KIỂM TRA TÍNH HIỆU LỰC CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Tìm thấy 10,000 tài liệu liên quan tới từ khóa "KIỂM TRA TÍNH HIỆU LỰC CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT":

TÀI LIỆU THAM KHẢO HIỆU LỰC CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, MỘT SỐ ĐIỀU BẤT CẬP VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO HIỆU LỰC CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, MỘT SỐ ĐIỀU BẤT CẬP VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

Văn bản qui phạm pháp luật chứa đựng các qui phạm pháp luật (các qui định
của pháp luật). Đó cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước giải quyết những vấn đề phát sinh trong xã hội và sự vụ xảy ra trên thực tế. Để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chú nghĩa Việt Nam (theo đúng tinh thần của Đại hội XI), một nhà nước tôn trọng tính tối cao của pháp luật việc xác định hiệu lực của văn bản qui phạm pháp luật là hết sức quan trọng và rất cần được quan tâm. Văn bản qui phạm pháp luật nào được áp dụng?. Nếu văn bản qui phạm pháp luật này mâu thuẫn với văn bản qui phạm pháp luật kia thì áp dụng văn bản nào?. Khi nào một văn bản qui phạm pháp luật bắt đầu có hiệu lực, khi nào hết hiệu lực?...
Xem thêm

5 Đọc thêm

HỢP ĐỒNG LẮP RÁP THIẾT BỊ KHOA HỌC KỸ THUẬT

HỢP ĐỒNG LẮP RÁP THIẾT BỊ KHOA HỌC KỸ THUẬT

Bên nào vi phạm các điều khoản trên sẽ phải chịu trách nhiệm vật chất theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực hiện hành về phạt vi phạm số lượng, chất lượng, thời gian, địa đ[r]

3 Đọc thêm

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

vai trò, phạm vi và đối tượng kiểm tra của Tòa án hành chính. Khái niệm vănbản hành chính mà cuốn sách đề cập gồm văn bản quy phạm pháp luật, vănbản cá biệt và hợp đồng chính. Tuy có quan niệm khác nhau về cơ chế kiểmtra văn bản giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhưng cuốn sách có giá trị thamkhảo bổ ích và liên quan đến đề tài luận án.1.1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận ánTừ kết quả hệ thống, đánh giá ở trên cho thấy, ở những khía cạnh khácnhau, việc nghiên cứu về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật đã được20đề cập đến, tuy nhiên, các tác giả chưa có điều kiện để giải quyết toàn diện vàsâu sắc mọi khía cạnh của kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật.Các nghiên cứu về cơ chế pháp lý và hoàn thiện cơ chế pháp lý, trongđó một số công trình mới được công bố, nghiệm thu, đã phân tích, luận giảitương đối toàn diện về một số vấn đề liên quan, như: khái niệm cơ chế pháp lý,các yếu tố cấu thành và mối quan hệ giữa các yếu tố tạo nên hệ thống cơ chếpháp lý, có giá trị tham khảo bổ ích khi nghiên cứu về cơ chế và các yếu tố cấuthành một cơ chế nhất định nào đó. Song các nghiên cứu này thường gắn vớicác hoạt động, chế định rất đặc thù như: giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước.Các nghiên cứu về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nói chungtính đến nay không nhiều và chưa mang tính hệ thống. Các công trình nghiêncứu về kiểm tra văn bản thường ở phạm vi hẹp, các tác giả thường nghiên cứumột khía cạnh, hay một, một số nội dung của kiểm tra văn bản như các hìnhthức xử lý văn bản quy phạm pháp luật, các điều kiện bảo đảm cho công táckiểm tra văn bản, thực trạng kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật hiện nay…Vì vậy, với phạm vi và mục đích đã lựa chọn, các công trình nghiên cứu trênchưa đánh giá được toàn diện hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật,cũng như chưa đưa ra được hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượngkiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới. Ngoài ra, một số
Xem thêm

158 Đọc thêm

BIÊN BẢN NGHIỆM THU, BÀN GIAO VÀ THANH LÝ HỢP ĐỒNG

BIÊN BẢN NGHIỆM THU, BÀN GIAO VÀ THANH LÝ HỢP ĐỒNG

Điều 3. Chất lượng và quy cách hàng hóa :Chất lượng mặt hàng là hàng mới 100% chưa qua sử dụng, được đóng gói theoquy định của Nhà sản xuất.Điều 4. Phương thức giao nhận :Bên B giao các chứng từ cần thiết cho bên mua: Hóa đơn tài chính, biên bảngiao nhận hàng hóa, bên mua ký và gửi trả lại bên A 01 biên bản giao nhận hàngcho bên B.Tổng giá trị của hợp đồng: 12.700.000đBằng chữ:( (Mười hai triệu bảy trăm nghìn đồng chẵn)Điều 5. Phương thức thanh toán :1. Bên mua thanh toán đầy đủ tiền hàng khi nhận được hàng hoá2. Đồng tiền thanh toán là: đồng tiền Việt Nam.Hình thức thanh toán: Thanh toán bằng Tiền mặtĐiều 6. Điều khoản chungHai bên có trách nhiệm thực hiện tốt các điều khoản ghi trong hợp đồng, trườnghợp có thay đổi bổ sung thì kịp thời thông báo cho nhau để tìm biện pháp giảiquyết. Nếu hai bên không thể giải quyết được sẽ đưa ra Toà án Thanh hoá giảiquyết, quyết định của toà án buộc các bên phải thi hành, mọi chi phí do bên thuakiện chịu.Điều 7. Trách nhiệm vật chất trong việc thực hiện hợp đồng :- Hai bên cam kết thực hiện nghiêm túc các điều khoản đã thỏa thuận trên,không đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng, bên nào không thực hiện hoặcđơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng mà không có lý do chính đáng thì sẽ bịphạt tới 10% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm.- Bên nào vi phạm các điều khoản trên đây sẽ phải chịu trách nhiệm vật chấttheo quy định của các văn bản pháp luậthiệu lực hiện hành về phạt vi phạmchất lượng, số lượng, thời gian, địa điểm, thanh toán, bảo hành v.v… mức phạt cụthể do hai bên thỏa thuận dựa trên khung phạt Nhà nước đã quy định trong các vănbản pháp luật về hợp đồng kinh tế.
Xem thêm

