QUY ĐỊNH LẤY Ý KIẾN CỔ ĐÔNG BẰNG VĂN BẢN

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "QUY ĐỊNH LẤY Ý KIẾN CỔ ĐÔNG BẰNG VĂN BẢN":

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG NGÀY 26-10-2010 - CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY LẮP SÔNG ĐÀ

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG NGÀY 26-10-2010 - CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY LẮP SÔNG ĐÀ

CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯVÀ XÂY LẮP SÔNG ĐÀSố: 02 NQ/ĐHCĐ-VB-----------&------------CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc-----------&----------Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2010NGHỊ QUYẾTĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNGCÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY LẮP SÔNG ĐÀ(Theo hình thức lấy ý kiến bằng văn bản)Căn cứ:-Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua ngày 29/11/2005.Điều lệ tổ chức và hoạt động Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây lắp Sông Đà.Biên bản kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông bằng văn bản ngày 08 tháng10 năm 2010 (đã công bố thông tin và sau 15 ngày không có ý kiến phản đối)QUYẾT NGHỊĐiều 1: Thông qua việc niêm yết bổ sung cổ phiếu phát hành riêng lẻ cho đối tác chiếnlược đầu năm 2010 trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội .Đại hội đồng cổ đông nhất trí thông qua việc niêm yết 561.400 cổ phiếu pháthành riêng lẻ cho đối tác chiến lược đầu năm 2010 trên Sở Giao dịch Chứngkhoán Hà Nội. Ủy quyền cho Hội đồng quản trị thực hiện các thủ tục để niêmyết số cổ phiếu trên.
Xem thêm

1 Đọc thêm

Quy định của pháp luật về cách chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁCH CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

