của liên bang ra quyết định. Mỗi quốc gia đều tự xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật riêng nhằm khẳng định chủ quyền cũng như bảo vệ quyền lợi cho công dân nước mình. Tuy nhiên, giữa các hệ thống pháp luật này luôn có sự khác nhau, thậm trí là trái ngược nhau do những nguyên nhân về điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội hay hoàn cảnh địa lý… Trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay, ít hay nhiều các quốc gia sẽ xích lại gần nhau để cùng hợp tác và phát triển. Ở đó, xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật đồng thời đều có thể áp dụng đề điều chỉnh một quy phạm pháp luật nào đó. Do vậy, việc hiểu rõ nguyên nhân của hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế sẽ cho chúng ta một cái nhìn hoàn chỉnh hơn trong tư pháp quốc tế về phương pháp giải quyết xung đột pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức trong nước cũng như nước ngoài tham gia vào các quan hệ pháp luật tư pháp, góp phần thúc đẩy nền kinh tế – xã hội đất nước ngày càng phát triển.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba thì sẽ áp dụng pháp luật như thế nào

KHI GẶP HIỆN TƯỢNG DẪN CHIẾU NGƯỢC VÀ DẪN CHIẾU ĐẾN PHÁP LUẬT NƯỚC THỨ BA THÌ SẼ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NHƯ THẾ NÀO

Khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba thì sẽ áp dụng pháp luật như thế nào Nhắc tới tư pháp quốc tế là nhắc tới vấn đề áp dụng các quy phạm xung đột. Một trong những vấn đề rất phức tạp trong việc áp dụng quy phạm xung đột đó là vấn đề dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba. Trong phạm vi bài viết này, em xin làm rõ vấn đề “khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba thì sẽ áp dụng pháp luật như thế nào”. NỘI DUNG. I. Khái quát về hiện tượng dẫn chiếu trong tư pháp quốc tế: 1, Dẫn chiếu: Dẫn chiếu ngược hay dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba là hiện tượng khi cơ quan có thẩm quyền của nước A áp dụng quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài (nước B), nhưng pháp luật nước B lại quy định vấn đề phải được giải quyết theo pháp luật nước A hoặc được giải quyết theo pháp luật của một nước thứ ba. Theo BLDS Việt Nam “năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó thành lập”. Doanh nghiệp A là doanh nghiệp nước ngoài và thành lập tại Đức. Vậy pháp luật Đức là pháp luật điều chỉnh năng lực pháp luật dân sự của doanh nghiệp A. Nhưng theo pháp luât Đức, vấn đề này được điều chỉnh bởi pháp luật nơi doanh nghiệp có trụ sở thực tiễn và trong thực tế thì doanh nghiệp A có trụ sở tại Bỉ. Do đó, pháp luật Đức dẫn đến pháp luật Bỉ. Vậy hiện tượng dẫn chiếu đến pháp luật nước thừ ba có thể xảy ra ở Việt Nam. 2, Nguyên nhân của hiện tượng dẫn chiếu: Thứ nhất, quy phạm xung đột có hai bộ phận cấu thành: phần phạm vi và phần hệ thuộc. Hiện tượng dẫn chiếu xuất hiện khi một vấn đề pháp lý thuộc phần phạm vi của hai quy phạm xung đột của hai nước có phần hệ thuộc khác nhau hay là do có sự quy định khác nhau trong các quy phạm xung đột của các nước về nguyên tắc chọn luật áp dụng cho cùng một vấn đề pháp lý. Nguyên nhân thứ hai có khả năng làm phát sinh dẫn chiếu là việc giải thích các hệ thuộc luật của các nước có thể rất khác nhau. có thể dẫn đến khả năng một vấn đề pháp lý sẽ được hệ thống pháp luật của hai nước đều cho rằng, sẽ được áp dụng (gọi là xung đột tích cực), hoặc cả hai nước đều từ chối áp dụng, cho ràng pháp luật của nước mình không có thẩm quyền áp dụng (gọi là xung đột tiêu cực). Một số tác giả cho rằng, có sự “ủy quyền” của pháp luật trong nước cho pháp luật nước ngoài trong việc áp dụng giải quyết tình huống pháp lý phát sinh. Và như vậy, có thể coi các quy phạm xung đột nước ngoài dẫn chiếu ngược chở lại pháp luật nước có tòa án thụ lý là một bộ phận cấu thành trong hệ thống pháp luật của nước có tòa án đó. II. Áp dụng pháp luật khi gặp hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba. 1, Chấp nhận dẫn chiếu: Một số nước không chấp nhận dẫn chiếu như Siry (BLDS 1949), Ai Cập (BLDS 1948)… bởi quan điểm của họ thì khi dẫn chiếu là chỉ dẫn chiếu tới các quy phạm luật thực chất của nước đó chứ không phải toàn bộ hệ thống pháp luật của nước đó như các nước chấp nhận dẫ chiếu như Anh, Nhật Bản (BLDS 1898), Thụy Điển. Ở Việt Nam về nguyên tắc thì dẫn chiếu được chấp nhận. Khoản 3 Điều 759 BLDS 2005: “nếu pháp luật nước đó (pháp luật nước ngoài được quy định hoặc viện dẫn) dẫn chiếu trở lại pháp luật nước CHXHCN VN, thì áp dụng pháp luật CHXHCN VN”. Tương tự theo Điều 5 nghị định số 682002NĐCP ngày 1072002 cũng quy định về vấn đề này. Pháp luật Việt Nam chỉ đề cập đến dẫn chiếu ngược trở lại pháp luật VN và không cho biết dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba có được chấp nhận hay không. Tuy nhiên theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 nghị định số 1382006NĐCP thì dẫn chiếu ngược trở lại và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba được chấp nhận ở Việt Nam. Thực tế vấn đề này rất hiếm gặp, do các quy phạm xung đột cũng có giới hạn và nhìn chung các quy phạm xung đột của tư pháp quốc tế là thống nhất. Đa phần phụ thuộc vào cách giải thích và ý chí của tòa án thụ lý vụ việc. 2, Các trường hợp không chấp nhận dẫn chiếu: Thứ nhất là trong lĩnh vực hợp đồng, hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều không chấp nhận dẫn chiếu trong lĩnh vực này. Điều 15 Công Ước Rome 1961980 về quy phạm xung đột thống nhất trong lĩnh vực hợp đồng đối với một số nước châu Âu và Điều 2 Công Ước Lahaye 761955 về hợp đồng mua bán quốc tế động sản, dẫn chiếu không được chấp nhận bởi nó sẽ làm đảo lộn những dự tính, đi ngược lại ý chí của các bên khi họ thỏa thuận chọn pháp luật áp dụng (luật nội dung, luật thực chất của hệ thống luật này) cho hợp đồng. Khoản 1 Điều 769 BLDS 2005: “quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước mà các bên đã thỏa thuận chọn”. nhưng không phải sự loại trừ dẫn chiếu là đương nhiên, tự động mà cần dung hòa ý chí các bên và các quy phạm xung đột một cách thống nhất. Thứ hai là khi có Điều ước quốc tế quy định. Theo Điều 39 Hiệp đinh tương trợ tư pháp giữa Nga và Việt Nam, “quan hệ pháp luật về thừa kế động sản do pháp luật của bên ký kết mà người để lại thừa kế là công dân vào thời điểm chết điều chỉnh”. Ví dụ: một công dân Nga sống và làm ăn ở VN nhiều năm, công dân này có vợ người VN và có một số động sản ở VN và Nga. Công dân Nga qua đời đột ngột ở VN do tai nạn không để lại di chúc. Vậy pháp luật Nga điều chỉnh quyền thừa kế vì khi người chết để lại tài sản thừa kế là công dân của Nga dù tại Điều 1224 Khoản 1 BLDS Nga quy định: “thừa kế (động sản) được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng”. KẾT LUẬN Qua việc tìm hiểu ở trên, có thể thấy dẫn chiếu là vấn đề rất quan trọng, phổ biến nhưng cũng rất khó, rất phức tạp trong tư pháp quốc tế. Trong thời gian tới, khi các Điều ước quốc tế ngày một gia tăng, việc thiết lập các quy phạm xung đột thống nhất trong các Điều ước này sẽ làm mất đi những điều kiện tồn tại của dẫn chiếu, có thể hiện tượng dẫn chiếu không cần phải đặt ra trong tư pháp quôc tế nữa. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, dẫn chiếu vẫn được áp dụng một cách thường xuyên và phổ biến, vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu kỹ về vấn đề này để có thể áp dụng pháp luật hiệu quả nhất.
Xem thêm