5 Đọc thêm

Hoàn thiện quy trình đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức kiểm tra qua thực tiễn Bộ Xây dựng

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT DƯỚI HÌNH THỨC KIỂM TRA QUA THỰC TIỄN BỘ XÂY DỰNG

1.Tính cấp thiết của đề tài
Thực trạng ban hành và thực hiện VBQPPL ngành xây dựng ngoài những kết quả khả quan đạt được hiện nay vẫn còn những bất cập như: Văn bản ban hành chưa đúng thẩm quyền, văn bản có nội dung chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu mạch lạc, văn bản sai về thể thức và thủ tục ban hành, văn bản không có tính khả thi, tính hướng dẫn, tính cụ thể hóa luật và các văn bản khác có hiệu lực pháp lý cao hơn. Các văn bản ban hành chồng chéo, chưa thống nhất và logic. Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân gây ra, một trong những nguyên nhân đó là hoạt động đánh giá VBQPPL cụ thể hơn là công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL của Bộ Xây dựng.
Thực tiễn công tác đánh giá VPQPPL của Bộ xây dựng còn nhiều bất cập như: chưa thống nhất được về nội dung, phương pháp, quy trình đánh giá, công tác đánh giá vẫn còn chưa thực sự sâu sát, tỉ mỉ dẫn đến chất lượng của các VBQPPL được đánh giá còn chưa cao. Từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi các VBQPPL của Bộ Xây dựng.
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết cần xây dựng được một quy trình đánh giá VBQPPL hoàn chỉnh, khoa học và thống nhất trong Bộ Xây dựng. Xuất phát từ nhu cầu hoàn thiện hơn nữa, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác đánh giá văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Xây dựng.
Do hoạt động đánh giá văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động tổng hợp gồm rất nhiều nghiệp vụ, nội dung bên trong. Nên trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ của mình tôi chọn đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện quy trình đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức kiểm tra qua thực tiễn Bộ Xây dựng.”
Với mục đích tìm hiểu thực tiễn công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống văn bản QPPL của Bộ Xây dựng trên cơ sở đó đưa ra những ý kiến góp ý nhằm xây dựng được quy trình kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật một cách hoàn chỉnh và thống nhất trong Bộ Xây dựng. Trên cơ sở đó góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng của hoạt động kiểm tra, rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Xây dựng.
Xem thêm

125 Đọc thêm

HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Bên nào vi phạm các điều khoản trên đây sẽ phải chịu trách nhiệm vật chất theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực hiện hành về phạt vi phạm chất lượng, số lượng, thời gian, đ[r]

11 Đọc thêm

HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Bên nào vi phạm các điều khoản trên đây sẽ phải chịu trách nhiệm vật chất theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực hiện hành về phạt vi phạm chất lượng, số lượng, thời gian, đ[r]

11 Đọc thêm

BIỂU MẪU HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

BIỂU MẪU HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Bên nào vi phạm các điều khoản trên đây sẽ phải chịu trách nhiệm vật chất theo quy định của các văn bản pháp luật có hiệu lực hiện hành về phạt vi phạm chất lượng, số lượng, thời gian, đ[r]

5 Đọc thêm

VĂN BẢN PHÁP LUẬT MÔN XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT

VĂN BẢN PHÁP LUẬT MÔN XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT

LUẬT
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 512001QH10;
Quốc hội ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Văn bản quy phạm pháp luật
1. Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
2. Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.
Điều 2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
1. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
2. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
4. Nghị định của Chính phủ.
5. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
6. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Xem thêm