Phân tích quy định của pháp luật về cách chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần Bài tập học kỳ Luật Thương mại 1 Chuyên mục Bài tập học kỳ, Luật Thương mại 1 NHỮNG QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN. Khái niệm: Khái niệm chuyển nhượng cổ phần: Cổ phần: là phần vốn nhỏ nhất của công ty hay nói cách khác đi vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ phiếu: của công ty cổ phần là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ để xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Chuyển nhượng cổ phần: là hành vi làm thay đổi ( mua bán, biếu tặng, thừa kế…) số lượng cổ phần đang nắm giữ. Phân loại cổ phần: Trong công ty cổ phần có thể tồn tại hai loại cổ phần: Cổ phần phổ thông: là cổ phần chỉ hưởng lãi hoặc chịu lỗ dựa trên kết quả hoạt động của công ty. Cổ phần ưu đãi: là cổ phần có một đặc quyền nào đó. Cổ phần ưu đãi chia thành các loại như sau: Cổ phần ưu đãi biểu quyết: là loại cổ phần có số biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông. Nhiều hơn bao nhiêu lần do điều lệ công ty quy định. Cổ phần ưu đãi cổ tức: là loại cổ phần được trả cổ tức (tiền lãi) với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm.Cổ tức được chia có hai loại: cổ tức cố định và cổ tức thưởng. Cổ phần ưu đãi hoàn lại: là cổ phần sẽ được công ty hoàn vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại Các điều kiện chuyển nhượng: Đối với cổ phần thường: Theo khoản 5 Điều 81 Luật doanh nghiệp năm 2005, cổ phần thường được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp sau: Theo khoản 5 Điều 84, trong thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trong trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng cổ phần đó và người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty. Sau thời hạn 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đều được bãi bỏ. Nguyên nhân có qui định trên vì đây là qui định nhằm bảo vệ các nhà đầu tư, các cổ đông sáng lập ra công ty không được tự ý bỏ công ty được. Đây chính là một qui định mang tính ràng buộc nghĩa vụ vật chất của cổ đông sáng lập với người mua nhằm tránh tình trạng tuyên truyền lừa đảo. Đối với cổ phần ưu đãi: Qui định về chuyển nhượng cổ phần ưu đãi phụ thuộc vào điều lệ công ty và Luật doanh nghiệp 2005. Cổ phần ưu đãi biểu quyết: Theo khoản 3 điều 87 Luật Doanh nghiệp 2005, chỉ có các Tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập mới có quyền nắm giữ cổ phiếu ưu đãi biểu quyết; đây là loại cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phiếu phổ thông, số phiếu biểu quyết của một số cổ phần ưu đãi biểu quyết do điều lệ công ty qui định; cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác. Sau 3 năm kể từ ngày cấp giấy Chứng nhận đăng kí kinh doanh, cổ phần ưu đãi biểu quyết sẽ được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông và được tự do chuyển nhượng như cổ phần phổ thông được phát hành trước đó. Việc cấm chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết nhằm đảm bảo cho những thành viên sáng lập có thể duy trì được ý tưởng kinh doanh ban đầu của mình, tránh cho công ty mất tính ổn định trong những năm đầu thành lập. Cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác: Không bị điều chỉnh trong Luật Doanh nghiệp 2005 nên tùy từng điều lệ của công ty qui định những điều kiện để được chuyển nhượng khác nhau. Ví dụ: Công ty cổ phần nhựa Tân Đại Á có qui định cổ phần ưu đãi chỉ được chuyển nhượng sau 4 năm kể từ ngày phát hành hay như đối với công ty cổ phần du lịch Việt Nam Hà Nội thì cổ phần mua với giá ưu đãi đối với công nhân viên lại được tự do chuyển nhượng trong khi cổ phần ưu đãi dành cho nhà đầu tư chiến lược lại bị cấm chuyển nhượng hoặc chuyển nhượng có điều kiện.. Một số trường hợp đặc biệt trong chuyển nhượng cổ phần: Cổ phần phát hành riêng lẻ: Theo nghị định số 012010NĐCP cổ phần mà các công ty cổ phần khi phát hành riêng lẻ không được chuyển nhượng trong thời hạn một năm kể từ ngày phát hành�. Tuy nhiên, qui định này sẽ gây khó khăn hơn cho doanh nghiệp khi phát hành cổ phiếu riêng lẻ, nhưng đây là một động thái tích cực nhằm ngăn chặn nguy cơ đầu cơ và bán khống của các nhà đầu tư nếu không hạn chế thời gian chuyển nhượng. Cụ thể, cổ phiếu A được bán cho nhà đầu tư chiến lược với giá 50000đcổ phiếu. Ngay tại thời điểm chốt danh sách nhà đầu tư được phép mua riêng lẻ, giá cổ phiếu A là 100000đcổ phiếu, nhà đầu tư có thể mượn cổ phiếu để giao dịch và sau đó sẽ trả lại khi cổ phiếu riêng lẻ được phát hành sau đó một thời gian ngắn (vì cổ phiếu riêng lẻ chỉ được bán cho một số nhà đầu tư chiến lược, với giá bán thấp hơn nhiều so với giá bán trên thị trường). Đồng thời, qui định này cũng ngăn chặn được sự liên kết của những nhà đầu tư và những cổ đông lớn của doanh nghiệp (cũng chính là những người có quyền quyết định chào bán riêng lẻ) nhằm cố ý chấp nhận giảm giá trị vốn góp ở công ty để phát hành cổ phiếu với giá rẻ hơn giá trị nội tại của công ty nhằm chia lợi ích. Vì vậy, với qui định cấm chuyển nhượng cổ phiếu phát hành riêng lẻ trong vòng một năm, vốn của nhà đầu tư sẽ bị chôn trong một thời gian khá dài, thậm chí nhà đầu tư phải đối mặt với rủi ro cao nếu xu hướng giá thị trường giảm mạnh. Do đó, nhà đầu tư khi muốn mua cổ phiếu phát hành riêng lẻ thì buộc phâỉ hiểu rõ tình hình hoạt động của công ty cũng như tin vào khả năng tăng trưởng trong tương lai của công ty. Đối với ngân hàng thương mại cổ phần: Cổ phần phổ thông của thành viên sáng lập của ngân hàng thương mại cổ phần mới thành lập, trong vòng 5 năm kể từ ngày được cấp giấy phép, chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông trong tổng số cổ phần góp vốn khi thành lập ngân hàng cho cổ đông sáng lập khác. Đối với cổ đông không phải thành viên sáng lập của ngân hàng, trong thời gian 3 năm kể từ ngày cấp giấy phép thành lập, chỉ được phép chuyển nhượng số cổ phần vốn góp của mình khi ngân hàng thành lập cho cổ đông khác của ngân hàng. Đối với ngân hàng thương mại cổ phần, những giao dịch chuyển nhượng sau cần có văn bản chấp thuận của thống đốc ngân hàng nhà nước �: Các giao dịch mua bán mức cổ phần trọng yếu (đây là giao dịch mua bán của cổ đông nắm giữ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên); Các giao dịch mua bán cổ phần dẫn đến cổ đông đang sở hữu mức cổ phần trọng yếu trở thành không sở hữu cổ phần trọng yếu và ngược lại. Cổ đông cá nhân, cổ đông pháp nhân có người đại diện vốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc trong thời gian đảm nhiệm chức danh và trong thời gian 01 năm, kể từ thời điểm không đảm nhiệm chức danh, được chuyển nhượng cổ phần nhưng phải giữ lại tối thiểu 50% tổng số cổ phần mà mình sở hữu vào thời điểm được Đại hội đồng cổ đông bầu hoặc được Hội đồng quản trị bổ nhiệm và phải có văn bản báo cáo Ngân hàng Nhà nước trước khi thực hiện việc chuyển nhượng cổ phần tối thiểu 15 ngày làm việc đối với số cổ phần được phép chuyển nhượng. Trong thời gian đang xử lý các hậu quả theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông do trách nhiệm cá nhân, các thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc không được chuyển nhượng cổ phần, trừ trường hợp các thành viên này: Là đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức bị sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản theo quy định pháp luật; Bị bắt buộc chuyển nhượng cổ phần theo quyết định của Tòa án. Đồng thời, phải có sự chấp thuận của ngân hàng nhà nước nếu có sự chuyển nhượng cổ phần của ngân hàng cổ phần do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ. Đối với nhà đầu tư nước ngoài�: Nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên quan chỉ được phép chuyển nhượng cổ phần thuộc sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác (kể cả trong nước và ngoài nước) tối thiểu sau 5 năm kể từ khi trở thành là nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tại một ngân hàng Việt Nam. Tổ chức tín dụng nước ngoài và người có liên quan sở hữu 10% vốn điều lệ tại một ngân hàng Việt Nam chỉ được phép chuyển nhượng cổ phần thuộc sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác (kể cả trong nước và ngoài nước) tối thiểu sau 3 năm kể từ khi sở hữu 10% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam. Đây chính là những qui định chặt chẽ nhằm bảo vệ nhà đầu tư cũng như giữ vững được sự ổn định của một hoạt động mang tính hệ thống và có tầm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế như hoạt động ngân hàng. Đồng thời, các qui định trên cũng ràng buộc lợi ích của thành viên sáng lập và đại diện pháp luật của ngân hàng với ngân hàng Thông tư 082008TTNHNN ngày 223 của Ngân hàng Nhà nước qui định các tổ chức tín dụng có thể đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước nếu có nguy cơ mất khả năng chi trả; nợ không có khả năng thu hồi; có nguy cơ mất khả năng thanh toán. Trong thời gian kiểm soát đặc biệt, nghiêm cấm chủ tịch và thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát, tổng giám đốc hoặc giám đốc chuyển nhượng cổ phần, chia cổ tức, cất giấu, tẩu tán, cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng hoặc có bất cứ giao dịch nào có liên quan; từ chối hoặc giảm bớt quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với khách hàng. Cách thức chuyển nhượng cổ phần Chuyển nhượng trực tiếp: Khái niệm: Đây là hình thức chuyển nhượng mà các cổ đông chuyển nhượng cổ phần cho nhau hoặc chuyển nhượng cho người ngoài công ty thông qua trao đổi trực tiếp. Ở đây có nghĩa là người bán và người mua gặp gở nhau trực tiếp, tự thỏa thuận với nhau về giá cả, người mua trực tiếp tự kiểm tra, đánh giá chất lượng của cổ phần chào bán. Hình thức này xảy ra với người chuyển nhượng và người được chuyển nhượng thường là những người quen biết nhau. Thủ tục giao dịch do hai bên tự thỏa thuận theo qui định của luật dân sự. Đối với các hành vi chuyển nhượng khác như cho tặng, thừa kế… cũng thuộc hình thức chuyển nhượng trực tiếp. Qui trình thủ tục chuyển nhượng : gồm 6 bước. Bước 1:Tiếp nhận hồ sơ Công ty cổ phần ( hoặc là công ty chứng khoán nhận quản lý sổ cổ đông của công ty) tiếp nhận hồ sơ và yêu cầu chuyển nhượng cổ phần của cổ đông Hồ sơ chuyển nhượng bao gồm: Giấy chuyển nhượng cổ phần (yêu cầu chuyển nhượng cổ phần) hoặc hợp đồng chuyển nhượng cổ phần có chữ kí của bên mua và bên bán ( nếu một trong hai bên là tổ chức thì phải có chữ kí của người được ủy quyền hoặc đại diện theo pháp luật và con dấu của tổ chức đó). Sổ chứng nhận cổ đông hoặc giấy sở hữu cổ phần của bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng (nếu bên mua cũng là cổ đông của công ty). Giấy tờ khác của bên chuyển nhượng: Đối với cá nhân: Giấy photo chứng minh nhân dânHộ chiếu (được ghi trên Giấy chứng nhận cổ phần) của bên chuyển nhượng (có bản chính để đối chiếu). Trong trường hợp cổ đông không thể thực hiện trực tiếp thủ tục chuyển nhượng có thể thực hiện ủy quyền cho người khác, người được ủy quyền nộp 1 bản Giấy chứng nhận ủy quyền và mang theo chứng minh nhân dân hộ chiếu để đối chiếu hoặc 1 bản sao y công chứng, mẫu xác nhận mẫu chữ kí của cổ đông có chứng thực của chính quyền địa phương (bản chính). Đối với tổ chức: Giấy xác nhận đăng kí kinh doanh (1 bản sao có công chứng). Văn bản chấp thuận chuyển nhượng cổ phần của hội đồng thành viên hội đồng quản trị hoặc người có thẩm quyền theo qui định của điều lệ tổ chức và bên chuyển nhượng. Giấy giới thiệu của tổ chức và chứng minh nhân dân của người được tổ chức giới thiệu thay mặt tổ chức thực hiện giao dịch chuyển nhượng (bản chính). Giấy tờ khác của bên nhận chuyển nhượng: Chứng minh nhân dân hộ chiếu của bên nhận chuyển nhượng. Giấy ủy quyền và chứng minh nhân dân hộ chiếu của người được ủy quyền. Nếu bên nhận chuyển nhượng là tổ chức: Giấy phép đăng kí kinh doanh (có công chứng). Điều lệ công ty (có công chứng). Văn bản chấp nhận nhận chuyển nhượng của hội đồng cá nhân hoặc hội đồng thành viên hoặc cá nhân có thẩm quyền theo điều lệ hoạt động của công ty. Giấy giới thiệu của tổ chức và chứng minh nhân dân, hộ chiếu của người được tổ chức ủy quyền thay mặt thực hiện giao dịch. Đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài: Bản sao hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp. Tài liệu chứng minh nguồn tài sản hợp pháp. Các văn bản của cá nhân nước ngoài phải được hợp pháp hóa lãnh sự hoặc chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền. Tất cả hồ sơ trên phải làm 1 bộ bằng tiếng Việt và 1 bộ bằng tiếng Anh. Đối với trường hợp thừa kế thì phải có đầy đủ giấy tờ chứng minh quyền thừa kế hợp lệ theo quy định của Bộ luât Dân sự hiện hành. Bước 2: Kiểm tra hồ sơ chuyển nhượng cổ phần. Nhân viên quản lý sổ cổ đông cho công ty tiến hành kiểm tra: Kiểm tra tính hợp lệ, tính pháp lý của chứng từ chuyển nhượng và thông tin liên quan đến chứng từ chuyển nhượng Kiểm tra, đối chiếu số lượng cổ phần chuyển nhượng Phân loại hồ sơ chuyển nhượng, những trường hợp chuyển nhượng có điều kiện theo luật doanh nghiệp 2005 và điều lệ công ty thì phải có phê duyệt của Hội Đồng Quản trị Bước 3: Thu phí và cấp giấy xác nhận Nếu hồ sơ chuyển nhượng đầy đủ và hợp lệ nhân viên tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng kí xác nhận trên giấy đề nghị chuyển nhượng. Tiến hành thu phí chuyển nhượng theo mức phí thỏa thuận. Bước 4: Lập phiếu hẹn cấp trả sổ cổ đông Tùy theo mỗi công ty mà thời gian hẹn cấptrả sổ cổ đông sẻ khác nhau. Thông thường là 510 ngày đối với cá nhân thực hiện chuyển nhượng cổ phần và 15 ngày đối với tổ chức. Bước 5: In sổ cồ đông Bộ phận quản lý sổ cổ đông của công ty căn cứ vào hồ sơ chuyển nhượng để thực hiện bút toán chuyển nhượng: ghi tănggảm cổ phần trên Sổ cổ đông. Trường hợp người nhận chuyển nhượng đã có Sổ cổ đông: công ty cổ phần ủy quyển cho công ty chứng khoán ký phần xác nhận trên Sổ cổ đông. Trường hợp cấp phát mới Sổ cổ đông: bộ phận quản lý sổ cổ đông in đầy đủ thông tin lên Sổ cổ đông theo mẩu quy định của công ty, sau đó tập hợp chuyển các hồ sơ chuyển nhượng và Sổ cổ đông mới để lấy chử ký của Chủ tịch Hội Đồng Quản trị công ty trên sổ cổ đông. Sau khi ký xác nhận các hồ sơ chuyển nhượng và Sổ cổ đông mới được chuyển trả lại toàn bộ cho bộ phận quản lý sổ cổ đông . Đối với người chuyển nhượng: thu lại Sổ chứng nhận cổ đông và huỷ Sổ cổ đông nếu chuyển nhượng toàn bộ số lượng cổ phần sở hữu. Bước 6: Cấptrả Sổ cổ đông Bộ phận quản lý sổ cổ đông cấp trả Sổ cổ đông cho bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng sau khi đã hoàn tất các thủ tục trên. Đối với những công ty cổ phần sử dụng dịch vụ quản lý Sổ cồ đông và hỗ trợ thủ tục chuyển nhượng của công ty chứng khoán. Bộ phân quản lý sổ cổ đông của công ty cổ phần sẽ là công ty chứng khoán, tất cả các khâu nhận hồ sơ, kiểm tra, in Sổ cổ đông cho khách hàng sẽ do công ty chứng khoán thực hiện. Chuyển nhượng gián tiếp: Cổ phần được giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán: Thị trường chứng khoán tập trung ( Sở giao dịch chứng khoán) – là nơi các nhà môi giới thực hiện cuộc đấu giá mua – bán chứng khoán cho khách hàng của họ. Thị trường này hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được đăng biểu hay đặc biệt được biệt lệ. Chứng khoán đăng biểu là chứng khoán đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép bảo đảm, phân phối và mua bán qua trung gian, tức là đã hội đủ tiêu chuẩn quy định. Chứng khoán biệt lệ là chứng khoán do chính phủ hoặc các cơ quan công quyền phát hành và bảo đảm. Loại chứng khoán này được miễn giấy phép của cơ quan có thẩm quyền. Điều kiện niêm yết chứng khoán tại sở giao dịch chứng khoán: Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 80 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán; Hoạt động kinh doanh hai năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi và không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký niêm yết; Không có các khoản nợ quá hạn chưa được dự phòng theo quy định của pháp luật; công khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng, cổ đông lớn và những người có liên quan; Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông nắm giữ; Cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng của công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ;Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ. Trình tự giao dịch mua bán, chuyển nhượng chứng khoán trên sở giao dịch chứng khoán: Bước 1:Nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch và thực hiện ký quỹ. Mở tài khoản giao dịch Nhà đầu tư bắt đầu việc giao dịch của mình bằng cách liên hệ với công ty chứng khoán là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán để kí hợp đồng giao dịch. Công ty chứng khoán mở tài khoản giao dịch cho khách hàng. Nhà đầu tư chứng khoán cần điền đầy đủ thông tin vào giấy yêu cầu mở tài khoản với những nội dung sau: số chứng minh thư, số điện thoại, phương thức giao dịch (chữ kí, dấu,…). Số chứng minh thư này sẽ là mã số kinh doanh của nhà đầu tư, đồng thời là mả số quản lí của công ty chứng khoán về nhà đầu tư trên Sở giao dịch chứng khoán. Sau đó, nhà đầu tư sẽ kí hợp đồng giao dịch với công ty chứng khoán trên cơ sở mẫu hợp đồng mở tài khoản ký giữa công ty chứng khoán và khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 041998 của Ủy ban chứng khoán Nhà nước về quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán. Nội dung hợp đồng là khách hàng đề nghị bên công ty chứng khoán mở một tài khoản chứng khoán (gọi là tài khoản) đứng tên khách hàng để lưu giữ, quản lí tiền, chứng khoán và thực hiện giao dịch chứng khoán cho khách hàng thông qua Sở giao dịch chứng khoán. Mỗi nhà đầu tư chỉ được mở tài khoản tại một công ty chứng khoán. Do vậy, trước khi định mở tài khoản giao dịch chứng khoán, nhà đầu tư nên tự lựa chọn công ty chứng khoán để mở tài khoản. Việc mở tài khoản chứng khoán hiện nay được các công ty chứng khoán thực hiện miễn phí, đồng thời khách hàng cũng không phải ký quỹ, đặt cọc khoản tiền nào. Ký quỹ Trước khi tiến hành giao dịch, nhà đầu tư phải kí quỹ tại công ty chứng khoán. Trong tài khoản giao dịch chứng khoán của khách hàng tại Công ty phải có đủ 100% giá trị chứng khoán đặt mua hoặc 100% số lượng chứng khoán đặt bán. Bước 2:Nhà đầu tư đặt lệnh giao dịch Đặt lệnh Nhà đầu tư muốn mua hay bán chứng khoán sẽ đến gặp công ty chứng khoán. Người đầu tư có thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhau để đặt lệnh như đặt lệnh trực tiếp bằng phiếu lệnh (order slip), điện thoại, fax. Khách hàng kí hợp đồng ủy thác mua hoặc bán chứng khoán với công ty chứng khoán. Khách hàng đặt lệnh mua, bán chứng khoán với phòng tiếp thị bằng phiếu lệnh. Nội dung chi tiết của lệnh gồm có: Lệnh mua hay lệnh bán; tên chứng khoán – mã số chứng khoán; số lượng chứng khoán; giá. Công ty chứng khoán rà soát lại phiếu lệnh, rà soát lại tính hợp lệ, hợp pháp của phiếu lệnh trước khi chuyển sang Sở giao dịch chứng khoán. Công ty chứng khoán chuyển lệnh của nhà đầu tư cho đại diện của công ty tại sở giao dịch chứng khoán để nhập vào hệ thống giao dịch của sở giao dịch chứng khoán. Huỷ lệnh: Nhà đầu tư có thể thực hiện việc huỷ lệnh giao dịch đã đặt trước đó với điều kiện lệnh giao dịch đó chưa được khớp hay mới chỉ được khớp một phần. Sửa lệnh: Nhà đầu tư có thể thực hiện việc sửa lệnh giao dịch đã đặt trước đó với điều kiện lệnh giao dịch đó chưa được khớp. Nhà đầu tư phải lập phiếu sửa lệnh và gửi cho công ty chứng khoán. Nội dung của lệnh sửa bao gồm các thông tin của lệnh gốc và các thông tin cần sửa. Khi đó,đại diện giao dịch tại sàn giao dịch sẽ thực hiện hai công việc: thứ nhất là hủy lệnh gốc của nhà đầu tư, sau đó nhập nội dung của lệnh sửa. khi đó lệnh sửa của nhà đầu tư được hệ thống coi là lệnh giao dịch mới. Bước 3: Sở giao dịch thực hiện khớp lệnh: Sở giao dịch chứng khoán thực hiện khớp lệnh mua và lệnh bán và thông báo kết quả. Giá khớp được thông báo công khai và là giá thống nhất của bên mua và bên bán. Giao dịch khớp lệnh định kì: là phương thức giao dịch dựa trên cơ sở tập hợp tất cả các lệnh mua, bán trong khoảng thời gian nhất định và tạo ra giá khớp. Mức giá này được xác định dựa trên các nguyên tắc sau: Là mức giá mà tại đó khối lượng giao dịch là lớn nhất. Nếu có nhiều mức giá thoả điều kiện trên thì mức giá nào trùng hoặc gần nhất với giá thực hiện của lần khớp lệnh trước đó sẽ được chọn. Nếu vẫn có nhiều mức giá thoả mãn điều kiện trên thì mức giá cao nhất sẽ được chọn. Giao dịch khớp lệnh liên tục: là phương thức giao dịch thực hiện trên cơ sở lệnh của nhà đầu tư sau khi được nhập vào hệ thống sẽ được khớp ngay với các lệnh đối ứng (nếu có) ở các mức giá tốt nhất đã chờ sẵn trong hệ thống. Bước 4: Thông báo kết quả giao dịch: Sở giao dịch chứng khoán sau mỗi đợt khớp lệnh sẽ thông báo kết quả cho lệnh được khớp đến công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán xác nhận với đại diện giao dịch về kết quả giao dịch sau khớp lệnh. Chi tiết xác nhận gồm có: Tên chứng khoán; khối lượng mua và bán; tên (mã số) của bên thành viên đối tác; ngày, thời gian giao dịch được thực hiện; số hiệu của lệnh được thực hiện; các chi tiết cần thiết khác theo quy định của sở giao dịch chứng khoán. Công ty chứng khoán chuyển kết quả giao dịch để thực hiện thanh toán tại Trung tâm lưu ký chứng khoán và thanh toán bù trừ. Công ty chứng khoán thông báo kết quả giao dịch cho các nhà đầu tư. Bước 5: Hoàn thành quá trình chuyển nhượng: Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là người bán) trên tài khoản của mình tại công ty chứng khoán sau 3 ngày làm việc kể từ ngày mua bán chứng khoán nếu quy định vể thời gian thực hiện thanh toán bù trừ chứng khoán là T+3. Cổ phần giao dịch mua bán, chuyển nhượng tại thị trường phi tập trung Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế trong nước và thế giới.. Thị trường OTC (Over the counter) Việt Nam phát triển theo mô hình phát triển của thị trường giao dịch cổ phiếu OTC của các nước trên thế giới. Tất cả các giao dịch các cổ phiếu chưa đủ điều kiện niêm yết của các công ty đại chúng được giao dịch qua thị trường OTC với sự giám sát của các cơ quan chức năng và tổ chức giao dịch theo các hình thức như một cổ phiếu đã niêm yết. Tuy nhiên đối với cổ phiếu giao dịch trên sàn OTC có một số điểm khác biệt so với giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tập trung về cách thức giao dịch và đặt lệnh như: không có có biên độ khống chế về giá giao dịch cũng như giá tham chiếu. Thời gian khớp lệnh của hệ thống kéo dài từ 1015 giờngày. Nhà đầu tư được phép mua và bán cùng 1 loại cổ phiếu trong cùng 1 ngày giao dịch. Ở sàn chứng khoán tập trung thì lệnh mua bán chứng khoán sẽ được hệ thống máy tính so khớp, còn ở sàn giao dịch OTC thì các đại diện giao dịch chọn lệnh để khớp. Cách thức giao dịch sẽ được thực hiện như sau: Cả người mua và người bán đều mở tài khoản tại sàn giao dịch OTC. Sau khi người mua đặt lệnh mua cổ phiếu, người bán đặt lệnh bán cổ phiếu thì các phiếu lệnh này sẽ được người giao dịch đưa vào thị trường OTC để thực hiện lệnh. Nếu là một lệnh mua chẳng hạn, thì bộ phận chuyên trách mua bán sẽ liên hệ với một số nhà tạo giá (các dealers) để thu xếp giao dịch (mua chứng khoán) cho khách hàng với giá chào bán (offer) thấp nhất. Khi giá mua cao nhất của khách hàng A khớp với giá bán thấp nhất của khách hàng B thì việc mua bán thực hiện , người đại diện giao dịch thương lượng các điều khoản giao dịch cần thiết và giao dịch kết thúc. Ví dụ: Khách hàng A muốn mua cổ phiếu 100 cổ phiếu của công ty XYZ thì khách hàng A sẽ đặt lệnh mua 100 cổ phiếu của XYZ và người môi giới ghi phiếu lệnh. Sau đó phiếu lệnh này sẽ được chuyển đến người giao dịch trên thị trường OTC của công ty. Người giao dịch trên thị trường OTC sẽ xác định những người đang nắm giữ chứng khoán của công ty XYZ và có nhu cầu muốn bán (cũng thông qua việc đặt lệnh),để thương lượng các điều khoản của giao dịch như giá bán, số lượng mua. Trông mỗi phiên giao dịch, người giao dịch sẽ ra giá cao nhất sẵn sàng bán và giá thấp