4 Đọc thêm

BÀI TẬP BÁN TRẮC NGHIỆM BÀI TẬP GIỮA KỲ TƯ PHÁP QUỐC TẾ

BÀI TẬP BÁN TRẮC NGHIỆM BÀI TẬP GIỮA KỲ TƯ PHÁP QUỐC TẾ

Bài tập bán trắc nghiệm Bài tập giữa kỳ Tư pháp quốc tế Nhận định sau đúng hay sai? Giải thích ? 1. Nếu hai công dân Việt Nam kết hôn tại nước ngoài thì theo pháp luật ViệtNam, quan hệ hôn nhân đó phải là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Đây là một nhận định sai. Bởi vì, Giữa 2 công dân việt nam với nhau kết hôn ở nước ngoài mà quan hệ đó được xác lập,thực hiện,thay đổi,chấm dứt ở nước ngoài (có nghĩa là quan hệ đó phải phát sinh ở nước ngoài và theo pháp luật nước ngoài) liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài mới được xem là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên trong trường hợp 2 công dân việt nam đăng kí kết hôn ở đại sứ quán hay lãnh sự quán của việt nam đặt trụ sở tại nước ngoài thì sẽ kết hôn trong vùng lãnh thổ đặc biệt và tuân theo pháp luật việt nam nên không được xem là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. 2. Xung đột pháp luật chỉ phát sính trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (theo nghĩa rộng). Đây là một nhận định đúng. Bởi vì, xung đột pháp luật chỉ phát sinh trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo nghĩa rộng (hôn nhân gia đình,tố tụng dân sự,thương mại,lao động,dân sự có yếu tố nước ngoài) còn trong các lĩnh vực quan hệ pháp luật khác như hình sự,hành chính…..v.v…tuy pháp luật các nước khác nhau cũng quy định khác nhau nhưng không xảy ra xung đột.vd trong quan hệ hình sự,hành chính mang tính hiệu lực theo lãnh thổ rất nghiêm ngặt và không bao giờ có quy phạm xung đột và cho phép áp dụng luật nước ngoài 3. Tất cả các quan hệ có yếu tố nước ngoài đều thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Đây là một nhận định sai. Bởi vì, đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là nhứng quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo nghĩa rộng.Còn những quan hệ phát sinh trong đời sống quốc tế giữa các quốc gia và rộng hơn là giữa các chủ thể của công pháp quốc tế thì thuộc đối tượng điều chỉnh của công pháp quốc tế.
Xem thêm