303 Đọc thêm

Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán trong các công ty cổ phần xây lắp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương nhất quán, xuyên suốt trong
chính sách đối ngoại, hợp tác quốc tế của Việt Nam trong quá trình đổi mới
đất nước. Sau 30 năm đổi mới và sau 10 năm gia nhập Tổ chức thương mại
thế giới (WTO), quá trình hội nhập của Việt Nam đã diễn ra ngày càng sâu
rộng và có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, hội nhập kinh tế càng trở nên mạnh mẽ hơn với
việc ký kết và thực hiện các Hiệp định thương mại (FTA) thế hệ mới, không
chỉ nhằm mở cửa thị trường mà còn là bước đi quan trọng khẳng định cam kết
của Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới. Tiến trình này đã tác động
đến thể chế hải quan với vai trò là lực lượng quản lý nhà nước đối với hoạt
động xuất nhập khẩu. Cơ quan hải quan đứng trước yêu cầu thông quan nhanh
hàng hóa để tạo thuận lợi cho thương mại, đồng thời vẫn phải đảm bảo quản
lý chặt chẽ chính sách chế độ, chống gian lận thương mại, bảo vệ sản xuất nội
địa và không để thất thu thuế.
Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế, Việt Nam đang thể hiện quyết tâm
đổi mới, xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động phục vụ người
dân và doanh nghiệp. Phát biểu tại Diễn đàn phát triển Việt Nam 2016 (VDF
2016), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định Chính phủ xây
dựng hệ thống hành chính quốc gia thống nhất, lấy sự hài lòng của người dân,
doanh nghiệp làm thước đo đánh giá hiệu lực, hiệu quả, chất lượng, công tác
quản lý nhà nước, với giải pháp tập trung cải cách thủ tục hành chính, giảm
thiểu chi phí và thời gian thực hiện thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ chế,
chính sách pháp luật về đầu tư, kinh doanh [43]...
Những yêu cầu của hội nhập kinh tế và cải cách thủ tục hành chính đã
và đang có những tác động đòi hỏi sự hoàn thiện của thể chế hải quan hiện đại mà trước hết là các quy định pháp luật về hải quan để tạo cơ chế pháp lý cho
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu được hoạt động thuận lợi, bình đẳng, tạo
điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Một trong những nội dung
đáp ứng đòi hỏi này là hoàn thiện pháp luật về kiểm tra sau thông quan
(KTSTQ), nhằm đảm bảo thủ tục hải quan thông thoáng tại cửa khẩu, thông
quan nhanh chóng cho hàng hóa xuất nhập khẩu và chuyển thời hiệu, mở rộng
phạm vi và đối tượng kiểm tra khi hàng hóa đã thông quan.
Pháp luật về KTSTQ ở Việt Nam được hình thành và phát triển kể từ
khi Luật Hải quan 2001 được ban hành và có hiệu lực từ 01/01/2002. Qua 15
năm thực hiện, KTSTQ đã đem lại hiệu quả tích cực cho hoạt động của
Ngành Hải quan, góp phần chống gian lận thương mại hiệu quả toàn diện hơn
mà vẫn giải phóng hàng nhanh; đồng thời, ngăn chặn tình trạng thất thu ngân
sách, truy thu hàng ngàn tỷ đồng từ công tác KTSTQ.... Tuy nhiên, pháp luật
về KTSTQ cũng đang thể hiện nhiều hạn chế cần được hoàn thiện nhằm đảm
bảo môi trường pháp lý cho Hải quan Việt Nam tổ chức và triển khai hoạt
động KTSTQ. Một số nội dung quy định của pháp luật về KTSTQ còn chưa
phù hợp với chuẩn mực pháp lý quốc tế về KTSTQ; thiếu đồng bộ giữa các
văn bản Luật, giữa văn bản luật và hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành; còn
thiếu vắng những quy định về trách nhiệm của cán bộ công chức hải quan ở
khâu thông quan đối với những sai phạm phát hiện trong quá trình kiểm tra
sau thông quan; về các ưu đãi hải quan trong trường hợp người khai hải quan
tuân thủ tốt pháp luật, quy định về KTSTQ đối với một số loại hình liên quan
chính sách thương mại và số thuế khai báo; về KTSTQ trong thực hiện cơ chế
một cửa quốc gia và một cửa ASEAN… Bên cạnh đó, việc nghiên cứu lý luận
pháp luật về KTSTQ còn nhiều hạn chế. Ở phạm vi nghiên cứu khoa học luật,
khái niệm KTSTQ cũng như pháp luật về KTSTQ còn là vấn đề mới, thiếu
các nghiên cứu chuyên sâu nên chưa hình thành được hệ thống tư duy đầy đủ,
vững chắc của pháp luật về KTSTQ.
Xem thêm

206 Đọc thêm

CHUYÊN ĐỀ 7 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

CHUYÊN ĐỀ 7 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

 Ý nghĩa: việc nhóm các quy phạm vào một chếđịnh giúp xác định vị trí, vai trò của chúng vớinhau và với hệ thống2.3 Ngành luật Khái niệm: hệ thống các quy phạm pháp luậtđiều chỉnh các quan hệ xã hội trong một lĩnhvực nhất định của đời sống xã hội. Căn cứ phân định:– Đối tượng điều chỉnh- các quan hệ xã hội (dựa trênnội dung, tính chất của các quan hệ xã hội)– Phương pháp điều chỉnh: cách thức tác động vàocác quan hệ xã hội– Có hai phương pháp điều chỉnh cơ bản: bình đẳngthỏa thuận và quyền uy phục tùng*Lưu ý, việc phân định có tính chất tương đối3. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật3.1 Khái niệm, đặc điểm hệ thống VBQPPL3.2 Phân loại VBQPPL3.3 Hiệu lực của VBQPPL3.4 Hệ thống VBQPPL VN3.1 Khái niệm, đặc điểm hệ thống VBQPPL Khái niệm hệ thống VBQPPL: tổng thể các văn bảnquy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành có mốiliên hệ chặt chẽ về nội dung và hiệu lực pháp lý.
Xem thêm

24 Đọc thêm

Công tác kiểm tra nội bộ trường học ở trường tiểu học lê đình chinh giải pháp và thực trạng

CÔNG TÁC KIỂM TRA NỘI BỘ TRƯỜNG HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC LÊ ĐÌNH CHINH GIẢI PHÁP VÀ THỰC TRẠNG