nhất của cổ phiếu công ty XYZ mà họ đang nắm giữ. Khi giá mua cao nhất của khách hàng A khớp với giá bán thấp nhất của một khách hàng B nào đó thì việc mua bán được thực hiện và giao dịch kết thúc. Trường hợp giữa người mua và người bán đã xác định được nhau nhưng vì do điều kiện về khoảng cách 2 người không thể gặp nhau trực tiếp để thực hiện giao dịch được thì có thể thông qua công ty chứng khoán. Người mua và người bán chỉ cần mở tài khoản giao dịch tại công ty chứng khoán, người mua chuyển tiền vào tài khoản của mình. Người mua sẽ ký hợp đồng mua cổ phiếu với công ty chứng khoán, còn công ty chứng khoán sẽ ký hợp đồng mua chứng khoán với người bán cổ phiếu. Mức giá mua bán, số lượng sẽ do người mua và người bán tự thỏa thuận với nhau. Mọi thủ tục chuyển nhượng sau khi đã có sự thỏa thuận giữa người mua và người bán sẽ do công ty chứng khoán thực hiện giống như giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán. Chương III NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY Những ưu điểm và nhược điểm của một số cách thức chuyển nhượng cổ phần theo cách gián tiếp Ưu và nhược điểm của cách thức chuyển nhượng cổ phần trên sở giao dịch chứng khoán. Ưu điểm: Tạo điều kiện thuận lợi cho các cổ đông của doanh nghiệp thực hiện chuyển nhượng cổ phần một cách thuận lợi, nâng cao tình thanh khoản cho cổ phần của các doanh nghiệp này. Thông tin được minh bạch giúp giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư khi thực hiện giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán. Các báo cáo tài chính hằng năm của các công ty cổ phần đã niêm yết buộc phải được kiểm toán, đồng thời, các giao dịch đều được thực các rủi ro như lừa đảo, mua bán khống như cách giao dịch thông qua thị trường phi tập trung. Nhược điểm : Số lượng công ty cổ phần đủ điều kiện để được niêm yết trên Sở giao dịchchứng khoán còn quá ít nên làm cho thị trường kém sôi động, không đáp ứng được hết nhu cầu của nhà đầu tư. Rủi ro thường xảy ra trong quá trình nhập lệnh vào hệ thống máy tính của các Broker khi khối lượng giao dịch nhiều. Những ưu diểm và nhược điểm của cách thức chuyển nhượng cổ phần qua thị trường phi tập trung Ưu điểm: Tạo tính thanh khoản cho các cổ phiếu của các công ty cổ phần chưa có đủ điều kiện để niêm yết chứng khoán. Tạo điều kiện thuận lợi cho người mua và ngưới bán cổ phiếu có thể giao dịch mua, bán, chuyển nhượng cổ phần dù ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Khối lượng cổ phiếu giao dịch lớn, đa dạng, đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư. Nhược điểm: Khách hàng giao dịch trên thị trường OTC gặp nhiều khó khăn trong vấn đề thu thập và tiếp cận thông tin. Các nguồn thông tin không đủ căn cứ vững chắc và độ tin cậy để giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác. Trong khi đó, việc các thủ tục sang tên chuyển nhượng cổ phiếu lại chỉ được thực hiện sau khi đã đóng tiền đầy đủ. Vì thế việc mua bán cổ phiếu này mang rất nhiều yếu tố rủi ro cho người mua. Dễ xảy ra tranh chấp trong quá trình mua bán, chuyển nhượng cổ phiếu. Nguyên nhân chủ yếu là người mua và người bán không thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng chuyển nhượng cồ phiếu. Trường hợp hay xảy ra như: Tranh chấp hay thiệt hại về quyền mua cổ phiếu. Trước khi phát hành cổ phần tăng vốn, công ty tiến hành chốt danh sách cổ đông. Tại thời điểm đó, những ai sở hữu cổ phần nằm trong danh sách cổ đông của công ty sẽ được mua thêm cổ phiếu mới. Với những người mua cổ phiếu trong giai đoạn giao thời hoặc khi danh sách cổ đông đã được chốt, nếu không biết thì dù tiền đã thanh toán cho người bán, cổ phiếu đã nắm giữ, nhưng chưa làm xong thủ tục chuyển nhượng, người mua vẫn mất quyền mua, quyền mua cổ phiếu mới vẫn thuộc về người bán. Tranh chấp hay thiệt hại về cổ tức. Cổ tức được chia cho cổ đông dựa trên số lượng cổ phần họ đang nắm giữ. Thông thường, công ty chia cổ tức sau khi kết thúc năm tài chính, một số công ty tạm ứng cổ tức sau 6 tháng. Vì thế người mua mặc dù vẫn đang nắm trong tay cổ phiếu của công ty nhưng lại không được nhận cổ tức của công ty. Rủi ro trong mua bán cổ phần chưa được chuyển nhượng.Có những cổ phần theo quy định nội bộ của công ty, sau 1 năm mới được chuyển nhượng, nhưng nhiều nhà đầu tư không nắm được thông tin nên đã mua. Và trong thời hạn 1 năm đó, các quyền lợi như mua thêm cổ phần tăng vốn, nhận cổ tức… vẫn thuộc về người đứng tên sở hữu cổ phần (người bán), còn người đã bỏ tiền ra mua thì bị chiếm đoạt quyền lợi. Rủi ro trong giao dịch nhận chuyển nhượng quyền mua. Trong các đợt phát hành thêm cổ phần mới để tăng vốn, cổ đông hiện hữu, cổ đông chiến lược hay cán bộ công nhân viên được quyền mua cổ phần. Khi đó, nhiều người do không huy động được tiền hàng.của giá thị trường thời điểm đó. Nhà đầu tư mới thấy giá thấp, hấp dẫn thường chấp nhận mua. Nhưng từ khi nộp tiền để mua cổ phần cho đến khi nhận được cổ phần là khoảng thời gian khá dài, nên đến khi nhận được cổ phần thì cổ phần vẫn đứng tên chủ sở hữu là người bán. Khi đó, nếu giá cổ phiếu đứng yên, giảm hay người bán nghiêm túc, đứng đắn thì việc làm thủ tục chuyển nhượng không vấn đề gì. Ngược lại, gặp phải người không trọng chữ tín thì dễ dàng bị đánh tháo và hứa hẹn trả lại số tiền trước kia đã nhận, kèm với lãi suất ngân hoặc vì nhiều lý do khác đã bán quyền mua cổ phần. Giá bán quyền mua thường thấp hơn thị trường phi tập trung Thực trạng và giải pháp đối với chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần Những hạn chế nghị định 01 trong chuyển nhượng cổ phần. Ngày 41, Thủ tướng đã ban hành Nghị định số 012010NĐCP về chào bán cổ phần riêng lẻ có hiệu lực từ ngày 2522010. Nghị định trên nêu rõ, hạn chế chuyển nhượng cổ phần phát hành riêng lẻ thời hạn 1 năm, các đợt chào bán phải cách nhau tối thiểu là 6 tháng. Đối tượng áp dụng của nghị định này là các công ty cổ phần, các doanh nghiệp chuyển đổi thành công ty cổ phần ngoại trừ các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần. Công ty cổ phần thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài không được chào bán cổ phần trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý chào bán cổ phần riêng lẻ gồm: Ngân hàng Nhà nước (trong trường hợp tổ chức chào bán là tổ chức tín dụng); Bộ Tài chính (doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần); Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (công ty cổ phần chứng khoán, công ty cổ phần quản lý quỹ, công ty đại chúng (trừ các công ty đại chúng là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tín dụng, bảo hiểm); sở kế hoạch và đầu tư, ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế (tổ chức chào bán là các công ty cổ phần còn lại) Các hạn chế của Nghị định 01: Đối chiếu quy định về hạn chế chuyển nhượng cổ phần trong trường hợp đã nêu tại Điều 8 của Nghị định số 012010NĐCP với quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005, nhận thấy rằng quy định này là không đúng so với Luật Doanh nghiệp năm 2005. Cụ thể: Luật Doanh nghiệp 2005 đã quy định rất rõ tại Điều 77 là “Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 81 và Khoản 5 Điều 84 của Luật này” (trích Mục d Khoản 1 Điều 77). Như vậy, sẽ chỉ có 2 trường hợp bị hạn chế chuyển nhượng cổ phần của cổ đông theo quy định tại Điều 81 của Luật Doanh nghiệp, đó là trường hợp cổ phần ưu đãi biểu quyết (Khoản 3) và cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập (Khoản 5), còn lại thì tất cả các cổ đông đều có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác hoặc cho người không phải là cổ đông của công ty. Trong khi đó, Nghị định số 012010NĐCP là một văn bản dưới Luật lại quy định thêm một trường hợp hạn chế chuyển nhượng cổ phần của cổ đông hiện hữu là số cổ phần được chào bán trong đợt phát hành và chào bán riêng lẻ. Mặt khác, hiện tại, Nghị định 01 yêu cầu doanh nghiệp chỉ được chào bán sau 15 ngày nếu không nhận được ý kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền kể từ ngày nộp hồ sơ hợp lệ và đầy đủ; các đợt chào bán phải cách nhau tối thiểu 6 tháng; doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng theo phương án đã được thông qua và đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền; tiền mua chứng khoán chuyển vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng cho đến khi hoàn tất việc chào bán. Như vậy, với các quy định nêu trên, Nghị định 01 đã can thiệp quá sâu vào hoạt động chào bán của doanh nghiệp. Không có cơ sở nào để hạn chế thời gian chuyển nhượng cổ phiếu phát hành riêng lẻ là 1 năm. Ưu điểm của việc góp vốn vào công ty cổ phần so với công ty trách nhiệm hữu hạn là nhà đầu tư có quyền tự do chuyển nhượng. Việc hạn chế chuyển nhượng chỉ có thể do bên mua tự nguyện và thỏa thuận với bên bán theo quy định dân sự. Thời hạn 6 tháng giữa hai đợt chào bán riêng lẻ sẽ hạn chế doanh nghiệp huy động vốn thực hiện các ý tưởng kinh doanh mới. Trong thời gian chờ đợi này, công ty cổ phần có thể phải vay vốn ngân hàng để thực hiện kế hoạch kinh doanh thay vì phát hành cổ phiếu để tăng vốn chủ sở hữu, một nguồn vốn có khả năng chia sẻ cơ hội cũng như những rủi ro trong kinh doanh. Việc chuyển tiền mua cổ phần chào bán riêng lẻ cũng là quyền thỏa thuận giữa bên mua và bên bán, không cần đến sự can thiệp của ngân hàng phong tỏa tài khoản trong thời gian hoàn tất phát hành. Giải pháp khắc phục Nghị định 01: Để khắc phục những hạn chế của Nghị định 01 hiện thời Ban soạn thảo Nghị định thay thế Nghị định 139 do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (Thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư) chủ trì cho biết, Nghị định mới quy định, “tất cả các Công ty cổ phần đều có quyền phát hành cổ phần riêng lẻ, không quy định điều kiện hạn chế chuyển nhượng trước và sau phát hành”. Nghị định mới thay thế Nghị định 139 hướng dẫn Công ty cổ phần được thực hiện việc chào bán riêng lẻ ngay sau khi đã thông báo với cơ quan có thẩm quyền là Phòng đăng ký kinh doanh và phải sử dụng số vốn phát hành đúng như phương án đã thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh. Về mặt thủ tục, Nghị định thay thế Nghị định 139 cũng đơn giản hóa thủ tục chào bán riêng lẻ. Công ty cổ phần chỉ cần thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh thay vì phải làm thủ tục đăng ký. Một trong những mục tiêu của Nghị định thay thế Nghị định 139 hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Doanh nghiệp là đơn giản hóa thủ tục chào bán riêng lẻ, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho Công ty cổ phần huy động vốn. Công ty cổ phần chỉ có trách nhiệm thông báo thông tin về đợt chào bán đến cơ quan có thẩm quyền theo dõi là Phòng đăng ký kinh doanh. Cơ quan quản lý có trách nhiệm theo dõi và giám sát hoạt động sử dụng vốn của doanh nghiệp để có phát hiện sai phạm trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng sai mục đích. Nghị định 01 ra đời với những điều kiện chặt chẽ về chào bán riêng lẻ đã ảnh hưởng phần nào đến hoạt động phát hành riêng lẻ của các doanh nghiệp, đặc biệt trong thời điểm doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn khá cao để tìm nguồn vốn thay thế nguồn vốn vay ngân hàng lãi suất cao. Nghị định thay thế Nghị định 139 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp sẽ có những điểm khác biệt về mặt pháp lý giữa hai văn bản quy phạm. Các chuyên gia cho rằng, theo quy định về hiệu lực văn bản pháp luật, hai vản bản cùng cấp có quy định khác nhau thì văn bản sau sẽ có quyền phủ định các quy định của văn bản ban hành trước. Như vậy hy vọng, nghị định mới sớm ban hành tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động chào bán riêng lẻ của Công ty cổ phần. Thuế Thu nhập cá nhân từ việc chuyển nhượng Chứng khoán. Theo điều 3 Nghị định 1002008NĐCP ngày 892008 của Chính phủ quy định thu nhập từ chuyển nhượng vốn bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán phải chịu điều chỉnh của Thuế thu nhập cá nhân. Theo đó, thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán là 20%thu nhập tính thuế cả năm chỉ áp dụng đối với trường hợp đối tượng nộp thuế đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn chứng từ, xác định thu nhập tính thuế quy định tại điều 16 Nghị định này và đăng ký thực hiện ổn định với cơ quan thuế từ tháng 12 năm trước. Tuy nhiên, kể từ khi dự luật Thuế thu nhập cá nhân được tổ chức lấy ý kiến công khai, thì việc thu thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán đã không nhận được sự ủng hộ của các nhà đầu tư tài chính. Lí do như sau: Thứ nhất, việc thu Thuế thu nhập cá nhân từ lợi nhuận của hoạt động chuyển nhượng vốn trong bối cảnh thị trường đang có nhiều biến động có thể sẽ gây nản lòng của các nhà đầu tư. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lan rộng, từ cuối 2007 kéo dài đến sang hai năm 2008, 2009, đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế ở Việt Nam. Trong suốt thời kỳ khủng hoảng của thị trưòng tài chính, Chính phủ đã triển khai nhiều giải pháp để kiềm chế lạm phát, vực dậy nền kinh tế trong nước, trong đó giải pháp về tài chính tiền tệ nói chung và giải pháp về thị trưòng chứng khoán nói riêng được đặt biệt quan tâm. Trong khi đó, Luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán lại ra đời trong bối cảnh thị trường tài chính nứớc ta đang rất bất ổn, lại có vẻ như đi ngược lại những giải pháp, chính sách nhằm cải thiện nền kinh tế. Năm 2009, Nhà nước đã triển khai mạnh mẽ chương trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, điều này đồng nghĩa với thị trường chứng khoán phải chịu thêm sức ép lớn về lượng cung, trong khi cầu chưa có khả năng phục hồi mạnh. Mặt khác, xét về tầm ảnh hưởng thì thị trường tài chính, trong đó có thị trường chứng khoán có tính lan toả cao nhất, sự suy thoái thị trường này chắc chắn có tầm ảnh hưởng rộng, mà theo đó việc thu Thuế thu nhập cá nhân trên hoạt động chuyển nhượng chứng khoán sẽ tác động không tốt đến sự phát triển của thị trường chứng khoán – tài chính, gây nản lòng các nhà đầu tư chứng khoán. Thứ hai, hai cách tính Thuế thu nhập cá nhân có thể gây lợi cho các nhà đầu tư vì ngay khi chuyển nhượng, nhà đầu tư chỉ được nộp thuế theo 1 phương pháp tính thuế duy nhất. Căn cứ vào điều 16, điều 17 của Nghị định 1002008NĐCP có 2 phương pháp nộp thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán: nộp theo thuế suất 20% trên thực lãi hoặc 0.1% trên giá chuyển nhượng�. Thuế suất 20% được áp dụng cho kỳ tính thuế theo năm, được bù trừ lỗ lãi giữa các lần chuyển nhượng, trường hợp bị lỗ thì sẽ được chuyển lỗ trong 5 năm tiếp theo. Trong năm, các công ty chứng khoán có trách nhiệm tạm khấu trừ thuế 0,1% trên giá chuyển nhượng, cuối năm cá nhân thực hiện kê khai, quyết toán cho thu nhập cả năm. Nếu cá nhân chọn nộp thuế theo phương pháp này thì đầu năm thực hiện đăng ký với cơ quan thuế. Thuế suất 0,1% được áp dụng trên giá trị từng lần chuyển nhượng chứng khoán. Nếu lựa chọn phương pháp này, cá nhân không cần đăng ký với cơ quan thuế. Công ty chứng khoán thực hiện khấu trừ và nộp thay tiền thuế của nhà đầu tư vào ngân sách nhà nước, đây cũng chính là số thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng chứng khoán của nhà đầu tư. Việc lựa chọn phương pháp kê khai, nộp thuế theo thuế suất toàn phần 20% sẽ thuận tiện cho các nhà đầu tư có danh mục đầu tư gồm nhiều cổ phiếu, giao dịch nhiều lần trong năm, vì chỉ phải tính toán lãi lỗ và quyết toán một lần cho toàn bộ các giao dịch trong cả năm. Ngược lại, đối với các cá nhân có số lần thực hiện chuyển nhượng cổ phần ít thì áp dụng phương pháp tính thuế ấn định 0.1% lại có lợi hơn. Mặc dù, theo Thông tư 842009TTBTC, trong mọi trường hợp chuyển nhượng chứng khoán, không phân biệt nộp thuế theo thuế suất ấn định 0,1% hay biểu thuế toàn phần với thuế suất 20%, công ty chứng khoán hoặc đơn vị phát hành chứng khoán đều phải khấu trừ thuế ấn định trước khi thanh toán cho người chuyển nhượng. Có nghĩa là, cá nhân chuyển nhượng chứng khoán, dù đã đăng ký nộp thuế theo biểu thuế toàn phần với thuế suất 20%, thì vẫn phải tạm bị khấu trừ 0,1% trên giá chuyển nhượng từng lần. Trường hợp năm đầu tư bị lỗ hoặc số thuế phải nộp lớn hơn phần kê khai tạm nộp theo mức ấn định 0,1% theo từng lần giao dịch trong suốt cả năm, thì nhà đầu tư có thể thực hiện các thủ tục xin hoàn số thuế đã nộp thừa trong năm. Theo dự án cải cách thủ tục hành chính trong công tác thuế, hồ sơ, thủ tục và thời gian kiểm tra hoàn thuế đang và sẽ được đơn giản hóa hơn rất nhiều, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nộp thuế được hoàn thuế. Đây là một điểm bất lợi cho các nhà đầu tư chứng khoán đăng kí biểu thuế 20% vì giả sử hợp đồng giao dịch của nhà đầu tư bán ra có giá trị thấp hơn giá trị khi mua vào (tức là khi nhà đầu tư bị lỗ) thì vẫn bị khấu trừ thuế 0,1% giá trị giao dịch và chỉ được quyết toán vào cuối năm để xin được hoàn thuế, điều này có nghĩa một phần vốn của họ đã bị giữ lại, thay vì có thể sử dụng để đầu tư vào các hạng mục khác. Xét trên tổng thể những quy phạm điều chỉnh của cả bộ Luật Thuế thu nhập cá nhân và xét trên mối tương quan giữa thuế thu nhập cá nhân với các sắc thuế khác thì việc không thu thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng chứng khoán sẽ gây ra những hậu quả khôn lường, cả tâm lý và thực tiễn. Thứ nhất, nếu chỉ vì khuyến khích sự phát triển của thị trường chứng khoán mà không thu Thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng chứng khoán sẽ gây nên một sự so sánh rằng: hoạt động đầu tư vốn có được miễn thuế thu nhập cá nhân không, bởi đây cũng là kênh huy động vốn hiệu quả của nền kinh tế. Thứ hai, hiện nay các doanh nghiệp có thu nhập từ đầu tư chứng khoán đang chịu thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế suất 25%, cao hơn nhiều so với mức thuế suất 20% tính trên thu nhập chịu thuế cả năm của cá nhân nhà đầu tư. Do đó, nếu dừng thu Thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng chứng khoán sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp đầu tư chứng khoán so bì, kiến nghị. Thứ ba, là xét về mặt xã hội, các nhà đầu tư chứng khoán là người có thu nhập cao, nên không thu thuế đối với đối tượng này thì sẽ là sự bất công đối với hàng triệu hộ kinh doanh nhỏ lẻ và hàng chục triệu người làm công ăn lương trong bối cảnh cuộc sống vô cùng khó khăn hiện nay. Cuối cùng, việc hoãn thu Thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng chứng khoán sẽ là một tiền lệ không tốt, ảnh hưởng lớn đến việc ban hành các sắc thuế mới trong tương lai. Do những điều kiện trên, Chính phủ đã thực hiện hoãn thu Thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán trong năm 2009, và bắt đầu áp dụng vào ngày 112010, khi nền kinh tế tài chính nước ta đã phần nào có dấu hiệu phục hồi. Chuyển nhượng chứng khoán thông qua môi giới tự do. Thực trạng của việc chuyển nhượng chứng khoán thông qua môi giới tự do Thực tế, ngoài thị trường còn xảy ra một hình thức chuyển nhượng cổ phần khá là phổ biến đối với cổ phần của các công ty chưa đủ điều kiện để niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán, đó chính là giao dịch chuyển nhượng qua các nhà môi giới tự do. Có một câu chuyện xảy ra như sau, vào một buổi chiều thứ sáu tại một công ty chứng khoán trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Theo lời kể của những nhân chứng có mặt tại công ty chứng khoán , một nhà đầu tư đã mua cổ phiếu OTC của ngân hàng Eximbank qua một nhà “cò” (môi giới tự do) vào cuối giờ chiều. sau khi trả tiền, nhà đầu tư cầm giấy biên nhận hồ sơ chuyển nhương cổ phiếu Eximbank kèm biên lai thu phí chuyển nhượng đến gặp nhân viên môi của công ty chứng khoán ở lầu trên đề nghị đóng dấu của công ty chứng khoán để xác nhận giao dịch. Tại đây, nhân viên công ty chứng khoán kiểm tra và phát hiện đó là giấy biên nhận giả. Nhà đầu tư quay xuống lầu tìm người bán thì người này đã lặn mất tăm. Giấy biên nhận được xác định là giả mạo chữ ký của thủ quỹ, giao dịch viên, kiểm soát và dấu mộc, phông chữ trên tờ giấy biên nhận giả cũng khác biệt với phông chữ của công ty chứng khoán trên sử dụng. Ngoài ra, giấy biên nhận giả còn thiếu một yếu tố quan trọng là dấu mộc tròn và mã số giao dịch ở phía dưới góc trái và những cái khác mà người giao dịch không phát hiện ra. Đây là một thực trạng vẫn thường xảy ra cho các nhà đầu tư đối với các giao dịch chuyển nhượng cổ phần thông qua các nhà môi giới tự do. Việc chuyển nhượng cổ phần thông qua các nhà môi giới tự do sẽ được tiến hành theo cách các cổ đông cũ làm giấy chuyển nhượng cho nhà môi giới tự do (“cò”) nhưng phần “người mua” để trống. Sau khi ký được hợp đồng với người bán, nhiệm vụ của các “cò cổ phiếu” là làm việc với công ty phát hành để công ty ký xác nhận vào hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, chấp nhận người mua là cổ đông mới của công ty (mặc dù chưa biết đích danh). Cổ phần tự do được chào bán theo giá tự đặt, nếu có người mua tương ứng, họ chỉ cần sang chuyển số cổ phần đó cho người mua kèm hợp đồng chuyển nhượng ghi tên nhà đầu tư vào chỗ để trống. Nhà đầu tư sau khi nhận được cổ phiếu phải đến nôp hồ sơ chuyển nhượng tại bộ phận quản lý sổ cổ đông của công ty cổ phần và thực hiện các thủ tục chuyển nhượng giống như thủ tục chuyển nhượng trực tiếp để được nhận sổ cổ đông của công ty mang tên mình. Hình thức giao dịch này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro và phụ thuộc rất lớn vào đạo đức của người môi giới. Vụ lừa đảo ở trên được thực hiên dựa vào hình thức giao dịch này. Giải pháp khắc phục thực trạng Như vậy, từ thực trạng trên cho thấy cần thiết phải có sự điều tiết của Pháp luật đối với hoạt động môi giới tự do, dự thảo Luật chứng khoán về môi giới tự do cần có những điều khoản quy định chặt chẽ hơn đối với các đối tượng này, tăng cường kiểm tra để đưa hoạt động môi giới tuân thủ theo quy định hiện hành. Mặt khác, các nhà đầu tư chứng khoán cần phải chú ý cẩn trọng đối với các giao dịch chuyển nhượng qua môi giới tự do. Chương IV KẾT LUẬN Qua quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài, em đã hệ thống tổng quan những quy định hiện hành về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần. Bên cạnh đó, em đã tìm hiểu và phân tích những thực trạng của các quy định,cách thức chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần trên thực tế ở Việt Nam hiện nay. Căn cứ vào đó, em đưa ra một số giải pháp để cải thiện những thực trạng đó. Tóm lại, chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần là một hình thức chuyển nhượng khá phức tạp với nhiều cách thức khác nhau. Và từ các vấn đề trên, ta có thể thấy rõ tầm quan trọng của Pháp luật trong nền kinh tế. Pháp luật có vai trò hướng dẫn và điều tiết nền kinh tế, do đó mà các hướng dẫn, quy định cần phải rõ ràng, cụ thế. Điều này không chỉ giúp cho người dân nói chung, các nhà đầu tư nói riêng có thề hiểu rõ, hiểu đúng Luật pháp. Tránh tình trạng những “hạt sạn” nhỏ lại gây ảnh hưởng lớn đến cả một nền kinh tế. Vì mục đích cuối cùng của Luật là hướng nền kinh tế đi lên trên con đường phát triển, chứ không phải kiềm hãm, gây khó khăn trở ngại cho các nhà đầu tư. Các nhà làm luật cần phải hướng dẫn rõ ràng, cụ thể, cũng như có những biện pháp nhằm hỗ trợ nhà đầu tư một cách tối ưu, mà trong đó công tác tuyên truyền, giải thích của các cơ quan quản lý cần phải đặt lên hàng đầu. Bởi có thấu hiểu đạo lý thì người dân mới đồng thuận và tự giác chấp hành. Mặt khác, các nhà đầu tư gồm cá nhân và tổ chức cũng cần phải nắm rõ Pháp luật cũng như các thông tin một cách chính xác, đầy đủ để tránh những hiểu lầm, hiểu sai có thể gây ra thiệt hại không đáng cho bản thân và để có một chiến lược đầu tư thành công. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình Luật kinh doanh của Luật sư – Tiến sĩ Trần Anh Tuấn và Luật sư – Thạc sĩ Lê Minh Nhựt. Luận Doanh nghiệp 2005 Nghị định số 012010NĐCP www.Thuvienluanvan.com.vn www.Tailieu.vn www.saga.vnLuatkinhdoanh.saga � Chào bán cổ phần riêng lẻ là việc chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụ
Xem thêm