2 Đọc thêm

CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA ĐẢNG

CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA ĐẢNG

Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng Bài tập lớn Đường lối cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam Chuyên mục Bài tập học kỳ, Đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam Hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội được quan niệm là hệ thống các tổ chức chính trị xã hội mà nhờ đó nhân dân lao động thực thi quyền lực của mình. Hệ thống chính trị này bao trùm và điều chỉnh mọi quan hệ chính trị giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội; giữa các dân tộc và giữa các tổ chức xã hội. Ở mỗi giai đoạn cách mạng, khái niệm hệ thống chính trị có những nội hàm đặc thù nên được gọi bằng những thuật ngữ khác nhau. Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và 5 đoàn thể chính trị xã hội (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam), và các mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống. Đổi mới tư duy về hệ thống chính trị là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng ta – lực lượng lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam. Trong thời kì đổi mới thì nhiệm vụ trên lại càng trở nên cần thiết, đặc biệt là nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Là một sinh viên Luật, em nhận thấy mình có trách nhiệm phải tìm hiểu về chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng. Vì vậy em lựa chọn đề tài “ Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng” cho bài tập lớn bộ môn Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam. NỘI DUNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ “ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN” Khái niệm “Nhà nước pháp quyền” Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền có từ rất sớm ở Hy Lạp. Theo định nghĩa cổ xưa nhất thì Nhà nước pháp quyền là một hệ thống thể chế nơi quyền lực công phục tùng pháp luật. Đến thế kỷ XVIII, các nhà dân chủ tư sản tiếp tục hoàn thiện, nâng lên thành học thuyết về nhà nước pháp quyền. So với nhà nước chuyên chế phong kiến đây là nhà nước tiến bộ, nhân đạo có giá trị của nền văn minh nhân loại. Trong lịch sử thế giới đã tồn tại nhiều hình thức nhà nước pháp quyền, dựa trên nguyên tắc chung, ở nhiều nước khác nhau, nhưng chúng không hoàn toàn giống nhau, xuất phát từ những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội nhất định. Lí thuyết phân quyền của Montesquieu vốn là nền tảng cho phần lớn Nhà nước phương Tây hiện đại khẳng định sự phân chia 3 quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) và những giới hạn của 3 thứ quyền lực này. Ví dụ trong mô hình dân chủ nghị viện, quyền lập pháp (Nghị viện) hạn chế quyền lực của phía hành pháp (Chính phủ). Như vậy chính phủ không thể tự do hành động theo sở thích của mình và phải luôn có được sự hậu thuẫn của Nghị viện, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng của dân chúng. Cũng như thế, tư pháp cho phép tạo ra sự đối trọng đối với một số quyết định của chính phủ. Nhà nước pháp quyền là hình thức Nhà nước cộng hòa trong đó Nhà nước xây dựng nên pháp luật để quản lý xã hội và tự đặt mình dưới pháp luật. Mọi cơ quan Nhà nước đều phải được tổ chức và chỉ được phép hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Công dân tuân thủ, thi hành và sử dụng pháp luật. Quyền công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong Nhà nước pháp quyền, ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau. Vai trò của tòa án được đề cao. Điều kiện để có một Nhà nước pháp quyền là phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và kịp thời. Điều này đòi hỏi công tác xây dựng pháp luật và pháp điển hóa không ngừng được thực hiện. Nhà nước pháp quyền khác với Nhà nước pháp trị ở chỗ Nhà nước pháp quyền là một nhà nước dân chủ. Dân chủ là nền tảng để hoàn chỉnh pháp luật. Pháp luật là công cụ để bảo vệ quyền công dân. Nhà nước pháp quyền chính là sự kết hợp giữa Nhà nước và pháp quyền. Vấn đề “ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam Sự ra đời của khái niệm “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam Trên thực tế, không có sự giải thích rõ ràng về “Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa” bằng văn bản. Cho đến trước đổi mới, Đảng ta chưa dùng khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), mặc dù trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 đã thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng pháp luật và tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước. Khái niệm này lần đầu tiên được nhắc đến bởi đồng chí Đỗ Mười tại Hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, ngày 29111991. Sau đó, bắt đầu từ Hội nghị gữa nhiệm kì khóa VII (11994), Đảng ta đã dùng khái niệm “Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa”. Đồng thời, trong bài diễn văn tại phiên khai mạc kỳ họp đầu tiên của QH khóa XII vào ngày 1972007, đồng chí Nông Đức Mạnh đã lần đầu tiên chính thức công bố nội dung của Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa. Như lời Luật sư Lê Công Định “học thuyết này là sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc vận dụng thuyết tam quyền phân lập vào bối cảnh chính trị một đảng cầm quyền đặc biệt ở Việt Nam”. Bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam Điều 2 Hiến pháp nước ta hiện nay xác định “ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức” ( “Hiến pháp Việt Nam, năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992”, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.178). Bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân được thể hiện bằng những đặc trưng sau: Một là, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành đấu tranh cách mạng, trải qua bao hy sinh gian khổ, giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ( nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do nhân dân, mà nóng cốt là liên minh công – nông – trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo để thực hiện quyền lực của nhân dân. Đó chính là tính chất giai cấp của Nhà nước ta. Nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước với nhiều hình thức khác nhau. Hình thức cơ bản nhất là nhân dân thông qua bầu cử lập ra các cơ quan đại diện quyền lực của mình. Điều 6 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân nhà những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Đồng thời, nhân dân có quyền giám sát, yêu cầu các đại biểu và cơ quan trả lời những vấn đề của nhân dân đặt ra trong việc thực thi chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm quyền lợi của nhân dân. Hai là, Nhà nươc Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu hiện tập trung của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tính dân tộc của Nhà nước Việt Nam vừa là bản chất, vừa là truyền thống, vừa là nguồn gốc sức mạnh của Nhà nước ta. Ngày nay, tính dân tộc ấy lại được tăng cường và nâng cao nhờ khả năng kết hợp giữa tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tốc và tính thời đại. Điều 5 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “ Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tốc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các giai cấp, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phts huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình…” Các dân tộc có quyền lựa chọn những đại biểu ưu tú của dân tốc mình tham gia vào cơ quan nhà nước các cấp. Ba là, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân. Khi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, thì quan hệ giữa Nhà nước và công dân đã thay đổi, công dân có quyền tự do, dân chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã họi, đồng thời phải làm tròn nghĩa vụ trước Nhà nước. Pháp luật bảo đảm thực hiện trách nhiệm hai chiều giữa Nhà nước và công dân: quyền của công dân là nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, nghĩa vụ của công dân là quyền của Nhà nước. Bốn là, tính chất dân chủ rộng rãi của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Dân chủ hóa đời sống xã hội và hoạt động của Nhà nước là đòi hỏi có tính nguyên tắc, nảy sinh từ bản chất dân chủ của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Thực chất của dân chủ XHCN là thu hút những người lao động tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi vào quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội. Vì vậy, quá trình xây dựng Nhà nước phải là quá trình dân chủ hóa tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời, phải cụ thể hóa tư tưởng dân chủ thành các quyền của công dân, quyền dân sự, chính trị cũng như quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Phát huy được quyền dân chủ của nhân dân ngày càng rộng rãi là nguồn sức mạnh vô hạn của Nhà nước. Những đặc điểm mang tính bản chất nêu trên của Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam được thể hiện cụ thể trong các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và được pháp luật chế định một cách chặt chẽ. 2. CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA ĐẢNG Tính tất yếu phải xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Phần này em sẽ tập trung phân tích tính tất yếu phải xây dựng nhà nước pháp quyền (hay nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa) ở Việt Nam. Nói cách khác, chính là phân tích lí do vì sao Đảng lại chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan. Cụ thể như sau: Tính tất yếu lịch sử: Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ khi thành lập và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Các đạo luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở các Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992. Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp luật cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan nhà nước. Vì vậy, có thể nói, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ với nhiều giai đoạn phát triển đặc thù. Ngày nay, quá trình này đang được tiếp tục ở một tầng cao phát triển mới với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới. Tính tất yếu khách quan: Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam xuất phát từ quá trình đổi mới toàn diện của đất nước, từ định hướng xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội có tính mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra, tính tất yếu khách quan còn bắt nguồn từ xu thế pháp quyền trên thế giới (đã được phân tích ở phần 1.1 ). Điều đó đặt ra yêu cầu xây dựng được một nhà nước pháp quyền theo xu thế chung của thế giới nhưng vẫn phải phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị của Việt Nam. Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hóa. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hành dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế. Quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Thuật ngữ “ Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” xuất hiện lần đầu ở văn kiện hội nghị Trung ương 2 khóa VII (1994), đánh dấu mốc quan trọng trong tư duy lí luận của Đảng. Đại hội VIII (1996) tiếp tục đặt vấn đề xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam “ Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lí xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”. Các Hội nghị TW lần thứ 3, 7, 8 (khóa VIII) đã cụ thể hóa những quan điểm trên. Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006) đặt vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, thừa nhận nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử, không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản mà là tính hoa, sản phẩm trí tuệ của nển văn minh nhân loại. Tại Đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định: “ Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trọng việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ cháp hành Hiến pháp và pháp luật.” Từ thực tiễn nhận thức và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, có thể rút ra những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta như sau: Một là, đó là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhà nước. Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa cac cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba là, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thường trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bốn là, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật. Năm là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền của Đảng Đại hội X chỉ rõ: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện cac quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.” Để thực hiện nhiệm vụ trên, trong những năm tới cần làm tốt các việc sau: Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền. Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 362008, các văn bản quy phạm pháp luật trước khi được ban hành cần được thẩm định nghiêm túc và khách quan. Một trong những nội dung quan trọng phải được thẩm định quy định tại khoản 3 Điều 36 Luật Ban hành văn bản pháp luật là “Tính khả thi của dự thảo văn bản, bao gồm sự phù hợp giữa quy định của dự thảo văn bản với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện bảo đảm để thực hiện”. Quy định nêu trên là hợp lý và cần thiết để những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống. Sẽ là vô nghĩa và gây ra những tốn kém không cần thiết cả về thời gian và tiền bạc khi một văn bản quy phạm pháp luật được dự thảo, hội thảo, nghiên cứu, ban hành nhưng xa rời thực tế hoặc tạo ra những tác động ngược và các đối tượng thực thi không thể thi hành. Quy định của pháp luật và ý nghĩa của việc đảm bảo tính khả thi của văn bản là đã rõ và về mặt lý thuyết không có ai phản đối. Tiếc thay, hiện nay đã và đang xuất hiện khá nhiều văn bản không có tính khả thi hoặc tính khả thi rất thấp. Trước hết phải kể đến một số nghị định của Chính phủ, bao gồm cả những văn bản đã được ban hành và những văn bản đang là dự thảo. Xuất hiện nhiều quy định xa rời thực tế hơn cả là Nghị định số 342010NĐCP ngày 242010 của Chính phủ (NĐ 34) “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ”. Trong nghị định này, ít nhất cũng có ba điều xa thực tế, đó là: quy định xử phạt vi phạm Luật Giao thông đối với người đi bộ; quy định xử phạt những người hành nghề xe ôm không đeo biển hiệu và không có trang phục do cấp tỉnh quy định để phân biệt với những người tham gia giao thông khác; quy định xử phạt với những lái xe vận chuyển container không có bằng FC. Từ ví dụ trên có thể thấy: Văn bản sẽ có tính khả thi cao khi các quy định của văn bản không chỉ có tính cưỡng chế với người dân mà người dân cũng phải thấy rằng sự cưỡng chế đó là hợp lý, “hợp lòng dân” và vì lợi ích chung mà pháp luật cần có để tạo ra các chuẩn mực chung áp dụng cho mọi người. Các quy định “hợp lòng dân” là các quy định mà đa số người dân thấy hợp lý, không phải là chỉ phục vụ cho một nhóm lợi ích nhất định. Muốn có các quy định có tính khả thi cao, người soạn thảo cần có bước tiến hành đánh giá, nghiên cứu về thực tế cuộc sống và cần phải có ước tính các điều kiện để bảo đảm tính khả thi của từng quy định. Khi đặt ra các quy định liên quan đến quy trình, thủ tục giải quyết các công việc liên quan đến người dân, cơ quan soạn thảo cần chú ý tham khảo thêm ý kiến của họ. Bên cạnh các yêu cầu nêu trên, cơ quan ban hành văn bản còn phải xác định thế nào là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản? Đôi khi, cần phân tích trong từng quy phạm để có thể thấy được rõ ràng, chính xác ai là người được coi là đối tượng trực tiếp chịu sự tác động của văn bản. Khi xây dựng văn bản và dự thảo từng quy định quan trọng của văn bản nếu người soạn thảo đánh giá được tác động kinh tế xã hội cũng như dự kiến nguồn lực bảo đảm thi hành văn bản (khía cạnh tích cực, tiêu cực) thì văn bản khi được áp dụng, chắc chắn sẽ có tính khả thi cao. Việc dự kiến nguồn lực bảo đảm tổng thể các yếu tố về thi hành gồm các vấn đề về tài chính, con người, bộ máy. Ví dụ: đưa ra chính sách vay vốn tín dụng ưu đãi cho nông dân nghèo, cần phải tính đến phát sinh hệ thống cơ quan tín dụng, các nhân viên tín dụng, bộ máy địa phương, hoạt động của các trung tâm khuyến nông… và cả việc Nhà nước sẽ có chính sách ưu đãi và chi phí. Để có được những báo cáo hiệu quả, đòi hỏi có sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Việc tổng hợp các báo cáo, số liệu nghiên cứu từ các cơ quan có liên quan sẽ giúp ích rất nhiều cho người soạn thảo và cũng giúp ích cho cả các cơ quan có thẩm quyền xem xét về nội dung dự thảo văn bản (thẩm định, thẩm tra, thông qua văn bản). Đối với người soạn thảo, nghị quyết của hội đồng nhân dân hay một quyết định của ủy ban nhân dân, nếu như có sự nghiên cứu nghiêm túc và đưa ra một báo cáo đánh giá với đầy đủ những nội dung và phương pháp nêu trên, họ sẽ có nhiều khả năng trình trước cơ quan có thẩm quyền một dự thảo đầy tính thuyết phục và bởi vậy mà khả năng thông qua được sẽ cao hơn, chắc chắn hơn. Hai là, đổi mới tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt đông của Quốc hội. Để thực hiện việc đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, Đảng chỉ rõ công việc cần phải thực hiện bao gồm: + Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện cơ chế bầu cử để nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách, phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội. + Tổ chức lại một số ủy ban của Quốc hội; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội. + Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh. + Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết đinh các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao của Quốc hội. Cụ thể vấn đề này, vào ngày 2832011, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại hội trường về Báo cáo tổng kết hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội khoá XII (2007 2011). Nhiều đại biểu quan tâm tới vấn đề hiệu lực, hiệu quả và hạn chế của hoạt động giám sát, nhất là giám sát chuyên đề, chất vấn và trả lời chất vấn; sự phối hợp của các cơ quan của Quốc hội và các cơ quan hữu quan trong hoạt động giám sát; việc xem xét, giải quyết các kiến nghị sau giám sát. Đại biểu Danh Út (Kiên Giang) cho rằng, để nâng cao chất lượng hoạt động, cần xác định rõ hơn vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ của các đoàn đại biểu Quốc hội. Đại biểu tán thành chủ trương tăng cường đại biểu Quốc hội chuyên trách. Đại biểu Hoàng Văn Toàn (Vĩnh Phúc) cũng cho rằng, địa vị pháp lý, mối quan hệ công tác giữa đoàn đại biểu Quốc hội với cấp ủy và chính quyền địa phương cũng chưa rõ, thiếu cụ thể nên chất lượng hoạt động giữa các đoàn còn chưa thực sự đồng đều. Tổ chức, bộ máy và phương thức, chế độ làm việc của Quốc hội cũng là nội dung được nhiều đại biểu quan tâm góp ý. Các đại biểu Danh Út, Hoàng Văn Toàn (Vĩnh Phúc) đề nghị cần xem xét điều chỉnh theo hướng tăng cường các cơ quan trực thuộc Quốc hội, như thành lập Ủy ban Dân nguyện trực thuộc Quốc hội, nâng cấp Viện nghiên cứu lập pháp thành một cơ quan nghiên cứu khoa học trực thuộc Quốc hội để thêm kênh cung cấp nguồn thông tin chính thống cho đại biểu. Đại biểu Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh) cho rằng Quốc hội cần tăng cường tính chuyên nghiệp, tính liên tục và tính kế thừa. Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả, cần phát huy vai trò của từng đại biểu, đoàn đại biểu, các ủy ban và toàn thể Quốc hội. Đại biểu Nguyễn Hữu Đồng (Nam Định) cũng đề nghị, để đảm bảo tính chủ động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cần tăng cường hơn nữa vai trò của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban. Theo đại biểu Lê Thị Dung (An Giang), tính phản biện, đa chiều trong các báo cáo thẩm tra phải cao hơn, tránh tuyệt đối tình trạng nể nang; cải tiến hơn nữa trong chất vấn và trả lời chất vấn. Đại biểu Hoàng Văn Toàn (Vĩnh Phúc) nhận xét, chất lượng nhiều dự thảo chưa tốt, chuẩn bị chưa kỹ càng; chưa thấy sự tham gia của các nhà khoa học để tạo kênh thông tin cần thiết cho các đại biểu; theo dõi giải quyết kiến nghị của cử tri còn hạn chế. Tuy vậy, đại biểu Nguyễn Ngọc Đào cho rằng, muốn nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động, mỗi đại biểu Quốc hội cần tự vấn, mình đã làm được gì, chưa làm được gì cho công việc chung? Muốn có luật tốt phải có sự chuẩn bị, đầu tư tốt, không nên đề cập đến vai trò của các nhà khoa học bởi đây là việc của chính các đại biểu Quốc hội. Đại biểu cho rằng nên quan tâm đến chất lượng luật hơn là số lượng. Đại biểu Ngô Minh Hồng và đại biểu Trần Du Lịch (Thành phố Hồ Chí Minh), Phạm Thị Loan (Hà Nội) kiến nghị cần nêu vai trò chủ động của Quốc hội trong một số vấn đề như quyết định và giám sát chi tiêu ngân sách; xây dựng luật, pháp lệnh. Ba là, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ. Theo đó, chúng ta cần phải: + Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại. + Luật hóa cơ cấu tổ chức của Chính phủ; tổ chức Bộ quản lí đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm hiệu lực, tinh gọn và hợp lý. Trước Đại hội X, Chính phủ có 1 Thủ tướng, 3 Phó Thủ tướng, 20 bộ, 6 cơ quan ngang bộ và hơn 10 cơ quan trực thuộc Chính phủ (trên 40 thành phần). Nếu so với thời kỳ bao cấp thì bộ máy của Chính phủ được tinh gọn hơn (nhưng chỉ tinh gọn hơn một chút) và nếu so sánh với các quốc gia trên thế giới thì Chính phủ Việt Nam có lẽ được xếp vào một trong số ít quốc gia có bộ máy cồng kềnh và nhiều bộ nhất. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX xác định chủ trương xây dựng “Bộ đa năng”, “Bộ đa lĩnh vực”, “Bộ đa ngành” và giảm bớt các cơ quan trực thuộc Chính phủ, giao về cho bộ quản lý theo tính chất chuyên môn nhưng trên thực tế Chính phủ hiện nay (Chính phủ được thành lập sau Đại hội IX của Đảng) lại tăng thêm 4 bộ nâng tổng số bộ, cơ quan ngang bộ lên đến 26 chứ không giảm về cơ cấu như nghị quyết Đảng với phương hướng cải cách bộ máy nhà nước. Đại hội X đã chủ trương: tinh gọn và cơ cấu lại bộ máy nhà nước. Tinh gọn bộ máy nhà nước thì trước hết phải tinh gọn bộ máy Chính phủ vì Chính phủ là đầu tàu, là bộ não chỉ huy nền hành chính quốc gia chứ không phải là trung tâm thực hành quản lý hành chính, không phải là cơ quan trực tiếp điều hành quản lý hành chính, cơ quan giải quyết sự vụ hành chính. Cơ cấu lại bộ máy Chính phủ theo hướng giảm mạnh các đầu mối phù hợp với yêu cầu đổi mới chức năng, nhiệm vụ. Cơ cấu lại các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước các cấp theo hướng giảm mạnh cấp phó, bỏ cấp trung gian; chuyển các bộ phận phục vụ sang hình thức hợp đồng dịch vụ; phân cấp mạnh cho cấp dưới gắn với thực hiện có hiệu quả thanh tra, kiểm tra của cấp trên. Tăng cường quyền chủ động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động, về tổ chức, nhân sự và tài chính của các đơn vị dịch vụ công cộng. Nghiên cứu để áp dụng cơ chế thủ trưởng cơ quan hành chính cấp trên bổ nhiệm chức danh người đứng đầu cơ quan chính quyền cấp dưới. Tách hoạt động hành chính với hoạt đông động sự nghiệp, các hoạt động công quyền với các hoạt động dịch vụ. Thực hiện đầy đủ nguyên tắc công khai dân chủ và phục vụ dân đối với các cơ quan và công chức nhà nước. Thực hiện nghiêm ngặt chế độ công vụ trong các cơ quan nhà nước. + Nghiên cứu việc thành lập cơ quan tài phán hành chính để giải quyết các khiếu kiện hành chính. + Thực hiện phân cấp mạnh, hợp lí cho chính quyền địa phương, giao quyền chủ động hơn nữa cho các địa phương, nhất là trong việc quyết định về ngân sách tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Trung ương. Bốn là, xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp. + Xây dựng hệ thống các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người. + Đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra. + Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Năm là, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. + Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp. + Phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân. + Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo. Sáu là, đổi mới tổ chức, bộ máy hành chính và hoạt động của cơ quan hành chính, cán bộ, công chức. + Thực hiện các giải pháp nhằm chấn chỉnh bộ máy và quy chế hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức. Ban hành và thực hiện Luật về công chức, chức vụ; xác định rõ cơ quan, công chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Xây dựng tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cho từng loại cán bộ, công chức và hệ thống tiêu chuẩn đánh giá, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức. + Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu nâng cao chất lượng cả về năng lực và phẩm chất đạo đức. + Có cơ chế đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những người không xứng đang, kém phẩm chấ và năng lực. Tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động của bộ máy nhà nwcs, hành vi của các công chức. Trừng trị nghiêm khắc theo pháp luậ những hành vi phạm pháp, phạm tội, bất cứ ở cương vị, chức vụ nào. + Thực hiện chế độ trách nhiệm trong đề cử, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo theo hướng cấp trưởng giới thiệu cấp phó, cấp sử dụng trực tiếp giới thiệu để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. + Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham những, lãng phí. Đây là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta, nhằm xây dựng bộ máy lãnh đạo, quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta. Nhận xết về kết quả thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng Có thể tổng kết công tác thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta qua bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng chiều 293 bế mạc Kỳ họp thứ IX, Quốc hội khóa XII. Cụ thể: Tích cực: Quốc hội đã có nhiều đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Chủ tịch nước với tư cách là một định chế trong tổ chức quyền lực nhà nước, đã có nhiều đóng góp tích cực vào hoạt động đối nội, đối ngoại, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều cố gắng trong tổ chức thực hiện, điều hành quản lý đất nước, quản lý xã hội một cách năng động, quyết liệt, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống. Các cơ quan tư pháp đã từng bước đổi mới theo lộ trình cải cách tư pháp và có nhiều tiến bộ trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, kiểm sát hoạt động tư pháp. Những kết quả đó đã đóng góp to lớn vào những thành tựu chung của đất nước. Hạn chế: Trước yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước vẫn còn những yếu kém, bất cập, chưa đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của việc quyết định và điều hành tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra. Hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, một số văn bản còn thiếu thống nhất, tính khả thi chưa cao; chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng chưa tốt; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; cải cách tư pháp còn chậm. KẾT LUẬN Tóm lại, hơn 20 năm qua, hệ thống chính trị đã thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng, đặc biệt trong việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Các kết quả đạt được đã khẳng định đường lối đổi mới nói hệ thống chính trị chung, đường lối đổi mới hệ và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN nói riêng là sáng tạo, đúng đắn, phù hợp thực tiễn, bắt đầu đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, khắc phục dần những khuyết điểm, nhược diểm của hệ thống chuyên chính vô sản trước đây. Kết quả đổi mới hệ thống chính trị đã góp phần làm nên thành tực to lớn và có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới ở nước ta.
Xem thêm