Thực tế cho thấy, công tác kiểm tra nội bộ trường học trong nhiều năm qua của Hiệu trưởng một số trường còn mang tính hình thức, thực hiện chưa thật đầy đủ theo tinh thần các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của ngành. Cá biệt, có Hiệu trưởng còn giao cho các tổ chuyên môn và các bộ phận trong nhà trường tự tổ chức kiểm tra, đánh giá xếp loại hoạt động của các bộ phận nên chưa có tác dụng tích cực thúc đẩy các hoạt động trong nhà trường và làm giảm hiệu lực công tác quản lý của Hiệu trưởng.
Riêng trường Tiểu học Lê Đình Chinh chúng tôi, công tác kiểm tra nội bộ trường học đã được tiến hành thường xuyên theo kế hoạch năm, tháng, tuần nhưng hiệu quả chưa cao vì chưa có giải pháp cụ thể sau khi kiểm tra.
Vì vậy tôi chọn đề tài: “Công tác kiểm tra nội bộ trường học ở trường Tiểu học Lê Đình Chinh Giải pháp và thực trạng” để làm đề tài nghiên cứu.
Xem thêm

41 Đọc thêm

4 ĐỀ TRẮC NGHIỆM THI CÔNG CHỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

4 ĐỀ TRẮC NGHIỆM THI CÔNG CHỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Đề số 1
Câu 1. Tài chính công ở nước ta không có vai trò nào dưới đây?
a. Thực hiện công bằng xã hội.
b. Bảo đảm kỷ luật tài khóa tổng thể.
c. Tài chính công góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển có hiệu quả và ổn định.
d. Tài chính công bảo đảm cho hoạt động của bộ máy Nhà nước.
Câu 2. Nội dung nào dưới đây không phải là nguyên tắc của quản lý tài chính công ở nước ta?
a. Nguyên tắc hiệu quả.
b. Nguyên tắc phân phối theo lao động.
c. Nguyên tắc thống nhất.
d. Nguyên tắc công khai, minh bạch.
Câu 3. Chính phủ nước CHXHCN VN không có nhiệm vụ, quyền hạn nào dưới đây?
a. Quyết định những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
b. Đôn đốc, kiểm tra các ngành, các cấp thực hiện những quyết định của Chính phủ;
c. Thống nhất công tác đối ngoại.
d. Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ.
Câu 4. Nội dung nào dưới đây là đặc điểm đặc thù của nhà nước pháp quyền VN?
a. Xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá.
b. Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội.
c. Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên nền tảng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.
d. Thực hiện tinh giản biên chế trong cơ quan nhà nước.
Câu 5. Tổ chức nào dưới đây thuộc bộ máy hành chính nhà nước?
a. Văn phòng Quốc hội.
b. Toà án Nhân dân Tối cao.
c. Bộ Giáo dục và Đào tạo.
d. Ban Tổ chức Trung ương Đảng.
Câu 6. Nội dung nào dưới đây không phải là đặc điểm của cơ quan nhà nước ta?
a. Là một tổ chức công quyền có tính độc lập tương đối với các cơ quan nhà nước khác.
b. Có hình thức và phương pháp hoạt động do của pháp luật qui định.
c. Thực hiện phân cấp trong quản lý nhà nước.
d. Thẩm quyền của cơ quan nhà nước có những giới hạn về không gian, thời gian hiệu lực và đối tượng chịu tác động
Câu 7. Đặc điểm nào dưới đây không phải của văn bản quản lý nhà nước?
a. Được ban hành đúng thẩm quyền theo qui định của pháp luật.
b. Văn bản quản lý nhà nước có nhiều loại khác nhau.
c. Văn bản phải được tuyên truyền, phổ biến.
d. Văn bản quản lý nhà nước phản ánh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan ban hành.
Câu 8. Hãy chọn phương án đúng với thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
a. Quyết định, chỉ thị.
b. Thông tư, chỉ thị.
c. Thông tư.
Xem thêm

10 Đọc thêm

Tài liệu ôn thi chứng chỉ thuế chuyên đề HÓA ĐƠN CHỨNG TỪ

TÀI LIỆU ÔN THI CHỨNG CHỈ THUẾ CHUYÊN ĐỀ HÓA ĐƠN CHỨNG TỪ

Văn bản pháp luật
NĐ 512010NĐCP về hóa đơn bán HHDV
Thông tư 1532010TTBTC ngày 2792010 áp dụng từ 112011 đến 172013
TT 642013TTBTC ngày 15 52013
Có hiệu lực thi hành từ ngày 01 7 2013
TT 322011TTBTC ngày 14 tháng 3 năm 2011 2011về HĐ điện tử

