TÌNH HÌNH VIỆT NAM TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "TÌNH HÌNH VIỆT NAM TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI":

BIẾN ĐỔI CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỆ THỐNG CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

BIẾN ĐỔI CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỆ THỐNG CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

gia, H.2001.74. Phạm Tất Dong, Trí thức Việt Nam - thực tiễn và triển vọng, NxbChình trị quốc gia, H.1995.75. G.Endrweit và G.Trommsdorff: Từ điển xã hội học dịch từ nguyênbản tiếng Đức của Nguỵ Hữu Tâm và Nguyễn Hoài Bão. Nxb Thếgiới, H.2002.76. G.Endrweit (chủ biên): Các lý thuyết xã hội học hiện đại, Nxb Thếgiới, H.1999.77. Fichter, Nhập môn xã hội học, Sài Gòn 1971. Ngƣời dịch: Trần VănĐính.78. Bùi Thị Thanh Hà, Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệpliên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới. Nxb Khoa học xã hội,H.2003.79. Luật gia Đào Văn Hải: Những văn bản mới về Cổ phần hoá, giao,bán, kinh doanh cho thuê doanh nghiệp Nhà nước, Nxb Thống kê,Hà Nội.2002.80. Đoàn Văn Hạnh: Công ty cổ phần và chuyển doanh nghiệp Nhànước thành Công ty cổ phần, Nxb Thống kê, H.1998.81. Lê Mậu Hãn, Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập 3, Nxb Giáo dục,H,2002.82. Tô Duy Hợp: Đặc điểm tiếp cận hệ thống trong xã hội học. Tạp chìXã hội học, N4/1996.83. Tô Duy Hợp: Lý thuyết hệ thống - Nguyên lý và vận dụng, Tạp chìTriết học.84. Đỗ Quang Hƣng (chủ biên), Bác Hồ với giai cấp công nhân vàCông đoàn Việt Nam, Nxb Lao Động, H.2000 (tái bản).85. Nguyễn Đính Hƣơng, Hoàn thiện môi trường thể chế phát triểnđồng bộ các loại thị trường trong điều kiện hội nhập kinh tế khu
Xem thêm

25 Đọc thêm

ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM SAU THỜI KỲ ĐỔI MỚI

ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM SAU THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Vào những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 20 lịch sử thế giới đã có những sự biến động mạnh mẽ. Một trong số đó là sự khủng hoảng trầm trọng của khối xã hội chủ nghĩa, đứng đấu là Liên Xô. Là một nước xã hội chủ nghĩa lại vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh kéo dài, Việt Nam không thể tránh khỏi ảnh hưởng tiêu cực từ những bất ổn trong tình hình thế giới. Đất nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng trước hết là trong lĩnh vực kinh tế xã hội. Tuy nhiên, cũng trong giai đoạn này, Đảng và Nhà Nước ta đã nhận ra và quyết định khắc phục những khiếm khuyết, sửa chữa những sai lầm tại đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 121986). Tại đại hội này, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, thể chế kinh tế thị trường được định nghĩa: “là một tổng thể bao gồm các bộ quy tắc, luật lệ và hệ thống các thực thể, tổ chức kinh tế được tạo lập nhằm điều chỉnh hoạt động giao dịch, trao đổi trên thị trường”. “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa chịu sự chi phối của các yếu tố đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đường lối đổi mới này đã được điều chỉnh, bổ sung trong các kỳ đại hội Đảng tiếp theo: đại hội VII(1991), đại hội VIII(1996), đại hội IX(2000), đại hội X(2005), đại hội XI(2011) với tên gọi “tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Xem thêm