22 Đọc thêm

TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEO DI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEO DI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

LỜI NÓI ĐẦU1. Lý do chọn đề tài:Cùng với sự phát triển của xã hội và xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa ngày một lớn mạnh tạo điều kiện giao lưu và hợp tác quốc tế. Trong bối cảnh đó, đã làm gia tăng hết sức mạnh mẽ các giao lưu về dân sự có yếu tố nước ngoài đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh, trong đó có một số quan hệ thừa kế vượt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật một quốc gia, đó là những quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng. Khi vấn đề thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài phát sinh thì đặt ra vấn đề là có thể có nhiều pháp luật của các nước khác nhau liên quan đến quan hệ đó đều có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ này, bởi vậy mà dẫn đến tình trạng xung đột pháp luật giữa các nước cần được giải quyết.Xuất phát từ những lý do trên đã tác động cho người viết chọn đề tài: “Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài” để làm đề tài nghiên cứu nhằm cung cấp những kiến thức pháp luật về thừa kế cho mọi người, đồng thời người viết cũng mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào hoàn thiện các chế định và thừa kế để điều chỉnh kịp thời những vấn đề về thừa kế thực tế phát sinh.2. Phạm vi nghiên cứu:Đối với đề tài “Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài”, người viết đi vào tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Đặc biệt người việt đi sâu vào phân tích một số vấn đề liên quan đến thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Qua đó đề cập đến một số thực trạng trong qui định về các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay, đồng thời đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện một số vấn đề về quan hệ thừa kế đó.3. Mục đích nghiên cứu:Trong bối cảnh hội nhập, với thực trạng nền kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền thì vấn đề tài sản thuộc sở hữu cá nhân ngày càng phong phú, các quan hệ về thừa kế có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp. Trong khi đó, về vấn đề này pháp luật của các nước lại có quan điểm, giải pháp rất khác nhau, điều đó đã tạo ra hiện tượng xung đột pháp luật trong lĩnh vực này. Do đó việc nghiên cứu và tìm ra giải pháp để hoàn thiện hơn chế định này trong pháp luật mỗi quốc gia là điều hết sức cần thiết.Bởi vậy, nghiên cứu về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài có ý nghĩa sâu sắc về lý luận và đời sống thực tế. Với ý nghĩa đó và xuất phát từ những nhu cầu và thực tiễn của pháp luật hiện nay, đề tài này nhằm phân tích rõ các quy định của pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, qua đó đánh giá thực trạng pháp luật về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời nêu lên những quan điểm, và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quan hệ thừa kế ở nước ta hiện nay.4. Phương pháp nghiên cứu:Đề tài được hoàn thành dựa trên các phương pháp như: phân tích câu chữ của luật viết, so sánh, diễn dịch, tổng hợp các vấn đề đồng thời đưa ra các ví dụ cụ thể, thu thập thông tin dựa trên những qui định của pháp luật, các sách, tạp chí…, để làm sáng tỏ các vấn đề được đặt ra và giải quyết trong tiểu luận.5. Bố cục của đề tài:Ngoài lời nói đầu và kết luận, tiểu luận được chia ra làm 03 chương:Chương 1: Những lý luận về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.Chương 2: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.Chương 3: Thực trạng và hướng hoàn thiện về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.CHƯƠNG 1NHỮNG LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ THEODI CHÚC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI1.1. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài1.1.1. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúcTheo pháp luật của Việt Nam thì chế định thừa kế hình thành từ rất sớm, thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm móng và xuất hiện ngay trong thời kì sơ khai của xã hội loài người. Ăng – ghen viết: “Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thuỷ trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết. Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn, nên lâu nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những người cùng huyết tộc với người mẹ ”.Trong xã hội cộng xã nguyên thuỷ, dù chỉ là một nền sản xuất đơn giản nhưng cũng nằm trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Mác đã chỉ ra rằng: “Bất cứ một nền sản xuất nào cũng là việc con người chiếm hữu những đối tượng của tự nhiên trong phạm vi một hình thái xã hội nhất định và thông qua hình thức đó”. Vì vậy, “Nơi nào, không có một hình thái sở hữu nào cả thì nơi đó cũng không thể có sản xuất và do đó cũng không có một xã hội nào cả ”. Và cũng chính vì thế mà sở hữu xuất hiện ngay từ khi có xã hội loài người và với thừa kế chúng phát triển cùng với xã hội loài người. Ở khía cạnh khác thì quan hệ sở hữu là một quan hệ giữa người với người về việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội, sự chiếm hữu vật chất này thể hiện giữa người này với người khác, giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác, đó là tiền đề đầu tiên để làm xuất hiện quan hệ thừa kế.Theo pháp luật của tất cả các nước trên thế giới thì đều thừa nhận quyền thừa kế theo di chúc. Còn theo pháp luật ở Việt Nam, tại Điều 646 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Từ định nghĩa về thừa kế và di chúc ta có thể hiểu thừa kế theo di chúc như sau: Thừa kế theo di chúc là sự chuyển dịch tài sản (chuyển dịch di sản thừa kế) của người chết cho những người khác theo sự định đoạt một cách tự nguyện (bằng di chúc) của người đó khi còn sống. 1.1.2. Khái niệm về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoàiThừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là thừa kế được nghiên cứu trong phạm vi Tư pháp quốc tế. Theo pháp luật Việt Nam, yếu tố nước ngoài trong quan hệ thừa kế được xác định theo quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài lá quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Như vậy, theo định nghĩa này thì quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài gồm có 3 yếu tố sau: Yếu tố thứ nhất về mặt chủ thể: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Yếu tố thứ hai về mặt khach thể: Những căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài; và Yếu tố thứ ba về sự kiện pháp lý: Có tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Như vậy, có thể định nghĩa quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là: “Quan hệ thừa kế theo di chúc mà trong đó có ít nhất một trong các bên tham gia vào quan hệ đó là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc quan hệ thừa kế theo di chúc giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó (di sản thừa kế) ở nước ngoài”.Từ định nghĩa trên thì quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài có những đặc trưng sau đây:Về chủ thểThứ nhất, cá nhân. Cá nhân thì bao gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài. Công dân Việt Nam tức là người có quốc tịch Việt Nam, cụ thể theo Điều 49 – Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định: “Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”. Người nước ngoài là người không có quốc tịch của nước nơi má họ đang cư trú, như vậy có thể nói bất kỳ người nào sống trên lãnh thổ của một nước nhất định mà không có quốc tịch của nước đó thì được gọi là người nước ngoài . Người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam được giải thích cụ thể tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định 1382006NĐCP ngày 15 tháng 11 năm 2006, quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài . Qua đây nói lên nếu cá nhân nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài một khi có tham gia vào quan hệ thừa kế theo di chúc thì đây là một đặc trưng để nhận biết rằng có yếu tố nước ngoài, tức đây là một quna hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.Thứ hai, pháp nhân. Pháp nhân là một tổ chức được thành lập theo pháp luật của một nước nhất định, thông thường một tở chức được xem là một pháp nhân khi nó được thành lập theo một trình tự nhất định và có đầy đủ các điều kiện của một pháp nhân theo pháp luật mỗi nước. Pháp nhân bao gồm pháp nhân Việt Nam và pháp nhân nước ngoài, pháp nhân Việt Nam là pháp nhân được thành lập theo Điều 85 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về “thành lập pháp nhân” và phải đáp ứng đủ điều kiện để được công nhận là pháp nhân theo Điều 84 Bộ luật dân sự năm 2005 ; pháp nhân nước ngoài là một pháp nhân hoạt động ở một nước khác nhưng không có quốc tịch ở nước đó thì pháp nhân này được gọi là pháp nhân nước ngoài . Pháp nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam được giải thích cụ thể tại khoản 5 Điều 3 của Nghị định 1382006NĐCP . Thứ ba, Quốc gia là chủ thể đặc biệt trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Quốc