57 Đọc thêm

ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT

ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Đặc điểm của văn bản pháp luậtVăn bản pháp luật là hình thức thể hiện ý chí của chủ thể có thẩm quyền, dưới dạngngôn ngữ viết, được ban hành theo hình thức, thủ tục do pháp luật quy định, nhằmđạt được những mục tiêu quản lý đã đặt ra. Nếu căn cứ vào nội dung, có thể chiavăn bản pháp luật thành ba loại: văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng phápluật và văn bản hành chính. Cả 3 loại văn bản pháp luật này đều có nhiều đặc điểmchung.Thứ nhất văn bản pháp luật được xác lập bằng ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ viết đượcthể hiện trên nhiều chất liệu khác nhau, hiện nay là giấy viết, ngôn ngữ viết giúpchủ thể ban hành văn bản pháp luật trình bày đầy đủ, mạch lạc toàn bộ ý chí củamình về các vấn đề phát sinh trong quản lý nhà nước, giúp đối tượng thi hành biếtđược để thực hiện. Đồng thời, cách thức thể hiện này tiện lợi cho việc chuyển tải,tiếp cận, khai thác, lưu trữ thông tin để phục vụ cho hoạt động quản lý.Thứ hai, văn bản pháp luật được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyền do pháp luậtquy định. Hiện nay, pháp luật quy định rất nhiều chủ thể có quyền ban hành văn bảnpháp luật, như cơ quan quyền lực, hành chính, kiểm sát, xét xử; người đứng đầu cơquan và một số công chức khác của các cơ quan nhà nước; tổ chức xã hội hoặc cánhân được ủy quyền quản lý nhà nước đối với một số việc cụ thể (công đoàn hoặcngười chỉ huy tàu bay, tàu biển…). Chỉ những chủ thể do pháp luật quy định mới cóquyền ban hành văn bản pháp luật.Thứ ba, văn bản pháp luật là ý chí của chủ thể ban hành nhằm đạt được mục tiêuquản lý. Nội dung văn bản pháp luật là ý chí của chủ thể ban hành. Ý chí đó đượcxác lập trên cơ sở pháp luật hiện hành và nhận thức chủ quan của cán bộ, công chứcnhà nước về những yếu tố khách quan của đời sống xã hội, phù hợp với mục tiêu cụthể của từng văn bản. Tuy nhiên, để đảm bảo nâng cao chất lượng, hiệu lực quản lý,trong quá trình xác lập văn bản pháp luật, chủ thể có thẩm quyền có thể tham khảotâm tư, nguyện vọng của những đối tượng liên quan trực tiếp tới nội dung văn bản,đặc biệt là của nhân dân lao động để vừa đạt được mục tiêu quản lý, vừa bảo đảmđược các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Xem thêm

3 Đọc thêm

Những điều càn biết về hợp đồng lao động

NHỮNG ĐIỀU CÀN BIẾT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

HĐLĐ và thỏa ước lao động tập thể có những điểm giống nhau cơ bản như các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên khi tham gia xác lập quan hệ lao động và đều phải tuân theo những trình tự nhất định để có giá trị và hiệu lực bắt buộc thi hành đối với NLĐ và NSDLĐ. Nhưng bên cạnh đó, thoả ước lao động và pháp luật lao động cũng có những điểm khác nhau.

I. Khái niệm
1. Hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động (HĐLĐ) là sự thỏa thuận giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. (Điều 26 BLLĐ)
2. Thỏa ước lao động tập thể
Thoả ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và NSDLĐ về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động.(Điều 44 BLLĐ)

II. Những đặc điểm khác nhau giữa hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể
Thứ nhất, về tính chất, khác với HĐLĐ, thỏa ước lao động tập thể mang tính quy phạm. Tính quy phạm thể hiện ở khía cạnh nội dung, trình tự kí kết thỏa ước và hiệu lực của thỏa ước. Nội dung của thỏa ước lao động tập thể thường được xây dựng dưới dạng các quy phạm, là sự cụ thể hóa các quy định của pháp luật cho phù hợp với điều kiện của từng doanh nghiệp. Thỏa ước lao động phải được kí kết theo trình tự pháp luật quy định và khi ban hành thì có hiệu lực đối với người lao động trong toàn doanh nghiệp, cơ sở làm việc.
Thứ hai, về chủ thể: HĐLĐ là sự thỏa thuận mang tính cá nhân giữa NSDLĐ và NLĐ còn thỏa ước lao động tập thể là thỏa thuận mang “tính tập thể” giữa đại diện tập thể NLĐ vàNSDLĐ. Tùy theo quy định hay tập quán mỗi nước mà đại diện cho các tập thể lao động là tổ chức công đoàn hay các đại diện do NLĐ bầu ra nhằm thương lượng, kí kết các nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ của tập thể người lao động trong doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động.
Thứ ba, về hình thức: theo quy định tại điều 28 BLLĐ thì “hợp đồng lao động được ký kết bằng văn bản và phải được lập thành hai bản, mỗi bên giữ một bản..”. Cũng theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghi định 442003 NĐCP ngày 952003 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về hợp đồng lao động thì: “Hợp đồng lao động ký kết bằng văn bản, theo mẫu quy định của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội” và hợp đồng này được ký kết bằng văn bản, mỗi bên giữ một bản cụ thể, có các loại: Hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 3 tháng trở lên (điều 28 BLLĐ), hợp đồng với người coi giữ tài sản gia đình( Điều 139 BLLĐ), hợp đồng làm việc với tư cách là vũ nữ, tiếp viên, nhân viên trong các cơ sở dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, sàn nhảy…không phân biệt thời hạn thực hiện hợp đồng lao động (Nghị định 87CP ngày 12121995 về tăng cường quản lý các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, đẩy mạnh, bài trừ một số tệ nạn nghiêm trọng).
Điều 28 BLLĐ sửa đổi 2002: “…Đối với một số công việc có tính chất tạm thời mà thời hạn dưới ba tháng hoặc đối với lao động giúp việc gia đình thì các bên có thể thỏa thuận giao kết bằng miệng. Trong trường hợp giao kết bằng miệng, thì các bên đương nhiên phải tuân theo quy định của pháp luật”.
Hình thức của thỏa ước lao động tập thể nhất thiết phải là văn bản. Có những điểm khác biệt này là tính chất, đặc điểm của mối quan hệ trong thỏa ước lao động tập thể. Thực chất, đó là mối quan hệ về lợi ích của hai bên, một bên là tập thể lao động và một bên là chủ doanh nghiệp. Xuất phát từ lợi ích của mỗi bên, trong quá trình lao động đòi hỏi các bên phải cộng tác với nhau, nhân nhượng lẫn nhau và vì lợi ích của cả hai bên, đồng thời cũng vì mục đích phát triển doanh nghiệp, làm lợi cho đất nước. Do đó, thỏa ước lao động tập thể chính là sự thỏa thuận của hai bên, là nhân tố ổn định quan hệ lao động trong phạm vi một đơn vị kinh tế cơ sở, một ngành và có tác dụng rất quan trọng về kinh tế xã hội.
Xem thêm