38 Đọc thêm

7 TO TRINH DU KIEN PHAN PHOI LOI NHUAN 2014

7 TO TRINH DU KIEN PHAN PHOI LOI NHUAN 2014

hai trăm năm mươi tám nghìn, tám trăm chín mươi ba đồng).- Lợi nhuận năm 2012 là: - 16.053.338.766 đồng (Lỗ Mười sáu tỷ, không trăm nămmươi ba triệu, ba trăm ba mươi tám nghìn, bảy trăm sáu mươi sáu đồng).- Lợi nhuận năm 2013 là: - 20.883.695.517 đồng (Lỗ Hai mươi tỷ, tám trăm támmươi ba triệu, sáu trăm chín mươi năm nghìn, năm trăm mười bảy đồng).- Lợi nhuận năm 2014 là: 7.899.644.386 đồng (Lãi Bảy tỷ, tám trăm chín mươi chíntriệu, sáu trăm bốn mươi bốn nghìn, ba trăm tám mươi sáu đồng).Theo quy định Điều 93 chương IV Luật doanh nghiệp năm 20 05 về việc “trả cổtức”. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tại ngày 31/12/2014 âm (lỗ) thì Lợi nhuận củanăm 2014 không được chi trả cổ tức.Lợi nhận sau thuế chưa phân phối tại ngày 31/12/2014 còn (âm) như tr ên cho nênLợi nhuận của năm 2014 cũng không trích lập các quỹ.Do vậy toàn bộ lợi nhuận trước thuế năm 2014: 7.899.644.386 ( Lãi Bảy tỷ, támtrăm chín mươi chín triệu, sáu trăm bốn mươi bốn nghìn, ba trăm tám mươi sáu đồng) đểbù đắp lỗ của năm 2012.* Dự kiến phân phối lợi nhuận năm 2015 bù đắp hết lỗ luỹ kế và chi trả cổ tức là10% còn lại trích lập các quỹ.Trên đây là phương án dự kiến phân phối lợi nhuận của Công ty cổ phần khoángsản Bắc Kạn năm 2014. Trình Đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần khoán g sản BắcKạn cho ý kiến và biểu quyết thông qua.TM. HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊCHỦ TỊCHMai Văn Bản
Xem thêm

2 Đọc thêm

TÀI LIỆU ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG NĂM 2016 (BỔ SUNG) 2. QUY CHE DAI HOI

TÀI LIỆU ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG NĂM 2016 (BỔ SUNG) 2. QUY CHE DAI HOI

TỔNG CÔNG TY CÔNG NGHIỆPXI MĂNG VIỆT NAMCÔNG TY CP XI MĂNG BỈM SƠNDỰ THẢOCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúcQUY CHẾBIỂU QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ VÀ BẦU CỬTHÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ BAN KIỂM SOÁTTẠI ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG THƯỜNG NIÊN NĂM 2016Căn cứ Luật Doanh nghiệp;Căn cứ Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn,Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2016 của Công ty Cổ phần Xi măng BỉmSơn tiến hành bầu cử thành viên Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát nhiệm kỳ 2016 –2021 theo các nội dung sau đây:Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng1. Quy chế này bao gồm những quy định về biểu quyết các vấn đề và bầu cửthành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn (BCC)tại Đại hội cổ đông thường niên năm 2016.2. Quy chế này áp dụng đối với cổ đông sở hữu cổ phần, đại diện theo ủy quyềncủa cổ đông sử hữu cổ phần (sau đây gọi tắt là cổ đông) có quyền biểu quyết theo danhsách cổ đông Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn chốt danh sách đến ngày 25/02/2016.Điều 2. Nguyên tắc thực hiện1. Đảm bảo thực hiện theo các quy định của pháp luật, Điều lệ Công ty; đảm bảodân chủ, công bằng.2. Biểu quyết các vấn đề tại Đại hội được thực hiện theo hình thức lấy ý kiến trực
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

PHÂN TÍCH VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Đất nước bước vào giai đoạn đổi mới, nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện cũng là lúc nhiều vấn đề mới trong xã hội phát sinh và cần được giải quyết. Một công cụ quan trọng để Nhà nước tiến hành hoạt động quản lí, kiểm tra, giám sát của mình đối với xã hội chính là hệ thống những văn bản quy phạm pháp luật, nơi chứa đựng những quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung đối với mọi công dân. Để có một văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh và có hiệu lực trên thực tế thì phải trải qua rất nhiều giai đoạn trong đó không thể không kể đến hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là một giai đoạn nhỏ nằm trong giai đoạn soạn thảo văn bản pháp luật nhưng có những ý nghĩa vô cùng quan trọng. Để thấy rõ hơn vai trò, ý nghĩa của hoạt động đánh giá dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cũng như có cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động xây dựng văn bản pháp luật sau đây nhóm em xin lựa chọn đề tài số 2 làm bài tập nhóm của mình: “Phân tích vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật”. NỘI DUNG I. Một số vấn đề chung. 1. Khái niệm VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó chứa đựng các quy tắc xử sự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống. 2. Khái quát quy trình xây dựng VBQPPL Theo quy định của pháp luật hiện hành, quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phải trải qua những bước sau: a, Lập chương trình kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Chủ thể sáng kiến có thể là cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đại biểu Quốc hội, HĐND. Cơ sở đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản, các chủ thể đưa ra sáng kiến xây dựng văn bản pháp luật dựa vào 3 cơ sở sau: Cơ sở thực tiễn: là thực trạng đời sống kinh tếxã hội của đất nước, dựa vào đó các chủ thể tìm ra các nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên thực tiễn để đưa ra đề nghị. Cơ sở pháp lí: là những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Người đề xuất sáng kiến phải dựa trên cơ sở những điểm chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật để đưa ra sáng kiến Cơ sở chính trị: Người đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản dựa vào những chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng để thể chế hóa thành quy định của pháp luật đảm bảo sự tác động của pháp luật đúng định hướng của Đảng. Nội dung của chương trình kế hoạch xây dựng VB QPPL, gồm: Tên danh mục VBQP được ban hành; Cơ quan chủ trì soạn thảo; Dự kiến thời gian hoàn thành; Dự kiến nguồn kinh phí. b, Soạn thảo VB QPPL Trước tiên phải thành lập ban soạn thảo. Thành phần ban soạn thảo gồm trưởng ban là lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo và tổ biên tập gồm những người am hiểu về chuyên môn, nhà pháp lí, nhà pháp lí, nhà khoa học,… Nhiệm vụ của ban soạn thảo: Khảo sát và đánh giá tình hình thực tiễn có liên quan đến nội dung dự thảo để thu thập thông tin. Nghiên cứu những thông tin thực tiễn đã thu thập được; chủ trương, chính sách của Đảng để chế hóa cho phù hợp; quy định của pháp luật hiện hành để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp; Các tài liệu có liên quan. Sau đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp; Đánh giá dự báo tác động của văn bản; Xây dựng đề cương cho dự thảo văn bản từ sơ bộ đến chi tiết; Soạn thảo văn bản. c, Lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo Cơ quan thực hiện chính là cơ quan chủ trì soạn thảo,lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan Nhà nước có liên quan; cá nhân, tổ chức chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; Tổ chức xã hội, trong đó Mặt trận tổ quốc Việt Nam là bắt buộc. Cơ quan thực thực có thể lấy ý kiến bằng các phương thức như tổ chức các buổi tọa đàm, cuộc họp, hội thảo về chuyên môn; thông qua văn bản; Đăng tải trên Internet. Kết quả thu được sẽ đóng góp cho dự thảo, trên cơ sở đó cơ quan chủ trì sẽ tổng hợp ý kiến và chỉnh sửa dự thảo. d, Thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Thẩm tra, thẩm định dự thảo là việc cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước xem xét toàn diện dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy pháp pháp luật. e, Trình dự thảo VBQPPL Sau khi dự thảo đã được hoàn thiện, đã có báo cáo thẩm tra, thẩm định, ban soạn thảo phải có văn bản trình dư thảo, sau đó gửi hồ sơ dự thảo đến cơ quan ban hành để xem xét và thông qua dự thảo. Việc xem xét dự thảo VBQPPL có thể được tiến hành một hoặc nhiều lần, tùy thuộc vào tính chất và nội dung của từng dự thảo. f, Thông qua, kí, ban hành văn bản QPPL. VB QPPL đã được thông qua cần được ban hành bằng cách công bố rộng rãi với những hình thức khác nhau để nhân dân và những đối tượng có liên quan biết và thực hiện. Việc công bố văn banrQPPL là cơ chế hữu hiệu bảo đảm tính công khai, minh bạch của pháp luật, do đó cần được chú ý thực hiện trên thực tế. 3. Hoạt động đánh giá tác động của dự thảo Đây là một bước nằm trong quá trình soạn thảo VBQPPL đòi hỏi các nhà làm luật phải có được những nhận định, đánh giá ban đầu khi soạn dự thảo. Mặc dù, khi lập chương trình kế hoạch xây dựng VBQPPL các nhà làm luật đã phải dựa trên cơ sở thực tiễn để nghiên cứu, tuy nhiên khi đi vào cụ thể chi tiết các quy phạm lại phải được đánh giá kiểm tra lần nữa để đảm bảo sự hiệu quả, tính hợp pháp hợp lí của văn bản QPPL. II. Vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL. 1. Vai trò của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản qui phạm pháp luật. Thứ nhất, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL nhằm dự báo những tác động tích cực, tiêu cực của dự thảo văn bản. Việc dự báo những tác động tích cực hay tiêu cực của dự thảo văn bản là rất cần thiết bởi vì tùy vào từng thời điểm xã hội, tình hình kinh tế, giáo dục mà xem xét có nên hay không ban hành văn bản qui phạm pháp luật và khi nó ra đời thì có những mặt nào đáp ứng được, mặt nào còn có vướn mắc. Ví dụ như cần có hoạt động đánh giá tác động của dự thảo ban hành Luật Dân số để quy định về quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng dân số, phân bố dân số, lồng ghép dân số trong phát triển, biện pháp thực hiện công tác dân số và quản lý nhà nước về dân số. Qua đó, chúng ta xem xét trên thực tế có giải quyết được tình trạng mật độ tình trạng của dân cư trên các thành phố lớn hay không, hay chất lượng đời sống dân cư có được ổn định không.... Nếu không có hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản thì việc ban hành những văn bản không cần thiết sẽ dẫn đến sự lãng phí công sức, tiền bạc,... mà đôi khi những bất cập của xã hội thì chưa được giải quyết triệt để. Thứ hai, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL nhằm đưa ra những biện pháp khắc phục trước và sau khi ban hành. Không thể đòi hỏi một cách tuyệt đối đối với hiệu quả của VBQPPL, cho dù đã cố gắng hết sức để nghiên cứu, tìm ra những phương án tối ưu nhất song ít nhiều có những hạn chế nhất định là điều không thể tránh khỏi. Để văn bản quy phạm pháp luật ban hành có hiệu quả thì trước hết phải chú trọng tới việc dự liệu những phương án giải quyết các vấn đề trước và sau khi VBQPPL được ban hành. Trong đó có những vấn đề cần giải quyết, phương hướng giải quyết, cơ quan thực hiện, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan và các vấn đề khác như đội ngũ cán bộ, kinh phí thực hiện,… Việc hoạch định ra những dự liệu này không chỉ phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật mà còn phải dựa trên những nhu cầu khách quan và đòi hỏi của thực tế cuộc sống. Có như vậy, khi văn bản quy phạm pháp luật ra đời, văn bản quy phạm pháp luật mới đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, có tính khả thi và hiệu quả trong cuộc sống. Ngoài ra, đối với đề nghị, kiến nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, phải nêu lên được những tác động kinh tế xã hội, nội dung, chính sách cơ bản của văn bản,… Cùng với đó, phải xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc lập và thực hiện chương trình bằng cách quy định chặt chẽ hơn về trách nhiệm đối với các cơ quan tham gia xem xét dự kiến chương trình; với cơ quan đề nghị xây dựng văn bản thì cần phải có trách nhiệm giải trình và bảo vệ dự kiến chương trình do mình đề xuất. Thứ ba, đánh giá khả năng tác động của dự thảo VBQPPL là cơ sở để so sánh, đánh giá tác động của VBQPPL đối với xã hội trước và sau khi ban hành. Đây là yếu tố quan trọng mà các nhà làm luật phải cố gắng đạt được khi tiến hành soạn thảo VBQPPL bởi vì điều người dân quan tâm không phải là việc quá trình các nhà làm luật soạn thảo VBQPPL như thế nào, họ đã làm những gì để tạo nên một VBQPPL mà quan trọng đối với họ là việc sau khi VBQPPL ra đời nó đem lại những lợi ích gì cho xã hội, khắc phục được vẫn đề gì so với trước đó. Cụ thể, các nhà làm luật phải nhìn nhận, so sánh khả năng VBQPPL sẽ có những tác động tích cực hay tiêu cực gì đến những mặt cụ thể nào. II. Ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản qui phạm pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật có vai trò, tác động vô cùng to lớn trong đời sống xã hội, thường được ban hành và sử dụng trong một thời gian khá dài nên cần tiến hành đánh giá tác động của nó thật khoa học và chính xác. Hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL có ý nghĩa trong việc hoàn thiện VBQPPL trước khi ban hành. Bởi như đã nói, VBQPPL là loại văn bản được sử dụng trong một thời gian dài, đối tượng điều chỉnh là các quan hệ thuộc nhiều lĩnh vực trong xã hội. Vì vậy, việc đưa ra một VBQPPL hoàn chỉnh cần rất nhiều thời gian và công đoạn. Việc đánh giá tác động của dự thảo văn bản trước khi văn bản đó được ban hành sẽ hạn chế những sai sót, hạn chế của văn bản. Ngoài ra, hoạt động đánh giá tác động của dự thảo VBQPPL còn nâng cao tính chủ động, bảo đảm tính kỷ luật trong công tác xây dựng văn bản pháp luật, đòi hỏi các cơ quan ban hành văn bản pháp luật có trách nhiệm hơn, nghiêm túc hơn trong hoạt động xây dựng văn bản pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của văn bản sau khi được ban hành đưa vào thực tiễn sử dụng. Việc xây dựng, soạn thảo và ban hành một văn bản pháp luật cần rất nhiều thời gian và công sức, ảnh hưởng đến nhiều hoạt động trong xã hội. Vì vậy, một dự thảo văn bản có tính khoa học và chính xác càng cao sẽ hạn chế tối đa được việc sửa đổi, hủy bỏ sau khi ban hành. Việc này sẽ có ý nghĩa trong việc tiết kiệm thời gian và chi phí trong công tác xây dựng và ban hành văn bản qu Trong quá trình soạn thảo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là cơ quan nhà nước ban hành ra nó theo dõi và đánh giá những kết quả đạt được đối với quá trình thực hiện văn bản quy phạm pháp luật. Đánh giá tác động của dự thảo là hoạt động nhằm đưa ra những mặt lợi, mặt hại của dự thảo khi được áp dựng trên thực tế. Việc đánh giá tác động của dự thảo giúp cơ quan nhà nước có được cái nhìn đúng đắn, đầy đủ, khách quan về hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước. Mặt khác, các cơ quan có thể phát hiện ra những điểm chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không phù hợp trong các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến văn bản quy ph ạm đang được theo dõi, đánh giá. Thông qua đó, cơ quan nhà nước có thể lập được những chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới với những nội dung phù hợp thực tiễn và đáp ứng được đòi hỏi của xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. KẾT LUẬN Trên đây là phần phân tích về vai trò và ý nghĩa của hoạt động đánh giá tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Từ đó có thể thấy tầm quan trọng không thể thiếu của hoạt động này đối với việc xây dựng và hoàn thiện một văn bản quy phạm pháp luật phù hợp, có hiệu quả khi thực thi trên thực tế. Các cơ quan có thẩm quyền nên tiến hành hoạt động này một cách cẩn trọng, tỉ mỉ và trách nhiệm để tránh tình trạng chưa đánh giá đúng cũng như những điểm thiếu xót trong văn bản quy phạm pháp luật để phục vụ tốt hoạt động quản lí nhà nước.
Xem thêm