10 Đọc thêm

CÁC CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN ĐƯỜNG LỐI

CÁC CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN ĐƯỜNG LỐI

Câu 1 : trình bày nội dung cơ bản trong cương lĩnh chính trị đầu tiên (tháng 21930) của Đảng? Phân tích chủ trương tập hợp lực lượng của Đảng được nêu trong cương lĩnh đó? Câu 2 : Trình bày chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong giai đoạn 19391945? Câu 3 : Trình bày nội dung đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của Đảng giai đoạn 19461954? Câu 4 : Trình bày nhiệm vụ, vị trí và mối quan hệ của hai chiến lược cách mạng Việt Nam do đại hội III (91960) của Đảng đề ra? Nêu những thành tựu cơ bản của cách mạng hai miền (1954 1975) ? Câu 5 : Trình bày nội dung đường lối CNH của Đảng thời kỳ 1975 – 1985? Nêu những đặc trưng cơ bản của CNH trong thời kỳ trước đổi mới. Câu 6 : Trình bày quan điểm chỉ đạo công nghiệp hóa hiện đại hóa của đại hội đại biểu toàn quốc lần 8 (61996) của Đảng? nêu những đặc trưng cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ đổi mới? Câu 7 : Trình bày mô hình kinh tế tổng quát trong thời kì quá độ đi lên CNXH do ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ IX (42001) và ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ X (42006) của Đảng đề ra Câu 8: Trình bày khái niêm hệ thống chính trị XHCN , những bộ phận cấu thành hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay? Mục tiêu, quan điểm xây dựng hệ thống chính trị trong thời kì đổi mới? Câu 9 : Những quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa VN thời kỳ đổi mới? phân tích một quan điểm mà anh (chị) biết sâu sắc nhất ? Câu 10 : Trình bày mục tiêu và nhiệm vụ đường lối đối ngoại hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng? Nêu những thành tựu và hạn chế của việc thực hiện đường lối đó sau 20 năm đổi mới.
Xem thêm

15 Đọc thêm

Đề cương môn học Đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA ĐẢNG

Nêu lên sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa của cách mạng Việt Nam và quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Đảng tr¬ước 1954, quá trình lịch sử và những thành tựu, hạn chế của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thời kỳ 1954 1975, quá trình đổi mới nhận thức từng phần về mô hình và con đư¬ờng đi lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả n¬ước của Đảng thời kỳ 1975 1986, khẳng định đổi mới là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trình bày nhận thức mới của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nội dung đư¬ờng lối đổi mới, do Đảng đề ra tại Đại hội VI và các Đại hội sau đó, nêu lên những thành tựu, hạn chế và các kinh nghiệm của công cuộc đổi mới của Đảng thời kỳ 19862006 để phát huy, vận dụng sáng tạo vào giai đoạn hiện nay.
Xem thêm

23 Đọc thêm

Ứng xử Nét đẹp văn hóa của người Hà Thành trong thời đại hiện nay

ỨNG XỬ NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA NGƯỜI HÀ THÀNH TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trước thời kỳ đổi mới đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến văn hóa ứng xử của người Hà Nội, thí dụ: Sở Văn hoá Thông tin Hà Nội (1974), Người Hà Nội thanh lịch, Nxb Hà Nội. Công trình tập trung phân tích đánh giá những giá trị văn hóa và biểu hiện chất thanh lịch ở người Hà Nội trong lịch sử và trong cuộc sống hàng ngày lúc đó. Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh nét đẹp thanh lịch trong cuộc sống tập thể. Trong thời kỳ đổi mới có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn, cụ thể: Nhiều tác giả (1993), Nhân cách văn hóa trong bảng giá trị Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Các tác giả tập trung làm rõ nhân cách văn hóa biểu đạt cho những giá trị cơ bản trong bảng giá trị Việt Nam và cũng góp phần tích cực vào việc hình thành bảng giá trị Việt Nam. Trong nhân cách văn hóa, tính cách, hành động văn hóa, môi trường văn hóa có mối quan hệ thống nhất biện chứng. Vũ Khiêu, Nguyễn Vĩnh Cát (1991), Văn hóa Thủ đô hôm nay và ngày mai, Sở Văn hoá Thông tin Hà Nội. Thông qua việc phân tích, đánh giá văn hóa Thủ đô qua 45 năm xây dựng và phát triển (1945 1990), nhất là mục “Bộ mặt Thủ đô qua nếp sống ngày nay”, các tác giả đã làm rõ sự biến đổi cách thức ứng xử trong sinh hoạt vật chất, tinh thần và cuộc vận động xây dựng Nếp sống văn minh Gia đình văn hóa khi mới bước vào đổi mới. Các tác giả dự báo xu hướng phát triển nếp sống văn hóa tiếp theo qua mối quan hệ ứng xử trong gia đình, giao tiếp xã hội và sinh hoạt cá nhân; tức là những nội dung cơ bản trong văn hóa ứng xử với môi trường xã hội và với bản thân. Trần Ngọc Thêm (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Cho đến nay công trình đã được tái bản lần thứ hai. Trong đó tác giả dành hai chương để bàn về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Văn hóa ứng xử được tác giả quan niệm gồm hai hàm nghĩa: tận dụng và ứng phó thông qua giao lưu và tiếp biến văn hóa. Trần Văn Bính (chủ biên) (2000), Văn hóa Thăng Long Hà Nội hội tụ và tỏa sáng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tuy không trực tiếp bàn về văn hóa ứng xử, nhưng thông qua việc làm sáng tỏ các giá trị văn hóa Thăng Long Hà Nội (văn học, kiến trúc, mỹ thuật, giáo dục, lễ hội...), các tác giả đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về diễn trình lịch sử, về đặc điểm chung của văn hóa ứng xử và mối tương quan giữa văn hóa Thăng Long Hà Nội với văn hóa các vùng, miền trên đất nước (Phú Xuân Huế, Sài Gòn TP Hồ Chí Minh). Hội tụ và tỏa sáng là đặc trưng tiêu biểu của văn hóa Thăng Long Hà Nội, trong đó có văn hóa ứng xử của nó. Nguyễn Viết Chức (chủ biên) (2001), Nếp sống người Hà Nội, Viện Văn hóa và Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội. Tập thể các tác giả làm rõ khái niệm nếp sống, đánh giá khái quát quá trình phát triển của nếp sống người Thăng Long Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử và dự báo biến đổi nếp sống trong thời kỳ CNH, HĐH. Từ phân tích thực trạng nếp sống hiện nay các tác giả đã chỉ ra những vấn đề tồn tại và đề xuất kiến nghị xâydựng nếp sống người Hà Nội trong thời gian tới. Nguyễn Viết Chức (chủ biên) (2002), Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên, Viện Văn hóa và Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội. Các tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ giữa môi trường thiên nhiên và văn hóa ứng xử đối với môi trường thiên nhiên ở người Hà Nội, từ truyền thống đến hiện đại. Trước thách thức của toàn cầu hóa trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH các tác giả đã đề xuất một số phương hướng, quan điểm, giải pháp và điều kiện xây dựng văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên. Nhìn chung, cho đến nay chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu chủ đề văn hóa ứng xử của người Hà Nội trong thời kỳ đổi mới. Các công trình nêu ở trên là sự gợi ý và cung cấp một số cơ sở luận cứ, luận chứng để hoàn thành việc nghiên cứu đề tài của luận văn.
Xem thêm