gia là một thực thể được hình thành bởi các yếu tố tự nhiên và xã hội, tức gốm có các thành phần như lãnh thổ, dân cư, chính phủ và chủ quyền quốc gia đã cấu thành một quốc gia. Quốc gia khác với các chủ thể khác trong tư pháp quốc tế, biểu hiện là quốc gia được xem là một chủ thể đặc biệt trong tư pháp quốc tế. Tính chất đặc biệt này được thể hiện ở chỗ quốc gia luôn luôn có chủ quyền, chủ quyền là một thuộc tính chính trị và pháp lý không thể tách rời khỏi một quốc gia độc lập. Cụ thể là khi quốc gia tham gia vào các quan hệ tư pháp quốc tế thì được hưởng quyền miễn trừ tư pháp, tức khi quốc gia tham gia vào quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài thì cũng được hưởng quyền miễn trừ về tư pháp tuyệt đối. Quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối này được thể hiện trước hết là về quyền miễn trừ xét xử, nội dung của quyền này chủ yếu nói lên một quốc gia này sẽ không bị xét xử bởi Toà án của quốc gia khác nếu chưa được sự đồng ý của quốc gia này; quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia còn thể hiện ở chỗ: Khi quốc gia đã đồng ý cho Toà án nước ngoài xét xử vụ tranh chấp về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài mà quốc gia là bên bị đơn thì Toà án được quyền xét xử vụ tranh chấp này, nhưng Toà án này bị hạn chế là không được quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế sơ bộ đối với đơn kiện hoặc bảo đảm thi hành phán quyết của Toà án. Toà án nước ngoài chỉ được quyền cưỡng chế khi được quốc gia đó cho phép. Ngoài ra thì quốc gia còn có quyền đứng tên trong vụ tranh chấp về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài với cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài với tư cách là bên nguyên đơn. Trong trường hợp này, Toà án nước ngoài được quyền giải quyết vụ tranh chấp. Tuy nhiên, bị đơn là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài chỉ được phép phản kiện khi được sự đồng ý của quốc gia là bên nguyên đơn.Về mặt khách thểKhách thể là một trong các yếu tố cơ bản để xác định một quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài hay không có yếu tố nước ngoài. Dựa theo định nghĩa quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, thì khách thể của quan hệ này lá tài sản thừa kế (di sản) theo di chúc đang tồn tại ở nước ngoài.Về sự kiện pháp lýTương tự như chủ thể và khách thể, thì sự kiện pháp lý cũng là một trong ba yếu tố đễ nhận biết một quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Sự kiện pháp lý trong định nghĩa thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là sự kiện pháp lý có căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ thừa kế theo di chúc theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài. Và sự kiện pháp lý này phải phù hợp với pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài.1.2. Nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài1.2.1. Khái niệmNguồn luật được hiểu là phương thức tạo ra quy tắc pháp lý, đồng thời là hình thành chứa đựng quy tắc đó. Quy tắc được tạo ra, muốn được gọi là luật, phải mang đầy đủ tính chất của chuẩn mực ứng xử được người nắm quyền luật công thừa nhận và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của bộ máy công lực . Còn nguồn của tư pháp quốc tế, về mặt lý luận chung nguồn là nơi xuất phát, là nơi chứa đựng, cụ thể nguồn của tư pháp quốc tế là hình thức chứa đựng các quy phạm và nguyên tắc được áp dụng để điều chỉnh đối với các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế . Dựa vào nguồn của Tư pháp quốc tế ta có thể định nghĩa nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng, vì quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là một bộ phận thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Vì vậy, nguồn luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là các hình thức chứa đựng các quy phạm và nguyên tắc được áp dụng để điều chỉnh đối với các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài.1.2.2. Các loại nguồn luậtDo là một bộ phận của tư pháp quốc tế, nên nguồn quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài hạn hẹp hơn so với nguồn của tư pháp quốc tế, chủ yếu gồm có hai loại nguồn sau: Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia.1.2.2.1. Điều ước quốc tếĐiều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế thể hiện sự thoả thuận của các chủ thể pháp luật quốc tế (trước hết là các quốc gia) trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm quy định, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của các bên ký kết trong quan hệ quốc tế, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế .1.2.2.2. Pháp luật quốc giaPháp luật quốc gia là toàn bộ hệ thống pháp luật của một quốc gia nhất định, bao gồm tất cả các hình thức nguồn chứa đựng bên trong hệ thống: văn bản, tập quán và án lệ. Pháp luật quốc gia được coi là loại nguồn khá phổ biến của tư pháp quốc tế so với các loại nguồn khác nói chung và cũng lá nguồn luật điều chỉnh cơ bản của quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng và được quy định rõ ràng trong hệ thống pháp luật quốc gia. Theo pháp luật Việt Nam, tại khoản 1 Điều 759 Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định: “Các quy định của pháp luật dân sự Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu nước ngoài, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”. Ở Việt Nam các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài không nằm ở một văn bản mà nằm rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Cụ thể như Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, …. Trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã dành một số điều để quy định các nguyên tắc để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài, cụ thể các nguyên tắc đó là: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Điều 75), Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam (Điều 81).1.3. Phương pháp điều chỉnh quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài1.3.1. Khái niệmPhương pháp điều chỉnh là cách thức ngành luật tác động lên các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh nhằm đạt được mục tiêu mong muốn. Mỗi ngành luật có phương pháp điều chỉnh đặc thù khác nhau. Ví dụ: ngành luật dân sự: thoả thuận; ngành luật hành chính: mệnh lệnh; ngành luật hình sự: quyền uy phục tùng, … .Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng đều là một bộ phận của tư pháp quốc tế nên ta có thể dựa vào các phương pháp điều chỉnh của tư pháp quốc tế mà định nghĩa phương pháp điều chỉnh của quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Cụ thể, phương pháp điều chỉnh của tư pháp quốc tế là tổng hợp các biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài (gọi là quan hệ tư pháp quốc tế) làm cho các quan hệ này phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị . Tương tự, phương pháp điều chỉnh của quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là tổng hợp các biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài làm cho quan hệ này phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị.1.3.2. Các phương pháp điều chỉnhCác phương pháp điều chỉnh là các biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài được biểu hiện ở hai phương pháp cụ thể là: Phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp.1.3.2.1. Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp thực chất)Đây là phương pháp dùng các quy phạm pháp luật thực chất nhằm giải quyết nội dung của các quan hệ pháp luật (quyền và nghĩa vụ của các bên) theo một hệ thống pháp luật nhất định . Hay nhằm tác động trực tiếp lên quan hệ tư pháp quốc tế nói chung, quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng. Cụ thể, phương pháp này quy định một cách cụ thể cách thức hành xử của các chủ thể liên quan (trực tiếp phân định quyền và nghĩa vụ rõ ràng giữa các bên chủ thể), được xây dựng trên cơ sở hệ thống các quy phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài. Các quy phạm thực chất có thể được xây dựng trong các điều ước quốc tế người ta gọi là các quy phạm thực chất thống nhất, còn các quy phạm thực chất xây dựng trong các văn bản pháp quy của mỗi nước gọi là quy phạm thực chất trong nước . Các quy phạm thực chất thống nhất tồn tại dưới dạng các tập quán quốc tế như: FOB (free on board), CIP (Cost Inssurance freight), CAF (Cost and freight) .1.3.2.2. Phương pháp gián tiếp (còn gọi là phương pháp xung đột)Đây là phương pháp dùng các quy phạm xung đột để giải quyết vấn đề. Các uy phạm xung đột không trực tiếp giải quyết cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong mối quan hệ nhất định mà nó chỉ làm động tác dẫn chiếu (chọn luật) đến một hệ thống pháp luật của một nước nào đó nhằm để giải quyết vấn đề quyền và nghĩa vị của các bên . Qua trên cho thấy quy phạm xung đột dẫn chiếu đến một hệ thống pháp luật mà các quy phạm thực chất giải quyết quan hệ một cách dứt điểm. Điều này chứng minh rằng giữa quy phạm thực chất và quy phạm xung đột có mối quan hệ mật thiết với nhau, cùng nhau phối hợp sẽ mang lại hiệu quả cao trong thực tế.
Xem thêm