7 Đọc thêm

PHÂN TÍCH CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ VIỆC KÍ KẾT THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ

PHÂN TÍCH CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ VIỆC KÍ KẾT THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ

Nêu và phân tích các quy định hiện hành về việc kí kết thỏa ước lao động tập thể Bài tập cá nhân môn Luật Lao Động Chuyên mục Bài tập cá nhân, Luật Lao động Trong quan hệ lao động, NLĐ luôn ở vị trí yếu thế hơn so với NSDLĐ. Chính sự bất bình đẳng và sự bóc lột sức lao động đến mức nào đó sẽ khiến cho những NLĐ liên kết lại với nhau và cùng nhau đình công chống lại NSDLĐ. Điều đó sẽ khiến cho quan hệ lao động có nguy cơ bị phá vỡ và làm ảnh hưởng tới NSDLĐ và NLĐ. Trong tình trạng đó NLĐ và NSDLĐ đều nhận thấy cần phải có sự thỏa thuận chung về những vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động. Những thỏa thuận chung đó chính là thảo ước lao động tập thể. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này em xin lựa chọn đề tài: “Nêu và phân tích các quy định hiện hành về việc kí kết thỏa ước lao động tập thể” NỘI DUNG 1. Khái niệm thỏa ước lao động tập thể Theo khoản 1 Điều 44 BLLĐ định nghĩa thỏa ước lao động như sau: “ Thỏa ước lao động tập thể (sau đây gọi tắt là thỏa ước tập thể) là văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động.” 2. Quy định hiện hành về việc kí kết thỏa ước lao động tập thể 2.1. Phạm vi kí kết thỏa ước Căn cứ theo khoản 1 Điều 1 Nghị định số 932002NĐCP ngày 11112002 của chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 196CP ngày 31121994 của chính phủ quy định đối tượng và phạm vi áp dụng thỏa ước lao động tập thể là các doanh nghiệp, tổ chức có tổ chức công đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời. Mặt khác, khoản 2 Điều 1 Nghị định 196 – CP ngày 31121994 quy định đối tượng và phạm vi không áp dụng thỏa ước lao động tập thể đó là: “Công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp nhà nước; Những người làm việc trong các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội; Những người làm việc trong các doanh nghiệp đặc thù của Lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân.” Như vậy, pháp luật nước ta đã quy định rõ ràng về phạm vi áp dụng thỏa ước lao động tập thể cũng như những đối tượng và phạm vi không được áp dụng thỏa ước lao động tập thể. Theo đó thì thỏa ước lao động tập thể chủ yếu được kí kết ở những đơn vị mà hoạt động của nó theo cơ chế hạch toán, lấy thu bù chi, tự trang trải, quyền và nghĩa vụ do các bên tự thương lượng, thỏa thuận. Còn đối với những đơn vị mà ở đó quyền và nghĩa vụ NLĐ được pháp luật quy định cụ thể, tiền lương NLĐ do nhà nước chi trả thì không được áp dụng thỏa ước lao động. Việc quy định như trên đã chứng tỏ pháp luật lao động đã hướng tới việc bảo vệ NLĐ tại các đơn vị sử dụng lao động mà ở đó quyền và nghĩa vụ phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên. 2.2. Chủ thể tham gia thương lượng và kí kết thỏa ước 2.2.1. Chủ thể tham gia thương lượng thỏa ước Căn cứ theo khoản 1 Điều 45 BLLĐ quy định về đại diện thương lượng thỏa ước tập thể của hai bên gồm: “Đại diện thương lượng thoả ước tập thể của hai bên gồm:a) Bên tập thể lao động là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc tổ chức công đoàn lâm thời; b) Bên người sử dụng lao động là Giám đốc doanh nghiệp hoặc người được uỷ quyền theo điều lệ tổ chức doanh nghiệp hoặc có giấy uỷ quyền của Giám đốc doanh nghiệp. Số lượng đại diện thương lượng thoả ước tập thể của các bên do hai bên thoả thuận nhưng phải ngang nhau.” Trong toàn bộ quá trình kí kết thỏa ước, giai đoạn thương lượng thỏa ước là giai đoạn rất quan trọng., Những thỏa thuận. cam kết thỏa ước trong thỏa ước có phù hợp với thực tế hay không, có lợi cho NLĐ hay không phụ thuộc vào giai đoạn này nên pháp luật đã quy định phải có nhiều người tham gia và số lượng ngang nhau là hoàn toàn hợp lí. Tuy nhiên để việc đàm phán tiến hành thuận lợi và nhanh chóng thì phải pháp luật đã quy định cụ thể các đại diện của NLĐ và NSDLĐ. Pháp luật quy định như vậy bởi lẽ các chủ thể khi tham gia đàm phán cần hiểu biết pháp luật, hiểu biết các hoạt động kinh doanh và có thiện chí với nhau thì việc đàm phán sẽ đạt kết quả tốt. Những chủ thể này phải có trách nhiệm đàm phán để làm sao đạt được những thỏa thuận có lợi về phía mình đại diện đồng thời cũng phù hợp với lợi ích của bên kia. Ngược lại thì chẳng những việc thương lượng không thành mà còn dẫn tới bất đồng và tranh chấp trong quan hệ lao động. 2.2.2. Chủ thể kí kết thỏa ước Theo khoản 2, Điều 45 BLLĐ quy định: “Đại diện ký kết của bên tập thể lao động là Chủ tịch Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc người có giấy uỷ quyền của Ban chấp hành công đoàn. Đại diện ký kết của bên người sử dụng lao động là Giám đốc doanh nghiệp hoặc người có giấy uỷ quyền của Giám đốc doanh nghiệp. ” Việc kí kết thỏa ước là kết quả của quá trình thương lượng, nó mang ý nghĩa là sự cam kết về những nội dung mà các bên đã thỏa thuận do vậy thủ tục này chỉ cần mỗi bên cử một người đại diện. Mà theo bên đại diện của NLĐ là chủ tịch Ban chấp hành công đoàn cơ sở vì đó là người chịu trách nhiệm chính về hoạt động của công đoàn trong việc đại diện cho ý chí của tập thể lao động. Mặt khác, giám đốc doanh nghiệp là đại diện bên NSDLĐ vì đó là người chịu trách nhiệm trực tiếp về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 2.3 Nguyên tắc kí kết thỏa ước lao động tập thể Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, công khai Khoản 1, Điều 44 BLLĐ quy định: “Thoả ước tập thể do đại diện của tập thể lao động và người sử dụng lao động thương lượng và ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và công khai.” Nguyên tắc đầu tiên mà pháp luật quy định là nguyên tắc tự nguyện. Bởi lẽ thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể người lao động với NSDLĐ về các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động nên việc kí kết thỏa ước lao động tập thể phải dựa trên cơ sở tự nguyện là đương nhiên. Mặt khác, sự tự nguyện ở đây được biểu hiện ở việc các bên hoàn toàn có ý thức tự giác, tự nguyện trong việc kí kết thỏa ước có quyền quyết định có hoặc không. Cùng với yếu tố tự nguyện, việc kí kết thỏa ước còn phải dựa trên cơ sở bình đẳng. Bởi lẽ trong việc kí kết thỏa ước cần có sự bình đẳng về địa vị pháp lí và tư cách chủ thể của 2 bên khi tham gia quan hệ. Các bên đều được đưa ra ý kiến và ý kiến của hai bên đều được coi trọng ngang nhau, không được lấy thế mạnh về kinh tế hay số đông để gây áp lực buộc bên còn lại chấp nhận. Ngoài ra cân đảm bảo yếu tố công khai. Bởi lẽ những cam kết đều ảnh hưởng quyết định đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của NLĐ. Hơn thế nữa họ phải được biết cũng như phải được thể hiện ý kiến, quan điểm của mình về những nội dung của thỏa ước. 3 Nội dung của thỏa ước lao động phải phù hợp với pháp luật lao động Khoản 2, Điều 44 BLLĐ quy định: “Nội dung thoả ước tập thể không được trái với các quy định của pháp luật lao động và pháp luật khác. ” Pháp luật đã quy định hai bên phải tuân thủ các quy định của pháp luật bởi nếu thỏa thuận trong thỏa ước trái với quy định của pháp luật thì thỏa ước đó sẽ bị vô hiệu và gây ra nhiều tranh chấp. Pháp luật quy định như vậy để bảo vệ quyền lợi của NLĐ và NSDLĐ khi thỏa thuận theo hướng bất lợi cho họ. 4. Quá trình thương lượng kí kết thỏa ước Việc thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể theo Điều 45 và Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Lao động được tiến hành theo thủ tục được quy định tại Điều 3 Nghị định của chính phủ số 196 – CP ngày 31121994, trình tự kí kết thỏa ước cơ bản được tiến hành theo các bước sau: Bước 1: Đề xuất yêu cầu kí kết thỏa ước Bước 2: Đàm phán các nội dung của thỏa ước Bước 3: Tổ chức lấy ý kiến của tập thể lao động về nội dung của thỏa ước Bước 4: Kí kết thỏa ước KẾT LUẬN Trên đây là các quy định hiện hành về việc kí kết thỏa ước lao động tập thể. Để kí kết thỏa ước lao động đạt hiệu quả cao thì cần tuân thủ những quy định của pháp luật đề ra về các vấn đề như: phạm vi kí kết thỏa ước, chủ thể tham gia thương lượng và kí kết, nguyên tắc kí kết thỏa ước và quy trình thương lượng kí kết thỏa ước.
Xem thêm

6 Đọc thêm

ĐIỀU LỆ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2015 ĐẦY ĐỦ

ĐIỀU LỆ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2015 ĐẦY ĐỦ

Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ; thôngqua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị lớn hơn35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất củacông ty, trừ hợp đồng và giao dịch quy định tại khoản 2 Điều 39 của Điềulệ này;h.Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị; bổ nhiệm, miễnnhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc,Phó Giám đốc và Kế toán trưởng; quyết định mức lương và lợi ích kháccủa những người quản lý đó; cử người đại diện theo uỷ quyền thực hiệnquyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp ở công ty khác, quyết định mứcthù lao và lợi ích khác của những người đó;i.Giám sát, chỉ đạo Giám đốc và người quản lý khác trong điều hành côngviệc kinh doanh hàng ngày của công ty;j.Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty, quyết địnhthành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn,mua cổ phần của doanh nghiệp khác;k.Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp Đại hội đồng cổ đông,triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến để Đại hội đồng cổ
Xem thêm

51 Đọc thêm

BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN NĂM 2012 - CÔNG TY CỔ PHẦN GIAO NHẬN VẬN TẢI NGOẠI THƯƠNG

BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN NĂM 2012 - CÔNG TY CỔ PHẦN GIAO NHẬN VẬN TẢI NGOẠI THƯƠNG

kinh doanh được Đại hội cổ đông thường niên giao. Cụ thể Lợi nhuận sau thuế năm2012 đạt 34.20 tỷ vượt 36.84% ĐHCĐ giao 25 tỷ.Lợi nhuận sau thuế năm 2012 đạt 27.18 tỷ tăng trưởng 22.49% so với năm 2011.2. Đánh giá của Hội đồng quản trị về hoạt động của Ban Giám đốc công tyHĐQT đánh giá cao sự nỗ lực của Ban Giám đốc công ty trong điều hành hoạt động kinhdoanh. Năm 2012, Ban giám đốc đã tuân thủ đúng định hướng của HĐQT đề ra, thể hiệntrách nhiệm cao, năng động và đoàn kết vượt qua những khó khăn, tận dụng hiệu quảnhững thuận lợi và các nguồn lực để thực hiện thành công các chỉ tiêu kinh tế, cụ thể nhưsau:- Hoàn thành vượt mức chỉ tiêu về doanh thu- lợi nhuận do ĐHCĐ lần thứ 9 đề ra- Hoàn thành việc đầu tư dự án kho bãi tại Hải phòng3. Các kế hoạch, định hướng của Hội đồng quản trị:- Tăng cường hơn nữa việc hoạch định chiến lược và đưa ra các quyết định, các chỉ đạosát sao, kịp thời mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả đầu tư cao và sự phát triển bềnvững cho Công ty- .Đẩy mạnh hơn nữa công tác giám sát hoạt động của Ban Giám đốc và các cán bộ quảnlý khác nhằm đảm bảo hoạt động của Công ty được an toàn, tuân thủ theo đúng phápluật, triển khai thực hiện đúng các Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồngquản trị.V.QUẢN TRỊ CÔNG TY1. Hội đồng quản trịa) Thành viên và cơ cấu của Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị là cơ quanquản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định và thực hiện cácquyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.Thành viên Hội đồng quản trị bao gồm:16
Xem thêm