80 Đọc thêm

CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ HIẾN PHÁP 1992

CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ HIẾN PHÁP 1992

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992: (Đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 1541992) I: Quá trình hình thành hiến pháp 1992 Vào những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 tình hình thế giới có những biến động lớn. Chiến tranh lạnh kết thúc kéo theo sự sụp đổ của một loạt các nước XHCN ở Liên Xô và Đông Âu khiến Việt Nam mất đi một chỗ dựa vững chắc. Hơn nữa, sau một thời gian phát huy hiệu lực nhiều qui định của Hiến pháp năm 1980 tỏ ra không phù hợp với điều kiệm kinh tế xã hội của đất nước. Trước tình hình đó Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI1986 đã mở ra thời kì đổi mới ở đất nước ta. Đảng chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện những sai lầm, mở rộng dân chủ XHCN, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân lao động. Trên cơ sở đó, để có những nhận thức mới, đúng đắn về CNXH và vạch ra những chủ trương, chính sách mới nhằm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Quốc hội đã quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới. • Với tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, Quốc hội khoá 8, tại kỳ họp thứ 3 ngày 22121988 đã ra Nghị quyết sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1980. Cụ thể là Quốc hội (khóa VIII) đã ra Nghị quyết thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp gồm 28 đồng chí do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công làm Chủ tịch Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp. Ủy ban dự thảo Hiến pháp đã họp nhiều phiên để chỉnh lí, bổ sung và thông qua toàn văn dự thảo Hiến pháp sửa đổi • Cuối năm 1991 đầu năm 1992, Bản dự thảo Hiến pháp lần ba đã được đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân. Trên cơ sở tổng hợp ý kiến đóng góp của nhân dân và ý kiến của Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng, Dự thảo Hiến pháp lần 4 đã hoàn thành và được trình lên Quốc hội khoá VIII, tại kỳ họp thứ XI xem xét. Đến ngày 1541992, trên cơ sở tổng hợp ý kiến của nhân dân cả nước, Bản dự thảo Hiến pháp mới lần này đã được Quốc hội khóa VIII thông qua (tại kỳ họp thứ 11). Hiến pháp năm 1992 được gọi là Hiến pháp của nước Việt Nam trong thời kỳ đầu của tiến trình đổi mới. Ngày 25122001, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa X đã thông qua Nghị quyết số 512001QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. =>>Việc soạn thảo và ban hành Hiến pháp năm 1992 là một quá trình thảo luận dân chủ và chắt lọc một cách nghiêm túc những ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân về tất cả các vấn đề từ quan điểm chung đến các vấn đề cụ thể. Bản Hiến pháp này là bản Hiến pháp của Việt Nam trong tiến trình đổi mới. Đúng như nhận xét của đồng chí Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười, nó là sản phẩm trí tuệ của toàn dân, thể hiện ý chí và nguyện vọng của đồng bào cả nước( nói riêng ngoài slide) Hiến pháp năm 1992 bao gồm 12 chương, 147 điều, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý. Hiến pháp năm 1992 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước ta.
Xem thêm