5 Đọc thêm

KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BLTTDS 2015

KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BLTTDS 2015

Để đảm bảo cho Tòa án xét xử đúng theo các quy định của pháp luật trong các vụ án dân sự đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được đảm bảo, thì pháp luật đã có những quy định rõ rang, cụ thể về các thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Trong đó có thủ tục khởi kiện và thu lý vụ án, qua thời gian đất nước chúng ta đã trải qua nhiều văn bản pháp luật khác nhau để điều chỉnh các vấn đề thủ tục liên quan trong tố tụng dân sự, mới đây nhất là bộ luật tố tụng dân sự 2015 sắp có hiệu lực. Trong phạm vi bài này, em muốn đi sâu cùng tìm hiểu các quy định cảu pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định của pháp luât, tìm ra những vướng mắc còn tồn tại để đưa những kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự.Đề tài : “ Quy định của BLTTDS 2015 về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự và thực tiễn thi hành” 9 điểm
Xem thêm

17 Đọc thêm

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ KIỂM TRAMÔN KỸ THUẬT XÂY DỰNG VĂN BẢN

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ KIỂM TRAMÔN KỸ THUẬT XÂY DỰNG VĂN BẢN

Hiệu lực và nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luậtChương 2: Những yêu cầu cơ bản trong nghiệp vụ Xây dựng văn bảnYêu cầu về nội dung và hình thức của văn bảnYêu cầu về phong cách, ngôn ngữYêu cầu về thể thức trình bày văn bảnQuy trình Xây dựng văn bảnChương 3: Kỹ thuật Xây dựng một số văn bản hành chính thông dụngKỹ thuật Xây dựng Công vănKỹ thuật Xây dựng Nghị quyếtKỹ thuật Xây dựng Chỉ thịKỹ thuật Xây dựng Quyết địnhKỹ thuật Xây dựng Báo cáoKỹ thuật viết Biên bảnKỹ thuật Xây dựng Tờ trìnhHướng dẫn soạn thảo một số Đơn từ thường gặpTài liệu hướng dẫn ôn tập dành cho hình thức Đại học giáo dục từ xa – Môn Kỹ thuật Xây dựng văn bản | Trang 2PHẦN 2. CÁCH THỨC ÔN TẬPChương 1: Những vấn đề chung về văn bảnNhững nội dung trọng tâm cần nắm vững:Khái niệm, chức năng của văn bản:o Các khái niệm cần nắm: văn bản, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hànhchính nhà nước. Phân biệt được văn bản quản lý nhà nước với các loại vănbản khác.o Cần nhớ và hiểu nội dung các chức năng của văn bản: chức năng thông tin,chức năng quản lý, chức năng pháp lý và chức năng văn hóa – xã hội.Phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với văn bản hành chính, căn cứ:o Thẩm quyền ban hành
Xem thêm

7 Đọc thêm

Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm đình chỉ, đình chỉ văn bản trái pháp luật

CHỦ THỂ CÓ THẨM QUYỀN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM ĐÌNH CHỈ, ĐÌNH CHỈ VĂN BẢN TRÁI PHÁP LUẬT

Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm đình chỉ, đình chỉ văn bản pháp luật sai trái

Câu 24. Trong trường hợp nào thì chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm đình chỉ, đình chỉ văn bản pháp luật sai trái? Cho ví dụ.

BÀI LÀM

Tạm đình chỉ, đình chỉ văn bản pháp luật là hai trong sáu cách thức xử lí các loại văn bản pháp luật khiếm khuyết (Ngoài ra còn còn hủy bỏ, bãi bỏ, thay thế, sửa đổi bổ sung). Để lựa chọn cách thức xử lí phù hợp đối với từng loại văn bản, chúng ta cần phải căn cứ vào nhiều yếu tố như tính chất khiếm khuyết và mức độ khiếm khuyết trong văn bản pháp luật, thẩm quyền xử lí văn bản pháp luật khiếm khuyết của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền .


Từ những căn cứ trên có thể kết luận các trường hợp mà chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp đình chỉ, tạm đình chỉ văn bản pháp luật sai trái như sau:


Trường hợp áp dụng biện pháp đình chỉ văn bản pháp luật sai trái:

Theo từ điển Tiếng Việt, “đình chỉ” được hiểu là “ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại trong một thời gian hoặc vĩnh viễn” . Như vậy, “đình chỉ” với tư cách là một biện pháp xử lí các loại văn bản pháp luật khiếm khuyết có thể được định nghĩa là việc ngừng việc thi hành các văn bản pháp luật khiếm khuyết của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đình chỉ thi hành văn bản pháp luật là biện pháp xử lí được áp dụng với tư cách là biện pháp bổ sung hoặc biện pháp độc lập.

Với tư cách là biện pháp bổ sung, đình chỉ thi hành được sử dụng kèm theo việc hủy bỏ, bãi bỏ, thay thế văn bản pháp luật. Như vậy, đình chỉ thi hành sẽ được áp dụng với tất cả các loại văn bản pháp luật mà có thể áp dụng biện pháp hủy bỏ, bãi bỏ, thay thế, bao gồm cả ba loại văn bản pháp luật là văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật và văn bản hành chính. Trong trường hợp này, chỉ có các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hủy bỏ, bãi bỏ, thay thế đồng thời có thẩm quyền đình chỉ một loại văn bản pháp luật cụ thể mới có quyền áp dụng biện pháp đình chỉ như một biện pháp bổ sung. Đối với các cơ quan không có thẩm quyền xử lí văn bản pháp luật sai trái bằng biện pháp hủy bỏ, bãi bỏ, thay thế thì có thể áp dụng biện pháp đình chỉ như một biện pháp độc lập để tạm thời chấm dứt hiệu lực của văn bản và yêu cầu cấp có thẩm quyền xử lí.