44 Đọc thêm

Chức năng của tòa án nhân dân

Chức năng của tòa án nhân dân

I. Khái quát chung về Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan hợp thành bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại điều 2 Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Tòa án nhân dân có vị trí là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước, khi xét xử Tòa án có trách nhiệm áp dụng đúng đắn pháp luật nhà nước, không bị rằng buộc bởi tác động nào, các cơ quan nhà nước khác. Qua các bản hiến pháp vị trí, tổ chức của Tòa án nhân dân ngày một rõ ràng và phù hợp hơn. Tòa án nhân dân được quy định tại chương VIII hiến pháp 2013 kế thừa những nội dung của hiến pháp năm 1992 đồng thời có những sửa đổi bổ sung quan trọng về Tòa án đã đáp ứng được yêu cầu của một nhà nước pháp quyền, dùng pháp luật để bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp 2013 đã tạo ra những triển vọng đồng thời cũng tạo ra những thách thức trong công cuộc cải cách tư pháp. II. Chức năng của Tòa án Nói đến chức năng của Tòa án nhân dân cũng như của các cơ quan nhà nước khác là xác định ra phương diện hoạt động của các cơ quan nhà nước đó. Đối với Tòa án nhân dân có nhiều hoạt động khác nhau nhưng hoạt động chủ yếu vẫn là xét xử. Theo điều 102 hiến pháp 2013: 1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. 2. Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định. 3. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Theo khoản 2 ở trên có thể thấy quy định này thể hiện rõ tinh thần bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp 2013. Không chỉ ở Việt Nam mà con ở nhiều nước trên thế giới Tòa án được coi là một thiết chế trung tâm, đóng vai trò quan trọng trong việc xét xử các vi phạm quyền con người quyền, quyền công dân. Đây là nơi mọi người sẽ tìm được lẽ phải và sự thật, Tòa án chính là biểu tượng của công lý. Như vậy có thể thấy Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành trính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật. Để bảo đảm Tòa án thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người thì Tòa án là cơ quan trung gian giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Trong đó, bên gỡ tội gồm luật sư bào chữa, bị can, bị cáo và buộc tội là cơ quan thực hiện quyền công tố. Cụ thể đó là cơ quan điều tra , viện kiểm sát nhân dân , trong một số vụ án cụ thể thì người bị hại cũng là bên buộc tội. Trong đó bên buộc tội sẽ đưa ra những căn cứ để truy tố, buộc tội còn bên gỡ tội sẽ đưa ra các chứng cứ các lập luận, minh chứng chứng minh lập luận của mình là đúng. Tòa án nhân dân sẽ là cơ quan trung gian và phải lắng nghe cả hai bên không thể thiên vị bên nào, nếu bên nào chứng
Xem thêm

Đọc thêm

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bình đẳng là một trong những quyền tự nhiên cơ bản của con người, gắn bó mật thiết với con người trong hoạt động xã hội. Nhân loại đã trải qua nhiều đấu tranh, hy sinh để bảo vệ quyền bình đẳng. Vì vậy, bảo đảm quyền bình đẳng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà nước văn minh. Trong số các quyền thì bình đẳng trước Tòa án, bình đẳng trước pháp luật là những quyền quan trọng được thế giới ghi nhận: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ, không có bất kỳ sự phân biệt nào”(Điều 7-Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền). “Mọi người đều được hưởng quyền bình đẳng, được xem xét công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập và không thiên vị trong việc quyết định các quyền và nghĩa vụ của họ cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ” (Điều 10-Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền). Quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội và đặc biệt quan trọng là bình đẳng trong lĩnh vực pháp lý, tư pháp, tố tụng. Tiêu chí của một đất nước văn minh hiện nay là luật pháp phải được thượng tôn, bất kể vị thế giữa người vi phạm và người bị xâm phạm. Quyền và nghĩa vụ của công dân không bị phân biệt bởi giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giàu nghèo, thành phần xã hội, địa vị xã hội… Trong cùng một điều kiện như nhau, công dân phải được hưởng quyền và nghĩa vụ như nhau, có cùng tư cách pháp lý như nhau. Tuy nhiên, mức độ sử dụng các quyền và nghĩa vụ đó đến đâu thì còn phụ thuộc nhiều vào khả năng, điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người. Nhà nước phải có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách bình đẳng; công dân cần thực hiện tốt các nghĩa vụ được Hiến pháp và các Đạo luật xác định, đó chính là điều kiện để sử dụng quyền của mình một cách tốt nhất. Quyền bình đẳng trước pháp luật cũng là một trong những nguyên tắc pháp lý cơ bản ở nhiều quốc gia. Hiến pháp Việt Nam quy định rằng mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, có thời hạn cư trú từ đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật. Hiến pháp Việt Nam còn xác định quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Xây dựng và bảo vệ sự bình đẳng của đương sự là một giá trị xã hội và là mục tiêu phấn đấu của xã hội loài người. Bình đẳng không phải là vấn đề có tính chất cá nhân mà nó có mối liên hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau. Đảm bảo quyền bình đẳng của đương sự trong TTDS là chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc tạo ra tính bền vững, sự ổn định và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam. Điều đó đã được thể hiện qua các văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết của Bộ Chính trị nhằm hướng tới “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và có hiệu lực cao” (Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020). Kế thừa và phát huy những giá trị của các văn bản pháp luật về TTDS được ban hành trước đó, BLTTDS đã thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước về công cuộc cải cách tư pháp, quy định quy trình tố tụng khoa học, đảm bảo đẩy mạnh dân chủ và là công cụ pháp lý quan trọng để các cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Điều 8 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 và Điều 8 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016) đã quy định về sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự như sau: “1/Trong tố tụng Dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án. 2/Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự”. Bộ luật tố tụng dân sự đầu tiên của Việt Nam ra đời vào năm 2004. Đến năm 2011, BLTTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi bổ sung BLTTDS. Năm 2015, BLTTDS mới ra đời, có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2016, là BLTTDS hiện hành. Trải qua 03 BLTTDS, điều khoản quy định về nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự đều được quy định tại Điều 8. Trong quá trình thực hiện, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự đã bộc lộ nhiều điểm bất cập và hạn chế. Điều này đã làm ảnh hưởng tới hiệu quả giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án và việc bảo về quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể tại Tòa án. Một trong những vấn đề còn tồn tại đó là những quy định về nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập nêu trên thì có nhiều, trong đó có cả sự nhận thức và áp dụng không thống nhất về nguyên tắc bình đẳng của đương sự trong TTDS.
Xem thêm

Đọc thêm

Cùng chủ đề