22 Đọc thêm

BÀI GIẢNG CHƯƠNG 4 MÔN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

BÀI GIẢNG CHƯƠNG 4 MÔN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

bài giảng chương 4 môn đảng cộng sản Việt Nam về ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA I. CÔNG NGHIỆP HÓA THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI 1. Chủ trương của Đảng về công nghiệp hóa: a. Mục tiêu và phương hướng của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa: b. Đặc trưng chủ yếu của công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới 2. Kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân a. Kết quả thực hiện chủ trương và ý nghĩa b. Hạn chế và nguyên nhân II. CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA THỜI KỲ ĐỔI MỚI 1. Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hóa
Xem thêm

64 Đọc thêm

đề cương ôn tập đường lối

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP ĐƯỜNG LỐI

Lợi thế của việt nam khi tiến hành công nghiệp hóa thời kì trước đổi mới chủ yếu dựa trên những lợi thế: • Lao động: nước ta có dân số đông, nguồn lao động dồi dào. • Tài nguyên: Việt Nam từng được ví với câu “rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”. Cho thấy Việt Nam có rất nhiều tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên khoáng sản: than, quặng, dầu… • Đất đai: đất đai Việt Nam thời kì trước đổi mới rất phì nhiêu, đối với một nước phát triển về nông nghiệp thì đây là lợi thế rất lớn. • Nguồn viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa: khi đất nước đang còn trong hoàn cảnh nghèo khó, viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa đặc biệt là Liên Xô là rất quan trọng cho ngân sách của nước ta. Nhận xét trong điều kiện ngày nay: những lợi thế của Việt Nam thời kỳ trước đổi mới, hiện tại không còn là lợi thế nữa. • Lao động Việt Nam nhiều nhưng không đáp ứng được chất lượng về kỹ năng, kinh nghiệm làm việc. Ngày nay, lao động đòi hỏi phải có tay nghề cao nhưng Việt Nam chưa đáp ứng được. • Tài nguyên: tài nguyên khoáng sản nước ta đang dần cạn kiệt. • Đất đai: Việt Nam đang tiến đến là một nước công nghiệp, giảm tỉ trọng nông nghiệp nên đất đai không còn là lợi thế. • Nguồn viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa kiên nay không còn là lợi thế. đề cương có cả liên hệ thực tế
Xem thêm

33 Đọc thêm

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THEO QUAN ĐIỂM ĐẠI HỘI XII CỦA ĐẢNG

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THEO QUAN ĐIỂM ĐẠI HỘI XII CỦA ĐẢNG

MỞ ĐẦU Nhà nước pháp quyền là một mô hình, phương thức tổ chức nhà nước và xã hội dựa trên nền tảng dân chủ và tinh thần thượng tôn pháp luật. Đảng ta đã nhận thức được tính tất yếu khách quan, cấp thiết việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra: “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994), Đảng ta đã chính thức nêu vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân. Trải qua các hội nghị và các kỳ Đại hội Đảng, nhất là từ Đại hội VIII (năm 1996) đến nay, nhận thức của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng được bổ sung và có những bước phát triển quan trọng. Xuyên suốt thời kỳ đổi mới, tư tưởng của Đảng về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhất quán và tuân thủ như một nguyên tắc, tính quy luật của quá trình phát triển đất nước. Tại Đại hội XII, Đảng ta có những bổ sung, phát triển lý luận về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, trong đó vừa làm sâu sắc thêm những quan điểm, tư tưởng đã được thể hiện nhất quán trong các văn kiện trước đó của Đảng, vừa có những phát triển mới đáp ứng đòi hỏi của tình hình thực tiễn. Nghiên cứu quan điểm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng là hướng tới làm rõ bản chất cách mạng, khoa học và những bổ sung, phát triển mới, đồng thời, là cơ sở quan trọng giúp cho mọi tổ chức, lực lượng nâng cao nhận thức, trách nhiệm, cụ thể hóa vào giáo dục, tuyên truyền để nó thâm nhập sâu rộng vào đời sống tinh thần, hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân và toàn xã hội; cũng thông qua đó mà lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm trong xây dựng và bảo vệ Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Xem thêm

21 Đọc thêm

Công tác tuyên truyền chính sách dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay

CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nghiên cứu về tuyên truyền và công tác tuyên truyền chính sách dân tộc ở nước ta trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó có nhiều tác giả đã đề cập đến các khía cạnh mà đề tài này quan tâm, cụ thể tập trung vào ba nhóm vấn đề chính: Thứ nhất, nhóm vấn đề về lý luận bao gồm các công trình PGS. TS Nguyễn Quốc Phẩm, GS. TS Trịnh Quốc Tuấn (1999): “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam”, nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nội dung cuốn sách các tác giả đưa ra sự lý giải về một số khái niệm liên quan đến vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc và trình bày thực tiễn vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở Việt Nam. GS.TS Phan Hữu Dật (2001): “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay”, nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nội dung cuốn sách đã phân tích và đưa ra những nhận thức mới về khái niệm dân tộc, quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng ta. TS. Trịnh Quang Cảnh (2013): “Một số vấn đề cơ bản về công tác dân tộc”, nxb Đại học quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách đã phân tích và bình luận những kiến thức cơ bản về vấn đề dân tộc, quản lý xã hội về dân tộc trong thời kỳ mới. Làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Thứ hai, nhóm vấn đề liên quan đếnchính sách bao gồm các công trình Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Hà Nội, Khoa dân tộc học (1995): “Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta”. Nội dung cuốn sách làm rõ những vấn đề cơ bản về dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong những năm đổi mới. Ủy ban Dân tộc và miền núi (2001): “Về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nội dung cuốn sách đề ra vấn đề tìm hiểu quan điểm chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta và nêu những yêu cầu, nhiệm vụ đối với đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc hiện nay. TS. Trịnh Quang Cảnh (2005): “Phát huy vai trò đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số trong công cuộc đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nội dung cuốn sách đã làm rõ vai trò đội ngũ trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước. GS.TS Hoàng Chí Bảo (2009): “Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợptác giữa các dân tộc trong sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nội dung cuốn sách phân tích và đánh giá thực trạng công bằng, bình đẳng và hợp tác giữa các dân tộc ở miền núi và các vấn đề thực hiện chính sách dân tộc ở miền núi nước ta trong thời kỳ đổi mới. Lâm Thị Bích Nguyệt: “Đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc tỉnhYên Bái hiện nay” luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005. Nội dung luận văn phân tích, đánh giá thực trạng tình hình thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Yên Bái, từ đó đưa ra giải pháp. Thứ ba, nhóm vấn đề về công tác tuyên truyền bao gồm các công trình Nguyên Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam Hồ Anh Dũng có bài viết về: “Sự nghiệp phát triển truyền hình ở vùng dân tộc thiểu số” trong cuốn “Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX”. Nội dung bài viết cho thấy sự cần thiết và dự báo khả năng đóng góp, tăng cường đầu tư cho công tác thông tin tuyên tuyền của Đài Truyền hình Việt Nam đối với vùng dân tộc thiểu số trong tình hình mới. Hội thảo tổng kết “Tăng cường và đổi mới công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” năm 2001, do Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) tổ chức. Hội thảo về đọc các báo cáo tham luận, tổng kết của những đại diện cơ quan báo chí. Hội thảo chưa đi sâu bàn bạc, tìm kiếm giải pháp tăng cường đổi mới nội dung, hình thức, chất lương của đơn vị mình. Nguyễn Xuân An Việt: “Thông tin về dân tộc miền núi trên VTV1 – Đài Truyền hình Việt Nam”. Tác giả đưa ra giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng chương trình, nhằm tăng cường hiệu quả thông tin về vấn đề dân tộc miền núi của Đài Truyền hình Việt Nam. Tóm lại có thể thấy các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở Trung ương và địa phương đều có giá trị rất lớn về cả mặt lý luận và thực tiễn. Các tác giả đã đề cập nhiều vấn đề khác nhau trong các lĩnh vực như: Vấn đề dân tộc, đặc điểm dân tộc, công tác dân tộc… Tuy nhiên các công trình ấy vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về: “Công tác tuyên truyền chính sách dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay”. Vì vậy, đề tài không trùng lặp với các công trình đã được công bố. Những tài liệu nêu trên sẽ giúp ích cho tác giả trong việc tham khảo để nghiên cứu đề tài luận văn.
Xem thêm