Ví dụ: Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 1995QĐUBND ngày 2482009 về việc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do UBND tỉnh ban hành. Theo đó, Bãi bỏ Quyết định số 072007QĐUBND ngày 09 tháng 02 năm 2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre ban hành quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký hộ tịch. Đồng thời, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã có quyết định đình chỉ việc thi hành văn bản trên.

Với tư cách là biện pháp độc lập, đình chỉ thi hành được áp dụng trong hai trường hợp là: Đình chỉ để chấm dứt hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật và đình chỉ để tạm dừng hiệu lực của băn bản pháp luật, chờ cấp có thẩm quyền xử lí.

Đối với trường hợp áp dụng biện pháp đình chỉ để chấm dứt hiệu lực văn bản thì chỉ áp dụng với văn bản quy phạm pháp luật và do các cơ quan có thẩm quyền đình chỉ văn bản quy phạm pháp luật áp dụng bao gồm: Thủ tướng Chính phủ ,Bộ trưởng Bộ Tư Pháp , chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ,... Văn bản pháp luật sẽ chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm quyết định đình chỉ có hiệu lực.

Ví dụ: Bộ trưởng Bộ Tư pháp Uông Chu Lưu đã ký quyết định số 1212QĐBTP ngày 952006 đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung 14 văn bản trái pháp luật về xử lý vi phạm hành chính do các địa phương ban hành gồm 3 văn bản của UBND tỉnh Sơn La, 1 của UBND tỉnh Lạng Sơn, 3 của UBND tỉnh Cà Mau, 1 của UBND tỉnh Yên Bái, 2 của UBND thành phố Hồ Chí Minh và 3 của UBND thành phố Đà Nẵng.

Đối với trường hợp đình chỉ thi hành để chờ cấp có thẩm quyền xử lí thì phải tuân theo nguyên tắc: Các văn bản trái luật phải bị đình chỉ thi hành ngay và phải bị bãi bỏ hoặc hủy bỏ kịp thời . Cụ thể như sau: Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận thấy văn bản pháp luật có các dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng có thể ra quyết định đình chỉ thi hành văn bản và yêu cầu cấp trên có thẩm quyền hủy bỏ; khi nhận nhận thấy phần lớn văn bản pháp luật có sự khiếm khuyết thì có thể ra quyết định đình chỉ và yêu cầu cấp trên có thẩm quyền bãi bỏ, thay thế bằng văn bản khác .

Ví dụ: Bộ trưởng bộ Tư pháp có thẩm quyền đình chỉ và kiến nghị thủ tướng Chính phủ bãi bỏ quyết định chỉ thị trái pháp luật do UBND cấp tỉnh ban hành liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quản lí nhà nước ; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ có thẩm quyền đình chỉ và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ quyết định, chỉ thị của UBND cấp tỉnh trái với văn bản về ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ; chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ .

Văn bản pháp luật bị đình chỉ thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu cấp có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản pháp luật hết hiệu lực còn không bị hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực.

Trường hợp áp dụng biện pháp tạm đình chỉ văn bản pháp luật sai trái:

Theo từ điển Tiếng Việt “tạm” là “làm việc gì đó ngừng lại trong một thời gian, khi có điều kiện sẽ thay đổi” . Do đó, “tạm đình chỉ văn bản pháp luật” có thể được hiểu là “ngừng việc thi hành văn bản pháp luật trong một gian nhất định”.

Khác với biện pháp đình chỉ văn bản pháp luật, tạm đình chỉ thi hành là biện pháp xử lí độc lập, chỉ áp dụng đới với các văn bản áp dụng pháp luật. Cụ thể, tạm đình chỉ thi hành được áp dụng trong hai trường hợp sau đây:

Thứ nhất, chủ thể không có thẩm quyền xử lí văn bản áp dụng pháp luật nhưng có cơ sở cho rằng văn bản đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì có quyền tạm đình chỉ việc thi hành để chờ cấp có thẩm quyền xử lí. Văn bản pháp luật bị tạm đình chỉ, hết hiệu lực khi cấp có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ, tiếp tục có hiệu lưc khi cấp có thẩm quyền tuyên bố không hủy bỏ văn bản đó.

Ví dụ: Khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh thi hành án dân sự quy định: “Người đã kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền tạm đình chỉ việc thi hành bản án, quyết định đó. Thời hạn tạm đình chỉ thi hành án không quá 6 tháng, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án…”.

Thứ hai, chủ thể có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ việc thi hành văn bản trong thời gian nhất định nếu có cơ sở cho rằng, việc thi hành văn bản pháp luật có thể gây cản trở hoạt động công quyền. Việc tạm đình chỉ nhằm mục đích giúp cho hoạt động công quyền được diễn ra thuận lợi hơn. Trường hợp này, người ra quyết định tạm đình chỉ phải ra văn bản bãi bỏ việc tạm đình chỉ đó nếu xét thấy việc tạm đình chỉ không còn cần thiết. Văn bản đã bị tạm đình chỉ sẽ tiếp tục có hiệu lực.