27 Đọc thêm

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG NGÀY 06 05 2011 CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 25

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG NGÀY 06 05 2011 CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 25

3. Phơng án tăng vốn điều lệ , phơng án sử dụng vốn thu đợc tù đợt phát hành tăng vốn,niêm yết bổ xung cổ phiếuDo ông : Nguyễn Xuân NamKế toán trởng công ty Trình bày4. Quyết toán tiền lơng, thù lao Hội đồng quản trị và ban kiểm soát công ty năm 2009và phơng án chi trả tiền tiền lơng, thù lao Hội đồng quản trị và ban kiểm soát công tynăm 2010Do ông : Đỗ Gia Ngân Tổng giám đốc công ty Trình bày5. Báo cáo hoạt động giám sát của ban kiểm soát công ty, đề xuất lựa chọ công ty kiểmtoán năm tài chính 2010Do ông : Khơng Hữu Thành Trởng ban kiểm soát Trình bày6. Thông qua sửa đổi điều lệ hoạt động của công ty CP Sông Đà 25, báo cáo nhân sựQuản lý công ty năm 2010Do ông : Trần Văn Công Trình bàyII Phần thảo luận : ý kiến của cổ đông Ông Nguyễn Xuân namXin ý kiến ại hội đồng cổ đông về việc uỷ quyền cho Hội đồng quản trị công ty cácvấn đề liên quân đến tăng vốn điều lệ và niêm yết bổ xung niêm yết cổ phiếu phát hànhthêm nh sau.- Lựa chon thời điểm phát hành sao cho có lợi ích cao nhất cho công ty và nhà đầu t- Quyết định phơng án sử lý số cổ phần mà các đối tợng đợc quyền mua trong đợt pháthành không mua hết và số lợng cổ phiếu lẻ phát sinh (nếu có) trong đợt phát hành vớigiá bán không thấp hơn 11.000 đồng /01 cổ phần- Quyết định tiêu chí lựa chon danh sách cụ thể và thời hạn cho phép chuyển nhợng(Phù hợp với qui định của pháp luật ) đối với CBCNV ngời lao động trong công ty,HĐQT, BKS đợc quyền mua cổ phiếu trong đợt phát hành nêu trên.- Quyết định nguyên tắc làm tròn số cổ phần phát hành thêm.- Làm các thủ tục niêm yết bổ xung số cổ phần phát hành thêm từ các đợt phát hành tạiSở giao dịch chứng khoán Hà Nội.
Xem thêm

22 Đọc thêm

HỒI KÝ KHRUSEV - KHRUSEV

HỒI KÝ KHRUSEV - KHRUSEV

trị? Anh ta nói điều này rất chân thật, nhưng luống cuống. Stalin khích lệ:- Kể đi, kể đi! - nhưng giọng bình tĩnh và thân ái. Bỗng nhiên, Stalin nói - Nào thôi, người này đángtin và là nạn nhân chẳng bọn du đãng của ăn cướp... Chẳng có chuyện gì nữa đâu phải không?- Không có gì cả.- Hãy xem vấn đề là không có. Trong tương lai, cần thận trọng hơn.HỒI KÝ KHRUSEVKhrusevTôi rất thích lối phân tích như thế.Sau đó tuyên bố nghỉ. Lúc đó Bộ chính trị bàn lâu, một hoặc hai giờ hoặc hơn, rồi nghỉ, mọi ngườikéo sang phòng khác có bàn ghế và uống trà, ăn bánh kẹp thịt. Hồi đó là thời kỳ đói kém ngay cả đốivới những người như tôi, có vị trí tương đối cao, cũng sống tềnh toàng thậm chí không phải lúc nàocũng có thể ăn uống thoả thê ở nhà. Vì thế, có dịp vào Kreml, ăn cho no bánh mỳ kẹp xúc xích hoặcgiăm bông, uống trà đường và tận dụng tất cả phúc lợi, được ưu đãi bằng những món ăn của nhà bếpcao lương mỹ vị. Thế là, khi tuyên bố nghỉ, mọi người chạy vào chỗ “phàm ăn” - như chúng tôithường gọi đùa nó - còn anh ta, người đáng thương, tiếp tục ngồi hình như rất sợ hãi bởi tai bay vạgió đối với anh ta, nếu ai đó không nói phiên họp đã kết thúc, có lẽ anh ta ngồi như chôn chặt ở đấy.Tôi rất thích tình người và mộc mạc Stalin, quan điểm của ông về tình người. Có lẽ con người cũngtuyệt vọng, bị mang ra mổ xẻ vụ việc. Tôi nghĩ rằng, có thể tin tình báo nào đó đã đến tai Stalin, sauđó chính Stalin đặt vấn đề này ra Bộ chính trị để tỏ ra rằng ông cũng giải quyết vấn đề như thế.Thêm một chuyện. Có lẽ, vào năm 1932 hoặc 1933. Lúc đó trong xã hội nảy ra một phong trào, nhưchúng tôi khi đó gọi, những người xuất sắc. Những người trượt tuyết, những công nhân Nhà máy sảnxuất đồ điện Moskva, là nhà máy tiên tiến tại thủ đô lúc ấy, quyết định thực hiện cuộc trượt tuyết từMoskva đến Sibiri hoặc Viễn đông. Họ đã thực hiện thành công, quay về và được đề nghị tặngthưởng. Họ được thưởng một cái huy hiệu gì đó thậm chí cả huân chương. Tất nhiên, quanh chuyệnnày cũng nhiều tiếng xì xào. Sau đó những người Turkmen quyết định cưỡi ngựa từ Askhabat đếnMoskva và cũng hoàn thành chuyến đi của mình. Người ta cũng vinh danh họ, tặng quà và lại
Xem thêm

391 Đọc thêm

THÔNG TƯ 09/2016/TT-NHNN QUY ĐỊNH VỀ NGÂN HÀNG HỢP TÁC XÃ DO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC BAN HÀNH

THÔNG TƯ 09/2016/TT-NHNN QUY ĐỊNH VỀ NGÂN HÀNG HỢP TÁC XÃ DO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC BAN HÀNH

1. Điều 41 được sửa đổi, bổ sung như sau:“Điều 41. Hoạt động đối với các quỹ tín dụng nhân dân thành viên1. Nhận tiền gửi điều hòa vốn, cho vay điều hòa vốn đối với các quỹ tín dụng nhân dânthành viên theo Quy chế điều hòa vốn.Việc xây dựng và nội dung của Quy chế điều hòa vốn phải đảm bảo các nguyên tắc sau:a) Quỹ tín dụng nhân dân thành viên gửi tiền (không kỳ hạn, có kỳ hạn) tại ngân hànghợp tác xã để điều hòa vốn. Trường hợp rút tiền trước hạn, quỹ tín dụng nhân dân thôngbáo trước cho ngân hàng hợp tác xã;b) Quỹ tín dụng nhân dân thành viên được ngân hàng hợp tác xã cho vay điều hòa vốnkhi có nhu cầu về vốn để mở rộng tín dụng;5. Hỗ trợ các quỹ tín dụng nhân dân trong việc thực hiện kiểm toán nội bộ khi các quỹ tíndụng nhân dân yêu cầu.6. Có ý kiến tham gia bằng văn bản đối với danh sách nhân sự dự kiến bầu, bổ nhiệm làmChủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quản trị, Trưởng ban và các thành viênkhác của Ban kiểm soát, Giám đốc quỹ tín dụng nhân dân thành viên khi được Ngân hàngNhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương yêu cầu.7. Thực hiện trách nhiệm khác theo quy định của Điều lệ và pháp luật”.4. Khoản 3 Điều 46 được sửa đổi, bổ sung như sau:“3. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện công tác thanh tra, giám sáthoạt động của ngân hàng hợp tác xã; tiếp nhận và yêu cầu ngân hàng hợp tác xã sửa đổi,bổ sung Quy chế điều hòa vốn theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Thông tư này cho phùhợp với quy định của pháp luật nếu thấy cần thiết” .Điều 2. Hiệu lực thi hành1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/8/2016.2. Chánh Văn phòng, Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng, Thủ trưởng các đơn vị thuộcNgân hàng Nhà nước, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc ngân hàng hợp tác xã chịutrách nhiệm tổ chức thi hành Thông tư này.
Xem thêm

2 Đọc thêm

NGHỊ QUYẾT HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN CÁP NHỰA VĨNH KHÁNH

NGHỊ QUYẾT HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN CÁP NHỰA VĨNH KHÁNH

nhất là 30 ngày kể từ khi hoàn hành đợt chào bán nhằm đảm bảo đúng yêu cầu về niêm yết cổphiếu đã chào bán ra công chúng.Thời gian thực hiện dự kiến: Dự kiến Quý 2/2016 – Quý 3/2016 sau khi được Ủy ban Chứngkhoán Nhà nước (“UBCKNN”) cấp Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúngtheo quy định.Tỷ lệ chào bán thành công tối thiểu: 0%Phương án huy động vốn trong trường hợp cổ phiếu không chào bán hết theo dự kiến:Trong trường hợp cổ phần không phân phối hết theo dự kiến và số lượng vốn huy động khôngđạt đủ như dự kiến, Hội đồng quản trị sẽ cân nhắc điều chỉnh tiến độ triển khai dự án và huyđộng các nguồn vốn vay ngân hàng để bù đắp.Điều 2: Thông qua Phương án sử dụng vốn của đợt phát hành:Tổng số tiền thu được dự kiến cho đợt phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu này là84.000.000.000 đồng sẽ được dùng để thực hiện cho các mục đích sau:Thời điểm giải Tổng mức đầuSTTNhu cầu sử dụng vốnngân (dự kiến)tư (đồng)IXây dựng Kho lưu trữ vỏ xeQuý 3/20169.000.000.000IICải tạo, sửa chữa Xưởng Cáp và Xưởng NhựaQuý 3/201622.500.000.000IIIBổ sung vốn lưu động, trong đó:52.500.000.000
Xem thêm

12 Đọc thêm

ĐỀ THI CÔNG CHỨC NGÀNH TƯ PHÁP TRẮC NGHIỆM VÀ TỰ LUẬN_2016

ĐỀ THI CÔNG CHỨC NGÀNH TƯ PHÁP TRẮC NGHIỆM VÀ TỰ LUẬN_2016

D) Thành lập Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở Trung ương,tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.Câu 6. Luật Phổ biến giáo dục pháp luật năm 2012 quy định Ngày Pháp luậtnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là:A) Ngày 11 tháng 09 hằng năm.B) Ngày 09 tháng 11 hằng năm.C) Ngày 09 tháng 01 hằng năm.D) Ngày 01 tháng 9 hằng năm.Câu 7. Luật Phổ biến giáo dục pháp luật năm 2012 quy định trách nhiệmcủa gia đình trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật như sau:A) Các thành viên trong gia đình có trách nhiệm gương mẫu chấp hành phápluật; ông, bà, cha, mẹ có trách nhiệm giáo dục và tạo điều kiện cho con, cháu tìmhiểu, học tập pháp luật, rèn luyện ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật.B) Các thành viên trong gia đình có trách nhiệm gương mẫu chấp hành phápluật.C) Các thành viên trong gia đình nhất là ông, bà, cha, mẹ có trách nhiệm gươngmẫu chấp hành pháp luật;D) Không quy định trách nhiệm của gia đình trong công tác phổ biến, giáo dụcpháp luật.Câu 8. Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện do cơ quannào dưới đây trình:A) Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện.B) Ủy ban nhân dân cấp huyện.C) Phòng Tư pháp.D) Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân cấp huyện.Câu 9. Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện được thôngqua khi:A) Hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện biểu quyết tánthành.B) Ba phần tư tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện biểu quyết tán
Xem thêm

164 Đọc thêm

BỘ ĐỀ THI VIẾT VÀ TRẮC NGHIỆM NGHIỆP VỤ CHUYÊN NGÀNH TƯ PHÁP NĂM 2016

BỘ ĐỀ THI VIẾT VÀ TRẮC NGHIỆM NGHIỆP VỤ CHUYÊN NGÀNH TƯ PHÁP NĂM 2016

tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.Câu 6. Luật Phổ biến giáo dục pháp luật năm 2012 quy định Ngày Pháp luậtnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là:A) Ngày 11 tháng 09 hằng năm.B) Ngày 09 tháng 11 hằng năm.C) Ngày 09 tháng 01 hằng năm.D) Ngày 01 tháng 9 hằng năm.Câu 7. Luật Phổ biến giáo dục pháp luật năm 2012 quy định trách nhiệmcủa gia đình trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật như sau:A) Các thành viên trong gia đình có trách nhiệm gương mẫu chấp hành phápluật; ông, bà, cha, mẹ có trách nhiệm giáo dục và tạo điều kiện cho con, cháutìmhiểu, học tập pháp luật, rèn luyện ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật.B) Các thành viên trong gia đình có trách nhiệm gương mẫu chấp hành phápluật.C) Các thành viên trong gia đình nhất là ông, bà, cha, mẹ có trách nhiệm gươngmẫu chấp hành pháp luật;D) Không quy định trách nhiệm của gia đình trong công tác phổ biến, giáo dụcpháp luật.Câu 8. Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện do cơ quannào dưới đây trình:A) Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện.B) Ủy ban nhân dân cấp huyện.C) Phòng Tư pháp.D) Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân cấp huyện.Câu 9. Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện được thôngqua khi:A) Hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện biểu quyết tán
Xem thêm

29 Đọc thêm

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG THƯỜNG NIÊN - CÔNG TY CỔ PHẦN BẾN XE NGHỆ AN

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG THƯỜNG NIÊN - CÔNG TY CỔ PHẦN BẾN XE NGHỆ AN

12. Thông qua chủ trương nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch dự án bến xe Bắc Vinh và dự ánbến xe Nam Vinh. Đề nghị HĐQT nghiên cứu, lập phương án điều chỉnh quy hoạch đảmbảo nguyên tắc phù hợp với nguồn lực của công ty và hiệu quả. Trình ĐHĐCĐ xem xét,quyết định.* Tỷ lệ tán thành: 100%13. Thông qua chủ trương nghiên cứu dự án đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại và kháchsạn Bông Sen tại khu đất số 77, đường Lê Lợi, TP Vinh. Giao HĐQT công ty xem xét vềquy mô dự án, thuê đơn vị tư vấn có đủ năng lực lập phương án đầu tư, đảm bảo hiệu quảcủa dự án. Trình ĐHĐCĐ xem xét, quyết định.* Tỷ lệ tán thành: 100%14. Tổ chức thực hiện- Nghị quyết này đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua và được sự nhất trí 100% của cáccổ đông tham dự và ủy quyền tham dự hội nghị. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 22/06/2013.- Hội đồng quản trị và Ban điều hành công ty có nhiệm vụ triển khai thực hiện các nội dungcủa Nghị quyết này và báo cáo cho Đại hội đồng cổ đông trong kỳ đại hội gần nhất./.Nơi nhận:- SCIC;- Chủ tịch HĐQT;- BKS- BGĐ; P.TCKT;- Lưu VT.TM. ĐOÀN CHỦ TỌAChủ tọa(Đã ký)Vũ Phi Hổ
Xem thêm

3 Đọc thêm

Phân tích các quy định pháp luật về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần

Phân tích các quy định pháp luật về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần

thông qua việc phân tích, bài viết dưới đây nhằm làm rõ quy định của pháp luật về vấn đề chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần. Công ty cổ phần là một hình thức công ty đối vốn điển hình. Các chủ sở hữu của công ty nắm giữ trong tay một phần vốn điều lệ của công ty và được gọi là những cổ đông. Các cổ đông này có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác ngoài một số trường hợp pháp luật qui định cấm hoặc hạn chế chuyển nhượng cổ phần.
Xem thêm

Đọc thêm

Bài tập nhóm Xây dựng văn bản pháp luật: Thẩm định văn bản pháp quy phạm pháp luật