103 Đọc thêm

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghia

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHIA

Lời mở đầu Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI đã được thực hiện hơn 20 năm. Hơn 20 năm qua thế giới và đất nước đã có rất nhiều biến đổi phức tạp, tạo ra cả thời cơ và thách thức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới đất nước đã và đang giành được những thành tựu to lớn và quan trọng, góp phần ổn định chính trị, đưa đất nước không ngừng phát triển và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế. Trong những thành tựu to lớn đạt được 20 năm đổi mới, những thành tựu đạt được trong lĩnh vực kinh tế là vô cùng quan trọng, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đánh giá cao và ghi nhận với đường lối thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được Đảng cộng sản Việt Nam đưa ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và được coi như là đặc trưng của thời kỳ quá độ lên CNXH ở đất nước ta. Kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước được xuất phát từ thực tế của nước ta và sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới. Thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được coi như là một giải pháp cơ bản, quan trọng trong đường lối đổi mới đất nước mà Đảng ta xác định trong suốt 20 năm qua từ Đại hội VI đó là: Dứt khoát từ bỏ mô hình kinh tế phi hàng hóa, phi thị trường, mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần còn được xác định rõ trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ năm 1991 đó là Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Và cho đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII lại đưa ra quan niệm mới và rất quan trọng sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành mục tiêu phát triển nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc đã được xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi CNXH đã được xây dựng. Đến Đại hội IX khái niệm Kinh tế thị trường được chính thức nêu lên trong văn kiện Đại hội khẳng định kinh tế thị trường của ta không phải là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Đại hội IX đưa ra khái niệm Kinh tế thị trường định hướng XHCN xem đó là mô hình tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam.
Xem thêm

37 Đọc thêm

Đề tài XU HƯỚNG CHUYỂN DỊCH LUỒNG VỐN ODA VÀO VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

ĐỀ TÀI XU HƯỚNG CHUYỂN DỊCH LUỒNG VỐN ODA VÀO VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

1/ Sự cần thiết nhu cầu đề tài Trong những năm qua thực hiện đường lối chủ trương của Đảng Việt Nam thực hiện đường lối cải cách kinh tế và đã đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc cải cách và đổi mới kinh tế . Hơn 20 năm qua kể từ khi Việt Nam bước vào thực hiện mô hình KTTT định hướng XHCN, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả và thành tựu đáng kể làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam luôn ở mức khá cao và ổn định suốt 20 năm qua, cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến tích cực đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước CNH. Để đạt được những thành tựu đó không thể phủ nhận vai trò của nguồn vốn đầu tư phát triển trong đó vai trò nguồn vốn ODA là nguồn vốn quan trọng đối với Việt Nam nước đang phát triển khi mà kết cấu hạ tầng còn yếu kém. Kể từ khi Việt Nam thu hút vốn ODA năm 1993, tổng nguồn vốn ODA cộng đồng quốc tế cam kết viện trợ cho Việt Nam không ngừng tăng qua các năm đỉnh cao là năm 2010 mức vốn cam kết lên tới 8,06 tỷ USD. Nguồn vốn ODA đã đóng góp to lớn giúp bổ sung cho ngân sách eo hẹp của Chính phủ, tiếp thu được những công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hiện đại để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, góp phần giúp Việt Nam đạt được tăng trưởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân. Nhưng trong thời kỳ mới khi Việt Nam đã chính thức trở thành nước có mức thu nhập trung bình cơ cấu nguồn vốn ODA cung cấp cho Việt Nam sẽ có sự thay đổi lớn, nguồn vốn ưu đãi sẽ giảm dần thay vào đó là nguồn vốn kếm ưu đãi hơn và các khoản vay thương mại saẽ tăng lên. Nhận thức được tầm quan trọng đó em đã chọn đề tài:" XU HƯỚNG CHUYỂN DỊCH LUỒNG VỐN ODA VÀO VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI " nhằm nghiên cứu và chỉ rõ xu hướng luồng vốn ODA vào Việt Nam trong thời kỳ tới và từ đó đưa ra các giải pháp để tăng cường sử dụng hiểu quả của nguồn vốn này. 2/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là thực trạng luồng vốn ODA trong thời gian qua và xu hướng luồng vốn ODA vào Việt Nam trong thời gian tới 3/ Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích, tổng hợp. - Phương pháp thống kê kinh tế.
Xem thêm

69 Đọc thêm

BÀI GIẢNG CHƯƠNG 7 MÔN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

BÀI GIẢNG CHƯƠNG 7 MÔN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

bài giảng chương 7 môn đảng cộng sản Việt Nam về ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA VÀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI I. QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ NỘI DUNG ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA 1. Thời kỳ trước đổi mới a. Quan điểm, chủ trương về xây dựng nền văn hóa mới

48 Đọc thêm

TIẾP NHẬN THI PHÁP HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM SAU 1986

TIẾP NHẬN THI PHÁP HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM SAU 1986

Tìm hiểu lịch sử tiếp nhận thi pháp học trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam sau 1986 là một vấn đề rất quan trọng, Việc tiếp nhận thi pháp học sau 1986 ở Việt Nam đã có những đổi mới, vừa để tiếp cận với Thi pháp học của thế giới, vừa để phù hợp với sáng tác và tình hình nghiên cứu ở Việt Nam.