Ví dụ: Khoản 4 Điều 10 Nghị định 712009NĐCP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định Chánh Thanh tra Sở có quyền: “Kiến nghị Giám đốc Sở tạm đình chỉ việc thi hành quyết định của đơn vị thuộc quyền quản lý của Sở khi có căn cứ cho rằng các quyết định đó trái pháp luật hoặc gây cản trở hoạt động thanh tra”.

Nói tóm lại, việc lựa chọn biện pháp xử lí kỉ luật phù hợp với từng trường hợp là rất quan trọng. Chúng ta phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau để đảm bảo việc áp dụng đúng thẩm quyền cũng như đem lại hiệu quả cao nhất, góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật.
Xem thêm

6 Đọc thêm

TRÌNH BÀY KHÁI NIỆM CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC

TRÌNH BÀY KHÁI NIỆM CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC

Trình bày khái niệm công chứng Bài tập cá nhân Công chứng chứng thực
Chuyên mục Bài tập cá nhân, Công chứng chứng thực

Công chứng xuất hiện tại Việt Nam là vào những năm 30 của thế kỷ XX, do người Pháp đưa vào Việt Nam. Nhưng mãi đến năm 1987, công chứng mới được đề cập lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tại thời điểm này, công chứng được hiểu là “Công quyền đứng ra làm chứng”, cụ thể là nhà nước trao thẩm quyền cho một tổ chức hành nghề công chứng và được phép nhân danh nhà nước để xác định các quan hệ giao dịch dân sự và thương mại. Công chứng được gọi là “trưởng khế”.


Trước Luật công chứng 2006, công chứng có có nhiều định nghĩa, trong đó có 4 định nghĩa cơ bản như định nghĩa được ghi nhận tại TT 1974 của BTP năm 1987; định nghĩa được ghi nhận tại Điều 1 NĐ 451991 của HĐBT; định nghĩa được ghi nhận tại NĐ 311996 của CP; định nghĩa được ghi nhận tại NĐ 752000 của CP.

Các định nghĩa trong các văn bản trên có sự khác nhau, nhưng đều có điểm chung, đó là: Công chứng là hoạt động của nhà nước, được ủy quyền cho một tổ chức, đó là các tổ chức hành nghề công chứng; Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các HĐ, giấy tờ theo quy định của pháp luật; Các hoạt động công chứng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các tổ chức khác; Các loại giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ.

Đến Luật công chứng ra đời năm 2006 khái niệm Công chứng ghi nhận tại Điều 2 Luật công chứng 2006, “Công chứng là việc công chứng viên công nhận tính xác thực, tính hợp pháp của HĐ, GD khác (sau đây gọi là HĐGD) bằng văn bản mà quy định của pháp luật phái công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.

Dựa vào định nghĩa trên, có thể thấy công chứng có các đặc điểm:

Hoạt động công chứng do công chứng viên thực hiện.

Nội dung công chứng là xác định tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch. Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó đã được công chứng viên xác nhận. Công chứng viên kiểm chứng và xác nhận các tình tiết, sự kiện có xảy ra trong thực tế, trong số đó có cả tình tiết, sự kiện chỉ xảy ra một lần, không để lại hình dạng, dấu vết về sau, đó do, nếu không có công chứng viên xác nhận thì về sau rất dễ xảy ra tranh chấp mà toà án không thể xác minh được. Đồng thời, công chứng viên cũng kiểm tra và xác nhận tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch.

Có hai loại hợp đồng giao dịch thực hiện hoạt động công chứng, đó là các loại hợp đồng giao dịch theo yêu cầu của pháp luật bắt buộc phải công chứng và các hợp đồng giao dịch do cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.

Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên có liên quan trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình, bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia HĐGD có thỏa thuận khác.

Đồng thời, văn bản công chứng có giai trị chứng cứ, những tình tiết sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị tòa án tuyên bố là vô hiệu.

Ý nghĩa pháp lý của hoạt động công chứng là bảo đảm giá trị thực hiện cho các hợp đồng giao ý dịch, phòng ngừa tranh chấp và cung cấp chứng cứ nếu có tranh chấp xảy ra.

Như vậy có thể hiểu, Công chứng là hành vi của công chứng viên lập, chứng nhận tính xác thực của các giao dịch nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật. Văn bản công chứng có giá trị thực hiện và giá trị chứng cứ.

Để hiểu sau thêm khái niệm công chứng, ta xem xét tình huống:

Ngày 2082011, chị Bình làm hợp đồng mua nhà của chị Vân với giá 300 triệu. Chị Bình đặt cọc trước 100 triệu, sau ba tháng chị Bình trả đủ tiền thì chị Vân giao giấy tờ nhà. Khi chị Bình đến giao thì quá ba ngày và chị Vân không bán nữa và cũng giữ lại 100 triệu tiền cọc (vì trong hợp đồng có thỏa thuận nếu một bên không thực hiện hợp đồng thì phải chịu cọc). Lúc này, nếu chị Bình muốn mua thì phải trả thêm 50 triệu nữa. Chị Bình không đồng ý, khởi kiện ra tòa yêu cầu một là chị Vân tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc phải trả lại tiền cọc.

Trước tòa cả hai đều đệ trình hợp đồng mua bán nhà nhưng có công chứng.

Theo quy định tại Điều 450 BLDS thì hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Vì vậy, hợp đồng mua bán hợp đồng trên có hiệu lực.

Khi giải quyết vụ việc, Tòa án sẽ coi hợp đồng mua bán nhà ở lập giữa chị Bình và chị Vân như một chứng cứ để giải quyết vụ việc.
Xem thêm

4 Đọc thêm