BÀI TẬP NHÓM XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT: THẨM ĐỊNH VĂN BẢN PHÁP QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật bài tập nhóm xây dựng văn bản pháp luật A. MỞ ĐẦU Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật là một giai đoạn trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp. Như vậy, để ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thì cần phải có đầy đủ các khâu đoạn trong đó có việc thẩm định. Thực chất của công tác thẩm định là khắc phục những hạn chế, bất cập của việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để hiểu hơn về hoạt động thẩm định dự thảo văn bản pháp luật và ý nghĩa của hoạt động này nhóm chúng em chọn đề tài: “Ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Cho ví dụ minh họa” . B. NỘI DUNG I. Thẩm định dự thảo văn bản pháp luật và ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. 1. Khái niệm thẩm định dự thảo văn bản pháp luật. Hiện nay thuật ngữ thẩm định có nhiều cách hiểu khác nhau. Với cách hiểu thông thường, Từ điển Tiếng Việt thông dụng giải thích thẩm định là “xem xét để xác định về chất lượng”. Dưới góc độ pháp lý, theo Từ điển Luật học do Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp biên soạn, đã đưa ra cách hiểu: “Thẩm định có ý nghĩa là việc xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận mang tính pháp lý bằng văn bản về một vấn đề nào đó. Hoạt động này do tổ chức hoặc cá nhân có chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện ... Việc thẩm định có thể tiến hành với nhiều đối tượng khác nhau như thẩm định dự án, thẩm định báo cáo, thẩm định hồ sơ, thẩm định thiết kế, thẩm định đồ án quy hoạch, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ...”. Như vậy, thẩm định trước hết là hoạt động của một chủ thể được tiến hành nhằm kiểm tra, đánh giá văn bản theo những tiêu chí nhất định. Tính đúng đắn của văn bản có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, tùy thuộc loại, tính chất của văn bản. Xét về bản chất, thẩm định là việc kiểm tra trước nhằm phát hiện những vi phạm, khiếm khuyết, hạn chế và dự báo, phòng ngừa những sai trái có thể có trong dự thảo. Theo Điều 1, Quy chế thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 052007QĐTTG ngày 1012007 của Thủ tướng Chính phủ: Thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung và hình thức của dự án, dự thảo nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự án, dự thảo trong hệ thống pháp luật. Như vậy, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động xem xét, đánh giá về nội dung, hình thức, kỹ thuật soạn thảo của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, theo nội dung, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm đảm bảo tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự thảo trong hệ thống pháp luật. Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động thuộc quy trình xây dựng văn bản. Hoạt động này do cơ quan chuyên môn về tư pháp có thẩm quyền tiến hành, nhằm đánh giá một cách toàn diện, khách quan và chính xác dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, phê chuẩn. 2. Ý nghĩa của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Hoạt động thẩm định có vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản. Trước hết, hoạt động thẩm định là giải pháp nâng cao chất lượng của văn bản pháp luật, đóng vai trò đi trước, là phương thức mang tính chất phòng ngừa và đạt hiệu quả rất cao. Hoạt động thẩm định góp phần hoàn thiện pháp luật trong việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của văn bản trước khi ban hành. Ý kiến thẩm định nhằm đưa ra những đánh giá, tư vấn xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, quản lý nhà nước, với hệ thống pháp luật. Khi một văn bản quy phạm pháp luật được thẩm định và ý kiến thẩm định có giá trị thì sẽ tạo ra một văn bản có hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội và quản lý nhà nước. Ngược lại, nếu chất lượng của Báo cáo thẩm định không đưa ra được những đánh giá chuẩn mực, xác đáng thì thậm chí sẽ gây thiệt hại lớn cho cơ quan quản lý cũng như đối tượng điều chỉnh. Thẩm định giúp chủ thể ban hành sẽ dễ dàng tiếp cận tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật một cách nhanh nhất có trọng tâm đúng pháp luật. Với tư cách là những đánh giá, xem xét rất cơ bản trung thực khách quan về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và đưa ra nhận xét nên thẩm định còn mang tính chất định hướng chỉ dẫn và cung cấp các thông tin dưới góc độ pháp lý cần thiết cho chủ thể ban hành dự thảo cũng như chủ thể soạn thảo. Trong qúa trình thẩm định cơ quan thẩm định có thể phát hiện được những bất hợp lý, bất hợp pháp mà cơ quan soạn thảo đã vô tình hoặc cố ý tạo ra. Hơn nữa, trong trường hợp có nhiểu quan điểm trái chiều nhau về cùng một vấn đề, kết quả thẩm định là cơ sở để xem xét ban hành văn bản. Thẩm định còn tạo ra cơ chế phối hợp và giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan tham gia xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Để Báo cáo thẩm định có chất lượng, cơ quan thẩm định, soạn thảo văn bản, cũng như các tổ chức cá nhân có liên quan phải phối hợp chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ. Trên thực tế nếu Báo cáo thẩm định thực sự khách quan có căn cứ khoa học hợp lý văn bản được ban hành sẽ có hiệu lực và hiệu quả cao. Bên cạnh đó thẩm định còn là cơ hội để trao đổi thông tin, nâng cao trình độ cho cán bộ công chức. Có thể người có kiến thức luật nhưng lại thiếu kiến thức chuyên môn về đối tượng điều chỉnh của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và ngược lại. Qua đó, có thể nâng cao chất lượng xây dựng văn bản. II. Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù thẩm định được coi là hoạt động quan trọng trong việc xây dựng văn bản pháp luật, song Báo cáo thẩm định của cơ quan tư pháp địa phương chỉ được coi là tài liệu có tính chất tham mưu, không có tính chất bắt buộc cơ quan soạn thảo, cơ quan ban hành phải thực hiện. Báo cáo thẩm định là văn bản giúp Hội đồng thẩm định ghi chép và tổng kết lại kết quả của quá trình thẩm định. Báo cáo thẩm định được xây dựng khoa học thì mới phản ánh được chính xác và đầy đủ tất cả những vấn đề của hoạt động thẩm định. Nếu hoạt động thẩm định tốt mà báo cáo thẩm định không tốt thì nhiệm vụ thẩm định để xây dựng được những văn bản quy phạm pháp luật cũng không đạt được kết quả cao. Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định được pháp luật quy định sau khi nhận được báo cáo thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định. Đối với cơ quan ban hành, báo cáo thẩm định là một tài liệu trong hồ sơ trình để ban hành văn bản và chỉ xem xét khi có văn bản thẩm định của cơ quan tư pháp. Dưới góc độ pháp lý quy định như vậy rất chặt chẽ, bảo đảm phát huy tối đa giá trị tham mưu, tư vấn của hoạt động thẩm định trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Giá trị pháp lý của Báo cáo thẩm định còn được thể hiện thông qua chất lượng của Báo cáo thẩm định. Chất lượng của Báo cáo thẩm định phải thể hiện được cả giá trị tham mưu, tư vấn cả về mặt pháp lý và giá trị thực tế, nếu không hoạt động thẩm định chỉ được coi là hoạt động mang tính hình thức, làm cho đúng thủ tục chứ không có vị trí quan trọng. Trong khi đó trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tính khả thi là một tiêu chí không bắt buộc thẩm định, làm giảm giá trị tham mưu về khả năng thực thi đối với báo cáo thẩm định. III.Ví dụ về hoạt động thẩm định và báo cáo thẩm định dự thảo xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. 1. Ví dụ về hoạt động thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động. Ví dụ về hoạt động thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động. Dự thảo BLLĐ mới sẽ gồm 17 chương với 276 điều (BLLĐ hiện hành có 198 điều), tại mỗi chương, dự thảo quy định từng vấn đề thành các mục riêng rất cụ thể, chi tiết, trong đó có riêng một điều (Điều 5) giải thích một số thuật ngữ nhằm làm rõ thêm những vấn đề trước đây đang còn nhiều cách hiểu khác nhau. Dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động lao động do Bộ tư pháp tiến hành. Ngày 06 tháng 7 năm 2011, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1165QĐBTP về việc thành lập Hội đồng thẩm định dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi). Hội đồng thẩm định bao gồm 11 thành viên là đại diện của các Bộ, ngành, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các đơn vị chức năng của Bộ Tư pháp do đồng chí Đinh Trung Tụng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp làm Chủ tịch Hội đồng. Ngày 08 tháng 7 năm 2011, Hội đồng đã tiến hành thẩm định dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi). Hội đồng thẩm định đã tiến hành thẩm định và tập trung vào các vấn đề sau: sự cần thiết ban hành Bộ luật; phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của dự án Bộ luật; sự phù hợp của dự án Bộ luật với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, tính đồng bộ và tính khả thi của dự án Bộ luật; ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo; những vấn đề còn có ý kiến khác nhau và những vấn đề khác có liên quan đến dự án Bộ luật. 2. Báo cáo thẩm định dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động. Trên cơ sở hoạt động thẩm định dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi được tiến hành bắt đầu từ ngày 08072011 thì ngày 11 7 2011 Hội đồng thẩm định đã trình Báo cáo số 111 BCHĐTĐ về việc thẩm định dự án Bộ luật lao động sửa đổi. Báo gồm một số nội dung sau: I. Về sự cần thiết ban hành Bộ luật Lao động; II. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụngIII. Về sự phù hợp của nội dung dự án Bộ luật với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của dự án Bộ luật với hệ thống pháp luật và tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; IV. Về tính khả khi của dự án Bộ luật; V. Về các vấn có ý kiến còn khác nhau; VI. Về nội dung của dự án Bộ luật; IX. Nhận xét chung; VII. Về hồ sơ và trình tự soạn thảo 3.Ý nghĩa của hoạt động dự thảo Bộ luật lao động và ý nghĩa của báo cáo thẩm định. Hoạt động thẩm định đã xem xét, đánh giá dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi trên nhiều mặt khác nhau, việc thẩm định sẽ giúp tìm ra những điểm hợp lí và không hợp lí, những vấn đề còn nhiều ý kiến tranh luận, phương hướng giải quyết. Qua đó sẽ tư vấn giúp những nhà lập pháp xây dựng được một Bộ luật lao động tiến bộ, chặt chẽ và khoa học, khắc phục được những hạn chế của Bộ luật lao động hiện hành, đồng thời theo kịp và dự liệu được các tình huống sẽ xảy ra trong thực tế liên quan đến những vấn đề mà Bộ luật lao động điều chỉnh. Cũng từ đó sẽ tạo ra hành lang pháp lí khoa học, đúng đắn, thúc đẩy đất nước phát triển. Mặt khác hoạt động thẩm định còn tạo ra cơ chế giám sát giữa các cơ quan xây dựng dự thảo và cơ quan thanh tra, giám sát, các cơ quan có liên quan.... Báo cáo thẩm định của hội đồng thẩm định đã ghi chép, tổng kết đầy đủ, chính xác hoạt động thẩm định dự thảo văn Bộ luật lao động sửa đổi. Báo cáo thẩm định cũng là cơ sở để trình lên Chính phủ, Bộ lao động thương binh và xã hội về hoạt động thẩm định của Hội đồng thẩm định, qua đó góp phần xây dựng được Bộ luật lao động mới tốt hơn. C. KẾT LUẬN Thẩm định là hoạt dộng đánh giá, góp phần hoàn thiện nội dung cũng như hình thức dự thảo văn bản pháp luật. Chất lượng thẩm định dự thảo văn bản pháp luật có ý nghĩa đối với công tác xây dựng văn bản pháp luật, đặc biệt là chất lượng xây dựng văn bản. Ngược lại, nếu thẩm định không chính xác, hời hợt có thể làm mất giá trị, ý nghĩa của báo cáo thẩm định. Tuy nhiên, trong công tác thẩm định dự thảo văn bản pháp luật hiện nay còn tồn tại những hạnchế nhất định như: nội dung thẩm định còn nặng về hình thức, chất lượng thẩm định đôi khi không đáp ứng yêu cầu, việc tổ chức thẩm định chưa khoa học, sự phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình thẩm định chưa chặt chẽ…
Xem thêm

9 Đọc thêm

Phân tích và bình luận về các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết

PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VĂN BẢN PHÁP LUẬT KHIẾM KHUYẾT