33 Đọc thêm

tiểu luận cao học quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên CNXH ở việt nam trong giai đoạn từ năm 1986 – 2000

TIỂU LUẬN CAO HỌC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ LUẬN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1986 – 2000

1.Lý do cấp thiết của đề tàiĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống. Để đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết phải đổi mới tư duy. Thực tiễn xã hội đã khách quan hóa vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của lý luận và tư duy lý luận đối với sự phát triển của đất nước và dân tộc. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng, là vấn đề cấp thiết với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta. Ở vị trí Đảng cầm quyền, có trọng trách lãnh đạo đất nước và lãnh đạo xã hội đi tới chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu lý tưởng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.Con đường cách mạng của nước ta từ một nước nông nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp khó khăn, phức tạp. Cho nên thời kỳ quá độ ở nước ta rất lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng thời kì đổi mới nhận mạnh : “Nói đổi mới tư duy, điều căn bản là phải đổi mới tư duy lý luận”. Đồng chí đặt vấn đề để xứng đáng là người lãnh đạo chính trị đối với xã hội, với niềm tin yêu của dân, Đảng phải không ngừng nâng cao và hoàn thiện sự lãnh đạo của mình. Công cuộc đổi mới hiện nay đòi hỏi mỗi cán bộ đảng viên phải không ngừng học tập, nếu thiếu trình độ lý luận, học vấn thì khó mà làm được. Đây là lĩnh vực đầy rẫy những cấp bách, thậm chí là cấp bách nhất phải đổi mới.Trải qua gần 15 năm (1986 – 2000), công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo, được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Điều đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, do đó, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới đất nước cũng có nhiều điểm khác so với thời kỳ trước đây.Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (121986) của Đảng, trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các lĩnh vực của quá trình đổi mới, đã đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về các vấn đề của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng, là vấn đề cấp thiết với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã khẳng định Xét trên tổng thế, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối chính sách đối nội và đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác. Nhằm góp phần nhận thức đúng đắn hơn về những vấn đề cơ bản của quá trình đổi mới và đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, và là sinh viên chuyên ngành Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học, em lựa chọn đề tài Quá trình hình thành và phát triển tư duy lý luận về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1986 – 2000”.Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở những nguyên lý và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, căn cứ vào một số quan điểm trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (121986).
Xem thêm

46 Đọc thêm

Câu hỏi kinh tế chính trị chủ đề văn hóa truyền thống VN

CÂU HỎI KINH TẾ CHÍNH TRỊ CHỦ ĐỀ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VN

1. Trình bày đặc điểm chung và riêng đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam đặt trong bối cảnh kinh tế thị trường khu vực hóa, toàn cầu hóa hiện nay 2. Nêu đại hội xác định quan điểm mô hình xây dựng và phát triển văn hóa thời kỳ đổi mới của Việt Nam (kèm hình ảnh minh họa) 3. Trình bày 10 giá trị truyền thống văn hóa Việt Nam trong phong tục tập quán, ẩm thực và âm nhạc (kèm hình ảnh minh họa) 4. Trình bày 15 giá trị văn hóa Việt Nam đương đại trong phong tục tập quán, âm nhạc và ẩm thực Việt Nam
Xem thêm

23 Đọc thêm

ĐỀ CƢƠNG MÔN HỌC Chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ

ĐỀ CƢƠNG MÔN HỌC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

Trình bày cơ sở hình thành và phát triển chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng qua các thời kỳ lịch sử: thời kỳ đấu tranh vì độc lập tự do, mà chủ yếu là tiến hành chiến tranh cách mạng (19451975) và trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (từ 1975), đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, trong xu thế toàn cầu hóa và nhu cầu hội nhập. Đánh giá tác dụng của việc thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng trong việc góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ sức mạnh thời đại cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; cải thiện và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Xem thêm

5 Đọc thêm

học thuyết mác lênin và tư tưởng hồ chí minh về đảng và xây dựng đảng tiểu luận cao học

HỌC THUYẾT MÁC LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG VÀ XÂY DỰNG ĐẢNG TIỂU LUẬN CAO HỌC

Trong toàn bộ di sản tư tưởng Hồ Chí Minh thì tư tưởng của Người về Đảng cộng sản Việt Nam là một trong những bộ phận quan trọng nhất. Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng ta khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Quyết định nói trên chứng tỏ cho tới nay thực tiễn đã và đang khẳng định những di sản tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về chính đảng của giai cấp vô sản vẫn là những nguyên lý, lý luận cơ bản để xây dựng Đảng cộng sản thành một đảng cách mạng chân chính, làm nhiệm vụ tiên phong trong cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc, giải phong xã hội, giải phóng con người. Nhưng chính các ông cũng chỉ ra là không phải mọi vấn đề lí luận đã được giải quyết xong xuôi, học thuyết của các ông mới chỉ lànhững viên gạch xây nền móng mà các thế hệ tiếp sau phải có trách nhiệm phát triển. Trong thời đại ngày nay cho dù tình hình thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã có nhiều thay đổi lớn thì tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và về cách mạng Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị. Nó là tài sản tinh thần vô giá của toàn Đảng toàn dân, là cơ sở khoa học lý luận để Đảng và nhân dân ta hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đổi mới đất nước, mà kinh tế là trọng tâm xây dựng Đảng là then chốt. Chính vì nhân dân cần một Đảng cách mạng chân chính dẫn đường mà sự lãnh đạo của Đảng được xác định như là một tất yếu lịch sử, một nhân tố quyết định làm nên mọi thắng lợi. Song cũng chính vì sự đòi hỏi khách quan ấy mà Đảng phải luôn luôn tự đổi mới và chỉnh đốn bản thân mình. Đổi mới, chỉnh đốn bao giờ cũng phải coi là điều kiện cần và đủ để đảm bảo giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây thực sự là vấn đề than chốt đảm bảo thắng lợi cho công cuộc đổi mới của nước ta Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng rất phong phú sâu sắc, do đó việc nghiên cứu nó là vô cùng quan trọng va cần thiết, nhưng người nghiên cứu đề tài này tự biết sức mình còn hạn chế. Song với quy mô là một tiểu luận, tác giả mong muốn trình bày những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam . Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài đó là hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam . Nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận khoa hoc của chủ nghĩa Mác Lênin kết hợp với sưu tầm tài liệu, học hỏi các chuyên gia va các thây cô giáo giảng dậy. Kết cấu của đề tài được chia làm ba phần chính, gồm 3 chương cùng với hệ thống các khái niệm phạm trù, tạo nên một kết cấu hoàn chỉnh giúp cho bạn đọc hiểu được một cách khái quát nhất và cô đọng những tư tưởng của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam.
Xem thêm

16 Đọc thêm

Phóng sự trong thời kì đổi mới

PHÓNG SỰ TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI

Sau chiến tranh, văn học Việt Nam nhìn chung vẫn phát triển theo quán tính của nền văn học chiến tranh. Nhưng các nhà văn đã bắt đầu thấy việc viết như cũ với đề tài người lính, cảm hứng sử thi ngợi ca đã không còn phù hợp. Họ bắt đầu tìm lối viết mới với những tìm tòi, thể nghiệm. Phóng sự cũng vậy, kể từ sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ “cởi trói”, “đổi mới tư duy” với khẩu hiệu “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã cứu dân tộc và cả văn học. Những năm đầu đổi mới đất nước của thời kỳ dân chủ hoá, phóng sự không chỉ là sự cổ vũ cho những nhân tố mới mà còn là sự khám phá đấu tranh với các vấn đề tiêu cực nảy sinh trong vấn đề cơ chế thị trường thời kỳ mở cửa. Đó là nạn tham nhũng , quan liêu hành chính , những hoạt động kinh doanh phi pháp, làm giàu bất chính, tình trạng vi phạm kỷ cương, phép nước… Nhiều phóng sự truyền hình đề cập phát hiện cảnh tỉnh dư luận xã hội về những vấn đề nhức nhối, những mâu thuẫn nảy sinh cũng như những nguy cơ tiềm tàng ảnh hưởng đến xã hội, cản trở đến sự phát triển đi lên về mọi mặt kinh tế chính trị xã hội, văn hoá của xã hội đất nước. Chính vì vậy, phóng sự thời kì đổi mới (1986 trở về sau) đã có những bước khởi sắc mạnh mẽ, đổi mới trên nhiều phương diện.
Xem thêm

12 Đọc thêm

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC MỚI VỀ TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ VIỆC PHÒNG CHỐNG CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC MỚI VỀ TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ VIỆC PHÒNG CHỐNG CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

Cùng với các lĩnh vực khác, trong thời kỳ đổi mới, công tác tôn giáo đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đạt được những thành tựu to lớn đó, một phần rất quan trọng là do sự đổi mới nhận thức về tôn giáo trong những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong thời gian qua.

30 Đọc thêm

Cùng chủ đề