Phân tích và bình luận về các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết Bài tập học kỳ Xây dựng văn bản pháp luật Chuyên mục Bài tập học kỳ, Xây dựng văn bản pháp luật MỞ ĐẦU Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu quản lí xã hội bằng pháp luật ngày càng cao thì yêu cầu với các văn bản pháp luật được ban hành phải hoàn thiện là điều tất yếu. Hiện nay văn bản pháp luật khi được áp dụng trên thực tế gặp không ít khó khăn khách quan và chủ quan dẫn tới những bất hợp pháp và bất hợp lý đã nảy sinh. Do đó đi cùng việc ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội là một hệ thống các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết. Việc xử lí các văn bản pháp luật khiếm khuyết càng trở nên quan trọng và cần thiết. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trên cơ sở kiến thức tiếp nhận từ thầy cô, giáo trình và tài liệu tham khảo, với bài tập học kì môn Xây dựng văn bản pháp luật, em xin chọn đề tài “Phân tích và bình luận về các biện pháp xử lý văn bản pháp luật khiếm khuyết” với mong muốn được hiểu và làm rõ hơn về vấn đề này. Sau đây là toàn bộ nội dung chính trong bài làm của em. NỘI DUNG CHÍNH I. Lý luận chung về văn bản pháp luật khiếm khuyết 1. Văn bản pháp luật khiếm khuyết: VBPL là những văn bản được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định, chứa đựng ý chí của nhà nước nhằm đạt được mục tiêu quản lí và được nhà nước đảm bảo thực hiện. VBPL khiếm khuyết được hiểu là văn bản pháp luật “còn thiếu sót, chưa hoàn chỉnh” không đảm bảo về chất lượng mà nhà nước yêu cầu. Xử lí VBPL khiếm khuyết là hoạt động của cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền trong việc ra phán quyết đối với những văn bản pháp luật khiếm khuyết. Các hình thức xử lí VBPL khiếm khuyết bao gồm: biện pháp hủy bỏ, biện pháp bãi bỏ, đình chỉ thi hành, tạm đình chỉ thi hành, sửa đổi, bổ sung. 2. Những khiếm khuyết của VBPL: Trên cơ sở những yêu cầu về chất lượng của VBPL (yêu cầu về tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi… của VBPL), có thể xác định VBPL khiếm khuyết là văn bản có một trong những biểu hiện sau đây: Các VBPL không đáp ứng được yêu cầu về chính trị: đó là các VBPL ( chủ yếu là các VBQPPL) có nội dung không phù hợp với đường lối, chính sách của đảng. Các VBPL có nội dung không phù hợp với ý chí và lợi ích chính đáng của nhân dân cũng bị coi là khiếm khuyết về chính trị. Các VBPL không đáp ứng yêu cầu về pháp lí bao gồm: + VBPL vi phạm thẩm quyền ban hành: VBPL vi phạm thẩm quyền bao gồm vi phạm thẩm quyền về nội dung và vi phạm thẩm quyền về hình thức. + VBPL có nội dung trái với quy định của pháp luật: là những văn bản có nội dung là những quy phạm hoặc những mệnh lệnh không đúng với pháp luật hiện hành. + VBPL có nội dung không phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia. +Văn bản pháp luật có sự vi phạm các quy định về thể thức và thủ tục ban hành. VBPL không đáp ứng được yêu cầu về khoa học bao gồm: + VBPL có nội dung không phù hợp với thực trạng và quy luật vận động của đời sống xã hội. + VBPL có sự khiếm khuyết về kĩ thuật pháp lí. II. Các biện pháp xử lí văn bản pháp luật khiếm khuyết: Dựa vào tính chất, mức độ khiếm khuyết của VBPL và bản chất của mỗi biện pháp xử lí, chủ thể có thẩm quyền lựa chọn một trong các biện pháp dưới đây để xử lí VBPL khiếm khuyết: 1. Biện pháp hủy bỏ: Hủy bỏ là ra quyết định làm mất hiệu lực cả về trước của một văn bản pháp lí kể từ khi văn bản đó được ban hành. Hủy bỏ VBPL là hình thức xử lí nhằm phủ nhận hoàn toàn hiệu lực pháp lí của VBPL kể từ thời điểm văn bản đó được ban hành. Hủy bỏ là biện pháp xử lí được áp dụng với toàn bộ hoặc một phần VBPL bao gồm cả VBQPPL, VBADPL và VBHC có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng như: một phần hoặc toàn bộ văn bản đó được ban hành trái thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật từ thời điểm văn bản được ban hành. VBPL bị hủy bỏ sẽ hết hiệu lực pháp luật kể từ khi văn bản đó được quy định là có hiệu lực pháp lí . Điều đó có nghĩa là nhà nước hoàn toàn không thừa nhận giá trị pháp lí của văn bản bị hủy bỏ ở mọi thời điểm, cho dù trên thực tế trước khi bị hủy bỏ nó đã từng được coi là có hiệu lực và có thể đã được thi hành. Hủy bỏ VBPL là một biện pháp xử lí VBPL khiếm khuyết đã được pháp luật quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau, nhìn chung các quy định này khá hoàn chỉnh. Tuy nhiên trong vấn đề quy định về trách nhiệm của chủ thể ban hành VBPL bị hủy bỏ còn có một số điểm chưa hợp lí đó là: việc quy định trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn của chủ thể ban hành VBPL bị hủy bỏ chỉ được xác định với VBADPL. Nếu VBPL bị hủy bỏ là VBQPPL và văn bản hành chính thì pháp luật không quy định về trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn chủa chủ thể ban hành, đây là một điểm bất hợp lí. Trên thực tế khi một văn bản QPPL sai trái được áp dụng vào cuộc sống nó sẽ gây ảnh hưởng xấu trên diện rộng và có thể gây hậu quả nghiêm trọng hơn là một VBADPL chính vì vậy tôi cho rằng cần quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với cả VBQPPL và văn bản hành chính. 2. Biện pháp bãi bỏ: Bãi bỏ VBPL là hình thức xử lí nhằm chấm dứt hiệu lực pháp lí của một VBPL đang được thi hành trên thực tế kể từ thời điểm văn bản đó bị bãi bỏ. Đối tượng áp dụng biện pháp bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản là các VBQPPL có một trong các dấu hiệu khiếm khuyết. Hình thức bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ văn bản làm căn cứ ban hành văn bản được kiểm tra đã được thay thế bằng văn bản khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, dẫn đến nội dung của văn bản không còn phù hợp với pháp luật hiện hành hoặc tình hình kinh tế xã hội thay đổi.( khoản 2 điều 29 nghị định Chính phủ 402010NĐCP) Văn bản pháp luật bị bãi bỏ chỉ mất hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm văn bản xử lí nó có hiệu lực pháp luật. Như vậy pháp luật vẫn thừa nhận giá trị pháp lí của văn bản pháp luật bị bãi bỏ trước khi văn bản xử lí văn bản đó có hiệu lực pháp lí. Do vậy VBPL bị bãi bỏ không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn của chủ thể ban hành VBPL sai trái đó. Các quy định của pháp luật về bãi bỏ VBPL khiếm khuyết được quy định trong nhiều văn bản pháp luật tuy nhiên chưa có văn bản pháp luật nào quy định một cách đầy đủ và rõ ràng và phân biệt giữa biện pháp hủy bỏ và bãi bỏ VBPL. Chính vì tình trạng pháp luật quy định chung chung dẫn tới các cơ quan nhà nước khi xử lí VBPL tùy nghi lựa chọn một trong hai biện pháp này thậm chí còn sử dụng chưa nhất quán.Mặc dù tại điều 29 nghị dịnh Chính phủ số 402010NĐCP đã có sự tách riêng giữa biện pháp bãi bỏ và hủy bỏ VBPL nhưng mới chỉ nêu được sự khác nhau về trường hợp áp dụng mà thôi. Chính vì vậy tôi mong rằng sẽ sớm có những quy định cụ thể và chi tiết hơn về biện pháp bãi bỏ VBPL để phân biệt với biện pháp hủy bỏ VBPL. 3. Biện pháp thay thế: Thay thế VBPL là dùng một văn bản pháp luật mới thay thế cho một VBPL cũ không còn phù hợp.Biện pháp thay thế được áp dụng với VBPL có dấu hiệu khiếm khuyết( không có vi phạm pháp luật). Thay thế được áp dụng trong trường hợp nội dung của VBPL không còn phù hợp với thực tiễn, không phù hợp với đường lối của Đảng. VBPL bị thay thế hết hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm văn bản mới được ban hành hết hiệu lực. Thay thế là biện pháp xử lí VBPL được sử dụng khá phổ biến hiện nay tuy nhiên pháp luật chưa có một quy định riêng nào về biện pháp này, mà chỉ được quy định cùng các biện pháp khác tại điều 9 luật ban hành VBQPPL 2008. 4. Biện pháp đình chỉ thi hành Đình chỉ thi hành VBPL là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định dừng thực hiện, làm mất hiệu lực của VBPL một cách tạm thời. Đình chỉ việc thi hành (một phần hoặc toàn bộ văn bản) áp dụng đối với văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Hình thức đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản áp dụng trong trường hợp nội dung trái pháp luật đó nếu chưa được sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, bãi bỏ kịp thời và nếu tiếp tục thực hiện thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Quyết định đình chỉ việc thi hành VBQPPL phải được đăng Công báo, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. Khác với các hình thức xử lý khác, đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản không làm chấm dứt hiệu lực pháp lý của văn bảnquy định bị đình chỉ, mà chỉ làm ngưng hiệu lực pháp lý của nó cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan, người có thẩm quyền. Đây như là một “biện pháp khẩn cấp tạm thời” để làm nhưng hiệu lực pháp lý của các quy định trái pháp luật. Sau khi đình chỉ việc thi hành văn bản, tuỳ theo tính chất, mức độ sai trái của văn bản, cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng một trong các biện pháp xử lý đối với văn bản trái pháp luật. Như vậy, đối với VBQPPL của UBND thì người có thẩm quyền đình chỉ cũng đồng thời là người có thẩm quyền ra quyết định xử lý văn bản trái pháp luật; còn đối với VBQPPL của HĐND thì người có thẩm quyền đình chỉ (Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND) không có thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật, mà phải trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (trường hợp người ra quyết định đình chỉ là Thủ tướng Chính phủ), trình HĐND cùng cấp (trường hợp người ra quyết định đình chỉ là Chủ tịch UBND) ra quyết định xử lý. 5. Biện pháp tạm đình chỉ thi hành: Tạm đình chỉ thi hành là biện pháp xử lí được áp dụng đối với các VBADPL trong một số trường hợp nhất định. Các trường hợp áp dụng biện pháp tạm đình chỉ bao gồm: Trường hợp thứ nhất:Chủ thể không có thẩm quyền xử lí VBADPL nhưng có cơ sở cho rằng VBPL đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật nên quyết định tạm dừng thi hành để chờ cấp có thẩm quyền xử lí. Trường hợp thứ hai: khi có cơ sở cho rằng việc thi hành VBPL có thể gây cản trở hoạt động công quyền thì chủ thể có thẩm quyền quyết định việc tạm dừng thi hành văn bản trong thời gian nhất định để hoạt động công quyền được diễn ra thuận lợi. VBPL bị tạm đình chỉ làm ngưng hiệu lực pháp lý của nó cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan, người có thẩm quyền. VBPL bị tạm đình chỉ theo trường hợp thứ nhất hết hiệu lực khi cấp có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ, bãi bỏ; tiếp thục có hiệu lực khi cấp trên có thẩm quyền tuyên bố không bãi bỏ, hủy bỏ văn bản đó. VBPL bị tạm đình chỉ theo trường hợp hai sẽ tiếp tục có hiệu lực khi người ra quyết định tạm đình chỉ ra văn bản bãi bỏ việc tạm đình chỉ. Nhận thấy biện pháp ‘tạm đình chỉ thi hành’ chỉ là một phần của biện ‘pháp đình chỉ thi hành’ vì vậy việc tách riêng hai biện pháp là không hợp lí, nên hợp nhất hai biện pháp để việc áp dụng vào xử lí VBPL thuận tiện hơn. 6. Biện pháp sửa đổi, bổ sung: Sửa đổi VBPL là việc ra văn bản để làm thay đổi một phần nội dung VBPL hiện hành trong khi vẫn giữ nghuyên những nội dung khác. Bổ sung VBPL là việc ra văn bản để thêm vào nội dung VBPL những quy định mới trong khi vẫn giữ nguyên nội dung vốn có của VBPL đó. Sửa đổi bổ sung là biện pháp được áp dụng với các VBPL( bao gồm VBQPPL, VBADPL và văn bản hành chính) khi tính chất và mức độ khiếm khuyết của văn bản rất nhỏ. Biện pháp sửa đổi được áp dụng với VBADPL trong trường hợp tại thời điểm ban hành thì văn bản đó đúng thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung, có nội dung phù hợp với các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, với tình hình kinh tế xã hội địa phương. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện thì có một số nội dung của văn bản không còn phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên mới được ban hành hoặc không còn phù hợp với tình hình kinh tế xã hội và cần phải có quy định khác thay các nội dung không còn phù hợp đó. Biện pháp bổ sung được áp dụng trong trường hợp VBQPPL phù hợp với VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn, phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương, tuy nhiên, nội dung của văn bản chưa đầy đủ, rõ ràng, chưa toàn diện... nên cần thiết phải có quy định thêm để cho việc quy định trong VBQPPL được rõ ràng, toàn diện hơn, hiệu quả thi hành cao hơn. Sau khi sửa đổi thì văn bản bị sửa đổi vẫn tiếp tục có hiệu lực, chỉ có những điều, khoản bị sửa đổi là hết hiệu lực và được thay bằng các quy định mới của văn bản sửa đổi. Thời điểm có hiệu lực thi hành của văn bản sửa đổi phải đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Một văn bản có thể sửa đổi nhiều VBPL khác nhau. Khác với hình thức “sửa đổi” là thay một số quy định cũ bằng quy định mới do không còn phù hợp, thì hình thức “bổ sung” không làm mất đi bất cứ quy định nào của văn bản bị bổ sung, mà thêm vào một số quy định cho toàn diện hơn. Chính vì vậy bổ sung không làm mất hiệu lực của VBPL được bổ sung, nhưng nó làm phát sinh hiệu lực của phần bổ sung. Biện pháp sửa đổi, bổ sung VBPL là một hình thức được áp dụng phổ biến, đây là cách thức được sử dụng chủ yếu cho các VBPL có chứa các QPPL ở dạng điều khoản và có phạm vi tác động rộng. Tuy nhiên trong quy định của pháp luật, khái niệm “sửa đổi” và “bổ sung” thường hay đi liền với nhau, tuy nhiên cần phân biệt khi nào thì dùng khái niệm nào, khi nào có thể dùng cả 2 khái niệm (trường hợp chỉ “sửa đổi”, “bổ sung” hoặc vừa “sửa đổi”, vừa “bổ sung”). Hiện nay pháp luật đã quy định tại luật BHVBQPPL năm 2008 cho phép sử dụng một văn bản để sửa đổi, bổ sung nhiều VBPL khác nhau. Đây là một điểm mới đáng mừng, giúp cho việc sửa đổi, bổ sung VBPL đỡ mất thời gian hơn, giảm kinh phí và những thủ tục không cần thiết. KẾT LUẬN Có thể nói, các biện pháp xử lí VBPL khiếm khuyết đã góp phần rất lớn vào công tác hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về các biện pháp xử lí văn bản pháp luật khiếm khuyết đôi khi còn có những hạn chế. Hy vọng rằng trong thời gian tới pháp luật sẽ quy định cụ thể và chi tiết hơn nữa, để các biện pháp xử lí VBPL khiếm khuyết có thể phát huy tốt hơn vai trò và ý nghĩa của mình hướng tới một hệ thống pháp luật hoàn thiện hơn.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Đề thi chủ thể pháp luật kinh doanh tổng hợp

Đề thi chủ thể pháp luật kinh doanh tổng hợp

ĐỀ THI PHÁP LUẬT CHỦ THỂ KINH DOANH. 1. CTCP X đang có dự định bán một tài sản của CT cho ông A là cổ đông sang lập của CTY và muốn bạn tư vấn những vấn đề pháp lý liên quan theo quy định của LDN 2014. Những thông tin bạn được cung cấp như sau: 1 CT có 100.000 cổ phần, trong đó ông A sở hữu 12% cổ phần. 2 CT ko có cổ phần ưu đãi. 3 Điều lệ cty ko quy định khác LDS 2014 . Đáp án: Căn cứ vào điểm A khoản 1 điều 162 LDN 2014 thì giao dịch giữa cty với ông A ( cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cỏ phần phổ thông) phải dc đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị chấp thuận. Tùy thuộc vào giá trị tài sản mà CTCP X dự định bán cho A mà thẩm quyền quyết định giao dịch thuộc về Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông. Nếu tài sản định bán có giá trị nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chánh gần nhất: Thẩm quyền thuộc về hội đồng quản trị ( khoản 2 điều 162) Nếu tài sản định bán có giá trị lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chánh gần nhất: Thẩm quyền thuộc về Đại hội đồng cổ đông ( khoản 3 điều 162) 2. Nhận định 1 Trường hợp doanh nghiệp chỉ có 1 người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú tại VIệt Nam. Đáp án: Nhận định đúng. Khoản 3 điều 13 LDN có quy định :”(…) Trường hợp doanh nghiệp chỉ có 1 người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú tại Việt Nam” Cơ sở pháp lý: Khoản 3 điều 13 LDN. 2 Chủ tịch HDQT của CTCP phải là cổ đông của công ty đó Đáp án: Nhận định sai. Chủ tịch HDQT của CTCP không nhất thiết phải là cổ đông của công ty đó Khoản 1 điều 152 LDN 2014 quy định :” Hội đồng quản trị bầu 1 thành viên của hội đồng quản trị làm chủ tịch”. Như vậy, chủ HDQT phải là thành viên của HDQT, ta xem xét lại thành viên của HDQT có bắt buộc làm cổ đông của cty hay không? Theo điểm B khoản 1 điều 152 LDN 2014 thì thành viên của HDQT phải có tiêu chuẩn và điều kiện sau:” Có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm trong quản lý cty và ko nhất thiết phải là cổ đông” Luật không bắt buộc thành viên HDQT phải là cổ đông của công ty đó do đó chủ tịch HDQT được bầu trong số những thành viên này  Chủ tịch HDQT có thể là hoặc không là cổ đông của công ty đó. Cơ sở pháp lý: Khoản 1 điều 152 LDN 2014. 3 CTCP A sở hữu 55% cổ phần CT TNHH B thì CT TNHH B ko dc mua cổ phần CTCP A. Đáp án: Nhận định đúng. “Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc trong một số trường hợp sau đây”: • Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó. CT CP A sở hữu trên 50% vốn điều lệ của CT TNHH B (55%), như vậy có thể kết luận rằng CT A là CT mẹ của B. Khoản 2 điều 189 LDN 2014 quy định :” CT con không được góp vốn, mua cổ phần từ công ty mẹ.”  CT B là CT con  Không được mua cổ phần từ công ty mẹ. Cơ sở pháp lý: Khoản 1 điều 189 LDN 2014. 4 Thành viên CT hợp danh phải là cá nhân Nhận định sai. Trong công ty hợp danh có 2 loại thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Điểm B khoản 1 điều 172 LDN 2014 chỉ bắt buộc thành viên hợp danh phải là cá nhân.” Luật không hề đề cập thành viên góp vốn phải là cá nhân hoặc tổ chức ko thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 điều 18. Cơ sở pháp lý: Điểm B khoản 1 điều 172 LDN 2014 3. CT TNHH Hải Phong đầu tư 1 tỷ đồng thành lập CT Hải Minh và cử 3 người ông Nam, ông Thành, và bà Hương làm đại diện quản lý vôn ở CT Hải Minh. Vào tháng 102014, ông Nam bán cho CT Hải Minh 1 chiếc ô tô giá 200 triệu đồng. CT Hải Minh đã vay 200 triệu đồng CT Hải Phong 200 triệu đồng từ CT Hải Phong để trả cho ông Nam. Mặc dù thời hạn trả nợ theo hợp đồng vay là 1 năm kể từ ngày 1102014 tuy nhiên đến tháng 32015 CT Hải Minh đã trả hết số nợ cho CT Hải Phong. Tháng 102015, CT TNHH Hải Minh bị tòa án có thẩm quyền mở thủ tục phá sản theo yêu cầu của 1 chủ nợ. Anh chị hãy cho biết: 1 Nếu áp dụng theo LDN 2014 thì hợp đồng mua ô tô giữa CT Hải Phong và ông Nam có phải là hợp đồng giữa CT với người liên quan không? Vì sao? Đáp án: CT TNHH Hải Minh có vốn 100% vốn điều lệ do CT TNHH Hải Phong đầu tư. Vì vậy CT TNHH Hải Minh là CT TNHH 1 thành viên do CT TNHH Hải Phong làm chủ sở hữu. Phải 2 Việc cty Hải Minh trả nợ cho cty Hải Phong có bị vô hiệu không? Vì sao Đáp án: Theo điểm a khoản 1 điều 189 LDN 2014, CT Hải Phong cũng là CT mẹ của CT Hải Minh vì sở hữu 100% vốn điều lệ của CT Hải Minh. Khoản 2 điều 59 LPS 2014 có quy định :” Giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán quy định tại khoản 1 điều này được thực hiện với những người liên quan trong thời gian 18 tháng trước ngày tòa án Nhân nhân ra quyết định mở thủ tục phá sản thì bị coi là vô hiệu.” Khoản b điều 59 LPS 2014 quy định về những người liên quan là CT con với CT mẹ.” Thời hạn trả hết số nợ cho CT Hải Phong, tức là trả nợ chưa tới hạn. Đối chiếu với khoản 1 điều 59 thì đây là trường hợp được quy định tại điểm C :” Thanh toán hoặc bù trừ có lợi cho chủ nợ đối với khoản nợ chưa đến hạn hoặc với số tiền lớn hơn khoản nợ đến hạn.” Vì vậy đã có đủ căn cứ áp dụng khoản 2 điều 59 LPS 2014 để giải quyết tình huống nêu trên.
Xem thêm

Đọc thêm

Công ty cổ phần và thị trường chứng khoán

CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Công ty cổ phần(CTCP) là một thể chế kinh doanh, một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông. Trong CTCP, số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu. Chỉ có CTCP mới được phát hành cổ phiếu. Cổ phiếu chính là một bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một CTCP và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu. CTCP là một trong loại hình công ty căn bản tồn tại trên thị trường và nhất là để niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Xem thêm

35 Đọc thêm

Cùng chủ đề